Vòm Rừng

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nicholas Hoel

❊ ❊ ❊

LÚC NÀY ĐANG LÀ mùa hạt dẻ.

Mọi người đang ném đá vào những thân cây khổng lồ. Hạt dẻ rụng rào rào xung quanh họ. Vào Chủ nhật này cảnh tượng ấy diễn ra khắp nơi, từ Georgia tới Maine. Nhưng ở trên Concord, Thoreau không làm vậy. Ông cảm thấy làm vậy là ném đá vào những sinh vật có tri giác, dù tri giác đó mơ hồ hơn tri giác của ông, nhưng vẫn có quan hệ ruột rà. Cây cổ thụ giống như cha mẹ ta, hay có lẽ là cha mẹ của cha mẹ ta. Nếu muốn hiểu những bí mật của Thiên nhiên, thì ta phải tập có nhân tính hơn…

Ở Brooklyn, trên Prospect Hill, chàng thanh niên mới nhập cư, Jørgen Hoel, đang cười với những cơn mưa ào ào mà những cú ném của anh mang đến. Mỗi lần anh ném, hạt rụng xuống đầy ắp cả gàu. Đám thanh niên chạy ào tới như những tên trộm, nhồi đầy mũ, bao bố, gấu quần những hạt dẻ tách ra từ lớp vỏ lông. Chính đây, bữa tiệc miễn phí tương truyền của nước Mỹ - thêm một vật phẩm trời ban nữa ở đất nước vốn lấy cả đồ ăn thừa ngay trên bàn tiệc của Thiên Chúa này. Người đàn ông Na Uy cùng bạn bè của anh từ xưởng đóng tàu chiến Brooklyn thưởng thức tặng phẩm của họ được nướng trên ngọn lửa mừng cháy rực trên một khu đất trống trong rừng. Hạt dẻ nướng cháy thỏa mãn những từ ngữ như: ngọt lựng thơm nồng, béo ngậy như khoai tây tẩm mật ong, vừa phàm lại vừa thiêng. Lớp vỏ lông cháy lách tách, nhưng Lõi của nó thì thật biết đùa hơn mọi loại rào cản thực. Hạt dẻ muốn trượt tự do ra khỏi lớp bảo vệ phủ lông gai. Hạt nào cũng sẵn sàng để được ăn, để những hạt khác có thể được mang đi thật xa.

Đêm hôm đó, say ngà bên hạt dẻ nướng, Hoel cầu hôn Vi Powys, cô gái người Ai Len sống ở căn nhà liên kế khung gỗ thông cách căn hộ tập thể của anh hai dãy, ở ven Finn Town. Chẳng ai trong vòng ba nghìn dặm có quyền từ chối. Họ kết hôn trước Giáng sinh. Đến tháng Hai, họ trở thành người Mỹ. Mùa xuân đó, hoa dẻ lại nở, những dải hoa dài bờm xờm đung đưa trong gió giống như những con sóng bạc đầu trên dòng Hudson xanh xám.

Tư cách công dân đến mang theo khao khát về cả thế giới không rào cản. Họ thu gom động sản và thực hiện chuyến đi xuyên lục địa từ những dải đất bạt ngàn thông trắng miền Đông, tới những rừng sồi Ohio thăm thẳm, băng qua những thân sồi gãy ở vùng Trung Tây, ra tới khu định cư gần Fort Des Moines ở bang mới Iowa, nơi vừa mới đây chính quyền giao thẳng đất cho bất cứ ai sẽ trồng trọt trên đó. Hàng xóm gần nhất của họ cũng cách đến hai dặm. Năm đầu tiên họ cày bừa và gieo trồng trên mười hai mẫu. Ngô, khoai tây, và đậu. Công việc vô cùng nặng nhọc, nhưng tất cả là của họ. Còn tốt hơn là đóng tàu cho hải quân của một nước nào đó.

Rồi mùa đông thảo nguyên đến. Cái lạnh thử thách ý chí sinh tồn. Những đêm trong căn nhà gỗ đầy khe hở cô đặc máu của họ. Hàng sáng họ phải đập vỡ đá để lấy nước khoát mặt. Nhưng họ trẻ, tự do và đầy động lực - những bệ đỡ duy nhất cho sự tồn tại của họ. Mùa đông không giết được họ. Vẫn chưa. Nỗi tuyệt vọng đen tối nhất trong trái tim họ tích tụ lại thành kim cương. Khi mùa gieo trồng trở lại, Vi mang thai. Hoel áp tai vào bụng cô. Cô phì cười nhìn gương mặt thoáng kinh sợ của anh. “Nó nói gì vậy?”

Anh trả lời với chất giọng tiếng Anh trầm, vọng. “Cho con ăn với!”

Tháng Năm năm đó, Hoel tìm thấy sáu hạt dẻ lẫn trong túi chiếc áo khoác anh mặc ngày cầu hôn vợ. Anh vùi chúng xuống dưới mặt đất miền Tây Iowa, trên đồng cỏ không có cây cối quanh căn nhà gỗ. Trang trại của họ cách vùng cây hạt dẻ bản địa hàng trăm dặm, và cách những bữa tiệc hạt dẻ của Prospect Hill hàng nghìn dặm. Mỗi tháng, những cánh rừng xanh thẫm đó lại càng gợi lên da diết hơn trong lòng Hoel.

Nhưng đây là nước Mỹ, nơi con người và cây cối tham gia những cuộc chơi đáng kinh ngạc nhất. Hoel trồng cây, tưới cây, và nghĩ: Một ngày kia, con cái mình sẽ chỉ việc rung cây và ăn thoải mái.

ĐỨA CON ĐẦU TIÊN CỦA HỌ chết khi còn sơ sinh, chết bởi một thứ gì khi đó còn chưa được đặt tên. Nhưng lúc đó chưa có vi khuẩn. Chúa là an bài duy nhất với trẻ em, nắm giữ cả linh hồn lưu trú từ thế giới này sang thế giới khác, dựa theo những kế hoạch mù mờ.

Một trong sáu hạt dẻ không nảy mầm. Nhưng Jørgen Hoel giữ được cho những hạt giống còn lại mọc lên. Cuộc sống là trận chiến giữa Tạo hóa và Vạn vật. Hoel đã quá quen với cuộc chiến đó. Giữ cho cây phát triển là việc nhỏ, so với những trận chiến khác mà anh phải vật lộn mỗi ngày. Vào cuối mùa vụ mùa đầu tiên, những cánh đồng của anh đã xanh ngát, và những cây mầm tốt nhất đã cao quá hai feet.

Trong bốn năm tiếp theo, nhà Hoel có ba đứa con và thấp thoáng một vườn cây dẻ. Những cành non mảnh khảnh vươn lên, cuống nhú ra từ lỗ vỏ. Đủ loại lá có gai, lá răng cưa, lá hình tim, lá nhiệt đới đang thu nhỏ lại những mầm chồi mà từ đó chúng nảy lên. Ngoài những khởi đầu này và mấy hạt sồi rải rác trong lòng đất, mảnh vườn là hòn đảo giữa một biển cỏ. Nhưng mà những khởi đầu nhỏ xíu cũng đã phát huy tác dụng:

Lá chè từ những cây con hỗ trợ vấn đề về tim,

lá của cây mầm để giảm đau,

vỏ cây ủ lạnh để cầm máu sau sinh,

ụ cây làm ấm để thu nhỏ rốn cho trẻ sơ sinh,

lá cây đun sôi với đường nâu chữa ho,

làm thuốc đắp vết bỏng, lá đế nhồi vào nệm,

một cách làm giảm tuyệt vọng, khi nỗi đau là quá sức…

Năm tháng mở ra vừa phong phú vừa lặng lẽ. Mặc dù thu nhập bình quân của họ thường ít ỏi, Jørgen vẫn tạo ra được một xu hướng đi lên. Mỗi năm anh lại cày và vỡ hoang thêm đất. Và biển trời công việc của Hoel ngày sẽ một tăng. Vi nhận thấy điều đó.

