Vòm Rừng

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Patricia Westerford

❊ ❊ ❊

ĐÓ LÀ NĂM 1950, giống như cậu bé Cyparissus[1], người mà cô sẽ sớm khám phá, cô bé Patty Westerford yêu chú hươu cưng của mình. Hươu của cô được làm từ những cành cây nhỏ, cho nên nó là sinh vật sống động đến từng chi tiết. Ngoài ra còn có: những con sóc thành hình bởi các cặp vỏ quả óc chó dán lại, gấu làm từ trái của cây sweetgum, rồng được ghép lại bởi vỏ hạt cây cà phê Kentucky, các nàng tiên đội mũ là nắp trái cây sồi, và một thiên thần có thân là quả thông với hai chiếc lá cây nhựa ruồi làm cánh.

Cô xây những ngôi nhà đẹp đẽ cho các con vật này với những viên đá cuội xung quanh và nội thất làm bằng nấm. Cô cho chúng ngủ trên những chiếc giường trải đệm hoa mộc lan. Cô coi sóc chúng, linh hồn dẫn dắt của một vương quốc nơi có những thị trấn nấp mình sau những cánh cửa khép kín trong những phần ụ của cây. Những lỗ thủng trên thân cây trở thành cửa chớp, từ đó, nheo mắt, cô có thể nhìn thấy phòng khách mời gọi của các cư dân bằng gỗ, tổ tiên quá cố của loài người. Cô sống ở đó với các sinh vật cô sáng tạo ra bằng cấu trúc bé tí của trí tưởng tượng, giàu có hơn rất nhiều so với những tặng vật từ cuộc đời thực. Khi đầu những con búp bê bằng gỗ nhỏ xíu héo đi, cô trồng chúng xuống vườn, dĩ nhiên nó sẽ mọc lên thân thể khác.

Tất cả sinh vật từ nhánh cây của cô có thể nói, dù phần lớn, giống Patty, không cần dùng lời. Bản thân cô không nói gì cả cho tới khi lên ba tuổi. Hai người anh trai diễn giải ngôn ngữ bí mật của cô bé cho cha mẹ đang vô cùng hoảng sợ của chúng, những người bắt đầu nghĩ rằng cô chắc hẳn đã bị thiểu năng trí tuệ. Họ đưa Patty tới bệnh viện ở Chillicothe để kiểm tra và phát hiện ra một biến dạng ở tai trong. Bệnh viện điều chỉnh cho cô bé bằng thiết bị hỗ trợ nghe to bằng đấm tay, thứ mà cô rất ghét. Khi lời nói của chính cô cuối cùng đã bắt đầu phát ra, nó giấu suy nghĩ của cô sau một lớp bùn sánh khiến cho người lạ khó lòng hiểu được. Đám trẻ hàng xóm né tránh cô, chuyện này chỉ làm chia cách nhân loại. Người trái sồi bao dung hơn như thế rất nhiều.

Cha cô là người duy nhất hiểu được thế giới vương quốc gỗ của cô cũng như hiểu tất cả mọi âm từ đặc quánh cô phát ra. Cô có vị trí quan trọng nhất với cha và được hai người anh chấp nhận. Với các con trai, người cha có thể cùng chơi bóng mềm và ra những câu đố mẹo hay chơi trò gắn thẻ. Nhưng ông dành những món quà đẹp đẽ nhất cho cô gái làm vườn bé nhỏ của mình, cô bé Patty.

Sự gần gũi của họ làm phiền lòng người mẹ. “Em hỏi anh này. Có phải nơi đó giống như là một đất nước nhỏ của hai người không?”

Bill Westerford đưa Patricia đi cùng khi tới thăm các trang trại ở Tây Nam Ohio trong chuyến đi với vai trò là đại diện khuyến nông. Cô làm lái phụ trong chiếc Packard hỏng hóc có nẹp gỗ thông ở bên. Chiến tranh đã kết thúc, thế giới đang trong quá trình hồi phục, đất nước đang say sưa với khoa học, chìa khóa cho một sự sống tốt đẹp hơn, và Bill Westerford đưa con gái ông đi ngắm nhìn thế giới.

Mẹ Patty phản đối chuyến đi. Cô bé phải tới trường. Nhưng quyền lực mềm của người cha chiếm ưu thế. “Con bé sẽ không thể học nhiều hơn ở bất cứ nơi nào so với đi cùng anh.”

Dặm cày qua những dặm cày, họ kiên trì với những buổi học lang thang khắp chốn. Ông quay mặt về phía con gái để nó có thể đọc được di chuyển của hai môi. Cô bé cười lớn trước những câu chuyện của ông - những tiếng khùng khục đặc quánh, chầm chậm - và phát ra những câu trả lời đầy sôi nổi trước những câu hỏi của ông. Cái nào nhiều hơn: sao trên dải Ngân hà hay số lục lạp trên mỗi lá ngô? Loài cây nào trổ hoa trước khi ra lá, và loài nào trổ hoa sau? Tại sao lá ở trên ngọn cây thường nhỏ hơn ở dưới gốc? Nếu con khắc tên con vào khoảng cao bốn feet trên thân một cây dẻ gai thì sau nửa thế kỷ nó sẽ cao tới mức bao nhiêu?

Cô yêu cầu được trả lời cho câu hỏi cuối cùng: Bốn feet. Vẫn là bốn feet. Luôn luôn là bốn feet dù cây dẻ gai kia cao lên tới ngần nào. Cô sẽ vẫn yêu câu trả lời ấy, cho tới nửa thế kỷ sau.

Theo cách này, linh vật làm từ nắp trái sồi từng chút từng chút chuyển thành cháu con của nó, thực vật học. Cô trở thành ngôi sao và cũng là học sinh duy nhất của cha cô chỉ vì một lý do đơn giản là duy nhất cô, trong cả gia đình, nhìn thấy điều ông biết: cây cối có chủ tâm và mưu trí và hơn tất cả, chúng hoàn toàn giống con người. Ông kể cho con gái, trong những lúc lái xe, về tất cả những chuyện lạ lùng tà khuất mà màu xanh có thể sắp đặt nên. Con người không độc quyền với những hành động dị kỳ. Những sinh vật khác - lớn hơn, chậm chạp hơn, già hơn, sống lâu hơn - chiếm quyền quyết định, tạo ra thời tiết, đem đến thức ăn, và sản sinh ra không khí.

“Thật là một ý niệm vĩ đại, cây cối ấy. Vĩ đại tới nỗi tiến hóa không ngừng sản sinh ra nó, tiếp tục và tiếp tục.”

Cha dạy cô phân biệt giống cây hồ đào shagbark và shellbark. Không ai trong trường cô có thể phân biệt được cây hồ đào với cây gỗ trăn. Sự thật đó khiến cô trở thành kỳ quái. “Bọn lớp con nghĩ cây óc chó đen giống hệt cây tần bì. Chúng bị mù à?”

“Mù cây cối. Lời nguyền của Adam. Chúng ta chỉ nhìn thấy những gì giống chúng ta. Câu chuyện buồn, đúng không, con gái?”

Bản thân cha cô có chút rắc rối với loài người. Ông bị mắc kẹt giữa những người tốt mà nông trại gia đình của họ thất bại trong việc khuất phục đất đai và các công ty muốn bán cho họ nông cụ để giành lấy quyền cai trị. Khi những thất vọng về thời đại này trở nên quá lớn, ông thở dài và nói, chỉ riêng vào đôi tai khiếm khuyết của Patty, “À, hãy mua cho bố một quả đồi cách xa thị trấn ấy.”

Họ lái xe xuyên qua một mảnh đất từng được bao phủ bởi một rừng dẻ gai rậm rạp. “Loài cây tuyệt vời nhất mà có thể con từng muốn thấy.” Mạnh mẽ và sum sê nhưng đầy duyên dáng, lan tỏa vẻ quyền quý từ gốc cây, lên khắp thân mình. Hào phóng với vô số hạt cung cấp cho tất cả người thăm. Thân cây trơn nhẵn, xám trắng giống với đá hơn là gỗ. Lá cây héo úa vượt qua được mùa đông - hiện tượng marcescent, ông giải thích cho cô - bừng sáng giữa những cây gỗ cứng trơ trụi xung quanh. Sang trọng với những nhánh cành vững chãi giống hệt như cánh tay người, nâng lên ở phần ngọn giống như bàn tay đang dâng mời. Lờ mờ và nhợt nhạt vào mùa xuân, nhưng sang thu những nhánh cây trải rộng phẳng phiu của nó tắm vàng cả không gian.

“Chuyện gì đã xảy ra với chúng vậy?” Những lời của cô bé đông đặc khi nỗi buồn đè nặng lên họ.

“Chúng ta đã làm.” Cô nghĩ cô nghe thấy tiếng cha thở dài, dù ông không hề rời ánh mắt khỏi con đường. “Dẻ gai chỉ cho người nông dân nơi để cày. Đá vôi nằm phía dưới, phủ bên trên là lớp đất sét dày dặn, phì nhiêu nhất mà một khuôn ruộng muốn có.”

Họ lái xe từ nông trại này qua nông trại khác, giữa những đợt sâu bệnh năm này qua lần xói mòn lớp đất canh tác năm sau. Ông chỉ cho cô những điều phi thường: tầng tán trên vươn rộng của một cây sung dâu đã nuốt khung của chiếc xe đạp Schwinn cũ ai đó đã dùng chống thân cây hàng thập kỷ trước. Hai cây du cuộn nhánh cành vào nhau và trở thành một.

“Chúng ta biết quá ít về việc một cái cây phát triển như thế nào. Hầu như không biết gì về việc chúng ra hoa, trổ cành, rụng lá và tự chữa lành những vết thương. Chúng ta đã nghiên cứu một chút về vài loài trong số chúng, một cách riêng rẽ. Nhưng chẳng có gì trên đời ít riêng rẽ mà lại có tính cộng đồng hơn một cái cây.”

Cha là nước uống, không khí, đất đai và mặt trời của cô. Ông dạy cô làm thế nào để nhìn thấy một cái cây, lớp vỏ tế bào sống phía dưới của từng inch vuông vỏ cây đang làm những việc chưa có người nào từng nghĩ ra. Ông lái xe đưa cô tới chỗ một bãi trồng cây trong một khu rừng gỗ cứng nằm cuối nguồn một con suối lững lờ. “Đây này! Con hãy nhìn nó. Hãy nhìn cái này!” Một khoảng đất nhỏ với rất nhiều thân cây san sát, cây nào cũng có nhiều lá lớn và đang rũ xuống. Một loài chó săn cây. Ông cho cô hít ngửi những chiếc lá cây hình chiếc thìa lớn, vò nát. Nó có mùi chát, như mùi nhựa rải đường. Ông lượm một trái đặc màu vàng dưới đất lên và đưa nó cho cô. Cô hầu như chưa khi nào thấy ông hào hứng đến thế. Ông lấy con dao đa năng ra cắt trái cây làm đôi, lộ ra phần cùi màu bơ và những chiếc hạt đen bóng sáng. Phần thịt của quả làm cô muốn thét lên sung sướng. Nhưng miệng cô ngập đầy pudding bơ đường.

“Quả pawpaw! Loại trái cây nhiệt đới duy nhất từng thoát ra khỏi các vùng nhiệt đới. Loại trái cây bản địa hoang dại nhất, kỳ lạ nhất, thơm ngon nhất và lớn nhất mà lục địa từng này sinh ra. Sinh trưởng bản địa, ngay tại nơi này ở Ohio. Và không ai hiểu nổi!”

Họ biết. Cô gái và cha cô. Cô sẽ không bao giờ kể với ai về vị trí của miếng đất này. Nó sẽ chỉ là của riêng cha con cô, khởi đầu sau trái pawpaw rụng.

Theo dõi cha, cô bé Patty thiếu khả năng nghe, thiếu khả năng nói học được rằng niềm vui thực sự bao gồm hiểu biết được sự khôn ngoan của con người ít ý nghĩa hơn sự lung linh của những cây dẻ gai trong gió. Hoàn toàn chắc chắn như việc thời tiết khởi sự từ miền Tây, những gì con người biết hẳn nhiên sẽ thay đổi. Chẳng có gì là chân lý mãi mãi. Những thứ đáng tin cậy duy nhất đó là sự khiêm nhường và học hỏi.

Ông tìm thấy cô ở sân sau, đang làm những con chim từ quả phong cánh đôi. Một cái nhìn dị thường vụt qua trên gương mặt ông. Ông cầm một hạt lên và giơ nó về phía cái cây khổng lồ đã buông rơi nó. “Con có để ý thấy bằng cách nào nó thả nhiều hạt trong dòng khí hướng bay lên hơn là khi gió thổi chiều xuống đất không? Và tại sao lại thế?”

Những câu hỏi như vậy là thứ mà cô yêu thích trên thế giới này. Cô nghĩ. “Phát tán xa hơn ạ?”

Ông đặt ngón tay lên mũi. “Chính xác!” Ông nhìn vào cái cây rồi nhíu mày, trở lại với những băn khoăn cũ một lần nữa. “Con nghĩ tất cả cây cối đến từ đâu, để từ một thứ nhỏ bé trở thành thế này?”

Cô bé đoán bừa. “Từ đất ạ?”

“Làm sao chúng ta biết được?”

Họ thiết kế nên thí nghiệm đó cùng nhau. Họ cho hai trăm pound đất trong một chiếc bồn gỗ đặt ở mặt Nam của nhà kho. Sau đó họ tách một hạt dẻ gai ba cạnh từ trong quả cứng ra, cân nó, rồi đặt vào đất mềm.

