Vòm Rừng

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngọn

❊ ❊ ❊

Một ngươi đàn ông ở vùng phương Bắc nằm ngửa trên nền đất lạnh trong bình mình. Đầu anh chui ra khỏi cát lều dành cho một người, ngửa lên trời. Năm trụ cây vân sam vươn trong làn gió phía trên anh. Trọng lượng hoàn toàn không có. Màu xanh đưa những nét phác họa lên bầu trời buổi sáng. Anh chưa bao giờ thực nghĩ về rất nhiều dặm đường mà cây đã đi qua, trong sự lớn lên từng chút nhỏ xíu, trong từng giờ của từng ngày. Mãi mãi không ngừng chuyển động, những thứ đúng yên này.

Người đàn ông thò đầu ra khỏi lều tự hỏi: Những ngọn cây đó trông như thế nào? Chúng giống như hình vẽ hình răng cưa trên tấm bảng đồ chơi, xoay tròn những mô hình kỳ lạ từ những đường cuộn lồng đơn giản nhất. Chúng giông như đầu nhọn của một miếng Quija planchette, đọc chính tả từ trên cao. Chúng, thực ra, chẳng là gì khác hơn là chính chúng. Chúng là vành lá của năm cây vân sam trắng nặng trĩu quả, uốn mình trong gió như bao ngày trong sự tồn tại của chúng. So sánh là vấn đề chỉ có ở con ngươi.

Nhưng những cây vân sam này rót các thông điệp trong phương tiện được phát minh riêng bởi chúng. Chúng nói ý nghĩ của mình qua lá, thân, rễ. Chúng ghi vào trong thân thể chúng lịch sử của từng biến động mà chúng đã trải qua. Người đàn ông trong lều nằm tắm trong những tín hiệu già hơn hàng trăm triệu năm so vôi những giác quan tầm thường của anh. Thế nhưng anh vẫn có thể đọc chúng.

Năm cây vân sam trắng viết lên trời xanh. Chúng viết: Ánh sáng và nước và một viên sỏi nhỏ đòi hỏi những câu trả lời dài.

Những cây thông lodgepoles và thông jack bẽn lẽn: Những câu trả lời dài cần thời gian dài. Và thời gian dài chính xác là thứ đang biến mất.

Những cây vân sam đen ở dưới quả đồi băng tích: Sự ấm đang nuôi dưỡng sự ấm. Đất đóng băng vĩnh cữu đang lộ ra: Chu kỳ ngày càng nhanh lên.

Xa hơn về phía Nam, các loài cây lá rộng đồng ý. Những cây dương lá rụng ồn ào và những cây bạch dương còn sót lại, những rừng dương cottonwood và dương poplar, vang lên điệp khúc: Thế giới đang chuyển thành một thứ mới.

Người đàn ông ngã lăn ra, mặt nhìn thẳng lên trời. Các thông điệp bao phủ anh. Dù ở đây, vô gia cư, anh nghĩ: Chẳng có gì sẽ còn như cũ.

Các cây vân sam trả lời: Chẳng có gì từng như cũ cả.

Tất cả chúng ta đều chịu định mệnh bi đát, ngươi đàn ông nghĩ.

Tất cả chúng ta đã luôn chịu định mệnh bi đát.

Nhưng mọi thứ lần này thì khác.

Phải. Bạn ở đây.

Người đàn ông phải dậy bắt tay vào công việc, như thể các cây đó đang làm. Công việc của anh đã gần như hoàn thành. Anh sẽ nho trại ngày mai, hoặc ngày kia. Nhưng giây phút này, anh ngắm nhìn những cây vân sam đang viết và nghĩ, Ta sẽ không cần rất quá khác biệt để mặt trời dường như là về mặt trời, để màu xanh là về màu xanh, để niềm vui, sự chán nản, sự thống khổ, nỗi khiếp sợ và cái chết là về chính chúng, vượt lên trên nhu cầu đối với bất cứ sự giết sự rõ ràng nào, và rồi thứ này - thứ này, các vòng tròn lớn dần của ánh sáng và nước và đá - sẽ đón nhận tất cả bản thân ta, và sẽ là tất cả những lời mà ta cần.

CON NGƯỜI ĐỀU BIẾN THÀNH NHŨNG THỨ KHÁC. Hai mươi năm sau, khi mọi thứ đều dựa vào việc ghi nhớ những thứ đã xảy ra, những sự thật của đêm hôm đó sẽ từ lâu đã trở thành lõi thân cây. Họ đặt thân thể cô lên ngọn lửa, úp sấp. Ba người họ sẽ nhớ điều đó. Nick sẽ chẳng nhớ gì.

Hóa đá trong khoảnh khắc cô đã cần anh, anh trở nên vô dụng sau đó, ngồi trên đất bên ngon lửa, đủ gần để làm cháy sém lông mày, thứ cũng nhỏ nhoi như xác chết đang cháy đó.

Những người khác đặt cô lên giàn hỏa thiêu đã hoàn thành, một thứ cũ kỹ như đêm. Quần áo của cô bốc cháy, rồi đến da cô. Những con chữ uốn lượn trên xương vai cô - Một sự thay đồi đang đến - đen lại và bốc hơi. Lửa mang những đốm tâm hồn hóa tro bụi của cô lên không trung. Tủ thi này sẽ được tìm thấy, tất nhiên. Răng với những mối hàn, những cục xương chưa cháy hết còn sót lại. Mọi manh mối sẽ bị khám phá ra và đọc được. Không phải là họ bỏ rơi thi thể này. Họ đang gửi nó vào mãi mãi.

Khi rời khỏi hiện trường, không ai sẽ nhớ lại điều gì mà chỉ ép Nick vào trong xe tải. Những đốm lửa màu cam phía trên khu rừng thường xanh, ma mị như cục quang. Rồi bóng đêm phủ nhanh xuống hàng chục dặm. Họ không đi qua chiếc xe nào trong suốt một giờ, và những người ngồi trong chiếc xe đó, một cặp đôi đã nghi hưu từ Elmhurst, Illinois, với năm giờ lái xe liên tục không ngủ, thậm chí sẽ không nhớ chiếc xe tải màu trắng lao nhanh ngược chiều vào lúc họ nhìn thấy đám lửa.

Những kẻ cố ý gây hỏa hoạn vượt qua những khoảng dài im lặng thỉnh thoảng điểm những tiếng la hét. Adam và Nick gầm gừ lẫn nhau. Mimi lái xe như thể đang ngồi trong một quả bóng cách âm. Hai trăm dặm bên ngoài Portland, Douglas yêu cầu họ từ bỏ. Có gì đó nói với họ không được làm thế. Olivia. Điều duy nhất đó tất cả họ sẽ ghi nhớ.

“Chẳng ai thấy cái gì cả,” Adam nói với những người khác, quá nhiều lần.

“Mọi chuyện qua rồi,” Nick nói. “Cô ấy đã chết. Chúng ta đã kết thúc.”

“Im mồm đi,” Adam ra lệnh. “Chẳng gì có thể lần ra dấu vết của chúng ta cả. Chỉ cần yên lặng thôi.”

Họ đã hoàn toàn thất bại trong việc bảo vệ bất cứ điều gì. Họ đồng ý, ít nhất, là bảo vệ nhau.

“Không nói gì cả, dù là gì. Thời gian ở bên chúng ta.”

Nhưng mọi người không có khái niệm về thời gian là gì. Họ nghĩ nó là một đường thẳng, cuộn ra từ ba giây phía sau họ, rồi biến mất ngay lập tức trong ba giây của sương mù phía trước. Họ không thể thấy thời gian là một vòng đang loang ra được bao bọc bởi một vòng khác, hướng ra ngoài và ra ngoài mãi cho tới khi lớp ngoài mỏng nhất của Hiện tại dựa vào sự tồn tại của bản thân nó vào số đông khổng lồ của mọi thứ mà giờ đây đã chết.

Ở Portland, họ mỗi người một ngả.

NICHOLAS DỰNG TRẠI trên linh hồn của Mimas. Không lều, không thảm cuộn. Anh nằm nghiêng khi đêm đến, đầu anh gối trên chiếc áo khoác chần bông đặt gần vòng tròn hằng năm của cây được hình thành vào năm Charlemagne chết. Đâu đó dưới xương cụt của anh, năm Columbus chết. Qua mắt cá chân anh, năm mà người đầu tiên nhà Hoel rời Na Uy đến Brooklyn rồi mở rộng tới Iowa. Vượt qua độ dài cơ thể anh, chen chúc trải tới gò của đường cắt, là những vòng tròn năm sinh của chính anh, cái chết của gia đình anh, chuyến dừng xe ven đường ghé thăm của người phụ nữ đã nhận ra anh, người đã dạy cho anh cách treo trên cây và sông.

Gốc cây rỉ ra từ xung quanh vành của nó, thứ nhựa có màu mà người họa sĩ không thể gọi tên. Anh ngửa người ra và nhìn lên không khí, hai mươi tầng lầu thẳng vút lên, cố để định vị chính xác điểm mà anh và Olivia từng sống trong suốt một năm. Anh không muốn chết. Anh chỉ muốn chơi trong giọng nói đó, sự cởi mở háo hức của nó, trong vài từ nữa. Anh chỉ muốn người con gái đã luôn nghe thấy những điều mà cuộc đời đã muốn từ họ thoát ra khỏi ngọn lửa và nói cho anh biết anh nên làm gì, kể từ lúc này.

Không có giọng nói nào cả. Không có giọng nói của cô, không có của những hiện thân tưởng tượng. Không có sóc bay hay chim murrelet hay cú hay sinh vật nào hát với họ trong năm nay. Trái tim anh co lại về kích cỡ của nó khi cô lần đầu tìm thấy anh. Im lặng, anh quyết định, tốt hơn lừa dối.

Anh ngủ không nhiều, trên cái trại cứng ngắc của mình. Anh sẽ có rất nhiều đêm tốt đẹp trong hai mươi năm tiếp theo. Thế nhưng, hai mươi vòng đó cũng sẽ không rộng hơn vòng hoa tay của anh.

MIMI VÀ DOUG tháo gỡ đồ trên chiếc xe tải và phá hủy tất cả giẻ, vòi nước và dây cao su. Họ chà sàn xe với nhiều loại dung môi. Cô bán rẻ chiếc xe và dùng tiền mặt mua một chiếc Honda bé xíu. Cô chắc chắn vụ mua bán sẽ lộ ra như một câu chuyện của Poe. Người chủ mới của chiếc xe tải sẽ đào xới một giấy tờ cũ chết tiệt nào đó để đưa ra ánh sáng.

Cô rao bán căn nhà của mình ra thị trường. “Tại sao?” Douglas hỏi.

“Chúng ta phải chia tay. Như thế an toàn hơn.”

“Tại sao như thế an toàn hon?”

“Chúng ta sẽ khiến nhau bị lộ nếu chúng ta ở gần nhau. Douglas. Nhìn tôi. Nhìn tôi. Chúng ta sẽ không làm như thế.”

NÓ HẲN ĐÃ KHÔNG LÀ GÌ hơn là một trang có ba thứ. Sự cố ý gây hỏa hoạn đã phá hủy nền của công trường xây dựng khu nghỉ dưỡng. Sự đình đốn phiền toái. Chẳng bao lâu sau công việc được phục hồi. Nhưng xương lộ ra trong đống tro rải rắc, một nạn nhân là con người. Tất cả các hãng thông tín trong chín bang miền Tây chọn câu chuyện đó và đưa tin về nó suốt nhiều ngày. Các nhà điều tra không thể phát hiện được điều gì. Một phụ nữ, trẻ, cao một mét bảy. Vì bạo lực, hãm hiếp, hẳn là thế. Thứ duy nhất dẫn lối là những dòng chữ khó hiểu gần chỗ đám cháy:

KIỂM SOÁT GIẾT CHÓC

KẾT NỐI PHỤC HỒI

VỀ NHÀ HAY LÀ CHẾT

Vì bạn có năm cái cây trên Thiên đường…

Trí tuệ tập thế đưa ra một lời giải thích họp lý nhất. Đó là hành động của một kẻ giết người bị điên.

ADAM LÉN VỀ LẠI Santa Cruz. Không thể tưởng tượng được, sau tất cả mọi thứ. Nhưng bỏ chương trình học khi luận án sắp sửa hoàn thành sẽ chỉ khiến anh lọt vào tầm ngắm. Học bổng một năm của anh đã sắp hết. Anh ngồi hàng ngày dài trong căn phòng thuê lại của mình với rèm cửa sổ buông. Anh lơ lửng, cách hai feet trên đầu chính anh, nhìn xuống tấm thân của anh. Trong những giờ kỳ lạ, cảm giác phấn khích bao trùm lấy anh, rồi vụn vỡ thành nỗi lo lắng khủng khiếp. Chỉ một cuốc đi bộ mười phút đến cửa hàng tiện lợi cũng cảm giác như sự đe dọa tính mạng.

Cuối một đêm thứ Sáu, anh chui vào khoa để tìm thư của trường. Anh thậm chí không thể nhớ lần cuối cùng mình đã ở trong tòa nhà này. Phải mất ba lần anh mới nhớ ra ô của mình. Hộp thư chật cứng các tờ bướm khiển anh phải cố lôi ra. Đống giây kẹt cứng bung ra, và giấy tờ tạp nham bị sao lãng nhiều tháng trời đổ ra khắp sàn phòng để thư. Một giọng nói cất lên phía sau anh, “Này, người lạ.”

“Chào!” anh trả lời, phấn khích quá mức, trước khi quay lại để nhìn.

Mary Alice Merton, người cùng cảnh Tất cả Ngoại trừ Luận án. Khuôn mặt của cô gái miền quê ngọt ngào và nụ cười như trên quảng cáo kem đánh răng. “Bọn tớ tưởng cậu chết rồi.”

Sự suồng sã tồi tệ nhất đó lao qua anh. Chưa chết. Nhưng tôi đã giúp giết một người.

“Không nhé. Đồng đội.”

“Chuyện gì xảy ra thế? Cậu đã ở đâu?”

Anh nghe thấy người huống dẫn thời đại học đã chết của mình trích dẫn câu nói của Mark Twain. Nếu bạn nói sự thật, bạn chẳng phải nhớ điều gì cả. “Ở thực địa. Tớ có vẻ đã hơi lạc lối.”

Cô huých bắp tay anh bằng cánh tay. “Không phải người đầu tiên đâu, ngài ạ.”

“Tớ đã có tất cả sự kiện. Chỉ là không thể sắp xếp chúng một cách mạch lạc.”

“Căng thẳng khi về đích. Lờ nó đi sao mà khó thế nhỉ? Thật là một mớ hỗn độn. Xem nhẹ nó để làm cho xong đi.”

Anh cố hết sức để dập tắt sự kích động điên cuồng và để lấy lại giọng nói bình thường. Để đưa anh trở lại là chính anh, không phải một người cố ý gây hỏa hoạn và đồng phạm tội ngộ sát. Các nhà tâm lý học hẳn là những kẻ dối trá nhất hành tinh. Những năm tháng học tập về cách con người lừa dối bản thân và những người khác. Các bài học trở lại với anh. Làm ngược lại với thứ mà các động co giết người bảo bạn làm. Và khi bị triệu tập ra xuất hiện trước tòa án của dư luận thì sững sờ không hiểu vì sao.

“Đói không?” Anh nhướn một bên lông mày lên.

Anh nhìn thấy những cảnh giác truyền ra từ cô. Gã này là ai? Ba năm không làm gì ngoài kinh doanh, tự kỷ ranh giới, thế mà giờ hắn muốn làm ra vẻ một con người? Nhưng thiên kiến xác nhận sẽ luôn đánh bại nhận thức thường thức. Tất cả các dữ liệu đã chứng minh điều đó. “Đói mềm.”

Anh nhồi nhét thư của nhiều tháng vào ba lô rồi họ đi ra một quán falafel đêm muộn. Năm năm sau, anh có một thư mục những xuất bản được kính trọng về chủ nghĩa lý tưởng nội nhóm (in-group idealism) và chuẩn bị nhận công việc giảng viên có biên chế mới ở bang Ohio. Mười lăm năm sau đó nữa - quá nhanh - anh sẽ là nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vục của mình.

SONG TRÊN CAO suốt nhiều tháng trong tán cây gỗ đỏ đó còn dễ hơn là trải qua bảy ngày dưới đất. Mọi thứ đều có sở hữu; đứa trẻ một tuổi cũng biết điều đó. Nó cũng đúng là một luật giống như định luật Newton. Đi xuống phố mà không có tiền thì là tội phạm, và không có ai còn sống mà có thể tưởng tượng được dù chỉ trong thoáng chốc rằng mọi thứ trong cuộc đời thực có thể đi theo một cách khác đi. Nick không thể chịu được nếu bị bắt vì bất cứ điều gì - cho dù là vì đi lang thang, vì cắm trại không xin phép, hay vì ăn những bụi quả manzanita trong công viên bang. Anh tìm một túp nhà gỗ, thuê theo tuần, ở trong một thị trấn tiêu điều dưới chân một dãy núi đã khai thác gỗ. Sân nhà anh nằm sau lưng một rừng cây gỗ đỏ non, thẳng và gọn, thân chỉ mới dày khoảng năm phân, nhưng anh biết. Thứ gần gũi nhất để lại cho họ hàng.

Anh phải rời khỏi chỗ này, đi xa nhất có thể, nếu không phải là sự khôn ngoan thì cũng là vì sự an toàn tầm thường. Nhưng anh không chờ đợi, không thể từ bỏ cơ hội có thể chuộc lại dù chỉ một phần nhỏ của thảm họa. Anh đã sống ở nơi này, với cô. Tại đây, trong gần một năm, anh đã biết mục đích là gì. Trong tất cả mọi nơi trên Trái Đất đang bị lãng quên này, đây là nơi cô sẽ trở về.

Anh không nói chuyện với ai, cũng chẳng đi đâu. Lại đến một mùa mưa nữa, và mùa này cũng sắp đi qua. Anh đã chìm trong giấc ngủ lơ mơ rồi tỉnh dậy vì một cơn mưa như xối. Mái nhà như sống dậy trong cuộc tấn công của cơn mưa. Anh tỉnh dậy, lắng nghe, và không thể buông bỏ. Anh vừa chìm vào giấc ngủ thì đã bừng tỉnh trong ánh sáng ban ngày và sự tạm ngừng của cơn mưa.

Anh đi ra ngoài để kiểm tra cống nước. Nó đang tràn vào trong một cái rãnh tạm bợ qua hiên của căn nhà đi thuê. Nick đứng đó, mặc áo phông và quần thun, ngắm nhìn bình minh rót xuống qua rặng núi. Thời gian mang mùi ẩm ướt và đất mùn, và đất xì xào dưới đôi chân trần của anh. Hai ý nghĩ vật lộn qua anh. Ý nghĩ thứ nhất, cũ hơn rất nhiều so với tuổi thơ của bất kỳ ai, là: Niềm vui đến từ buổi sáng. Ý nghĩ thứ hai, hoàn toàn mới, là: Tôi là kẻ sát nhân.

Có tiếng gì rào rào trong không khí. Nicholas nhìn lên, nơi sườn núi bắt đầu nhão nhoét ra. Những trận mưa đêm qua đã làm đất lỏng ra, và lột bỏ lớp phủ đã bảo vệ đất yên ổn tại chỗ trong suốt một trăm nghìn năm, quả núi sụm xuống trong một tiếng gầm. Những cái cây cao hơn cả những ngọn hải đăng gãy răng rắc như những nhánh con và đổ nhào vào nhau rồi đập sầm xuống sườn dốc tạo ra từng cơn sóng lớn. Nick quay đầu chạy. Phía trên anh, một bức tường của đá và gỗ hai mươi feet đổ xuống. Anh chạy lật đật xuống một lối đi bộ, xoay người trở lại để nhìn một dòng sông cây cối đổ xuống đầu căn nhà nhỏ. Phòng khách của anh ngập gốc cây và đá. Cả căn nhà bật móng lên và bập bềnh theo dòng chảy.

Anh chạy về phía nhà hàng xóm, hét lên, “Ra đi! Nhanh lên!” Rồi hàng xóm của anh cũng chạy theo, với hai đứa con trai nhỏ, xuống lối vào xe tới chỗ chiếc xe tải của gia đình. Nhưng đống đổ nát ùa đến chiếc xe tải trước và bịt kín lối vào. Cây cối đổ xuống ngôi nhà trang trại, cuồn cuộn như một dòng nham thạch gỗ. “Lối này,” Nick hét, và những người hàng xóm chạy theo. Anh dẫn họ xuống một cái rãnh khác dọc theo một con dốc nông hơn. Ở đây, cơn thủy triều của đất sạt lở dừng bước sau một hàng cây gỗ đỏ mỏng. Bùn và đá vụn luồn qua rào chắn cuối cùng, nhưng bị cây cối chặn lại. Người mẹ sụp đổ. Cô khóc nức nở và ôm lấy con. Người bố và Nick nhìn trân trân lên sườn núi đã bị quét sạch, một dãy núi đã bị hạ thấp xuống dữ dội. Người đàn ông thì thầm, “Chúa ơi.” Nick rùng mình trước từ đó. Anh nhìn tới chỗ người hàng xóm chỉ. Trên mỗi thân cây của cái rào chắn đứng vừa cứu mạng họ có vệt màu xanh sáng sơn dấu hiệu X. Thu hoạch vào tuần sau.

DOUGLAS TRỞ LẠI chỗ Mimi, như một con chó, vào đúng thời điểm không phải là tốt nhất. Ban đầu chỉ là để đi vào, kiểm tra xem cô có ổn không. Rồi để kể với cô về giấc mơ đáng chú ý nhất của mình. Cô đã rút máy trả lời tin nhắn. Thế nên anh đến trực tiếp chỗ của cô, điều này khiến cô hơi bục mình. Trong giấc mơ, anh và Mimi ngồi đối diện nhau, trong công viên của một thành phố đẹp ở bên một bờ vịnh thậm chí còn đẹp hơn. Bạch Quả xuất hiện. Cô cười và nói, Chờ một chút! Họ sẽ giải thích. Các bạn sẽ thấy. Douggie không thể ngồi yên, phấn khích khi kể lại. “Giống như thể cô ấy đã thấy mọi thứ! Và cô ấy đã nói cho chúng ta biết. Khi anh tỉnh giấc, mọi thứ rất rõ ràng. Mọi thứ sẽ ổn thỏa.”

Mimi không hứng thú chút nào. Toàn bộ ý niệm về sự ổn thỏa khiến cô như muốn gào lên. Thế nên anh tránh đi một thời gian. Nhưng giấc mơ lại trở lại, với những chi tiết vi tế mới lạ mà anh nghĩ là cô sẽ muốn nghe. Sau một hồi lâu đập cửa ầm ầm, Mimi mở của và kéo Douggie vào trong. Cô đẩy anh ngồi xuống chiếc bàn ở phòng khách nơi họ đã gửi đi hàng nghìn lá thư phản đối. “Douglas. Chúng ta đã đốt cháy các tòa nhà tới tận đất. Chúng ta đã mất trí. Tội phạm tâm thần. Họ sẽ giết chúng ta. Anh có hiểu điều đó không? Chúng ta sẽ trải qua phần đời còn lại trong nhà tù liên bang.”

Anh chẳng nói gì. Từ nhà tù khiến anh như xem lại cuốn băng về bản thân mình trong quá khứ - khoảnh khắc đã bắt đầu đưa anh xuống con đường rối rắm này. “Được rồi, anh hiểu rồi. Nhưng trong giấc mơ, cô ấy đã vòng cánh tay quanh em, và cô ấy đã nói…”

“Douglas!” cô hét đủ để người ở ngoài tường có thể nghe thấy. Cô cất tiếng lại, giọng khe khẽ. “Đừng đến đây nữa. Tôi đang đóng cửa ngôi nhà này. Rời đi.”

Mắt anh trồi ra, giống như một con ếch đang cố nuốt. “Rời đi?”

“Nghe tôi đây. Anh phải. Đi. Xa. Bắt đầu một cuộc đời mới. Lấy một cái tên mới. Đây là cố ý phóng hỏa. Vô ý giết người.”

“Bất cứ ai cũng có thể gây ra những ngọn lửa đó. Chẳng có gì để lần được dấu vết chúng ta cả.”

“Chúng ta có hồ sơ bắt giam. Chúng ta nổi tiếng trong giới hoạt động cấp tiến vì môi trường. Họ sẽ rà soát các danh sách. Họ sẽ theo dấu từng hồ sơ… “

“Hồ sơ nào? Chúng ta đã trả mọi thứ bằng tiền mặt. Lái xe hàng trăm dặm. Rất nhiều người trên các danh sách đó. Danh sách không chứng minh điều gì cả.”

“Douglas. Biến đi. Chui xuống lòng đất. Đừng quay lại. Đừng tìm kiếm tôi.”

“Được thôi.” Mắt anh rực lên. Không một lần với về phía cô. Một tay đặt trên cửa, anh quay lại, “Em biết đấy, anh không thật sự lộ như thế.”

Rồi anh lại có giấc mơ đó. Họ đang ngồi trên một con dốc phía trên thành phố của tương lai. Bạch Quả đang nói với họ, Chờ đã! Các bạn sẽ thấy! Và rồi quả nhiên, rừng trỗi dậy xung quanh họ. Điều này thật quá sức phi thường, và Mimi cần phải biết. Nhưng khi anh tới chỗ cô, có một cái bảng màu đỏ phía trước cửa: ĐÃ BÁN.

Anh hoàn toàn chẳng có chỗ nào khác để đi. Miền Đông dường như là nơi tốt nhất trong ba lựa chọn có sẵn. Thế nên anh chất tất cả đồ đạc lên xe tải rồi lên đường đến Columbia Gorge. Thậm chí không thông báo với ông chủ của anh ở tiệm bán dụng cụ. Họ có thể giữ hai tuần lương cuối của anh.

Qua bên kia ranh giới Idaho, anh chợt nghĩ rằng anh cần xem lại hiện trường đó. Anh đang thực sự ở rất gần, theo tiêu chuẩn của miền Tây. Một cơ hội, nếu không phải vì điều gì khác, thì cũng để cho một lời tạm biệt tử tế hơn. Mimi hét vào tai anh, nói với anh rằng anh thật điên khùng. Bất cứ người có lý nào cũng sẽ nói điều tương tự. Nhưng có lý chính là thứ đã biến mọi khu rừng trên thế giới thành những hình chữ nhật. Anh đi lên đường cao tốc bang, tim đập thùm thụp vào mạn sườn. Anh đi lên lối vào duy nhất chạy qua trảng vân sam, cây san sát như một rừng rậm trong bóng tối đang buông xuống. Các cơ trên cơ thể anh vẫn nhớ. Cảm giác giống như bốn người còn sống bọn họ vẫn đang ở trên chiếc xe tải đó, trong cái hậu quả kinh khủng đó. Nhưng khi tới gần hiện trường, anh nhìn thấy một đống lửa khác, sắc, gọn, màu trắng - ánh hồ quang của công việc ban đêm. Những chiếc mũ cứng tràn ngập khắp nơi, đang sửa chữa lại các thiệt hại. Câu trả lời của chỉ huy cho một lịch trình bị phá hỏng chỉ đơn giản là tăng thêm ca. Một cái giàn lớn chất đầy vì kèo. Một người đánh tín hiệu tay cầm cái cờ đỏ. Douglas lái chậm lại để nhìn. Không dấu hiệu nào cho thấy có bất cứ thứ gì từng cháy ở đây. Mimi gào lên bảo anh ra ngay khỏi đây trước khi một camera an ninh nào đó gắn bên hông của một chiếc xe tải nào đó có thể ghi lại biển số xe của anh. Một thứ gì đó khác cũng nói với anh, Không phải ở đây. Bạch Quả.

Anh phóng nhanh qua công trường chạy xuống con đường cao tốc trống tron. Ở đường cao tốc liên bang tiếp theo, anh lại hướng về phía Đông. Quá nửa đêm, chiếc xe dò đường vào Montana. Anh đỗ xe vào một nhánh đường mòn trong rừng quốc gia rồi ngủ mấy giờ trong chiếc ghế tài xế ngửa ra sau.

Ánh sáng ban ngày loang ra trên bầu trời. Anh lái xe trên những con đường làng mà không có khái niệm về phương hướng, sống bằng thịt bò khô và kẹo Atomic Fireball anh mua mỗi khi dùng đổ xăng. Anh lái xe qua một lưu vực bằng phẳng rộng lớn bao quanh là các dãy núi, vùng đồng cỏ sỏi đá quá khô cằn để có thể sử dụng thực tế. Nhưng cuộc đời sẽ sử dụng nó trong hàng triệu cách. Một di chuyển băng qua cánh đồng lọt vào tầm mắt anh - linh dương, đang chiến đấu với hàng rào thép gai. Năm con, trong đó có một con bị thương. Thần số học về cảnh tượng này - dấu hiệu đó - lướt qua Douglas, và anh bắt đầu rùng mình. Anh so vai. Một cảm giác xa xôi trống rỗng bao la phủ chụp lên anh, bằng kích cỡ của bầu trời. Anh chìm vào giấc ngủ với một cửa sổ hé mở kính, những con chó sói hú lên như thể thế giới vẫn còn thuộc về chúng.

Anh tiếp tục lái xe đi vu vơ, buổi sáng của ngày thứ hai. Mặt trời đang lên khiến anh vô thức đi về hướng Đông. Nhiều dặm trôi qua, và nhiều giờ, không phải luôn trên những con đường thẳng. Một cái gì đó kỳ lạ trỗi lên ở phía bên trái đường. Cảnh tượng có gì đó không đứng trước cả khi anh nhìn thấy nó. Trong cả không gian bao la rộng mở mang màu vàng và xám này, một ốc đảo ẩn khuất của màu xanh đang sinh sôi. Một vùng bãi ven sông, chỉ có điều không có sông. Anh rẽ rất nhanh vào lối rẽ tiếp theo, một con đường đá dăm vụn bị cày nát bởi bao nhiêu mùa tuyết và bởi những rễ cỏ đã trở thành chủ nhân của nơi này. Xe tải của anh chạy chậm lại nhích từng chút, nhưng con đường vẫn muốn bẻ gãy trục xe và bóc đi khung gầm của nó. Rồi anh ở trong một rừng dương poplar, xù xì như một đám choai choai.

Anh ra khỏi xe và đi bộ. Một đàn sẻ giật mình bay lên qua bãi cỏ mấy mét phía trước. Trảng cây này thật vô lý. Cây cối vút lên như đài phun nước. Một số cây tẽ ra thành những bó cành cây ở trên cao bảy feet. Những cây dương cottonwood vặn xoắn. Không có dấu hiệu nào có người sống trong nhiều dặm quanh đây, nhưng tất cả cây cối ở đây phát triển trong một mạng lưới giống như trò giải đố logic của trẻ con. Dưới những mái vòm màu xanh này, anh chợt nhận ra: anh đang ở trên những con đường của một thị trấn ẩn mình. Vỉa hè, lô đổ xe, sân, đài phun nước, cửa hàng, nhà thờ, nhà cửa: mọi thứ đã biến mất, bị dọn sạch đi, ngoại trừ những lô cây vuông vắn chắn gió này. Anh ngồi xuống một thứ từng là khung cửa sổ toàn cảnh đầy tự hào của một gia đình nào đó. Giờ đây bóng râm khổng lồ phủ lên khung cảnh chẳng có ai. Có một âm thanh giống như tiếng đổ tràn của một dòng suối ẩn mình. Một âm thanh nghe như tiếng vỗ tay rất to, nhưng từ một trăm năm trước. Anh liếc xuống những hàng cây dương cottonwood, mấy ô vuông của bóng cây đang hát reo trong gió, vui mừng vì có ai đó ở trong thị trấn bị lãng quên này để ngạc nhiên trước chúng. Tiếng xào xạc của chúng nghe như một bài thánh ca vang ra từ một nhà thờ đã biến mất để đùa vui cùng với đại lộ rộng lớn đã biến mất, cho tất cả những con người đã biến mất. Giờ đây thánh ca ấy dùng để thuyết giảng cho ca đoàn đang vút lên này, và chẳng có gì sai trong điều đó cả. Ca đoàn này cũng đáng được ghi nhớ. Hãy để cánh rừng này vui vẻ và đó là tất cả những gì quan trọng. Khi đó tất cả cây cốt trong khu rừng cũng được hân hoan.

MIMI MẶC chiếc váy dài vải crepe màu đen ngồi bên bàn lễ tân trong Four Arts Gallery, ở Grant. Cô ngồi cân đối trên chiếc ghế da, chốc chốc lại kéo vạt váy xẻ phủ lên cái đầu gối đang lão hóa của mình. Bộ đầm có vẻ rất xứng đáng với vai trò người bán tác phẩm nghệ thuật sáng nay, đủ sức để thương thảo thêm mấy trăm đô la với một người đàn ông. Cô đã nghĩ nó có thể bù đắp lại vết sẹo chạy dài trên mặt cô. Giờ thì nó khiến cô cảm giác như một kẻ thiếu chuyên nghiệp.

Người trợ lý để tóc pixie xuất hiện trở lại, quay mắt đi khỏi vết rạch trên mặt Mimi, mời thêm cà phê, và hứa hẹn rằng ông Siang sẽ đến chỗ cô sớm. Ông Siang đã muộn mười bảy phút. Ông đã giữ cuộn tranh suốt nhiều tuần. Ông đã trì hoãn gặp mặt hai lần. Có gì đó đang diễn ra ở căn phòng phía sau. Mimi đang bị dắt mũi, nhưng cô không hiểu vì sao.

Các kho báu khác đầy ắp phòng triển lãm này. Những du thuyền sơn mài. Một dãy núi phủ mây bay vẽ bằng mực nước rất tỉ mỉ. Những quả cầu ngà (ivory sphere) với hàng nghìn hình chạm trổ, mỗi thế giới tinh xảo lại lồng trong một thế giới khác. Bức tranh ở bức tường phía xa đập vào mắt cô: một cái cây lớn màu đen với những cành cây bảy sắc in trên nền trời xanh. Cô đứng lên, giữ lấy vạt xẻ váy, đi về phía cuối phòng. Thứ trông như bạt ngàn những chiếc lá nhỏ xíu hóa ra lại là hàng trăm hình nhân đang thiền định. Cô đọc tấm biến đề: Phước điền, hay còn gọi là Cây quy y. Tây Tạng, khoảng giữa thế kỷ mười bảy. Trong vành tán trải rộng, những chiếc lá người dường như đang rung rinh trong gió.

Một giọng nói cất lên từ phía sau cô, “Cô Ma phải không?”

Ông Siang, trong bộ suit màu nâu xám và đôi kính màu đỏ thẫm, dẫn cô vào căn phòng phía sau đó. Ông nhìn chằm chằm cái rãnh trên khuôn mặt cô, không chớp mắt. Ông mạnh mẽ đưa tay mời cô ngồi xuống bên cái bàn họp làm bằng gỗ gụ khai thác trái phép, cuộn tranh để giữa họ. Đến đứng bên cửa sổ, ông nói, “Món đồ của cô rất đẹp. Các vị la hán tuyệt vời, trong một phong cách đặc biệt. Tiếc là cô không có giấy tờ hay chứng nhận xuất xứ nào.”

“Vâng. Tôi… chúng tôi chưa từng thấy giấy tờ nào.”

“Cô nói cuộn tranh này đến Mỹ cùng với cha cô. Nó đã thuộc về bộ sưu tập của gia đình ông ấy ở Thượng Hải?”

Cô nghịch nghịch chiếc váy ở dưới bàn. “Đúng thế.”

Ông Siang rời khỏi cửa sổ đến ngồi đối diện cô, nghiêm nghị. Bàn tay trái của ông ôm lấy cùi chỏ tay phải, và bàn tay phải của ông chìa ra hai ngón tay đầu tiên, cầm điếu thuốc tưởng tượng. “Chúng tôi không thể xác định niên đại chính xác của nó như chúng tôi muốn. Và chúng tôi không thể chắc rằng ai là họa sĩ.”

Cảm giác đề phòng của cô dâng lên. “Thế các dấu của những người từng sở hữu thì sao?”

“Chúng tôi đã theo dấu chúng theo thứ tự thời gian. Không thể biết rõ bằng cách nào gia tộc của cha cô đã thuộc vào tiến trình sở hữu nó.”

Giờ cô biết điều cô đã ngờ vực suốt nhiều tuần. Mang cuốn tranh đi định giá là một sai lầm. Cô muốn chộp lấy nó và bỏ chạy.

“Nét viết của các chữ trên đó cũng rất khó. Một nét thư pháp đời Đường mà chúng tôi gọi là cuồng thảo. Đặt biệt, Hoài Tố Say. Có thể nó đã được thực hiện về sau.”

“Nó viết gì?”

Ông ta nghiêng đầu, cách tốt hơn để nắm bắt sự ngớ ngẩn của cô. “Đây là một bài thơ, tác giả khuyết danh. Ông ta mở cuộn tranh ra giữa họ. Ngón tay ông lướt dọc theo hàng chữ.

Trên ngọn núi này, trong gió sương này

Tại sao vẫn còn ở đây thêm nữa?

Ba cây vươn cành khẩn thiết vẫy ta

Ta ghé tai nghe, nhưng sự lao xao của chúng

chỉ nghe như tiếng gió lùa

Chồi non thử thách cành cây, cả giữa mùa đông.

Da cô nổi mẩn lên trước khi bài thơ kết thúc. Cô đang ở sân bay San Francisco, nghe thấy tên mình xướng lên. Cô đang đọc bài thơ mà cha cô để lại thay cho thư tuyệt mệnh. Quân vấn cùng thông lý - Đời người thăng trầm như thế nào? Cô đang hối hả nhóm lửa bên sườn núi trong cái lạnh tối đen thăm thẳm. Ngọn lửa để thiêu một cô gái.

“Ba cây?”

Ông Siang xòe tay tỏ ý lấy làm tiếc. “Thơ mà.”

Mặt cô chợt nóng chợt lạnh. Não cô cứng đờ. Một cái gì đó đang cố để tóm cô, từ rất rất xa. Tại sao vẫn còn ờ đây thêm nữa? Cô nhìn thấy em gái cô Amelia, mười hai tuổi, thùng thình trong bộ đồ đi tuyết to gấp đôi người nó, vừa đi lạch bạch vào cửa sau vừa khóc. Cây ăn sáng nảy chồi sớm quá. Tuyết sẽ giết nó mất. Và bố cô, chỉ mỉm cười. Chiếc lá mới luôn ở đó. Thậm chí trước cả mùa đông. Một sự thực mà Mimi, trong mười sáu mùa xuân của cô, chẳng hiểu tại sao đã bỏ lỡ.

“Bài thơ đó có thể đọc được… với một người bình thường không?”

“Một học giả thì có thể. Một người học thư pháp.”

Cô không biết nên xem bố cô là người học cái gì. Điện tử thu nhỏ. Các khu cắm trại. Nói chuyện với gấu. “Cái nhẫn này.” Cô đưa nắm tay qua bàn về phía người buôn tác phẩm nghệ thuật. Ông ta nghiêng đầu. Nụ cười của ông ta làm cho cả hai xấu hổ.

“Vâng? Một cây ngọc, phong cách nhà Minh. Kỹ nghệ rất tốt. Chúng tôi có thể định giá nó.”

Cô rụt tay lại. “Không cần đâu. Nói cho tôi biết về cuộn tranh.”

“Xứ lý các la hán rất điêu luyện. Chỉ riêng về giá trị lịch sử và chất lượng bản vẽ, chúng tôi đặt giá trị vào giữa…” Ông ta đề cập hai con số mà khiến một tiếng cười rúc rích the thé của loài linh trưởng bật ra trước khi cô kịp chặn nó lại. “Four Arts sẽ sẵn lòng trả cho cô giữa khoảng đó.”

Cô dựa lung ra ghế, giả vờ điềm tĩnh. Cô đã hy vọng được tự do một chút khỏi sức ép của tiền bạc. Hai năm, có thể là ba. Nhưng đây là cả một gia tài. Tự do. Đủ để chi trả cho một cuộc đời hoàn toàn mới.

Ông Siang nghiên cứu khuôn mặt mang sẹo của cô. Đôi mắt của ông ta vẫn đăm đăm phía sau gọng kính màu đỏ thẫm. Cô nhìn chằm chằm lại, sẵn sàng để quyết đấu. Cô đã từng nhìn ngọn lửa hung dữ nhất đến tắt ngấm. Sau chuyện Olivia, cô có thể giữ lâu hơn bất cứ ánh mắt của người sống nào.

Cuộn tranh nằm giữa họ trên bàn. Nét cuồng thảo say, bài thơ khó hiểu, những hình dong ngồi một mình trong khu rừng cũ của họ, đã gần giác ngộ, gần như là một phần của vạn vật - tất cả đang cần cô giải quyết. Nhưng giải quyết những điều đó bỗng nhiên cảm thấy giống như tội phạm. Ba cây muốn điều gì đó từ cô. Nhưng cô hoàn toàn chẳng có ý niệm nào.

Giữ ánh mắt lâu hơn ông Siang dễ như thở. Ba giây sau, ông ta quay ánh mắt đi. Khi ông ta quay đi, cô nhìn vào tâm hồn nhà định giá tác phẩm nghệ thuật của ông ta. Ông ta đã tình cờ gặp được một tham khảo nào đó về chính cuộn tranh này đâu đó trong số sách. Thực tế đó rõ như chúng giật mí mắt của ông ta. Cuộn tranh này đáng giá gấp nhiều lần so với con số ông ta đề nghị. Đó là một bảo vật quốc gia đã mất từ lâu. Cô hít vào, không thể nén được một nụ cười. “Tôi nghĩ có thể ai đó ở Asian Art Museum sẽ có thể giúp nhận diện.”

Chẳng bao lâu sau lời đề nghị sửa đổi của Four Arts được gửi đến. Không ai dù là Mimi hay hai em gái của cô hay con của họ sẽ phải lo về tiền trong một thời gian dài. Đó là một lối thoát cho cô.

Huấn luyện lại. Một nhân dạng mới. Tại sao vẫn còn ở đây thêm nữa? Cô gọi cho cả hai. Carmen và Amelia, lần đầu tiên trong năm. Carmen trước. Mimi không đề cập gì về khuôn mặt cô. về chuyện mất việc, về chuyện bán căn nhà. Về chuyện bị truy nhã trên ba bang. Cô xin lỗi vì đã biến mất. “Xin lỗi. Chị sa vào đường lầy.”

Carmen cười. “Ý chị là có đường nào trơn?”

Mimi nói đến lời đề nghị.

“Em không biết, Mimi. Đó là một di sản của gia đình. Chúng ta còn lại gì từ bố nữa chứ?” Ba cái nhẫn cây ngọc, Mimi muốn nói. Đang vẫy những cánh tay khẩn thiết của chúng. “Chị chỉ muốn làm điều mà hẳn là bố sẽ muốn làm.”

“Thế thì hãy làm điều bố đã làm với nó. Đó là thứ duy nhất bố đã giữ cùng mình suốt cả cuộc đời.”

Rồi đến Amelia. Amelia - vị thánh khỏe mạnh, kiên nhẫn, dỗ dành những đứa con phấn khích, giận dữ phía sau ngay cả khi đang nghe bà chị điên của cô. Mimi muốn nói một hơi, Chị đang chạy trốn. Một người bạn đã chết. Chị đã đốt tài sản tư nhân cháy sạch. Thay vì thế, cô đọc bài tho đã được dịch.

“Hay đấy, Mimi. Em nghĩ nó có nghĩa là thoải mái. Thoải mái, yêu thương, và làm những gì ta muốn.”

“Carmen nói đó là vật gia truyền duy nhất của chúng ta.”

“Ôi. Đừng ủy mị về nó thế. Bố là người ít ủy mị nhất trên đời.”

“Và rất cẩn thận với tiền bạc.”

“Cẩn thận. Rẻ tiền! Có nhớ tầng hầm đầy ắp đồ giảm giá không? Những hộp cola, áo phao, cái vặn đai ốc giảm nửa giá.”