Cây cối dày lên như những bùa mê. Cây dẻ lớn rất nhanh: Bằng thời gian cây tần bì lên cỡ một gậy bóng chày, thì cây dẻ đã làm được một cái tủ kéo. Cúi mình xuống nhìn một cây non, nó sẽ khiến người ta phải tròn mắt. Những vết nứt trên vỏ của nó xoay như đèn xoay ngoài của tiệm cắt tóc khi thân cây vặn mình lớn lên. Trong gió các cành cây loang loáng giữa màu sẫm và xanh xám. Cả tán lá trườn ra để tìm kiếm thêm ánh nắng. Lá cây rung rinh trong cái ẩm ướt của tháng Tám, như cách vợ Hoel đôi khi vẫn lùa mái tóc từng có màu hổ phách của cô. Khi chiến tranh một lần nữa trở lại đất nước non trẻ này, năm thân cây đã cao quá đầu người trồng lên chúng.

Mùa đông hà khắc năm 1862 đã cô mang đi một đứa trẻ nữa. Cuối cùng nó mang đi một cây dẻ. Đứa con đầu là John, phá hỏng một cây nữa vào mùa hè sau đó. Thằng bé không hề ngờ rằng tuốt hết một nửa số lá sẽ làm cái cây bị chết. Hoel vò giật tóc thằng bé. “Con thấy thế này thì thế nào hả? Hả?” Anh dang tay vả thằng bé. Vi phải lao vào giữa hai cha con để ngăn trận đòn.

Chế độ quân dịch đến năm 1863. Những thanh niên trẻ độc thân phải đi trước. Jørgen Hoel ở tuổi ba mươi ba, có vợ và con nhỏ, với hàng trăm mẫu vườn, được miễn quân dịch. Anh chưa bao giờ giúp bảo vệ nước Mỹ. Anh có một đất nước nhỏ hơn để cứu giúp.

Ở Brooklyn, một y tá là nhà thơ phục vụ cho Hợp chủng quốc viết khi hấp hối rằng: Một ngọn cỏ cũng vẻ vang chẳng kém gì phụng sự của các vì sao. Jørgen chưa bao giờ đọc dòng này. Câu chữ đối với anh chỉ là trò bịp bợm. Ngô, đậu, bí ngòi của anh - chỉ những thứ đang sinh trưởng như thế mới hé lộ trí vô ngôn của Thiên Chúa.

Thêm một mùa xuân nữa, thế rồi ba cây dẻ còn lại bung nở những chùm hoa màu kem. Hoa dẻ tỏa mùi hắc, ôi, chua, như mùi của giày cũ hay đồ lót bốc mùi. Rồi xuất hiện một chùm quả ngọt ngào. Dù chỉ bé nhỏ như thế nhưng vụ mùa đó cũng gợi nhắc người đàn ông ấy và người vợ kiệt sức của anh về bữa lộc trời rơi thỏa thuê đã đưa họ đến với nhau, một đêm trong cánh rừng phía Đông Brooklyn.

“Rồi sẽ có những bụi cây lớn thôi,” Jørgen nói. Trong đầu anh đã nghĩ tới việc làm bánh mì, cà phê, súp, bánh ngọt, nước sốt - tất cả những món hảo vị mà người bản địa biết loài cây này có thể mang đến. “Chúng ta có thể bán phần dư, trong thị trấn.”

“Làm quà Giáng sinh cho hàng xóm đã,” Vi quyết định. Nhưng chính hàng xóm lại là người cứu mạng nhà Hoel, trong đợt hạn hán khắc nghiệt năm đó. Một cây dẻ nữa chết vì thiếu nước trong một mùa mà chẳng để lại cho tương lai lấy một giọt nước nào.

Năm tháng trôi qua. Những thân cây nâu sẫm bắt đầu ngả sang màu xám. Sét trong một mùa thu khô hạn, có quá ít mục tiêu đủ cao trên thảo nguyên bao la để nhắm tới, đã đánh xuống một trong hai cây dẻ còn lại. Gỗ cây có thể làm mọi thứ từ cái nôi tới cái quan tài thì nay đã cháy rụi. Phần sót lại còn không đủ để làm một cái ghế ba chân.

Cây dẻ duy nhất sống sót bắt đầu ra hoa. Nhưng hoa của nó không còn hoa nào hồi đáp. Không có phối ngẫu nào trong suốt hàng trăm dặm quanh đây, mà một cây dẻ, dù là đực hay cái, thì cũng không thế tự đáp ứng cho mình. Thế nhưng cái cây này vẫn có một bí mật ẩn trong tấm thân hình trụ mảnh dẻ kiên cường nằm trong lớp vỏ cây. Tế bào của nó tuân theo quy tắc cổ xưa: Tiếp tục kiên trì. Chờ đợi. Có điều gì đó trong cây duy nhất còn sống sót này mách bảo rằng bộ luật cứng nhắc của Hiện tại còn có thể kéo dài hơn nữa. Vẫn có việc để làm. Việc của các vì sao, nhưng đồng thời cũng là việc của lòng đất. Hay đúng như người y tá của Hợp chủng quốc đã viết lúc chết: Hãy đứng điềm tĩnh và kiên định trước hàng triệu thế gian. Điềm tĩnh và kiên định như thân gỗ.

TRANG TRẠI NHÀ HOEL vẫn sống sót giữa bao biến động dưới bàn tay của Thiên Chúa. Hai năm sau trận Appomattox, giữa cuốc xới, cày bừa, trồng trọt, bứng tỉa, làm cỏ, và thu hoạch, Jørgen làm xong ngôi nhà mới. Mùa màng cứ chín rồi gặt hái. Các con trai nhà Hoel bước theo dấu chân người cha làm việc như bò mộng của họ. Những cô con gái lấy chồng sang các trang trại bên cạnh. Làng mạc mọc lên. Lối đất chạy qua trang trại đã trở thành con đường thực sự. Cậu con trai út giờ làm việc cho Văn phòng Thẩm định quận Polk. Cậu con thú làm ngân hàng ở Ames. Còn con trai trưởng, John, vẫn sống cùng gia đình ở trang trại và coi sóc nó khi bố mẹ ngày càng già yếu. John Hoel mang về tốc độ, sự tiên tiến, và máy móc. Anh mua một cái máy kéo hơi nước vừa có thể cày vừa có thể đập, vừa có thể gặt vừa có thể bó. Khi hoạt động nó nhả khói, như thể có thứ gì thoát ra từ địa ngục.

Với cây dẻ cuối cùng, tất cả xuất hiện chỉ trong vài vết nứt vừa có, vài phân vòng gỗ mới. Thân cây vút lên. Vỏ của nó xoắn ốc như Cột Trajan. Những chiếc lá hình vỏ sò của cây chuyển ánh mặt trời thành mô lá; cây vươn mình lên, một thế giới xanh ngắt cường tráng và mạnh mẽ.

Trong tháng Sáu thứ hai của thế kỷ mới, lúc này Jørgen Hoel, nằm trên giường trong căn phòng ốp gỗ sồi trên gác của căn nhà mà ông xây, căn phòng ngủ mà ông không bao giờ có thể rời khỏi nữa, nhìn qua cửa sổ gác mái ra một miền lá, rung rinh lấp lánh giữa bầu trời. Cái máy kéo hơi nước của con trai ông nện xuống cánh đồng xa xa, thế mà ông cứ ngỡ là tiếng gió tiếng mưa. Cành cây chiếu ánh sáng lấm tấm lên ông. Vòm lá đan cài xanh rợp ấy, một giấc mơ ông đã từng mơ, một cảnh mộng của phồn vinh hưng thịnh, lại tưng bừng ùa đến quanh đầu ông một lần nữa.