“Nếu con thấy một cái thân cây khắc đầy chữ, nó chính là cây dẻ gai. Mọi người không thể ngừng viết lên khắp thân xám nhẵn của nó. Chúa yêu họ. Họ muốn được xem những trái tim bằng chữ của họ ngày càng lớn lên, năm này qua năm khác. Những kẻ đang yêu, cuồng nhiệt lửa điên, khắc trên thân cây nàng ấy họ tên. Nhưng than ôi, rất ít trong số họ biết rằng vẻ đẹp của nàng còn vượt xa thế rất nhiều!

Ông kể cho con nghe từ beech (dẻ gai) biến thành từ book (sách) như thế nào trong sự biến đổi của ngôn ngữ. Chữ book đã phái sinh ra sao từ chữ beech roots (rễ cây dẻ gai), trên đường trở lại thành tiếng mẹ đẻ. vỏ cây dẻ gai đã đóng vai trò chủ nhân của tiếng Phạn sơ khai nhất ra sao. Patty ngắm nhìn hạt cây bé nhỏ của họ lớn lên để được bao phủ với chi chít chữ. Nhưng mà đống sách khổng lồ ấy từ đâu mà ra?

“Chúng ta sẽ giữ ẩm cho chiếc bồn và nhổ cỏ trong sáu năm tới. Khi con bước sang tuổi mười sáu ngọt ngào, chúng ta sẽ cân cây và đất lên.”

Cô nghe cha nói và hiểu. Đây là khoa học, có giá trị hơn cả triệu lần so với bất cứ thứ gì mà bất kỳ ai có thể thề thốt với bạn.

RỐT CUỘC, cô cũng trở nên giỏi hầu như bằng cha cô trong việc chỉ ra cái gì đang làm héo úa hoặc hao mòn những vụ mùa của một người nông dân. Ông thôi hỏi đố cô mà bắt đầu hướng dẫn, không phải trước mặt những người nông dân, dĩ nhiên, mà là sau đó, trên xe, khi họ được tự do suy nghĩ như một đội về những sự phá hoại đó.

Vào sinh nhật lần thứ mười bốn của cô, ông đưa cho cô một bản lược dịch cuốn Metamorphosis của Ovid. Ông đề tặng: Tặng con gái yêu quý của cha, người biết gia đình cây cối thật sự to và rộng tới ngần nào. Patricia mở sách ra thấy dòng đầu tiên và đọc.

Giờ để ta hát cho người nghe, chuyện con người biến thành những loài khác như thế nào.

Với những lời đó, cô trở về với nơi quả sồi cách một bước rất gần với gương mặt và quả thông hợp thành thân thể của các thiên thần. Cô đọc cuốn sách. Những câu chuyện thật lạ kỳ và hấp dẫn, cũng cổ xưa như chính loài người. Chúng có cái gì đó thật thân thuộc, như thể cô sinh ra đã biết chúng. Những câu chuyện ngụ ngôn dường như ít nói về việc con người biến thành những sinh vật sống khác hơn là nói về những sinh vật sống khác bằng cách nào đó tái hợp lại, vào thời điểm nguy hiểm nhất, sự hoang dã bên trong một con người chưa bao giờ thật sự mất đi. Ngay lúc này đây thân thể của Patricia hoàn toàn theo biến thể bị hành hạ của chính nó thành một thứ gì đó mà cô không hề mong muốn. Sự nhô lên của ngực và hông cô, sự bắt đầu của vạt ở giữa hai chân cô cũng biến cô nửa đường trở thành một loài thứ cổ đại.

Cô thích thú nhất trong những câu chuyện là khi con người biến thành cây. Nàng Daphe, biến thành cây nguyệt quế ngay trước khi Apollo có thể bắt và làm hại nàng. Những người phụ nữ giết Orpheus, nhanh chóng bị Trái Đất giữ chặt, nhìn bàn chân của họ biến thành rễ và đôi chân biến thành thân cây. Cô đọc truyện về cậu bé Cyparisus, người mà Apollo đã biến thành một cây bách để cậu có thể tưởng nhớ mãi mãi con hươu cưng bị giết thảm của mình. Cô gái mặt đỏ bừng như củ cải, quả anh đào, trái nho, trước câu chuyện về nàng Myrrha, biến thành một cây sim sau khi nàng bò vào giường của cha. Và cô khóc trước cặp đôi chung thủy, Baucis và Philemon, đã trải qua hàng thế kỷ bên nhau như cây sồi cạnh cây đoan, phần thưởng cho họ khi đối đãi tốt đẹp với những người xa lạ mà hóa ra lại là các vị thần.

Mùa thu tuổi mười lăm của cô cũng đến. Ngày ngắn lại. Đêm buông xuống sớm hơn, báo hiệu cho cây khởi đầu dự án làm đường glucose, buông rơi những bộ phận đã lung lay và trở nên khô trụi. Nhựa cây rơi. Các tế bào trở nên dễ thẩm thấu. Nước chảy ra từ các thân cây và tập trung vào việc chống đóng băng. Đời sống ngủ đông ngay bên dưới lớp vỏ được phủ bọc bởi lớp nước tinh khiết tới nỗi không có gì có thể khiến nó kết tinh.

Cha cô giải thích cho cô bằng cách nào thủ thuật nào xảy ra như thế nào. “Hãy nghĩ xem nhé. Chúng đã tính toàn làm thế nào để đặt bẫy đúng chỗ, không có biện pháp bảo vệ nào khác, giữa vùn vụt gió thổi ở âm ba mươi độ.”

Muộn hơn vào mùa đông năm đó, Bill Westerford đang trở về nhà từ chuyến thực địa sau buổi chiều tà thì chiếc Packard đâm phải một khối băng đen. Ông bị hất bay từ chiếc xe rơi xuống một cái mương khi xe trượt ra khỏi đường. Cơ thể ông bay hai mươi lăm feet trước khi va vào một hàng cây cam Osage mà những người nông dân trồng làm hàng rào một thế kỷ rưỡi trước đó.

Trong đám tang, Patty đọc cuốn của Ovid. Câu chuyện Baucis và Philemon biến thành cây. Các anh trai nghĩ cô trở nên mất trí vì quá đau khổ.

Cô không để mẹ cô vứt bất cứ thứ gì. Cô cất cây gậy chống và chiếc mũ pork pie trong rương đồ kỷ niệm. Cô bảo vệ thư viện quý báu của cha - Aldo Leopold, John Muir, những cuốn sách về thực vật học của ông, những bài luận về Thúc đẩy Nông nghiệp mà ông đã hỗ trợ viết ra. Cô tìm thấy bản đầy đủ dành cho người lớn của Ovid, đánh dấu khắp nơi, như người ta đánh dấu những cây dẻ gai. Gạch dưới chân, ba gạch, dòng đầu tiên nhất của cuốn sách: Hãy để ta hát cho người nghe, về chuyện con người biến thành những loài khác như thế nào.

TRƯỜNG TRUNG HỌC ra sức phá hủy cô. Cây vĩ cầm trầm trong dàn nhạc, tiếng hú của cây phong với những hoài niệm cũ xua bên sườn đồi, đặt dưới cằm cô. Nhiếp ảnh và bóng chuyền. Cô có hai người gần như là bạn, những người hiểu được sự thật về động vật, ít nhất là thế, nếu không hẳn là cây cối. Cô thờ ơ với tất cả trang sức, mặc quần áo bằng vải Aanen và đồ bò, mang theo một con dao đa năng Thụy Sỹ, với quấn bím tóc dài quanh đầu.

Cha dượng xuất hiện, một người đủ thông minh để không cố gắng chỉnh sửa cô. Có một thương tổn liên quan tới một cậu bé trầm tĩnh luôn mơ suốt hai năm liền đưa cô tới vũ hội học sinh, một cậu bé mà ước mơ của cậu hẳn phải chết vì một cây sồi trắng đóng cọc vào tim.

Mùa hè năm mười tám tuổi, đang chuẩn bị lên đường tới Đông Kentucky để học về thực vật học, cô sực nhớ ra cây dẻ gai trồng trong bồn đất, bên ngoài chuồng chăn nuôi. Nỗi xấu hổ vụt qua cô: Làm sao cô có thể quên được thí nghiệm này chứ? Cô đã quên lời hứa với cha suốt hai năm. Cũng đã lãng quên tuổi mười sáu ngọt ngào.

Cô dành trọn một buổi chiều tháng Bảy đưa cái cây ra khỏi bồn, rũ hết tất cả bụi đất từ đám rễ có độ dài gấp ba lần đường ống nước. Rồi cô cân cả cây và phần đất đã nuôi sống cái cây. Một phần chi bằng một ounce của hạt dẻ gai giờ đã cân nặng hơn cô. Nhưng cân nặng của đất thì hầu như vẫn như cũ, bớt đi chừng một hoặc hai ounce. Không có lời giải thích nào khác: Hầu hết mọi thứ trên cây đều đến từ không khí. Cha cô đã biết điều đó. Và giờ cô cũng đã biết.

Cô trồng lại thí nghiệm của hai con xuống một điểm sau ngôi nhà nơi cô và cha cô vẫn thích ngồi vào những đêm hè và lắng nghe thứ mà người ta vẫn gọi là sự yên tĩnh. Cô nhớ những điều cha cô đã kể về các giống loài. Con người, Chúa phù hộ, phải viết tất cả lên khắp các cây dẻ gai. Nhưng một số người - một số người cha - lại được viết lên bởi những loài cây.

Trước khi rời nhà đi học, cô khắc một vết nhỏ nhất lên thân cây như cuốn sách xám nhẵn bằng con dao đa năng, cách bốn feet từ mặt đất.

ĐẠI HỌC EASTERN KENTUCKY biến cô thành một người khác. Patricia bừng nở giống như một thứ gì đó quay mặt về hướng Nam. Không khí đầu những năm sáu mươi rạn vỡ khi cô băng ngang qua sân trường đại học, một sự thay đổi trong thời tiết, mùi vị của những ngày dài ra, hương thơm của sự đổ vỡ khả dĩ của loại suy nghĩ lỗi thời, một ngọn gió trong lành tràn xuống từ những ngọn đồi.

Phòng ký túc xá của cô tràn ngập những chậu cây. Cô không phải là người duy nhất trong tầng đặt một vườn thực vật giữa bàn học sinh và giường tầng. Nhưng những cây của cô là các cây duy nhất có bảng thông tin dán lên những chiếc bình gốm đựng chúng. Khi bạn bè trồng hoa baby và hoa violet thì cô trồng cúc vạn thọ và hoa đậu vàng và các thí nghiệm khác. Chưa hết, cô còn chăm sóc một chậu cây bách xù trông như đã ngàn năm tuổi, một bài thơ haiku sắc nhọn của một sinh vật không có chút mục đích khoa học nào.

Những cô gái ở tầng trên nhiều đêm xuống kiểm tra cô. Họ đã coi cô như một trò tiêu khiển của họ. Chúng ta hãy làm cho Patty-Cây say đi. Hãy ghép Patty-Cây với anh chàng kỳ quái kia đi. Họ chế giễu tính ham học của cô và cười nhạo tiếng gọi của cô. Họ ép cô nghe Bill Haley. Họ nhét cô vào những chiếc đầm sát không tay và cột tóc cô phồng cao lên. Họ gọi cô là Nữ hoàng Diệp lục. Cô không thuộc về bầy đàn ấy. Cô không luôn luôn nghe hết những lời họ nói, và khi nghe được thì những lời nói của họ cũng chẳng mấy khi có nghĩa với cô. Tuy nhiên, những đồng môn có vú điên cuồng ấy của cô thật sự làm cô cười: kỳ dị về mọi mặt, và họ cần nhiều lời tụng ca để cảm thấy hạnh phúc.

Năm học thứ hai, cô nhận được công việc ở nhà kính của trường - hai tiếng làm việc trước giờ học. Di truyền, sinh lý học thực vật, hóa học hữu cơ dẫn cô qua những đêm dài. Cô học tất cả buổi tối trong bàn ngăn ô cho đến khi thư viện đóng cửa. Rồi cô tiếp tục đọc trong niềm yêu thích cho tới khi rơi vào giấc ngủ. Cô thử những cuốn sách mà bạn bè cô đang đọc: Siddhartha, Naked Lunch, On the Road. Nhưng chẳng có cuốn nào lay động cô hơn cuốn A Natural History of North American Trees (Một Lịch sử Tự nhiên của Cây cối Bắc Mỹ) của Peattie từ giá sách của cha cô. Giờ đây nó là nguồn tĩnh dưỡng vô tận của cô. Những khổ văn trong đó đâm cành và vươn lên đón ánh mặt trời:

Vương quyền đã sụp đổ và các đế chế mới trỗi dậy; những ý tưởng vĩ đại đã ra đời và những bức tranh vĩ đại được sơn lên, thế giới cách mạng hóa bời khoa học và phát minh; và vẫn chưa có người nào có thể nói được rằng cây sồi này sẽ tồn tại bao nhiêu thế kỷ hay nó sẽ sống qua những quốc gia và tôn giáo nào…

Nơi con nai nhảy vọt, nơi cá hồi nổi lên, nơi con ngựa của bạn dừng lại uống thật nhiều nước từ băng giá khi mặt trời đang ấm ấp phía sau gáy bạn, nơi mọi hơi thở bạn buông ra đều ngập tràn hạnh phúc - đó là nơi cây dương lá rung sinh trưởng lên…

Và loài cây yêu thích của cha cô:

Hãy để những loài cây khác làm mọi việc trên thế gian. Hãy để Dẻ gai đứng đó, nơi mà nó vẫn giữ đất cho mình…

Cô chẳng bao giờ thật sự biến thành một con thiên nga. Tuy nhiên cô sinh viên năm cuối thoát ra từ ngày tháng vịt con xấu xí năm nhất biết điều cô yêu thích và biết cô dự định trải qua cuộc đời mình như thế nào, và điều đó thật khác thường đối với tuổi trẻ ở bất kỳ thời nào. Những thứ mà cô không sợ hãi rồi sẽ phát hiện ra cô, một cô gái sắc sảo, giản dị, quả quyết - người đã không khuất phục việc tuân thủ các định kiến xã hội. Trước nỗi ngạc nhiên của chính mình, cô còn có những người cầu hôn. Có điều gì đó về cô khiến các cậu con trai hân hoan lên. Không phải ngoại hình của cô, dĩ nhiên, mà là sự quyến rũ trong bước đi của cô mà họ không thể gọi tên. Suy nghĩ độc lập - một sức mạnh của sự quyến rũ tất cả trong chính nó.