“Carmen nói ông đã giữ nó suốt cả cuộc đời.”

“Phù. Chắc là bố chỉ đang tính thời gian cho chợ đồ cổ thôi.”

Lá phiếu quyết định của thế gian một lần nữa đặt lên đôi vai không rộng hơn vai của một đứa trẻ. Đêm hôm đó, người kỹ sư với nụ cười vĩnh cửu, người giữ những cuốn sổ về các khu cắm trại, người tự tử nhẹ nhàng, thì thầm với Mimi. Ông đưa câu trả lời vào thẳng tai cô. Quá khứ là một cây lote. cắt tỉa nó thì nó sẽ phát triển.

DOROTHY CAZALY BRINKMAN, cười có vẻ quá rạng rỡ, bưng một khay gỗ hồng mộc đựng bát cháo đặc từ bếp lên phòng của chồng cô. Đôi mắt trợn lên nhìn cô từ cái giường bệnh. Cái miệng méo xệch của anh, cứng đờ trong sự khiếp sợ, trông giống như một cái mặt nạ bi kịch Hy Lạp. Cô cố ngăn mong muốn lùi ra khỏi cửa. “Chào buổi sáng, Ray Ray. Anh có ngủ được không?”

Cô đặt chiếc khay lên cái kệ bên giường. Ánh mắt kinh hãi nhìn theo cô. Bị chôn. Sống. Vĩnh viễn. Cô đẩy mình tiến lên. Những bông hoa lan chuông, trong cái bình thủy tinh thấp, mang đến cái kệ bên giường. Cô gập mép chăn xuống, ướt nước dãi. Rồi cô giữ hờ hững cái khay gỗ, với bữa sáng nóng, phía trên tấm thân liệt nửa người. Mỗi buổi sáng mới của việc luyện tập che đậy cảm xúc khiến cô trở nên thuyết phục hơn một chút. Chẳng gì trên thế giới có thể nói cho cô biết còn bao nhiêu ngày như thế này phía trước, và cô có thể tồn tại được bao nhiêu ngày. Âm thanh phát ra từ anh. Cô ghé vào cho tới khi tai cô chạm vào môi anh. Tất cả những gì cô có thể nghe là, “Dddgg.”

“Em biết rồi, Ray. Ổn thôi, sẵn sàng chưa?”

Cô làm cả một vở hài để kéo ống tay áo lên. Cái miệng-mặt nạ của anh nhích một chút, và cô đọc nó vì cô cần làm thế. Hơn cả sự bại liệt, hơn cả những lời nói rời rạc, cái miệng đó thay đổi anh thành một thứ khác. “Đây là loại ngũ cốc lâu đời mới. Từ châu Phi. Tất cho hồi phục tế bào.”

Anh nhấc bàn tay lên một phân, có lẽ để ngăn cô. Dorothy phớt lờ anh; cô đã trở nên giỏi việc này. Chẳng mấy chốc ngũ cốc lâu đời chảy xuống cằm anh xuống cái yếm. Cô lau cho anh bằng khăn mềm. Khuôn mặt cứng đờ vì đột quỵ của anh căng lên trước cái chạm của cô. Nhưng đôi mắt anh - đôi mắt anh nói, rõ hơn bất cứ điều gì, Em là điều có thể chịu đựng cuối cùng còn lại với anh, ngoại trừ cái chết.

Cái thìa đi ra đi vào. Một cái gì đó dòng giống cổ xưa trong cô muốn tạo ra những tiếng máy bay. “Anh có nghe tiếng cú kêu đêm qua không? Gọi thêm một cơn nữa nhé? Cô lau miệng anh và đút thìa khác. Cô nhớ lại thời khắc hai tuần trước, khi anh vẫn đang trong bệnh viện. Một cái mặt nạ oxy chụp trên mặt anh. Một ống truyền treo trên cánh tay. Anh không ngừng giật giật chúng bằng bàn tay còn hoạt động. Cô đã phải gọi y tá, và người y tá đã buộc bàn tay anh vào dây cố định. Đôi mắt anh trồi lên trên cái mặt nạ và trách móc cô. Hãy để anh kết thúc nó. Em không thấy anh đang cố giúp em hay sao?

Suốt nhiều tuần ý nghĩ duy nhất của cô là, Mình không thể làm điều này. Nhưng thực hành làm giảm dần sự không thể. Thực hành giúp cô vượt qua sự giáo điều của các bác sĩ và sự thương cảm của bạn bè. Thực hành giúp cô vận chuyển cơ thể liệt đò của anh mà không nôn oẹ. Thực hành dạy cho cách nghe những lời như tảng băng của anh. Thêm một chút thực hành nữa, cô thậm chí sẽ làm chủ được sự chết.

Sau bữa ăn sáng, cô kiểm tra xem anh có cần làm sạch không. Anh cần. Sự hổ thẹn của lần đầu tiên - được hút bằng máy bởi một y tá kỳ cựu, khi còn ở bệnh viện - khiến anh rên rỉ. Ngay cả bây giờ. găng tay cao su, bông tắm và vòi nước và những cục còn ấm mà cô đẩy theo máy trong buồng tắm, vẫn khiến đôi mắt trân trối của anh ướt đẫm.

Cô làm sạch rồi thay quần áo cho anh trên giường rồi kiểm tra các vết loét do nằm lâu. Cô sẽ chỉ có một mình cả ngày hôm nay. Carlos và Reba, những người chăm sóc theo giờ, chỉ đến bốn giờ một tuần, gấp đôi so với Ray muốn và chỉ bằng một phần tư so với Dorothy cần. Cô đặt bàn tay lên bờ vai cứng như đá của anh. Sự dịu dàng là thế thân của sự mệt nhọc của cô. “Tivi nhé? Hay là em đọc?”

Cô nghĩ anh nói cô đọc. Cô bắt đầu với tờ Times. Nhưng các tiêu đề làm anh kích động.

“Em cũng thế, Ray ạ.” Cô đặt tờ báo qua một bên. “Phớt lờ không thể khiến ta tổn thương nhỉ?”

Anh nói gì đó. Cô ghé vào. “Bbc.”

“Bực mình? Không bực mình, Ray. Một câu đùa vớ vẩn thôi.” Anh lại nói lại. “Anh bực mình? Tại sao?” Bỏ qua một triệu lý do hoàn hảo, ý cô là thế.

Thêm một âm tiết nữa siết ra từ đôi môi cứng đò của anh: “Ttư.”

Nó khiến cô lạnh người. Nghi thức buổi sáng của anh, trong suốt những năm họ sống cùng nhau. Bây giờ thì không thể. Điều tồi tệ nhất là, đây là thứ Bảy, ngày giải ô đố chữ. Ngày duy nhất cô từng nghe anh chửi thề.

Họ giải các ô đố chữ suốt cả buổi sáng. Cô đưa ra manh mối, còn Ray nhìn chằm chằm vào vô định. Gặp bế tắc, có thể. Giống bình sữa Brown’s Blue. Giữ khoảng cách. Những khoảng nghỉ chờ đợi dài như vô tận, anh rên rỉ ra những cái gì nghe như các từ. Chính cô cũng phải ngạc nhiên, công việc này dễ với cô hơn là để anh ngồi trước tivi. Cô thậm chí còn thấy bản thân hứng thú khi một ô trò chơi đố chữ - chỉ cần đi qua các chuyển động - có thể giúp xây dựng lại bộ não của anh.

“Dấu hiệu sớm của mùa xuân. Năm chữ cái. Bắt đầu bằng chữ A.”

Anh bật ra hai âm tiết mà cô không thể đoán được. Cô bảo anh nhắc lại. Lần này là một tiếng gừ, vẫn chẳng là gì ngoài gỉ sắt tan chảy.

“Có thể thế. Em sẽ vòng nó lại đây, rồi chúng ta sẽ quay lại với nó sau.” Giống như nhảy điệu waltz với một con búp bê vải vụn.

“Thế còn: Sự trở lại đầy an ủi của chồi? Sáu chữ cái, chữ đầu là R, chữ thứ tư là E, chữ thứ năm là A.” Anh nhìn cô trân trân, bị giam hãm trong bản thân mình. Không thể nói cái gì còn lại, bên trong căn phòng bị khóa đó. Đầu anh rủ xuống, bàn tay còn củ động được chà chà trên tấm trải giường, như thể một con thú gặm cỏ đang bói tuyết mùa đông.

Buổi sáng đó kéo dài sự dễ chịu của nó tới tận sang trưa. Cô bỏ các đường kẻ ô qua bên, một mớ hỗn độn của sự đọc lại và các yêu cầu. Đã đến giờ nghĩ về bữa trưa. Một thứ gì đó anh sẽ không bị nghẹn, thứ mà cô chưa cho anh ăn nhiều lần trong tuần này.

Bữa trưa thật giống như băng qua Đại Tây Dương bằng chiếc thuyền con. Sang chiều, cô đọc cho anh. Chiến tranh và hòa bình. Chiến dịch này dài và gian khổ, đã kéo dài suốt mấy tuần, nhưng anh có vẻ muốn thế. Cô đã trải qua nhiều năm cố chuyển anh qua đọc tiểu thuyết. Giờ cô có một thính giả bị giam cầm.

Câu chuyện vuột đi, ngay cả với cô. Quá nhiều người có quá nhiều cảm xúc để có thể theo dõi. Vị Hoàng tủ anh hùng ngã xuống giữa một trận chiến mênh mông. Chàng nằm ngửa bất động trên nền đất lạnh, xung quanh vô cùng hỗn độn. Chẳng có gì phía trên người lính ngoài bầu trời, bầu trời cao lồng lộng. Chàng không thể di chuyển; chàng chỉ có thể nhìn lên. Người anh hùng nằm đó tự hỏi tại sao chàng có thể bỏ lỡ bản chất cốt lõi của tồn tại cho tới tận khoảnh khắc đó: toàn bộ thế giới và tất cả trái tim của con người đều chẳng là gì, khi đặt dưới chân của màu xanh vô tận này.

“Em rất xin lỗi, Ray. Em đã quên mất phần này rồi. Chúng ta bỏ qua nhé.”

Đôi mắt lại nhìn cô trân trối. Nhưng có lẽ không phải vì cuốn tiểu thuyết này khiến anh khó hiểu. Có lẽ là vì anh không hiểu được tại sao vợ anh cứ khóc không ngừng.

Bữa tối lại trở thành một chiến dịch kéo dài, lại là một chiến tranh giành đất đai khác ở châu Á. Cô để anh trước tivi. Rồi cô đi ra ngoài, cho một bữa tối thứ hai. Của cô. Alan gặp cô trước cửa xưởng gỗ của anh. Mái tóc của anh lấm tấm mùn cưa. Đôi mắt của anh, cũng hơi trân trối. Cô nhìn đi chỗ khác. Anh ôm cô trong vòng tay, và cảm giác giống trở về nhà đến đáng sợ. Người sẽ là chồng chưa cưới của cô. Ta có thể có chồng chưa cưới, khi mà cuộc ly dị đang bị đình chỉ bởi cái mà nghề của chồng cô thường gọi là thảm họa tự nhiên?

“Hôm nay thế nào?” Và phải, anh mong chờ cô trả lời. Nhưng đêm nay, ăn gà rán General Tso mua về giữa những chiếc violin và viola và cello hình người bị chặt tay chặt chân, những thân thể không đầu, những mặt trên của hộp đàn trắng tron treo thành hàng trên dây, mặt sau có đường xẻ của hộp đàn bằng gỗ phong, mùi của những phiến gỗ vân sam và gỗ liễu, những súc gỗ mun nguyên chất để làm ván trượt, những miếng gỗ hoàng dương và gỗ gụ tái chế làm đồ gia dụng, đó chỉ là một câu hỏi để hít vào, một hơi đầy phổi rồi lại một hơi đầy phổi.

Cô gõ gõ đôi đũa dùng một lần. “Em ước gì chúng ta đã gặp nhau khi chúng ta còn trẻ hơn. Anh lẽ ra nên thấy em lúc đó.”

“Ôi, không. Gỗ càng già càng tốt. Những cái cây ở cao trên triền bắc của núi.”

“Thật vui vì còn giá trị sử dụng.”

“Anh mới phải xấu hổ vì đã quá già. Anh đã có thể làm tốt việc này.” Anh khoát tay lên những tấm hộp đàn như những tấm thân được bào đục đang treo trên rui nhà. “Anh giờ mới bắt đầu hiểu về cách gỗ hoạt động.”

Hai tiếng sau, cô về nhà. Ray hẳn có nghe tiếng xe chạy lên lối vào, tiếng cửa ga-ra mỏ, tiếng khóa tra vào cửa sau. Trên tivi, người ta đang cười như ma ám với mỗi câu đùa của nhau. Cô tắt tivi rồi đi tới giường để kéo cái chăn dính bẩn lên thân hình cứng đờ của anh. Cái tay còn tốt của anh chộp lấy cổ tay cô. Đôi mắt thét gào mở ra, cái nhìn của địa ngục và sát nhân đó. Cô nhảy ra và hét lên. Rồi cô bình tĩnh lại và trấn an anh.

Luôn là người đàn ông nhẹ nhàng nhất thế gian. Đã ngồi yên chịu đựng sự phóng túng của cô với sự kiên nhẫn của một vị thánh. Đã khóc một chút khi cô tuyên bố kết thúc, và đã nói anh chỉ muốn điều tốt nhất cho cô. Rằng cô có thể ở lại và làm điều cô muốn. Rằng nếu cô gặp rắc rối, cô sẽ luôn có anh. Cô đang gặp rắc rối đây. Và phải. Anh. Của cô. Mãi mãi.

“Ray! Ôi. Em tưởng anh ngủ rồi.” Anh phì ra một âm thanh u ám giống hệt như tiếng Phạn ngân nga. “Sao cơ?” Cô ghé vào trong một trò chơi giải đố chữ đầy đau đớn có động tác của bộ môn kịch câm. Hai ký tự, cả hai đều líu nhíu. “Lại đi, Ray.”

Vẫn giống như trong cuộc đời trước cái chết, sự kiên nhẫn của anh vượt quá của cô. Các cơ trên nửa người không bị liệt của anh quẫy lên. Tất cả các bóng ma lướt trên da cô xỉa ngón tay của chúng vào tóc cô. “RayRay. Em xin lỗi. Em không hiểu anh đang nói gì.”

Thêm những tia âm thanh hé ra từ đôi môi hơi mấp máy của anh. Cô lại ghé vào lắng nghe. Viết. Cô vội vã tìm giấy bút, bất chấp mọi lý do. Cô đặt cây bút vào bàn tay ở mép giường của anh và quan sát các ngón tay di chuyển giống như cái kim trên máy ghi địa chấn. Mất nhiều phút để anh vẽ ra mấy đường nguệch ngoạc.

Cô nhìn chằm chằm vào mớ loằng ngoằng mà không hiểu gì. Vô nghĩa, nhưng cô không thể nói như thế với bất cứ ai mà đang bị mắc kẹt trong đống gạch đá đổ nát. Rồi từ đó hiện lên, và ý nghĩa của nó bật lên trong cô. Cô bật khóc, chộp lấy cánh tay cứng đờ của anh, nói với anh điều anh đã biết sẵn. “Anh đúng rồi. Anh đúng rồi!” Sáu chữ, bắt đầu bằng chữ R. Sự trở lại đầy an ủi của chồi. Releaf - ra lá lại.

HAI MƯƠI NĂM là một cái chớp mắt. Năm nóng nhất từng đo được đến rồi đi. Rồi lại một năm nữa. Rồi mười năm nữa, hầu như tất cả trong số đó đều là năm nóng nhất được ghi lại trong lịch sử. Nước biển dâng lên. Chu kỳ của năm liên tục bị phá vỡ. Hai mươi mùa xuân, và mùa sau cùng bắt đầu sớm hơn mùa đầu tiên hai tuần. Các loài biến mất. Patricia viết lại chúng. Quá nhiều loài để có thể đếm. San hô bị tẩy trắng và đất ngập nước khô cạn. Nhiều thứ biến mất mà còn chưa kịp biết đến. Các sinh vật biến mất nhanh gấp một nghìn lần so với tốc độ tuyệt chủng cơ bản. Những cánh rừng rộng hơn phần lớn các quốc gia biến thành đất nông nghiệp. Hãy nhìn cuộc sống xung quanh bạn; rồi xóa bỏ đi một nửa những gì bạn thấy.

Số người sinh ra trong hai mươi năm qua nhiều hơn số người sống vào năm Douglas sinh.

Nick lẩn trốn và làm việc. Cái gì mà hai mươi năm, làm việc chậm hơn cây?

Chúng ta không, một trong các bài viết của Adam đã chứng minh, cớ thiên bẩm thấy được sự thay đổi chậm, căn bản, khi mà có một thứ gì đó tươi sáng rực rỡ đang vẫy trước mặt chúng ta.

Chúng ta có thể quan sát cái đồng hồ nhỏ, Mimi nhận ra, nhìn không rời mắt khỏi nó trong suốt một vòng kim giờ. mà chẳng bao giờ thấy nó nhúc nhích.

TRONG GAME DESTINY 8, Neelay nặng sáu mươi lăm cân và trắng bệch, với mái tóc kiểu tóc Einstein. Các đặc điểm của anh nhận những tính chất chủng tộc khác nhau phụ thuộc vào ánh sáng và thị trấn mà anh đang sống. Anh chỉ cao một mét bốn hai, nhưng các bắp chân uyển chuyển và cặp đùi cơ bắp có thể đưa anh đến mọi nơi. Tên anh là Spore, và anh không là ai cả. Giống như mọi chủ đất sống tự cung tự cấp trên mười một lục địa này, anh đã giành được một số huân cương, xây dựng một số công trình lớn, và cất giấu một số tiền mặt. Có một số cô gái trong cuộc đời anh, trong các tỉnh cách xa nhau. Anh là thị trưởng của một tỉnh bé xíu và là chủ một xưởng dệt thảm ở một tỉnh khác. Có một thời gian anh làm thầy tu trong một tu viện có vẻ sắp suy tàn. Phần lớn thời gian anh thích đi bộ. Để tình cờ gặp những người lạ. Để quan sát các cành cây trên những cây bách đung đưa và xem gió đang thổi về hướng nào. Anh đã chuyển vào thế giới song song này cùng với hàng triệu người khác, mỗi người trong một cách chơi do họ tự chọn. Anh còn không thể nhớ khi Web chưa tồn tại. Đó là công việc của ý thức, để biến Hiện tại thành Luôn luôn, để nhầm lẫn ý nghĩa của cái đang là với cái đã là. Đôi khi cảm giác như thể không phải là anh và phần còn lại của Valley of Hearts Delight đã sáng tạo ra cuộc sống Online, mà chỉ phát quang một khoảng trống vào trong đó. Tiến hóa trong giai đoạn ba.

Anh đang đi ra ngoài trên con đường rộng vào một chiều thứ Tư khi mà đáng lẽ anh phải có cuộc họp với hội đồng quản trị để phê duyệt việc thu mua một công ty tạo hình 3D. Thay vào đó, anh đăng nhập vào trò chơi, thực hiện một số nghiên cứu và phát triển của cá nhân. Trong những ngày gần đây, anh đang hành hương, đi trekking từ cực tới xích đạo, nói chuyện với mọi công dân mà anh gặp trên mọi vĩ độ. Kết nhóm ngẫu nhiên. Nghiên cứu hiệu quả và rèn luyện cá nhân, kết hợp vào một.

Hôm đó có hội chợ bên ngoài tòa thị chính của một thành phố phồn thịnh ở một bang mà anh chưa bao giờ đến. Dưới một tiếng chuông gọi mời, mọi người tranh nhau mặc cả khắp đủ loại hàng hóa và dịch vụ: xe đẩy, nến, động cơ, kính mắt, kim loại quý, đất, vườn cây ăn trái. Quần áo mặc ở nhà, đồ nội thất thủ công, đàn luýt tạo ra âm nhạc thật. Năm ngoái đây hẳn sẽ chỉ là sự trao đổi thuần tuý: mọi người đổi chác những hàng hóa khó tìm với một người khác. Nhưng hiện nay đã có giao dịch tiền thật - dollar, yen, pound, euro - hàng triệu qua các phương tiện chuyển khoản điện tử, được thực hiện trong cái thế giới bên ngoài thế giới game này.

“Lũ ngốc,” ai đó nói, trên con đường của chợ trong thị trấn này. Neelay nhìn quanh xem ai đang nói. Một người đàn ông mặc đồ da hoẵng đúng bên cạnh anh trong đám đông. Trong một giây, Neelay nghĩ đó hẳn là một người máy, một AI không người chơi khôn ngoan nào đó. Nhưng có gì đó trong cách hình dong đó bước đi. Một cái gì đó khao khát và “con người”.

“Ai ngốc cơ?”

“Họ chưa kiếm đủ ở trên lầu hay sao?”

“Trên lầu?”

“Thế giới oxy hóa khử. Ngày ngày đi làm, mang về nhà thịt lợn hun khói, chất chật nhà đủ thứ trên đời. Nơi này cũng tệ hại như thế giới con người.”

“Có rất nhiều thứ khác để làm ở đây.”

“Đã từng nghĩ thế,” người đàn ông mặt đồ da nói. “Anh là thần à?”

“Không,” Neelay nói dối. “Mà sao?”

“Anh có vẻ hết sức hiểu biết.”

Anh ghi chú để lần sau đi ra ngoài thì hạ mình xuống một chút. “Chơi khá lâu rồi.”

“Anh có biết chỗ nào có thần đi đến không?”

“Không. Anh cần sửa chữa gì à?”

“Toàn bộ nơi này.”

Điều này khiến Neelay nổi giận. Doanh thu hàng năm ở mức cao nhất mọi thời đại. Một thằng bé ở Hàn Quốc vừa mới giết mẹ nó vì bà lôi nó ra khỏi trò chơi. Nó tiếp tục chơi hai ngày nữa, dùng thẻ tín dụng của bà và tích luỹ hàng loạt chiến thắng trong trò chơi, trong khi thi thể mẹ nó nằm ở phòng bên cạnh. Nhưng mọi người đều là một nhà phê bình.

“Vấn đề của anh là gì?”

“Chỉ là mong muốn có thể yêu nơi này trở lại. Đã từng nghĩ nó là một thiên đường trong lần đầu tiên tôi bắt đầu chơi. Một triệu cách để chiến thắng. Thậm chí không thể nói chiến thắng có nghĩa là gì.” Nhà thám hiểm mặc áo da đứng im phắc trong giây lát. Có thể animus của anh ta phải đi đổ rác hoặc trả lời điện thoại hoặc đi dỗ đứa con mới sinh. Rồi avatar của anh ta thực hiện sự hoàn hồn hai bước nhỏ lạ kỳ. “Giờ thì khắp nơi nơi là một đống tạp nham cũ kỹ. Những quả núi của tôi, bị đốn hết gỗ, đặt những tâm kim loại trên khắp các đồng cỏ, dựng lên những lâu đài và nhà kho ngu si. Ngay khi bạn làm mọi thứ theo ý mình, một thằng ngu nào đó với những tay lính đánh thuê sẽ đến phá tan tành. Tệ hơn cả đời thực.”

“Anh có muốn report người chơi nào đó không?”

“Anh chính là một vị thần, đúng không?”

Neelay không nói gì. Một vị thần đã không thể đi suốt nhiều thập kỷ.

“Có biết điều gì sai lầm ở nơi này không? vấn đề Midas. Mọi người xây dựng hổ lớn cho tới khi nơi này đầy ắp. Rồi các vị thần các anh chỉ việc tạo ra một lục địa mới hoặc tung ra vũ khí mới.”

“Có những cách khác để chơi.”

“Tôi cũng đã nghĩ thế. Những điều bí ẩn trên những ngọn núi và qua những đại dương. Nhưng không.”

“Có thể anh nên đến một nơi nào đó khác.”

Người đàn ông mặc đồ da khoát tay. “Tôi đã nghĩ đây chính là một nơi nào đó khác.”

Cậu bé vẫn muốn làm một điệu kite dance điện tử cho người cha đã mất từ lâu của mình biết rằng người khai khẩn này nói đúng. Destiny có vấn đề Midas. Mọi thứ đang chết một cái chết mạ vàng.

ADAM APPICH được thăng lên hàm phó giáo sư. Đó không phải là để nghỉ ngơi - chỉ là thêm áp lực. Từng phút của anh đều lên kế hoạch cho nhiều việc một lúc: hội thảo, tổng quan lý thuyết, điền dã, chuẩn bị bài giảng, công việc hành chính, đánh vật với hàng đống tiểu luận để cho điểm, tham gia hội đồng, các hồ sơ đề bạt, và một mối quan hệ ở xa với một phụ nữ làm trong ngành xuất bản cách năm trăm ba mươi sáu dặm. Anh đang vừa biên tập một bài tạp chí để xuất bản vừa xem tin túc vừa ăn món teriyaki quay lò vi sóng trong ngôi nhà đầu tiên của anh ở Columbus, Ohio. Anh không có thời gian cho các sự kiện đang diễn ra hay một bữa ăn ra hồn. Nhưng quyện chúng vào nhau trong khi làm việc thì anh có thể biện hộ được. Mười giây sau khi câu chuyện bắt đầu, anh nhận ra thứ mà anh đang trân trân nhìn vào: những tòa nhà rỗng toác và những cột xà đen thui, cái hậu quả mà ký ức của chính anh không thể khôi phục lại dù ở bất kỳ độ phân giải nào. Ai đó đã đánh bom phòng thí nghiệm nghiên cứu của bang Washington nơi đang nghiên cứu biến đổi bộ gene của cây dương poplar. Máy quay nấn ná trên một bức tường ám bò hóng. Được phun sơn trên nền xi măng là những con chữ anh từng trình bày:

KIỂM SOÁT GIẾT CHÓC

KẾT NỐI PHỤC HỒI.

Khấu hiệu cũ của họ. Điều này thật phi lý. Người phát thành viên chi khiến mọi chuyện tệ thêm. “Các nhà chức trách tin rằng ngọn lửa tiêu hủy bảy triệu đô la này có liên quan tới các vụ tấn công tương tự đã được thực hiện trong suốt nửa thập kỷ qua ở Oregon, California, và phía Bắc Idaho.”

Thế giới phân tách và nhân đôi, Adam trở thành thứ giả mạo chính mình. Rồi một giải thích mang tính hiệu quả hơn: Một hoặc một số trong những người còn lại đang tiếp tục một mình. Nick, khả năng cao nhất, sau cái chết của người yêu của anh ta. Hoặc là tay cựu binh như trẻ con, Douglas. Hoặc cả hai, kết hợp với những tín đồ mới để đi phóng hỏa. Dù là ai đã thực hiện vụ phóng hỏa mới này đi nữa thì họ cũng đã sử dụng khẩu hiệu cũ như thể họ có bản quyền. Camera lướt khắp dầm trần nhà đã cháy thành than của phòng thí nghiệm bị phá hủy. Adam nhận ra đống đổ nát này như thể anh đã tự tay sắp đặt vụ việc. Không phải năm năm trước; đêm hôm qua. Giống như thể anh vừa mới trở về nhà và giờ phải thiêu hủy quần áo ám khói của mình. Góc quay lưu lại trên một dòng chữ phun sơn cuối cùng ở cuối hành lang:

NÓI KHÔNG VỚI NỀN KINH TẾ TỰ TỬ

Sáu tuần sau khi trở thành phó giáo sư, anh lại là kẻ cố tình phóng hỏa.

BA THÁNG SAU, cỗ máy rơi trong xưởng gỗ gần bán đảo Olympic phát nổ. Mimi đọc về nó trong tạp chí Chronicle. Cô đang ngồi trên bãi cỏ trong vườn hoa Conservatory of Flowers, trong một góc của công viên Golden Gate Park, mười phút đi bộ là tới Hilltop, Đại học San Francisco, nơi cô đang hoàn thành bằng thạc sĩ ngành phục hồi chức năng và tư vấn sức khỏe tâm thần. Cô nhận ra các khẩu hiệu nguệch ngoạc ở hiện trường đó - các khẩu hiệu đã từng đều là của họ. Một tiêu đề phụ chạy kèm với tiêu đề chính của tin tức đó: “Niên đại của Khủng bố Sinh thái, 1980-1999.”

Chuyện bắt giữ chỉ là vấn đề thời gian. Tháng sau, năm sau, một tiếng gõ cửa, chìa phù hiệu ra…. Mọi người đi bộ ngang qua khi cô ngồi đọc. Một người lang thang với tất cả đồ đạc lặt vặt trong cái ba lô cáu bẩn của ông ta. Đoàn du khách đội mũ màu vàng theo sau một phụ nữ vẫy lá cờ Nhật Bản. Một đôi yêu nhau vừa cười vừa ném con hươu nhồi bông vào nhau. Mimi ngồi trên cỏ, đọc về những tội ác mà dường như cô đã phạm phải. Cô trải tờ báo lên đám cỏ trước mặt và ngửa đầu ra sau. Trên trời đầy những vệ tinh vô hình có thể định vị tọa độ của cô từ mười feet. Camera trong không gian có thể đọc các nhan đề phía trước cô. “Thời đại của Khủng bố Sinh thái.” Cô nhìn chằm chằm lên cao, chờ cho tương lai sà xuống và bắt giam cô. Rồi cô thu dọn tờ báo cùng với rác từ đồ ăn trưa của mình và đi thẳng qua một hàng sồi coast live về phía Lone Mountain để tới lớp học buổi chiều của cô với môn Các vấn đề về đạo đức và chuyên nghiệp trong trị liệu.

TIN VỀ CÁC VỤ HỎA HOẠN Mới không bao giờ đến tai Nick. Anh nghe tin tức từ các bến xe bus và quán cà phê, người tiếp thị qua điện thoại và người điều tra dân số, người ăn xin trong các thị trấn nhỏ suốt dọc đường lên bờ biển luôn sẵn lòng tiết lộ các bí mật từ hầu hết mọi nhà bình luận và nhà phân tích, thường là miễn phí.

Ở Bellevue, Washington, anh tìm được công việc hoàn hảo: trợ lý quản lý, lướt vòng vòng trên chiếc xe nâng tải nhỏ trong một kho hàng Fulfillment Center khổng lồ, tháo dỡ những thùng sách cao như núi, quét mã vạch của chúng, rồi cất chúng lên những vị trí chính xác trong một ma trận nhà kho 3D rộng mênh mông. Anh dự định lập kỷ lục hoạt động nhanh nhất. Anh làm được. Một kiểu biểu diễn dành cho những khán giả hiếm hoi nhất. Sản phẩm ở đây không hẳn là sách mà là cái đích của mười nghìn năm lịch sử, thứ mà bộ não con người khao khát hơn bất cứ thứ gì và tự nhiên sẽ chết nếu từ chối trao cho: sự tiện lợi. Dễ dàng là căn bệnh, còn Nick là vật chủ trung gian của nó. Những người thuê anh là một loại virus mà rồi sẽ một ngày sống một cách tượng trung bên trong mọi người. Một khi bạn đi mua một cuốn tiểu thuyết trong bộ dạng mặc pijama, chẳng có gì vãn hồi được nữa.

Nick mở thùng carton tiếp theo, thùng thứ ba mươi ba của ngày hôm nay. Anh có thể mở, quét, rồi cho lên giá hơn một trăm thùng trong những ngày suôn sẻ, cứ bốn phút một thùng. Càng làm việc nhanh, anh càng có thể trì hoãn sự thay thế mang tính robot không thể tránh khỏi của mình lâu hơn. Anh dự tính được vài năm trước khi sự hiệu quả đến giết anh. Càng làm việc cật lực, anh càng khỏi phải nghĩ. Anh dỡ cái thùng sách bìa mềm cho lên giá sắt rồi sắp xếp. Lối đi dâng cao lên đến tận xà nhà vào một hẻm vực sách bất tận. Hàng chục lối đi như thế chỉ riêng ở Fulfillment Center này. Và hàng tháng các Fulfillment Center mới trên khắp mấy lục địa. Những người chủ của anh sẽ không dừng lại cho tới khi tất cả mọi người được thỏa thuê.

Nick tiêu hoang năm giây chẵn quý giá trong chuyển động thời gian của anh để nhìn chăm chăm xuống cái hẻm vực sách đó. Cảnh tượng đó bao trùm anh trong một nỗi khiếp sợ không thể tách rời khỏi hy vọng. Đâu đó trong tất cả các hẻm núi trập trùng, hỗn độn, bao la này, được mã hóa trong hàng triệu tấn sợi gỗ thông loblolly, hẳn phải có một ít con chữ là sự thật, một trang, một đoạn có thể phá vỡ tính thiêng của sự thỏa thuê và gợi trở lại nguy cơ, như cầu, và cái chết

Buổi đêm, anh làm việc với các bức tranh tường. Anh cắt các khuôn tô trong căn hộ của mình, rồi mang chúng đi suốt thành phố đến những bức tường trống mà anh tìm được trong những lúc đi dạo. Đó là số phận xúi giục, làm bất cứ thứ gì có thể đưa anh vào tầm ngắm của cảnh sát. Nhưng sự thôi thúc được gào hét trong các hình ảnh quá mạnh với anh. Anh có thể hoàn thành một tác phẩm tầm trung, từ lên khung cho đến gõ khung, trong vòng vài chục phút. Giữa hai đến bốn giờ sáng, khi lẽ ra nằm thao thức nuôi lớn thế giới bên trong, anh có thể vẽ vời khắp mấy khu lân cận. Những cô gái bất đồng mặc áo Kevlar jacket. Những người phản đối ném lựu đạn là những quả phong cánh đôi. Những chiếc máy bay chiến đấu và trực thăng nhỏ xíu lượn cả đàn trên những đám hoa hồng leo thật như thể đang thụ phấn cho chúng.

Công việc của tối nay rất rộng: bao phủ một tòa nhà vốn là các văn phòng luật sư bằng mười sáu khuôn tô chồng lên nhau. Trên một cái thang gấp, Nick dán các tấm khuôn tô đánh số lại với nhau thành một cái bình khổng lồ trải dài từ đỉnh xuống đáy. Các khuôn tô bao phủ khối bê tông xám ở mặt trước rồi ngoặt chín mươi độ, nơi chúng dàn ngang trên vỉa hè. Rồi đến việc phun sơn, rồi cạo bỏ các đường lem nhem do màu nhỏ xuống qua giấy dán. Chờ một lúc cho khô, rồi anh rút các khuôn tô đi để lộ ra một cây dẻ. Cành cây vươn lên đến tầng hai của văn phòng. Thân cây dọc thẳng xuống vào một bãi rễ tràn ra vỉa hè đến tận cống thoát nước. Ở độ cao ngang ngực, cao hơn tầm mắt một chút, các rãnh của vỏ cây phân giải thành một mã vạch UPC rộng năm phân.

Nick lấy cây cọ lông màu nâu rộng rằng một ngón tay và một lọ men tráng màu đen ra khỏi ba lô rồi viết phóng túng một bài thơ của Rumi bên cạnh cái mã vạch:

Yêu là cây

với cành lá

trong mãi mãi

với rễ cây

trong vĩnh cửu

và thân cây

không đâu cả

Ai đó đã từng có lần đọc bài thơ này cho anh, trên một ngôi nhà cây, xa trên một cành cây, trên mép gò đang còn phát triển của sự tạo hóa. Nếu một trong hai chúng rơi xuống mép này, anh nghe người đó nhắc nhở anh, ngươi kia sẽ rơi theo. Anh lùi lại để thẩm định. Hiệu ứng khiến anh chấn động, và anh không chắc mình có thích nó. Nhưng thích hay không thích - cây trượng và cây gậy của văn hóa hàng hóa - không có nhiều ý nghĩa với anh. Anh chỉ muốn lấp đầy những bức tường này càng nhiều càng tốt với một thứ gì đó không phải là tường.

Anh gom các khuôn tô và bình xịt, nhồi chúng vào lại trong ba lô, rồi lảo đảo đi về nhà để có năm tiếng nửa mơ nửa tỉnh trên một cái giường đang cần thay đi. Olivia ám các giấc mơ của anh, lại gọi, trong hoảng sợ của cái chết, Nhưng thứ này sẽ không bao giờ kết thúc - thứ mà chúng ta có. Phải không?

“BỎ ANH ĐI,” Ray Brinkman nói với vợ anh, mỗi tuần mấy lần. Nhưng cô không thể hiểu những cục mắc nghẹn thoát ra khỏi miệng anh, hoặc là cô giả vờ không hiếu. Anh gần như hài lòng khi cô đi ra ngoài nhiều giờ vào buổi tối. Rồi tất cả những hy vọng trong anh dâng lên với ý nghĩ rằng cô đang ở với bạn cô, trao đổi, chuyện trò, làm tổn thương, khóc lóc trong bóng tối của một căn phòng xa xăm nào đó vì tất cả những thứ không thể đoán dò. Thế nhưng, vào buổi sáng, khi cô bước vào phòng anh và nói, Chào buổi sáng, RayRay. Mọi chuyện ở đây tốt chứ?, thì anh không thể ngăn mình cảm thấy một biến thể bị liệt của niềm vui. Cô cho anh ăn và dựng giường lên cho anh xem ti vi. Màn hình có tin tức, du lịch, công ty của những người khác, một sự nhắc nhớ về niềm may mắn anh đã có suốt cuộc đời dài mà khi đó đã không nhận ra. Sáng nay, Seattle đang có chiến tranh. Một cái gì đó về tương lai của thế giới, tất cả sự giàu có và tài sản của nó. Những người dẫn chương trình buổi sáng dường như cũng rất bối rối. Đại biểu cửa hàng chục nước cố gắng tụ tập trong một trung tâm hội nghị; hàng nghìn người biểu tình ngăn cản không cho họ vào. Trẻ con mặc áo chừng và quần rằn ri nhảy trên nóc của các xe bọc thép bị đốt. Những người khác giật tung một hòm thư ra khỏi trụ xi măng rồi ném nó qua khung cửa sổ toàn cảnh trong khi một phụ nữ hét lên với họ. Dưới những cây lấp lánh đèn nhấp nháy của Giáng sinh, những đoàn lính đội mũ bảo hiểm và bịt khẩu trang đen ném những ống khói hồng vào giữa đám đông. Ray Brinkman, người đã dành hai thập kỷ trong các chiến hào bảo vệ các bằng sáng chế, chúc mừng mỗi khi cảnh sát khuất phục được một kẻ vô chính phủ. Nhưng cũng vẫn là Ray Brinkman, người mà Chúa đã ngừng lại với một cú đánh trái tay nhỏ, đang đập vỡ kính.

Đám đông ào lên và chia tách ra, đập phá rồi tập hợp lại. Một đội quân mang khiên chống bạo động đẩy lùi họ. Những người gây rối đồng loạt ùa qua các rào chắn và bao vây xung quanh các xe bọc thép. Các máy quay nán lại trên một cái gì đó đáng chú ý trong đám đông: một bầy động vật hoang dã. Gạc, ria mép, ngà, những đôi tai phe phẩy, những cái mặt nạ công phu trên đầu của những đứa trẻ mặc áo hoody và áo bomber jacket. Các sinh vật chết, ngã lăn ra vỉa hè, rồi lại vùng lên, như thể trong phim quay cảnh tàn sát thật của Sierra Club.

Một ký ức lẻn vào cái đầu đã thay đổi của Ray. Anh nhắm mắt lại vì cơn đau. Anh nhận ra những cái mặt nạ động vật đó, những bộ đồ được phun sơn. Họ trông rất quen. Anh đã từng thấy họ, ở đâu đó như trong một tấm ảnh. Anh biết điều đó là vô lý, nhưng thực tế không xóa bỏ được cảm giác kỳ quái này. Anh gọi Dorothy tới tắt tivi đi.

“Đọc nhé?” cô luôn hỏi, dù cô không cần làm vậy. Anh sẽ không bao giờ bảo không. Giờ đây anh sống để được nghe đọc to. Trong suốt nhiều năm, họ đã đi qua hết Một trăm tiểu thuyết vĩ đại nhất mọi thời đại. Anh không thể nhớ tại sao tiểu thuyết thường khiến anh mất kiên nhẫn như thế. Giờ thì chẳng gì khác có sức mạnh hơn để đưa anh qua những giờ trước bữa trưa. Anh nằm nghe mẩu chuyện nực cười nhất, như thể tương lai của nhân loại liên quan đến nó. Các cuốn sách đều phân tách và xòe ra, linh động như những con chim sẻ trên những hòn đảo hoang. Nhưng chúng có chung một cốt lõi rất rõ ràng là chúng có thể được xem là thứ có thể tin cậy. Mọi người hình dung rằng sợ hãi hay giận dữ, bạo lực và khao khát, cơn thịnh nộ quấn thắt với khả năng tha thứ bất ngờ - nhân vật - là tất cả vấn đề ở phần kết. Đó là tín điều của trẻ con, tất nhiên rồi, chỉ một bước nhỏ lên từ niềm tin rằng Đấng sáng tạo của Vũ trụ này có bận tâm tuyên ra những bản án giống như một thẩm phán tại tòa án liên bang. Là con người luôn nhầm lẫn giữa một câu chuyện làm thỏa mãn với một câu chuyện có ý nghĩa, và nhầm lẫn cuộc sống với một cái gì đó to lớn có hai chân. Không: cuộc sống di động trên một biên độ vô cùng rộng lớn, và thế giới đang thất bại chính xác là vì không có cuốn tiểu thuyết nào có thể khiến cuộc chiến đấu vì thế giới có vẻ hấp dẫn ngang bằng với những cuộc tranh đấu giữa số ít những con người lạc lối. Nhưng giờ đây Ray cần tiểu thuyết hơn bất kỳ ai. Những nhân vật chính, nhân vật phản diện, và nhân vật phụ mà vợ anh đọc cho anh mỗi buổi sáng đều hay hơn sự thực. Dù tôi không có thực, họ nói, và không có gì tôi làm có thể tạo ra chút khác biệt nào, nhưng, tôi băng qua mọi khoảng cách để ngồi bên bạn trong chiếc giường bệnh này, làm bạn với bạn, và thay đổi trí tuệ của bạn.

Sau hàng chục nghìn trang, họ quay trở lại với Tolstoy và giờ đã dấn được vài phân vào Anna Karenina. Dot tiếp tục câu chuyện mà không có dấu vết nào của sự tự ý thức hay sự hổ thẹn, không có dấu hiệu nào rằng nghệ thuật hay cuộc đời đã tham gia cùng một lớp học vẽ. Và điều này, với Ray, là niềm vui to lớn nhất mà tiểu thuyết mang lại: bằng chứng cho thấy thứ tệ nhất mà hai bọn họ đã làm với nhau chính là thêm một câu chuyện nữa đáng để đọc cùng nhau, vào cuối ngày. Khi cô đọc, mí mắt anh khép lại. Chẳng mấy chốc anh thâm nhập vào cuốn sách, nấp ở lề trang sách, một nhân vật nhỏ xíu mà số phận không gây ảnh hưởng gì đến các nhân vật chính trong truyện. Anh thức giấc khi nghe thấy âm thanh đã ru anh vào giấc ngủ suốt một phần ba thế kỷ: tiếng ngáy của vọ anh. Và anh lại một mình làm một việc anh đã phải làm suốt sáu tiếng một ngày, hằng ngày trong cuộc đời mới thấy này: nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ ra sân sau.

Một con chim gõ kiến chuyền cành trên một cây sồi sáng rực, nhồi hạt vào một cái rãnh trên thân cây. Hai con sóc đu mình theo những vòng xoắn ốc tít mòng lên thân của một cây đoan rụng lá. Những đám bọ đen nhỏ cuồn cuộn cuốn qua những ngọn cỏ, bối rối trước cái lạnh đang ùa về. Một bụi cây mà anh và Dorothy trồng có lẽ đã từ nhiều năm trước đang kết những cụm hoa vàng xù xì, dù rằng tất cả lá của nó đã chết từ lâu. Rất kịch tính đối với một người bị liệt. Gió thổi ra những lời tán gẫu, cành của tất cả những cây kỷ niệm ngày cưới của nhà Brinkman rung rinh, bị xúc phạm. Sự nguy hiểm có ở khắp nơi, sự sốt sắng, sự gian díu, hành động ngồi dậy chuyển động chậm, những thay đổi cố hữu của mùa vốn đã từng quá chậm để có thể nhận thấy mà giờ đây phóng vụt qua giường của anh nhanh đến vô lý.