Ông tự hỏi: Cái gì khiến vỏ cây cuộn xoáy như thế, trên cái cây thẳng tắp và to lớn đến thế? Phải chăng đó là do Trái Đất quay? Hay là nó đang cố thu hút sự chú ý của con người? Bảy trăm năm trước, một cây dẻ ở Sicily cao hơn hai trăm feet đã che chở cho một nữ hoàng Tây Ban Nha và đoàn tùy từng hàng trăm kỵ sĩ khỏi cơn bão hung dữ. Cái cây đó sẽ còn sống, hàng trăm năm và hơn nữa, tuy ông chua từng nghe về điều này.

“Em còn nhớ không?” Jørgen Hoel hỏi người phụ nữ đang nắm tay ông. “Prospect Hill ấy? Đêm đó chúng ta đã ăn nhiều thế nào!” Ông hất đầu về những cành cây rợp lá, về vùng đất phía xa thẳm. “Anh đã cho em điều đó. Và em đã cho anh - tất cả thứ này! Đất nước này. Cuộc đời anh. Tự do của anh.”

Nhưng người phụ nữ đang nắm tay ông không phải vợ ông. Vi đã mất năm năm trước, vì viêm phổi.

“Giờ ông ngủ đi ạ,” cháu gái của ông nói, rồi đặt bàn tay ông lên lồng ngực đã lụi tàn của ông. “Cả nhà mình ở ngay dưới gác thôi.”

JOHN HOEL CHÔN CHA MÌNH ngay dưới cây dẻ mà ông đã trồng lên. Giờ đây một dãy hàng rào sắt cao hơn ba feet bao quanh chỗ các ngôi mộ nằm rải rác. Cây dẻ bên trên tỏa bóng mát hào phóng cân bằng cho người sống và người chết. Thân cây đã lớn tới mức John không ôm được nữa. Tán cây thấp nhất cũng đã cao quá tầm với.

Cây dẻ nhà Hoel đã trở nên nổi tiếng trong vùng, nông dân gọi nó là cây canh gác. Các gia đình ùn ùn kéo tới chỗ nó trong những buổi dã ngoại vào Chủ nhật. Người địa phương dùng nó để chỉ hướng cho khách qua đường, cây hải đăng duy nhất giữa biển ngũ cốc. Trang trại này trở nên phát đạt. Bây giờ là lúc đã có vốn liếng để gây giống canh tác. Cha đã mất và các anh em trai đã ra riêng nên John Hoel được tự do săn tìm những chiếc máy mới nhất. Kho dụng cụ của ông chất đầy máy gặt, máy xát, và máy bó. Ông tới tận Charles City để xem những chiếc máy hai xi-lanh chạy bằng xăng đầu tiên. Khi đường điện thoại được bắt qua, ông đăng ký, dù cước phí có giá cắt cổ và mọi người trong nhà đều không nghĩ ra nó có lợi ích gì.

Người con trai của người di cư ấy đã phải chịu thua căn bệnh cải tiến công nghệ trong những năm tháng đó trước khi có một trị liệu hiệu quả. Ông mua cho mình một chiếc Kodak No. 2 Brownie. Chỉ cần ấn một cái nút, máy sẽ làm tất cả phần việc còn lại. Ông phải gửi phim đến Des Moines để tráng và in, một quá trình sớm tiêu tốn gấp nhiều lần so với chiếc camera hai đô. Ông chụp vợ mặc chiếc váy vải thô nở nụ cười nhăn nhó, đứng nhìn chăm chú cái máy cơ vắt quần áo. Ông chụp ảnh các con ông đang điều khiển máy gặt đập liên hợp hoặc đang cưỡi ngựa kéo máy cắt phi lắc lư trên đồng. Ông chụp gia đình trong những bộ đồ Phục sinh chưng diện nhất, đội mũ bê rê và thắt nơ bướm. Khi không còn chỗ nào có xuất hiện trên tem bưu chính của Iowa mà chưa chụp, John đưa máy ảnh tới Cây dẻ nhà Hoel, cái cây bằng đúng tuổi ông.

Mấy năm trước, ông tặng cô con gái út chiếc máy chiếu zoopraxiscope làm quà sinh nhật, nhưng rồi cũng chỉ mình ông nghịch nó, khi cô bé trở nên chán nó. Giờ đây từng đàn ngỗng trời vỗ cánh và những cuộc biểu diễn thuần ngựa đó trở nên thật sống động khi những cái trống lắc thủy tinh náo hoạt não ông. Một kế hoạch lớn xuất hiện trong đầu ông, như thể ông là người đầu tiên phát minh ra nó. Ông quyết định, dù còn sống được bao lâu chăng nữa, ông sẽ chụp ảnh cây dẻ để xem nó sẽ ra sao khi lớn hết cỡ mà con người mong đợi.

Ông làm một cái giá đỡ để máy ảnh trong phòng dụng cụ. Rồi ông đặt một tảng đá vỡ trên đoạn dốc gần nhà. Rồi ngày đầu tiên của mùa xuân năm 1903, John Hoel sắp đặt chiếc No. 2 Brownie và chụp bức chân dung toàn thân cây dẻ canh tuần đang trổ lá. Một tháng sau ngày đó, đúng vị trí đó và đúng giờ đó, ông chụp một bức khác. Cứ ngày hai mươi mốt hàng tháng, ông lại lên con dốc đó. Nó trở thành một nghi lễ, dù trong mưa hay tuyết hay cái nóng chết người, một nghi thức của riêng ông trong Tòa Thánh của Thần Cây cỏ Lan tỏa. Vợ ông trêu chọc ông không thương tiếc, các con ông cũng vậy. “Ông ấy đang chờ nó làm cho cái gì đó thật hay ho đấy.”

Khi ông tập hợp mười hai tấm ảnh đen trắng chụp trong năm đầu tiên lại rồi đưa ngón tay cái lướt nhanh, chúng chẳng cho thấy gì nhiều để khích lệ kế hoạch của ông. Vừa tấm trước, cây dẻ bất ngờ nhú lá. Ngay tấm sau, nó đã phô bày tất cả dưới ánh sáng trời âm u. Tuy nhiên, cành cây vẫn phát triển chật vật. Nhưng nông dân là những người kiên nhẫn được rèn luyện qua từng vụ mùa khắc nghiệt, và nếu họ không ám ảnh với những giấc mơ của thế hệ họ, thì sẽ chẳng mấy ai có thể cứ tiếp tục cày bừa, hết mùa xuân này tới mùa xuân khác. John Hoel lại ra con dốc đó vào ngày hai mươi mốt tháng Ba năm 1904, như thể ông vẫn còn một trăm năm hay hai trăm năm nữa để ghi lại những gì thời gian ẩn giấu vĩnh viễn dưới khung cảnh bề ngoài lộ rõ.

MỘT NGHÌN HAI TRĂM DẶM VỀ PHÍA ĐÔNG, trong thành phố nơi mẹ John Hoel từng khâu váy và bố ông từng đóng tàu, thảm họa bất thình lình ập xuống. Kẻ sát nhân đó lẻn đến đất nước này từ châu Á, từ trong thân gỗ của những cây dẻ Trùng Khánh trồng trong các công viên. Vào tháng Bảy, một cây trong sở thú Bronx chuyển sang màu lá tháng Mười. Lá quăn lại và ngả sang màu nâu. Những ụ đốm màu vàng lan khắp thân cây sưng phù. Chỉ ấn nhẹ một cái là thân cây lõm xuống.