Khi các chàng trai tới tìm, cô sẽ khiến họ đưa cô đi ăn trưa ngoài trời ở Nghĩa trang Richmond - nơi phục vụ nhu cầu của người chết từ năm 1848. Đôi khi các chàng bỏ trốn và chẳng có gì để nói nữa. Nếu họ chịu đi loanh quanh và nói chuyện cây cối, cô sẽ gặp lại họ. Lòng khao khát, cô ghi vào những cuốn sổ ghi chép, hóa ra lại vô cùng đa dạng, sự ngọt ngào bậc nhất trong các thủ đoạn của tiến hóa. Và giữa những cơn bão phấn hoa của mùa xuân, ngay cả cô cũng hóa thành một đóa hoa hơn cả đủ đầy.

Một chàng trai đi loanh quanh cùng cô, tháng này qua tháng khác. Andy, học chuyên ngành tiếng Anh. Anh chơi trong dàn nhạc cùng cô, anh yêu Hart Crane và O’Neill và cuốn Moby-Dick, dù anh không thể nói tại sao. Anh có thể khiến những chú chim đậu trên vai anh. Anh đang chờ đợi những thứ gì đó đang tới và chuộc lại cuộc sống vô mục đích của mình. Một đêm, sau khi chơi đánh bài cribbage, anh nói rằng anh nghĩ đó có thể là cô. Cô dắt tay anh tới chiếc giường chật hẹp của cô. Lóng ngóng và xanh non, họ bóc vỏ lớp khiên phủ của áo quần. Mười phút sau cô hóa thành một cái cây, chỉ hơi chậm một chút để cất dành.

CUỘC SỐNG THẬT SỰ CỦA CÔ BẮT ĐẦU ở trường sau đại học. Có những buổi sáng ở West Lafayette khi mà vận may của Patricia Westerford làm cô sợ hãi. Trường Lâm nghiệp. Cô cảm thấy không xứng đáng. Trường Purdue thanh toán tiền cho cô để cô giảng dạy lớp học mà cô đã ao ước nhiều năm. Cô nhận được đồ ăn và chỗ ở cho việc dạy thực vật học cho sinh viên năm cuối, việc mà cô sẵn lòng trả tiền để được làm. Và nghiên cứu của cô đòi hỏi nhiều ngày trong rừng Indiana. Đó là thiên đường của một người theo thuyết vật linh.

Nhưng vào năm thứ hai của cô, cơ hội trở nên rõ ràng. Trong một hội thảo về quản lý rừng, giáo sư tuyên bố rằng những cây chết thân và những cây bị gió thổi gãy, bật gốc cần phải được dọn dẹp khỏi nền rừng và xay nhỏ, để nâng cao sức khỏe của rừng. Điều này có vẻ không đúng. Một khu rừng khỏe mạnh cần phải có những cây chết. Chúng đã luôn ở đây từ lúc bắt đầu. Những con chim sử dụng chúng, những loài có vú nhỏ, và các loài côn trùng khác nữa tới cư trú và ăn tối trên mình chúng nhiều hơn những gì khoa học từng đếm được. Cô muốn giơ tay lên để nói ra, giống như Ovid, bằng cách nào toàn bộ sự sống biến đổi thành những thứ khác. Nhưng cô không có dữ liệu. Tất cả những gì cô có là trực giác của một cô gái lớn lên vui đùa trong khu rừng có nhiều thân cành phân hủy.

Rất sớm, cô nhìn thấy. Có cái gì đó sai trong toàn bộ lĩnh vực, không phải chỉ ở trường Purdue, mà trên khắp đất nước. Những người quản lý lâm nghiệp Mỹ mơ tưởng việc sản xuất những vụ mùa sạch sẽ đều đặn tăm tắp với một tốc độ tối đa. Họ nói về những cánh rừng trẻ trung phồn thịnh và những cánh rừng già nua suy tàn, của lượng tăng trưởng trung bình hằng năm (MAI) và sự chín muồi về kinh tế. Cô chắc chắn rằng những người quản lý ngành này sẽ phải xuống, năm sau hoặc là năm sau nữa. Và từ những thân cây bị đốn hạ vì niềm tin của họ sẽ bung nở muôn vàn thân cây mới. Đó là thời điểm cô sẽ đạt thành tựu lớn.

Cô thuyết giảng cuộc cách mạng ngầm này cho sinh viên của mình. “Các em sẽ nhìn lại sau hai mươi năm nữa, ngạc nhiên với điều mà những người xuất sắc trong ngành lâm nghiệp xem là sự thật hiển nhiên. Nó sẽ là rào cản của tất cả khoa học tốt đẹp: “Tại sao chúng ta lại đã không nhận ra?”

Cô hòa đồng với bạn bè cùng học sau đại học. Cô tới dự các buổi tiệc nướng và những buổi biểu diễn âm nhạc dân gian và cố gắng tham gia vào những cuộc đàm tiếu về khoa trong khi vẫn giữ thế giới độc lập của riêng mình. Một đêm nọ, cô xảy ra sự hiểu lầm choáng váng, bức bối, hoang dại với một người phụ nữ về di truyền thực vật học. Patricia giấu nỗi bối rối vào sâu trong ngăn kéo của trái tim và không bao giờ lôi nó ra lại, dù chỉ để nhìn.

Một sự hoài nghi bí mật chia tách cô với những người khác. Cô tin chắc, dù không có bằng chứng nào, rằng cây là những sinh vật xã hội. Rõ ràng đối với cô: những thứ không thể di chuyển phát triển trong những cộng đồng pha tạp đa dạng phải có những cách tiến hóa để đồng bộ hóa với một loài khác. Tự nhiên biết rất ít loài cây cô độc. Nhưng tư tưởng của cô khiến cô cô độc. Trớ trêu thay: cô ở đây, với những người cùng hướng với cô, suy cho cùng là thế, nhưng ngay cả họ cũng không thể nhìn thấy điều hiển nhiên này.

Purdue nắm giữ một trong những mẫu sắc ký khí ghép khối phổ (GCMS) tú cực đầu tiên. Một số vị thần Pagan đã đưa chiếc máy tới cho chính Patricia, như một phần thưởng cho lòng kiên định của cô. Với thiết bị đó, cô có thể xem được hợp chất hữu cơ dễ bay hơi nào các cây cổ thụ thải ra không khí và các khí này ảnh hưởng tới những cây lân cận ra sao. Cô giãi bày ý tưởng với người hướng dẫn của mình. Mọi người chẳng biết gì về những thứ mà cây tạo nên. Đó là cả thế giới xanh lục mới mẻ, rất cần phải khám phá.

“Làm sao điều đó tạo ra được một cái gì hữu dụng?”

“Có thể là không thể.”

“Sao em muốn làm việc đó ở trong rừng? Tại sao không phải ở vườn thí nghiệm của trường?”

“Ta không thể nghiên cứu động vật hoang dã bằng cách đi tới sở thú được.”

“Em nghĩ những cây được trồng trọt hoạt động khác với cây ở trong rừng sao?”

Cô chắc chắn về điều đó. Nhưng tiếng thở dài của ông ấy to rõ như tiếng thông báo dịch vụ công cộng: Phụ nữ làm khoa học giống hệt như gấu đạp xe. Có thể được, nhưng quái đản. “Tôi sẽ giữ gìn một số cây ở vườn trường. Nó sẽ làm mọi thứ dễ hơn và tiết kiệm cho em được nhiều thời gian.”

“Không việc gì phải vội ạ.”

“Luận án của em. Thời gian của em bị lãng phí.”

Cô lãng phí thời gian với niềm vui mãnh liệt. Công việc không hề hào nhoáng. Nó bao gồm việc dán những miếng plastic ở đầu các cành cây, rồi thu chúng lại ở những khoảng cách đã đo sẵn. Cô làm việc đó lần này qua lần khác, yên tĩnh và im lặng, hết giờ này tới giờ kia, khi thế giới quanh cô bừng bừng với những cuộc ám sát, bạo loạn chủng tộc và chiến tranh rừng rậm. Cô làm việc suốt ngày trong rừng, lưng cô đầy những con bọ đỏ, đầu chi chít ve, miệng ngập lá khô, mắt phủ phấn hoa, mạng nhện như những chiếc khăn quanh mặt, vòng tay là những dây thường xuân độc, đầu gối bị đâm lỗ chỗ vì đá nhọn, mũi dính đầy bào tử, phía sau bắp chân bị ong bắp cày cắn dày như chữ nổi, và trái tim cô hạnh phúc như sự hào phóng của những tháng ngày này.

Cô đưa những mẫu đã thu được về phòng thí nghiệm và dành hết giờ tẻ nhạt này qua giờ khác giải đáp các nồng độ và trọng lượng phân tử, chi ra loại khí nào mà mỗi cây của cô thải ra. Phải có hàng ngàn hợp chất. Hàng chục ngàn. Sự chán ngắt làm cô ngây ngất. Cô gọi nó là nghịch lý khoa học. Công việc hại não nhất mà một con người có thể làm, tuy nó có thể bung nở trí óc để nhìn thấy những điều khác nhưng tâm trí thật sự điên rồ. Và cô vẫn đi làm dưới ánh nắng trời và những cơn mưa, mùi bùn đất phân hủy lấp đầy mũi cô như mùi xạ hương bất tận của cuộc đời. Trong những khu rừng ấy, cha cô lại ở bên cô, tất cả ngày dài. Cô hỏi cha cô mọi điều, và chính việc hỏi to lên ấy giúp cô hiểu ra. Điều gì khiến một loại nấm chi bắt đầu phát triển ở một độ cao nhất định trên thân cây? Bao nhiêu mét vuông pin năng lượng mặt trời một cây cụ thể sản sinh ra? Tại sao lại có sự khác nhau cực lớn giữa kích cỡ của lá cây lê đá và lá cây sung dâu?

Đó là một điều kỳ diệu, cô nói với sinh viên của mình, quang hợp là một kỳ công của kỹ thuật hóa học làm nền tảng cho sự sáng tạo của tất cả nhà thờ. Tất cả mọi sự quyến rũ của cuộc đời trên Trái Đất này là sự tự do hưởng nhận những hoạt động vô cùng ma lực đó. Bí mật của cuộc đời: cây cối ăn ánh sáng, không khí và nước, và các năng lượng đã lưu trữ tiếp tục tạo ra và làm nên mọi thứ. Cô hướng trách nhiệm của mình vào giữa nơi linh thiêng của điều huyền bí: Hàng trăm phân tử diệp lục sắp xếp thành các phức hợp anten. Ngăn của các đĩa này sắp xếp thẳng hàng trong mỗi một lục lạp. Có lên tới một trăm nhà máy năng lượng mặt trời nạp năng lượng cho mỗi một tế bào cây. Hàng triệu tế bào có thể tạo thành mỗi một chiếc lá. Một triệu chiếc lá xào xạc trên mỗi một cây ngân quả rực rỡ.

Có quá nhiều số không: những đôi mắt của sinh viên đờ đẫn nhìn. Cô phải dẫn dắt họ trở lại vượt qua ranh giới vô cùng mỏng manh giữa tê liệt và kinh sợ. “Hàng tỷ năm trước đây một tế bào đơn, hình mỏ neo, tự sao chép đã học cách làm thế nào để biến một khối cỗi cằn của khí độc gas và xỉ núi lửa thành một vùng đất màu mỡ đông đúc dân cư. Và rồi mọi thứ mà các em hy vọng, sợ hãi và yêu thích trở thành khả dĩ.” Họ nghĩ là cô mất trí, và điều đó thật tốt cho cô. Cô sẵn lòng đem tới một ký ức trong những tương lai xa của họ, những tương lai mà sẽ dựa vào sự hào phóng khôn lường của muôn vật màu xanh.

Đêm muộn, quá mệt với việc dạy học và nghiên cứu để làm thêm gì, cô đọc Muir. A Thousand-Mile Walk to the Gulf và My First Summer in the Sierra đẩy tâm hồn cô bay lên trần gian phòng và xoay tròn nó như một người theo đạo Hồi giáo Sufi. Cô chép những dòng yêu thích của mình trong những số ghi chép thực địa và lướt đọc chúng khi các chính sách khoa và sự thô lỗ của những con người đáng sợ làm cô nản lòng. Những câu chữ chống lại sự tàn bạo ngập tràn của ngày.

Tất cả chúng ta đều tới dải Ngân Hà cùng nhau, cây cối và con người… Trong mỗi bước đi với tự nhiên, con người nhận được nhiều hơn rất nhiều những gì họ kiếm tìm. Con đường xán lạn nhất để bước vào vũ trụ là xuyên qua sự hoang dã của một khu rừng.