Dorothy tỉnh giấc vì tiếng thở mạnh của chính mình. “Ôi! Xin lỗi, Ray. Em không có ý định bỏ rơi anh.”

Anh không thể nói với cô. Không ai từng có thể bị bỏ rơi, không ở đâu, không bao giờ. Câu chuyện giao hưởng gây thương tích, bốn chuông cảnh báo, kịch cỡ vang lên khắp xung quanh họ. Cô không có ý niệm nào, và chẳng có cách nào để anh nói cho cô biết. Các sân vườn văn minh hóa đều giống nhau. Mọi sân vườn hoang dã thì hoang dã theo cách riêng của nó.

ĐỒNG Hồ cửa hàng trăm triệu máy tính kết nối với nhau chuẩn bị chuyển sang những con số mà chúng đã không được thiết kế để phù hợp. Mọi người đang dự trữ hầm rượu của họ cho ngày kết thúc của Thời đại Thông tin. Douglas không biết thực sự khi nào thiên niên kỷ kết thúc. Nơi anh đang ở lúc này, không gì lớn hơn một tuần có ý nghĩa nhiều. Ánh sáng ban ngày của những ngày này chỉ kéo dài vài giờ, tuyết dày sáu feet, và ngay cả nhiệt độ ban trưa cũng sẽ giật đứt một số lông tay của bạn. Tất cả những gì Douglas biết, các máy tính đã trở nên bị loạn và đánh sập cấu trúc hạ tầng của toàn bộ thế giới. Sâu trong một căn nhà nhỏ của Cục Quản lý Đất đai tại nơi ẩn mình của anh ở Montana, anh sẽ là người cuối cùng biết.

Anh tỉnh giấc khi lửa đã tắt và anh phải chọn giữa nhóm lại hoặc là chết lạnh. Anh bật chui ra khỏi túi ngủ trong bộ dạng đang mặc quần nỉ dài, giống như một cái gì đó chui ra từ trong cái kén dù chưa thoát được ra khỏi giai đoạn ấu trùng. Anh mặc thêm chiếc áo phao dài, nhưng ngón tay anh tê đến mức mất mười lăm phút đáng sợ mới làm được cho mấy nhánh thông cháy lên. Anh ho hai bàn tay trên lửa giống như hai miếng bánh S’mores, cho tới khi anh có thể gập các ngón tay trở lại. Bữa sáng là hai quả trứng, ba lát thịt xông khói Viking, và một khoanh bánh mỳ cũ được nướng trên lò củi.

Ở bên ngoài mái hiên, anh quan sát thị trấn này. Những mặt trước nhà ốp gỗ nâu xám rải rác trên các sườn đồi phủ tuyết phía dưới. Khách sạn ba tầng đổ nát, cửa hàng bách hóa rỗng toang, phòng khám bệnh và tiệm cắt tóc, quán giải trí và quán bar: tất cả là của anh. Ở cao trên một đỉnh núi phía trên, những cây thông vỏ trắng. Tuyết phủ kín lối đi của các vị khách - nai sừng tấm, hươu, thỏ lớn - vở kịch cao trào mà anh đang học để đọc. Anh thấy bài thơ tuyết trắng bổ nhào của một con chim ăn thịt nơi nó vồ xuống, chộp con mồi, rồi biến mất vào chân trời vô định.

Người chăm sóc mùa đông cho Thị trấn Ma Thân thiện nhất của miền Tây: anh đã làm một số công việc vô nghĩa trong cuộc đời, nhưng không bao giờ vô nghĩa bằng thế này. Những con đèo ở cả hai bên sườn - hai mươi dặm ổ gà đá sỏi dốc đúng - tắc nghẽn trong tuyết. Sẽ không có ai lên đây cho tới tận cuối tháng Năm. Được thôi: Một điều gì đó có thể xảy ra với cái đồng hồ của anh. Động đất, có thể, hoặc sao băng. Người ngoài hành tinh. Dù có chuyện gì thì anh cũng không thể làm gì được. Ngay cả chiếc xe tả của Cục Quản lý đất đai có bàn cào tuyết của anh cũng chẳng đi đâu được trong một thời gian dài.

Núi non rất cao, đất dốc và mỏng, cây cối từng cây một bị quật đổ liên tục, và tất cả các mở kim loại quý đã cạn kiệt. Tất cả những gì còn lại để bán ở đây là nỗi hoài niệm, quá khứ chưa xa khi mà tương lai dường như đã là câu trả lời cho tất cả mọi thứ mà loài người có thể từng muốn. Khi mùa hè đến, anh sẽ mặc quần áo thợ mở và kể chuyện với những người khách du lịch đã dũng cảm lên những con đường ép ván để thâm nhập vào một nơi mà chỉ riêng sự xa xôi cũng khiến nó đáng bị loại khỏi danh sách cần chinh phục. Trẻ con sẽ nghĩ anh là một người một trăm năm mươi tuổi. Các gia đình sẽ tạt qua chụp vài kiểu ảnh trên đường họ lên mạch phun nước Old Faithful hay công viên quốc gia Glacier hoặc một nơi nào đó đáng để ý. Anh ngồi bên bàn bếp lung lay và nâng lên kho báu mà anh giữ bên cạnh lọ muối đã vón cục. Nó trồi lên từ mùa thu năm trước, một cái lọ màu nâu vùi nửa mình dưới đất bên cạnh giàn khung phía trên khu mỏ. Thứ còn lại của cái nhãn dán đã cũ cho thấy một số hình người Trung Quốc, trông giống như những đồ vật từ các đại dương xa xưa của hành tinh. Cái chai này là một bí ẩn - điều nó nói, thứ nó chứa đựng. Nó thuộc về một trong số nhiều người lao động Trung Quốc đã từng làm việc trong khu mở này và làm công việc giặt là. Anh nheo mắt nhìn các nhân vật và thì thầm, “Họ làm gì?” Một câu mà người bạn của anh đã dạy anh - anh không thể nhớ ở đâu hay khi nào. Nó có liên quan đến Trung Quốc và cha cô. Mỗi khi anh nói câu đó cô đều cười to. Anh đã cố để nói thường xuyên.

Anh đặt cái chai xuống và bắt đầu nghi thức buổi sáng: bài thánh kinh anh đang viết cho tín ngưỡng mới của sự hèn mọn khổ sở của mình. Từ đâu đó từ giữa tháng Mười một, anh đã bắt tay vào viết Tuyên ngôn của Thất bại. Những tờ giấy khổ tiêu chuẩn màu vàng viết nguệch ngoạc bằng bút bi chất đống trên cái bàn áp vào tường. Chúng giữ câu chuyện về cách anh trở thành kẻ phản bội giống loài của mình. Anh không ghi lại cái tên nào ngoại trừ tên của các khu rừng. Nhưng tất cả ở đó: Tất cả mọi chuyện đã đột ngột trở nên rõ ràng như thế nào. Nhận thức đã biến thành cơn giận dữ ra sao. Anh đã gặp những người cùng chí hướng và đã nghe cây nói như thế nào. Anh viết về điều họ đã hy vọng làm được và cách họ đã cố gắng thực hiện. Anh nói họ đã sai ở đâu và tại sao. Đam mê tràn ngập, và đầy ắp chi tiết, nhưng không có cấu trúc lắm. Câu chữ của anh là cành rồi là chồi rồi lại là cành cây. Nó khiến anh bận rộn. Nó đánh bại cơn mệt mỏi sống trong căn nhà nhỏ này, dù có những ngày không được như thế.

Hôm nay anh đọc lại các nỗ lực của ngày hôm qua - hai trang liên quan tới chuyện quan sát Mimi của anh bị chấm giẻ mang lửa. Rồi anh cầm cây bút bi lên và đưa từng hàng trên trang giấy. Cảm giác giống như anh lại đang treo mình trên các cây, lên xuống các con đường viền quanh một sườn đồi. Vấn đề là, trong khi anh viết về đối tượng chung là Thất bại, anh không thể không đả động tới chủ đề gần có liên quan là Cái quái gì đã trở nên sai trái với nhân loại. Cây bút đưa; các ý tưởng hình thành, như thể bởi bàn tay thần linh. Chúng ta đang thanh khoản trái phiếu tiết kiệm hàng tỉ năm của hành tinh và ném nó vào những thứ phô trương giàu có. Và điều mà Douglas Pavlicek muốn biết là tại sao điều này quá dễ thấy khi ta ở một mình trong một căn nhà nhỏ trên sườn đồi, mà lại hầu như không thể tin một khi ta bước ra khỏi ngôi nhà đó và gia nhập vào mấy tỉ người đang nhân đôi tỉ lệ đặt cược so với nguyên trạng.

Anh dừng lại để nhóm lại lửa. Anh tìm thêm thức ăn - bơ lạc trên bánh quy và một củ khoai tây nướng ngay trên ngọn lửa gỗ thông đang cháy. Rồi đến lúc đi bộ xuống thị trấn để đảm bảo ma quỷ đang tiếp đãi bản thân chúng tử tế. Anh mặc thêm quần áo và đi vào đôi giày đi tuyết cũ. Đôi chân có màng lớn - sự thích nghi với mùa đông của anh - biến anh trở thành một sinh vật lai, nửa người, nửa thỏ khổng lồ đứng thẳng lên. Ra ngoài trong cơn mưa tuyết, mím chặt từng bước đi từ núi xuống vỏ bọc tàn tích của thị trấn đó, anh bị lún chân chệnh choạng hơn chục lần.

Không có gì nhiều trên Phố Trung tâm. Anh kiểm tra các tòa nhà nghiêng ngả, các tủ trưng bày và các ô triển lãm của chúng, xem có dấu hiệu nào về sự làm tổ, những vết gặm nhấm, hay sự đào hang không mong muốn nào hay không. Tất cả là vẽ việc ra để làm. Sự thật là, ông chủ người tộc Crow đã cho anh dùng căn nhà gỗ đó trong mùa đông là bởi vì nó chẳng khiến Cục Quản lý Đất đai mất mát gì, và Douggie tự sáng tạo ra công việc kiểm tra hằng ngày này để nhận sự miễn phí đó. Từ trên ban công của một khách sạn, anh hô lên, “Nơi này chết rồi.” Chữ rồi vọng khắp dãy Garnet Range hai ba vòng rồi tắt. Anh trèo lại lên con đường dài, dọc theo dãy núi, để có thể đi thêm nửa dặm thể dục nữa và để nhìn ra hẻm núi. Trong một ngày trời trong như hôm nay, anh có thể nhìn thấy những trảng cây lạc diệp từng cách xa mấy dặm. Những cây thông rụng lá vào mùa đông.

Anh lang thang bước, với đôi giày đi tuyết, cảm nhận về nơi có thể là đường mòn. Một cuốc đi chật vật quanh con đường chữ S đầu tiên, và thung lũng mở ra phía dưới. Dưới vách núi lỏm chỏm đó trải ra một thảm cây dày tới nỗi thật không thể tin được còn có trên thế giới, thực sự, sờn đến mức sắp đứt. Những đống bột điêu khắc ghi những cành cây nặng trĩu xuống thành những vành lòe xòe trên mặt đất. Những quả màu tím chĩa thẳng lên của các cây linh sam đã phân rã thành các hạt giống. Nhưng các cụm quả treo trên các đỉnh cây vân sam, những quả trứng mũ trắng thì quên rơi xuống. Cây bách xù mọc thẳng ra từ phiến đá thô nguyên vẹn. Những cây vân sam già đứng phán xét phía trên nó.

Anh đi tới gần vách núi để có nhìn rõ hơn, và cái mà anh tưởng là núi đá vũng chắc sụp đổ phía dưới anh. Tảng đá tuyết phủ đầu tiên trên bức vách thẳng đứng đó bật nảy anh lên không trung, suýt ngã lộn nhào xuống độ sâu một nghìn feet. Anh chới với vung một chân ra và đạp vào trụ thân một cây vân sam trước khi bị trượt nhào xuống con dốc phủ tuyết. Hai trăm feet đá dăm đổ xuống trước mặt anh. Anh hét lên và cố gắng ôm chặt lấy một thân cây cứu thế. Lần thứ hai trong đời, cây cứu mạng anh.

Máu đóng băng trên khuôn mặt nham nhở của anh. Cánh tay anh bị trật khỏi khớp vai, rất sai. Tuyết phủ chăn lên người anh. Anh nằm im, chẳng biết gì hơn một cây vân sam bọc tuyết. Bầu trời tối dần. Thứ đã có vẻ là cái rét giờ đây nhường chỗ cho cái lạnh sâu tê tái thuồng trục. Não anh phập phồng và anh mở mắt nhìn màu trắng bao la đang muốn giết anh. Anh nhìn lại lên gò đá và, đập vào mắt là một vách đá thẳng đứng nhẵn thín, anh nghĩ, Cho tôi nghỉ ở đây một chút. Cuối cùng, chính người phụ nữ đã chết ấy, quỳ xuống bên cạnh anh và vuốt nhẹ lên mặt anh, là người đã vực anh dậy. Anh lúc này không phải là chính anh.

Âm thanh từ chính giọng nói của anh - “Tôi không phải sao?” - thức tỉnh anh. Những ngón tay vuốt ve của người phụ nữ đã chết hóa ra là một nhánh của cây vân sam đã bao bọc lấy anh khi anh rơi. Mũi anh vỡ và vai trật khớp. Cái chân bị thương trước đây của anh lúc này vô dụng. Đêm và lạnh rơi xuống rất nhanh. Vách đá vút lên một con dốc tám mươi feet phía trên anh. Nhưng các sự kiện không có ý nghĩa gì. Cô nói với anh nhiều hơn, trong bốn từ nữa. Anh chưa hết đâu.

QUA TUỔI NGHỈ HƯU, Patricia vẫn làm việc giống như không có ngày mai. Hoặc là giống như ngày mai vẫn có thể xuất hiện, nếu có đủ người tham gia làm việc. Bà có hai công việc, cái này là đối lập của cái kia. Trong công việc mà bà ghét, bà đứng đằng sau các bục phát biểu, nói lắp bắp giống như một con gõ kiến lưng đen đang mổ một cây thông. Bà dẫn ra một tiểu đoàn những câu trích dẫn rất kêu. Blake: Kẻ ngốc không thấy cùng cái cây mà người khôn thấy. Auden: Một văn hóa không tốt hơn cánh rừng của nó. Mười phần trăm số khán giả của bà cho ngân hàng hạt giống của bà hai mươi đô la.

Nhân viên bà bảo bà đừng làm thế, nhưng bà vẫn dẫn chứng các con số. Không phải Shaw đã đúng khi nói dấu hiệu của trí thông minh thực sự là cảm thấy cảm động trước các con số thống kê hay sao? Mười bảy loại rừng chết vì sâu bệnh, mọi thứ tồi tệ hơn là do tình trạng ấm lên. Hàng nghìn dặm vuông mỗi năm chuyển thành đất phát triển. Thiệt hại ròng hằng năm một trăm tỉ cây xanh. Một nửa loài cây thân gỗ trên hành tinh, biến mất vào cuối thế kỷ mới này. Mười phần trăm khán giả của bà cho bà hai mươi đô la.

Bà bàn luận về kinh tế, môi trường kinh doanh tốt, thẩm mỹ, đạo đức, tinh thần. Cô kể cho họ nghe các câu chuyện, với kịch tính, hy vọng, giận dữ, tội ác, và những nhân vật mà ta có thể yêu. Bà kể cho họ nghe về Chico Mendes. Bà kể cho họ nghe về Wangari Maathai. Một phần mười cho bà hai mươi đô, và một thiên thần cho bà một triệu. Chừng đó đủ để bà tiếp tục công việc bà yêu: bay vòng quanh thế giới, vô tâm thải ra những lượng khí thải nhà kính vào không khí, thúc đẩy nhanh ngày tàn của hành tinh, thu thập hạt giống và bắt đầu từ những cây sẽ biến mất bất cứ lúc nào.

Hồng mộc Honduras, sồi Hinton ở Mexico. Cây gumwood ở St. Helena. Tuyết tùng từ Mũi Hảo Vọng. Hai mươi loài cây monster kauri, thân dày mười feet và tán lá rộng một trăm feet hoặc hơn. Một cây alerce ở nam Chile, lâu niên hơn cả Kinh thánh nhưng vẫn sản sinh hạt giống. Một nửa các loài ở Úc, phía Nam Trung Quốc, và một vành đai ngang châu Phi. Những dạng sống lạ lùng ở Madagascar chẳng còn xuất hiện ở đâu khác nữa trên hành tinh. Rừng đước ngập mặn - nơi nuôi dưỡng biển và là kẻ bảo vệ bờ biển - đang biến mất ở một trăm đất nước. Borneo, Papua New Guinea, Moluccas, tất cả ngoại trừ một góc của Sumatra: những hệ sinh thái năng suất cao nhất trên Trái Đất, đang nhường chỗ cho những đồn điền dầu cọ. Bà đi giữa khu rừng còn sót được tỉa tót, trống trải của đất nước Nhật Bản khai thác gỗ quá đà. Bà đi qua những cái cầu rễ cây sống ở sâu trong miền Đông Bắc Ấn Độ - Ficus elastica - đa búp đỏ được uốn để bắc qua những dòng sông qua nhiều thế hệ tộc người trên núi Khasi - tới những cánh rừng của những người thổ dân đang dần bị thay thế bằng các loài thông phát triển nhanh. Bà đi qua những vùng cây gỗ tếch Thái Lan trước đây, nay đã bị trao cho những cây bạch đàn thon dài thu hoạch ba năm một lần. Bà nghiên cứu những gì còn sót lại của vô số mẫu đất thông pinyon miền Tây Nam nay đã bị cày lên để trồng lúa mì. Những cánh rừng hoang dã, đa dạng, chưa được xếp loài đang biến mất. Người địa phương luôn nói với bà cùng một điều: chúng tôi không muốn giết những con ngỗng vàng, nhưng đó là cách duy nhất ở vùng này để có trứng.

Báo chí yêu mến công việc của bà, rất tuyệt vọng và đường cùng. “Người phụ nữ đi cứu hạt giống.” “Vợ của Noah.” “Dự trữ cây cho một ngày tốt đẹp hơn.” Bà có sự chú ý của thế giới trong mười lăm phút. Nếu bà đặt ngân hàng của mình ở một trong những pháo đài sâu trong lòng đất ở cục Trái Đất, bà có thể thăng hạng lên nửa giờ. Nhưng một nhà kho hình hộp trong những chân đồi trên cao của dãy Front Range thì hầu như không đáng một video.

Bên trong, cái hầm cảm giác giống như một nhà nguyên pha trộn với một thư viện công nghệ cao. Hàng nghìn cái hộp, được sắp xếp và dán nhãn ngày tháng, giống loài, và địa điểm, nằm trong các tủ ngăn kéo được đánh mục lục làm bằng kính và thép không gỉ, giống như các hộp gửi đồ an toàn ở trong một ngân hàng thật, chi khác là có nhiệt độ âm hai mươi. Đứng trong hầm, Patricia có cảm giác lạ lẫm. Bà đang ở trong những vùng đa dạng sinh học nhất trên Trái Đất, bao quanh là hàng nghìn hạt giống đang ngủ, được làm sạch, sấy khô, sàng lọc, chụp X-quang, tất cả đang chờ chỉ cần gặp một chút băng tan hoặc nước để cho DNA của chứng thúc tỉnh và bắt đầu tái tạo không khí thành gỗ. Các hạt giống đang ngâm nga. Chúng đang hát điều gì đó - bà tin chắc là như vậy - ngay trong tầm nghe được.

Ký giả hỏi tại sao nhóm của bà, khác với tất cả các ngân hàng hạt giống NGO khác trên hành tinh, không tập trung vào các cây sẽ có ích cho con người, đối phó thảm họa. Bà muốn nói: Có ích chính là thảm họa. Thay vì thế, bà nói, “Chúng tôi đang dự trữ những cây mà lợi ích của chúng còn chưa được khám phá.” Các nhà báo phấn khỏi khi bà đề cập tới các điểm nóng về sự biến mất của rừng, mỗi nơi có nguyên nhân của riêng nó: mưa axit, ri sắt, loét thân cây, thối rễ, hạn hán, xâm lấn, nông nghiệp thất bại, côn trùng đục khoét, nấm gây hại, sa mạc hoá… Nhưng mắt họ đờ ra khi bà kể cho họ nghe tất cả các mối đe dọa này gây ra cái chết chỉ bởi một thứ duy nhất: sự sửa đổi không ngừng của bầu khí quyển do con người đốt cháy những thứ từng mang màu xanh. Các báo ra hàng tháng, hàng tuần, hàng ngày, hàng giờ và hàng phút đều viết về bà và chuẩn bị cho những thứ mới mẻ hơn tiếp theo. Một số người đọc được và gửi cho bà hai mươi đô la. Và bà được tự do để tìm kiếm những cánh rừng đang biến mất tiếp theo cho một loài cây đang dần tàn tiếp theo.

Ở MACHADINHO D’OESTE, Patricia học về những điều mà một khu rừng có thể làm. Các luồng ánh sáng chiếu xuyên qua các thân cây phủ đầy dây leo, những động cơ sống hoang dã nhất trên Trái Đất. Các loài bít kín mọi bề mặt, làm sống lại phép ẩn dụ trung tâm của từ bewilderment - nghẹn lời. Tất cả đều là dây tua rua, dây bện xoắn và dây xếp nếp, có vảy và gai. Cô chật vật để tách bạch các cây với các sợi lớn dây leo, phong lan, những trảng rêu, cây dứa cảnh nến, những vồng dương xỉ khổng lồ, những thảm tảo.

Có những loài cây ra hoa và kết quả trực tiếp từ thân của chúng. Những cây kapok kỳ lạ cao bốn mươi feet chìa ra những cành cây đủ loại từ có gai đến sáng bóng hay mịn nhẵn, tất cả đều từ cùng một thân cây. Những cây tường vi myrtle rải rác trên khắp khu rừng nở bung hoa cùng một ngày. Bertholletia mọc ra những quả lớn tròn vo pinata bên trong đầy ắp hạt. Cây cối tạo ra mưa, nói cho biết thời gian, dự báo về thời tiết. Những hạt giống trong những hình dạng và màu sắc gớm ghiếc. Những mẩu vỏ hạt hình dao găm hoặc kiếm. Rễ như cà kheo và rễ như con rắn và rễ nổi lớn giống như công trình điêu khắc và rễ hít thở không khí. Các hợp chất chạy tán loạn. Sinh khối rất điên rồ. Chỉ cần chao cái vợt một cái là đủ để nó đầy ắp hơn hai mươi loài bọ. Những thảm kiến dày tấn công bà vì chạm vào những cái cây cho chứng thúc ăn và chỗ trú.

Ở đây, một tuần là bảy ngày dài chính xác. Đội của Tiến sĩ Westerford đếm từ bình minh đến hoàng hôn, một ngày làm việc có thể khiến bất kỳ người phụ nữ ở tuổi sáu mươi nào kiệt sức. Nhưng bà sống vì điều này. Ngày hôm qua họ đếm được hai trăm mười ba loài cây khác nhau trong khoảng hơn bốn héc ta một chút, mỗi một sản phẩm của Trái Đất đều phát ra suy nghĩ. Ở một khối sống dày đặc như vậy, sẽ nguy hiểm nếu sống dựa vào thứ thất thường như gió. Hầu hết mỗi loài cây đều có sự thụ phấn riêng của chúng. Một vấn đề nhỏ của sự đa dạng điên rồ này là sự phân tán. Đối tượng nhận phấn hoa gần nhất có thể ở cách xa một dặm hoặc hơn. Mỗi một ngày, họ đi qua rất nhiều loài mà không có ai trong đội có thể định danh. Những dạng mới và chưa được biết của sự sống: Lại thêm một thứ chỉ Chúa mới biết là gì. Hàng nghìn loại cây bản địa trải khắp vùng lưu vực sông phân nhánh. Bất cú cái nào trong số các nhà máy hóa chất sắp biến mất này đều có thể biết cách tạo ra thuốc chế ngự HIV tiếp theo, siêu kháng sinh tiếp theo, thuốc tiêu hủy khối u tiếp theo.

Không khí ẩm đến nỗi khiến Patricia ướt từ trong ra ngoài. Việc đi bộ rất khó khăn, trong những lùm cây dây leo chằng chịt này. Mỗi inch lập phương đều bận rộn chuyển hóa đất và mặt trời thành hàng nghìn loại khí mà các nhà hóa học có thể chẳng bao giờ có cơ hội để phân loại. Đội quân cạo mủ cao su của bà tỏa ra quanh bà như một mạng lưới cảnh sát dò tìm vết tích, để tìm kiếm tám nghìn loài của Amazon có thể sẽ biến mất trước khi bà kịp đưa chúng vào những căn hầm có kiểm soát nhiệt độ ở Colorado.

Cách đây hơn một thế kỷ, một người Anh đã buôn lậu các hạt cây cao su ra ngoài đất nước này, dẫn đến sự tàn phá Brazil. Giờ đây hầu hết cao su tự nhiên trên thế giới đều mọc ở Nam Á, trên vùng đất đã phát quang những loại cây khác mà giờ đây không ai còn có thể phân loại đầy đủ được nữa. Điều đó khiến người Brazil cảnh giác với bà - một nhà sưu tầm người Anglo nữa, đến đây để ăn trộm các hạt giống của họ. Nhưng vào buổi chiều khi đội của bà phát hiện ra những cây gụ và cây ipe cổ thụ bị chặt ra thành mảnh, họ tìm đến. Họ chưa bao giờ thấy ai mà không phải họ, khóc thương cho cây cối.

Người của bà đều được trang bị vũ khí, dù chỉ là những khẩu súng trường thế kỷ mười chín từ đời cụ kỵ của họ. Pistoleiro - những tay súng đi lảng vảng quanh suối và các con đường trong đêm. Những kẻ đi săn trộm giết bất cứ ai đi vào giữa chúng và mùa màng của chúng. Bạn không cần phải thuộc một phần trăm số người trong đó có Chico Mendes, chết vì rừng. Một trong những người dẫn đường tốt nhất của bà, Elizeu, kể cho bà một câu chuyện, qua Rogerio, người thông dịch, vào một đêm bên lửa trại. “Bạn của tôi, đi cạo mủ từ hồi nhỏ - bụp! Đầu bị giật đứt bằng một mảnh dây. Chỉ để bảo vệ khu rừng nhỏ của cậu ấy.”

Elvis Antônio gật đầu, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa. “Chúng tôi tìm thấy một người khác, từ ba tháng trước. Thi thể cậu ấy đã bị nhét vào trong một cái hang thứ ở dưới rễ của một cái cây to.”

“Đó là người Mỹ,” Elizeu bảo với bà.

“Người Mỹ? Ớ đây?” Ngớ ngẩn. Ngớ ngẩn. Bà nhận ra vậy, ngay khi những từ đó trượt ra khỏi miệng bà.

“Người Mỹ tạo ra thị trường. Bạn mua hàng lậu. Bạn sẽ trả cho mọi thứ! Và cảnh sát của chúng tôi là một trò đùa. Họ nhận phần ăn chia của họ. Họ muốn cây chết. Điều kỳ diệu là không phải tất cả chúng tôi đều buôn lậu. So sánh với việc cạo mủ cao su ư? Thật nực cười.”

“Thế tại sao anh không bỏ cuộc và đi săn trộm?”

Elizu mỉm cười, tha thứ cho câu hỏi. “Bạn có thể cạo mủ một cây cao su trong suốt nhiều thế hệ. Nhưng bạn chỉ có thể chặt trộm một cái cây đúng một lần.”

Bà chìm vào giấc ngủ dưới cái màn, nghĩ về Dennis. Bà ước ông có thể thấy nơi này, thật giống với một cuốn sách về những thế giới đã mất của một cậu bé. Ông đang chờ, ở ngân hàng hạt giống tại Colorado. Ông sẽ không bao giờ quen được với bang đó. Nó dường như quá vui vẻ, lạnh, và khô - kiểu khắc nghiệt nhất của những xứ sở kỳ quái. Ông thấy nó thiếu tự nhiên, tất cả dương xỉ và ánh nắng. Không có cây nào ở ngoài này cao hơn một cây độc cần chưa phát triển hết ở nhà mình. Ông vui khi làm việc duy trì cơ sở này, đảm bảo rằng các hầm không dao động nhiệt độ hay độ ẩm. Nhưng chủ yếu ông dành năm tháng nhiều mảnh ghép của mình để chờ đợi người người đi săn hạt giống trở về với những chiếc lọ nhỏ đựng đầy những loài mà chẳng bao lâu nữa sẽ không còn nơi nào tồn tại ngoài những mộ tẩm được kiểm soát nhiệt độ của họ. Ông không bao giờ phản đối, nhưng dự án này không thực sự thuyết phục ông. Em nghĩ chúng sẽ được giữ bao lâu ở đó, em yêu?

Bà kể với ông về hạt giống cây chà là Judea, hai nghìn năm tuổi, được tìm thấy ở cung điện của Herodes Đại đế ở Masada - một quả hạt từ một cây mà có lẽ chính Jesus đã thử, một loại cây mà Muhammad đã nói là làm từ cùng một thứ đã tạo nên Adam. Nó đã nảy mầm, mấy năm trước. Bà nói với ông về những hạt cây hoa campion, bị chôn vùi nhiều mét dưới lớp băng vĩnh cửu của Siberia. Đang phát triển, sau ba mươi nghìn năm. Ông chỉ xuýt xoa và lắc lắc đầu. Nhưng ông không bao hỏi điều ông muốn hỏi, điều mà bà biết hẳn là ông muốn hỏi. sẽ là người trồng lại?

BÀ THỨC DẬY VÀO BÌNH MINH trước một màu xanh kín đặc. Ánh sáng xuyên qua những lớp dây leo mục ruỗng, giống như bức ảnh trên bảng tin của một nhà thờ đang trở lại theo tà giáo. Câu hỏi không hỏi của Dennis hiện ra trong đầu bà. Sự sống ngồn ngộn như nêm bên ngoài cái lều của bà khiến bà băn khoăn có gì tốt trong việc cứu một loài mà không có tất cả các thực vật biểu sinh, nấm, các tác nhân thụ phấn, và các loài cộng sinh khác mà, trong công sự của ngày, mang lại cho một loài một ngôi nhà thực sự. Nhưng thứ thay thế là gì? Bà nằm trong túi ngủ một lát, hình dung khu trại như một đồng cỏ - một trăm hai mươi dặm vuông mới làm đất trồng trọt mỗi ngày. Và rừng đang bị thu hẹp lại chỉ khiến thế giới nóng lên, khiến cho hy vọng càng khó khăn.

Trở lại đường mòn sau bữa sáng, họ đến bên một đống khúc gỗ mới cắt. Đoàn tìm kiếm tản ra. Mấy phút sau, súng nổ, theo sau là một chiếc mô tô gầm gừ lao qua rừng cây thấp. Elvis Antônio quay trở ra từ bụi rậm, vẫy vẫy tay ra hiệu nguy hiểm đã qua. Patricia theo anh xuống một nơi gần xấp xỉ như một con đường chạy lên một khu trại tạm bợ của pistoleiro - xạ thủ đã rút đi vội vã. Chẳng có gì nhiều còn lại ngoài một đống quần áo dầu mỡ, một túi bột sắn mốc, mấy mảnh bánh xà phòng, và một cuốn tạp chí phụ nữ tiếng Bồ Đào Nha đã được chuyền tay quá nhiều lần. Họ đốt cái trại đó. Ánh lửa mang lại cảm giác thật tốt - một sự đảo ngược màu cam nhỏ xíu của tiến trình.

Họ đi bộ dọc theo một lòng suối đã cạn nước tới một đồng bằng mà những người dẫn đường thề là sẽ thỏa mãn mọi mong muốn về hạt giống hiếm của Patricia. Bà dừng lại bên đường mòn để xem xét trái cây lạ. Annonas - mãng cầu xiêm, nê rừng, na vô cùng đa dạng và nhiều giống lai, mỗi loài một giống khác nhau. Một cây Lecythis kỳ dị phủ chụp bà với mùi hôi thối kinh khủng. Có những thân cây bông gòn gai bao phủ toàn thân với vũ khí là những cái gai. Các lọ sưu tập được đưa ra. Họ tìm thấy một cây Bombax - cây hoa gạo rất ấn tượng đang nở hoa, một cây không giống với bất kỳ cây nào từng được ghi lại.

Elvis Antônio xuất hiện bên cạnh bà, cười to và giật tay áo bà. “Lại xem!”

“Được thôi. Một phút nữa nhé!”

“Ngay bây giờ thì hơn!”

Bà thở dài và đi theo, vào trong một mê trận cành cây và dây leo điên rồ. Bốn người trong số họ đứng sững sờ trước một cái cây to với những rễ nổi giống như những nếp gấp rủ xuống của tấm vải. Bà thậm chí không thể đoán ra họ của cây, chứ đừng nói tới chi hay loài. Nhưng vấn đề loài không phải là thứ khiến họ chú ý. Bà đi ra từ phía sau những người đàn ông đang kinh ngạc và giật mình sững sờ. Không ai nói với bà đi xem cái gì. Một đứa trẻ lẽ ra cũng đã có thể đoán ra. Một người cận thị chột một mắt. Trong các ụ và các vòng xoáy, các cơ bắp cuộn lên từ thân cây trơn nhẵn. Đó là một con người, một phụ nữ, thân thể cô ta vặn xoắn, hai cánh tay nâng lên hai bên trong những cành cây nhỏ. Khuôn mặt, tròn xoe với vẻ kinh sợ, nhìn trân trân hoang dại khiến Patricia phải quay đi.

Bà bước lùi lại, để nhìn các dấu chạm trổ. Không biết người điêu khắc nào mà lại đổ chừng này kỹ năng và nỗ lực vào trong một thứ xa xôi tới mức có thể sẽ không bao giờ được khám phá ra như thế này? Nhưng đó không phải là chạm trổ. Không có bất cứ dấu hiệu nào của việc chà nhám hay đẽo mộc. Chỉ có những đường viền của cây. Mấy người đàn ông hét lên rào rào sôi nổi bằng ba thứ tiếng. Một trong các nhà thụ mộc học tuyên bố, với rất nhiều ra dấu bằng tay, rằng cái cây này chẳng hiểu vì sao đã bị cắt ngọn để trông giống một người phụ nữ. Những người cạo mủ cao su cười chế nhạo. Đó là Đức mẹ đồng trinh, đang nhìn vào thế giới suy tàn này với nỗi khiếp sợ.

“Pareidolia,” Patricia nói.

Người dịch không hiểu từ đó. Patricia giải thích: Sự thích nghi khiến con người thây con người trong mọi thứ. Khuynh hướng chuyển hai hốc mắt cây và một đường rãnh thành khuôn mặt. Người dịch nói rằng thứ này không có trong tiếng Bồ Đào Nha.

Patricia nhìn kỹ hơn. Hình dong ấy ở đó. Một người phụ nữ trong phút hấp hối, trợn mắt và đưa tay lên trong cái khoảnh khắc ngay trước khi nỗi sợ hãi biến thành nhận thức. Khuôn mặt ấy có thể đã được hình thành bởi sự xuất hiện ngẫu nhiên của bệnh sâu thân cây, với những con bọ là các bác sĩ phẫu thuật thấm mỹ. Nhưng cánh tay, bàn tay, ngón tay: sự giống nhau của gia đình. Ấn tượng càng tăng mạnh hơn khi Patricia đi vòng quanh nó. Một con chó hẳn sẽ sủa trước thân hình uốn vặn này. Một đứa trẻ thì sẽ òa khóc.

Các huyền thoại trở lại với bà trên cao nguyên nhiệt đới này, những câu chuyện từ ấu thơ của chính bà và ấu thơ nhân loại. Bản dành cho thiếu niên, cuốn của Ovid, mà cha bà đã cho bà. Hãy để ta hát cho người nghe, về chuyện con người biến thành những loài khác như thế nào. Bà đã tình cờ gặp những câu chuyện tương tự như thế khắp nơi khi bà đi sưu tầm hạt giống - ở Philippines, Tân Cương, New Zealand, Đông Phi, Sri Lanka. Những người, trong thoáng chốc, nhấn chìm rễ cây và phát triển vỏ cây. Những cây, trong một thời gian, có thể nói, nhấc rễ lên, và di chuyển.

Từ đó trở nên thật kỳ cục, lạ lùng trong đầu bà. Huyền thoại. Huyền thoại. Một sự phát âm sai. Một sự dùng từ sai ngữ cảnh. Các ký ức đã được gửi chuyển tiếp từ những con người đang đứng bên các trụ người vĩ đại đã khởi phát đến tất cả những thứ khác đang sống. Những bức điện tín chúc hành trình may mắn được soạn bởi những người hoài nghi về lối thoát được lên sẵn kế hoạch đó, nói rằng, Hãy nhớ thứ này, suốt hàng nghìn năm sau kể từ hiện tại, khi các người chẳng thấy gì ngoài chính các người, bất cứ nơi đâu các người nhìn thấy.

Ngay trên thượng lưu sông, người Achuar - tộc người của cây cọ - hát cho vườn tược và những cánh rừng của họ, nhưng một cách âm thầm, trong đầu của họ, để chỉ linh hồn của cây cối có thể nghe. Cây cối là thân tộc của họ, với hy vọng, sợ hãi, và các quy tắc xã hội, và mục tiêu làm người của họ luôn là mê hoặc và quyến rũ những thứ màu xanh, để giành được chúng trong cuộc hôn nhân mang tính biểu tượng. Đó là những bài hát hôn lễ mà ngân hàng hạt giống của Patricia cần. Một nền văn hóa như thế có lẽ sẽ có thể cứu Trái Đất này. Bà chẳng nghĩ được gì nhiều khác để có thể làm điều đó nữa.

Camera được đưa ra khỏi các ba lô. Các nhà thực vật học và những người dẫn đường cùng chụp khắp nơi. Họ tranh luận về ý nghĩa của khuôn mặt. Họ cười trước con số tỷ lệ đáng kinh ngạc đó đối với bất kỳ thứ gì tình cờ phát triển chính xác giống như thế này, giống như chúng ta, từ thân gỗ vô tri. Patricia thực hiện đánh giá trong đầu. Tỷ lệ đó không là gì khi đem so với hai lần tung con xúc xắc vũ trụ to lớn đầu tiên: một lần là đưa vật chất trơ lên đỉnh sự sống, và một lần là đưa từ vi khuẩn đơn bào đến các tế bào phức hợp tới chỗ lớn hơn và phức tạp hơn gấp hàng trăm lần. So với hai khe vực đầu tiên này, thì khoảng cách giữa cây cối và con người chẳng là gì cả. Và vì sự đánh cược lạ lùng này có thể sản sinh ra bất cứ cáy nào, thì chuyện một cái cây có tạo hình giống Đức mẹ Đồng trinh có gì mà thần diệu?

Patricia cũng chụp ảnh, ghi lạ hình dong in khắc trên thân cây đó. Bà và các nhà sưu tập đóng gói một số mẫu để định dạng. Không có hạt giống. Họ đi tiếp để tiếp tục thu thập. Nhưng giờ đây mọi thân cây đều trông giống như một tác phẩm điêu khắc vô cùng giống thật quá phức tạp mà không nhà điêu khắc nào ngoài cuộc sống có thể tạo nên.

Bà không đưa ảnh cho ai ở Hầm Hạt giống xem, khi bà từ những chuyến lang thang trở về cơ sờ sáng rực ở bên ngoài Boulder đó. Nhân viên của bà, các nhà khoa học, hội đồng quản trị: không ai có ích gì cho huyền thoại. Huyền thoại là những sự tính toán sai lầm, các phỏng đoán của những đứa trẻ đã được ru ngủ từ lâu. Huyền thoại không phải là một phần trong hiến chương của tổ chức này.

Nhưng bà có cho Dennis xem. Bà cho Dennis xem mọi thứ. Ông ngửa đầu ra cười rạng rỡ. Dennis đáng tin cậy. Bảy mươi hai tuổi, vẫn có thể ngạc nhiên thích thú như một đứa trẻ. “Nhìn mà xem này! Ôi trời ơi!”

“Nhìn tận mắt người đó còn kỳ quái hơn.”

“Nhìn tận mắt ngươi đó. Chắc chắn rồi.” Ông không thể rời mắt. Cười. “Em biết không, em yêu? Em có thể dùng thứ này.”

“Ý anh là sao?”

“Làm một poster từ bức ảnh này. Đặt một chú thích phía dưới nó: Họ đang cố để khiến chúng ta chú ý.”

Bà thức giấc đêm đó, trong bóng tối, khi bàn tay to mềm của ông thõng quanh hông bà. “Dennis?” Bà giật cố tay ông. “Den?” Trong phút chốc, bà vùng dậy khỏi cánh tay mềm rủ đó và đứng bật lên. Căn phòng tràn ngập trong ánh sáng. Hai cánh tay dang ra, các ngón tay xòe, khuôn mặt bà cứng đờ trong nỗi kinh sợ mà ngay cả cái thân thể kia cũng phải quay mặt đi.

NGƯỜI LÀM ĐÀN VIOLIN với dăm bào trên mái tóc, người làm Dorothy dịu xuống và khiến cô cười mỗi khi cô muốn mua một khẩu súng trường, người đàn ông đã viết cho cô một bài thơ để nói với cô về nơi cô có thể nhìn nếu có ngày cô mất anh, đang cầu xin cô kết hôn. Nhưng luật pháp có quy định mỗi lần chỉ được lấy một chồng.

“Dory. Anh không thể làm như thế này thêm nữa. vầng hào quang của anh đang rơi xuống rồi. Sự thánh thần được đánh giá quá cao.”

“Vâng. Sự tội lỗi cũng như thế.”

“Em không thể đi nghỉ với anh. Em thậm chí không thể ở lại qua đêm. Đó là bốn mươi lăm phút đẹp nhất trong ngày của anh, mỗi khi em xuất hiện. Nhưng anh xin lỗi. Anh không thể là số hai thêm nữa.”

“Anh không phải là số hai, Alan. Đó chỉ là một đoạn đàn kéo trên hai dây. Nhớ chứ?”

“Không kéo trên hai dây thêm nữa. Anh cần một bản solo melody dài trước khi mọi thứ kết thúc.”

“Được thôi.”

“Được thôi là sao?”

“Được thôi. Đến cuối cùng.”

“Dory. Chúa ơi. Tại sao em lại tử vì đạo bản thân em? Không ai mong chờ em làm thế. Kể cả anh ấy cũng không.”

Không ai có thể nói điều anh ấy muốn là gì. “Em đã ký hết giấy tờ rồi. Em đã có một lời hứa.”

“Hứa gì? Em đã chuẩn bị ly hôn, từ hai năm trước. Hai người thực tế đã chia tài sản rồi mà.”

“Vâng. Đó là khi anh ấy còn có thể đi. Và nói. Và ký các thỏa thuận.”

“Anh ấy có bảo hiểm, lan tật. Hai người chăm sóc. Anh ấy đủ tiền trả cho người làm việc toàn thời gian. Em thậm chí có thể tiếp tục giúp đỡ. Anh chỉ muốn em sống ở đây. Trở về nhà với anh mỗi tối. Vợ anh.”

Tình yêu, giông như trong tất cả các tiểu thuyết hay nhất, là một vấn đề về danh phận, chứng thư, và sự sở hữu. Cô và người yêu đã đâm đầu vào bức tường này nhiều lần trước đây. Giờ đây, trong thiên niên kỷ mới này, người đàn ông thường giúp cô bình tĩnh, người đàn ông thậm chí đã có thể là tri kỷ tâm hồn của cô chỉ cần tâm hồn của cô mang hình dạng khác đi một chút, đang đập bức tường lần cuối và khiến nó sụp đổ tới tận móng.

“Dory? Đến lúc rồi. Anh chán chia sẻ rồi.”