Chỉ trong một năm đốm cam đã lốm đốm khắp các cây dẻ vùng Bronx - những thân cây nuôi dưỡng một loài ký sinh mà đã giết thân chủ của nó. Mỗi điểm nhiễm khuẩn đều lan ra một loạt mầm bệnh trong mưa gió. Những người làm vườn trong thành phố huy động một cuộc phản công. Họ cắt những cành cây bị nhiễm bệnh rồi đốt đi. Họ đi xe ngựa kéo để phun vôi và đồng sulfate lên cây. Nhưng cuối cùng những gì họ làm lại chỉ gây phát tán mầm bệnh từ những cây rìu họ đã dùng để cắt các thủ phạm. Một nhà nghiên cứu ở vườn bách thảo New York Botanical Garden xác định sát thủ là một loại nấm mà con người chưa biết đến. Ông công bố kết quả rồi rời thành phố để đi nghỉ mát. Vài tuần sau, khi ông trở lại, chẳng có cây dẻ nào đáng để cứu nữa. Chết chóc băng nhanh qua Connecticut và Massachusetts, nhảy hàng chục dặm mỗi năm. Cây cối ngã rạp hàng trăm nghìn. Đất nước chết lặng khi những cây dẻ vô giá ở New England gục ngã. Loài cây của ngành công nghiệp thuộc da, của thanh ray đường sắt, của toa tàu hỏa, của cột điện, của nhiên liệu, hàng rào, nhà của, nông trang, bàn làm việc cao cấp, bàn ghế, piano, thùng gỗ, bột giấy, còn là nguồn thức ăn và bóng mát miễn phí vô tận - loài cây bội thu nhất cả nước - đang biến mất.

Pennsylvania cố tạo ra một vùng đệm mấy trăm dặm cắt ngang đất nước. Ở Virginia, trên bìa Bắc của những cánh rừng hạt dẻ giàu có nhất cả nước, người ta kêu gọi phục hưng tôn giáo để thanh tẩy tội lỗi ẩn đằng sau bệnh dịch này. Loài cây hoàn hảo của nước Mỹ, xương sống của toàn bộ nền kinh tế nông thôn, loài gỗ đỏ dẻo dai bền bỉ của miền Đông được dùng trong ba tá ngành công nghiệp - cứ bốn cây trong rừng lại phủ tán hai trăm mẫu đất từ Maine xuống đến duyên hải vịnh Mexico - đang bị diệt vong.

TIN TỨC VỀ BỆNH ĐỐM LÁ không chạm tới miền Tây Iowa. John Hoel vẫn trở lại con dốc vào ngày hai mốt hằng tháng, dù trời có ra sao. Cây dẻ nhà Hoel không ngừng nâng độ cao nước lớn của tán lá. Nó đang theo đuổi một điều gì đó, người nông dân ấy nghĩ, hành trình mạo hiểm đơn độc của ông vào triết lý. Nó có một kế hoạch. Vào đêm trước ngày John sang tuổi năm mươi sáu, ông thức dậy vào lúc hai giờ sáng và quờ quạng quanh giường như thể đang tìm kiếm thứ gì. Vợ ông hỏi có chuyện gì. Qua hàm răng nghiến chặt ông đáp, “Sắp hết rồi.” Tám phút sau, ông chết.

Nông trại để lại cho hai con trai của ông. Người con cả, Carl muốn tính toán chi phí chìm của nghi lễ chụp ảnh đó. Frank, người em, thấy cần bồi thường cho một thập kỷ nghiên cứu mơ hồ của cha mình bằng cách tiếp tục nó một cách kiên gan như chính cây dẻ này vẫn không ngừng vươn cành lá của nó. Với hơn một trăm khung cảnh nối tiếp, bộ phim câm tham vọng nhất, chậm nhất, ngắn nhất, sớm nhất được ghi hình ở Iowa bắt đầu hé lộ mục đích của cái cây. Một thoáng lướt qua các bức ảnh cho thấy vật thể ấy đang vươn ra vỗ về điều gì đó trên bầu trời. Một phối ngẫu, có lẽ. Thêm ánh sáng. Cây dẻ chứng nhân.

Khi nước Mỹ cuối cùng cũng tham gia vào đại chiến thế giới, Frank Hoel được gửi tới Pháp cùng với Trung đoàn Kỵ binh số Hai. Anh bắt cậu con trai chín tuổi là Frank Jr. hứa phải tiếp tục chụp ảnh cho tới khi anh trở về. Đó là một năm cho những lời hứa dài. Thứ mà cậu bé thiếu trong trí tưởng tượng, cậu thực hiện trong sự vâng lời.

Số phận đơn thuần và ngớ ngẩn dẫn Frank Sr. ra khỏi vạc dầu Saint-Mihiel chỉ để thổi tung anh bằng một quả đạn cối ở Argonne, gần Montfaucon. Phần còn lại không đủ nhiều để đặt vào trong hộp gỗ thông rồi chôn cất. Gia đình làm một cái nang thời gian để cất mũ, tẩu thuốc, và đồng hồ của anh rồi chôn trong đất đai của gia đình, dưới cái cây mà anh đã chụp ảnh mỗi tháng trong một quãng đời ngắn ngủi.

NẾU CHÚA CÓ MỘT CÁI BROWNIE thì Ngài hẳn sẽ chụp đối tượng ngắn sống động khác: bệnh đốm cam lơ lửng trong một thoáng rồi lao xuống dãy Appalachian vào đúng trung tâm của miền cây dẻ. Cây dẻ trên miền Bắc thật hùng vĩ. Nhưng cây dẻ miền Nam mới là những vị thần. Chúng gần như là độc tôn suốt hàng vạn dặm. Ở hai miền Carolina, những thân cây có trước cả nước Mỹ có bán kính tới mười feet và cao một trăm hai mươi feet. Cả khu rừng nở hoa thì thành những cuộn mây trắng. Những nhà cộng đồng trên núi đều được dựng bằng gỗ thớ thẳng tắp tuyệt đẹp. Mỗi một cây có thể mang lại mười bốn nghìn tấm ván. Kho thức ăn này rơi ngập tới bắp chân trên khắp các vùng, năm nào cũng là năm bội thu hạt sồi.

Giờ đây các vị thần đang chết, tất cả. Toàn bộ tài năng xoay chuyển của con người không thể ngăn thảm họa phá vỡ lục địa này. Bệnh đốm cam chạy dọc các mỏm núi, hạ gục hết đỉnh này tới đỉnh khác. Một người nếu đứng trên cao nhìn bao quát các dãy núi miền Nam sẽ thấy các thân cây chuyển thành bộ khung xương trắng trập trùng. Những người cắt cành cây hối hả qua hàng chục bang để cắt xuống bất cứ những gì vi khuẩn chưa chạm tới. Cục kiểm lâm mới thành lập khuyến khích họ. Ít nhất cũng phải dùng lấy gỗ trước khi bị hỏng. Và trong một nhiệm vụ tận dụng, người ta giết bất cứ cây nào có thể chứa bí mật của sự kháng cự.

Một đứa trẻ năm tuổi ở Tennessee đã nhìn thấy những đốm cam đầu tiên xuất hiện trên những thân cây kỳ diệu quanh cô bé và rồi đây sẽ chẳng còn lại gì để cho con cái của cô xem ngoài những bức ảnh. Chúng sẽ không bao giờ được thấy mùa quả chín, kỳ sinh trưởng viên mãn của cây, không bao giờ biết đến những hình ảnh, âm thanh và hương vị tuổi thơ của mẹ chúng. Hàng triệu gốc cây chết mọc ra rễ mút trong cơn vật lộn sinh tồn, năm này qua năm khác, chỉ để rồi chết vì loài vi khuẩn, vốn ủ trong những cành non, sẽ không bao giờ biến mất. Năm 1940, nấm bệnh lấy đi tất cả, tới tận những cánh rừng xa nhất ở phía Nam Illinois. Bốn tỉ cây của vùng cây bản địa biến mất vào huyền thoại. Ngoài một vài nhóm cây bí mật chống chọi được, những cây dẻ duy nhất còn lại là những cây mà những người khẩn hoang mang đi xa, tới những miền đất ngoài tầm với của mầm bệnh trôi dạt.