PATTY-CÂY trở thành Tiến sỹ Pat. Westerford, một cách để che giấu giới tính của cô trong thư tín chuyên ngành. Nghiên cứu về cây tulip đã đem lại cho cô học vị tiến sỹ. Hóa ra là những bề dài vun vút, dày dặn của ống nước dựng đứng ấy lại giàu có hơn vạn lần so với bất cứ ai ngờ đến. Cây áo cộc (Liriodendron) có một danh mục mùi thơm. Nó thở ra những hợp chất hữu cơ dễ bay hơi có thể làm được mọi thứ. Cô vẫn chưa biết được hệ thống hoạt động như thế nào. Nhưng cô biết nó giàu có và hết sức đẹp đẽ.

Cô được nhận học sau tiến sỹ ở Wisconsin. Cô nghiên cứu những di sản của Aldo Leopold ở Madison. Cô kiếm tìm những cây thích hòe đen cao chót vót, với những chùm hoa thơm ngát và quả hình hạt đậu, loài cây ấy đã làm kinh ngạc khiến Muir trở thành một nhà tự nhiên học. Nhưng cây hòe thay đổi thế giới đã bị đốn hạ mười hai năm trước rồi.

Chương trình sau tiến sỹ trở thành vị trí phụ. Cô hầu như không làm ra gì cả, nhưng cuộc sống đòi hỏi rất ít. Ngân sách của cô thật may mắn không phải đáp ứng cho hai chi phí nặng đô, là giải trí và địa vị. Còn rừng thì dồi dào thức ăn miễn phí.

Cô bắt đầu tìm kiếm cây phong đường, trong một khu rừng phía Đông thị trấn. Đột phá của cô xuất hiện đúng như các các đột phá thường tới: bởi một sự tình cờ ấp ủ lâu và được chuẩn bị sẵn sàng. Patricia đến bên nhóm cây của cô vào một ngày ngát hương tháng Sáu để tìm một trong những cây đã bọc túi nhằm tránh sự xâm nhập tổng thể của côn trùng của cô. Ban đầu có vẻ như là dữ liệu của rất nhiều ngày trước đã bị phá hủy. Ngay tức thì, cô giữ các mẫu từ cái cây bị phá hủy, cũng như rất nhiều cây gần cạnh những cây phong. Quay trở lại phòng thí nghiệm, cô mở rộng danh sách các hợp chất mà cô đang nghiên cứu. Một vài tuần sau, cô tìm thấy vài điều mà thậm chí cô cũng chưa sẵn sàng để tin.

Một cây khác gần đó bị nhiễm khuẩn. Cô đo lại. Lần nữa, cô nghi ngờ bằng chứng đó. Mùa thu bắt đầu, lá cây từ những nhà máy hóa chất phức tạp của cô khép lại và buông xuống nền rừng. Cô đóng kín đợi đông sang, tiếp tục dạy học, kiểm tra lần nữa các kết quả, cố gắng chấp nhận những đòi hỏi không đâu của chúng. Cô lang thang trong rừng, tự hỏi liệu cô có thể xuất bản hay phải làm thí nghiệm thêm một năm nữa. Những cây sồi trong khu rừng của cô vẫn bừng đỏ, cây dẻ gai choáng váng sắc vàng. Thật là khôn ngoan khi chờ đợi.

Lời xác nhận tới vào mùa xuân năm sau. Thêm ba thử nghiệm nữa, và cô bị thuyết phục. Những cây bị tấn công đã phun ra những loại thuốc trừ sâu để bảo vệ cuộc sống của mình. Điều đó là không thể tranh cãi. Nhưng một điều gì đó khác nữa trong dữ liệu khiến da thịt cô co rúm lại: những cây ở cách xa một chút, không bị ảnh hưởng bởi đám côn trùng xâm hại, tăng cường bảo vệ cho chính chúng khi xóm giềng của chúng bị tấn công. Có thứ gì đó đã cảnh báo chúng. Chúng đánh hơi thấy thảm họa và chúng chuẩn bị. Cô kiểm soát tất cả mọi yếu tố có thể, và kết quả luôn luôn giống nhau. Chỉ có một kết luận nói lên mọi ý nghĩa: Những cây bị thương gửi cảnh báo để các cây khác ngửi thấy. Những cây phong của cô là kẻ truyền tín hiệu. Chúng kết nối với nhau bằng một mạng lưới trên không, chia sẻ một hệ miễn dịch xuyên qua hàng mẫu đất rừng. Những thân cây không thể di chuyển, không có não bộ đang bảo vệ lẫn nhau.

Cô không thể hoàn toàn thuyết phục bản thân. Nhưng dữ liệu vẫn tiếp tục xác nhận. Và vào đêm hôm đó khi Patricia cuối cùng tin những điều các phép đo lường nói, chân tay cô nóng bừng, nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt cô. Với tất cả những gì cô biết, cô là người đầu tiên trong cuộc phiêu lưu trải rộng của cuộc đời này từng thoáng thấy điều bé nhỏ nhưng hiển nhiên này mà tiến hóa đang tiến theo. Cuộc đời đang chuyện trò với chính nó, còn cô đã tới nghe thấy.

Cô viết ra kết quả một cách điềm đạm nhất có thể. Báo cáo của cô toàn bộ đều là hóa chất, nồng độ và tỷ lệ - không có gì ngoài những thứ mà chiếc máy sắc ký khí ghi nhận. Nhưng trong phần kết luận của nghiên cứu, cô không thể cản việc kiến xuất điều mà các kết quả đó nói lên:

Hoạt động sinh hóa của những cá thể cây chỉ có ý nghĩa khi chúng ta xem xét chúng như là các thành viên của một cộng đồng.

Nghiên cứu của Tiến sỹ Pat. Westerford được chấp nhận bởi một tạp chí danh tiếng. Hội đồng thẩm định nhướn hết mày lên, nhưng dữ liệu của cô thuyết phục và không ai có thể tìm ra một vấn đề gì ngoại trừ kết luận chung. Vào ngày mà bài viết lên trang, Patricia cảm thấy cô đã trả xong gánh nợ với cuộc đời. Nếu ngày mai cô chết, cô vẫn đã thêm được một điều bé nhỏ này vào thứ mà sự sống đã xuất hiện để hiểu về chính nó.

Báo chí đón nhận những phát hiện của cô. Cô thực hiện một cuộc trả lời phỏng vấn cho một tạp chí khoa học danh tiếng. Cô vật lộn để nghe được các câu hỏi qua điện thoại và vấp lời khi đáp lại. Nhưng bài báo ra đời, và nhiều tờ báo khác đã dùng lại nó. “Cây cối Nói chuyện với nhau”. Cô nhận được một số lá thư từ những nhà nghiên cứu khác trên khắp đất nước, hỏi thêm về các chi tiết. Cô được mời tới nói chuyện ở hội nghị chi nhánh miền Trung Tây của Hiệp hội Lâm nghiệp chuyên nghiệp.

Bốn tháng sau, tờ báo đã xuất bản tác phẩm đăng một lá thư ký tên bởi ba nhà thụ mộc học đầu ngành. Những người đàn ông cho rằng các phương pháp của cô thiếu sót và thống kê của cô có vấn đề. Hệ thống phòng vệ của những cây lành nguyên có thể được kích hoạt bởi các cơ chế khác. Hoặc những cây này có thể đã bị làm tổn thương bởi các côn trùng theo những cách mà cô đã không nhận ra. Bức thư chế giễu ý tưởng cho rằng cây cối gửi cho nhau thông điệp hóa học:

Patricia Westerford thể hiện mệt sự hiểu lầm đấng xấu hổ nhất của sự lựa chọn tự nhiên của các cá thể… Ngay cả khi nếu một thông điệp bằng một cách nào đó “đã nhận được” thì nó cũng không thể nào ám chỉ rằng có bất kỳ thông điệp nào như thế đã được “gửi đi. “

Lá thư ngắn ngủi chứa bốn cách viết từ Patricia và không đề cập đến Tiến sỹ, cho tới chỗ ký tên của chính họ. Hai giáo sư Đại học Yale và một chủ tịch danh dự của Đại học Northwestern, đấu với một cô phụ tá vô danh ở Madison: Không ai trong giới chuyên môn ngại ngần cố gắng nhìn nhận lại những phát hiện của Patricia Westerford. Những nhà nghiên cứu đã viết cho cô để xin thêm thông tin ngừng phúc đáp lại thu của cô. Các tờ báo đã đăng những bài viết trong sáng dõi theo các báo cáo về sự hạ bệ cô kinh khủng.

Patricia kiên trì với buổi nói chuyện đã lên kế hoạch của cô tại Hội nghị Lâm nghiệp vùng Trung Tây, ở Columbus. Căn phòng chật chội và nóng bức. Thiết bị hỗ trợ nghe của cô hú lên phản hồi. Bài thuyết trình mắc kẹt. Những câu hỏi hết sức hằn học. Đối phó với họ từ phía sau bục giảng, Patricia cảm thấy tuổi thơ xưa với khiếm khuyết nói năng đang trở lại trừng phạt cô vì sự kiêu ngạo. Trong ba ngày đau đớn của hội nghị, mọi người huých tay nhau khi cô ngang qua sảnh khách sạn: Đó là người phụ nữ nghĩ rằng cây cối có trí thông minh.

Madison không gia hạn vị trí giảng viên cho cô. Cô lăn lê xếp hàng xin việc ở khắp nơi, nhưng đã quá muộn trong mùa này. Cô thậm chí không thể xin được việc rửa ống thủy tinh cho một số nhà nghiên cứu khác. Chẳng có sinh vật nào tẩy chay nhanh hơn Homo sapiens. Không có phòng thí nghiệm để làm việc, cô không thể biện hộ cho mình. Ở tuổi ba hai, cô bắt đầu làm giáo viên thay thế trong các trường cấp ba. Bạn bè trong ngành rì rầm cảm thông, nhưng chẳng một ai công khai bảo vệ cô. Ý nghĩa rút chạy khỏi cô giống như lá xanh từ cây phong giữa mùa thu. Sau nhiều tuần đơn độc cứ tái hiện lại mãi những gì đã xảy ra, cô quyết định đã đến lúc buông.

Cô quá nhút nhát để đưa ra trình chiếu vở kịch trong đầu cô hằng đêm khi cố gắng rơi vào giấc ngủ. Nỗi đau ngăn cản cô. Không phải của cô: nỗi đau cô có thể gây ra cho mẹ, các anh và những người bạn còn lại của cô. Chỉ có rừng bảo vệ cô giữa nỗi xấu hổ bất tận. Cô lê bước trên những con đường mòn mùa đông, cảm nhận những hạt dẻ ngựa dày, dính nhựa bằng những ngón tay băng giá của mình. Mặt rừng đầy vết như những cánh tay dài viết nguệch ngoạc các cáo trạng trên mặt tuyết. Cô lắng nghe rừng, lắng nghe những lời thủ thỉ đã luôn luôn cứu vớt cô. Nhưng tất cả những gì cô nghe thấy là những phán xét đinh tai của đám đông.

Nửa năm trôi qua dưới đáy giếng. Một buổi sáng chủ nhật xanh rực rỡ giữa mùa hè, Patricia tìm thấy rất nhiều mũ chưa mở hết của cây nấm Amanita bisporigera dưới gốc một cây sồi ở vùng đất tháp trong khu rừng Token Creek. Cây nấm thật đẹp, nhưng có hình dạng có thể khiến Học thuyết Signatures phải đỏ mặt. Cô lượm chúng vào túi đựng nấm và mang về nhà. Rồi cô nấu bữa tiệc chủ nhật cho một người: thịt gà với bơ, dầu olive, tỏi, hẹ tây, và rượu trắng, tất cả được dặm thêm vừa đủ lượng nấm Thiên thần Phá hủy (Destroying Angel) để chấm dứt cả thận và gan của cô.

Cô bày biện bàn ăn rồi ngồi xuống trước bữa ăn có hương vị dậy mùi như chính sự bổ dưỡng của nó. vẻ đẹp của kế hoạch là sẽ không ai có thể biết được. Hằng năm, rất nhiều nhà nghiên cứu nấm nghiệp dư nhầm nấm Amanita bisporigera với nấm Agaricus silvicola hay thậm chí là nấm rơm (Volvariella volvacea). Chẳng có ai trong bạn bè hay gia đình hay những người đồng nghiệp cũ nghĩ gì ngoại trừ thế này: cô đã sai lầm trong nghiên cứu gây tranh cãi đó và sai lầm trong việc lựa chọn cây nấm cho bữa tối. Cô đưa một thìa đầy bốc khói lên môi.

Một điều gì đó ngăn cô lại. Những hiệu lệnh dâng tràn trong thớ thịt của cô, mạnh mẽ hơn bất cứ lời nào. Không phải thế này. Tiến tiếp. Không sợ gì hết.

Chiếc thìa rơi trở lại đĩa. Cô bừng tỉnh như từ chuyến mộng du. Thìa, đĩa, bữa tiệc nấm: mọi thứ biến đổi, khi cô nhìn vào, thành một đống điên cuồng. Thêm một nhịp thở nữa, cô không thể tin nổi điều mà nỗi sợ hãi rất động vật trong cô đã định làm đối với cô. Suy nghĩ của những người khác khiến cô sẵn sàng chịu cái chết đau đớn nhất.

Cô cho tất cả bữa ăn vào thùng rác và nhịn đói, một cơn đói tuyệt vời hơn bất cứ bữa ăn nào.