“Alan, hoặc là chia sẻ hoặc là không gì cả.”

Anh chọn không gì cả. Và trong một thời gian dài, cô cũng mơ được lựa chọn như thế.

Một buổi sáng mùa thu mang màu xanh pha lê, một tiếng rống vang lên từ căn phòng khác. Biệt danh của cô, kéo dài ra đến độ dài của sự câm lặng, không có phụ âm cuối: Daaa… Cô sởn gai ốc. Nó tệ hơn tiếng rống khi anh làm bẩn giường và cần cô thay rửa cho anh. Một lần nữa cô chạy, như thể chưa bao giờ có một báo hiệu giả. Trong căn phòng, ai đó đang nói chuyện với chồng cô, và anh đang rên rỉ. Cô mở tung của ra. “Em đây, Ray.”

Thoáng nhìn đã thấy, chỉ có người đàn ông với cái mặt nạ kinh sợ cứng đờ, người mà chỉ còn cô là người cuối cùng thấy quen thuộc. Rồi cô quay sang nhìn. Cô cúi mình xuống giường, bên cạnh anh. Tivi đang nói, “Ôi chúa ơi. Ôi chúa ơi.” Vẫn là tiếng tivi: “Đó là tòa tháp thứ hai. Chuyện đó vừa xảy ra. Trực tiếp. Trên màn hình của chúng ta.”

Một động vật di chuyển nhanh, mạnh nào đó trên giường sượt qua cổ tay cô. Cô giật mình hét lên. Bàn tay còn động đậy được của chồng cô, gõ gõ lên tay cô.

“Đây là sự cố ý,” tiếng từ màn hình nói. “Đây là một sự cố ý.”

Cô cầm những ngón tay co quắp cứng đờ của anh và siết chặt chúng. Họ nhìn nhau chằm chằm, không hiểu điều gì. Cuồn cuộn màu đen, xám, trắng, cam trên nền trời xanh không gọn mây. Các tòa tháp nút ra, giống như những kẽ nứt trên lớp vỏ Trái Đất. Chúng rung lắc. Chúng sụp đổ. Màn hình chao đảo. Mọi người trên đường túa ra và la hét. Một trong các tòa tháp gập dẹp xuống, giống như cái giá treo đồ có thể thu gọn lại được. Tiếng la thét của động vật đó sẽ không dừng lại. Sự khước từ phun bọt ra từ miệng Ray. “Kh, kh, kh…”

Cô đã thấy điều này trước đây: những cái cột khổng lồ, quá to để có thể bị đổ, đang đổ. Cô nghĩ: Cuối cùng, toàn bộ giấc mơ kỳ lạ về sự an toàn, sự ly biệt, sẽ chết. Nhưng về chuyện dự đoán, cô luôn hơn cả sai lầm.

PHỐ HYDE, ở Nob Hill, trên một tòa nhà nằm bên những cây sung dâu California vằn vện và một cây mận châu Á cong cong nở hoa trắng xóa ba tuần mỗi độ xuân về. Mimi Ma ngồi trong văn phòng tầng một tranh sáng tranh tối của bà, chuẩn bị gặp khách hàng thứ hai và cũng là cuối cùng trong ngày. Người đầu tiên kéo dài ba tiếng. Theo quyền trong hợp đồng của anh ta thì anh ta có thể ở lại bao lâu tùy nhu cầu. Nhưng phiên trị liệu đó mài bà xuống thành một ngòi bút cùn. Phiên thứ hai sẽ rút kiệt phần sự sống còn lại của bà trong ngày. Bà sẽ rút về căn hộ của mình ở Castro đêm nay để xem các phim tài liệu về tự nhiên và nghe nhạc trance. Rồi ngủ và thức dậy để đối mặt với hai khách hàng khác vào ngày mai.

Các nhà trị liệu lạ lùng nhan nhản khắp thành phố này - các cố vấn, người phân tích, người hướng dẫn tinh thần, người trợ lý tự khẳng định mình, người tư vấn cá nhân, các lang băm ngoài lề, nhiều người cũng ngạc nhiên như Mimi khi thấy bản thân họ ở trong ngành nghề này. Nhưng danh tiếng của bà lan xa nhờ những lời truyền miệng rằng bà có thể trả được mức thuê phi lý của văn phòng khi mà chỉ gặp hai khách hàng mỗi ngày. Câu hỏi thực sự là, hết phiên trị liệu này tới phiên trị liệu khác, liệu bà có thể giữ cho bản thân tĩnh trí sau những đợt gắm nhấm tâm hồn từ khách hàng.

Nhiều nhà bảo trợ tương lai của bà chịu đựng nỗi đau không từ điều gì khác hơn là có quá nhiều tiền. Bà nói với họ như thế, trong các buổi phỏng vấn sàng lọc vào mỗi thứ Sáu. Bà sẽ không gặp ai mà không đau thực sự, và bà có thể biết được một người đau đến mức nào chỉ trong vòng hai mươi giây họ ngồi trên chiếc ghế bọc nệm đối diện với ghế của bà trong căn phòng trị liệu trống trơn của mình. Bà nói chuyện với mỗi người đăng ký mấy phút, không phải về tâm lý của họ, mà về thời tiết, thể thao, hoặc thú cưng thời thơ ấu. Rồi bà sẽ hoặc là lên lịch cho một phiên trị liệu hoặc mời người đó về nhà, nói rằng, “Bạn không cần tôi đâu. Bạn chỉ cần thấy rằng bạn đang hạnh phúc sẵn rồi.” Cho lời tư vấn đó, bà không lấy phí. Nhưng cho một phiên trị liệu thực sự, đó phải là một sự cúng tế nào đó. Hai sự cúng tế như thế mỗi ngày đủ để bà duy trì hoạt động.

Bà ngồi bên phải lò sưởi xây bằng gạch, lấy lại tâm trí. Sắp bước vào tuổi năm mươi, bà vẫn mảnh mai, nhờ thường xuyên chạy đường trường, dù rằng chỏm tóc đen trên đầu giờ đây đã ngả màu nâu. vẫn còn dấu của vết sẹo dài trên má chưa bao giờ biến mất. Bà vuốt tay lên chiếc quần jeans màu thép xám và vờn những nếp gấp của chiếc áo màu xanh ngọc, chiếc áo khiến bà thấy mình hơi giống một người hát rong. Người quản lý văn phòng đã gọi cho khách hàng tiếp theo để nói rằng nhà trị liệu đã rảnh. Chỉ có đủ thời gian để trèo ra khỏi vạc dầu nung suốt bốn tiếng của sợ hãi, đau khổ, hy vọng, và sự biến dạng cùng với một người hoàn toàn xa lạ trước khi lao trở lại vào một cái khác.

Bà chìm đắm tâm trí trong vô nguyện của đạo Thiền. Bà cầm lên một trong các khung ảnh lên từ bệ trên lò sưởi - bức mà cặp vợ chồng già Trung Hoa đang giơ lên tấm ảnh của ba bé gái. Đó là một tấm chụp trong hiệu ảnh, trước một khung nền. Người đàn ông mặc bộ suit vải lanh đắt tiền còn người phụ nữ mặc chiếc váy lụa may ở Thượng Hải trước chiến tranh. Cặp vợ chồng buồn bã nhìn vào bức ảnh của ba đứa cháu gái người Mỹ có những cái tên khó hiểu. Họ sẽ không bao giờ gặp những cô gái ngoại quốc này hay mẹ của chúng, con một gia đình dòng dõi sa sút ở Virginia, người sẽ chết trong một viện dưỡng lão sau khi quên mất mình là giống loài gì. Và đứa con trai lang thang của họ: cảm giác giống như đôi vọ chồng đã sẵn biết, ngay khi ống kính mở ra, vào chính giây phút của nhiều năm trước vụ bạo lực đó. Đòi người thăng trầm như thế nào? Bài ca của người ngư phủ chảy sâu dưới đáy dòng sông.

Một thời từng có một cô gái nhỏ, gai góc, thậm chí là một kẻ hay bắt nạt, cố gắng ngăn bản thân qua một sự chia rẽ lớn. Không vàng, không trắng, không giống bất cứ điều gì Wheaton từng thấy. Chỉ có người ngư phủ ấy từng biết bà, im lìm bên cạnh bà trong chuỗi ngày dài chậm chạp trên những miền đất hoang, khi hai người họ nhìn chằm chằm và thả câu vào một dòng suối đang chảy. Bà lại cảm thấy điều đó một lần nữa, tệ hơn cả với thời gian và khoảng cách vô tưởng - nỗi giận dữ với sự ra đi của ông. Rồi nỗi giận dữ với thế giới vì đang đốn hạ những cánh rừng vô hại nơi hình bóng ông đã từng thích bước đi, nơi bà đã thích ngồi và hỏi ông tại sao, nơi bà từng một lần gần như thậm chí đã có được câu trả lời.

Tiếng chuông phá vỡ dòng suy tưởng của Mimi. Stephanie N., khách buổi chiều của bà, đã đến trước văn phòng. Mimi để tấm ảnh lại chỗ cũ rồi ấn một cái nút ở phía dưới bệ lò sưởi, báo cho Katherine biết rằng bà đã sẵn sàng. Một tiếng gõ nhẹ trên cửa, Mimi đứng lên để chào người phụ nữ có mái tóc xoăn màu đỏ rất dày với cặp kính mai rùa. Chiếc áo dài màu xanh lá đậm và chiếc áo choàng nửa bên không thể giấu được cái bụng phệ của cô ta. Không cần một sự đồng cảm quá đáng cũng có thể thấy nguồn năng lượng chính đã sụp đổ của vị khách.

Mimi mỉm cười và chạm vào vai Stephanie. “Thư giãn nào. Chẳng có gì để phải lo lắng cả.”

Stephanie mở to mắt. Không có sao?

“Đứng yên nào. Để tôi nhìn cô một lượt khi cô đang đứng. Cô đã đi vào phòng tắm? Cô vừa ăn? Cô đã để điện thoại, đồng hồ, và tất cả các thiết bị lại chỗ Katherine? Không mang theo bất cứ thứ gì? Không trang điểm hay trang sức?”

Stephanie trống trơn hoàn toàn. “Tốt. Xin mời ngồi.”

Vị khách ngồi xuống chiếc ghế được chỉ, không chắc làm sao điều này có thể dẫn tới điều kỳ diệu mà anh rể cô gọi là trải nghiệm tận cùng và thâm tím nhất trong cuộc đời tuổi trưởng thành của anh ta. “Điều đó giúp biết một chút gì đó về tôi sao?”

Mimi nghiêng đầu và mỉm cười. Có rất nhiều cái tên cho điều mà mọi người sợ đến chết, và mọi người đều muốn nói với bạn điều của họ. “Stephanie? Khi chúng ta xong, chúng ta sẽ biết về nhau nhiều hơn bất cứ lời nào.”

Stephanie nhướng mắt, gật đầu, cười ra hai tiếng, rồi gõ gõ ngón tay. sẵn sàng.

Bốn phút sau, Mimi dừng phiên trị liệu. Bà vươn tới chạm vào đầu gối Stephanie. “Nghe nào. Hãy nhìn tôi. Đó là tất cả những gì cô cần làm.”

Stephanie đưa bàn tay tỏ ý xin lỗi rồi đưa bàn tay lên môi. “Tôi không biết. Tôi xin lỗi.”

“Nếu cô tự ý thức được bản thân… nếu cô sợ hãi, thì đừng lo. Không có vấn đề gì cả. Chỉ cần cứ nhìn vào mắt tôi.”

Stephanie cúi đầu. Cô ngồi thẳng dậy, và họ bắt đầu lại. Điều này thường xuyên xảy ra, sự bắt đầu sai cách này. Không ai nghi ngờ mức độ khó khăn của việc giữ ánh mắt người khác trong hơn ba giây. Một phần tư phút là họ chìm trong đau khổ - người hướng nội hay người hướng ngoại, người thống trị hay người phục từng đều như nhau. Scopophobia đánh bại tất cả họ - hội chứng sợ nhìn và bị nhìn. Chó sẽ cắn nếu bạn nhìn nó quá chằm chằm. Người thì sẽ bắn bạn. Và dù Mimi đã nhìn nhiều giờ vào mắt cửa hàng trăm người, dù bà đã thuần thục nghệ thuật kéo dài cái nhìn chằm chằm, bản thân bà vẫn thoáng sợ hãi, ngay cả lúc này, khi đang nhìn chằm chằm vào đôi mắt đang đảo nhẹ của Stephanie, người mà, hơi đỏ mặt, đang cố gắng vượt qua cảm giác xấu hổ và giữ yên.

Người phụ nữ đó im lặng đến bất động, ngượng nghịu và trần truồng. Một cái giật nơi khóe môi của Stephanie khiến Mimi mỉm cười lại.

Phùuu, ánh mắt của người khách hàng nói.

Phải, người trị liệu đồng ý. Nhục nhã.

Sự ngượng nghịu biến thành niềm vui đủ. Stephanie đáng yêu, Stephanie tốt bụng, người tự tin nhất. Tôi là một ngươi tử tế. Thấy không?

Không có gì quan trọng.

Môi dưới của Stephanie mím lại và cơ mí mắt của cô co giật. Tôi có dễ hiểu vời bà hay không? Tôi có giống mọi ngươi khác không? Tại sao tôi cảm thấy như thể tối đang rơi qua những kẽ nứt của thiện chí xã hội? Mimi nheo mắt lại chỉ còn nhỏ hơn khoảng rộng của hai mi mắt. Lời quở trách vi tế: Chỉ nhìn. Chỉ. Nhìn.

Năm phút sau, hơi thở của Stephanie trút ra và hẹp lại. Được rồi. Tôi hiểu. tối đang dần hiểu điều này. Cô vẫn chưa bắt đầu. Mimi quan sát người phụ nữ dần dần tập trung. Một người mẹ, của hơn một đứa con. Không thể ngừng để tâm đến người trị liệu. Vợ của một người đàn ông mà, sau hơn mười năm, đã trở nên phải phép và xa cách, một con gấu trong hang ổ của mình. Tình dục cùng lắm chỉ là sự duy trì chiếu lệ. Nhưng ngươi sai rồi, nhà trị liệu đang suy đoán tự nói với mình. Ngươi chẳng biết gì cả. Và suy nghĩ đó hiện lên các cơ nhỏ xíu trên mặt cô. Chỉ nhìn. Việc nhìn hẳn có thể sửa đổi và cứu chữa mọi suy nghĩ.

Mười phút trôi qua, Stephanie bồn chồn cựa quậy. Khi nào điều kỳ diệu bắt đầu xảy ra? Mắt Mimi chừng xuống. Ngay cả trong tình trạng buồn tẻ này, mạch của Stephanie vẫn đập rộn ràng. Cô ngồi ngả về trước. Cánh mũi phập phồng. Rồi mọi thứ thả lỏng, từ đầu đến mắt cá chân. Rồi, đến đây. Thứ cô thấy là thứ cô nhận được.

Thứ tôi nhận được nằm ngoài kiểm soát của cô.

Thứ tồi tệ kỳ quái trong căn phòng này tốt hơn là đã không rời bỏ nó.

An toàn hơn Vegas.

Tôi không biết mình đang làm gì ở đây.

Tôi cũng thế.

Tôi không chắc tôi có ưa bà hay không nếu gặp bà ở một bữa tiệc.

Tôi không thường ưa bàn thân mình, ở tiệc tùng, hầu như không bao giờ.

Thứ này không thể nào đáng giá với khoản tôi trả. Cho dù tôi ở lại cả buổi chiều.

Có cái gì đáng giả để được nhìn, không phán xét, trong bao lâu tùy ý hay sao?

Tôi đang đùa với ai đây? Đây là tiền của chồng tôi.

Tôi sống bằng tài sản thừa kế của cha tôi. Thứ có thể đã được ăn cắp.

Tôi đã để đàn ông định nghĩa mình.

Tôi thực ra là một kỹ sư. Tôi chỉ đang giả vờ là người trị liệu.

Giúp tôi với. Tôi thức dậy lúc ba giờ sáng vì có thứ gì đen ngòm cào vào ngực tôi.

Tên tôi thực ra không phải là Judith Hanson. Tôi đã đổi từ tên Mimi Ma.

Những ngày Chủ nhật khi mặt trời lặn xuống tôi không còn muốn sống.

Các tối Chủ nhật cứu tôi. Chỉ vì biết rằng mấy giờ nữa thôi, tôi sẽ lại làm việc.

Có phải là các tòa tháp hay không? Tôi nghĩ đó có lẽ là các tòa tháp. Tôi đã rất dễ vỡ, giống như tấm kính phủ băng…

Các tòa tháp đều sụp đổ.

Một phần tư giờ trôi qua. Sự dò xét con người không ngớt: hành trình kỳ lạ nhất mà Stephanie từng tham gia. Mười lăm phút bất tận nhìn người phụ nữ mà cô chưa từng biết kích hoạt mọi thứ, những thứ mà cô chưa từng nghĩ tới trong nhiều thập kỷ. Cô nhìn Mimi và thấy một phiên bản châu Á, mặt sẹo, khóe mắt chân chim của cô bạn thời trung học của cô, cô gái mà cô đã chia tay năm mười chín tuổi vì một chuyện nhỏ nhặt tưởng tượng nào đó. Không có ai để xin lỗi lúc này ngoài người xa lạ mà sẽ không ngừng nhìn chằm chằm vào cô.

Thời gian trôi qua, bằng cả cuộc đời, thêm vài giây nữa, trong một căn phòng chẳng có gì để nhìn ngoài khuôn mặt tàn phá của một người lạ. Cái bẫy sập xuống quanh Stephanie. Đôi mắt cô mờ mịt nỗi oán hờn gần như là căm ghét. Một thoáng rung đôi môi của Mimi đưa Stephanie trở lại cái ngày ba năm trước đó khi cuối cùng thì cô cũng cúi xuống mặt mẹ mình và gọi bà là một con khốn. Và miệng của mẹ cô, trong khoảnh khắc đó… Stephanie nhắm nghiền mắt lại - các quy tắc của trò chơi này thật đáng nguyền rủa - và khi cô mở mắt trở lại, cô thấy mẹ mình, tám tháng sau đó sống trong hoảng loạn, nhờ máy thở trong bệnh viện, đang chết dần vì bệnh phối tắc nghẽn mãn tính, đang vật lộn để giữ tất cả suy nghĩ về lời kết tội ném vào mặt bà ngày hôm đó khi con gái bà cúi xuống hôn lên cái trái tro cứng của bà.

Chiếc đồng hồ mà Stephanie để lại trong phòng lễ tân kêu tích tắc, ngoài tầm thấy hay nghe. Cách xa nó, xa mọi xác nhận về cô, người khách nhớ về bản thân mình, nhẹ nhàng, buồn, bơ vơ, sáu tuổi, muốn trở thành y tá. Đạo cụ đồ chơi - ống tiêm, bộ đo huyết áp, mũ trắng. Sách tranh và búp bê. Ba năm bị ám ảnh, kéo theo ba mươi lăm năm mắc chứng hay quên, chỉ hồi phục nhờ đi xuống hang thỏ bởi đôi mắt của người phụ nữ khác. Chẳng có gì khác tồn tại bên ngoài hiệp ước này. Đồng tử khóa lại và không thể nhìn đi đâu. Năm tháng diễu binh qua tâm trí Stephanie - tuổi thơ, tuổi thiếu niên, thanh niên, sự miễn nhiễm với giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành bởi vì tuổi trưởng thành đáng sợ bất tận. Giờ đây cô đang trần truồng, trước một người mà cô đã đồng ý không bao giờ cô gặp lại sau hôm nay.

Qua tấm gương hai chiều, Mimi nhìn thấy. Nỗi đau ôm vùi bạn thật lớn. Đây, cũng thế. Sao có thể như vậy? Trong một vạt nắng đổ giữa họ, một cảm giác xanh mở ra ánh sáng đó. Mimi để nó đùa nghịch qua mặt bà, sẵn trong tầm ngắm. Trị liệu. Cô khiến tôi nhớ đến các em gái của mình. Bà để người phụ nữ này vào, lên trên cây ăn sáng đó, ở sân sau, Wheaton, Illinois, nơi bà, Carmen, và Amelia đã mang sẵn những bát ngũ cốc của họ lên những cành cây mùa hè và đang bận rộn đọc về tương lai của mỗi đứa trong những chiếc nhẫn yến mạch lượn lờ. Cô con gái của nhà truyền giáo Virginia đứng bên cửa sổ phòng bếp, người sẽ chết vì bệnh mất trí nhớ trong viện dưỡng lão và không bao giờ nhìn vào mắt các con gái quá nửa giây. Người đàn ông dân tộc Hồi đó, đi từ nhà ra và gọi các con gái, Vườn tơ tằm của bố! Các con làm gì? Dâu tằm, ngọt, cong cong, và xòe, bóng tròn xoe, rỏ xuống thanh bình, nói dối về tất cả những thứ tương lai sẽ nắm giữ.

Một cơn sóng tình chị em mạnh mẽ phủ chụp lên Stephanie. Cô với tay về phía pháp su nửa châu Á nhẹ nhàng cách cô bốn feet đó. Một sự căng chớp nhoáng các cơ lông mày của Mimi cảnh báo cô bỏ tay xuống.

Sau nửa giờ, Stephanie tan chảy. Cô đói, đờ đẫn, ngứa ngáy, và chán bản thân tới mức cô muốn ngủ mãi mãi. Sự thực đó thấm ra người cô, một sự rút cạn cơ thể. Bà sẽ không tin tới. Tôi không xứng đáng điều này. Bà thấy không? Tôi tồi tệ theo những cách mà ngay cả các con tôi cũng không ngờ được. Tôi đã trộm đồ của anh trai. Tôi bỏ khỏi hiện trường một tai nạn. Tôi ngủ với những người đàn ông mà tôi thậm chí không biết tên. Nhiều lần. Gần đây.

Vâng. Ôi. Tôi đang bị truy nã ở ba bang.

Khuôn mặt họ thả sự không thương xót vào nhau. Các cơ nhúc nhích, cuốn sổ lật chậm nhất của thế gian. Khiếp sợ, hổ thẹn, tuyệt vọng, hy vọng: mỗi thứ đều kéo dài cuộc đời ba giây của chính nó. Sau một giờ. những hòn đảo của cảm xúc dạt ra một vùng biển rộng. Hai khuôn mặt phồng lên; miệng và mũi và mày họ trải rộng ra để lấp kín dãy Rushmore. Sự thật chùng chình giữa họ, to lớn và mơ hồ, một thứ mà thân thể họ giữ không cho họ với tới.

Thêm một giờ nữa. Những sa mạc của sự nhàm chán vô hạn chốc chốc ngắt quãng bởi các đỉnh của cường độ hay dao động. Thêm những ký ức bị tiêu diệt thấm lên từ phía dưới, rất nhiều khoảnh khắc, khôi phục rồi lại biến mất trong cái nhìn gao gắt này. Những ký ức trùng trùng, giống như rắn nhiều đầu tồn tại lâu hơn những cuộc đời đã tạo ra chúng. Stephanie hiểu. Rất rõ ràng lúc này: Cô là một động vật, một thế thân đơn thuần. Người phụ nữ còn lại cũng thế - tâm hồn bị nhồi nhét giam hãm, bị lùa dối để nghĩ rằng nó tự trị. Thế nhưng đã kết hợp, liên kết với nhau, một cặp thần địa phương đã sống và cảm nhận tất cả mọi thứ. Một trong hai người họ có một ý nghĩ, thì lập tức trở thành ý nghĩ của người kia. Giác ngộ là một hành trình chung bước. Nó cần một giọng nào đó khác nói, Ngươi không sai…

Giá như tôi đã có thể nhớ ra điều này ngay lúc đó, khi bị công kích! Tôi đã được cứu.

Không có cách cứu chữa nào cả.

Đã xong chưa? Còn gì nữa không? Có lẽ tôi nên đi.

Không.

Trong giờ thứ ba, sự thật chảy ào ra khủng khiếp. Mọi thứ chui ra khỏi chỗ ẩn náu, điều sẽ khiến chúng mất tư cách thành viên ở bất cứ câu lạc bộ nào ngoại trừ cái nơi mà chúng không thể rời đi này.

Tôi đã nói dối những người bạn thân nhất của mình.

À. Tôi đã để mẹ chết mà không chăm sóc.

Tôi đã theo dõi chồng và đọc thư riêng của anh ấy.

À. Tôi đã lau sạch từng vết não của cha tôi khôi đá lát sân sau.

Con trai tôi không còn nói chuyện với tôi. Nó bảo tôi hủy hoại đời nó.

À. Tôi đã cùng giết người bạn của mình.

Sao bà có thể chịu đựng được việc nhìn vào mắt tôi?

Có những thứ phải chịu đựng còn nặng nề hơn.

Ánh sáng thay đổi. Những khe sáng bò lên các bức tường. Stephanie chợt nghĩ đây vẫn là ngày hôm nay, hay đó đã là một thời gian nào trước đó. Hai đồng tử của cô từ lâu đã bắt đầu dao động, hết co lại giãn, làm mờ rồi chiếu sáng căn phòng. Cô thậm chí không thể triệu hồi ý chí để đứng dậy rời đi. Khi nó không thể tiếp tục, thì đó là lúc thứ này sẽ kết thúc. Rồi họ sẽ không bao giờ thấy nhau nữa, ngoại trừ sự gặp lại là bắt buộc.

Mắt cô bùng cháy. Cô chớp mắt, tê liệt, đờ đẫn, dữ dội, tan hoang, và rất cần xả bàng quang. Có thứ gì đó khiến cô không thể thở - người phụ nữ mỏng manh đầy sẹo này, người sẽ không rời mắt đi. Ghim chặt vào cái nhìn đó, cô trở thành một cái gì đó khác, khổng lồ và cố định, lắc lư trong gió và dầm trong mưa. Toàn bộ tính toán của nhu cầu - thứ mà cô đã gọi là cuộc đời mình - thu nhỏ lại còn bằng một cái lỗ ở mặt dưới của lá, ở chỗ trên ngọn của một cành cây dập dờn trong gió, cao trên vành của một cộng đồng quá lớn để có thể liếc nhìn. Và ở chỗ phía dưới, dưới mặt đất, trong đất mùn, xuyên qua các rễ của nỗi hèn mọn, các vật ban tặng tràn ra.

Má cô căng lên. Cô muốn hét lên, Bà là ai? Tại sao bà không dừng lại? Chưa có ai từng nhìn tôi như thế, trừ khi để phán xét, ăn cướp, hoặc hiếp tôi. Trong suốt cả cuộc đời tôi, suốt cả cuộc đời tôi, chưa bao giờ… Mặt cô đỏ bừng lên. Với những cái lắc đầu chậm, nặng nề, không tin, cô bắt đầu khóc. Nước mắt làm bất cứ thứ gì nó muốn. Đó gọi là nức nở. Người trị liệu cũng khóc.

Tại sao? Tại sao tôi bệnh? Có vấn đề gì với tôi?

Cô độc. Nhưng không phái trước con người. Cô đang khóc thương cho một thứ cô chưa từng bao giờ biết.

Thứ gì?

Một nơi vĩ đại, xòe nan, hoang dã, đan cài vào nhau vượt xa hơn sự thay thế. Một thứ để mất mà cô thậm chí không biết là của mình.

Nó đã đi đâu?

Vào sự tạo ra chúng ta. Nhưng nó vẫn còn muốn điều gì đó nữa.

Stephanie đứng lên khỏi ghế, ôm lấy người lạ. Nắm lấy vai cô. Gật đầu, khóc, gật đầu. Và người lạ để yên. Tất nhiên, cả đau khổ. Đau khổ cho một thứ quá lớn để thấy. Mimi lùi lại để hỏi Stephanie xem cô có ổn hay không. Ổn là ra đi. Ổn là lái xe. Nhưng Stephanie đặt tay lên miệng bà và khiến người trị liệu im lặng mãi mãi.

Người phụ nữ đã thay đổi đi ra phố Hyde. Hai người họa sĩ vẽ mặt tiền các tòa nhà đang đứng trên giàn giáo hét lên với nhau qua tiếng radio ầm ĩ. Những người đàn ông với xe đẩy hàng dỡ hàng đống thùng từ một xe vận tải cách đó sáu của nhà trên phố. Một người đàn ông mặc áo vest bẩn thỉu và quần soóc, tóc bện thành sợi thừng bungee, vượt qua cô trên vỉa hè, nói rất to: những tiếng nói hoặc tiếng điện thoại - tùy chọn phía tâm thần phân liệt. Stephanie bước xuống đường, và một chiếc xe gào rú vượt qua. Sự giận dữ từ còi Doppler của nó lan xuống thêm một tòa nhà nữa. Mọi thứ cô vừa đạt được bắt đầu lại mờ dần trước sức ép không thể cưỡng lại của những người khác.

Một cái gì đó sắc sạt qua mặt cô. Cô dừng lại và chạm lên bên má bị trầy của mình. Thủ phạm lướt trước mặt cô, màu hồng tím, những màu sắc từ nét vẽ điên cuồng của một đứa trẻ năm tuổi. Thoát ra từ một cái lồng sắt trên vỉa hè ở gần chân cô là một thứ cao gấp hai lần cô và rộng bằng một nửa sải tay của cô. Một thân hình chắc mập duy nhất mà ở phía trên cao tách ra mấy thân mảnh hơn và những thân đó lại chia ra thành hàng nghìn nữa, còn mỏng hơn nữa, mỗi thân đều rụt rè, phân tẽ, đầy sẹo, uốn mình bởi lịch sử, và chìa ra những bông hoa điên cuồng. Hình ảnh đó bén rễ trong cô, đâm cành nảy lá, và trong một thời gian dài cô nhớ: cuộc đời cô bắt đầu hoang dại như một cây mận mùa xuân.

TRÊN CON ĐƯỜNG cách miền Đông hai nghìn dặm, Nicholas Hoel lái xe xuống một Iowa tháng Sáu. Từng vết lõm nhỏ trên con đường này, từng tháp silo còn trong ký ức chỉ ngay dưới đường liên bang, thắt ruột anh, giống như thứ cuối cùng anh thấy trước khi chết. Giống như trở về nhà. Bài toán khiến anh ngạc nhiên - anh mới đi xa có mấy năm. Rất nhiều thứ đã bị bỏ hoang. Các trang trại, các kho hàng ven đường, những tấm biển quảng cáo dịch vụ công cộng tuyệt vọng: Vì Chúa Đã RẤT Yêu Thế Giới… Rất nhiều dấu vết từ tuổi thơ sâu sắc nhất, những vết sẹo vĩnh viễn trên thảo nguyên và trong anh. Nhưng mọi dấu mốc dường như sai lạc và xa xăm, khi nhìn qua cái ống nhòm giá rẻ. Đáng lẽ không gì ở đây có thể sống sót lâu hơn nơi anh từng ở.

Qua con dốc cuối cùng về phía Tây trước khi đến lối ra, mạch anh đập thình thịch. Anh tìm kiếm cái cột buồm duy nhất ở phía chân trời đó. Nhưng nơi cây cột Cây Dẻ Nhà Hoel vốn ở, giờ đây chỉ còn màu xanh hủy diệt của tháng Sáu. Anh hướng xe vào lối ra khỏi cao tốc và lái chiếc xe vuông dài quanh trang trại. Chỉ có điều: đó không còn là trang trại nữa. Đó là một nhà máy. Những người chủ đã loại bỏ cái cây đi. Anh đỗ xe ở nửa đường lên lối vào rải sỏi và đi bộ ngang sân tới chỗ cái gốc cây, quên mất rằng cái sân không còn là của anh nữa để có thể đi qua. Bước một trăm năm mươi bước vào trong, anh thấy màu xanh. Hàng chục cành dẻ non đang đâm chồi từ cái gốc cây chết. Anh thấy lá, những chiếc thương có răng cưa, mạch gân thẳng tắp của tuổi thơ anh, thứ luôn là định nghĩa của lá đối với anh. Trong mấy nhịp tim, sự hồi sinh. Nhưng rồi anh nhớ ra. Những khởi đầu mới này, cũng sẽ sớm tàn lụi. Chúng sẽ chết đi rồi mọc lại, hết lần này tới lần khác, đủ thường xuyên để giữ cho sự tàn lụi chết chóc đó sống và mạnh mẽ.

Anh quay về phía ngôi nhà của tổ tiên. Anh giơ hai tay lên, để trấn an bất cứ ai có thể đang ở trong phòng khách và quan sát. Nhưng thực tế, đây là ngôi nhà, không phải cái cây, không còn ai ở. Các tấm ốp mặt ngoài đang rụng khỏi tường. Ở mặt phía Bắc, một nửa độ dài của ống máng rủ xuống. Anh xem đồng hồ. Sáu giờ năm phút - giờ ăn tối bắt buộc trên khắp miền Trung Tay. Anh đi qua bãi cỏ um tùm và bước về phía các cửa sổ ở hướng Đông. Chúng xỉn đục, bụi bặm, mờ mịt, u ám với chỉ bóng tối phía sau chúng. Các cọc, thanh chắn, rầm cửa, và tất cả gỗ xung quanh những ô cửa sổ hai ngăn mềm xọp xuống mục nát và bong tróc. Đưa một bàn tay che mắt, Nicholas len lén nhìn vào trong. Phòng khách của ông bà anh đầy các chậu và hộp kim loại. Viền gỗ dẻ từng phủ tất cả khung cửa đã bị tróc đi.

Anh đi vòng tới hiên trước. Những tấm ván của nó bập bênh dưới chân anh. Năm lần đập cái vòng gõ cửa bằng đồng không mang lại kết quả gì. Anh trèo lên con dốc phía sau nhà đến khu nhà phụ cũ. Một cái đã bị phá bỏ. Một cái rỗng toang. Cái thứ ba khóa cửa. Bức tranh tường ảo giác của anh - vết nứt trên bức tường của cánh đồng ngô hé lộ một rừng lá rộng ẩn mình - đang ngả màu xám xịt. Trở lại hiên trước nhà, anh ngồi xuống nơi từng có cái ghế đu đưa, quay lưng về phía cửa sổ trước. Anh không rõ mình nên làm gì tiếp theo. Anh chợt nghĩ tới chuyện đột nhập. Anh đã từng trải qua ba đêm cuối cùng đó ngủ ngoài trời. Bị một con bò ở gần dãy Bighorn ở Wyoming làm cho sợ chết khiếp, khi nó sục mõm vào túi ngủ của anh trước khi trời sáng. Bị thức suốt đêm trong một rừng quốc gia ở Nebraska vì hai người cắm trại đang thiết lập các kỷ lục sức bền ở một cái lều gần đó. Một cái giường hẳn sẽ tốt hơn. Một chầu tắm vòi sen. Nhưng ngôi nhà này, có vẻ như chẳng còn thứ nào trong số đó nữa. Anh chờ đợi những dấu vết mờ dần của hoàng hôn miền Trung Tay, dù không thực sự cần thứ che đậy. Xa xa, một con quái vật của kinh doanh nông nghiệp được dẫn dắt bằng vệ tinh, rô bốt thực sự, lùng sục khắp những cánh đồng trập trùng. Sẽ không có ai qua đây hoặc thấy anh làm nhiệm vụ của mình. Anh có thể làm việc cần làm rồi rời đi.

Nhưng anh chờ đợi. Chờ đợi đã trở thành tín ngưỡng của anh. Có cây ngô để lắng nghe, hàng dặm ngô. Cây đậu để xem sự phát triển, các kho và silo ở phía chân trời, một con đường cao tốc liên bang, và một cái cây khổng lồ đã bị cắt khỏi bầu trời trong không gian âm, giống như một bức tranh của Magritte. Anh ngồi dựa lưng vào ngôi nhà, cảm giác như trang trại lại hiện lên trở lại, như thể những con vật hoang dã từ ven đường mòn khi người leo lúi dùng đủ lâu. Khi mây trời chuyển màu đỏ thẫm, anh đi ra xe lấy cái xẻng lửa trại đang gập. Một dụng cụ sai cho một công việc sai, nhưng là thứ tốt nhất mà anh có. Trong thoáng chốc, anh lên con dốc phía sau nhà kho máy móc, tìm kiếm chỗ đá lở. Đất có vẻ khác; các khoảng cách có vẻ sai. Ngay cả nhà kho máy móc cũng đã bị di chuyển.

Chỗ đá lở hiện ra, ấn dưới thảm cỏ xanh mướt. Anh thọc cái xẻng lửa trại vào trong bãi cỏ và đào cho đến khi anh chạm tới quá khứ. Sự trở lại của những thứ cất giấu. Anh kéo cái thùng carton lên và mở ra. Các bức tranh dài và một số tác phẩm trên giấy. Anh giở bức tranh trên cùng lên ánh sáng cuối cùng của ngày. Một người đàn ông nằm trên giường, nhìn trân trân xuống ngọn của một cành cây rộng đang đâm xuyên vào cửa sổ nhà ông.

Mọi thứ đã xảy ra như thế. Anh đang ngủ, và cô xông vào. Mỗi người họ có một nửa của lời tiên tri. Họ đã đến bên nhau và đọc thông điệp. Họ đã tìm thấy ơn gọi chung, ơn thiên triệu chung của họ. Các linh hồn đảm bảo rằng tất cả sẽ tốt thôi. Giờ đây cô đã chết, anh lại tiếp tục mộng du, và những thứ họ đã đi cứu rỗi đang sụp đổ.

Anh đặt cái thùng carton xuống bên cạnh hố và tiếp tục đào. Các bề mặt của cái thùng thứ hai, phủ đầy các bức tranh mà anh đã quên là mình đã vẽ: Cây Gia Đình, Cây Giày, Cây Tiền, Sủa Nhầm Cây. Tất cả đều được vẽ ba năm trước khi cô lái xe lên con ngõ với những câu chuyện về sự sống lại và những giọng nói của ánh sáng. Các bức tranh này đã chứng minh rằng họ sinh ra là để tiến bước cùng nhau. Các bức tranh đã sai.

Anh chồng cái thùng thứ hai lên cái thùng đầu tiên và tiếp tục đào. Mũi xẻng đâm vào cái gì đó lởm chỏm, và anh tìm thấy mở tượng điêu khắc. Anh và Olivia đã chôn bốn cái bên ngoài, để xem đất tươi có thể khiến lớp da gốm ra sao. Đất: Một thứ khác mà ông đã dạy anh nhìn. Một hai inch mới, qua mỗi thiên niên kỷ. Một khu rừng siêu nhỏ, một trăm nghìn loài trong vài gram đất Iowa. Anh thả người quỳ xuống, đưa tay moi mấy món đó ra, rồi lấy một cái khăn tay làm ướt bằng nước bọt để lau chúng. Các bề mặt đơn sắc của chúng giờ đây tỏa sáng như những bức tranh sắc màu phong phú của Breughel. Vi khuẩn, nấm, động vật không xương sống - những cái xưởng sinh động ở dưới các chân trời dưới lòng đất - đã rải nước bóng lên các bức tượng thành một kiệt tác của hoa.

Anh đặt các bức tượng đã biến đổi lên trên các hộp đã được giải cứu và trở lại với chờ đợi thực sự. Anh lại tự hỏi anh có thể đã nghĩ gì, khi bỏ mặc nó ở đây. Chu du nhẹ nhàng, họ đã nghĩ thế. Chôn tác phẩm nghệ thuật. Đào nó lên về sau hẳn sẽ là một màn trình diễn của chính nó. Nhưng thứ vẫn còn nằm trong đất có giá trị hơn cuộc đời chính anh, và anh lẽ ra đã không bao giờ được để nó ngoài tầm mắt của mình. Sáu xẻng đầy nữa, và nó lại là của anh. Anh mở cái hộp ra, mở cái túi zip, rồi nâng chồng ảnh một trăm năm trên tay anh. Lúc này quá tối để xem, để lật giở chúng. Anh không cần làm vậy. Cầm tập ảnh, anh cảm thấy cái cây cuộn xoáy lên không trung giống như một đài phun nước xoắn ốc, quan sát các thế hệ nhà Hoel. Anh bưng một nửa số đồ tìm thấy xuống con dốc, trở lại xe. Anh bỏ chỗ đồ cướp được đó vào xe tải rồi quay lại bung nốt chỗ còn lại. Nửa đường tới chỗ chôn đồ, hai chiếc đèn sáng trắng rọi vào lối tới rải sỏi từ con đường tối tăm. Cảnh sát.

Việc cần làm là giơ hai tay lên đi tới chỗ xe cảnh sát. Mọi lời giải thích có thể bị ghi âm. Bằng chứng đó sẽ chống hỗ trợ cho câu chuyện của anh. Xâm phạm lãnh thổ, phải, nhưng chỉ để lấy lại những đồ của anh. Anh đi ra từ phía sau ngôi nhà và hai cái đèn pha hướng về phía anh. Anh chợt nhận ra rằng kho báu bị chôn có lẽ thực tế không còn là của anh nữa. Anh đã bán đất và mọi thứ bắt nguồn từ nó. Mua và bán đất: vô lý không khác gì bị bắt giam vì lấy lại những thứ thuộc về mình.

Chiếc xe cảnh sát nghiến lên lối vào, bánh xe phun sỏi lên. Ánh đèn đỏ xoay mòng mòng khiến Nicholas dừng tại chỗ. Chiếc xe lắc lư dừng lại, tạo thành một vật chắn. Tiếng còi báo động nhường chỗ cho giọng nói được khuếch đại: “Đứng yên! Quỳ xuống!”

Anh không thể làm cả hai cùng lúc. Anh giơ hai tay lên và quỳ xuống. Chu du lại bốn mươi năm về một bài thơ vui thời tiểu học: Cơn mưa đã đến cuốn trôi con nhện. Hai tay cảnh sát đến chỗ anh trong chớp mắt. Chi khi đó Nicholas mới sực nhận ra anh đang gặp rắc rối thực sự. Nếu họ lấy vân tay anh, nếu họ ghi hồ sơ của anh…

“Đưa tay ra.” Một trong hai tay cảnh sát ấn vào lưng Nick và lôi hai cổ tay anh vào nhau. Khi anh đã bị còng, họ để anh ngồi xuống đất, chiếu đèn pin vào mặt anh và lấy hết đồ đạc của anh.

“Chỉ là mấy thứ vớ vẩn,” anh nói họ. “Vô giá trị.”

Họ bĩu môi khi anh cho họ xem tác phẩm nghệ thuật của anh. Tại sao người ta lại muốn tạo ra những thứ như thế, chưa nói gì tới việc đi trộm lại chúng? Phần duy nhất của câu chuyện có vẻ hiểu được với họ là việc chôn đồ đạc. Nhưng tay cớm già hơn nhận ra cái tên trên bằng lái xe của Nick. Một phần của lịch sử địa phương. Dấu mốc của cả vùng này: Cứ đi tiếp, một dặm, mệt dặm rưỡi nữa qua cây dề nhà Hoel.

Họ gọi cho giám đốc công ty quản lý khu đất này. Người đàn ông đó chẳng có hứng thú gì với mấy thứ rác rưởi đào dưới đất lên. Đối với vùng nông thôn Iowa: cảnh sát không tìm kiếm các thông tin bắt giữ của anh trong dữ liệu quốc gia. Anh chỉ là một kẻ nửa lang thang, nửa mộng mị khác của một gia tộc làm trang trại đã tàn lụi, lái một chiếc xe hỏng hóc và đang cố bám víu vào một quá khứ đã biến mất.

“Anh có thể đi,” tay cảnh sát bảo anh. “Không được đào bới trên đất tư thêm nữa.”

“Tôi có thể cứ… ?” Nick vẫy tay về phía gia sản vừa đào lên.

Hai cảnh sát nhún vai: Tùy ý anh. Họ đứng nhìn khi Nick đặt những cái thùng carton cuối cùng lên xe. Anh quay lại phía họ. “Các anh đã bao giờ thấy một cái cây phát triển tám mươi năm trong mười giây chưa?”

“Giờ anh nên cẩn thận,” tay cảnh sát đã ghìm anh xuống đất nói. Rồi họ để cho người cố tình phóng hỏa ba lần được rời đi.