FRANK HOEL JR. giữ lời hứa với cha, rất lâu sau khi hình bóng cha phai mờ thành những ký ức trắng-đen lộ sáng nhạt nhòa. Hằng tháng, cậu con trai lại đặt một bức ảnh nữa vào hộp gỗ thơm. Chẳng mấy chốc cậu đã vào tuổi mới lớn. Rồi thành một thanh niên. Cậu trải qua những bước đi trên lối mòn mà đại gia đình họ Hoel tiếp tục kỷ niệm ngày lễ Thánh Olaf mà chẳng nhớ được ý nghĩa của nó.

Frank Jr. không bị giày vò bởi trí tưởng tượng. Cậu thậm chí không thể thấy mình nghĩ rằng: Rất có thể mình ghét cái cây này. Mà cũng rất có thể mình yêu nó hơn từng yêu bố mình. Những ý nghĩ này có thể chẳng là gì với một thanh niên không có hoài bão được thực sự độc lập, sinh ra dưới một vật phẩm mà cậu bị ràng buộc với, và cũng mang định mệnh chết dưới nó. Cậu nghĩ: Thứ này chẳng có ích lợi gì ở đây cả. Nó chẳng có ích lợi cho ai, trừ khi ta đốn nó đi. Thế rồi có những tháng, qua ống kính, vành lá trải rộng đó trong mắt Frank chỉ đơn thuần là một vật mẫu. Vào mùa hè, nước dâng lên qua thịt gỗ và phân tán vào hàng triệu cái miệng bé xíu ở mặt dưới của lá, mỗi ngày khoảng một trăm gallon hơi nước tỏa ra từ vành lá trên không của cái cây lan vào không khí Iowa. Mùa thu, những chiếc lá vàng rực rỡ bao phủ Frank Jr. trong nỗi hoài niệm. Mùa đông, những cành cây trơ trụi lách cách rù rì bên trên những chùm nụ đu đưa, những chùm nụ cỗi cằn không sinh trưởng dường như giận dữ trong chờ đợi. Nhưng trong khoảnh khắc mỗi mùa xuân, những dải hoa xanh xám và những bông hoa màu kem mang đến trong đầu Frank những suy nghĩ, những suy nghĩ anh không biết từ đâu mà có.

Người chụp ảnh thế hệ thứ ba nhà Hoel tiếp tục cầm máy, giống như anh vẫn tiếp tục đi nhà thờ rất lâu sau khi anh quyết định rằng toàn bộ thế giới tín ngưỡng là do những câu chuyện thần tiên lừa bịp mà có. Cái nghi lễ chụp ảnh vô nghĩa đó mang lại cho đời sống của Frank Jr. một mục đích mù mờ mà ngay cả công việc nông trại cũng không thể mang lại. Đó là một bài tập hàng tháng để quan sát một thứ hoàn toàn chẳng có giá trị gì, một tạo vật kiên gan và trầm lặng như cuộc đời.

Chồng ảnh chạm ngưỡng năm trăm tấm vào Chiến tranh thế giới thứ Hai. Cho đến một chiều, Frank Jr. dừng lại để lướt xem các tấm ảnh. Ông thấy mình vẫn chính là đứa trẻ đưa ra lời hứa khờ khạo với cha mình năm lên chín tuổi. Nhưng cái cây qua loạt ảnh tua thời gian này thay đổi vượt qua mọi nhận thức. Khi mà tất cả các cây trưởng thành trong vùng cây dẻ bản địa đã biến mất, cây dẻ nhà Hoel trở nên hiếm có. Một nhà nghiên cứu cây cối ở Iowa City lên tiếng khẳng định lời đồn rằng: một cây dẻ đã thoát nạn diệt chủng. Một nhà báo từ Register đã viết một bài trang nhất về một trong những cái cây hoàn hảo nhất nước Mỹ. Hơn một nghìn hai trăm địa danh ở phía Đông Mississippi có từ “Chestnut” trong nó. Nhưng ta phải đến một quận miền Tây Iowa mới có thể tận mắt thấy một cây như thế. Những người bình thường, khi lái xe qua lại giữa New York và San Francisco trên con đường liên bang mới cắt ngang qua con kênh chạy dọc trang trại nhà Hoel, sẽ chỉ thấy một vòm đài bóng râm giữa mênh mông ngô, đậu bằng phẳng và đơn điệu.

Trong cái lạnh thấu xương tháng Hai năm 1965, chiếc No. 2 Brownie hỏng. Frank Jr. thay nó bằng một chiếc Instamatic. Chồng ảnh trở nên dày hơn bất cứ cuốn sách nào ông từng cố đọc. Nhưng mỗi bức trong cái tệp đó lại cho thấy một cây riêng biệt, chống chọi lại sự trống trải đến rùng mình mà người đàn ông này hiểu quá rõ. Trang trại luôn ở phía sau lưng Frank Jr, mỗi lần ông mở ống kính. Các bức ảnh này ẩn giấu mọi thứ: những năm hai mươi không rực rỡ với nhà Hoel. Đại suy thoái lấy đi của họ hai trăm mẫu đất và đưa một nửa gia đình họ tới Chicago. Điện khí hóa. Những chương trình radio lôi kéo hai đứa con trai của Frank Jr. khỏi công việc đồng áng. Cái chết của một người nhà Hoel ở South Pacific và hai người khác nhà họ sống sót trong mặc cảm có lỗi. Những chiếc Deere và những chiếc Caterpilla nối đuôi nhau chạy qua lán chứa máy kéo. Khu chuồng trại cháy trụi một đêm trong tiếng la rống của lũ động vật. Hàng chục lễ cưới, lễ rửa tội, và lễ tốt nghiệp vui tươi. Nửa tá câu chuyện ngoại tình. Hai cuộc ly hôn buồn đến câm lăng cả bầy chim sơn ca. Một chiến dịch ứng cử bất thành vào cơ quan lập pháp bang của một cậu con trai. Vụ kiện giữa hai người họ hàng. Ba chuyện mang thai ngoài ý muốn. Cuộc chiến du kích trường kỳ của nhà Hoel chống lại viên mục su trong vùng và một nửa giáo xứ theo đạo Luther. Việc làm thủ công heroin và Chất độc Da cam theo chân mấy đứa cháu họ về từ Việt Nam. Những vụ loạn luân bị bịt miệng, sự nghiện rượu kéo dài, một đứa con gái bỏ nhà theo thầy giáo dạy tiếng Anh ở trường phổ thông. Các ca ung thư (vú, đại tràng, phổi), bệnh tim, vụ cuốn đứt nắm tay trong máy hút ngũ cốc, vụ tai nạn xe hơi làm chết con của người anh họ trong một đêm vũ hội ở trường cấp ba. Hàng vô số tấn thuốc với những cái tên như Rage, Roundup, Firestorm, những hạt giống được cấp bằng sáng chế đã được sinh sản để tạo ra những cây kháng bệnh. Lễ kỷ niệm năm mươi năm ngày cưới ở Hawaii và hậu quả tai hại của nó. Những người nghỉ hưu phân tán đến Arizona và Texas. Những thế hệ nối tiếp với oán thù, dũng cảm, kiên trì, và sự bao dung đáng kinh ngạc: tất cả những gì mà con người có thể gọi là câu chuyện xảy ra bên ngoài khung những bức ảnh của ông. Bên trong khung, qua hàng trăm mùa luân chuyển, chỉ có một cái cây duy nhất đó, vỏ cây xù xì cuộn xoáy lên đến đầu độ tuổi trung tuần, phát triển cùng với tốc độ của gỗ.