Cuộc đời thật sự của cô bắt đầu từ đêm nay - một chu trình dài được ban tặng sau cái chết. Chẳng có gì trong những năm tiếp theo có thể làm ra điều tồi tệ hơn những gì cô mới định lòng làm với bản thân. Sự ước đoán của nhân loại chẳng thể chạm tới cô nữa. Giờ đây cô hoàn toàn tự do trải nghiệm. Tự do khám phá mọi điều.

Rồi sau đó là nhiều năm mất tích. Với thế giới bên ngoài: Patricia Westerford biến mất trong tình trạng không có việc làm. Sắp xếp hộp trong phòng kho. Lau chùi sàn. Những việc kỳ quái từ Upper Midwest xuyên qua Great Plains hướng lên những ngọn núi cao. Cô không có tư cách, không được sử dụng các thiết bị. Cô không hề cố gắng để tìm vị trí trong phòng thí nghiệm hay giảng dạy, ngay cả khi những đồng nghiệp cũ khích lệ cô đăng tuyển. Hầu hết tất cả bạn bè cũ xếp cô vào danh sách những nhà khoa học chết đường. Sự thực thì, cô đang bận học một ngôn ngữ ngoại lai.

Với rất ít than phiền về thời gian và không chút nào về tâm hồn, cô lại ra ngoài, đi vào rừng, sự chối bỏ màu xanh với tất cả mọi nghề. Cô không lý thuyết hóa cũng không suy luận. Chỉ theo dõi, ghi chép, và phác thảo lại trong một đống cao sổ sách, tài sản gắn bó duy nhất của cô bên cạnh áo quần. Đôi mắt cô tiến gần và sát hơn. Cô cắm trại ngoài trời rất nhiều đêm cùng Muir, dưới cây linh sam và cây vân sam, hoàn toàn thất lạc, quay cuồng bên hương vị của những vùng đại dương nội địa, ngủ trên giường là những lớp địa y, mười sáu inch của chiếc gối là lá kim màu nâu, lớp đất sống bên dưới túi ngủ của cô, tác động chất ẩm của nó ngấm lên từng thớ thịt cô và tất cả những thân cây chót vót đang bao bọc xung quanh và coi sóc. Từng mảnh của bản thể cá nhân cô chắp nối lại mọi thứ đã từng bị chia tách ra từ nó - câu chuyện của màu xanh bỏ trốn. Tôi chỉ đi ra ngoài để đi dạo rồi kết cục cuối cùng lại ở ngoài tôi khi đêm xuống, vì đi ra ngoài, tôi nhận ra, chính thật sự là bước vào.

Cô đọc Thoreau bên ánh lửa củi trong đêm. Tôi sẽ không có sự hiểu biết với đất đai sao? Chính tôi không phải là mệt phần hình dáng của lá cây và rau cỏ sao? Và: Thứ mà Titan này sở hữu tôi là gì? Nói về những điều bí ẩn! - Hãy nghĩ về sự sống của chúng ta trong tự nhiên, - hằng ngày bộc lộ bao vấn đề, tiếp xúc với nó, - đá, cây và gió trên đôi má của chúng ta! Trái Đất chắc rắn! Thế giới thực tế! Lẽ thường thôi! Liên kết! Liên kết! Chúng ta là ai? Chúng ta ở đâu?

Bây giờ cô dạt xa hơn về phía Tây. Thật đáng kinh ngạc khi chỉ với một chiếc rương chiến nhỏ bé có thể đi xa tới chùng nào, một khi bạn biết cách xoay xở. Đất nước này dào dạt đồ miễn phí để ăn. Bạn chỉ cần biết nơi để tìm kiếm thôi. Từng một lần cô liếc nhìn gương mặt của chính mình, khi bắn nước lên nó trong một phòng tắm ở trạm dịch vụ gần một rừng quốc gia ở một bang mà cô hoàn toàn là người mới tới. Cô trông quá đỗi phong sương, già hơn tuổi. Nhìn cô tồi tàn không chăm sóc. Sớm thôi cô sẽ làm mọi người kinh sợ. Phải, cô đã luôn làm mọi người kinh sợ. Những kẻ giận dữ căm ghét sự hoang dã đã lấy đi nghề nghiệp của cô. Những người sợ sệt nhạo báng cô vì nói rằng cây cối truyền tin cho nhau. Cô tha lỗi cho tất cả họ. Chẳng có gì cả. Những gì làm khiếp hoảng mọi người nhất sẽ đến một ngày kia quay lại gây kinh ngạc. Và rồi con người sẽ làm điều mà bốn triệu năm đã hình thành họ để làm: dừng lại và nhận thấy cái họ đang nhìn thấy là gì.

Vào một chiều thu muộn cô dừng tấm thân cổ lỗ của mình bên lề dọc một đoạn kéo dài của tuyến đường Fishlake Scenic Byway, ở rìa phía Tây của Colorado Plateau vùng Trung Nam Utah. Cô đã lần theo những con đường trở lại từ Las Vegas, thủ phủ của những kẻ phạm tội không đầu mối, lên Salt Lake, thủ phủ của những người hiền lương. Cô bước ra khỏi xe và đi lên phía rừng cây ở sườn Tây con đường. Những cây dương lá rung đứng trong nắng chiều, trải dài suốt dọc sườn núi vút ra khỏi tầm mắt. Populus tremuloides. Những đám mây lá vàng chiếu sáng trên những thân cây mảnh dẻ màu xanh nhợt. Không khí tĩnh yên, nhưng những cây dương lá rung lay động như đang đứng giữa gió trời. Chỉ những cây dương lá rung lắc lư trong khi mọi loài cây khác đứng trong câm lặng. Cuống lá dài dẹt vặn mình trước những cơn gió mơ hồ nhất, và xung quanh cô, cả triệu chiếc gương cadium hai màu lấp lánh đối lại với màu xanh trời ngăn ngắt.

Những chiếc lá thần thánh khiến người ta nghe được tiếng gió. Chúng lọc ánh sáng tinh khiết và đặt vào đó nhiều kỳ vọng. Những thân cây vươn thẳng tắp và trần trụi, khô ráp với thời gian nơi chân gốc, rồi nhẵn bóng và chiếu sáng trắng vút lên tận những cành nhánh trên cùng. Những vành địa y xanh mờ điểm màu cho chúng. Toàn bộ không gian trong lành như một dòng suối đổ xuống từ đỉnh núi.

Patricia Westerford vòng tay ôm mình và, chẳng vì lý do gì cả, bật khóc. Cây trong nhà nguyện mặt trời của người Navajo. Cây Hercules biến thành một vành hoa, thứ mà chàng đã dâng hiến, khi trở lại từ địa ngục. Cây cho lá ủ khô bảo vệ những người thổ dân săn bắt khỏi ác quỷ. Chính nó, loài cây đóng góp nhiều nhất ở Bắc Mỹ có nguồn gốc gần gũi từ ba lục địa, bỗng chốc trở nên hiếm quý vô ngần. Cô đã đi xuyên qua những cây dương lá rung rất xa lên phía Bắc tới Canada, cây gỗ cứng lẻ loi giữ một vĩ độ không đổi với cây lá kim. Đã phác thảo hình dáng của chúng trong mùa hè nhợt nhạt khắp vùng New England và Upper Midwest. Đã cắm trại giữa chúng vào những đợt khô, nóng bùng nổ trên những thác nước phun trào từ tuyết tan, ở Rockies. Đã tìm thấy chúng chạm khắc những vết khắc bản xứ mã hóa kiến thức. Đã nằm ngả lưng với đôi mắt nhắm, ở những vùng núi xa Nam - Tây, hoài niệm lại giai điệu của sự rung chuyển bất tận đó. Băng ngang qua những cây cành lá rụng này, cô lại nghe thấy nó lần nữa. Không có loài cây nào tạo ra âm thanh này.

Những cây dương lá rung xao động trong làn gió không cảm nhận được chúng, và cô bắt đầu tìm hiểu những điều ẩn kín bên trong. Cao phía trên một thân cây, cô đọc vết cào của móng vuốt ở quá đầu cô, những bản viết khó hiểu của loài gấu. Nhưng những đường rạch này đã cũ và bị viền bằng nhiều vết sẹo đen; không có con gấu nào ngang qua khu rừng này rất lâu rồi. Rễ cây chằng chịt tràn khắp bờ lạch. Cô nghiên cứu chúng, các mặt tiếp xúc của các ống ngầm dẫn nước và khoáng chất xuyên qua hàng chục mẫu, dâng lên cao tới những cây khác, dường như chia tách những thân cây xếp hàng trên mặt các tảng đá trồi, nơi nước khó bề tìm tới.

Ở phía trên gò cao có một khoảng đất trống nhỏ, đã bị máy cưa cắt bỏ. Cô làm chiếc kính lúp từ vòng móc đeo chìa khóa rồi soi nó vào một gốc cây để ước lượng số vòng. Những cây già nhất bị đốn hạ là khoảng tám mươi tuổi. Cô mỉm cười vào con số, thật hài hước, với năm mươi ngàn cây con xung quanh mọc lên từ đống chằng chịt rễ quá đỗi già nua như tới cả trăm ngàn thiên niên kỷ. Trong lòng đất, có một trăm ngàn thân cây tám mươi tuổi, không hơn không kém. Cô sẽ chẳng ngạc nhiên nếu khối khổng lồ này, kết lại, thành một sinh vật vô tính đơn lẻ trông giống như một khu rừng đã tồn tại hẳn cả triệu năm.

Đó là lý do vì sao cô dừng lại: để ngắm nhìn một trong những sinh vật sống già nhất, rộng lớn nhất trên Trái Đất. Tất cả xung quanh cô trở thành một con người duy nhất có những thân với hệ gene giống hệt nhau phủ dài hơn một trăm mẫu. Một thứ thật diệu kỳ, vượt quá khả năng để đầu óc cô hiểu được. Nhưng rồi, như Tiến sỹ Westerford hiểu, sự diệu kỳ của thế giới ở khắp nơi nơi, và cây cối giống như đồ chơi trong suy nghĩ con người chẳng khác gì đồ chơi của trẻ em đối với bầy bọ cánh cứng.

Xuyên qua con đường từ nơi cô đậu xe, cây dương lá rung tràn xuống vùng lòng chảo phía Fish Lake, nơi năm năm trước một kỹ sư tị nạn người Trung Quốc đã cắm trại cùng ba cô con gái trên đường đi khám phá công viên Yellowstone. Cô gái lớn nhất, được đặt tên theo nàng công chúa trong một vở opera của Puccini, sẽ sớm bị chính quyền truy nã bắt bồi thường năm mươi triệu đô la vì cố ý gây hỏa hoạn.

Hai ngàn dặm về phía Đông, một sinh viên ngành điêu khắc sinh ra trong một gia đình làm nông ở Iowa, trong một hành trình tới nhà hát opera Metropolitan, đi bộ xuyên qua rừng dương lá rung đang rung rinh trong khắp công viên Central Park mà không hề nhận ra nó. Anh sẽ lại đi ngang qua rừng cây này lần nữa, ba mươi năm sau, nhưng chỉ là vì lời thề với nàng công chúa của Puccini rằng dù cho mọi chuyện có tồi tệ tới mức nào, anh cũng sẽ không tự vẫn.

Về phương Bắc, trên sườn cong của dãy Rockies, ở một nông trại gần Idaho Falls, một phi công cựu chiến binh, mỗi chiều, xây chuồng ngựa cho một người bạn trong phi đội cũ của ông. Đó là một sự mướn công nghèo nàn, chỉ gồm chỗ ở và thức ăn, và người cựu binh dự kiến sẽ bỏ đi sớm nhất có thể. Nhưng mà trong hôm nay, ông xây phần vách ngăn bên cạnh những cây dương lá rung. Vì số gỗ xẻ quá ít ỏi, nó sẽ bị bể tan khi ngựa đá vào.

Ở một vùng ngoại ô St. Paul không xa Lake Elmo, hai khóm dương lá rung mọc lên gần bức tường phía Nam ngôi nhà một luật sư quyền sở hữu trí tuệ. Ông chỉ loáng thoáng lưu tâm đến chúng, và khi người bạn gái mang tâm hồn tự do của ông hỏi, ông trả lời với cô rằng đó là cây bạch dương. Cuối cùng, hai biến cố đẩy người luật sư xuống, đặt tất cả những dương lá rung, cáng lò, dẻ gai, thông, sồi và phong vào một từ mà khiến ông phải mất nửa phút để thốt lên.

Ở bờ biển phía Tây, nơi thung lũng Silicon đang bùng nổ, một cậu bé lai Mỹ - Gujarati và cha cậu dùng nguyên mẫu dương lá rung xây nên những pixel trắng - đen đồ sộ. Họ đang viết một trò chơi mà, về mọi phương diện, đưa đến cho cậu cảm nhận như đang băng qua khu rừng nguyên mẫu.

Những người ấy chẳng là ai cả với Patty-Cây. Thế nhưng cuộc đời của họ đã có sự kết nối tự bao giờ. thẳm sâu dưới lòng đất. Mối liên hệ họ hàng của họ sẽ diễn ra giống như một cuốn sách chưa mở. Quá khứ luôn luôn tiến lại gần hơn, trong tương lai.