NEELAY NGỒI ở đầu chiếc bàn oval đối diện với năm quản lý dự án hàng đầu của ông. Ông xòe những ngón tay xương xẩu của mình lên bàn phía trước mặt. Ông không biết nên bắt đầu từ đâu. Thậm chí phải gọi tên trò chơi như thế nào cũng đã là khó khăn. Không còn các số của phiên bản nữa. Chúng được thay thế bằng các bản nâng cấp liên tục. Destiny Online lúc này là một doanh nghiệp khổng lồ, mở rộng, phát triển không ngừng. Nhưng nó mục ruỗng trong cốt lõi.

“Chúng ta có vấn đề Midas. Không có sự kết thúc trò chơi, chỉ có một hệ thống hình kim tự tháp trì trệ. Sự thịnh vượng vô tận, vô nghĩa.

Cả đội lắng nghe, cau mày. Tất cả họ đều có thu nhập sáu con số; hầu hết đều ra triệu phú. Người trẻ nhất hai mươi tám, người già nhất bốn mươi hai. Nhưng trong trang phục quần jean và áo phông trượt ván, tóc mop top và mũ bóng chày đội lệch, họ trông như những đứa tuổi teen giả hiệu. Boehm và Robinson ngồi thư giãn, uống nước tăng lực và chớp chép ăn kẹo. Nguyễn gác chân lên bàn và nhìn qua cửa sổ như thể đó là một bộ headset thực tế ảo. Cả năm người ồ à, huýt sáo và rung rinh với nhiều phần nhân tạo hơn so với khoa học viễn tưởng từng tưởng tượng được.

“Làm cách nào để bạn chiến thắng? Ý tôi là, làm thế nào để có lúc bạn thua? Thứ duy nhất thực sự xảy ra là tích trữ thêm một chút nữa. Bạn lên được một bậc nào đó trong trò chơi, và vẫn tiếp tục cảm thấy trống rỗng. Bẩn thỉu. Thêm những thứ không đổi.”

Người đàn ông trong xe lăn ngồi ở đầu bàn cúi đầu và nhìn chằm chằm xuống nấm mồ của chính mình. Mái tóc dài kiểu đạo Sikh vẫn chảy xuống quanh hông ông, nhưng giờ đây nó quyện với một dòng sông trắng. Râu mọc ra từ cằm ông và chảy xuống giống như một cái yếm trên chiếc áo sweatshirt Siêu nhân. Hai cánh tay vẫn còn một chút thịt trên đó, từ mấy thập kỷ tự nâng mình vào ra khỏi giường. Nhưng đôi chân trong cái quần cargo là những ám thị hết sức mơ hồ. Ông có lẽ là một trong những nhân vật được tạo ra cho một chương trình về thăm trường cũ của một trường trung học thoát ra khỏi những cán chổi và trang phục nhồi rơm.

Phía trước ông, một cái bàn, một cuốn sách. Những kẻ tinh quái kia biết thế nghĩa là gì: ông chủ đã đọc lại. Thêm một ý tưởng mộng ảo đã chiếm lấy ông ta. Chẳng bao lâu ông ta sẽ hành khổ bắt bọn họ phải đọc nó, để tìm kiếm các giải pháp cho thứ mà chỉ gây phiền lòng cho mỗi ông ta.

Kaltov, Rasha, Robinson, Nguyễn, Boehm: năm sinh viên ưu tú đầy hăng hái tụ tập trong một căn phòng chỉ đạo siêu thông minh, được trang bị các dãy màn hình và đủ các loại đồ chơi thiết bị hội thảo điện tử mà có thể một mai sẽ cần. Nhưng hôm nay họ chỉ cần nhìn chăm chú vào ông chủ, há miệng ngạc nhiên. Ông ta đang nói rằng Destiny đang đổ vỡ. Một cỗ máy in tiền thần diệu cần phải được xem lại.

Sự tức giận đe dọa đốt cháy ria mép của Kaltov. “Đây là một trò chơi thần thánh, Chúa ơi. Họ trả cho chúng ta để họ có thể tận hưởng các vấn đề của một vị thần.”

“Chúng ta có đến bảy triệu người đăng ký,” Rasha nói. “Một phần tư trong số họ đã chơi suốt một thập kỷ. Người chơi đang thuê các tù nhân người Trung Quốc có kết nối internet để tăng bậc cho các nhân vật của họ trong khi họ ngủ.”

Vị sếp phản ứng với điều đó bằng cái cau mày. “Nếu việc lên bậc vẫn còn vui, họ hẳn đã không làm như thế.”

“Hẳn là có một vấn đề,” Robinson thừa nhận. “Nhưng đó là cùng một vấn đề mà chúng ta đã phải đối mặt từ khi Destiny bắt đầu.”

Đầu Neelay lắc lư lên xuống, nhưng không phải một cái gật đầu. “Tôi sẽ không gọi đó là đối mặt. Trì hoãn,” có lẽ thế.” Ông đã trở nên dữ dằn đến nỗi trông như một vị thánh. Viền cổ của chiếc áo sweatshirt Siêu nhân xệ xuống làm lộ cái xương cổ nhô lên của ông. Ông giống như một trong những bức tượng Ấn Độ khổ hạnh, một bộ xương bọc da ngồi dưới cây bồ đề hoặc cây sung dâu.

Boehm chiếu lên một số hình ảnh. “Đây là điều chúng ta đang nghĩ. Chúng ta đã lại nâng các đỉnh mức độ kinh nghiệm. Chúng ta thêm vào một đống kỹ thuật. Chúng ta gọi chúng là Kỹ thuật Tương lai Một, Kỹ thuật Tương lai Hai… Tất cả chúng đều sản xuất ra các phong vị khác nhau của điểm Ưu tiên. Rồi chúng ta cho ra một vụ phun trào núi lửa khác ở giữa Đại Dương Tây và bắt đầu một lục địa mới.”

“Điều đó với tôi nghe giống như trì hoãn.”

Kaltov vung hai tay lên. “Mọi người đều muốn phát triển. Mở rộng đế chế của mình. Đó là lý do tại sao họ trả cho chúng ta hằng tháng. Nơi này đầy lên. Chúng là làm cho nó rộng ra một chút. Chẳng có cách nào khác để vận hành một thế giới.”

“Tôi hiểu. Thoa xà phòng, dội nước sạch, lặp lại, cho tới khi ta chết vì hoàn mỹ.”

Kaltov đập bàn. Robinson cười lớn, ngả nghiêng. Rasha nghĩ: Chỉ có sếp, người viết một triệu ghi chú mỗi tuần, người đã xây một công ty từ con số không, làm cho quyền thiên tài của mình trò nên sai trái.

“Cái gì thú vị hơn?” Neelay hỏi. “Hai trăm triệu dặm vuông phủ đầy một trăm loại quần xã sinh vật và chín triệu loài sinh vật sống? Hay một nhúm pixel sắc màu nhấp nhánh trên một màn hình 2D?”

Tiếng cười căng thẳng chạy quanh bàn. Họ biết cái gì có thể là ngôi nhà tốt hơn. Nhưng mỗi người họ cũng đều biết niềm vui của địa chỉ email hiện tại của chính mình.

“Khá rõ là giống loài này đang di cư tới đâu, sếp ạ.”

“Tại sao? Tại sao từ bỏ một nơi giàu có vô tận để sống trong một bản đồ hoạt hoạ?”

Hơi quá nhiều triết lý cho các triệu phú thiếu niên. Nhưng chiều lòng người đàn ông đã thuê tất cả bọn họ. Họ tháo gỡ vấn đề đó, liệt kê ra những điểm huy hoàng của không gian biểu tượng: sự sạch sẽ, tốc độ, sự phản hồi tức thì, sức mạnh và khả năng kiểm soát, khả năng kết nối, khối lượng to lớn những thứ mà bạn có thể tích luỹ, người hâm mộ và huy hiệu, Tất cả những thứ vui tuân thủ làm sáng bừng toàn bộ vỏ não. Họ nói về sự trong sạch của trò chơi, cách nó luôn đi đến đâu đó, với một thời gian rất rõ ràng. Bạn có thể thấy tiến trình mở ra. Nỗ lực có ý nghĩa.

Neelay lại gật đầu từ chối. “Cho tới khi không còn. Cho tới khi nó trở nên tẻ nhạt.”

Cả nhóm rơi vào im lặng. Sự tiết chế của đám đông xuất hiện. Nguyễn bỏ chân xuống khỏi bàn. “Mọi người muốn có một câu chuyện hay hơn mà họ có.”

Vị sadhu có mái tóc hoang dại ngả người về trước nhanh tới nỗi khiến ông suýt ngã nhào khỏi xe lăn. “Phải! Thế tất cả các câu chuyện hay làm gì?”

Không có ai tham gia. Neelay giơ hai cánh tay lên và xòe bàn tay ra với một cử chỉ kỳ lạ nhất. Trong một khoảnh khắc khác, lá sẽ mọc ra từ các ngón tay ông. Chim chóc sẽ đến và làm tổ trong đó. “Chúng giết ta một chút. Chúng biến ta thành cái gì đó đã không phải là ta.”

Sự nhận thức lan qua họ, chậm và rõ ràng như cái chết. Ông chủ lúc này đang chơi một trò chơi khác, một trò chơi mà hẳn sẽ không chút khó khăn đốt cháy trò chơi của họ như nhiên liệu. Boehm, “Theo anh thì chúng ta nên làm gì?”

Neelay đưa cuốn sách ra, như thể nó là một mệnh lệnh thánh thần. Họ có đọc tiêu đề trên bìa, dưới tán lá vươn lên. Khu rừng bí mật. Robinson rên rỉ. “Đừng về cây thêm nữa, sếp. Ta không làm một game từ toàn là cây. Trừ khi ta cho chúng dùng súng.”

“Hãy đưa một bầu không khí vào mô hình. Thêm điều kiện nước. Các chu kỳ dinh dưỡng. Các nguồn vật chất hữu hạn. Hãy làm đồng cỏ và vùng đất ngập nước và rừng mà vẫn nắm bắt được sự phong phú và phức tạp của các giao dịch thực sự.”

“Rồi thì sao? San hô bị tẩy trắng và sự dâng lên của nước biển và cháy rừng do hạn hán?”

“Nếu đó là cách mọi người chơi nó.”

“Để làm gì cơ chứ? Người chơi của chúng ta muốn thoát khỏi tất cả thứ khốn kiếp đó.”

“Trò chơi muốn người chơi của nó. Đó là bí ẩn vĩ đại ở đây.”

“Làm sao anh làm được điều đó?” Kaltov chế nhạo.

“Bằng cách tìm hiểu xem cái gì sẽ hoạt động. Bằng cách thức đấy theo cách sự thật thúc đẩy.”

“Anh nói là không có thêm lục địa mới.”

“Không thêm lục địa mới. Không bất chợt sản sinh các mở khoáng sản mới. Tái tạo chỉ ở tỉ lệ thực tế. Không có chuyện chui ra từ mộ. Một lựa chọn sai lầm trong trò chơi nên dẫn đến cái chết vĩnh viễn.”

Các yêu tinh đưa mắt nhìn nhau. Ông chủ của họ đang quá khích. Ông ta sẵn sàng phá hủy trò chơi, ném đi cỗ máy tạo tiền bất tận sẽ giữ cho tất cả bọn họ sống trong tiệc từng mãi mãi chỉ để giải quyết vấn đề của sự quá mãn nguyện.

“Làm thế nào…?” Nguyễn hỏi. “Làm thế nào mà các giới hạn và sự thiếu thốn và sự chết vĩnh cữu trở nên vui?”

Trong thoáng chốc khuôn mặt hốc hác giãn ra như cao su, và ông chủ lại là một cậu bé nhỏ, đang học cách lập trình, mã của ông phân nhánh ra khắp mọi hướng. “Bảy triệu người dùng sẽ cần khám phá các quy tắc của một nơi mới nhiều nguy hiểm. Để biết điều mà thế giới này sẽ chịu đựng, cách cuộc đời thực sự hoạt động, cách nó muốn từ một người chơi để đổi lấy việc được tiếp tục chơi. Giờ, nó là một cuộc chơi. Một Thời đại của Khám phá hoàn toàn mới. Ta có thể đòi hỏi phiêu lưu hơn thế nào nữa?”

Kaltov nói, “Thế thì tốt hơn hết là hãy bán cổ phiếu Sempervirens của anh. Bởi vì mọi người chơi chúng ta đang có sẽ bỏ đi. Họ sẽ đi bộ!”

“Đi bộ ở đâu? Có quá nhiều thứ để mất. Hầu hết người chơi của chúng ta đã đầu tư nhiều năm. Họ đã xây dựng các khối tài sản có giá trị trong trò chơi. Họ sẽ nghĩ ra cách để khôi phục lại nơi này. Họ sẽ khiến chúng ta ngạc nhiên, giống như họ vẫn luôn làm.”

Các yêu tinh ngồi chết lặng, dự tính vận may đang biến mất trước mắt họ. Nhưng ông chủ - ông chủ đang bừng sáng hơn bao giờ hết kể từ ngày ông ngã xuống từ cái cây của tuổi thơ. Ông nâng cuốn sách lên không trung, mở nó ra, và đọc. “Một thứ gì đó thần diệu đang diễn ra duỗi lòng đất, một thứ gì đó chúng ta chỉ mới đang bắt đầu học cách để nhìn.” Ông gập bộp cuốn sách với một hiệu ứng kịch tính. “Thậm chí chẳng có gì ngoài kia mơ hồ như thứ này. Chúng ta sẽ là đầu tiên. Tưởng tượng xem: một trò chơi với mục đích phát triển thế giới, thay vì chính bạn.”

Sự im lặng đặc sánh lại với điều điên rồ vừa được đề nghị. Kaltov nói, “Không phá vỡ, sếp. Không sửa chữa. Tôi chọn không.”

Vị thánh xương xẩu lướt một lượt quanh bàn, từng người một. Rasha? Nguyễn? Robinson? Boehm? Không, Không, Không, và Không. Cuộc đảo chính được đồng thuận hoàn toàn. Neelay không cảm thấy gì, thậm chí không ngạc nhiên. Sempervirens, với năm bộ phận và vô số nhân viên, doanh thu hằng năm khổng lồ từ các đăng ký và truyền thông, đã không còn dưới tầm kiếm soát của bất kỳ ai lâu nay. Hàng chục nghìn bình luận của người hâm mộ lên các diễn đàn trực tuyến có quyền kiểm soát đối với điều gì xảy ra tiếp theo hơn soi với bất kỳ yếu nhân nào trong công ty. Hệ thống thích ứng phức tạp. Một trò chơi thần thánh đã thoát khỏi vị thần của nó.

Ông thấy rõ: trải nghiệm trực tuyến ồ ạt tương tự sẽ tiếp tục, trung thành với sự chuyên chế của nơi mà nó giả vờ trốn thoát. Và người đàn ông giàu thứ sáu mươi ba ở Hạt Santa Clara - người sáng lập Sempervirens, Inc., người sáng tạo ra Những lời tiên tri của rừng, chỉ là một đứa trẻ, tín đồ của các thế giới xa xôi, người yêu thích truyện tranh Hindi, người hâm mộ cuồng nhiệt của tất cả những câu chuyện phá vỡ luật lệ, người thả những cánh diều kỹ thuật số, người rụt rè chửi thề cô giáo, người rơi xuống từ những cành sồi coast live - học được thế nào là bị ăn thịt bởi hậu duệ tham lam vô độ của mình.

GIỜ ĐÂY ĐÓ LÀ LỊCH SỬ CỔ XƯA, câu chuyện từ một thập kỷ trước mà Douglas Pavlicek giữ trong kho vũ khí của mình để làm những du khách mùa hè bất ngờ ghé vào ngôi nhà giải trí một thời mà nay trở thành nơi đón khách của thị trấn ma ấy. Ông sẽ nhét vào tai bất cứ ai chịu ngồi đủ lâu để nghe.

“Rồi tôi phải bò ngửa ngược, lên đồi, bằng mông, lấy đà bằng cách đạp cái chân khỏe vào các thân cây. Bò ngoằn ngoèo lên con dốc tám mươi feet trong tuyết, trong khi cái vai bị trẹo đâm vào tôi như một hung thần với cây còi bỏng rát. Bò đến hết cả hơi, xa như thể cái giàn khung phía trên mỏ bạc cũ đó không phải chỉ cách đây một trăm mét. Rồi ở đó tôi nằm chết lịm đi một lúc lâu không tả nổi, nhìn các ảo ảnh và nghe tiếng rừng đi, trong khi những con sói và những loài như vậy liếm mặt tôi để lấy muối trên da tôi. Bằng phép màu, tôi đã lên tới được văn phòng, gọi cho cứu trợ y tế, và được trực thăng cẩu đến Missoula. Cảm giác giống như lúc tôi còn ở Việt Nam, chuẩn bị nhảy dù ra khỏi chiếc Herky Bird của tôi và bắt đầu lại toàn bộ bánh xe luân hồi của tôi.”

Ông kể câu chuyện đó rất nhiều lần, và du khách hầu hết đều cảm thấy khó chịu khi phải nghe. Rồi một đêm, quá giờ khách phải rời đi mười phút, qua cái tủ trưng bày ông kể lại chuyện đó với một phụ nữ đã hỏi thêm về nó. Trẻ, gần như thế, quàng khăn rằn và đeo ba lô, nói giọng Trung Đông vô cùng dễ thương, hơi mang mùi trái cây chín, nhưng thân thiện như một con chó săn mồi phủ đầy ve. Cô ta đứng hẳn trên gót chân, chờ để nghe xem ông có sống sót hay không. Chìm trong cao trào đang lên đó, ông bắt đầu thêm thắt một chút. Nghĩ kỹ xem: vòm câu chuyện của ông sẽ chỉ lưu giữ chừng đó chi tiết. Nhưng cô ta vẫn đang muốn thêm, như thể ông là một trong những nhà tiểu thuyết người Nga bị động kinh, và tất cả những gì cô ta muốn là tìm ra chuyện gì xảy ra tiếp theo, và tiếp theo chuyện tiếp theo đó. Khi câu chuyện kết thúc, cô ta quan sát ông đóng cửa văn phòng. Bên ngoài, trong bãi đỗ xe, trong khắp tầm mắt chẳng có gì ngoài chiếc Ford trắng của Cục Quản lý Đất đai của ông. Khách viếng thăm của cả ngày đã xuống trở lại con đường ép ván trong các hành trình thám hiểm và chinh phục của họ. Người phụ nữ, Alena, hỏi, “Anh nghĩ có chỗ nào đó gần đây tôi có thể cắm trại được không?”

Ông đã từng ở tình trạng này, đi suốt đoạn đường dài không có nơi để cắm trại phía trước. Ông xòe hai bàn tay ra - tất cả các tòa nhà bị bỏ hoang ông cần phải kiểm tra hằng đêm và không cho ai ở lại. Cắm trại là không được phép, nhưng ai mà biết? “Chọn chỗ nào tùy cô.”

Cô ta cúi đầu. “Anh có ít bánh quy hay gì không?”

Ông chợt nghĩ rằng có lẽ không phải kỹ năng kể chuyện của ông đã khiến cô ta tròn xoe mắt. Nhưng ông đưa cô ta lên căn nhà gỗ và cho cô ta ăn. Lôi ra tất cả những gì còn lại: phi lê thỏ mà ông để dành không vì lý do gì, nấm và hành xào, một cái bánh cà phê ngon làm từ ngữ cốc Grape-Nuts, và vài ngụm nước quả mâm xôi lên men.

Cô ta kể cho ông nghe về các cuộc phiêu lưu của cô ta đi bộ qua dãy núi Garntet. “Chúng tôi đã bắt đầu với bốn người. Chẳng biết ba người kia đã tới đâu.”

“Đi xa kiểu này khá nguy hiểm. Cô không nên đi ra ngoài một mình, trông như lúc này.”

“Tôi trông thế nào?” Cô ta thổi ra một quả mâm xôi và đưa bàn tay vụt đi. “Giống như một con khỉ ốm cần tắm rửa à?”

Cô ta nhìn, vào Douglas, đủ lâu để trông như một cô dâu lừa đảo tống tiền qua thư. “Thật ra. Một phụ nữ trẻ đi một mình. Không phải một chuyện hay ho.”

“Trẻ? Ai thế? Hơn nữa. Đây là đất nước vĩ đại nhất. Người Mỹ là những con người thân thiện nhất trên thế giới. Luôn muốn giúp đỡ. Giống như anh. Nhìn xem! Anh đã làm bữa ăn tuyệt vời này. Anh đâu cần gì.”

“Cô đã thích à? Thật chứ?”

Cô ta đưa cái ly ra xin thêm rượu mâm xôi.

“Ừm,” ông cất tiếng, khi sự im lặng trở nên kỳ quặc, so với các tiêu chuẩn của ông, “Cô cứ thoải mái dùng nước từ máy bơm. Cứ tùy ý chọn tòa nhà nào ở dưới kia. Là tôi thì tôi sẽ tránh tiệm cắt tóc. Chắc có gì đó mới chết ở đó gần đây.”

“Ngôi nhà này đẹp đấy.”

“À. Ừm. Nghe này. Cô không nợ tôi gì cả. Chỉ là chút thức ăn.”

“Ai đang giao dịch gì à?” Rồi cô ta đứng dạng chân trước ghế ông, nhìn chăm chú khuôn mặt ông, nếm thử nó với đôi môi kính tiềm vọng của cô ta. Cô ta thốt lên. “Này! Anh đang khóc. Người đàn ông lạ lùng!”

Không có lý do tử tế nào để giải thích tại sao một loài nào đó lại có lúc phát ra hành vi vô dụng tới vậy. “Tôi già rồi.”

“Anh chắc chứ? để xem nào!”

Cô ta thử lại. Da thịt của người phụ nữ đầu tiên sưởi ấm da thịt ông trong suốt nhiều năm. Nó giống như một cái que đang ngoáy vào ổ khóa tắc nghẽn trong ngực ông. Ông ghìm cổ tay cô ta. “Tôi không yêu cô.”

“Okay, thưa ngài. Không vấn đề gì. Tôi cũng không yêu anh. Cô ta kéo cằm anh. “Con người không cần phải yêu, để tận hưởng!”

Ông trả bàn tay của cô ta lại cho cô ta. “Tin tôi đi. Họ cần đấy.” Hai tay ông thõng xuống, như thể chúng bị xích qua một cái ống vào tấm bê tông chôn ở dưới đất.

“Okay,” cô ta nói lại, mặt sưng sỉa. Cô ta đẩy ngực ông và đứng lên. “Anh là một động vật nhỏ buồn rầu.”

“Đúng thế.” Ông đứng lên và đưa phần còn lại của bữa tiệc vào trong chậu. “Cô ngủ trên giường đi. Tôi sẽ ngủ trong túi, bên ngoài này. Các nhà phụ ở trong sân. Cẩn thận với cây tầm ma có gai sắc.”

Nhìn thấy cái giường khiến cô ta mừng rơn. Ơn Chúa. “Anh là một chàng trai già tốt bụng,” cô ta nói.

“Không hẳn.”

Ông chỉ cho cô ta cách dùng đèn ngủ. Nằm trên sàn nhà phòng ngoài, ông thấy ánh đèn qua khe cửa. Ai đó đang đọc muộn. Mãi về sau ông mới nhận ra cô ta đã đọc cái gì.

Vào buổi sáng, lại có bánh cà phê Grape-Nuts, và cà phê thật. Không còn những cuộc phiêu lưu nhầm lẫn đa văn hóa thêm nữa. Cô ta rời đi trước khi những khách du lịch đầu tiên lên núi. Chẳng mấy chốc, vị khách thậm chí không phải là một câu chuyện để ông kể cho mình nghe hằng đêm, để nuôi dưỡng những hối tiếc và dày vò bản thân với nỗi nhớ nhưng.

Nhưng nước Mỹ, hóa ra thực sự là đất nước vĩ đại nhất. Mọi người rất tốt bụng, đất đai giàu có hơn tưởng tượng, và giới chức trách sẽ tặng thưởng cho những thông tin hữu ích, ngay cả sau khi đã ghi tên bạn vì nhiều tội danh trước đó. Trong bốn tháng sau, khi những người đàn ông mặc jacket có in các chữ cái đánh đường lên núi, Douglas đã quên bẵng vị khách qua đêm hôm đó. Chỉ đến khi đám cớm ghì ông xuống đường, lục tung căn nhà, lấy đi các bản viết tay để trong cái hộp nhựa đóng nắp thì ông mới sực nhớ ra cô ta. Ông cố để không mỉm cười khi họ buộc tay chân ông vào nhau rồi lôi vào chiếc xe Land Cruiser của chính phủ.

Anh nghĩ chuyện này buồn cười à?

Không. Không, tất nhiên là không. À mà, có lẽ một chút, Tất cả đã từng xảy ra trước đây, và theo như Douglas Pavlicek có thể nghiệm ra, nó sẽ cứ xảy ra như thế mãi mãi. Tù nhân 571, báo cáo nhiệm vụ, trong bốn thập kỷ tiếp theo. Họ không hỏi ông nhiều. Họ không cần. Ông đã viết sẵn tất cả, chi tiết tỉ mỉ, trong một nghi thức tưởng nhớ và giải thích hằng đêm. Tất cả năm kẻ tội phạm bọn họ đều bị kết án: Bạch Quả, Người Canh Gác, Linh sam Doug, và Cây Phong. Nhưng có một điều thú vị: những người bắt giam ông chẳng hề quan tâm đến các tên cây cỏ.

DOROTHY XUẤT HIỆN ở cửa, khay ăn sáng định kỳ vĩnh cữu trên tay bà. “Xin chào, RayRay. Đói không?”

Ông đã tinh, lặng lẽ, đang nhìn ra cửa sổ lên một mẫu rưỡi đất nhà Brinkman. Gần đây ông trở nên rất trầm tĩnh. Đã có những ngày khủng khiếp triền miên mà bà đã tin chắc là mình sẽ giết ông. Mùa đông năm ngoái là tồi tệ nhất. Một buổi chiều tháng Hai, bà đã dành suốt mấy phút để cố nghe xem ông đang than vãn cái gì. Khi cuối cùng bà cũng nghe ra, nó giống như thể ông đang đọc lên suy nghĩ của bà: Em xong rồi. Đã đến lúc của cây độc cần.

Nhưng mùa xuân đưa ông trở lại là ông, và trong những ngày gần hạ chí, bà tin chắc chắn rằng bà chưa bao giờ thấy ông hạnh phúc như thế. Bà đặt cái khay xuống cái bàn bên giường. “Một ít bánh cobbler đào chuối nhé?”

Ông cố giơ tay lên, có lẽ để chỉ, nhưng bàn tay có các ý tưởng khác. Khi cuối cùng ông cũng mở được miệng, ông nói với bà những từ lạ lùng. “Kia. Đó.” Các từ líu nhíu, mềm như món bột quấy trái cây mà bà đã làm cho bữa sáng. Ông chỉ dẫn bằng ánh mắt. “Đó. Cây.”

Bà nhìn ra ngoài, nét mặt háo hức, cố giả vờ như gợi ý đó rất dễ hiểu, vẫn là một diễn viên kịch nghiệp dư hoàn hảo. “V-vâng?”

Miệng ông hé mở và thoát ra một âm tiết nằm giữa loài và ai.

Giọng bà vẫn tươi sáng. “Loài gì hả? Ray, anh biết em rất tuyệt vọng trong chuyện đó mà. Một loài thường xanh nào đó chăng?”

“Từ… khi?” Hai chữ, giống như đạp xe lên núi trên một con đường núi bùn lầy lội.

Bà nhìn chăm chăm cái cây như thể bà chưa bao giờ để mắt tới nó. “Câu hỏi hay.” Trong một thoáng, bà không thể nhớ họ đã sống ở nơi này bao lâu và họ đã trồng cái gì. Ông vẫy vẫy tay một chút, nhưng không phải trong tuyệt vọng. “Để. Xem!”

Rồi bà đứng trước một bức tường sách. Từ tường tới sàn: sự tích luỹ sách cả cuộc đời của họ. Bà đặt bàn tay lên giá sách cao ngang vai, loại gỗ mà bà không thể gọi tên. Ngón tay bà búng búng những hạt bụi, nhìn vào một thứ mà bà không chắc là ở đó. Quá khứ cố gắng giết bà - tất cả những con người mà họ đã là hoặc đã hy vọng trở thành. Một trăm cuộc đi bộ ở Yellowstone. Bà dừng lại ở cuốn Một hướng dẫn thực địa về các loài chim ở miền Đông miền Đông khi một thứ gì đó sáng và màu đỏ trong đầu bà bay đi, không xác định được. Thứ mỏng manh đó, chỉ như một tờ rơi, ẩn mình gần cuối giá sách. Các định danh đơn giản của cây. Bà lấy cuốn sách xuống. Một câu đề tặng trên trang bìa lót đập vào mắt cô:

Tặng nhân tố đầu tiên thân yêu của tôi,

Dot của riêng tôi và duy nhất

Có muốn biết loài cây nào đơn nhất

Còn cây nào thì phúc hợp không?

Bà chưa bao giờ thấy những chữ này. Không có dù chỉ một ký ức mơ hồ về bất cứ nỗ lực nào để học tên của các cây cùng nhau. Nhưng bài thơ gợi lại một nhà thơ trọn vẹn. Nhà thơ tồi tệ nhất trên thế giới.

Bà lật giở các trang sách. Có vẻ có nhiều loại sồi tốt hơn thị hiếu để có thể gợi ý. Đỏ, vàng, trắng, đen, xám, đỏ thắm, sắt, sự sống, quả gai, thung lũng, và nước, với những chiếc lá khước từ mọi liên hệ đối với nhau. Giờ bà nhớ ra tại sao bà đã không bao giờ đủ kiên nhẫn với thiên nhiên. Không có kịch tính, không phát triển, không có những hy vọng và sợ hãi xung đột với nhau. Những cốt truyện đâm nhánh, đan cài, hỗn độn. Bà đã không bao giờ hiểu rõ ràng các nhân vật.

Bà đọc lại câu đề tặng. Người viết những câu thơ vần vè này bao nhiêu tuổi? Nhà thơ tồi tệ hay ho nhất. Diễn viên tồi tệ hay ho nhất. Người luật sư về bản quyền và sáng chế mà đã biến những cuộc vụng trộm thành sự hủy hoại hoàn toàn, rồi dùng một phần mười sự hủy hoại đó mỗi năm để làm dịch vụ công ích xã hội. Ông đã muốn một gia đình lớn, cho các cuộc chạy đua chơi bài Crazy Eights suốt đêm và cho những bài hát nhảm nhí vui nhộn trên những chuyến lái xe đi chơi đường dài. Thế nhưng, đã chỉ có ông và nhân tố đầu tiên thân yêu của ông.

Bà mang cuốn sách mỏng trở lại phòng ông. “Ray! Nhìn xem em tìm thấy gì này!” Cái mặt nạ gào thét của khuôn mặt ông có vẻ như vui. “Anh đã cho em thứ này lúc nào thế. Thật tốt vì chúng ta đã tiếp tục với điều đó nhỉ? Đúng là thứ chúng ta cần bây giờ. Sẵn sàng chưa?”

Ông còn tệ hơn cả sẵn sàng. Ông như một đứa trẻ đang trên đường đi cắm trại.

“Bắt đầu từ đây. Nêu bạn sống ở phía Đông của dãy Rocky Mountains, đi đến lối vào số 1. Nếu bạn sống ở phía tây của dãy Rocky Mountains, đi đến lối vào 116.”

Bà nhìn ông. Hai mắt ông ướt nhưng dao động.

“Nếu cây của bạn tạo ra quả họ thông và có lá hình kim, đi đến lối vào 11.c.”

Cả hai cùng nhìn ra cửa sổ, như thể câu trả lời đã không nhìn đến họ trong suốt một phần tư thế kỷ qua. Trong ánh sáng ban trưa, các cành cây chao liệng - mập mạp và nhiều lớp với những khoảng cách rộng - tỏa một màu xanh lơ vui nhộn mà bà chưa bao giờ để ý. Thân cây thon nhọn tỏa sáng lung linh trong ánh nắng của mặt trời lên cao quá đỉnh đầu.

“Chắc chắn có lá kim. Cả quả họ thông trên đỉnh nữa. Raymond? Em tin chúng ta sắp có điều gì đó.” Bà lật các trang sách đến trạm kế tiếp của người săn kho báu. “Các lá hình kim có xanh quanh năm và được sắp xếp trong những cụm nhờ từ hai đến năm lá một? Nếu có, đi đến…”

Bà nhìn lên. Cái mặt nạ của ông lúc này nhếch khóe môi, mạnh hơn nó thường có thể. Hai con mắt sáng lên. Phiêu lưu. Phấn khích. Tạm biệt - đi mạnh giỏi!

“Sẽ trở lại ngay,” Viên đạn nhỏ xíu của sự bất ngờ bắn vào đỉnh lồng ngực của bà. Cứ như thế, bà rời đi. Bà rút lui qua phòng bếp vào phòng chứa đồ phía sau - một cái hang của những thùng lập phương ngổn ngang suốt nhiều thế kỷ với những thứ bỏ vào rồi quên đi. Một cuối tuần nào đó bà sẽ sắp xếp lại những thứ tạp nham cố xưa này, ném bỏ hết, giảm nhẹ con thuyền cuộc đời cho những hải lý cuối cùng. Cửa sau mở ra và bà ngửi thấy mùi của cỏ cuộn lên. Bà không mang giày. Hàng xóm sẽ nghĩ bà bị điên, vì phải chăm sóc ông chồng vỡ não. Và nếu đúng như thế, ấy thì, đó chính là câu chuyện. Bà băng qua bãi cỏ, đưa tay cầm cành cây thấp nhất, vin nó về phía mình, và đếm. Có một bài hát về điều này, bà nghĩ. Một bài hát hoặc một lời cầu nguyện hoặc một tiểu thuyết hoặc một bộ phim. Cành cây bật lên từ tay bà. Bà lướt trở lại vào nhà qua bãi cỏ tràn ngập ánh nắng ma quái, ngâm nga cái giai điệu mà chính xác là về khoảnh khắc này.

Ông đang chờ đợi bà, lửng lơ ở hồi kết. “Năm lá trong mỗi màng bọc. Chúng ta được tiếp tục.” Bà lật cuốn sách tới cành cây chưa mở tiếp theo. “Các quả họ thông có dài và nhiều vảy mỏng không?”

Điều này chia tách và phải lựa chọn: bà nhận ra điều đó. Nó giống như trong luật pháp, những vụ mà bà đã ghi lại trong những năm làm nghề tốc ký ở tòa án: chứng cứ, những cuộc kiểm tra chéo, những cuộc đàm phán lộn xộn, những sự kiện được chế tạo, con đường thu hẹp lại trong một lời tuyên án được cho phép duy nhất. Nó giống như cây quyết định của tiến hoá: Nếu mùa đông khắc nghiệt và nước khan hiếm, hãy thử các vầy và các lá kim. Nó thậm chí giống diễn xuất kỳ lạ: Nếu bạn cần phản ứng với nỗi sợ hãi, đi đến cử chỉ 21c; nếu băn khoăn không, 17a. Nếu không thì… Đó là một hệ thống hỗ trợ điện thoại được lập trình cho sự sống trên Trái Đất. Đó là tâm trí di chuyển xuyên qua những bí ẩn, sự giải thích của chúng mãi mãi còn thêm một lựa chọn nữa. Hơn bất cứ điều gì, nó giống như chính cái cây, với một thân câu hỏi trung tâm chia thành hàng chục cành gỗ, và mỗi cánh trong số đó đâm nhánh ra hàng trăm, rồi hàng nghìn những câu trả lời màu xanh và độc lập. “Chờ nghe nhé,” Dorothy nói, rồi lại biến mất.

Một lần nữa, cái núm cửa tráng men màu đen của cửa sau phản đối, kêu ken két dưới bàn tay cô. Bà lặn lội băng qua bãi cỏ tới chỗ chái cây. Một hành trình ngắn, một hành động nhàm chán lặp đi lặp lại, nhiều lần hơn bất cứ ai từng thực hiện, băng qua cùng chính dải đất quen thuộc đó: Nếu bạn muốn tiếp tục chiến đấu, quay lại lối vào 1001. Nêu bạn muốn buông tay và cứu mình…

Bà đúng dưới cái cây và nghiên cứu về các quả họ thông của nó. Chúng có khắp cây, bào tử rơi xuống đất từ một tiểu hành tinh xa xôi nào đó. Rồi trở lại nhà với câu trả lời. Con đường băng qua cỏ ướt trên đôi chân mang tất đủ dài để bà tự hỏi tại sao bà có thể vẫn còn ở đây, bị chôn sống, buộc cùng với người đàn ông cứng đờ này từ năm này qua năm khác, khi mà tất cả những gì bà từng muốn trong cuộc đời này là tìm cho mình tự do. Nhưng khi trở lại cánh cửa nhà tù, vẫy vẫy cuốn sách trong chiến thắng, bà biết. Đây là tự do của cô. Thứ này. Tự do đủ sức chống lại những nỗi kinh sợ của ngày.

“Chiến thắng. Thông trắng miền Đông.”

Bà thề rằng một con sóng mãn nguyện lớn đã cuộn qua khuôn mặt cứng đờ đó. Bà có thể đọc ông lúc này, với thần giao cách cảm được mài rữa qua nhiều năm phải đoán những âm tiết vón cục của ông. Ông đang nghĩ: Công việc của một ngày tốt. Một ngày rất tốt.

Đêm hôm đó ông để bà đọc cho ông nghe về một cái cây tùng chạy trong các mạch quặng sống thẳng đứng vĩ đại từ Georgia tới Newfoundland, ra tới Canada, và băng qua Great Lakes đến nơi mà họ đã cắm trại cùng nhau dưới ánh đèn đường. Bà kể cho ông về những cái cây khổng lồ bốn chân, các thân cây của chúng vút tám mươi feet thẳng lên cao rồi những cành xòe qua một bên của chúng mới chịu vươn ra. Những cây đứng trong những cánh rừng bất tận nơi phấn hoa dày đặc không gian mỗi độ mùa xuân, những đám mây bụi vàng trút xuống boong của những con tàu xa ngoài biển khơi. Bà đọc cho ông nghe về chuyện người Anh lần đầu ùa đến một lục địa mọc lên từ đại dương chỉ sau một đêm, tìm kiếm cột buồm cho các chiến hạm và tàu chiến của họ, những cột buồm chẳng có ở nơi đâu trên khắp châu Âu kiệt quệ, ngay cả những vùng miền Bắc xa xôi nhất, còn có thể cung cấp. Bà cho ông xem các bức tranh về Pinus strobus - thông trắng miền Đông, với thân cây to như những tháp chuông nhà thờ khổng lồ, những quái vật khổng lồ giá trị tới nỗi Nhà vua đã đánh dấu Mũi Tên Lớn của mình lên cả những cây đứng trên đất tư. Và chồng bà, người đã dành cả đời để bảo vệ tài sản cá nhân, hẳn phải thấy nó đang đến, thậm chí từ tương lai: Cuộc nổi loạn của cây thông. Cách mạng. Chiến tranh, chiến đấu vì một thứ mà đã phát triển trên những bãi biển rất lâu trước khi con người xuất hiện ở chỗ những cái cây.

Đó là một câu chuyện phù hợp với mọi cuốn tiểu thuyết: vùng đất nhiều cây cối, chịu thua trước sự thịnh vượng. Đó là những tấm ván nhẹ, mềm, khỏe, được đo các chiều, được bán lại trên khắp đại dương xa tận châu Phi. Lợi nhuận hình tam giác tạo ra sự giàu có cho đất nước non trẻ này: gỗ xẻ tới bờ biển Guinea, những người da đen tới Ấn Độ, đường và rượu rum trở lại New England, với những biệt thự uy nghi được xây hoàn toàn bằng gỗ thông trắng miền Đông. Gỗ thông trắng viền quanh các thành phố, tạo ra hàng triệu đồng trong các xưởng gỗ khổng lồ, làm nền của các đường ray trên khắp lục địa này, dụng và đóng các tàu chiến và tàu đánh bắt cá voi mà vươn từ Brooklyn và New Bedford ra đến những vùng biển không có tên trên bản đồ của Nam Thái Bình Dương, những con tàu làm từ hàng nghìn cây hoặc hơn. Những cây thông trắng của Michigan, Wisconsin, và Minnesota: được chia thành một trăm triệu tấm lợp mái nhà. Một trăm triệu board foot mỗi năm, xẻ thành từng mảnh nhỏ xíu làm diêm. Những người đốn gỗ đến từ Bắc Âu phát quang một dải thông rộng bằng ba bang, vật những tảng gỗ khổng lồ xuống sông bằng dây và ròng rọc, cưỡi những mảng bè gỗ đó nhiều dặm xuôi dòng đến chợ. Một người anh hùng khổng lồ và con bò xanh của ông ta đã đốn thông để phát quang vùng đất quanh nhà Brinkman.

Dorothy đọc, và gió nổi lên. Cả sân vườn nghiêng ngả than van. Mưa thổi tạt vào. Căn phòng nhỏ càng trở nên nhỏ hơn. Đêm: phần ba cuối cùng của mỗi ngày vẫn còn là một xứ sở xa lạ. Ngôi nhà hàng xóm biến mất, và những ngôi nhà mé Bắc của nó cũng thế, cho tới khi nhà Brinkman túm tụm một mình, bên ngoài lề của một sự hoang dã man rợ. Cái chân vẫn nhúc nhích được của Ray quẫy quẫy trong đống chăn màn vây lấy ông. Tất cả những gì ông từng muốn là có được thu nhập lớn, tăng phúc lợi chung, có được sự tôn trọng trong giới của ông, và nuôi nấng một gia đình đàng hoàng. Của cải cần có hàng rào. Nhưng hàng rào cần gỗ. Chẳng có gì còn lại trên lục địa này mà mang dù chỉ dấu về của những thứ đã mất. Giờ đây tất cả đã được thay thế, bởi hàng nghìn dặm sân vườn sau và những trang trại nối tiếp nhau với đôi chút làn mỏng của những cây rừng thứ sinh giữa chúng. Nhưng, đất vẫn nhớ, trong một thời gian, những cánh rừng đã biến mất và quá trình phá hủy chúng. Và ký ức đó của đất nuôi dưỡng cây thông của họ trong vườn sau nhà.

Nước dãi nhỏ xuống đôi môi run rẩy của Ray; nó ở đó cho tới khi Dorothy lau đi, đâu đó trước nửa đêm. Đôi môi mấp máy khi bà lau nó. Bà ghé vào, và nghĩ bà nghe thấy ông thì thầm, “Một ngày nữa. Ngày mai.”

ĐÊM HÔM ĐÓ ẤM, các cửa sổ trong căn phòng nhỏ của Patricia đập lách cách gió nhẹ, trăng tròn tháng Tám chiếu qua hồ nước giống như một đồng xu màu đỏ nhạt. Bà để hai bàn tay lên chồng sổ đầy ắp những con chữ được ghi chép bằng bàn tay nắn nót của mình. “Den ạ. Em nghĩ có lẽ cuối cùng chúng ta đã hoàn thành.” Không có câu trả lời đêm nay, không bao giờ có. Những từ đó chẳng làm gì hơn là treo trong không khí. Rất nhiều sinh vật nghe, từ bên trong căn phòng này ra đến bên ngoài. Các âm tiết của bà trả lời và thay đổi với cơ man những tiếng hót, tiếng rên, tiếng thở dài, những kế hoạch, và ước tính mà đặt dấu chấm hết đêm nay. Bài hội thoại rất dài, kiên nhẫn, hơn khả năng theo kịp của bất cứ bên nào, và những tiếng động theo khuôn mẫu mà bà thêm vào là hoàn toàn mới.

Bà lắng tai thêm một lúc chờ nghe tiếng chuông báo thức. Rồi bà lại ấn xuống cái bàn gỗ óc chó. Hai chân bà duỗi thẳng rồi đứng lên. Bà lật giở cuốn sổ trên cùng, tới trang mà bà vừa viết: Trong mệt thế giới của tiện ích hoàn hảo, chúng ta cũng sẽ bị buộc phải biến mất.