Sự suy tàn lẻn vào trang trại nhà Hoel - vào tất cả các trang trại của gia đình này trên khắp miền Tây Iowa. Các máy cày trở nên quá gớm ghiếc, những khoang tàu lửa chứa đầy phân đạm thì quá đắt, sự cạnh tranh quá rộng lớn và gây ảnh hưởng nặng nề, các vùng ven lề quá khó trồng trọt, và đất quá cằn vì liên tục trồng theo luống để thu lợi. Mỗi năm, lại thêm một nhà hàng xóm bị thâu tóm vào tay của những nhà máy khổng lồ, quy củ, gieo trồng độc canh bội thu đến tàn nhẫn. Cũng giống như mọi người ở khắp nơi đối diện với tai họa này, Frank Hoel Jr. mắt nhắm mắt mở bước vào định mệnh của mình. Ông vay nợ. Ông bán diện tích và quyền lợi. Ông ký những thỏa thuận với các công ty giống đáng lẽ không nên ký. Năm sau, ông tin chắc - năm sau, một thứ gì đó sẽ đến cứu họ, như luôn luôn vẫn thế.

Nghĩ ngợi xong, Frank Jr. đặt bảy trăm năm mươi lăm bức ảnh chụp cây khổng lồ đơn độc đó vào một trăm sáu mươi bức ảnh mà bố và ông nội ông đã chụp. Vào ngày hai mươi mốt tháng Tư cuối cùng trong cuộc đời ông, khi ông đã nằm liệt giường, con trai ông là Eric đi ra trang trại cách ngôi nhà bốn mươi phút rồi sắp đặt trên con dốc đó để chụp thêm một bức ảnh đen trắng nữa, lúc này đây phủ rợp khung hình bằng những cành lá sum suê. Eric đưa bức ảnh cho người đàn ông già nua. Như thế này dễ hơn nói với cha anh rằng anh yêu ông.

Frank Jr. nhăn mặt như nếm phải hạt hạnh nhân đắng. “Nghe này. Bố đã có một lời hứa, và bố đã giữ lời. Con chẳng nợ nần ai cả. Vì thế hãy từ bỏ việc quái quỷ đó đi.”

BA PHẦN TƯ THẾ KỶ lướt qua trong một thoáng năm giây. Nicholas Hoel bật ngón tay qua chồng ảnh một ngàn tấm đó, xem xét ý nghĩa ẩn mật của những thập kỷ ấy. Ở tuổi hai lăm, anh trở lại một lát trên nông trang nơi anh đã trải qua mọi Giáng sinh trong đời. Anh đã may mắn khi có mặt ở đó, sau nhiều lần trì hoãn. Những cơn bão tuyết quét qua từ miền Tây, khiến máy bay trên cả nước không thể cất cánh. Anh và người thân phải vội về với bà anh. Ngày mai, gia đình sẽ về thêm từ khắp cả bang. Với một thoáng lướt qua chồng ảnh, những kỷ niệm của trang trại trở lại với anh: những kỳ nghỉ của tuổi thơ, cả đại gia đình tụ tập cho bữa tiệc gà tây hoặc lễ hát mừng Giáng sinh, cho lễ treo cờ mùa hè hoặc hội pháo hoa. Lướt lại những bức ảnh này, Nicholas cảm thấy những năm tháng đó bong ra giống như giấy dán tường bị hấp hơi. Lúc nào cũng có vật nuôi. Đầu tiên là những con chó - đặc biệt là một con chó ba chân, luôn lồng lên như chó hoang mỗi lần gia đình Nick kéo nó vào con đường sỏi dài. Rồi hơi thở nóng rẫy của lũ ngựa và lớp lông dựng đứng khi giật mình của lũ bò. Rắn trườn quanh thân cây đã thu hoạch. Rất dễ vô tình giẫm phải một hang thỏ nằm ngay dưới cột hộp thư. Một tháng Bảy nọ, đàn mèo bán hoang xuất hiện dưới hiên trước, hít ngửi mùi sữa bí ẩn đặc sánh. Món quà nhỏ là những con chuột chết trên bậc cửa phía sau trang trại. Bộ phim năm giây bấm những cảnh đầu tiên. Sục sạo kho để máy móc, với các động cơ và dụng cụ đo diện tích. Ngồi trong khu bếp đông đúc nhà Hoel, hít thở mùi vải sơn lót sàn rách sờn ẩm mốc trong khi lũ nhím nhảy thùm thụp bên trong những cái hang ẩn giữa các cột tường. Đào đất hàng giờ với hai người em họ, những cái xẻng cán gỗ lê cổ lỗ của họ xẻ một con mương xuống thứ mà Nick tin rằng sẽ sớm là dòng nham thạch.

Anh ngồi trên lầu bên chiếc bàn trong phòng làm việc của ông anh để phân loại một dự án mà kéo dài suốt bốn thế hệ của những người đã tạo ra nó. Giữa tất cả các hộp gỗ đóng gói trong trang trại nhà Hoel - các hũ đựng được hàng trăm cái bánh quy và quả cầu tuyết thủy tinh, hộp trên gác mái đựng các thẻ liên lạc nhà trường cũ của cha anh, tấm để đặt chân bên dưới cây đàn organ lấy từ nhà thờ nơi ông cố anh đã được rủa tội, đồ chơi cũ xưa của cha và các chú anh, những con ky bằng gỗ thông bóng láng, và một thành phố kỳ diệu dựng bằng những miếng nam châm đặt dưới các con đường - chồng ảnh này luôn là tài sản quý giá nhất của trang trại mà anh không bao giờ thấy chán. Mỗi bức ảnh trong đó, chẳng gì khác ngoài cái cây mà anh trèo thường xuyên tới độ có thể nhắm mắt leo lên. Nhưng khi lướt qua chồng ảnh, một thức cột Corinth của thân gỗ lớn phồng lên dưới ngón tay anh, vươn mình lên tự tại đung đưa. Ba phần tư thế kỷ trôi qua chỉ dài bằng một lời cầu nguyện trước bữa ăn. Một lần, khi mới lên chín, khi ăn bữa tối Phục sinh, Nick giở lướt chồng ảnh nhiều lần tới nỗi ông anh tát cho một cái rồi giấu xấp ảnh lên cái giá cao nhất trên tủ quần áo. Nick trèo lên ghế lấy tập ảnh xuống ngay khi người lớn đã yên ổn cả trên gác.

Đó là quyền nối dõi của anh, biểu tượng của nhà Hoel. Không có gia đình nào ở cả hạt này có cái cây giống cây nhà Hoel. Và cũng không gia đình nào ở Iowa có thể hồi đáp lại dự án chụp ảnh đa thế hệ cho sự ngông cuồng thuần túy này. Dù vậy người lớn trong nhà dường như thề không bao giờ nói chuyện dự án này rồi sẽ đi đâu về đâu. Cả các ông anh và bố anh đều không thể giải thích cho anh của tập flipbook này. Ông của anh nói, “Ông hứa với cha của ông, còn ông ấy thì hứa với cha của ông ấy.” Nhưng một thời gian khác, cũng chính người đàn ông đó nói: “Khiến cháu nghĩ khác đi về mọi thứ phải không, nó ấy?” Quả là như thế.