Những năm tiếp sau đây, cô sẽ viết một cuốn sách của riêng mình, Khu rừng Bí mật. Trang mở đầu của nó sẽ ghi:

Bạn và cái cây sau lưng nhà bạn đến từ cùng một tổ tiên. Một triệu rưỡi năm trước, bạn và cây chia tách nhau. Thế nhưng ngay tận bây giờ, sau một hành trình thăm thẳm về những hướng tách biệt, cái cây ấy và bạn vẫn chia sẻ cùng nhau một phần tư hệ gen…

Cô đứng giữa khoảng đất trống trên đỉnh dốc, phóng mắt nhìn con rạch cạn. Dương lá rung ở khắp mọi nơi, nó chỉ cho cô thấy rõ rằng chẳng có cây nào trong số chúng lớn lên từ mầm hạt. Tất cả xuyên qua địa phận này của miền Tây, rất ít cây dương đã sinh ra như vậy trong suốt mười ngàn năm. Trước đây rất lâu, khí hậu thay đổi, hạt của cây dương lá rung không còn có khả năng sinh trưởng nơi đây nữa. Nhưng nó sinh sôi nảy nở bằng rễ; rồi chúng lan rộng. Có những cây dương lá rung xâm thực ngược lên miền Bắc nơi có các vỉa băng, già hơn cả bản thân các vỉa băng đó. Những thân cây bất động đang di trú - những trảng dương lá rung bất tử lùi bước trước các dòng sông băng dày-hai-dặm cuối cùng, rồi lại theo chúng quay về phương Bắc. Cuộc đời sẽ không trả lời cho lý do. Còn ý nghĩa thì nó vẫn còn quá mới để có quá nhiều áp đặt lên nó. Tất cả mọi kịch bản của thế giới đều hội tụ trong lòng đất - những bản hợp xướng giao hưởng chất chồng mà Patricia mong mỏi được nghe thấy trước khi cô chết.

Cô nhìn ra xa qua con rạch cạn đoán xem cách nào mà chàng trai của cô, bản sao cây dương lá rung khổng lồ này, có thể bị dẫn dắt. Anh ta đã lang thang quanh những ngọn đồi và kênh rạch trong cuộc tìm kiếm suốt mười thiên niên kỷ một người phụ nữ khổng lồ rung rinh để thụ thai. Một cái gì đó trên con dốc tiếp theo thoi vào lồng ngực cô. Khắc lên giữa trái tim của bản sao lan rộng ấy, là sự phát triển nhà cửa dọc hai bên những con đường mới. Những căn hộ, vài ngày tuổi, cắt ngang nhiều mẫu của hệ rễ của một trong những thứ xa hoa nhất trên Trái Đất này. Tiến sỹ Westerford nhắm mắt lại. Cô đã từng nhìn thấy tình trạng cây cối sâu bệnh khắp miền Tây. Dương lá rung bị xem thường. Bị thăm dò bởi mọi loài với móng vuốt, cắt hạ trong những lần đốt rừng cải thiện đất, toàn bộ nhóm cây đang biến mất. Giờ đây cô nhìn thấy một khu rừng, vươn trải xuyên qua những ngọn núi từ trước khi con người rời châu Phi, đang bị hy sinh cho những ngôi nhà thứ hai. Cô nhìn thây nó trong một ý tưởng quý báu vụt qua: cây cối và con người, trong một cuộc chiến tranh giành đất, nước và không khí. Và cô có thể nghe thấy, lớn hơn tiếng rung rinh của lá, bên nào sẽ thất bại dù giành phần thắng.

NHŨNG NĂM ĐẦU THẬP NIÊN 1980, Patricia đi về phía Tây Bắc. Khóm cây khổng lồ vẫn mọc ở vùng Lower 48, những cụm cây lâu đời đã rải rác từ Bắc California lên Washington. Cô muốn thấy những khu rừng không bị cắt tỉa trông như thế nào, khi vẫn còn có để nhìn. Western Cascader trong một tháng Chín ẩm ướt: Chẳng có gì trong kinh nghiệm chuẩn bị sẵn sàng cho cô. Từ khoảng cách không xa, không có phương tiện đo đếm, nhóm cây dường như không nhiều hơn vùng cây sung dâu và cây dương tulip lớn nhất ở miền Đông. Nhưng lên gần ảo ảnh biến mất, và cô lạc mình trong điều ngược lại với suy luận. Tất cả những gì cô có thể làm là nhìn và cười và nhìn thêm tiếp nữa.

Cây độc cần, linh sam bạc lớn, tuyết tùng vàng, linh sam Douglas, những quái vật lá kim cao vút biến mất trong màn sương trên đầu cô. Thân cây vân sam Sitka phình ra những cục to như những chiếc xe hơi - trên bảng xếp hạng, là một loài cây nặng hơn sắt thép. Một thân cây có thể xếp đầy một chiếc xe tải chở gỗ lóng loại lớn. Ngay cả những loại cây nhỏ bé nhất ở đây cũng đủ sức chiếm một khu rừng phía Đông, và mỗi mẫu chứa ít nhất gấp năm lần lượng gỗ. Dưới những thân cây khổng lồ này, trong mái vòm rừng, cơ thể của chính cô dường như quá chừng bé nhỏ, giống như những người làm bằng nắp trái sồi cô đã làm thời thơ ấu. Một hốc trên một trong những cột không khí cứng này có thể là nhà của cô.

Tiếng lách tách rì rầm quấy quả bầu không khí yên tĩnh như trong nhà thờ. Không gian xanh mơ màng tới nỗi cô tưởng mình đang ở dưới nước. Mưa rơi dày hạt - những đám mây bào tử, những mạng lưới bị vỡ và lông của động vật có vú, những ve bọ chết trơ xương, những mảng phân côn trùng và lông chim… Mọi thứ bò lên khắp mọi nơi, tìm kiếm những mảng ánh sáng. Nếu cô đứng yên đủ lâu, các dây leo sẽ bò quanh cô. Cô bước đi trong yên lặng, giẫm lên mười nghìn loài không xương sống với mỗi bước chân, tìm kiếm các dấu vết ở một nơi mà ít nhất một trong các ngôn ngữ bản địa dùng cùng một từ cho dấu chân và nhận thức. Đất đai trải ra phía dưới cô giống như một tấm thảm loang lổ.

Một sườn núi trọc đưa cô xuống đập nước. Cô khua khua cây gậy dò đường, và nhiệt độ xuống tới đáy khi cô vượt qua một tấm mành che giữ nhiệt. Tán lá là một cái rây mà những bề mặt lỗ rỗ được đâm thủng lỗ chỗ bằng những tia nắng mặt trời. Với mỗi thân cây lớn lại có hàng trăm cây con ẩn mình trên đó. Dương xỉ kiếm, rêu tản, địa y, và những chiếc lá nhỏ như hạt cát nhuốm màu từng inch trên những khúc gỗ bị đổ ẩm ướt. Các loại rêu khi hợp lại dày đặc trông như những khu rừng thu nhỏ.

Cô ấn vào các khe nứt của vỏ cây và tay cô lọt vào cả đốt ngón tay. Len lỏi trong rừng rậm một chút thôi cũng đủ thấy mức độ của sự phân hủy khủng khiếp thế nào. Các thân cây đổ bị phá huỷ, phân rữa qua nhiều thế kỷ. Những gốc cây bị gãy ngang hình dáng vặn xoắn kiểu gothic, mang màu bạc như những nhũ băng chỉa ngược. Khối thảm của sự sống đã từng chết ấy gói lại thành từng foot vuông, đan dệt vào nhau cùng với lời than của loài nấm và mạng nhện bị giọt sương phản bội khiến cô như mụ mị. Nấm leo lên các bên của những cành cây trên các vỉa đá nhô ra. Cá hồi chết thành thức ăn cho cây. Ngâm mình trong sương mù suốt mùa đông dài, những thứ màu xanh xôm xốp mà cô không thể gọi tên phủ khắp các cột gỗ trong thành lớp nỉ dày vươn cao quá đầu cô.

Cái chết ở khắp nơi, u ám mà đẹp đẽ. Cô nhìn thấy nguồn gốc học thuyết của rừng mà cô đã hết sức khước từ ở trường học. Nhìn tất cả những sự phân hủy lộng lẫy này, người ta có thể sa vào suy nghĩ rằng già có nghĩa là tàn lụi, rằng những tấm thảm mục rữa dày như thế này là các nghĩa trang xenluloza đang cần chặt đốn để làm trẻ hóa. Cô thấy được tại sao loài của cô sẽ luôn sợ những bụi cây rậm rạp sin sít này, nơi vẻ đẹp của những cái cây đứng riêng rẽ trở nên giống với những cái gì bối rối, giận dữ, điên cuồng. Khi truyện ngụ ngôn hết thời, khi dòng phim ma quỷ chém giết dựng những thước phim kinh dị đầu tiên, thì đây là nơi những đứa trẻ khốn khổ và những thiếu niên ương ngạnh đó cần phải đi tới. Có những thứ ở đây khủng khiếp hơn loài sói và phù thuỷ, những nỗi sợ hãi nguyên thủy mà không có mức độ văn minh hóa nào đánh bại được.

Khoảng rừng phi thường đó kéo cô đi, vượt qua thân của một cây tuyết tùng đỏ phương tây khổng lồ. Bàn tay cô vuốt ve những dải xơ tróc ra từ một thân cây nhiều rãnh mà đường kính của nó sánh bằng với chiều cao của một cây sơn thù du miền đông. Nó tỏa ra mùi hương. Phần ngọn của cây đã gãy, thay thế bằng một chúc đài gồm những nhánh cây phát triển lên thành những thân cây phụ. Một hang động mở ra ở chỗ gần sát mặt đất của tâm của thân cây. Cả gia đình của loài động vật có vú có thể sống ở trong đó. Nhưng cành lá, suốt một nghìn năm nữa, rủ xuống hàng chục lớp những nhánh cây lỉa xỉa phía trên cô, vẫn chi chít quả.

Cô trò chuyện với cây tuyết tùng, sử dụng những lời nói của những người rừng đầu tiên. “Kẻ tạo nên sự sống trường tồn. Tôi đã đến đây. Ở dưới đây.” Thoạt tiên, cô cảm thấy ngớ ngẩn. Nhưng mỗi từ lại dễ hơn một chút so với từ tiếp theo.

“Cảm ơn người vì những rổ rá hộp thùng. Cảm ơn vì mũ nón áo quần. Cảm ơn vì những cái nôi. Giường chiếu. Khăn tã. Ca nô. Mái chèo, lao móc, lưới. Cột lều, cột buồm, cột điện. Ván lợp chống mối mọt. Loại mồi sẽ luôn đỏ lửa.”

Mỗi một thứ mới là một sự tự do và giải thoát. Không thấy lý do nào để dừng lại lúc này, cô để lòng biết ơn của mình tràn ra. “Cảm ơn vì các dụng cụ. Rương hòm. Sàn nhà. Tủ quần áo. Ván ốp tường. Tôi quên… Cảm ơn người,” cô nói, theo thể thức cổ xưa. “Vì tất cả những món quà mà người đã ban cho.” Và vẫn không biết làm cách nào để dừng lại, cô tiếp tục, “Chúng tôi cũng xin lỗi. Chúng tôi đã không biết người đã chịu bao khổ ải để phát triển trở lại.”

CÔ TÌM THẤY CÔNG VIỆC với Cục Quản lý Đất đai. Người bảo vệ những vùng hoang dã. Bản mô tả công việc cũng kỳ diệu như những cái cây khổng lồ: Giúp gìn giữ và bảo vệ cho các thế hệ hiện tại và tương lai những nơi mà con người chỉ là khách viếng thăm chứ không lưu trú. Người phụ nữ hoang dã đó phải mặc đồ đồng phục. Nhưng họ trả tiền cho cô để cô được là chính mình, mang một ba lô nhẹ, đọc bản đồ địa hình, đào một rãnh nước, nhìn khói và lửa, dạy cho người dân đi không để lại dấu vết, theo chân những âm thanh của đất, và sống trọn vẹn trong vòng tuần hoàn của năm. Để dọn dẹp sau sự xuất hiện của con người, phải. Để gom nhặt vô số vỏ bánh vỏ kẹo, hộp đựng sáu lon nước, giấy bạc, vỏ lon, và nắp chai rải rác khắp các cánh đồng hoa dại, trên những thắng cảnh xa xôi, xiên vào những nhánh cây linh sam quý phái, dưới những dòng suối lạnh lững lỡ, phía sau những thác nước. Cô sẵn sàng trả tiền cho chính phủ, để làm những việc này.

Người giám sát của cô xin lỗi về tình trạng của cái lán gỗ mà họ trao cho cô, ở bìa của một rừng tuyết tùng cổ đại. Không có nước vòi, và về tổng trọng lượng thì côn trùng còn nặng hơn cả động vật hai chân mới đến đây, gấp nhiều lần. Cô chỉ có thể phì cười. “Ông không biết đâu. Ông không biết đâu. Đây là cả Alhambra rồi.”

NGÀY MAI CÔ SẼ ĐI BỘ hai mươi lăm dặm, tháo các bu-lông trên các tấm biển gắn với các cây ở ven đường mòn, để tầng phái sinh gỗ của chúng có thể tiếp tục phát triển. Có một điểm trên mé bên kia của sườn núi này nơi vỏ của một cây vân sam lớn đã nuốt tấm biển hiệu của Dịch vụ Kiểm lâm cũ từ những năm bốn mươi mà nay chỉ còn là tương truyền.