“Ngươi có chắc đây là một ý tưởng hay?” Bà tự hỏi mình; bà hỏi người đàn ông đã chết. Cái màng ngăn giữa hai người họ rất mỏng. Bà biết rằng mình sẽ không bao giờ thấy lại ông lần nữa trong cuộc đời này hay bất cứ cuộc đời nào phía trước. Nhưng bà thấy ông ở bất cứ nơi đâu bà nhìn. Đó là cuộc đời; cái chết vẫn tiếp tục sống rõ ràng. Hằng đêm nữa bà vẫn sẽ hỏi người bạn đã biến mất cho những từ và những câu. Cho dũng khí. Cho đủ sự chịu đựng để không ném đống sổ vào trong lò củi cháy. Giờ đây câu hỏi đã hoàn thành. Bà lật trang.

Không ai thấy cây. Chúng ta thấy quả, chúng ta thấy hạt, chúng ta thấy gỗ, chúng ta thấy bóng. Chúng ta thấy đề trang trí hoặc tán lá mùa thu xinh đẹp. Chướng ngại vật chặn đường hoặc làm vỡ dốc trượt tuyết. Những chỗ tối tăm, đe dọa mà cần được phát quang. Chúng ta thấy cành sắp đập xuống mái nhà của chúng ta. Chúng ta thấy cây trồng thương phẩm. Nhưng cây - cây đều vô hình.

“Cũng không tệ, Den ạ. Một chút trống trải, có thể thế.” Ngắn nữa, bà có thể thêm. Nhỏ hơn nhiều so với đứa con đầu lòng của bà. Có rất nhiều điều nữa để nói, nhưng giờ bà là một phụ nữ già, không còn nhiều thời gian, và có rất nhiều loài nữa vẫn phải tìm và đưa lên ark. Cuốn sách là một câu chuyện khá đơn giản. Bà có thể kể nó trong một hai trang: chuyện bà và mấy người khác đã dành mấy năm đi chu du khắp tất cả các châu lục ngoại trừ Nam Cực. Chuyện họ đã cất giữ một ít hạt giống từ mấy nghìn cây, một phần nhỏ của các loài mà sẽ biến mất khi những người trông coi hiện tại của Trái Đất vẫn đang canh giữ, cuốn theo cùng chúng vô số loài phụ thuộc…

Bà đã cố để níu giữ hy vọng, để kể mọi câu chuyện có thể khiến cho sự thật dễ dàng hơn một chút. Bà dành hẳn một chương về di cư. Bà mô tả tất cả các loài cây đã tiến dần về phương Bắc với những tỉ lệ làm kinh ngạc những người đo chúng. Nhưng những cây bị tổn thương nhất sẽ cần di chuyển nhanh hơn nhiều, để tránh bị đốt. Chúng không thể băng qua đường cao tốc hay trang trại hay các khu nhà phân lô. Có lẽ chúng ta có thể giúp chúng.

Bà kể những tiểu sử ngắn về các nhân vật bà yêu thích: cây cô độc, cây xảo quyệt, nhà hiền triết và công dân kiên định, những cây trở nên bốc đồng hoặc nhút nhát hoặc bao dung - nhiều trạng thái của tồn tại hơn số dạng độ cao và bề mặt của rừng. Hẳn sẽ tuyệt lắm nếu chúng ta có thể biết được chúng là ai, khi chúng ở trạng thái tốt nhất. Bà cố để câu chuyện hay từ đầu. Đây không phải là thế giới của chúng ta với cây ở trong đó. Đây là thế giới của cây, nơi con người vừa mới đến.

Một đoạn văn cứ hiện lên trở lại, mỗi khi nỗi sợ hãi hay sự nặng nề khoa học khiến bà cắt bỏ nó. Cây biết khi chúng ta tới gần. Hóa chất từ rễ và mùi hương mà lá của chúng phun ra thay đổi khi chúng ta tới gần… Khi bạn cảm thấy tốt sau một chuyến đi bộ trong rừng, đó có thể là vì một loài nào đó đang hối lộ bạn. Có rất nhiều loại thuốc thần diệu được lấy từ cây, mà chúng ta vẫn chưa động chạm gì tôi bề mặt của những vật hiến tặng đó. Cây từ lâu đã cố vươn tới chúng ta. Nhưng chúng nói ở những tần số quá thấp để con người có thể nghe.

Bà đứng lên khỏi bàn với một tiếng rên chẳng có ý nghĩa gì với ai. Trong cái tủ không của, bà tìm thấy một chồng các hộp các tông mà bà và Dennis đã luôn thấy khó khăn khi muốn vứt bỏ đi. Những cái hộp mốc meo được chất lại qua nhiều thập kỷ. Ai biết khi nào ta có thể cần một thứ bằng chính xác cỡ này? Các cuốn sổ vừa khít, như thể đồ thiết kế. Ngày mai bà sẽ gửi chúng qua bưu điện tới một người trợ lý, để đánh máy. Rồi gửi tới người biên tập của bà ở New York, người chờ đợi suốt nhiều năm cho cuốn sách tiếp theo sau một cuốn mà tới giờ vẫn đang được in, vẫn đang bán, vẫn khiến lương tâm Patricia nặng trĩu về cái giá của nó đối với loài thông.

Vừa niêm phong chiếc thùng carton lại bằng băng dính, bà lại rạch mở ra. Dòng cuối cùng của chương cuối vẫn sai. Bà nhìn vào thứ bà có, dù câu đó đã tự thiêu mình vào trong ký ức vĩnh viễn từ lâu. Nếu may mắn, một số sẽ vẫn có thể nảy mầm, bên trong các hầm được kiểm soát ở bên sườn một dãy núi ở Colorado, cho tôi ngày những người canh giữ có thể đưa chúng trở lại đất. Bà mím môi, và viết thêm vào một đoạn. Nếu không, những thí nghiệm khác sẽ tiếp tục tự chạy, rất lâu sau khi con người biến mất.

“Có lẽ như thế sẽ tốt hơn,” bà nói to. “Đúng không?” Nhưng bóng ma đã ngừng đọc chính tả, đêm nay.

Khi cái hộp đã xong xuôi để gửi đi, bà chuẩn bị lên giường. Việc rửa mặt chải tóc thậm chí còn nhanh hơn. Rồi bà đọc, chuyến đi bộ một nghìn dặm hằng đêm tới vịnh. Khi mắt bà không thể chống lên được nữa, bà kết thúc với một đoạn thơ. Bài thơ đêm nay của Trung Quốc - Vương Duy - một nghìn hai trăm năm trước, từ một tập thơ mà bà lật giở ngẫu nhiên, theo cách mà bà vẫn thích đi lang thang:

Tự cố vô trường sách

Không tri phản cựu lâm…

Quân vấn cùng thông lý

Ngư ca nhập phố thâm

Tôi không biết cách nào hay để sống

Tôi không người chìm trong suy nghĩ của mình, những khu rừng cũ của tôi…

Bạn hỏi: Đời người thăng trầm như thế nào?

Bài ca của người ngư phủ chảy sâu dưới đáy dòng sông.

Rồi dòng sông cũng chảy tràn qua bà, và bà hoàn thành. Bà tắt cái bóng đèn mờ thấp công suất gắn ở đầu giường. Tất cả những gì còn lại bên bà là ánh trăng. Bà nghiêng mình và cuộn người, khuôn mặt áp lên cái gối ẩm. Một phút sau, khóe miệng bà kéo ra thành một nụ cười vĩnh cửu.

“Tôi đã không suýt quên. Chúc ngủ ngon.”

Chúc ngủ ngon.

ADAM TRONG công viên ZUCCOTTI, Lower Manhattan. Lần này, công việc điền dã đến với ông. Các lực lượng ông đã nghiên cứu suốt quãng đời giáo sư của mình lại đang trở nên rệu rã và tiệc từng ở trung tâm của Financial District, cách mấy dãy nhà về phía Nam nơi ông sống và làm việc. Công viên náo nhiệt. Những vòng hình vuông của cây bồ kết ba gai đã ngả vàng, và khắp phía dưới chúng, các túi ngủ và lều cắm trại giữa những tòa nhà chọc trời. Hàng trăm người ngủ ở đây đêm qua, như họ vẫn thế suốt nhiều ngày. Họ chìm vào giấc ngủ nhờ những bài hát phản đối, và tỉnh dậy nhờ bữa ăn nóng miễn phí được phục vụ bởi những đầu bếp năm sao quyên tặng những nỗ lực của họ cho mục đích này. Chỉ có điều, Adam không biết mục đích đó là gì. Mục đích đó là một công việc đang trong tiến trình. Công lý chiếm chín mươi chín phần trăm. Bỏ từ những kẻ phản bội tài chính và những kẻ trộm cắp. Một sự phun trào của sự công bằng và tử tế trên khắp các lục địa. Sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản. Hạnh phúc không được sinh ra từ cưỡng hiếp và lòng tham.

Thành phố nghiêm cấm tất cả các âm thanh khuếch đại, nhưng cái loa cầm tay đang hét hết cỡ. Một phụ nữ ngân nga, và mọi người xung quanh bà nhặt lấy lời bà.

“Ngân hàng đã được cứu trợ tài chính.”

“NGÂN HÀNG ĐÃ ĐƯỢC CỨU TRỢ TÀI CHÍNH.”

“Chúng ta đã bị bán.”

“CHÚNG TA ĐÃ BỊ BÁN.”

“Chiếm.”

“CHIẾM!”

“Đường phố của ai?”

“ĐƯỜNG PHỐ CỦA AI?”

Vẫn là sức trẻ kiên định, trung thành với những giấc mơ cứu thế giới của tuổi trẻ của họ. Nhưng giữa những người mặc ghi lê thổ cẩm và đeo ba lô có những người già hơn Adam. Trong những phiên tụ tập bùng nổ quanh quảng trường, nhiều phụ nữ độ tuổi sáu mươi đi ngang qua gợi ký ức về một tổ chức cuộc nổi loạn. Những người mặc đồ bó đạp xe đạp tập để phát điện cho các laptop của đội chiếm đóng. Thợ cắt tóc miễn phí, vì các nhân viên ngân hàng dường như không muốn cắt tóc của họ. Những người mang mặt nạ Guy Faukes đi phát tờ rơi. Sinh viên đại học đứng thành một vòng và đánh trống. Các luật sư ngồi phía sau một cái bàn mỏng tư vấn pháp luật miễn phí. Ai đó đã nhọc công xóa đi các tấm biển:

KHÔNG TRƯỢT VÁN, TRƯỢT PATIN,

HAY ĐẠP XE QUANH CÔNG VIÊN

NẾU KHÔNG. ỔN THÔI. ANH BẠN

Và làm sao một đoàn xiếc có thể thiếu một ban nhạc? Cả một tiểu đoàn guitar - cái nào cũng mang dòng chữ Cái máy này sẽ giết những kẻ đầu co trong ngày - kết hợp lại với nhau thành một hợp xướng high lonesome:

Vì cảnh sát luôn gây khó dễ, bất cứ nơi nào tôi có thể đến,

Vì tôi chẳng còn mái nhà nào trên hành tinh này nữa.

Ngay ở phía góc xa của quảng trường là một vết thương không bao giờ lành. Cái hốc trong vòm đã phủ đầy từ lâu, nhưng nó vẫn rỉ máu. Một thập kỷ đã trôi qua kể từ khi các tòa tháp sụp đổ. Toán học làm ông kinh ngạc. Con trai của ông mới lên năm, nhưng các vụ tấn công đó dường như còn ít tuổi hơn. Một cái cây, cây lê Callery đã sống sót bị cháy một nửa và rễ bị gãy, vừa trở lại Ground Zero với sức khỏe tốt.

Ông chen qua một kẽ hở trong đám đông xô đẩy, dọc theo khu bán sách Peoples Library. Ông không thể thôi nhìn chăm chú các kệ và các thùng sách. Có cuốn Obedience to Authority của Milgram, được đánh dấu một triệu con chữ nhỏ li ti bên lề. Có tuyển tập Tagore. Rất nhiều sách của Thoreau, và còn nhiều hơn thế số bản You vs. Wall Street. Sự phát hành miễn phí, trên hệ thống danh dự. Rất mang mùi dân chủ, đối với ông.

Sáu nghìn cuốn sách, và hiện ra giữa tất cả chúng, một tập sách nhỏ nổi lên trên bề mặt của cả đống giống như một hóa thạch sục ra từ mở than bùn. Cẩm nang vàng về côn trùng. Màu vàng sáng - bản thật duy nhất mà cuốn kinh điển đó từng có. Kinh ngạc, Adam cầm nó lên và mở ra trang bìa lót, sẵn sàng để thấy tên của chính mình được vạch vẽ nhem nhuốc ở đó trong phông chữ balloon No. 2 in hoa… Nhưng cái tên lại là của một người khác, bằng nét bút mực trong kiểu chữ thảo phong cách Palmer: Raymond B.

Các trang sách mang mùi hôi của nấm mốc và sự ngây thơ từ sự tinh khiết của khoa học trẻ em. Adam lật giở, gợi nhớ lại mọi thứ. Những cuốn sổ thực địa và bảo tàng lịch sử tự nhiên ở nhà. Váng ao dưới kính hiển vi của trẻ con, rẻ tiền. Hơn hết, những đường phết nước sơn móng tay lên bụng của các con kiến. Bằng cách nào đó, ông đã trải qua cả cuộc đời lặp đi lặp lại trải nghiệm đó. Ông đưa mắt lên từ trang sách tranh - “Mọt ngũ cốc và Bọ cánh lông” - để quan sát bầy đàn vô chính phủ, hạnh phúc, giận dữ này. Trong tích tắc, ông thấy hệ thống của các cấp bậc và nhiệm vụ, các vũ điệu loài ong, những vệt chất dẫn dụ (pheromone) mà, từ bên trong tổ ong, cảm giác giống như khoa học vật lý thuần tuý, lực hấp dẫn. Ông muốn sơn một vệt nước sơn móng tay lên tất cả bọn họ rồi trèo lên tầng bốn mươi của tòa tháp bên cạnh, để nhìn cho rõ hơn. Cái nhìn của một nhà khoa học thực địa thực sự. Cái nhìn của một cậu bé lên mười.

Ông nhét cuốn Cẩm nang vàng vào túi quần rồi chen trở lại vào đám đông. Mười bước phía dưới, ngồi trên mép của một cái ghế đá, một con ma quay mặt về phía ông và giật mình. “Chiếm lấy,” ai đó hét lên, vào cái loa phát thanh. Và từ đó được phát ra to hơn gấp một trăm lần từ đầu kia: “CHIẾM LẤY!”

Sự ngạc nhiên của con ma chuyển thành nụ cười rạng rỡ. Adam biết rõ người đàn ông này như thể đây là anh trai ông, trở lại từ cõi chết. Người đàn ông mà ông thấy lúc này hói trọc, đội mũ lưỡi trai, ở nơi ông nhớ là từng có mái tóc đuôi ngựa xa hoa. Ông không tài nào nhớ nổi người đàn ông đó là ai. Rồi khi nhớ ra, ông lại không muốn mình đã nhớ. Đã quá muộn cho bất cứ thứ gì hơn là bước tới siết cánh tay của kẻ xâm phạm, cười to với bằng chứng đó, như thể may mắn là một kẻ vô cùng đểu giả và câu chuyện cũ lạ lùng đó sẽ kéo dài mãi mãi. “Linh sam Doug.”

“Cây Phong. Wow. Chuyện này không thể là thực được.”

Họ ôm nhau như thể hai con người cũ đã vượt qua vạch đích. “Ôi trời. Chúa ơi! Cuộc đời thật là dài, nhỉ?” Dài hơn bất cứ ai. Nhà tâm lý học không thể ngừng lắc đầu. Ông không muốn điều này. Thi thể đó đang bị lôi ra khỏi nấm mồ bởi những nhà khảo cổ độc ác mà không phải là ông. Nhưng mà tranh đấu thì cũng buồn cười. Như gã diễn viên hài với những tính toán thời gian hoàn hảo.

“Có phải…? Anh ở đây để…?” Adam khoát tay về phía đám đông nghìn nghịt đang cứu rỗi nhân loại khỏi chính nó. Pavlicek - Pavlicek, cái tên là thế. Pavlicek nhíu mày nhìn khắp lượt quảng trường. Như thể ông ta vừa mới thấy nó, ngay lúc này.

“A, ô, ôi trời. Không phải tôi. Dạo này, tôi chỉ là khán giả. Không hay ra ngoài lắm. Không gây ồn ào kể từ… anh biết đấy.”

Adam nắm khuỷu tay người đàn ông - vẫn còn vụng về, vẫn còn trẻ con. “Đi bộ đi.”

Họ lang thang xuống Broadway, qua Citibank, Ameritrade, Fidelity. Những năm tháng họ cần bắt kịp đã hoàn thành trong một phút ở New York. Giáo sư tâm lý học ở NYU, với người vợ đã xuất bản nhiều sách self-help và cậu con trai năm tuổi muốn trở thành nhân viên ngân hàng khi nó lớn lên. Nhân viên lâu năm của Cục Quản lý Đất đai, giữa các công việc và những nơi cư trú, đến thành phố này để gặp bạn. Hết. Nhưng họ vẫn tiếp tục bước đi, dưới những cột xoắn ốc của nhà thờ Trinity, vượt qua bóng ma của cây buttonwood ấy, cây sung dâu ngày xưa nơi các doanh nhân từng gặp để giao dịch chứng khoán, giờ là phòng máy chủ của website của doanh nghiệp miễn phí. Và họ vẫn không ngừng nói chuyện, một vòng chầm chậm quanh quá khứ, thứ mà với chu vi của nó Adam sẽ không thể hồi tưởng lại được kể cả sau đó một giờ. Douglas liên tục chạm vào vành mũ bóng chày, như thể ông đang nghiêng chào nó với người qua đường.

Adam hỏi, “Anh có… liên lạc với ai không?”

“Liên lạc?”

“Với những người khác.”

Douglas nghịch cái mũ. “Không. Còn anh?”

“Tôi… không. Dâu Tằm - không tin tức. Nhưng Người Canh Gác? Điều này nghe điên rồ. Cảm giác như anh ấy đang đi theo tôi khắp nơi.”

Douglas dừng lại trên vỉa hè trong một biển doanh nhân. “Ý anh là sao?”

“Có thể tôi bị điên. Nhưng tôi di chuyển rất nhiều vì công việc. Giảng dạy và hội thảo, khắp đất nước này. Và trong ít nhất ba thành phố, tôi đã thấy những bức tranh đường phố trông giống hệt như các bức tranh mà anh ấy đã vẽ.”

“Những người cây?”

“Phải. Anh nhớ đấy chuyện đó thật kỳ lạ…”

Douglas gật đầu, chạm ngón tay lên vành mũ. Một nhóm du khách đứng thành vòng tròn trên vỉa hè phía trước họ quanh một con thú hoang. Nó to lớn, cơ bắp, đang húc, lỗ mũi lóe sáng, với hai sừng dài hung ác sẵn sàng đâm vào đám đông đang đứng vòng quanh nó chụp ảnh selfie. Bảy nghìn pound nghệ thuật du kích (guerrilla art) bằng đồng, được người tạo ra nó chở tới đây vào đêm khuya muộn và để lại trên thềm của tòa nhà Stock Exchange như một món quà cho cộng đồng. Khi thành phố cố gắng kéo nó đi, mọi người đã phản đối. Charging Bull — “Con bò” thành Tơ-roa.

Vài tuần sau, một nữ diễn viên ba lê cưỡi con quái vật không đóng yên đó trong thế múa xoay tròn đã trở thành poster trẻ con ấn tượng của phong trào Stop the Humans mới nhất:

CÁI GÌ

LÀ

YÊU CẦU

DUY NHẤT

CỦA CHÚNG TA

#CHIẾMPHỐWALL

MANG TRẠI ĐẾN

Mọi người thay phiên nhau ôm ấp con vật đang húc để chụp ảnh. Douglas dường như không hiểu cảnh tượng mỉa mai đó. Đôi mắt ông để ở khắp nơi trừ chỗ đám đông đang nhìn. Một điều gì đó vật lộn trong ông. “Thế…” Ông xoa cổ. “Anh đang có một cuộc sống tốt nhỉ?”

“May mắn điên rồ. Nhưng tôi cũng làm việc suốt ngày. Công việc nghiên cứu… rất vui.”

“Chính xác thì anh nghiên cứu gì?”

Adam đã trình bày câu chốt đó hàng nghìn lần, với tất cả mọi người từ biên tập viên các tuyển tập đến những người lạ trên máy bay. Nhưng người đàn ông này - ông nợ người đàn ông này nhiều hơn một chút. “Tôi vẫn đang nghiên cứu đề tài đã thực hiện từ khi chúng ta gặp nhau. Khi năm người chúng ta… Tiêu điểm đã thay đổi, qua nhiều năm. Nhưng vẫn là một vấn đề cốt lõi đó: Cái gì ngăn cản chúng ta nhìn thấy điều hiển nhiên?”

Douglas đặt tay lên sừng của con bò đồng. “Rồi sao? Đó là cái gì?”

“Đó là hầu hết những người khác.”

“À…” Douglas nhìn lên Broadway, để xem cái gì khiến con bò nổi giận đến thế. “Tôi cũng có thể khám phá được ý tưởng đó một cách độc lập.”

Adam cười to tới nỗi khách du lịch phải quay lại nhìn. Ông nhớ ra tại sao ông từng có lúc yêu quý người đàn ông này. Tại sao ông tin ông ta hết lòng. “Có một phần quan trọng hơn của vấn đề này.”

“Tại sao một số người lại có thể thấy… ?”

“Chính xác.”

Bằng cử chỉ, một người du lịch châu Á đề nghị hai người đàn ông tránh khỏi bức tượng để lấy trọn chiều dài cho một bức ảnh chụp nhanh. Adam thức tay Douglas và họ đi thêm một đoạn nữa, xuống khuôn viên hình giọt nước mắt của Bowling Green Park.

“Tôi đã nghĩ rất nhiều,” Douglas nói. “Về những điều đã xảy ra.”

“Tôi cũng vậy.” Ngay lập tức Adam muốn rút lại lời nói dối đó.

“Chúng ta đã hy vọng hoàn thành cái gì vậy? Chúng ta đã nghĩ chúng ta đang làm gì vậy?”

Họ đứng dưới tán tròn của cây Platanus có thân vằn vện, loài cây giỏi chịu đựng nhất trong các cây miền Đông, tại nơi mà hòn đảo đã bị bán, bởi những người lắng nghe cây, cho những người đốn hạ chúng. Họ cùng nhìn chăm chú vào đài phun nước mạch. Adam nói, “Chúng ta đã đốt cháy các tòa nhà đó.”

“Đúng thế.”

“Chúng ta đã tin rằng con người đang phạm tội giết người hàng loạt.”

“Phải.”

“Chẳng ai khác đã có thể thấy điều đang xảy ra. Chẳng có gì dừng lại trừ khi những người như chúng ta thức ép giải quyết vấn đề.”

Vành mũ lưỡi trai của Douglas lắc qua lắc lại. “Chúng ta đâu có sai, anh thấy đấy. Nhìn quanh xem! Bất cứ ai đang chú ý đều biết bữa tiệc kết thúc rồi. Gaia đang trả thù.”

“Gaia?” Adam mỉm cười, nhưng đau đớn.

“Cuộc đời. Hành tinh. Chúng ta đang trả giá. Nhưng ngay cả bây giờ một người nói ra câu đó vẫn là một kẻ điên.”

Adam băn khoăn nhìn người đàn ông. “Thế nên anh sẽ làm lại tất cả thêm lần nữa? Những gì chúng ta đã làm?”

Những câu hỏi của các nhà triết học giả dối nhảy nhót trong đầu Adam. Những câu hỏi cấm kỵ. Bao nhiêu cây thì bằng một con người? Một thảm họa sắp xảy ra có thể biện minh cho hành vi bạo lực nhỏ, sắc bén?

“Làm lại ư? Tôi không biết. Tôi không biết điều đó có nghĩa là gì.”

“Đốt các tòa nhà.”

“Đêm đêm tôi tự hỏi mình liệu có bất cứ điều gì chúng ta đã làm - bất cứ điều gì chúng đã có thể làm - sẽ bù đắp được chút gì cho cái chết của người phụ nữ đó.”

Và rồi cảm giác giống như ngày là đêm, thành phố của gỗ vân sam, cả công viên rừng rực cháy quanh họ, và người phụ nữ nhợt nhạt, xa lạ, ưa nhìn đó đang nằm trên đất, cầu xin nước.

“Chúng ta đã không hoàn thành được điều gì cả,” Adam nói. “Không bất cứ điều gì.” Họ quay lại để rời công viên, một nơi quá đông đúc để nói chuyện này. Đến cái cổng trong hàng rào sắt thấp, chỉ khi đó họ mới nhận ra: không có nơi nào an toàn hơn. “Cô ấy sẽ thực hiện lại tất cả lần nữa.”

Douglas chỉ vào ngực Adam. “Anh đã yêu cô ấy.”

“Tất cả chúng ta đều yêu cô ấy. Phải.”

“Anh đã thực sự yêu cô ấy. Giống như Người Canh Gác. Giống như Mimi.”

“Chuyện đó lâu rồi.”

“Anh hẳn đã đánh bom cả Lầu Năm Góc vì cô ấy.”

Adam mỉm cười, nhẹ và mờ. “Cô ấy thực sự có quyền uy.”

“Cô ấy đã nói rằng cây đang nói chuyện với cô ấy. Rằng cô ấy có thể nghe chúng.”

Một cái nhún vai. Một lần lén kiểm tra đồng hồ. Ông cần quay trở lại trên phố để chuẩn bị bài giảng. Quá nhiều lịch sử khiến Adam thấy nặng nề. Hơn nữa ông đã là người trẻ hơn, giận dữ hơn. Một loài khác. Chỉ là một thí nghiệm thất bại. Thứ duy nhất cần thương thảo là Hiện tại.

Douglas sẽ không để ông yên. “Anh có nghĩ có thứ gì đó thực sự đã nói chuyện với cô ấy? Hay cô ấy chỉ…?”

Thế giới có sáu nghìn tỉ cây, khi loài người xuất hiện. Giờ chỉ còn một nửa. Một nửa của phần còn lại sẽ biến mất, trong một trăm năm nữa. Và khi con người nói rằng tất cả cây cối đang lên tiếng về sự biến mất hay bất cứ điều gì khác thì đó chính là sự thật. Nhưng câu hỏi đó khiến Adam thấy thú vị. Joan xứ Arc quá cố đã nghe thấy gì? Minh mẫn hay ảo tưởng? Tuần sau ông sẽ nói với sinh viên đại học về Durkheim, Foucault, chuẩn mực ẩn (crypto-normativity): vấn đề lý do chỉ là một vũ khí nữa của quyền lực. Vấn đề sự phát minh của hợp lý, có thể chấp nhận, đúng mực, thậm chí là nhân tính, xanh hơn và có lịch sử gần hơn con người vẫn tưởng.

Adam đưa mắt nhìn ra sau họ, xuống hẻm núi bê tông của phố Beaver. Beaver - Hải ly: những sinh vật mà da của chúng xây nên thành phố này. Sàn giao dịch Manhattan gốc. Ông nghe thấy bản thân trả lời. “Cây vẫn thường xuyên nói với con người. Những con người đúng mục vẫn thường lắng nghe chúng.” Câu hỏi duy nhất là liệu họ có sẽ nói chuyện lại với nhau hay không, trước khi kết thúc.

“Đêm hôm đó ấy mà?” Douglas ngước mặt lên bức tường của tòa tháp. “Khi chúng tôi bảo anh đi tìm người giúp ấy? Tại sao anh lại quay lại?”

Cơn giận dữ trào dâng qua Adam, như thể hai người họ lại có thể đánh nhau lần nữa. “Lúc đó đã quá muộn. Tìm được người giúp phải mất nhiều giờ. Cô ấy thì đang chết rồi. Nếu tôi có tới được chỗ cảnh sát… cô ấy vẫn chết. Và tất cả chúng ta sẽ bị còng tay.”

“Anh đã không thể chắc về điều đó, anh bạn. Giờ anh cũng không thể chắc về điều đó.”

Giận dữ, gốc rễ căn bản của một nỗi đau cắm sâu vĩnh viễn.

Họ đi qua một cây dương tử kinh châu Âu nhỏ, cao hai mươi feet. Thân cây như dải cột sống và các cành cây của nó cong cong như nữ diễn viên ba lê múa trên con bò đực. Sự bạt ngàn của những nụ hoa ăn được, màu tím, mọc thẳng ra từ thân và cành cây vẫn đang thuộc về một mùa đông đã qua. Lúc này các quả khô treo lủng lẳng xuống từ các cành cây trông rất giống những người treo cổ. Người ta nói Judas đã tự treo cổ từ một cây Cercis - dương tử kinh. Đó là một truyền thuyết khá mới, như hầu hết các truyền thuyết liên quan tới cây. Các cây Judas mọc trong các góc khuất ở trên khắp Lower Manhattan. Cây này sẽ biến mất trước khi nó nở hoa nhiều gấp đôi.

Hai người đàn ông dừng lại ở đường Battery Place, nơi con đường của họ chia đôi. Xuôi xuống dưới đường và qua dòng sông, Liberty. Có một con sóc nọ, một con vật ma, chủ đề của những điếu văn bất tận, kẻ chạy không ngừng qua những vòm cây của một khu rừng ma khổng lồ từ đây đến tận Mississippi, mà không bao giờ chạm chân xuống đất. Giờ đây tất cả chỉ còn lỗ chỗ, qua những mảng rừng thứ sinh rải rác mọc chéo góc với các đường cao tốc nơi chốc chốc lại có xác của những con vật bị xe cộ cán qua. Nhưng hai người đàn ông vẫn dừng lại nhìn, như thế cánh rừng bất tận vẫn trải ra kia, trước mặt họ.

Họ quay về phía nhau và ôm tạm biệt, giống như những con gấu đọ sức mạnh với nhau. Như thể họ sẽ không bao giờ thấy lại nhau nữa trong cuộc đời này. Như thể ngay cả vào lúc đó, vẫn sẽ là quá sớm.

CÂY CỐI QUYẾT không nói điều gì. Neelay ngồi giữa sân trong của trường Stanford - một vườn cây cảnh liên thiên hà - chờ đợi cho một lời giải thích. Ơn gọi suốt cuộc đời đã trở nên sai lệch. Ông đã lạc khỏi con đường họ đặt cho ông. Cái gì bây giờ.

Cây cối phớt lờ ông. Cái bao nước phình ra của bottle tree, áo giáp đầy gai của cây bông gòn gai: không có lấy một tiếng xào xạc của lá. Cảm giác như thể tri kỷ của ông - trong thiên hà duy nhất từng cho ông một thứ như thế - đã lao từ hạnh phúc xuống hoảng loạn trong con sóng đầu tiên và chặt chết ông. Ông đang phá hoại các bức ảnh của du khách. Không ai muốn một bức ảnh về một tu sĩ La Mã Tây Ban Nha giả, đẹp đẽ với một quái vật què quặt ở phía trước. Ông xoay xe rời đi, giận dữ như một người yêu bị bỏ roi. Nhưng đi đâu? Ngay cả việc trở về căn hộ của mình ở bên trên trụ sở Sempervirens cũng là một nỗi sỉ nhục.

Ông sẽ gọi cho mẹ, nhưng lúc này đang là nửa đêm ở Banswara, nơi bà dành phần lớn thời gian trong năm, chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết. Giờ bà đã biết, hơn mười năm sau, rằng sẽ không bao giờ có Rupal nào cho ông, rằng khoa học sẽ không bao giờ phục hoạt được chân ông, và rằng cách tốt nhất để yêu con trai của bà là để mặc ông trong thế giới cô lập của mình. Giờ đây bà chỉ quay lại mỗi khi ông phải nhập viện, khi các bác sĩ phải loại bỏ những vết loét do ngồi lâu nhiều vô kể của ông hoặc để cắt bỏ những phần chân và mông bị hoại tủ. Mỗi lần lên máy bay là một lần đánh vật với nỗi đau. Ông sẽ không nói với bà, lần tới khi ông phải đi viện.

Ông lăn xe xuống bãi cỏ Oval về phía hàng cọ vĩ đại. Bầu trời quá trong, ngày quá nóng, và tất cả thân cây đã chuyển thành những đồng hồ mặt trời đồng bộ. Ông tìm thấy một nơi bóng râm - một môn thể thao đang ngày càng nổi tiếng, trên toàn thế giới. Rồi ông ngồi yên, cố để chỉ ở nơi ông đang ở nơi đây, ở nhà. Không có gì tốt. Trong phút chốc, ông kích động, kiểm tra tin nhắn chưa gửi của ông. Con người có thể sống ở đâu? Các yêu tinh của ông hẳn đã đúng: chỉ trong các biểu tượng, các mô phỏng.

Ông đặt thiết bị vào lại túi xe lăn, nó kêu o o như một bầy ve sầu. Đó là một tin nhắn từ AI cá nhân của ông. Thứ đó vẫn đang sống, ranh ma, kiểm tra ông với clickbait game của loài người. Từ thời thơ ấu, thậm chí trước cả khi bị ngã, ông thường mơ về một con thú cưng robot như thế. Thứ này tốt hơn bất cứ sự tiên tri nào trong khoa học viễn tưởng của tuổi thơ mà ông đã dự đoán được - nhanh hơn, mượt hơn, linh hoạt hơn. Nó đi ra ngoài bất cứ lúc nào và truy lùng toàn bộ hành động của con người, rồi về báo cáo lại với ông. Nó ngoan ngoãn và không mệt mỏi, và giống như những sinh vật duy nhất mà ông tin tưởng những ngày này, nó không có chân. Chân, Neelay nghi ngờ, có thể là nơi tiến hóa nổi điên.

Ông và người của mình đã tạo ra vật cung này, và giờ nó đang bận rộn tạo ra ông. Ông đã bảo nó quan sát theo dõi bất cứ tin tức nào liên quan tới ám ảnh mới của ông: sự truyền thông giữa cây cối, trí tuệ của rừng, các mạng lưới nấm, Patricia Westerford, Khu rừng bí mật… Cuốn sách đột ngột xuất hiện với những tiếng vọng kỳ lạ về những điều mà ông đã nghe thấy thầm thì, từ nhiều thập kỷ trước, bởi những dạng sống ngoài hành tinh mà giờ đây luôn lờ tịt ông đi. Nó đã làm ông mất đi vai trò người đứng đầu sáng tạo của công ty ông. Nó muốn hơn nữa từ ông, nhiều trả giá hơn, nhiều cứu trợ hơn. Nhưng đó là gì?

Ông mở tin nhắn trên robot. Nó chưa một liên kết và một tiêu đều: Những lời của không khí và ánh sáng. Quả thực là khả năng gợi ý không gì sánh được từ vật cưng của ông. Dù ở trong bóng râm, Neelay vẫn không thể đọc được màn hình. Ông chạy xe lăn về phía xe tải, đang đỗ cách đó không xa. Trở lại vào trong tàu vũ trụ rỗng của mình, ông bấm vào link đó và xem trong cảm giác hỗn độn. Các bóng râm và ánh mặt trời nổ bung. Một trăm năm của một cây dẻ phun lên trong hai mươi giây, giống như một cảnh của máy hoạt ảnh (kinetoscope) quay tay. Nó kết thúc trước khi Neelay kịp hiểu điều gì. Ông xem lại clip. Cái cây phun lên một lần nữa thành một vành lá rộng. Các nhành cây rung rinh vươn lên tìm kiếm ánh sáng, tìm kiếm những thứ ẩn mình dễ thấy. Cành cây đâm nhánh tua tủa trong không khí. Với vận tốt này, ông thấy mục đích trung tâm của cái cây, bài toán ấn phía sau các phloem và xylem, các hình học đan cài cuồn cuộn, và cái lớp mỏng của tầng phát sinh gỗ (cambium) sống không ngừng phồng ra ngoài ấy.

Mã - mã phân nhánh dữ dội trở lại do việc cắt xén thất bại - xây nên cái cột cuồn cuộn khổng lồ này từ những lời chỉ dẫn mà Vishnu đã cố nhét được vào một thứ nhỏ hơn cái móng tay của một cậu bé. Khi cái cây hoàn thành một thế kỷ sinh trưởng của nó, những lời từ cây dẻ già của Chủ nghĩa Siêu việt đã biến mất cuộn lên, từng dòng một, trên một biển đen:

Người làm vườn chỉ thấy

vườn của người làm vườn.

Đôi mắt không được tạo ra

cho những công dụng quằn quại

như chúng bị đặt vào và làm cho cạn kiệt hiện nay,

mà là để mục kích những vẻ đẹp

mà giờ đây không còn trông thấy được.

PHẢI CHĂNG

CHÚNG TA

KHÔNG

THẤY

CHÚA?

Và khi Neelay nhìn lên khỏi cái màn hình bé xíu, đó chính xác là điều ông thấy.

NGAY ĐỐI DIỆN SÂN TRUÔNG từ chiếc xe tải của ông, phía trên bãi cây khuynh diệp, các thu mời được gửi đi. Chúng rải rác thành từng cụm, như phấn hoa bay trên không. Một cụm rơi lên Patricia Westerford, trong một căn phòng nhỏ ở một viện nghiên cứu trong dãy Great Smoky Mountains. Bà đang tìm kiếm các chủng căn bản của hàng chục loại cây gỗ cứng có thể đổ trong vài năm tới bởi sâu đục thân và xén tóc. Những ngày gần đây hàng chục những thu mời như thế đến với bà, và bà hầu như không để ý tới chúng. Nhưng thứ này - Sửa Nhà: Chống lại một thế giới đang nóng lên - nghe có vẻ đau đớn tới nỗi bà phải đọc lại những con chữ lần thứ hai. Ai đó muốn bà bay hai nghìn năm trăm chín mươi sáu dặm rồi bay về, cho một hội thảo về khí hậu đang bị phá hủy. Bà không thể nắm bắt được cái tiêu đề đó: Sửa Nhà. Như thể chúng ta chỉ cần sủa các máng xối, đặt vào một máy làm mát mái nhà, thế là có thể trở lại những ngày tươi đẹp.

Bà ngồi trên chiếc ghế lưng tựa nan ngang bên chiếc bàn, lắng nghe tiếng dế. Rất lâu trước đây, bố bà đã dạy bà một công thức cũ, một công thức chuyển tiếng dế kêu trong mỗi phút thành độ Fahrenheit. Trong sáu mươi năm, dàn nhạc ban đêm xung quanh bà đã chơi một trong những điệu nhảy dân gian giữ tốc độ cho đến khi tất cả người chơi ngã xuống thành một đống. Chúng tôi sẽ rất vui nếu bà có thể nói về bất cứ vai trò nào mà cây đóng góp trong việc hỗ trợ con người đạt được một tương lai bền vững. Những người tổ chức hội thảo muốn một bài đinh từ người phụ nữ đã từng viết một cuốn sách về sức mạnh của rừng cây trong việc phục hồi hành tinh đang hỏng hóc này. Nhưng bà viết cuốn sách đó đã mấy chục năm trước, khi bà vẫn còn đủ trẻ để có can đảm và hành tinh này vẫn còn đủ tốt để củng cố lại.

Những người này cần những giấc mơ đột phá về công nghệ. Một cách mới nào đó để nghiền cây bạch dương thành giấy mà phải đốt lượng hydrocarbon thấp hơn. Một loại cây trồng thương phẩm biến đổi gene nào đó mà sẽ xây được nhà tốt hơn và giúp người nghèo trên thế giới thoát khỏi cảnh bần cùng. Sự sửa nhà mà họ muốn chỉ là một sự phá hủy ít lãng phí hơn một chút. Bà có thể nói với họ về một thứ máy đơn giản không cần nhiên liệu và ít cần bảo trì, một cái máy liên tục cô lập carbon, làm giàu chất đất, làm mát mặt đất, làm sạch không khí, và có thể dễ dàng làm ở mọi kích cỡ. Một công nghệ tự sao chép nó và tạo ra thức ăn miễn phí. Một thiết bị đẹp đến mức có thể là đối tượng của thi ca. Nếu rừng được cấp bằng sáng chế, bà sẽ là người ăn mừng.

California đồng nghĩa với ba ngày không làm việc. Chúa dọn dẹp cả địa ngục cũng mất ít thời gian hơn. Chúng sợ không gian rộng của bà đã tăng dần trong mấy năm gần đây, vì thế trong những khán phòng đông đúc đó bà không thể nghe được ai nói gì. Nhưng danh sách khách mời thì rất lạ thường: một danh sách các pháp sư và kỹ sư nổi tiếng, mỗi người trong số họ chỉ là một khoản trợ cấp lớn từ việc làm mờ mặt trời bằng các hạt, bằng những giống loài nguy hiểm được nhân bản vô tính, hoặc đang khai thác những năng lượng rẻ vô tận. Sẽ có các nghệ sĩ và nhà văn để đưa ra câu hỏi hỗn độn về tinh thần nhân văn đó. Những nhà đầu tư mạo hiểm đang tìm kiếm các mạch mở xanh tiếp theo. Bà sẽ không bao giờ có những khán giả như thế một lần nữa. Bà đọc lại yêu cầu, mường tượng ra một nơi mà “tương lai bền vững” có một nghĩa gì đó hơn là “say khô”[1] (dry drunk). Bà đọc đến đoạn kết gây xúc động của lá thư. Giống như Toynbee từng viết, “Con người đạt được sự văn minh… như mọt phản ứng trước thách thức trong tình huống khó khăn đặc biệt mà đã kích động con người thực hiện một nỗ lực chưa từng có từ trước đến nay.” Thư mời này cảm giác giống như một bài kiểm tra của sự chân thực mà bà đã cố gắng trau dồi kể từ những ngày sông lang thang. Ai đó đang hỏi bà con người cần làm gì để cứu nơi đang chết dần này. Bà có thể nào nói trước một cuộc tụ họp của những người quyền lực và xuất chúng như thế này rằng điều bà nghĩ là đúng?

Đêm nay đã quá muộn để đưa ra một lời hồi đáp khôn ngoan. Nhưng vẫn còn thời gian, cho một cuộc đi dạo xuống những ghềnh đá của con suối Middle Prong. Bên ngoài cửa phòng của bà, những cây táo gai còi cọc chen chúc vẫy vẫy những lời tiên tri ma quái dưới vầng trăng gần tròn. Những quả màu đỏ chót của chúng treo lúc lỉu trên các nhành cây, nhiều quả sẽ ở đó qua cả mùa đông. Crataegus - cây táo gai, liều thuốc chữa nỗi đau của trái tim. Mọi người sẽ tìm thấy các liều thuốc ở đó chừng nào họ còn tiếp tục nhìn. Con đường xuyên qua một khoảng rừng trống của bà làm hoảng sợ một con sóc mà mới hai giờ trước chẳng e dè gì loài người. Bà khua khua cái đèn pin. Nền rừng đầy những ụ đất nhão cao màu cam và nâu đất mang mùi ngọt và mốc của bột mềm nhào bánh. Hai con cú bị ngáng đường, sầu thảm và đẹp đẽ, kêu vẳng lại từ một nơi xa. Trên sườn núi, quả sồi và mại châu sà xuống đất. Gấu ở khắp nơi ngủ ngon lành sau bữa tiệc của ngày, mỗi dặm vuông hai con.

Bà chui qua những đường hầm đỗ quyên sà xuống, qua những cây cherry đen ghi nhớ những con đường cũ, vượt qua những cây sourwood và những cây dẻ vàng thơm. Cây mộc lan và cây striped maple lấp kín chỗ những cây dẻ đã bị đốn đi rất nhiều. Các cây độc cần đang chết, bị tấn công bởi rệp adelgid và bị bồi thêm bởi những cơn mưa axít. Phía trên cao, trên vạt đỉnh Appalachia, tất cả các cây linh sam Fraser đang chết. Xung quanh bà, rừng chao đảo trong cái năm nóng nhất, khô nhất kể từ khi kỷ lục được ghi chép. Thêm một cái đỉnh nữa, sự kiện trăm-năm-mới-có-một-lần, mà hầu như đã trở thành thường niên. Lửa cháy bập bùng khắp nơi trong công viên. Cứ ba ngày một lần Báo động đỏ.