Trang trại này là nơi Nick chập chững tập đi. Những giấc mơ qua nét chì của các cậu bé - từng chiếc tên lửa, những ô tô với hình dung kỳ lạ, từng đội quân đông đảo, các thành phố tưởng tượng, mỗi năm lại thêm những chi tiết phức tạp. Rồi đến những đường nét hoang dã hơn, được tận mắt quan sát - một rừng lông trên lưng con sâu bướm, và bản đồ các cơn bão trong thớ gỗ của ván lát sàn. Cũng ở chính trang trại này, chìm đắm trong cuốn flip-book, anh lần đầu tập vẽ các cành cây. Anh nằm ngả lưng trong ngày mừng bốn tháng Bảy, nhìn lên cái cây trải rộng trong khi những người khác đang đóng móng ngựa. Có một vấn đề hình học trong sự phân chia không ngừng này, một sự cân bằng trong những độ dày và độ dài đa dạng này vượt quá những tính toán của mình trong vai trò họa sĩ. Vừa phác thảo, anh vừa tự hỏi não bộ của anh phải như thế nào để phân biệt được mỗi chiếc trong hàng trăm chiếc lá hình lưỡi mác trên riêng một cành cây và nhận ra chúng dễ dàng như nhận diện anh chị em họ hàng. Thêm một thoáng lướt nữa qua bộ phim kỳ diệu này, và nhanh hơn thời gian biến cây súp-lơ trắng-đen đó trở lại thành người khổng lồ chọc trời, cậu bé bị ông bạt tai ấy bước vào tuổi vị thành niên, mang lòng yêu Chúa, cầu nguyện Chúa hằng đêm, nhưng hiếm khi thành công trong việc ngăn mình thủ dâm trước các phiên bản của Shelly Harper, dần rời xa Chúa đến với guitar, bị sờ gáy vì nửa điếu cần sa, bị tống giam sáu tháng trong một trại giáo dưỡng thiếu niên ở gần Cedar Rapids, và ở đó - vạch vẽ nhiều giờ liên tục tất cả mọi thứ anh có thể nhìn thấy qua cửa sổ căn phòng tập thể mái tôn - nhận ra rằng anh cần dành cuộc đời mình để tạo ra những điều khác biệt.

Anh biết ý tưởng này sẽ là một lời mời chào ép uổng. Người nhà Hoel là nông dân, là chủ cửa hàng thức ăn gia súc, là những người bán nông cụ như cha anh, những người bám chặt gắt gao vào logic của đất đai và phải làm việc nhiều ngày dài không nghỉ, qua tháng qua năm, không bao giờ hỏi tại sao. Nick đã chuẩn bị bản thân cho một trận đấu tay bo, một điều gì đó lấy ra từ trong những tiểu thuyết của D. H. Lawrence mà đã giúp anh sống sót qua thời trung học. Anh luyện tập hàng tuần, nghẹn thở trước sự quá độ của yêu cầu đó:

Cha, con rất muốn quẳng mình xuống khỏi mép lề của sự tồn tại thường tình, bằng mọi giá cha đặt ra, để trồ thành một kẻ vô dụng điên rồ.

Anh chọn một đêm đầu xuân. Bố anh nằm trên cái đi-văng bên hiên nhà, như bao đêm, đọc tiểu sử của Douglas MacArthur. Nicholas ngồi trong cái ghế ngả bên cạnh ông. Gió nhẹ thổi qua hiên làm tung mái tóc ông. “Bố? Con muốn đi học trường nghệ thuật.” Bố anh rời mắt khỏi cuốn sách, ngước nhìn lên, giống như thể đang nhìn ra những phế tích của giống nòi. “Bố đã đoán trước rồi sẽ như thế mà.” Thế rồi Nick đi, lảo đảo trên một sợi thừng đủ dài để vắt tới Chicago Loop, với sự tự do để kiểm chứng tất cả những lầm lạc cố hữu trong khao khát của riêng anh. Tại trường học ở Chicago, anh học được nhiều điều như:

1. Lịch sử của con người là câu chuyện của khao khát bất định không ngừng gia tăng.

2. Nghệ thuật hoàn toàn chẳng giống những gì anh nghĩ.

3. Người ta tạo ra bất cứ thứ gì mà ta có thể tưởng tượng ra. Những bức chân dung khắc họa hết sức tỉ mỉ trên đầu bút chì. Phân chó bọc trong vải nhựa. Những công sự giống như những quốc gia nhỏ.

4. Khiến ta nghĩ khác đi về mọi thứ, phải không?

Đám bạn vẫn cười cợt những phác thảo nhỏ bằng bút chì và những bức tranh ảo giác, siêu thực của anh. Nhưng anh vẫn vẽ chúng, mùa này qua mùa khác, như thể không còn lựa chọn nào khác. Thế rồi tới năm thứ ba, anh nổi như cồn. Thậm chí được ngưỡng mộ khủng khiếp. Đêm đông của năm cuối, trong căn phòng trọ ở khu lộn xộn tại Rogers Park, anh mơ một giấc mơ. Một sinh viên nữ mà anh yêu hỏi anh, Cái mà cậu thực sự muốn làm là gì? Anh ngả lòng bàn tay lên trời, nhún vai. Những bụm máu nhỏ xíu tụ lại chính giữa lòng bàn tay. Từ những vũng máu ấy mọc lên hai cái gai. Anh dộng đạp trong hoảng sợ, cố tỉnh trở lại. Nửa giờ sau tim anh mới dịu lại để anh nhận ra rằng những nhánh gai đó đến từ: những bức ảnh tua thời gian chụp cây dẻ mà ông cụ kỵ người Na Uy di cư của anh đã trồng, một trăm hai mươi năm trước, trong khi tự đào tạo trong ngôi trường hàm thụ nghệ thuật nguyên thủy ấy, những bình nguyên của miền Tây Iowa.

Nick ngồi bên chiếc bàn, lật giở tập ảnh thêm lần nữa. Năm ngoái anh thắng giải Stern cho điêu khắc của Trường Art Institute. Năm nay, anh làm công việc xếp hàng cho một trung tâm mua sắm nổi tiếng ở Chicago, một nơi mà cũng giống như trang trại nhà Hoel, đã chầm chậm chết dần qua một phần tư thế kỷ. Quả thật, anh đã nhận được một tấm bằng cấp phép cho anh làm ra những tác phẩm nghệ thuật kỳ quái có thể khiến bạn bè anh phải xấu hổ và khiến người lạ tức giận. Có một nhà kho ở Oak Park chất đầy giấy bồi để làm trang phục cho lễ hội đường phố và những bộ đồ kỳ quái cho một show thực hiện trong nhà hát nhỏ ở gần Andersonville và đã đóng cửa ba đêm sau đó. Nhưng ở tuổi hai mươi lăm, hậu duệ của gia đình nông dân lâu đời muốn tin rằng tác phẩm tuyệt vời nhất vẫn ở phía trước anh.

Đó là vào ngày trước Giáng sinh. Nhà Hoel sẽ tụ tập cả họ vào ngày mai, nhưng bà anh đã háo hức lắm rồi. Bà sống để mong ngóng những ngày này khi mà ngôi nhà cũ kỹ lạnh lẽo lại đầy ắp con cháu quây quần. Không còn trang trại nữa, chỉ còn ngôi nhà trên con dốc giữa mênh mông. Tất cả đất đai nhà Hoel đã cho các công ty thuê dài hạn và được điều khiển từ những văn phòng cách xa hàng trăm dặm. Đất đai ở Iowa đã được đưa tới cái kết lý tính hóa của nó. Nhưng trong một thoáng, ngay dịp lễ này, nơi này sẽ tràn ngập không khí giáng sinh kỳ diệu và những dâng cứu thế trong hang, như vẫn luôn thế trong mọi Giáng sinh của nhà Hoel trải suốt một trăm hai mươi năm.