Cơn mưa đêm bắt đầu rơi. Cô đi ra ngoài khoảng rừng trống và ngồi trong cơn mưa xối xả, chỉ mặc mỗi chiếc sơ mi cũ sờn, lắng nghe rừng trỗi lên những tế bào tươi mới. Cô trở lại bên trong. Trong bếp, cô thắp ngọn đèn dầu hỏa bằng những que diêm mập mạp đánh vào đâu cũng được, rồi mang ngọn lửa vào trong phòng ngủ. Tiếng rục rịch của một con chuột rừng đuôi lông báo hiệu một cuộc đột kích khác vào những món đồ không có giá trị gì của cô. Tuần trước là một đôi cặp tóc. Quá tối để tìm ra thứ gì bị cướp mất tối nay. Cô kỳ cọ lại trong cái thau thiếc đựng nước lạnh ở trong góc nhà rồi lên giường. Tai vừa áp vào cái gối ẩm mốc cô đã lập tức chu du về mái nhà là chốn nghỉ ngơi của tổ tiên, nơi tương lai sẽ tạo ra những hình hài bất tận đẹp đẽ nhất.

CÔ LÀM VIỆC trong mười một tháng hạnh phúc. Thế giới hoang dã chưa từng một lần khiến cô sợ hãi, và những người cắm trại điên rồ chỉ làm vậy hai lần. Trong cơn mưa không dứt, mọi thứ đều sinh trưởng. Những cái cây khổng lồ hút cơn mưa to rồi tỏa ra không khí như những luồng hơi. Bào tử lan tỏa khắp các bề mặt ẩm ướt. Cả hai chân cô từ bàn chân tới đầu gối biến thành chân vận động viên chạy. Đôi khi, lúc cô nằm xuống và nhắm mắt lại, cô cảm thấy rêu sẽ phủ kín hai mí mắt mình khi cô mở mắt ra trở lại. Cô hì hục nhiều ngày để làm một khoảng đất bảo tồn, cứu trợ những bụi cây trong vòng mấy feet vuông cạnh đó. Tới cuối năm, những mầm cây lún phún nhỏ bé phát triển trở lại thành bụi cây hoặc cây non. Cô yêu cái cảm giác khi mọi tiến triển mà con người cố gắng tạo ra trong cuộc chiến màu xanh bất tận này bị nghiền nát.

CÔ KHÔNG HAY BIẾT, trong khi cô đang khôi phục lại những vùng hoang dã bị đốt lửa trại và dọn dẹp các bãi cắm trại hợp pháp ngập ngụa vỏ lon bia và giấy vệ sinh, một bài báo xuất hiện. Nó được xuất bản trên một tạp chí danh tiếng, một trong những tạp chí tốt nhất mà con người từng tạo ra. Cây trao đổi các tín hiệu phun trên không, bài báo nói. Chúng tạo ra thuốc. Mùi hương của chúng cảnh báo và thức tỉnh láng giềng của chúng. Chúng có thể cảm nhận được một loài tấn công và hiệu triệu một lực lượng trên không tới viện trợ cho chúng. Các tác giả đã trích dẫn bài tạp chí bị nhạo báng trước đây của cô. Họ tái tạo các phát hiện của cô và mở rộng chúng vào những điểm bất ngờ. Những lời của chính cô mà cô đã gần như quên lãng đã tiếp tục truyền đi trong không khí mở, soi sáng cho những người khác, giống như một luồng chất dẫn dụ (pheromone).

MỘT NGÀY NỌ Patricia đi đến một rãnh thoát nước mà cô chưa từng tới, thì thấy một khoảng rừng bị gió bạt gãy từ con đường mòn phía xa. Cô nhìn thấy một chuyển động trong tầng bụi rậm - trò chơi nguy hiểm nhất. Tới gần hơn, cô thám thính thấy hai nhà nghiên cứu, một cặp đôi nhà khoa học lang thang từ liên minh không ràng buộc đó, những người mỗi mùa hè lại tụ tập lại trong các xe moóc nhỏ đầy đủ các thiết bị nghiên cứu trong một khoảng rừng cách cái lán của cô chùng năm dặm. Cô vẫn còn sợ những cuộc tranh luận hồi đó với các đồng nghiệp cũ. Cô luôn nói ít nhất có thể. Hôm nay, cô lui lại và quan sát. Qua cánh rừng đó, từ khoảng cách này, hai người đàn ông đang ngước nhìn lên, trông ngớ ngẩn như những con gấu xiếc trong trang phục của người đốn củi.

Cặp đôi len lỏi trong bụi rậm một lát, rồi chụm lại ở một chỗ thu hút sự chú ý của họ. Một trong hai người hú khẽ, một sự nhại giọng hoàn hảo. Cô đã nghe thấy tiếng hú này trong đêm, dù cô chưa bao giờ nhìn thấy kẻ hú. Sự nhại giọng này hẳn sẽ lừa gạt được cô. Người đàn ông đó lại hú gọi. Thật đáng kinh ngạc, một gì đó hồi đáp. Một màn song ca diễn ra: một mồi nhử của con người, cuốn hút, rạng ngời, theo sau bởi con chim chậm chạp nhưng sốt sắng, ẩn trong các tàng cây. Một loáng trong không khí, rồi con cú xuất hiện. Loài chim của trí khôn và phù thuỷ. Đó là con Strix occidentalis đầu tiên Patricia từng thấy. Cú lông đốm: loài vật có nguy cơ tuyệt chủng mà các nhà khoa học muốn cứu bằng cách rót hàng tỉ đô la bảo vệ rừng già, nơi duy nhất mà chúng có thể sinh sống. Con chim đậu xuống, một cách thần bí, trên cành cây cách chỗ những kẻ chiêu dụ nó chừng ba mét. Con chim và những người đàn ông cân nhắc lẫn nhau. Một loài chụp ảnh. Một loài chỉ lắc lư cái đầu và chớp chớp đôi mắt to đùng của nó. Rồi con chim biến mất, rồi con người, sau một chút ghi chép nữa, cũng biến mất, để lại Patricia Westerford ngơ ngác tự hỏi cô đang thức hay đang mơ.

Ba tuần sau, cô tới gần chính địa điểm đó, kéo đi những cây xâm lấn. Các cành dày phủ lông của cây thanh thất khiến những ngón tay cô dính cà phê và bơ lạc. Cô phóng thật nhanh lên một con dốc và đâm sầm vào hai người nghiên cứu nọ một lần nữa. Họ cách đoạn dốc đó chùng mấy mét, đang quỳ bên một khúc thân cây đổ. Cô chưa kịp lẩn trốn thì họ nhìn thấy cô và vẫy tay chào. Bị bắt gặp, cô vẫy tay và đi lên chỗ họ. Người đàn ông trông già hơn đang ở trên mặt đất, nằm nghiêng, nhét các sinh vật nhỏ bé vào các chai đựng vật mẫu.

“Bọ cánh cứng Ambrosia à?” Hai cái đầu quay về phía cô, kinh ngạc. Các khúc gỗ chết là chủ đề cô từng yêu thích, và cô đã quên mất mình.

“Khi tôi còn là sinh viên, giáo viên nói với chúng tôi rằng những thân cây đổ chẳng có gì khác ngoài gây cản trở và là mầm mống hỏa hoạn.”

Người đàn ông dưới đất ngước nhìn cô. “Giáo viên của tôi cũng nói thế.”

“Loại bỏ chúng để nâng cao sức khỏe của rừng. “

“Đối hết chúng để cho an toàn và sạch sẽ. Quan trọng nhất, giữ chúng tránh xa khỏi các dòng suối. “

“Đặt ra luật để nơi ủ đọng đó phát triển trò lại!”

Cả ba người họ cùng cười khùng khục. Nhưng tiếng cười đó giống như đang nén một vết thương lòng.

Nâng cao sức khỏe của rừng. Cứ như thể rừng đang chờ đợi suốt bốn trăm triệu năm để những kẻ mới tới chúng ta đến để cứu rỗi vậy. Khoa học phục vụ sự mù quáng có chủ đích: Làm sao mà chùng đó con người khôn ngoan lại bỏ lỡ một điều hiển nhiên như thế? Một con người chỉ cần phải nhìn thôi cũng đủ thấy những khúc gỗ chết đó có sự sống hơn rất nhiều những thực thể đang sống. Nhưng những ý nghĩa này không có nhiều cơ hội, chống lại sức mạnh của học thuyết thống trị đó.

“À,” người đàn ông dưới đất nói, “giờ tôi đang trả đũa cái thằng khốn hồi đó đây!”

Patricia mỉm cười, hy vọng lướt qua nỗi đau như một làn gió nhẹ lướt qua cơn mưa. “Anh đang nghiên cứu gì vậy?”

“Nấm, động vật chân đốt, bò sát, lưỡng cư, động vật có vú nhỏ, phân ấu trùng, các loại mạng, hang, đất… Tất cả những thứ chúng tôi tìm thấy đang có ở một khúc gỗ chết.”

“Các anh đã làm việc này bao lâu rồi?”

Hai người đàn ông trao đổi ánh mắt. Người đàn ông trẻ hơn đưa xuống một lọ đựng mẫu nữa. “Chúng tôi làm được sáu năm rồi.”

Sáu năm, trong một lĩnh vực mà hầu hết nghiên cứu chỉ kéo dài trong vài tháng. “Các anh tìm quỹ tài trợ ở đâu mà làm lâu được như thế?”

“Chúng tôi dự định nghiên cứu chỉ riêng khúc gỗ này cho tới khi nó tan biến.”

Cô lại bật cười, lần này hoang dại hơn một chút. Một thân cây tuyết tùng trên nền rừng ẩm ướt: sinh viên sau đại học thời chút chít của họ sẽ phải kết thúc dự án này. Khoa học, trong sự vắng mặt của cô, đã trở nên điên khùng như cô đã luôn nghĩ nó sẽ như thế. “Các anh sẽ biến mất rất lâu trước khi nó biến mất.”

Người đàn ông dưới đất ngồi dậy. “Điều tuyệt nhất về nghiên cứu rừng. Ta chết vào lúc mà tương lai có thể đổ lỗi cho ta về sự biến mất của những thứ hiển nhiên!” Anh ta nhìn cô như thể cô cũng đáng để nghiên cứu. “Tiến sĩ Westerford ư?”

Cô chớp mắt, bối rối như một con cú. Rồi cô nhớ ra tấm biển tên trên bộ đồng phục, đeo trên ngực để mọi người có thể đọc. Nhưng còn từ Tiến sĩ đó. Anh ta có thể chỉ vừa nhận ra điều đó từ quá khứ bị chôn vùi của cô. “Tôi xin lỗi,” cô nói. “Tôi không nhớ đã từng gặp anh.”

“Tất nhiên là cô chưa từng! Tôi đã nghe một buổi nói chuyện của cô, từ nhiều năm trước. Hội thảo nghiên cứu rừng, ở Columbus. Tín hiệu trên không. Tôi đã rất ấn tượng, tôi đã đặt mua ấn bản có bài viết của cô.”

Đó không phải là tôi, cô muốn nói thế. Đó là một người khác. Một người đang nằm chết mục ở một nơi nào đó.

“Họ đã đánh cô rất mạnh.”

Cô nhún vai. Nhà khoa học trẻ hơn ngước nhìn giống như một đứa trẻ trong chuyến đi tới viện Smithsonian.

“Tôi đã biết cô sẽ được minh oan mà.” Sự lúng túng của cô đủ để cho ông biết tất cả. Lý do tại sao cô đang mặc đồng phục của một người bảo vệ vùng hoang dã. “Patricia. Tôi là Henry. Còn đây là Jason. Hãy tới thăm trạm của chúng tôi.” Giọng ông nhẹ nhàng nhưng khấn thiết, như thể lo sợ điều gì. “Cô chắc chắn sẽ muốn biết nhóm của chúng tôi đang làm gì. Cô sẽ muốn biết công trình của cô đã được triển khai tiếp đến đâu, trong khi cô biến mất.”

CUỐI THẬP KỶ ĐÓ, Tiến sĩ Westerford phát hiện ra điều đáng kinh ngạc nhất trong tất cả của cô: cô có lẽ chỉ phải lòng được những người cộng sự của mình. Không phải tất cả họ, nhưng mãnh liệt nhất và với lòng biết ơn mang màu xanh bền bỉ, ít nhất là với hơn ba mươi nhân viên thường trực, những người đã đưa cô vào và tạo cho cô một mái nhà ở Trạm Nghiên cứu Dreier, Rừng Thực nghiệm Franklin, dãy Cascades, nơi cô có mấy năm liền hạnh phúc hơn và hiệu quả hơn cô từng tưởng tượng. Henry Fallows, nhà khoa học cao cấp, dành cho cô một khoản trợ cấp. Hai đội nghiên cứu khác từ Corvallis điền tên cô vào bảng lương của họ. Tiền bạc khá eo hẹp, nhưng họ cho cô một chiếc xe moóc cũ gỉn trong một khu tập trung ở Meadow và quyền tiếp cận phòng thí nghiệm di động - tất cả chất phản ứng và những ống hút pipet mà cô cần. Nhà vệ sinh và nhà tắm chung đáng đam mê đến tội lỗi, nếu so với cái lán của Cục Quản lý Đất đai, với việc tắm nước lạnh ngoài hiên ban đêm của nó. Rồi còn có thức ăn đã nấu, trong căn sảnh chung, dù rằng có những ngày cô quá mê mải trong công việc tới nỗi có người phải tới nhắc cô đã đến giờ ăn tiếp theo.