Nhưng những cây hoa tulip nghiêm trang vẫn tăng cường hệ thống miễn dịch của bà, trong khi cây sồi nâng tâm trạng của bà và giúp bà tập trung các suy nghĩ. Dưới những cây khổng lồ này, bà thông minh hơn, sáng rõ hơn. Bà thấy một cây hồng vỏ cây như da cá sấu. Những quả sweet-gum tròn, trông giống như những cái chuỳ gai thời trung cổ nhỏ bé, kêu răng rắc dưới chân bà. Bà xé một chút đầu của một cái lá gum rơi và ngửi - một luồng hương thiên đường với một đứa trẻ. Một cây sồi đỏ đáng kính cách không xa con đường mòn, chỉ mười hai feet. Nó có thể làm dịu ngay cả sự bất an kỳ lạ mà thư mời đó phủ chụp lên bà. Tương lai bền vững. Họ không muốn một phụ nữ cây chủ trì buổi gặp mặt của họ. Họ muốn một nhà ảo tưởng bậc thầy. Một tiểu thuyết gia khoa học viễn tưởng. Thần Lorax. Có thể là một người chữa lành đức tin với những thực vật biểu sinh cho tóc. Xuống dưới lòng suối, đến chuyến trườn bò yêu thích qua những phiến đá của bà, bà bỏ giày ra. Nhưng bà không cần. Một con suối đáng lẽ đang gào réo thì giờ đây chỉ là một bãi đá cuội. Bà lật mấy viên đá lên để tìm kỳ nhông. Ba mươi loài, vô số triệu con kỳ nhông đã có thể có trong công viên này, cư trú ở mọi nơi ẩm ướt, thế mà bà chẳng tìm được con nào. Bà giơ bàn chân trần ra dòng suối tưởng tượng. Anh nghĩ sao, Den? Đi nói chuyện về “Sửa Nhà”?

Ký ức về một bàn tay đặt lên vai bà. Nếu em phải hỏi anh, em yêu, nghĩa là em không thể chịu được câu trả lời.

TỪ BÊN BỜ SUỐI Little River của Tennessee tới thành phố New York chỉ có bảy trăm dặm. Phấn hoa từ một cây thông trắng miền Đông có thể đi suốt chặng đường đó, chỉ cần có một cơn gió mạnh thổi không ngừng. Ở phía đầu bên kia của con đường, Adam Appich nhìn ra ngoài với một nụ cười khó hiểu qua một vòng tròn hai trăm sáu mươi sinh viên năm nhất ngành tâm lý đang lắng nghe bài giảng của ông về mù nhận thức để nhìn ba người mang vũ khí đang đứng ở cuối giảng đường lớn chờ ông kết thúc bài giảng. Cảm giác sốc của ông kéo dài không quá mấy nhịp tim đập mạnh. Thoáng nhìn một cái ông cũng biết những người đàn ông này muốn gì và tại sao họ lại ở đây. Tất nhiên, khẩu Glock 23s và áo khoác đột kích màu xanh tím than in những con chữ FBI màu vàng cũng giúp khẳng định ID của họ. Suốt mấy chục năm qua, trong những khoảnh khắc ngẫu nhiên của mỗi mùa, từ buổi trưa tỉnh táo cho đến trong lúc ngủ say, ông đã sợ hãi trước những người đàn ông này và sự xuất hiện của họ. Ông đã đợi họ lâu tới mức ông quên mất là họ đang đến. Giờ đây, trong ngày mùa thu tươi đẹp này, ngày muộn của cái năm muộn này, những người bắt giữ ông cuối cùng cũng ở đây, trông đúng như ông vẫn luôn nghĩ về họ: rắn chắc, dữ tợn, và công vụ, với dây bộ đàm gắn vào tai. Thêm một cái nháy mắt mỉm cười nữa, nỗi sợ của Appich biến thành một cảm giác nhẹ nhõm của những dự đoán đã hoàn thành. Ông nghĩ: Họ sẽ đi xuống lối giữa và bắt mình trên bục giảng. Nhưng những người đàn ông, năm người họ, tụ lại ở cuối phòng phía sau hàng ghế cuối cùng, chờ cho Adam kết thúc bài giảng. Chủ đề hôm nay là một chủ đề đơn giản. Khi một con người thực hiện một lựa chọn, có rất nhiều thứ xảy ra trong đêm, dưới lòng đất, hoặc chỉ là ngoài tầm mắt mà người lựa chọn là người cuối cùng hay biết. Sau hai mươi năm gò vai rụt cổ, lên gồng chờ cú búa giáng xuống này, cơn đau đớn nhăn mặt kéo dài của ông cuối cùng cũng qua. Ông đã làm việc chăm chỉ để biến mất vào các thành tụ. Hai lần ông giành giải giảng viên xuất sắc của trường, và chỉ mới năm ngoái ông đã được đề cử cho giải thưởng Beauchamp Prize của APA cho nghiên cứu nâng cao về tính thực nghiệm một nhận thức mang tính vật chất của trí tuệ con người. Ông đã thể hiện bản thân trước công chúng quá lâu tới nỗi chính ông cũng bị lừa bởi hồ sơ của bản thân. Giờ đây tất cả lựa chọn tuổi trẻ của ông quay trở lại và thổi bay ảo tưởng đó đi. Mọi thứ trở nên rất rõ ràng. Cơ hội gặp lại đồng phạm cũ. Tất cả đều giật giật vành mũ bóng chày. Lời thứ tội được trích xuất. Chúng tôi đã đốt các tòa nhà đó. Chúng tôi đã làm. Họ hẳn sẽ trao cuộc đời của họ cho nhau, năm người họ. Một trong số họ đã làm. Liếc nhìn một cái xuống những ghi chép viết tay của ông. Đúng lúc, những con chữ được đóng khung màu đỏ trồi lên từ quá khứ có thể nhìn thấu suốt tới tương lai đầy hối tiếc. Adam đã thả ra dòng này trước đây, sau mấy năm lăn lộn trong khóa khảo sát này, nhưng ý nghĩa đầy đủ của chúng phải đợi tới lúc này mới rõ. Ông đẩy cái kính không gọng ngược lên sống mũi lấm tấm mồ hôi và lắc lắc đầu với hội trường chật cứng. Thật là một bài học mà những sinh viên này sẽ để lại với ngày hôm nay.

“Bạn không thể thấy cái mà bạn không hiểu. Nhưng cái mà bạn nghĩ rằng bạn đã hiểu, bạn sẽ nhìn bằng cách sai lầm.”

Một vài người trong hội trường cười khục khục; họ vẫn chưa thể nhìn thấy những người đàn ông đứng sau lưng họ, phía cuối hội trường. Một số sinh viên cố ghi nhớ câu này cho một bài kiểm tra sẽ đến trong một dạng thức hoàn toàn khác với những gì mà họ tưởng. Phần đông thì ngồi im không nhúc nhích, chờ đợi buổi học trôi đi. Appich lướt qua những slide cuối bài giảng. Trong mười lăm giây, ông tổng hợp các bài học đáng chú ý và đưa ra các ý quan điểm chính của mình. Ông nghĩ: Mình chưa bao giờ kém trong chuyện này. Rồi ông rời khỏi căn phòng, sải bước dài qua lối đi dốc lên qua biển sinh viên, và bắt tay những người đàn ông đến để bắt ông. Ông muốn nói, Sao các ông lâu đến thế?

Các sinh viên của ông ngạc nhiên nhìn chằm chằm, những người ngoài lề bất lực khi giáo sư của họ bị còng tay dẫn đi. Các mật vụ thức Appich ra khỏi giảng đường lên vía hè. Ngày rất đẹp và bầu trời mang màu hy vọng của một chàng trai trẻ. Mọi người băng qua lối đi của họ. Toán cảnh sát hẳn đã dừng lại một giây để nghỉ vì quá đông người. Cả thành phố đều ra ngoài vào một sáng mùa thu tươi đẹp, làm đủ thứ việc. Một làn gió nhẹ đưa mùi hôi của bơ ôi lên mũi Adam. Ông đã ngửi thấy mùi thứ nôn mửa có mùi trái cây và thuốc đó rất nhiều lần trước đây, nhưng nguồn gốc của nó lúc này trốn tránh khỏi ông.

Những người mặc áo jacket tím than dẫn ông đi thêm mấy mét trên vỉa hè qua một chiếc Suburban màu đen. Những người đàn ông này dữ dằn nhưng lịch sự, sự hòa trộn kỳ lạ của mục đích, sự căng thẳng, và tẻ nhạt luôn đi kèm với chương trình thực thi pháp luật. Họ đẩy Adam vào cửa xe mở sẵn. Một mật vụ kéo đầu ông xuống khi họ gập người ông trên ghế sau.

Adam ngồi trong vòng vây an ninh, cổ tay ông bị xích lại trước người. Trong ghế trước, một mật vụ nói vào một miếng kính hình vuông, báo cáo việc bắt giữ thành công. Những lời đó có thể cũng giống như tiếng chim hót. Ai đó vẫy vẫy về phía ông qua ô cửa kính là mò bên đường. Ông quay sang nhìn. Ngay bên cạnh chiếc xe đang dừng lại này, vươn lên từ một cái hố trong nền đường bê tông, một cái cây đang rung rinh, lá của nó, những chiếc lá của nó giống như cây bút chì màu vàng trong hộp chì tám màu của trẻ con. Cây cối đã phá hủy cuộc đời ông. Cây cối là lý do mà những người đàn ông này đến để cùm tay ông cho tất cả năm tháng mà ông còn lại của ông. Chiếc xe vẫn không nhúc nhích. Những người bắt giữ ông đang hoàn thành các giấy tờ cần thiết trước khi khởi hành. Những chiếc lá vàng nói, Nghe này. Bây giờ. Ở đây. Ngươi sẽ không được ra ngoài trở lại trong một thời gian dài đấy. Adam nhìn và chỉ thấy điều này: một cái cây mà ông đã đi bộ qua ba lần mỗi tuần trong bảy năm. Đó là loài độc nhất của chỉ duy nhất trong họ có một không hai của bộ đơn lẻ của lớp duy nhất còn lại trong một ngành đã bị loại bỏ từng bao phủ khắp Trái Đất - một hóa thạch sống ba trăm triệu năm tuổi đã biến mất khỏi lục địa từ Kỷ Tân cận và đã trở lại để chật vật kiếm sống trong bóng râm, muối và khói của Lower Manhattan. Một cái cây già hơn những cây lá kim, tinh dịch lượn lờ và những quả họ thông có thể thả ra một tỉ hoặc hơn hạt phấn hoa mỗi năm. Trong những ngôi đền trên đảo cổ xưa ở đầu bên kia của Trái Đất, hàng nghìn năm tuổi, nóng chảy và nổ tung, gần với sự giác ngộ, phình ra đến chu vi lớn phi thường, các khuỷu cây đang phát triển xuống từ các cành cây khổng lồ để làm rễ lại trong những thân cây mới của chính chúng. Adam có thể đưa tay ra chạm vào thân cây khẳng khiu đó, nếu cửa sổ không đóng. Nếu hai bàn tay ông không bị còng vào nhau. Một cây như cây này mọc trên được ngay bên ngoài nhà của người đã ra lệnh thả bom Hiroshima, và chỉ có rất ít người sống sót sau cú nổ đó. Thịt của quả này có mùi làm vón cục suy nghĩ; thứ cơm quả giết được cả vi khuẩn kháng thuốc. Những chiếc lá hình quạt với mạch gân tỏa ra chằng chịt nghe nói có thể chữa được bệnh đãng trí. Adam không cần phương thuốc đó. Ông nhớ. Ông nhớ. Ngân quả. Cây bạch quả.

Lá của nó chất thành đống một bên đường trong cơn gió. Chiếc Suburban trườn ra khỏi lề đường và tiến vào dòng xe cộ đông đúc. Adam ngoái lại để nhìn qua ô kính phía sau. Từ đó, như ông thấy, cả cái cây trút xuống. Nó trút lá liên hồi, sự rơi lá tự nhiên đồng loạt nhất mà tự nhiên từng chế tạo ra. Một cơn gió mạnh, sự phản đối rung rinh cuối cùng, và tất cả chiếc lá hình quạt nhiều gân cuối cùng nhất loạt buông mình, giải phóng một loạt điện tín vàng ươm xuống West Fourth Street.

MỘT CHIẾC LÁ có thể bay đi bao xa? Qua East River, chắc rồi. Qua xưởng đóng tàu nơi một người di dân Na Uy đã đánh bóng những thanh dầm gỗ sồi cong khổng lồ trên thân những con tàu chiến. Qua Brooklyn, từng trập trùng rừng núi, bạt ngàn cây dẻ. Lên thượng nguồn sông, ở mỗi ngàn feet dọc bờ sông, trên mỗi dấu mức nước cao mà ông có thể với tới, hậu duệ của người đóng tàu đã vẽ:

ĐỪNG NÓI

BẠN KHÔNG PHẢI

Trên những chữ cái ngập nước đó, là những tòa nhà mới tranh giành tìm một cái gì đó như là mặt trời.

ĐI XUỐNG PHÍA TÂY, qua một khoảng cách mà hẳn sẽ khiến một khu rừng mất hàng chục thiên niên kỷ để băng qua, một ông già và một bà già tiến vào thế giới. Qua suốt nhiều tuần, họ đã sáng tạo ra một trò chơi. Dorothy đi ra ngoài và nhặt về các cành cây, các hạt, và lá rụng. Rồi bài mang các minh chứng đó về cho Ray, và cùng nhau, với sự hỗ trợ của cuốn sách phân nhánh, họ giới hạn lại và nêu tên các loài khác. Mỗi lần họ thêm một cái tên lạ vào danh sách, họ dừng lại suốt nhiều ngày để học mọi thứ có thể. Có dâu tằm, phong, linh sam Douglas, mỗi loài với một lịch sử, lý lịch, hóa chất, kinh tế, và tâm lý hành vi riêng. Mỗi cây mới là một sử thi riêng biệt của nó, thay đổi câu chuyện về những gì có thể.

Nhưng hôm nay, bà quay trở lại vào trong, hơi bối rối. “Có gì đó không đúng, Ray ạ.”

Với Ray, chìm sâu vào cuộc sống sau khi chết, không còn gì có thể không đúng nữa. Cái gì? ông hỏi bà, mà chẳng nói gì. Câu trả lời của bà lí nhí, thậm chí bí ẩn. “Chúng ta chắc đã mắc sai lầm ở đâu đó.”

Họ lần dấu lại các nhánh của cây quyết định nhưng rốt cuộc vẫn đi đến cùng nhánh cũ. Bà lắc lắc đầu, lấy làm khó hiểu với bằng chứng này. “Em thực sự không hiểu.”

Lúc này ông hẳn đã ộp oạp lên thật to một âm tiết đơn lẻ duy nhất. Cái gì đó kiểu như, Tại sao?

Mất một lúc bà mới có thể trả lời. Thời gian đã trở thành một cái gì vô cùng khác biệt giữa họ. “À, mới là bắt đầu, nhưng chúng ta đã vượt hàng trăm dặm ra ngoài phạm vi bản địa.”

Cơ thể ông co giật, nhưng bà biết rằng cơn co thắt dữ dội đó chỉ là một cái nhún vai. Cây cối trong các thành phố có thể phát triển rất xa khỏi nơi mà chúng có thể gọi là nhà. Hai người họ đã học được điều đó, từ nhiều tuần đọc. “Tệ hơn thế: chẳng có phạm vi nào còn lại. Hẳn chẳng còn nhiều hơn một nhúm cây dẻ Mỹ trưởng thành còn sót lại ở bất cứ đâu.” Cây này cao bằng cả ngôi nhà.

Họ đọc mọi thứ họ có thể về cây cối hoàn hảo đã biến mất của nước Mỹ. Họ học về một thảm sát đã tàn phá cảnh quan ngay trước khi họ ra đời. Nhưng chẳng gì họ khám phá ra có thể giải thích tại sao một cái cây đáng lẽ không thể tồn tại ở đây lại đang trải bóng rộng lớn khắp sân vườn sau nhà họ.

“Có khi có cây dẻ trên vùng này mà không ai biết về điều đó.” Một âm thanh phát ra từ Ray và Dorothy biết đó hẳn là một tiếng cười. “Được rồi, vậy chúng ta sai ở ID này.” Nhưng chẳng có sinh vật nào khác trong cả thư viện cây đang lớn dần của họ có thể phù họp. Họ để bí ẩn ấy bứt rứt ở đó, và tiếp tục đọc.

Bà tìm thấy một cuốn sách ở thư viện công cộng: Khu rừng bí mật. Bà đưa nó về nhà để đọc to. Bà đọc mới đến đoạn đầu tiên thì phải dừng lại:

Bạn và cái cây trong vườn sau nhà bạn đến từ cùng một tổ tiên. Một tỉ rưỡi năm trước, bạn và cây chia tách nhau. Nhưng ngay cả bây giờ sau một hành trình bao la theo những ngả đường riêng, cây và bạn vẫn có chung một phần tư số gene…

Một hai trang có thể khiến họ mất một ngày. Mọi điều họ tưởng về vườn sau nhà họ đều không đúng, và phải mất một thời gian để phát triển các niềm tin mới để thay thế cho những niềm tin đã sụp đổ. Họ ngồi cùng nhau trong im lặng và khảo sát vùng đất của mình như thể họ đang chu du đến một hành tinh khác. Mọi chiếc lá ngoài kia đều có liên kết, dưới lòng đất. Dorothy đón nhận thông tin mới đó như thể nó là một tình tiết gây sốc trong một tiểu thuyết phong tục của thế kỷ mười chín, khi mà bí mật của nhân vật chính rì rầm lan khắp mọi cuộc đời trong cả ngôi làng. Ray ngập tràn mong muốn tìm lại một bài luận ông từng đọc nhiều năm trước và đã phản đối - một bài gì đó về quyền của cây. Nhưng ông thậm chí không thể nói cho Dorothy biết cần tìm cái gì.

Họ ngồi cùng nhau vào buổi tối, đọc và nhìn, khi ánh mặt trời lấp lánh màu lục nhạt lặn xuống qua những chiếc lá vỏ sò của cây dẻ. Với Dorothy từng cành cây trơ trụi đó giống như một sinh vật thử nghiệm, chỉ khác rằng nó là một phần của tất cả những cành khác. Qua sự phân nhánh của cây dẻ bà thấy vài cách quan sát một cuộc đời đã sống, tất cả những con người mà bà đã có thể là, những con người có thể hoặc sẽ là, trong những thế giới trải ra ngay dọc theo thế giới này. Bà quan sát các cành cây đung đưa một lúc, rồi nhìn trở lại xuống trang sách và đọc to lên. “Đôi khi khó để nói rằng một cây là một thứ duy nhất hay bao gồm một triệu thứ.”

Bà vừa bắt đầu câu đáng kinh ngạc tiếp theo, thì một tiếng gừ từ chồng bà cắt ngang lời bà. Bà nghĩ ông đang nói, cốc giấy. “Ray?”

Ông nói lại các âm tiết đó, và chúng nghe vẫn như cũ. “Xin lỗi, Ray. Em không hiểu điều đó có nghĩa là gì.”

Cốc giấy. Cây giống. Trên khung cửa sổ.

Các từ phát ra đầy phấn khích, chúng khiến bà nổi gai ốc. Sự dữ dội điên cuồng của ông, khi màn đêm buông xuống, khiến bà nghĩ rằng ông đang có một cơn tai biến não khác. Mạch bà đập thình thịch và bà lảo đảo đứng lên. Rồi bà hiểu ra. Ông đang mua vui cho bà, biến Mọi thứ như là chính nó thành một cái gì đó tốt hơn. Kể với bà một câu chuyện, để đền đáp cho những năm tháng của những câu chuyện bà đã đọc cho ông.

Trồng cây. Cây dẻ. Con gái chúng ta.

“CỦA BÀ PHẢI KHÔNG?” một giọng hỏi.

Patricia Westerford nhăn mặt. Người đàn ông mặt đồng phục đứng sau băng chuyền chỉ vào đồ xách tay của bà khi nó ra khỏi máy quét. Bà gật đầu. Lãnh đạm hơn cả năm giây của lời nói lạnh lùng kia.

“Chúng tôi xem được không?”

Đó không thực sự là một câu hỏi, và anh ta không đợi câu trả lời. Cái túi mở ra; các bàn tay sục sạo khắp lượt. Sự cào xói giống như con gấu vẫn làm với vạt cây mâm xôi đen của Patricia trong căn nhà nhỏ ở Smokies.

“Cái gì đây?”

Bà vỗ trán. Lấm cẩm tuổi già. “Dụng cụ để sưu tập của tôi.”

Anh ta kiểm tra lưỡi dao dài tám phân, dụng cụ tỉa gọt mở rộng ra chiều rộng của bút chì, cái cưa nhỏ xíu ngắn hơn đốt trên cùng ngón tay út của bà. Đất nước này đã hơn một thập kỷ không có vụ tai nạn máy bay nghiêm trọng nào, được trả bởi một tỉ con dao bỏ túi, tuýp kem đánh răng, lọ dầu gội đầu…

“Bà sưu tập gì?”

Một trăm câu trả lời sai, mà chẳng có lấy một câu đúng. “Cây.”

“Bà là người làm vườn à?”

“Vâng.” Nghe không hợp lắm, dù là để khai man.

“Thế còn cái này?”

“Cái đó?” bà lặp lại. Ngó ngẩn, nhưng nó mang lại cho bà ba giây. “Đó chỉ là nước hầm rau củ thôi.” Tim bà đập mạnh tới nỗi nó có thể giết bà sạch sẽ như thứ ở trong cái lọ đó. Người đàn ông này có quyền lực lấn át bà, quyền lực toàn năng của một quốc gia hoảng loạn khi theo đuổi sự an toàn bất khả. Một cái nhìn giận dữ lộ rõ và bà sẽ lỡ chuyến bay.

“Thú này nhiều hơn ba ounce.”

Bà nhét đôi tay run run vào túi và nghiến chặt hàm. Anh ta sẽ để ý; đó là công việc của anh ta. Anh ta đưa một tay đẩy hai món đồ đó về phía bà, còn tay kia đẩy cái túi đã bị lục tung của bà. “Bà có thể quay lại nhà ga để gửi bưu điện những thứ này.”

“Tôi sẽ lỡ chuyến bay.”

“Vậy thì tôi sẽ phải tịch thu chúng.” Anh ta thả cái lọ nhựa và hộp dụng cụ vào một cái thùng phuy đã đầy sẵn. “Chúc chuyến bay an toàn.”

Trên máy bay, bà lướt lại bài tham luận chính của mình một lần nữa. “Thú tốt nhất một người có thể làm cho tương lai của thế giới.” Mọi thứ đã được viết ra. Nhiều năm qua bà đã không đọc to một bài phát biểu. Nhưng bà không tin bản thân có thể úng khấu thứ này.

Bà đi theo băng chuyền ở sân bay SFO. Tài xế đứng thành một vòng ở đầu lối ra của hành khách, giơ lên những cái tên trên các mẩu giấy. Tên bà không có trong số đó. Lẽ ra người tổ chức từ hội thảo đã phải đến đón bà. Patricia chờ mấy phút, nhưng không có ai cả. Điều này với bà cũng không sao. Bất cứ lý do gì cũng không hợp với chuyện này. Bà ngồi xuống chiếc ghế áp vào tường trong một góc của phòng chờ. Một bảng chữ sáng lấp lánh chạy qua phòng chờ lớn ghi Boston Boston Chicago Chicago Chicago Dallas Dallas… Những chuyến đi của con người. Những công việc của con người. Nhanh hơn bao giờ hết, đầy hơn bao giờ hết, di động hơn bao giờ hết, quyền năng hơn bao giờ hết. Một chuyển động thu hút sự chú ý của bà. Ngay cả một đứa trẻ sơ sinh cũng sẽ quay sang để nhìn một con chim hơn những thứ gần hơn, chậm hơn. Mắt bà dõi theo vòng cung thất thường đó. Một con chim sẻ nhà đang nhảy tưng tưng trên mái của một bảng hiệu, cách đó mười lăm feet. Nó lao những chuyến bay ngắn, có mục đích quanh phòng chò. Chẳng có ai trong đám đông để ý. Nó bay lướt lên vào một vết nứt ẩn gần trần nhà, rồi sà xuống trở lại. Chẳng bao lâu hai, rồi ba con, do thám khắp các thùng rác. Thứ đầu tiên kể từ khi lên máy bay khiến bà thấy vui.

Có cái gì đó trên chân chúng, giống như vòng định vị, nhưng to hơn. Bà lấy miếng bánh cuộn bà đã nhét vào trong túi làm bữa tối ra, bóp vụn lên cái ghế ở bên cạnh bà. Bà nửa hy vọng là một bảo vệ sẽ đến bắt giữ bà. Bầy chim vô cùng mong muốn phần thưởng đó. Mỗi cú liệng căng thẳng đưa chúng đến gần hơn một chút, mang thêm một chút khao khát. Cuối cùng sự háu ăn chiến thắng sự cẩn trọng, và một trong số lũ sẻ lẻn bay tới cuỗm một miếng. Patricia ngồi thật im; con sẻ nhảy tới gần hơn, ăn ngấu nghiến. Khi góc nhìn phù hợp, bà đọc được cái vòng trên mắt cá chân. Kẻ lạ bất hợp pháp. Bà cười to, và con chim bị giật mình bay vút lên.

Một phụ nữ trẻ gốc Á đi nhanh về phía bà. “Tiến sĩ Westerford?” Patricia mỉm cười đứng lên.

“Bà đã ở đâu thế ạ? Tại sao bà không trả lời điện thoại?”

Patricia muốn nói, Điện thoại của tôi sống ở Boulder, Colorado, cắm vào tường.

“Tôi đã đi mấy vòng quanh sảnh đến. Hành lý của bà đâu?” Toàn bộ dự án Sửa Nhà dường như đang lung lay.

“Đây là hành lý của tôi.”

Cô gái ngạc nhiên. “Nhưng bà sẽ ở đây ba ngày mà!”

“Mấy con chim đó…” Patricia cất lời.

“Vâng. Trò đùa của ai đó. Sân bay không nghĩ ra cách gì để loại bỏ chúng.”

“Nhưng tại sao phải làm thế?”

Người lái xe này không được sinh ra cho triết học. “Chúng ta đi theo đường này.”

Họ bò ra khỏi thành phố đi xuống Central Peninsula. Người lái xe kế tên các nhân vật nổi tiếng sẽ phát biểu trong những ngày tới. Patricia ngắm nhìn cảnh trí. Phía bên phải họ, những quả đồi cây gỗ đỏ thứ sinh. Phía bên phải họ, Thung lũng Silicon, nhà máy của tương lai. Người lái xe đưa cho Tiến sĩ Westerford một tập thư mục nhựa rồi thả bà xuống Faculty Club. Patricia đã có cả buổi chiều để đi lang thang quanh sưu tập cây ở khuôn viên đại học ngoạn mục nhất trong cả nước. Bà tìm thấy một cây sồi xanh (blue oak) tuyệt diệu, những cây plane California vương giả, những cây tuyết tùng incense, một cây pepper tree vô chính phủ xù xì, hàng chục trong số bảy trăm loài bạch đàn, những cây kumquat trĩu quả. Mọi sinh viên hẳn đều say chất làm say của không khí mà không hề hay biết. Đó là một chất lignin của Giáng sinh. Những người bạn cũ đã mất. Những cái cây bà chưa bao giờ thấy. Các cây thông xoay tròn những quả hình nón theo những đường xoáy Fibonacci hoàn hảo. Chi nước đọng - Maytenus, Syzygium, Ziziphus. Bà lùng sục trong chúng và tất cả các cây ở tầng phía dưới để lấy những chiết xuất thay thế cho những thứ đã bị Cục An ninh Vận tải tịch thu.

Lối nhỏ dẫn bà đi dọc trong lòng của một nhà thờ Roman giả. Bà đi dưới tán một cây bơ ba thân hoành tráng, mọc hơi quá sát tường, có lẽ đã bắt đầu cuộc sống trên bàn của một người thư ký. Đi qua một cái cổng vào sân, bà dừng lại và chạm tay lên môi. Cây cối - những cái cây hùng vĩ, phi thực, lạ thường đã đến từ một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng thời Golden Age về những khu rừng rậm rạp ở dưới những đám mây a-xít của Sao Kim - đứng thì thầm với nhau.

ĐÁM MẬT VỤ để Adam Appich ở trong một buồng giam rộng hơn cái bục cây mà ông từng ở cùng với hai người khác hai trăm feet trên không trung. Nhà nước chịu trách nhiệm về ông. Ông hợp tác trong mọi vấn đề nhưng hầu như chẳng nhớ điều gì, thậm chí chỉ trong nửa giờ sau đó. Sáng nay, ông vẫn là một giáo sư chính thức ngành tâm lý học tại một trường đại học đô thị vĩ đại. Giờ ông bị bắt giữ vì những tội xa xưa liên quan đến mấy triệu đô la hủy hoại tài sản và việc thiêu sống một phụ nữ.

Bố mẹ ông may mắn là đã chết. Cả chị gái Jean, em trai Charles, người bạn lâu năm duy nhất, và người thầy hướng dẫn đã mở mắt ông về sự mù của con người. Ông đã tới độ tuổi mà cái chết chỉ là một chuyện bình thường mới. Ông đã không nói chuyện với anh trai Emmett kể từ khi anh ta lùa lấy khoản thừa kế của Adam. Chẳng có ai để nói ngoài vợ và con trai ông. Lois cầm điện thoại, ngạc nhiên khi ông gọi lúc giữa chiều. Cô cười khi ông nói với cô rằng ông đang ở đâu. Phải mất một khoảng im lặng dài mới thuyết phục được cô. Cô đến gặp ông trong trung tâm giam giữ chật chội trong giờ thăm sáng hôm sau. Sự khó hiểu của cô đã biến thành hành động, và khuôn mặt cô đỏ bừng với nhiệm vụ thực sự đầu tiên trong bấy nhiêu năm. Qua tấm kính chống đạn, cô đọc cho ông nghe từ một cuốn sổ dày bốn inch còn mới được dán nhãn gọn gàng Adam, Luật pháp. Tất cả gần giống như những tác phẩm nghệ thuật, những thứ mà cô vừa bắt đầu khởi động. Danh sách các việc cần làm của cô cụ thể và mạnh mẽ. Những nếp nhăn quanh mắt cô chuẩn bị để chống lại sự bất công.

“Em có một số luật sư hàng đầu rồi. Chúng ta cần yêu cầu giam giữ tại nhà. Đắt đỏ, nhưng anh sẽ được ở nhà.”

“Lo,” ông nói, giọng đặc lại bởi năm tháng. “Anh có thể kể cho em nghe chuyện đã xảy ra.”

Một bàn tay cô lướt trên tấm kính chắn đạn còn bàn tay kia lướt một ngón tay trên môi mình. “Suỵt. Tay ở liên đoàn tự do dân sự bảo là đừng nói gì cho tới khi anh được ra.”

Hy vọng của cô: rất cố chấp, rất đúng con người cô. Ông đã từng kiếm sống bằng cách học về hy vọng cố chấp. Ông đã cưới nó. Hy vọng cố chấp là thứ đã đưa ông vào đây.

“Em biết anh đã không làm bất cứ điều gì trong chuyện này, Adam. Anh không thể làm thế.” Nhưng hai mắt cô cụp xuống - ngôn ngữ của loài động vật có vú già, tạo thành qua hàng chục triệu năm. Cô chẳng biết gì, biết ít hơn tất cả về người đàn ông mà cô đã sống cùng trong suốt nhiều năm, người chồng kết hôn hợp pháp của cô, cha của con trai cô. Chí ít là một gã lừa đảo và, theo tất cả những gì cô biết, là đồng phạm giết người.

Ở ĐẦU KIA THÀNH PHỐ trong một cơ sở giam giữ khác, kẻ phản bội ông lại chuồn đi đêm nay, khỏi tay chính phủ, những người thuê ông ta đã trở thành những kẻ bắt giữ, để bước vào bữa tiệc săn lùng hằng đêm của ông ta để tìm kiếm người phụ nữ đã biến Douglas Pavlicek thành một kẻ cực đoan. Bà ta giờ mang tên khác, ông chắc chắn. Bà ta có thể đã bay đến một nước khác, chìm đắm trong một phần đời tiếp theo mà ông không thể tưởng tượng ra. Tha thứ là điều quá sức ông có thể yêu cầu bà, quá sức ông có thể cho mình. Ông đáng bị những gì tồi tệ hơn những gì mà các Freddy vừa trao cho ông - bảy năm trong một nhà tù an ninh bậc trung, đủ điều kiện để được tha trong hai năm. Nhưng có một điều ông cần phải nói với bà. Đây là cách mọi thứ xảy ra. Đây là cách mọi thứ sụp đổ. Bà sẽ nghe về những gì ông đã làm. Bà sẽ biết phần tồi tệ nhất, và bà sẽ khinh bỉ ông. Chẳng có gì ông nói có thể thay đổi điều đó. Nhưng bà sẽ băn khoăn tại sao, và thắc mắc đó sẽ khiến bà đau đớn. Nỗi đau mà ông có thể biến thành cái gì đó tốt đẹp hơn.

Phòng giam của ông là một hình lập phương bằng bê tông được sơn màu xanh cao su, rất giống với phòng giam giả mà ông đã sống trong một tuần vào năm mười chín tuổi. Không gian giam cầm chật hẹp nên ông được đi lại. Ông nhắm mắt và truy đuổi bà, như ông vẫn làm hằng đêm. Cuốn phim này mò hơn bao giờ hết và các đường nét của bà rất mơ hồ. Ông đã quên ngay cả những điều về khuôn mặt bà mà đã từng khiến ông cảm thấy như ông có thể chết ngạt trong một hơi thở dài kéo dài vô tận. Nhưng đêm nay ông gần như có thể thấy bà, không giống như bà hẳn là lúc này, mà giống như bà trước đây. Đây là cách mọi thứ xảy ra. Ông đã bị phản bội - chẳng cần biết bởi ai. Bị phục kích. Và tới khi cảnh sát lao tới bắt ông - ông đã thất bại sẵn rồi.

Những người thấm vấn ông đã rất tử tế. Có David, một ông già trông rất giống bố của Douggie. Và một người phụ nữ thấu hiểu tên là Anne, người mặc bộ váy vest và ghi chép, cố gắng để hiểu. Họ nói với ông rằng mọi chuyện đã qua rồi, rằng hồi ký viết tay của ông đã cho họ tất cả những gì họ cần để giam giữ ông và bạn bè của ông mãi mãi. Chỉ còn là vấn đề làm rõ thêm một số chi tiết.

Các người chẳng biết gì đâu. Tôi đang viết tiểu thuyết. Tất cả chỉ tuôn ra từ cái đầu chết tiệt của chính tôi.

Họ nói rằng tiểu thuyết của ông có chứa các thông tin về tội phạm mà chưa bao giờ được công khai. Họ nói họ đã biết về bạn bè ông. Hồ sơ về tất cả bọn họ. Họ chỉ muốn ông hợp tác, và mọi chuyện sẽ dễ hơn rất nhiều cho Douglas nếu ông hỗ trợ.

Hỗ trợ? Đó là thủ rác rưởi Judas, trời ạ. Nó vừa trượt ra khỏi ông. Một từ quá nhiều ý nghĩa.

Ông nói với Mimi về lỗi lầm đó. Bà dường như lắng nghe, thậm chí nao núng một chút, mặc dù khuôn mặt bà quay đi với vết sẹo do từng xọc vào chông. Ông giải thích rằng ông đã giữ im lặng bao nhiêu ngày như thế nào, ông đã nói các mật vụ cứ cho ông vào ngục mãi mãi đi ra sao - ông đã không nói ra cái tên nào cả. Ông kể với bà những người thẩm tra đã đưa ra những tấm ảnh. Những thứ kỳ quái nhất: giống như bức ảnh chụp từ phim tự quay, những bức ảnh bị nhoè tại những sự kiện mà chẳng một ai có máy ảnh. Những sự kiện mà ông nhớ rất rõ, đặc biệt là những cuộc tụ tập mà ông bị đánh. Rất nhiều bức ảnh chụp hình ông. Ông đã quên mất ông đã trẻ như thế nào, đã từng. Đã ngây thơ và nhẹ dạ ra sao.

Các ngài biết đấy, ông nói với những người thẩm vấn, Tôi bây giờ dễ thương hơn bao giờ hết.

Anne mỉm cười và ghi chép điều gì đó. Ông thấy không? David nói với ông. Chúng tôi có tất cả họ. Chúng tôi không cần bất củ điều gì từ ông. Nhưng sự hợp tác có thể làm giảm rất nhiều mức hình phạt đối với ông. Đó là khi Douglas bắt đầu nhận ra rằng thuê cho mình một luật sư có lẽ không giống như thừa nhận tội. Tất nhiên, thuê một ai đó cho một điều gì đó hẳn là đòi hỏi nhiều điều hơn là một nghìn hai trăm ba mươi đô la mà ông đã có thể đưa ra. Có một vấn đề với các bức ảnh. Chúng bao gồm cả những người mà ông chưa từng thấy. Có một vấn đề với danh sách những vụ phóng hỏa mà họ muốn ông thừa nhận. Một nửa trong số đó ông chưa từng nghe tới. Rồi hai mật vụ bắt đầu hỏi ai là ai. Ai là Dâu Tằm? Ai là Người Canh Gác? Ai là Cây Phong? Có phải cô ấy đây không?

Họ đã lừa bịp, viết cuốn tiểu thuyết của riêng họ.

Hai ngày sau, họ giam giữ ông ở một nơi trông giống như ký túc xá ở một trường đại học Serbia đã bị phá sản. Ông vùi trong im lặng. Rồi họ nói với ông điều ông đang đối mặt: chủ nghĩa khủng bố trong nước - cố gây ảnh hưởng đến hành vi của chính phủ bằng cách đe dọa hoặc ép buộc - có thể bị trừng phạt theo Đạo luật Tăng cường Hình phạt Khủng bố, công cụ của một nhà nước an ninh mới toàn diện. Ông sẽ không bao giờ được đi ra ngoài nữa. Nhưng nếu ông chỉ cần xác nhận một trong các khuôn mặt này - một khuôn mặt, của một người mà họ đã có hồ sơ rồi - ông sẽ được tự do trong hai đến bảy năm. Và họ sẽ khép lại vụ án của bất kỳ lần phóng hỏa nào ông thừa nhận thực hiện.

Khép lại vụ án?

Họ sẽ không săn đuổi ai nữa cho các tội đó. Kể từ nay? Cho bất cứ tội nào mình có hoặc không thừa nhận?

Chỉ một khuôn mặt. Thế là ông có niềm tin đầy đủ từ chính phủ liên bang.

Ông không quan tâm chuyện ông phải đi từ bảy năm hay bảy trăm năm. Ông sẽ không bao giờ kéo dài qua được; cơ thể của ông không còn đủ “nhiên liệu” cho chừng ấy thời gian nữa. Nhưng lệnh ân xá được đảm bảo cho người phụ nữ đã đón ông vào và một người đàn ông mà có lẽ vẫn ở ngoài kia đấu tranh cho ước nguyện đã chết của nhân loại… cảm giác rất có ý nghĩa.

Rải rác trong bộ ảnh mà hai người điều tra liệng ra trước mặt ông là những bức ảnh của một người mà Douggie luôn cảm thấy giống như một kẻ xâm phạm. Một người mà đã đến để nghiên cứu họ. Kẻ mà họ đã bảo, vào cái đêm khủng khiếp đó, đi tìm người giúp Olivia - bất cứ sự giúp đỡ nào - nhưng lại quay trở về tay trắng.

“Đây,” Douglas nói, ngón tay ông đung đưa như một nhánh cây trong gió.

“Đây là Cây Phong. Gã tên là Adam. Học ngành tâm lý học ở Santa Cruz.”

Đó là cách mọi thứ xảy ra, ông nói với người cộng sự của mình trong sự cứu rỗi linh hồn. Đó là thứ anh đã làm. Đó là lý do. Vì em và Nick và có thể cả vì cây cối nữa. Bà cứ thế giữ ánh mắt ông và nhìn chằm chằm, như thể một cái nhìn bất tận sẽ cho bà biết tất cả những điều bà cần biết.

KHÁN PHÒNG tối và lót gỗ đỏ chúa nhiều nghi vấn. Patricia nhìn từ bục phát biểu ra hàng trăm chuyên gia. Bà giữ ánh mắt của mình cao trên những khuôn mặt đang chờ đợi và bấm chuột. Phía sau bà xuất hiện bức tranh của một con tàu ark bằng gỗ nguyên thủy với một đoàn động vật ở yên bên trong nó. “Khi thế giới kết thúc lần đầu tiên, Noah đã đưa tất cả động vật, từng cặp mỗi loài, và đưa chúng lên con thuyền thoát hiểm của ngài để đi sơ tán. Nhưng điều buồn cười là: Ngài để mặc cây cối chết. Ngài đã không mang đi được thứ duy nhất mà ngài cần để xây dựng lại cuộc sống trên đất đai, và tập trung vào cứu trợ những kẻ ăn bám!”

Cả hội trường cười nghiêng ngả. Họ đang ủng hộ bà, nhưng chỉ bởi vì họ không biết bà đang định nói gì.

“Vấn đề là, Noah và những người như ngài đã không tin rằng cây cối đã thực sự sống. Không có mục đích, không có nguồn sống giống như những viên đá chi khác là to hơn.” Bà lại nhấp chuột qua một số hình ảnh: những cây bẫy ruồi (flytrap) khép lại trên con mồi của chúng, những cây xấu hổ thẹn thùng, một tấm khảm của những vòm lá e thẹn trên một tán cây mà dừng lại cách điểm chạm vào nhau chỉ một khoảng ngắn. “Bây giờ chúng ta biết rằng cây cối giao tiếp và ghi nhó. Chúng nếm, ngửi, chạm, và thậm chỉ nghe và nhìn. Chúng ta, loài đã tìm hiểu ra điều này, đã phát triển vô cùng kể từ thời Noah. Chúng ta đã học được rất nhiều điều về chuyện chúng ta chia sẻ Trái Đất này cùng ai. Chúng ta bắt đầu hiểu những sợi dây kết nối sâu sắc giữa cây và người. Nhưng sự chia tách của chúng ta lại lớn hơn sự kết nối của chúng ta.”

Bà nhấp chuột và slide thay đổi. “Đây là hình ảnh vệ tinh của Bắc Mỹ vào một đêm, năm 1970. Và đây, chúng ta, một thập kỷ sau. Và một thập kỷ nữa. Và một thập kỷ nữa. Một thập kỷ nữa, và kết thúc.” Bốn lần nhấp chuột, và ánh sáng gào thét trên khắp lục địa, phủ lên bóng tối từ biển này tới biển kia. Bà nhấp chuột, hé lộ hình ảnh một trùm tư bản cướp bóc đầu hói mặc áo cố cao và có bộ râu lởm chởm. “Một phóng viên từng hỏi Rockefeller bao nhiêu là đủ. Câu trả lời của ông ta: Chỉ thêm một chút nữa thôi. Và đó là tất cả những gì chúng ta muốn: ăn và ngủ, ở nơi khô ráo và được yêu thương, và đòi hỏi chỉ thêm một chút nữa thôi.”