Anh đi xuống lầu. Lúc đó là giữa buổi sáng, rồi bà, bố và mẹ Nick đang tụ tập xung quanh bàn bếp nơi những chiếc bánh hồ đào đang chảy và bánh đã tách ra thành những chiếc Chiclet nhỏ. Bên ngoài, cái lạnh càng lúc càng sâu xuống thấu xương. Để đối phó với những cơn gió từ phương Bắc đổ xuống những bức tường bằng ván gỗ tuyết tùng, Eric Hoel vừa bật lên cái máy sưởi khí propane cũ. Có ánh lửa chập chờn bên trong ô sưởi, thức ăn đủ cho năm nghìn người, và chiếc tivi mới to như thể cả Wyoming đang hòa giọng với một trận bóng đá chẳng ai buồn quan tâm. Nicholas nói, “Có ai đi Omaha không ạ?” Có một cuộc triển lãm Phong cảnh nước Mỹ ở Bảo tàng Joslyn, cách đó một giờ lái xe. Khi anh hé lộ ý tưởng đó vào đêm trước, những người già trong nhà tỏ ra hứng thú. Nhưng giờ thì họ ngó lơ. Mẹ anh mỉm cười, hơi ngượng với anh. “Mẹ thấy hơi cảm cúm, con yêu.”

Bố anh tiếp lời, “Mọi người đều đang thấy ấm áp, Nick ạ.” Bà anh gật gù đồng tình.

“Được,” Nicholas nói. “Tùy mọi người thôi! Con sẽ về vào bữa tối.”

Tuyết thổi dạt qua con đường liên bang, rơi mỗi lúc một dày. Nhưng anh là người miền Trung Tây, và bố anh sẽ chẳng phải là bố anh nếu không để lốp xe đi tuyết mới tinh trên xe. Triển lãm Phong cảnh nước Mỹ quá tuyệt diệu. Chỉ riêng những bức ảnh của Sheeler thôi cũng đủ đưa Nick vào những cơn cảm kích pha lẫn ghen tị. Anh nán lại mãi cho tới khi người của bảo tàng xua anh ra. Khi anh rời đi, trời tối và những luồng tuyết bay cuộn lên trên bốt của anh. Anh tìm lối trở lại con đường liên bang và dò dẫm đi về phía Đông. Con đường lúc này trắng xóa. Tất cả tài xế mù mờ cố gắng đi bám theo đèn hậu của người khác theo dòng xe chầm chậm xuyên qua màn tuyết trắng. Cái rãnh mà bánh xe Nick cày xuống chỉ có mối liên hệ hết sức mơ hồ với làn đường bên dưới. Dải gờ giảm tốc bị vùi sâu dưới tuyết đến nỗi anh chẳng cảm thấy âm thanh gì.

Dưới một cây cầu cạn, anh húc phải một tảng băng nhẵn thín. Chiếc xe loạng choạng. Anh đành để mặc cho xe trượt tự do, lựa ý xe như lựa ý một con diều cho tới khi nó thẳng lại. Anh bật tắt đèn pha liên hồi, cố quyết định xem như thế nào thì đỡ khó nhìn hơn giữa màn tuyết này. Sau một giờ, anh đi được gần hai mươi dặm.

Một cảnh tượng mở ra với đường hầm tuyết đen giống như một clip nhìn xuyên bóng đêm trong phim tài liệu của cảnh sát. Một chiếc xe mười tám bánh đang tới đâm sầm vào giải phân cách loạng choạng như con thú bị thương, đổ rầm phía trước cách Nick khoảng một trăm mét. Anh liệng xe vượt qua chiếc xe đổ và trượt sang lề phải đường. Đuôi phải xe quẹt vào thanh chắn đường. Bộ giảm xung trước bên trái xe húc vào bánh sau của chiếc xe tải. Anh loạng choạng dừng xe và bắt đầu run, lập cập tới nỗi không thể lái xe. Chiếc xe tấp vào một trạm nghỉ đông đúc người lái xe mắc kẹt.

Có một chiếc điện thoại công cộng phía trước toilet. Anh gọi về nhà, nhưng cuộc gọi không thông. Đêm trước Giáng sinh nên các đường dây điện thoại nghẽn khắp mọi nơi trên toàn bang. Anh biết rằng bố mẹ anh đang lo lắng đến phát ốm. Nhưng việc có lý duy nhất lúc này là cuộn mình trong xe và ngủ vài tiếng cho tới khi mọi thứ ngừng thổi và những rãnh lầy được phủ đầy bởi cơn giận của Chúa.

Anh quay trở lại đường ngay trước bình minh. Tuyết gần như đã ngừng rơi, xe cộ chầm chậm tới lui từ cả hai phía. Anh dò dẫm bò về nhà. Phần khó khăn nhất của lái xe lúc này là trườn lên con dốc nhỏ ở cuối lối ra của con đường liên bang. Anh loạng choạng bẻ lái lên con dốc rồi rẽ vào đường về trang trại. Con đường đã bị phủ khuất. Cây dẻ nhà Hoel xuất hiện từ phía xa, phủ đầy tuyết trắng, ngọn tháp duy nhất trên cả con đường tới tận chân trời. Hai ngọn đèn nhỏ chiếu sáng những ô cửa sổ trên lầu của ngôi nhà. Anh không thể tưởng tượng được có ai thức dậy sớm thế này để làm gì. Ai đó đã chờ suốt cả đêm để nghe ngóng tin tức từ anh. Đường về nhà chất đống tuyết. Cái xe cào tuyết cũ của ông anh vẫn ở trong kho. Cho tới lúc này, bố anh hẳn đã chạy đi chạy lại với chiếc xe đó mấy lần. Nick chống chọi với những cú trượt, nhưng chúng quá nhiều. Anh bỏ xe lại giữa lối chạy xe rồi cuốc bộ trên đoạn đường cuối về nhà. Đẩy cửa trước ra, anh thốt lên như reo. “Ôi trời, thời tiết bên ngoài kinh khủng quá!” Nhưng chẳng có ai ở dưới lầu để cười với anh cả. Sau này, anh sẽ tự hỏi phải chăng anh đã biết sẵn rồi, từ lúc còn ở ngoài cửa trước. Nhưng không: Anh phải đi tận tới chân cầu thang nơi cha anh đang nằm, đầu chúc xuống và hai cánh tay gập lại thành những góc không tưởng, ôm ấp lấy sàn nhà. Nick hét lên rồi cúi xuống giúp cha anh, nhưng chẳng còn lại gì để giúp. Anh đứng dậy chạy lên cầu thang, hai bậc một. Nhưng lúc này mọi thứ rõ ràng như Giáng sinh, mọi thứ mà người ta cần phải biết. Trên lầu, hai người phụ nữ cuộn tròn trên giường và không thể thức dậy được - một giấc ngủ vùi trong buổi sáng muộn của Giáng sinh. Hoảng loạn dâng lên từ chân và thân mình anh. Anh như chìm nghỉm. Anh chạy trở xuống lầu, nơi cái máy sưởi propane cũ vẫn kêu lách cách, tỏa ra khí ga dâng lên tạo thành vũng khí vô hình dưới cái trần nhà mà bố Nick vừa mới đây gia cố thêm một tấm cách nhiệt. Nick líu ríu đi qua cửa trước, sải bước xuống bậc thềm, rồi ngã nhào xuống tuyết. Anh lăn lộn trong tuyết trắng lạnh cóng, hổn hển cố hồi tỉnh. Khi anh nhìn lên thì thấy những cành cây canh gác đó, duy nhất, khổng lồ, phân dạng, và đơn độc giữa những luồng tuyết trôi dạt, nâng những nhánh dưới thấp lên và rung rinh cả trời tán lá. Tất cả những cành cây ngông cuồng của nó rì rào trong gió buốt như thể, khoảnh khắc này, cũng thế, không to tát, không mãi mãi, sẽ được viết vào những vòm lá và được cầu nguyện bởi những cành cây đang đánh tín hiệu vào khoảng trời mùa đông xanh thẳm nhất của miền Trung Tây.

Hà Uy Linh dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.