Danh tiếng xuất bản của cô, giống như con gái của Demeter, bò trở lại từ địa ngục. Một loạt bài báo khoa học công bố khắp nơi minh oan cho công trình đầu tiên của cô về các tín hiệu trên không. Các nhà nghiên cứu trẻ tìm ra các bằng chứng ủng hộ, trong hết loài này tới loài khác. Cây keo cảnh báo cây keo về những con hươu đang lảng vảng. Liễu, bạch dương, tổng quán sủi: tất cả đều nhận được cảnh báo lẫn nhau về sự tấn công của côn trùng thông qua không khí mở. Nó không tạo ra điều gì khác biệt, sự tái xuất hiện của sô. Cô chẳng mấy quan tâm có điều gì xảy ra, bên ngoài khu rừng này. Tất cả thế giới mà cô cần là ở đây, dưới tán rừng này - sinh khối dày hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Những con suối dốc mãnh liệt đổ qua những rặng đá nơi cá hồi đẻ trứng - nước lạnh tới mức có thế không chế mọi cơn đau. Các thác nước bắn ào ào lên vách đá chuyển thành màu ngọc bích bởi rêu xanh và đố xuống cùng với những cành cây gãy. Trong các khoảng hở rải rác, xuất hiện ở chỗ này chỗ kia trên khắp tầng cây thấp, có những khóm ẩn mật của các loài cây mâm xôi hồi, cơm cháy đen, huckleberry, bạch việt quất, cây cuồng cuồng, ocean spray, kinnikinnick. Những khối tùng bách tán hình nón thẳng vút khổng lồ cao như mười lăm tầng lầu và có độ dày bằng chiều dài của một cái ô tô bao rợp cả phía trên. Không khí quanh cô dội lại âm thanh của sự sống khởi nguồn cùng nó. Tiếng cheebee của những con chim winter wren ẩn mình. Những nốt lõm đều đặn từ những con chim gõ kiến đang mổ vào thân cây. Chim chích rù rì. Chim hét động cành. Rải rác gà gô trắng lục cục khắp nền rừng. Ban đêm, tiếng hú lành lạnh của những con cú làm máu cô đông lại. Và, luôn như thế, bài hát bất tận của loài ếch cây.

Thông qua Vườn Địa đàng này, từng khám phá đáng kinh ngạc từ các đồng nghiệp xác nhận những nghi ngờ của cô. Sự quan sát chậm, lâu dài tạo nên một tiếng cười nhạo vào những gì con người vẫn nghĩ về cây. Nói tóm lại: cuộc chiến màu nâu phong phú của đất - bản thân nó phần lớn là các loài vi khuẩn và động vật không xương sống vô danh, có lẽ là hàng triệu loài - đào khoét sự mục rữa và xây dựng trên cái chết theo những cách mà cô chỉ mới bắt đầu khám phá. Cô sung sướng khi ngồi bên các bữa ăn và là một phần của tiếng cười đó và các dữ liệu được chia sẻ, mạng lưới cuồn cuộn trao đổi trong các khám phá. Cả nhóm bọn họ, đang nhìn. Những người ngắm chim, các nhà địa chất, các nhà vi trùng học, các nhà sinh thái học, các nhà động vật học tiến hóa luận, các chuyên gia về đất, các thầy tế cao cấp của nước. Mỗi người họ đều hiểu những chân lý bản địa vô cùng nhỏ bé. Một số người làm việc trong các dự án thiết kế để thực hiện trong suốt hai trăm năm hoặc hơn. Cùng nhau, họ tạo nên một hiệp hội mang tính biểu tượng vĩ đại, giống như những sinh vật mà họ đang nghiên cứu.

Hóa ra hàng triệu vòng đan cài vô hình của rừng mưa ôn đới cần đủ loại phương tiện hỗ trợ cái chết để giữ cho các vòng đó được thông suốt. Làm sạch một hệ thống như thế, và vô số giếng nước tự làm đầy trở nên khô cạn. Nhận thức về lâm học mới này được xác nhận bới những phát kiến tuyệt vời nhất: râu của địa y bay cao trong không khí, chỉ phát triển trên những cây già nhất và bơm ni tơ thiết yếu trở lại cho hệ thống sống. Chuột đồng ăn nấm cục và phát tán bào tử của nấm độc thiên thần qua khắp nền rừng. Nấm ngấm vào rễ của các cây trong các mối quan hệ đối tác chặt chẽ tới mức thật khó để nói ở đâu một sinh thể biến mất còn ở đâu thì bắt đầu. Những cây tùng khổng lồ mọc ra những rễ cây bất định ở cao trong tán lá rồi rủ ngược xuống đế ăn các mảng đất tích tụ trong các chẽ của cành của chính chúng.

Patricia dành đam mê cho cây linh sam Douglas. Thẳng tắp như mũi tên, không vuốt nhọn, vút lên hàng trăm feet mới trổ cành đầu tiên. Chúng là một hệ sinh thái bởi chính chúng, chủ nhà của hơn một nghìn loài động vật không xương sống. Kẻ kiến tạo các thành phố, vua của các cây công nghiệp, loài cây mà nếu thiếu nó thì nước Mỹ hẳn đã ở một vị thế rất khác. Các cá thể mà cô yêu thích đứng rải rác gần trạm nghiên cứu này. Cô có thể thấy chúng bằng đèn pha. Cây lớn nhất trong số đó hẳn đã sáu trăm năm tuổi. Nó cao chót vót và gần với các giới hạn trên được đặt bởi áp lực, đến mức phải mất một ngày rưỡi để nó đưa nước từ rễ lên những chiếc lá cao nhất trong sáu mươi lăm triệu cái lá kim của nó. Và mỗi cành cây đều mang mùi của sự cứu rỗi.

Những điều mà cô thấy cây linh sam Doug đang làm, qua suốt bao nhiêu năm qua, khiến cô tràn ngập niềm vui sướng. Khi các rễ nhánh của hai cây linh sam Douglas đâm phải nhau dưới lòng đất, chúng hợp nhất. Thông qua những nút thắt tự ghép đó, hai cây này kết nối các hệ thống mạch của chúng lại với nhau và trở thành một. Kết nối lại với nhau dưới lòng đất bởi vô số nghìn dặm nhánh sự sống, các cây của cô nuôi dưỡng và chữa trị cho nhau, giữ sống cả những phần trẻ trung lẫn suy thoái, rót các tài nguyên và các chất trao đổi của chúng vào những ngăn sở hữu chung… Sẽ mất nhiều năm để bức tranh toàn cảnh xuất hiện. Sẽ có các phát hiện, những sự thật khó tin được xác nhận thông qua một mạng lưới trải rộng toàn thế giới của các nhà nghiên cứu ở khắp Canada, châu Âu, châu Ả, tất cả đều hạnh phúc chia sẻ các dữ liệu thông qua các kênh nhanh hơn và tốt hơn. Các cây của cô có tính xã hội cao hơn nhiều so với Patricia từng dự đoán. Chúng không phải là các cá thể. Thậm chí còn không có loài độc lập. Mọi thứ trong rừng đều là rừng. Cạnh tranh không thể tách rời khỏi những khía cạnh bất tận của sự hợp tác. Cây cạnh tranh không nhiều hơn các lá cạnh tranh trên từng cây. Có vẻ như, suy cho cùng, phần lớn tự nhiên không cạnh tranh đổ máu. Một ví dụ, các loài ở tầng cây đáy của kim tự tháp sinh vật đó không có răng, cũng không có móng. Nhưng nếu các cây chia sẻ các kho dụ trữ chung, thì mỗi giọt máu đỏ hẳn phải nổi trên một vùng biển xanh.

MỌI NGƯỜI muốn cô quay lại Corvallis để giảng dạy.

“Tôi không đủ tốt. Tôi vẫn chưa thực sự hiểu hết mọi thứ.”

“Chuyện đó không ngăn cản chúng tôi!”

Nhưng Henry Fallows bảo cô nghĩ về điều đó. “Chúng ta sẽ nói lại khi cô đã sẵn sàng.”

GIÁM ĐỐC TRẠM NGHIÊN CỨU, Dennis Ward thường ghé qua với những món quà nho nhỏ, khi ông tới đây. Tổ ong. Túi mật côn trùng. Những viên đá đẹp mắt được mài nhẵn bởi những con lạch. Thế đứng của chúng gợi cho Patricia nhớ tới viên đá cô có nhò con chuột nhặt nhạnh (pack rat) mà cô đã cùng chia sẻ cái lán của Cục Quản lý Đất đai. Những chuyến viếng thăm thường xuyên, chớp nhoáng và e thẹn, trao đổi những món đồ vô giá trị. Rồi những ngày dài đi bộ. Và cũng giống như Patricia từng trở nên thích thú con chuột nhặt nhạnh cư trú ở chỗ của cô, cô trở nên yêu mến người đàn ông nhẹ nhàng, chầm chậm này.

Một đêm Dennis mang đến cho cô bữa tối. Đó là một hành động cho thức ăn thuần tuý. Casserole nấm và hạt phỉ, với bánh mì ông đã nướng trong một cái khay chụp bằng một đám lửa đốt cây bụi. Cuộc nói chuyện đêm nay không nhiều cảm hứng. Các cuộc nói chuyện hầu như đều như thế, và cô thấy khá biết ơn về điều đó. “Cây cối thế nào rồi?” ông hỏi, một câu hỏi thường trực. Cô kể cho ông nghe những điều cô có thể, loại trừ các vấn đề hóa sinh.

“Đi bộ chứ?” ông hỏi, khi họ rửa xong các đĩa trong một chậu nước xám. Một câu hỏi mà cô yêu thích, với nó cô luôn trả lời, “Đi bộ!”

Ông hẳn phải hơn cô mười tuổi. Cô không biết gì về ông mà cũng không hỏi. Họ chi nói về công việc - các nghiên cứu chậm rãi của cô về rễ của các cây linh sam Douglas, nhiệm vụ bất khả thi của ông là chiêu mộ các nhà khoa học và khiến họ tuân thủ các quy định tối thiểu ở đây. Bản thân cô đã sang tuổi xế chiều. Bốn mươi sáu - nhiều hơn tuổi của bố cô, khi ông chết. Tất cả sắc hoa của cô đã tàn phai từ lâu. Nhưng đây là một con ong.

Họ không đi xa; họ không thể. Khoảng đất trống nhỏ, và những con đường mòn quá tối để đi qua. Nhưng họ không cần phải đi xa cũng có thể đắm vào tất cả những gì cô yêu. Ở ngoài đây, trong sự mục nát, sự phân huỷ, sự đổ gãy, sự chết sum sê bạt ngàn khắp xung quanh họ, nơi một màu xanh khủng khiếp trỗi lên, lan tỏa ra khắp mọi hướng với những vòng cuộn chuyển hồi của nó.

“Cô là một phụ nữ hạnh phúc,” Dennis nói, đâu đó trong cái lòng chảo khổng lồ nằm giữa câu hỏi và sự khẳng định.

“Tôi đang hạnh phúc,”

“Cô thích tất cả mọi người làm việc ở đây. Thật đáng nể.”

“Rất dễ để thích những người thực sự xem trọng cây cối.”

Nhưng cô cũng thích Dennis. Trong những di chuyển khoan thai và sự im lặng miên man của ông, ông xóa mờ ranh giới giữa các hóa phân tử, diệp lục tố, và huyết sắc tố gần như giống nhau đó.

“Cô rất tự lực. Giống cây cối của cô.”

“Nhưng đâu phải thế, Dennis. Chúng đâu có tự lực. Mọi thứ ngoài kia đều có những thỏa ước với mọi thứ khác.”

“Đó cũng là điều tối đang nghĩ.”

Cô bật cười trước sự thuần khiết trong linh cảm của ông.

“Nhưng cô có các kế hoạch của cô. Cô có công việc. Nó giữ cho cô bước tiếp, toàn thời gian.”

Cô không nói gì, trở nên căng thẳng. Trước ngưỡng của độ tuổi trung niên hài lòng, cuộc phục kích như thế này. Ông cảm thấy sự gồng mình của cô; trong khoảng độ dài của mấy tiếng cú kêu, ông không nói thêm gì.

Và rồi: “Đây là vấn đề. Rất vui được nấu cho cô ăn.”

Cô thở dài và trượt vào chỗ mọi thứ nên như thế. “Rất vui được anh nấu cho.”

Nhưng mọi thứ ít đáng sợ hơn rất nhiều so với cô tưởng tượng. Nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Ông nói, “Sẽ thế nào nếu chúng ta giữ những nơi riêng tư cho chúng ta? Và chỉ… thỉnh thoảng lúc này lúc khác đến với nhau?”

“Thế… cũng được.”

“Làm công việc của chúng ta. Gặp nhau ăn tối. Như lúc này!” Giọng ông có vẻ ngạc nhiên khi tạo sự kết nối giữa lời đề nghị điên rồ của ông với điều mà hiện tại đã sẵn mang.

“Vâng.” Cô không thể tin được may mắn có thể đi xa đến thế.

“Nhưng tôi muốn ký một số giấy tờ.” Ông nhìn ra khoảng trống về phía những cây linh sam phía Tây, nơi mặt trời rõ ràng đang bắt đầu xuống núi. “Bởi vì như thế, khi tôi chết đi, cô có thể nhận tiền trợ cấp.”

Cô nắm bàn tay run rẩy của ông trong bóng tối. Cảm giác rất tốt, giống như một rễ cây hẳn sẽ cảm nhận, khi nó tìm thấy, sau hàng thế kỷ, một rễ cây khác để bện vào nhau dưới lòng đất. Có hàng trăm nghìn loại tình yêu, được tạo tác riêng rẽ, mỗi loại lại tài tình hơn loại liền trước nó, và mỗi loại trong chúng đều không ngừng tạo ra những điều kỳ diệu.

❀ ❀ ❀

[1] [Thần thoại Hy Lạp]: Là cậu bé hết sức yêu thích một chú nai, cho đến khi vô tình giết chết con thú cưng của mình, Cyparissus đau buồn đến mức biến thành một cây bách.

Hà Uy Linh dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.