Lần này tiếng cười là một tiếng rì rầm lịch sự. Một cử tọa khó nhằn. Họ đã xem màn trình diễn ánh sáng bừng nố này quá nhiều lần trước đó rồi. Tất cả mọi người trong khán phòng này từ lâu đã lặng tờ trước thực tế đó. Hai người ở phía cuối đứng lên đi ra ngoài. Một hội thảo về môi trường. Năm trăm người tham dự, bảy bè phái đối đầu lẫn nhau, vô số lời từ chối trước mọi kế hoạch cứu hành tinh. Tất cả chỉ vì một cơn sóng thần. Tiếp theo là bốn bộ ảnh tua thời gian ngắn chụp từ trên không - những cánh rừng ở Brazil, Thái Lan, Indonesia, và lầy bắc Thái Bình Dương, đang biến mất. “Chỉ thêm một chút gỗ nữa thôi. Chỉ thêm một chút công việc nữa thôi. Chỉ thêm mấy mẫu ngô nữa để có thức ăn cho thêm một số người nữa thôi. Quý vị biết không? Chẳng bao giờ có bất cứ nguyên liệu nào có giá trị hơn gỗ.”

Có sự nhúc nhích trên những chiếc ghế sang trọng, tiếng ho hắng và thì thào, những tiếng réo gọi câm lặng có thể giết tất cả các nhà thuyết giáo.

“Chỉ tính riêng ở đất nước này, một phần ba số mẫu đất rừng đã chết trong vòng sáu năm qua. Rừng đang sụp đổ thành rất nhiều thứ - hạn hán, hỏa hoạn, cây sồi chết đột ngột, sâu róm sồi, bọ thông và bọ đục thân, bệnh rỉ sét, và cảm giác tẻ nhạt của các nông trại và các khu phân lô. Nhưng luôn có cùng một nguyên nhân tối hậu, và quý vị biết nó và tôi biết nó và tất cả mọi người đang sống mà có để ý đều biết nó. Chu kỳ của năm đang bị trượt đi một hoặc hai tháng. Toàn bộ các hệ sinh thái đang bị bung ra. Các nhà sinh học đang vô nghĩa đến đáng sợ.

Sống vượt quá khả năng mà Trái Đất mang lại là tự sát. Cuộc đời quá hào phóng, còn chúng ta quá… không thể khuyên can. Nhưng chẳng điều gì tôi có thể nói sẽ đánh thức cơn mộng du và khiến sự tự sát này có vẻ thực. Nó không thể là thực, phải không? Ý tôi là, chúng ta đang ở đây, tất cả vẫn như cũ…”

Mười hai phút kể từ khi bắt đầu bài nói, bà bắt đầu run. Bà giơ tay lên xin chờ ba giây. Bà lùi lại ở phía sau bục phát biểu, lấy một chai nhựa đựng nước đã được để cho bà bởi những người tổ chức đầy thiện chí của hội thảo về Sửa Nhà này. Bà vặn nút chai và giơ cái chai lên. “Estrogen tổng hợp.” Bà búng vào lớp nhựa răng rắc. “Chín mươi ba trên một trăm người Mỹ bị trói buộc với thứ này.” Bà đổ một ít vào cái cốc để sẵn. Rút ra từ cái túi bên hông bà một lọ thủy tinh thay thế.

“Còn đây là những chiết xuất từ cây mà tôi đã tìm được trong khi đi bộ quanh khuôn viên trường này ngày hôm qua. Chúa ơi, nơi này quả là một nơi của cây cối. Một thiên đường thu nhỏ!”

Bàn tay bà lắc lắc, làm nước bắn ra. Bà khum hai tay quanh lọ thủy tinh và đặt nó lên trên bục giảng. “Quý vị thấy đấy, rất nhiều người nghĩ cây là những thứ đơn giản, chẳng thể làm được cái gì thú vị. Nhưng mỗi cây đều có một nghĩa vụ riêng dưới vòm trời này. Hóa chất của chúng rất kỳ diệu. Sáp, chất béo, đường. Các chất tanin, sterol, gum, và carotenoid. Các a-xít nhựa cây, các chất Aavonoid, terpene. Các chất alkaloid, phenol, suberin. Chúng đang học cách để tạo ra bất cứ thứ gì chúng có thể tạo ra. Và phần lớn những gì chúng tạo ra chúng ta chưa thể định danh.”

Bà click qua tập hợp một loạt hình ảnh “Vỏ cây Cư xử Lạ thường.” Những cây dragon chảy nhựa đỏ như máu. Cây jabuticaba, với những quả trông như quả bóng bi-a mọc thẳng ra từ thân cây. Những cây bao báp nghìn năm tuổi, giống như những quả bóng thám không được buộc lại chúa ba mươi nghìn gallon nước. Những cây bạch đàn bảy sắc cầu vồng. Những cây quiver kỳ dị với các đinh ngọn cây là các vũ khí. Hura crepitans, cây vông đồng, bắn hạt từ những quả bung ra của nó với vận tốc một trăm sáu mươi dặm một giờ. Khán giả của bà thư giãn, được trấn an bới sự quay trở lại của bà với những hình ảnh đẹp đẽ. Bà cũng không phiền đi một khúc cua cuối qua những thứ đẹp đẽ nhất thế gian.

“Có đôi lúc trong bốn trăm triệu năm qua, một số cây đã thử mọi chiến lược với một cơ hội làm việc từ xa. Chúng ta chỉ mới bắt đầu nhận thức được một thứ có thể làm việc đa dạng như thế nào. Cuộc đời có một cách nói chuyện với tương lai. Thứ đó được gọi là ký ức. Nó được gọi là gene. Mọi bối cảnh mới biến ký ức của một cây thành một thứ gì đó mới. Để đối phó với tương lai, chúng ta phải lưu giữ quá khứ. Vậy nên, quy tắc ngón tay cái đơn giản của tôi là thế này: khi bạn chặt một cái cây, thứ mà bạn làm từ nó cần phải ít nhất là kỳ diệu bằng với thứ mà bạn chặt xuống.”

Bà không chắc cử tọa của bà cười hay rên ri. Bà vỗ vỗ vào mặt bên của cái bục. Ngón cái bị bóp nghẹt dưới các ngón khác. Mọi thứ trong hội trường đều im bặt.

“Cả cuộc đời tôi, tôi luôn là người ngoài lề. Nhưng rất nhiều người khác đã ở ngoài đó cùng với tôi. Chúng tôi đã phát hiện ra rằng cây có thể giao tiếp, qua không khí và qua rễ của chúng. Nhận thức phổ biến xưa không cho chúng tôi lên tiếng. Chúng tôi đã phát hiện thấy rằng cây chăm sóc lẫn nhau. Khoa học tập thể bác bỏ ý tưởng đó. Những người ngoài lề khám phá ra rằng hạt giống nhớ các mùa của thời thơ ấu của chúng nên theo đó mà nảy chồi. Những người ngoài lề khám phá rằng cây cảm nhận sự có mặt của sự sống khác gần đó. Rằng cây học cách tích trữ nước. Rằng cây cho cây con của chứng thức ăn và đồng bộ hóa cột thân của chúng với các nguồn dự trữ và mạng lưới thân tộc cảnh báo và gửi đi các tín hiệu gọi bầy ong tới và cứu chúng khỏi bị tấn công.

Đây là một thông tin ngoài lề nho nhỏ, và quý vị có thể đợi cho tới khi nó được xác nhận. Rừng biết mọi thứ. Chỉ cần bước đi trong rừng và nhìn… Rừng kết nối bản thân với lòng đất, với những neuron chậm (slow neurons) tương tác với đất thông minh. Có não ở dưới đó, những bộ não mà bộ não của chính chúng ta không có cơ chế để nhìn thấy. Tính linh hoạt của rễ, giải quyết các vấn đề và đưa ra các kết luận. Các tiếp hợp nấm. Ta có thể gọi là gì khác nữa? Kết nối đủ cây cối lại với nhau, thì rừng trở nên có nhận thức.”

Những lời của bà nghe có vẻ xa xăm, vặn xoắn và nghẹt dưới nước. Máy trợ thính của bà bị dơ cùng lúc và sự điếc trong tuổi thơ của bà đã cùng lựa chọn lúc này để quay lại. “Những nhà khoa học chúng ta được dạy để không bao giờ tìm kiếm bản thân chúng ta trong các loài khác. Thế nên chúng ta tin chắc chẳng có thứ gì trông giống chúng ta! Cho tới cách đây không lâu, chúng ta vẫn không cho rằng chimpanzee có nhận thức, đừng nói gì tới chó hay cá voi. Chỉ có con người, quý vị thấy đấy: chúng ta đã nghĩ rằng chỉ có con người có thể có đủ nhận thức để muốn cái này cái khác. Nhưng hãy tin tôi: cây muốn thứ gì đó từ chúng ta, cũng hệt như chúng ta đã luôn muốn điều gì đó từ chúng. Đây không phải là điều gì huyền bí. “Môi trường” là thứ sống - một mạng lưới mềm dẻo, luôn thay đổi của những sự sống có mục đích có ràng buộc lẫn nhau. Tình yêu và chiến tranh không thể tách rời khỏi nhau. Hoa định hình ong cũng ngang bằng với ong định hình hoa. Quả mọng có thể cạnh tranh để được ăn hơn là động vật cạnh tranh để được ăn quả mọng. Một cây thorn acacia tạo ra những bữa tiệc protein có đường để cho ăn và nô dịch hóa bầy kiến mà bảo vệ cây. Những cây mang quả lừa chúng ta làm người phân phối hạt cho chúng, và trái cây chín dẫn dụ tầm nhìn màu. Để dạy chúng ta cách tìm kiếm con mồi của chúng, cây cối dạy chúng ta thấy bầu trời màu xanh. Trí não của chúng ta tiến hóa để giải quyết rừng. Chúng ta định hình và được định hình bởi rừng từ lâu hơn so với từ khi chúng ta trở thành Homo sapiens.

Người và cây là những họ hàng gần gũi hơn các quý vị nghĩ. Tổ tiên chung của chúng ta vô cùng gần đây. Chúng ta là hai thứ nảy lên từ cùng một hạt giống, tỏa ra những hướng khác nhau, sử dụng lẫn nhau trong một không gian chung. Không gian đó cần tất cả các phần này. Và phần của chúng ta… chúng ta có một vai trò cần thực hiện trong tổ chức Trái Đất, và điều này…” Bà quay lại để nhìn hình ảnh được chiếu phía sau bà. Đó là Arbre du Ténéré, thứ duy nhất ở trên một thân cây trong suốt bán kính bốn trăm kilometer. Bị đánh và bị giết bởi một tài xế xay xỉn. Bà click sang một cây bald cypress ở Florida có niên đại lâu đời hơn Thiên Chúa một nghìn năm trăm năm, bị giết mấy tháng trước bởi một điếu thuốc lá bị búng vào. “Điều này không thể là nó.”

Một cái nhấp chuột nữa. “Cây đang làm công việc khoa học. Sự đa dạng phi thường của chúng đang thực hiện một tỉ thí nghiệm thực địa. Chúng đưa ra các phỏng đoán, và thế giới sống nói cho chúng biết cái gì đúng. Cuộc đời là sự xét đoán, và xét đoán là cuộc đời. Thật là một từ kỳ diệu! Nó có nghĩa là phải đoán. Nó có nghĩa là phải suy xét.

Cây cối đứng ở trung tâm của hệ sinh thái, và chúng phải tới để đúng ở trung tâm của chính trị con người. Tagore nói, Cây cối là nỗ lực không ngừng của Trái Đất để nói với thiên đường đang lắng nghe. Nhưng con người - ôi, từ của tôi - con người! Con người có thể là thiên đường mà Trái Đất đang cố để lắng nghe.

Nếu chúng ta có thể thấy màu xanh lá, chúng ta sẽ thấy một thứ không ngừng trở nên thú vị hơn khi chúng ta tới gần hơn. Nếu chúng ta có thể thấy điều màu xanh lá đang làm, chúng ta sẽ không bao giờ cô đơn hay buồn tẻ. Nếu chúng ta có thể hiểu màu xanh lá, chúng ta sẽ học được cách phát triển tất cả thức ăn chúng ta cần trong ba lớp đất, trên một phần ba bề mặt đất mà chúng ta cần ngay lúc này, với những cây cối mà bảo vệ cây cối khác khỏi sâu bệnh và căng thẳng. Nếu chúng ta biết điều màu xanh lá đã muốn, hẳn chúng ta đã không phải lựa chọn giữa lợi ích của Trái Đất và của chúng ta. Chúng là như nhau!”

Một click nữa đưa bà tới slide tiếp theo, một thân cây nhiều rãnh khổng lồ với lớp vỏ đỏ nổi cuộn lên như cơ bắp. “Thấy được màu xanh lá là nắm bắt được mục đích của Trái đất. Thế nên hãy xem thứ này. Cây này mọc từ Colombia đến Costa Rica. Khi còn là cây non, nó trông giống như một sợi dây bện. Nhưng nếu tìm được một cái lỗ trên tán cây, thân non đó sẽ vươn thẳng lên thành một thân cây khổng lồ với những rễ nối choãi xòe ra.”

Bà quay sang để chỉ hình ảnh phía sau vai bà. Đó là một bông hoa hình chuông từ cây kèn của thiên thần (angels trumpet), đã rơi xuống Trái Đất. Có rất nhiều điều bí hiểm, rất nhiều vẻ đẹp dị thường. Làm sao bà có thể rời bỏ một nơi đẹp đẽ tới vậy?

“Quý vị có biết rằng mọi cây lá rộng trên Trái Đất đều có hoa? Cây phong, hồ đào, tần bì, liễu. Rất nhiều loài trưởng thành nở hoa mỗi năm ít nhất một lần. Nhưng cây này, Tachigali versicolor, cây này nở hoa chỉ đúng một lần. Bây giờ. giả sử bạn chỉ làm tình một lần duy nhất trong suốt cuộc đời…”

Lần này cả khán phòng cười to lên. Bà không thể nghe, nhưng bà có thể ngửi thấy mùi căng thẳng của họ. Con đường dích dắc của bà qua những thân cây lại đang xoắn lại. Họ không thể biết người dẫn đường của họ đang đi tới đâu. “Làm thế nào để một sinh vật sống sót, bằng cách đặt mọi thứ vào cuộc tình một đêm? Hành động của Tachigali versicolor nhanh và quả quyết tới nỗi nó khiến tôi kinh ngạc. Quý vị thấy đấy, trong vòng một năm kể từ lần nở hoa duy nhất ấy, nó chết.”

Bà đưa mắt lên. Khán phòng đầy những nụ cười kỳ cục cho sự kỳ cục của thứ này, tự nhiên. Nhưng thính giả của bà vẫn chưa thể kết nối bài phát biểu lan man của bà với bất cứ thứ gì liên quan tới vấn đề sửa nhà.

“Hóa ra là một cây có thể cho đi nhiều hơn chỉ là thức ăn hay thuốc. Tán của rừng mưa rất dày, nên hạt giống khuếch tán nhờ gió không bao giờ roi quá xa khỏi thân sinh chúng. Hậu duệ chỉ-có-một-lần-trong-đời của Tachigali nảy mầm ngay lập tức, trong bóng râm của những cây khổng lồ đã chặn ánh mặt trời lại đó. Chúng sẽ phải chết, trừ khi một cây già đổ xuống. Người mẹ đang chết sẽ mở ra một lỗ trong tán rừng, và thân cây mục dần của nó làm giàu đất đai cho những cây non mới. Gọi đó là sự hy sinh tối cao của mẹ cha. Một tên phổ biến của Tachigali versicolor là cây tự tử.”

Bà cầm lọ đựng tinh chất cây lên từ chỗ bà đã đặt xuống trên bục giảng. Hai tai bà vô dụng, nhưng đôi tay, chí ít, đã tìm lại được sự vững chãi cũ của chúng. Đầu tiên đã có mọi thứ. Rồi không bao lâu sẽ chẳng có gì cả.

“Tôi đã luôn tự hỏi bản thân câu hỏi mà các bạn đã đưa tôi đến đây để trả lời. Tôi đã nghĩ về nó dựa trên tất cả các bằng chứng có sẵn. Tôi đã cố không để cảm xúc cá nhân bảo vệ mình khỏi những sự thật. Tôi đã cố không để hy vọng và ảo tưởng làm tôi mù quáng. Tôi đã cố để nhìn vấn đề này từ địa vị của cây. Thứ tốt nhất duy nhất mà một người có thể làm cho tương lai của thế giới là gì?”

Một giọt chiết xuất rơi vào cốc nước trong và biến thành những đường gân màu xanh lá.

NHŨNG XOÁY MÀU XANH LÁ trải tới Astor Place. Lúc đầu chỉ là một vảy nước màu chanh, vảy trên vỉa hè màu xám. Rồi thêm một vảy khác, lần này là màu quả bơ. Adam đứng bên cửa sổ nhìn xuống hơn mười tầng. Xe cộ đi lại trên bốn con phố không đối xứng kéo những vệt màu xanh ấy vào ngã tư lệch đó. Trong một khoảnh khắc khác, một vũng thứ ba - ôliu - trải ra với những cú vẩy như tranh của Pollock trên tấm bạt bê tông. Ai đó và đội của y đang thả bom sơn. Đây là ngày thứ hai ông được tại ngoại ở nhà, trong căn hộ trung tâm mà ông và gia đình đã sống bốn năm. Giới chứ trách đã đeo vòng chân theo dõi cho ông - loại đỉnh bảng của HomeGuard - rồi thả ông vào căn hộ giáp bốn phố của ông trên cao Waverly và Broadway. Các vòng theo dõi: thứ trang sức cùng được sử dụng cho những loài sắp tuyệt chủng và những kẻ phản bội giống loài. Ông và Lois trả cho một công ty hợp đồng tư nhân một khoản tiền điên rồ cho thiết bị này, và hãng đó chia sẻ lợi nhuận với nhà nước. Mọi người đều thắng.

Ngày hôm qua, một cảnh sát kỹ thuật đã tập huấn cho Appich các quy định về việc giam cầm ông. “Ông có thể dùng điện thoại và nghe đài. Ông có thể vào internet và đọc báo. Ông có thể gặp người đến thăm. Nhưng nếu ông muốn rời khỏi tòa nhà của ông, ông cần làm rõ chuyến đi với Trung tâm Chỉ huy.”

Lois đã đưa thằng bé Charlie về ông bà ngoại ở Cos Cob. Để họ có mấy ngày tập trung vào việc bào chữa cho Adam, cô nói. Thật ra, thằng bé sẽ đau khổ khi nhìn thấy cái phiến đen gắn vào cổ chân bố nó. Năm tuổi, nhưng thằng bé hiểu.

“Bỏ nó ra đi, bố.”

Sớm hơn nhiều so với mong đợi, Adam phá bỏ lời thề không bao giờ nói dối đứa con trai của mình. “Sớm thôi, anh bạn nhỏ. Đừng lo. Ổn cả thôi.”

Từ trên cao, Appich nhìn xuống bức tranh hành động ngày càng lớn ra. Một vũng khác - màu xanh ngọc - vảy xuống nền bê tông. Chiếc xe đâm trúng vũng sơn tiếp tục chạy qua plaza về phía quảng trường Cooper. Đó là một nhà hát du kích, một cuộc biểu tình phối hợp. Mỗi chiếc xe mới đến, các cầu vồng màu xanh lại rơi xuống ngã năm đường, tô thêm vài nét vẽ lên tổng thể đang lan rộng ra đó. Một chiếc xe khác đi xuống đường Eighth và giải phóng ba hộp màu nâu. Nơi các vệt màu xanh trải ra và phân nhánh, các vệt màu nâu hạ xuống thành một cột nhiều nếp rãnh. Khá dễ để thấy cái gì đang hình thành, mười hai tầng phía dưới.

Những vệt đỏ và vàng xuất hiện ở gần đỉnh bậc cầu thang của ga tàu điện ngầm. Khi người đi bộ không để ý giẫm lên, họ sẽ vẽ bằng giày của họ. Một doanh nhân tức giận cố đi vòng qua đống hỗn độn nhưng thất bại. Hai người yêu nhau đan tay nhảy qua, bước nhảy của họ tô nên hoa và quả màu sắc lên trên các cành cây trải rộng. Ai đó đã dành một nỗ lực rất lớn để tạo ra bức tranh cây hẳn là rộng nhất thế giới này. Tại sao lại ở đây, Adam tự hỏi, trong một khu khá chật chội này? Một công trình như thế này xứng đáng ở Midtown, nếu không muốn nói là Lincoln Center. Rồi ông biết tại sao nó ở đây. Bởi vì ông ở đây.

Ông lấy chùm chìa khóa và áo khoác, rồi chẳng nghĩ được gì thêm, ông đi xuống tầng. Ông đi qua sảnh, qua các hộp thư, và qua cửa chính, đi về phía Đông đường Waverly về phía cái cây khổng lồ. Cái khối quyền lực ẩn dưới gấu quần kaki rộng thùng của Appich rung lên và bắt đầu kêu réo. Hai người chuyển hàng quay lại nhìn, và một người hưu trí, đang loạng choạng phía sau cái khung nạng của mình, dừng lại trong hoảng sợ.

Adam vội quay trở lại vào trong tòa nhà, nhưng cái vòng không ngừng kêu. Nó réo rắt như nhạc avant-garde trên suốt đường lên thang mái. Ông đi vội xuống sảnh trên tầng của mình. Người điều khiển máy tính ca đêm ở phòng bên cạnh ló đầu ra để xác định âm thanh huyên náo. Adam vẫy vẫy tay xin lỗi trước khi tự nhốt vào trong căn hộ của mình, ở đây, ông gọi điện thoại về lỗi lầm đó với những người giam giữ mình.

“Ông đã được hướng dẫn,” người thư ký theo dõi nói với ông. “Đừng cố đi qua hàng rào địa lý của ông.”

Tôi hiểu. Tôi xin lôi.

“Lần sau chúng tôi sẽ phải đưa ra hành động đấy.”

“Đó là một sai lầm. Sai sót mang tính con người.” Lĩnh vực chuyên môn của ông.

“Lý do không có ý nghĩa gì cả. Lần sau chúng tôi sẽ phải phải thực thi quyền lực.”

Adam quay lại cửa sổ, để quan sát cái cây khổng lồ đang khô. Ông vẫn đang đúng đó thì vợ trở về từ Connecticut. “Cái gì đấy?” Lois hỏi.

“Một thông điệp. Từ một người bạn.”

Và lần đầu tiên, nó chạm vào trí não cô, sự thật của những gì báo chí đang nói. Những hình ảnh của nhà nghỉ trên núi cháy thành than. Người phụ nữ đã chết. “Thành viên của nhóm khủng bố sinh thái cực đoan chịu trách nhiệm.”

DOROTHY LƯỚT VÀO phòng của chồng bà vào đầu một buổi tối để kiểm tra ông. Ông đã không tạo ra tiếng động nào trong suốt nhiều giờ. Bà đi qua cửa và, trong một giây trước khi ông nghe thấy rồi quay sang bà, bà lại thấy nó lần nữa, như bà vẫn thấy rất thường xuyên trong những ngày ngắn ngủi, tối giản, qua mau này: vẻ ngạc nhiên đơn thuần của một màn biểu diễn đang mở ra ngay bên ngoài cửa sổ.

“Cái gì vậy, Ray?” Bà đi vòng qua bên kia giường, nhưng như mọi khi, bà chẳng nhìn ra được gì hơn là khu vườn mùa đông. “Đã có gì ngoài đó à?”

Cái miệng vặn vẹo chuyển thành một thứ mà bà đã học được để xem đó là một nụ cười. “Ồ, phải!”

Bà sực nhận ra bà ghen tị với ông. Những năm tháng của sự tĩnh lặng bắt buộc của ông, sự kiên nhẫn của tâm trí chậm rãi, và sự mở rộng của những giác quan bị che chắn. Ông có thể quan sát một tá cây trơ trụi trong vườn sau hàng giờ và thấy cái gì đó lạ lùng và đáng ngạc nhiên, đủ cho những khao khát của ông, trong khi bà - bà vẫn mắc kẹt trong cơn khao khát vượt qua mọi thứ.

Bà luồn cánh tay xuống dưới thân thể mềm nhão của ông và kéo ông về một bên giường bệnh. Rồi bà đi vòng sang bên kia và nằm xuống bên cạnh ông. “Nói em nghe nào.” Nhưng tất nhiên ông không thể. Ông tạo một tiếng khục quen thuộc từ sâu trong cổ họng mà có thể mang bất cứ ý nghĩa nào. Bà với bàn tay ông và họ giữ yên, như thể họ đã là những hình dong được khắc trên nắp mộ tẩm của họ.

Họ nằm một hồi lâu, nhìn chăm chăm ra khắp đất đai của họ, nơi những người săn bắn hái lượm đã có mặt suốt hàng thiên niên kỷ. Bà thấy rất nhiều - tất cả những loại cây đa dạng của nơi lẽ ra là khu vườn lớn của họ, chồi của chúng đã sẵn sàng. Nhưng bà biết bà đang không nắm bắt được bằng một phần mười ông. “Kể cho em thêm về con bé đi.”

Tim bà đập mạnh hơn trước câu hỏi cấm kỵ đó. Suốt cả cuộc đời bà đã luôn trêu ghẹo những cơn điên, thế nhưng trò chơi mùa đông mới này của họ cảm giác thực sự đáng sợ. Những người lạ sẽ ra ngoài đêm nay, lang thang, gõ cửa nhà họ. Và bà sẽ cho họ vào.

Cánh tay ông ghì chặt, và khuôn mặt ông không thay đổi. “Di chuyển nhanh. Sẽ cho ăn.” Nghe giống như thể ông vừa mới viết Hồi ức của Những thứ đã qua.

“Trông con bé như thế nào?” Bà đã từng hỏi rồi, nhưng cần câu trả lời lần nữa.

“Dữ. Đẹp. Em.”

Thế là đủ cho bà trở lại với cuốn sách, và sân sau mở ra giống như hai trang sách trải ra trước mặt bà. Đêm nay, trong bóng tối dâng lên, câu chuyện chạy đảo chiều. Một loạt các cô gái, trẻ hơn và trẻ hơn, lao qua cửa sau vào thế giới mô phỏng thu nhỏ. Cô con gái hai mươi tuổi của họ, đang trong kỳ nghỉ xuân của trường đại học, mặc chiếc áo ba lỗ để lộ hình xăm baroque mới trông rừng rợn trên vai trái, lẻn ra ngoài hút một điếu cần sa sau khi bố mẹ nó đã ngủ. Con gái họ mười sáu tuổi, đang tu rượu rẻ tiền mua từ hàng tạp hóa với hai cô bạn trong góc tối xa nhất của mảnh đất. Đứa con gái mười hai tuổi của họ, trong một cơn hoảng loạn, không ngừng đá một quả bóng vào ga-ra trong nhiều giờ liên tục. Con gái họ lên mười, chạy tung tăng qua bãi cỏ, bắt đom đóm cho vào lọ. Con gái họ lúc sáu tuổi, đi ra ngoài bằng chân trần trong ngày mùa xuân bảy mươi độ F đầu tiên với một cây non trên tay.

Hình ảnh đó xuất hiện trên nền cây cối tỏa bóng râm. Nó rõ ràng đến nỗi Dorothy tin chắc bà đã thấy một hình mẫu nào đó cho nó ở đâu đó. Đây là cách đọc-to phổ biến dạo này, hai người họ im thin thít ngắm nhìn. Ai mà biết được người lạ suốt đời này trong nhà của bà đang nghĩ điều gì? Bà biết, lúc này. Một điều gì đó như thế này. Một điều gì đó giống chính xác như thế này.

Ba từ đưa lên sát tai bà phá vỡ sự yên lặng. “Không làm gì.” Các từ rõ ràng đúng như chúng cần phải thế, nói với Dorothy rằng chồng bà đã ở ngoài kia với bà trong cái nơi khác đó, hoặc không cách bao xa. Đúng hệt như ý nghĩ vừa xảy ra trong bà. Họ có chung ý nghĩ đó một cách riêng rẽ, từ cùng một câu đáng kinh ngạc trong một cuốn sách đáng kinh ngạc mà họ mới đọc cùng nhau:

Cách tốt nhất và dễ nhất để đưa một khu rừng trở lại với bất cứ mảnh đất trống nào là không lầm gì cả - hoàn toàn không gì cả, và làm nó trong thời gian ít hơn bạn từng nghĩ.

“Đừng cắt cỏ nữa,” Ray thì thầm, và bà thậm chí không phải đề nghị giải thích. Còn món thừa kế nào mà họ để lại cho cô con gái ương ngạnh, hung dữ, xinh đẹp tốt hơn là một mẫu rưỡi rừng? Sát bên nhau, trên giường y tế của ông, họ nằm nhìn ra khung cửa sổ, nơi những trận tuyết khổng lồ chất thành đống rồi tan đi, những cơn mưa đêm, những con chim cư trú tạm thời quay trở về, ngày lại dài ra, nụ chồi trên mọi cành cây nở bung ra thành hoa và lá, và hàng trăm cây non mọc lên tua tủa qua bãi cỏ đang mọc lại.

“ANH KHÔNG THỂ LÀM THẾ NÀY. Anh có một đứa con đấy.”

Adam ngồi ngả lưng trên chiếc ghế đôi, nghịch cái hộp màu đen trên cổ chân. Lois - vợ ông - ngồi đối diện với ông, bàn tay đặt lên đùi, xương sống như cái cột điện. Ông không thể giải thích bản thân nữa. Ông không có câu trả lời. Trong hai ngày, hai người họ đã theo đuổi sự việc tới tận đáy cùng. Ông nhìn chăm chú ra ngoài cửa sổ khi những ngọn đèn của Financial District thay cho ánh sáng ban ngày. Mười triệu chấm sáng lung linh trong màn đêm buông xuống, giống như các cống logic của một mạch tạo ra các giải pháp cho một thế hệ tính toán đang sắp xuất hiện.

“Năm tuổi. Nó cần có bố.”

Thằng bé mới ở Connecticut một ngày rưỡi nhưng Adam đã không thể nhớ dái tai nào của thằng bé có lỗ. Hay tại sao thằng bé lại lên năm, khi mà nó vừa mới sinh. Hay bằng cách nào mà ông, Adam, có thể là bố của một ai đó.

“Nó sẽ lớn lên với lòng oán giận anh. Anh sẽ là một người xa lạ nào đó trong nhà tù liên bang mà nó đi thăm, cho tới khi em thôi ép nó.”

Cô đã không ném nó vào mặt ông, mặc dù cô nên làm thế. Ông, thực chất, đã là một người lạ nào đó. Cô đã không bao giờ biết. Và thằng bé - thằng bé. Đã xa lạ, với Adam. Năm ngoái trong hai tuần, Charlie đã muốn trở thành lính cứu hoả, nhưng rồi sớm nhận ra nhân viên ngân hàng hay hơn việc đó trong mọi khía cạnh có thể đo đếm được. Nó chẳng thích gì hơn là xếp các đồ chơi của nó thành hàng thẳng với một cái thước, đếm chúng, rồi cất chúng vào những chiếc thùng khóa được. Việc duy nhất nó từng dùng đến sơn móng tay là để đánh dấu những chiếc xe nhỏ của nó khiến bố mẹ không ai ăn trộm được.

Adam quay đầu vào trong phòng, để nhìn hình dong đang ngồi trên chiếc ghế quầy bar đối diện ông. Đôi môi của vợ ông cau có và hai má ửng đỏ, giống như cô đang bị nghẹn. Kể từ khi ông bị bắt, cô dường như bắt đầu trở nên mơ hồ với ông như cuộc đời của chính ông đã vậy vào cái ngày ông lén trở về Santa Cruz và bắt đầu mô phỏng nó. “Em muốn anh thỏa thuận.”

“Adam.” Giọng cô như một cú trượt có kiểm soát. “Anh sẽ không bao giờ ra ngoài được nữa.”

“Em nghĩ anh nên chỉ điểm ai đó khác. Chỉ là anh hỏi thế thôi.”

“Đó là công bằng. Họ là đồng phạm. Và một trong số họ đã chỉ điểm anh.”

Ông quay ra ngoài cửa sổ. Quản thức tại nhà. Phía dưới, ánh đèn mờ ảo của NoHo, ánh sáng của Little Italy, thế giới mà giờ đây ông bị cấm. Và ở xa hơn, vượt qua mọi khu lân cận, vách đá đen của Đại Tây Dương. Đường chân trời là một điểm số thử nghiệm cho một thứ âm nhạc phiêu diêu nào đó mà anh gần như có thể nghe thấy, về phía bên phải, xa khỏi tầm mắt, tòa tháp xoắn đó vươn lên, thay thế cho những tòa đã bị phá hủy. Tự do.

“Nếu thứ chúng ta theo đuổi là công bằng…”

Một giọng mà đáng lẽ phải rất quen thuộc với ông nói, “Anh bị làm sao thế? Anh đang đặt phúc lợi của một người khác lên trên con trai của chính anh à?”

Nó là đây: điều răn tối thượng. Hãy chăm sóc những gì của bạn. Bảo vệ gene của bạn. Dâng tặng cuộc đời bạn cho một đứa con, hai anh chị em ruột, hoặc tám đứa cháu họ đầu tiên. Nếu dịch sang bạn bè thì sẽ là bao nhiêu? Có bao nhiêu người lạ vẫn ở ngoài kia, dành tặng cuộc đời của họ cho những giống loài khác? Bao nhiêu cây? Ông không thể mở lời nói với vợ về điều tồi tệ nhất của nó. Kể từ khi bị bắt - kể từ khi bắt đầu nghĩ khách quan một lần nữa, sau bao nhiêu năm xem câu hỏi như một sự trừu tượng - ông bắt đầu thấy người phụ nữ đã chết ấy đúng: thế giới đầy rẫy những phúc lợi mà thậm chí đã có trước giống loài của chính bạn. “Nếu anh đưa ra một thỏa hiệp, thì con trai anh… thì Charlie sẽ lớn lên trong hiểu biết điều anh đã làm.”

“Nó sẽ biết anh đã đưa ra một quyết định khó khăn. Rằng anh đã sửa một sai lầm.”

Adam cười bật lên. “Đã sửa một sai lầm!” Lois đứng bật dậy bỏ đi. Cơn giận làm mắc nghẹn lời nói của cô trước khi cô có thể phun ra. Khi cánh cửa đóng sầm lại phía sau lưng cô, ông nhớ ra vợ mình, và những gì trong khả năng của cô ấy. Ông ngủ lơ mơ và tưởng tượng ra điều luật pháp sẽ làm với ông.

Ông trở người, và cơn đau dội qua phía dưới sống lưng của ông. Cơn đau đánh thức ông. Mặt trăng khổng lồ treo lơ lửng trên Hudson. Mọi vết lõm màu trắng xám trên bề mặt của nó sáng như nhìn qua kính thiên văn. Viễn cảnh của cuộc sống trong từ tạo nên điều kỳ diệu với thị lực của ông. Bàng quang của ông đau nhức. Ông vừa đứng lên và bắt đầu một chuyến thám hiểm phạn xạ băng qua căn nhà tới phòng tắm, thì một đám mây bất thường rơi vào tầm nhìn của ông. Ông đi tới bên cửa sổ và đặt tay vào nó. Hơi nước ngưng tụ viền quanh tay ông giống như tranh hang động. Ở hẻm đường phía dưới, những vệt đèn xe kết tụ và phân tán. Ở đó, giữa dòng xe cộ tấp nập đó, một một bầy sói xám đi từ Quảng trường Washington xuống Waverly, đuổi theo một con hươu đuôi trắng.

Ông lao mạnh về trước, đập trán vào ô cửa kính lớn. Sự ghê tởm trào ra trong ông, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm. Ông loạng choạng đi vào bếp rồi ra phòng khách chật chội, đập vai vào khung của. Cú đập khiến ông chao đảo, và lao bàn tay phải ra để cố chặn cú ngã, ông đập mặt đầu vào bậu cửa sổ. Cú va chạm làm miệng ông phập lên môi dưới và khiến ông rơi bịch xuống sàn. Ông nằm đó, ngu ngốc với cơn đau.

Ngón tay ông kiểm tra miệng mình và đưa xuống với cảm giác dấp dính. Răng cửa bên phải của ông cắn vào môi dưới xuyên cả hai phía. Ông lớp ngớp quỳ dậy và nhìn qua bệ cửa. Mặt trăng tỏa sáng qua đỉnh của một đảo phủ đầy cây. Gạch, thép, và những góc vuông hiện ra dưới ánh trăng, ụ cây xanh. Một dòng suối chảy qua một hẻm núi cắt về phía West Houston. Các tòa tháp của Financial District đã biến mất, chuyển thành những đồi cây. Trên cao, dải Ngân Hà loang ra, dòng chảy của các vì sao.

Cơn đau nghiền nát tâm trí bởi đôi môi bị đứt. Sự căng thẳng của việc bị bắt. Ông nghĩ: Mình không thực sự nhìn thấy cái này. Mình đang nằm bất tỉnh sau cú đạp mặt trên sàn phòng khách. Thế nhưng nó trải ra phía dưới ông, trong mọi hướng - một khu rừng rậm rạp, rừng rợn, và không thể trốn tránh giống như tuổi thơ. Rừng Mỹ.

Tầm nhìn của ông rộng dần ra, khuếch đại nhiều màu sắc và thói quen của tổng thể: cây trăn, sồi, cherry, một nửa tá loài phong. Những cây bồ kết ba gai phủ đầy gai để chống lại những con thú lớn đã tuyệt chủng. Những cây pignut hickory thả những bữa ăn uống cho bất cứ loài nào di chuyển. Những bông hoa sơn thù du trắng đầy nhựa đung đưa trong tầng cây thấp trên những nhánh cây mảnh dẻ ẩn mình. Rừng hoang chạy xuống dưới xa Broadway, hòn đảo như nó đã vậy từ một nghìn năm trước và một nghìn năm nữa.

Một cái gì vụt qua thu hút ánh mắt ông. Xa về phía một khu rừng sồi, một con cú sừng lớn (great horned owl) giương hai cánh lên quá đầu nó và rơi bụp xuống cái gì đó đang di chuyển trong đống lá phía dưới. Một con gấu cái đen cùng hai con con đi qua một đồi cát nơi từng là Bleeker Street. Rùa biển đẻ trứng vào mùa trăng tròn trên những bờ cát của East River.

Hơi thở của Adam phủ mờ lớp kính và khung cảnh trở nên xám xịt. Máu rỏ xuống cằm ông. Ông chạm vào miệng và thấy sỏi đá giữa các ngón tay. Ông liếc xuống để kiểm tra những mấu răng mẻ. Khi ông ngước lên trở lại, Manhattan biến mất, thay thế bằng những ánh đèn của Lower Manhattan. Ông đưa bàn tay chà xát ô cửa sổ. Các đô thị phía bên kia sụp đổ thành một tiếng nấc. Mạch ông đập thình thịch trong cánh tay và ông bắt đầu run rẩy. Các tòa nhà giống như những trò chơi ô chữ, những vi thể đỏ và trắng của giao thông: gây ảo giác hơn cả những gì vừa biến mất.

Ông quờ quạng đi qua bãi đồ đạc và tạp chí vương vãi ra tiền sảnh rồi ra của. Sáu bước xuống hành lang, ông nhớ ra cái vòng cổ chân. Ông đổ sụp xuống một bức tường với đôi mắt nhắm nghiền. Khi ảo ảnh kia cuối cùng cũng biến mất, ông quay trở lại căn hộ và giam mình trong nơi cư trú duy nhất chấp nhận ông, quần xã sinh vật duy nhất của ông trong một thời gian dài sắp tới.

MIMI MA ngồi ở hàng thứ hai của khán phòng, chết lặng trước những gì người phụ nữ cây đó vừa nói. Patricia Westerford. năm người họ đã chia sẻ những phát hiện của bà qua đống lửa trại, thời mà Khu sinh thái Tự do Cascadian vẫn còn hoạt động. Những lời của bà đã khiến họ trở nên có thực, những tổ chức lạ lùng đang làm những thứ vượt qua nhận thức nhỏ hẹp của con người. Người phụ nữ đó già hơn Mimi tưởng tượng. Sợ sệt và ấp úng, có gì đó là lạ trong bài phát biểu của bà. Nhưng bà vừa đưa ra quy tắc hay, có lý, nhưng cũng có vẻ cấm kỵ này: Thứ mà bạn làm từ một cái cây cần phải ít nhất là kỳ diệu bằng với thứ mà bạn chặt xuống.

Thứ mà rừng làm từ núi tốt hơn núi. Thứ mà con người có thể làm từ rừng… Ý nghĩa chưa kịp nảy sinh thì Tiến sĩ Westerford khiến Mimi giật mình trở lại.

“Tôi đã luôn tự hỏi bản thân câu hỏi mà các bạn đã đưa tôi đến đây để trả lời.”

Ý nghĩ đầu tiên của Mimi là bà ấy đã nhầm. Một nhà nghiên cứu và tác giả nổi tiếng - người đã dành nhiều thập kỷ cứu hạt giống của những cây sắp tuyệt chủng trên khắp thế giới… Không thể nào lại như thế được. Bà ấy hẳn đã sai.

“Tôi đã nghĩ về nó dựa trên tất cả các bằng chứng có sẵn. Tôi đã cố không để cảm xúc cá nhân bảo vệ mình khỏi những sự thật.”

Toàn bộ màn độc thoại này là một mẩu kịch, dẫn đến một sự đảo ngược hoặc tiết lộ cuối cùng.

Mimi nhìn xuống lối đi bên cạnh cô. Mọi người ngồi trong cảm giác hoài nghi, ghim chặt vào ghế bởi sức nặng hết mức của cảm giác xấu hổ.

“Thứ tốt nhất một người có thể làm cho thế giới tương lai là gì?”

Một người phụ nữ khác đã có lần hỏi Mimi điều này. Và câu trả lời, quá rõ ràng, quá lý trí: đốt cháy một khu nghi dưỡng trượt tuyết sang trọng trước khi nó có thể được xây. Các giọt tinh chất cây rơi vào ly nước. Màu xanh lan tỏa ra nước, uốn lượn như một mầm cây tua thời gian phát triển vũ bão lên gấp một trăm nghìn lần. Mimi, các bục giảng bốn mươi feet, không thể nhúc nhích. Tiến sĩ Westerford nâng cái ly lên như thể một mục sư thực hiện một bí tích. Lời nói của bà đặc sánh lại như hồ dán. “Rất nhiều sinh thể chọn mùa riêng của mình. Có lẽ là hầu hết trong chúng.”

Nó đang diễn ra. Đúng thế thật. Nhưng hàng trăm những con người thông minh nhất thế giới vẫn ngồi im phăng phắc.

“Các bạn mời tôi đến đây để nói về việc Sửa Nhà. Chúng ta là những thứ đang cần sửa. Cây nhớ điều chúng ta vừa quên. Mọi xét đoán cần phải tạo chỗ trống cho xét đoán khác. Chết cũng là sự sống.”

Tiến sĩ Westerford liếc xuống, và Mimi đang chờ đợi bà. Mimi khóa ánh mắt của người đàn bà cây và không buông ra. Rất lâu trước kia, trong một cuộc đời khác, bà đã là một kỹ sư và có thể khiến vật chất làm ra rất nhiều thú. Giờ đây bà biết chỉ một kỹ năng duy nhất: cách nhìn nhìn một sinh thể khác cho tới khi nó nhìn lại.

Mimi cầu xin, đôi mắt cháy bỏng. Không. Đừng. Làm ơn.

Diễn giả cau mày. Mọi thứ khác là ngụy biện.

Bà được cần đến.

Được cần đến cho điều này sao. Chúng ta quá nhiều rồi.

Đó không phải là điều để bà quyết định.

Một thành phố mới cỡ thành phố Des Moines mỗi ngày.

Thế công việc của bà thì sao? Hầm giống của bà nữa?

Nó đã tự hoạt động trong suốt nhiều năm.

Còn rất nhiều việc để làm.

Tôi đã là một bà già. Còn lại việc gì tốt hơn việc này nữa chứ?

Mọi người sẽ không hiểu. Họ sẽ ghét hà. Như thế là quá kịch.

Nó sẽ nhận được một chút chú ý, giữa tất cả tiếng la hét.

Như thế trẻ con quá. Không xứng đáng với bà.

Chúng ta cần nhớ cách để chết.

Bà sẽ chết một cách khủng khiếp.

Không. Tôi biết các cây của tôi. Thứ này sẽ dễ dàng hơn phần lớn.

Tôi không thể xem lại cảnh này lần nữa.

Kem. Lần nữa. Là tất cả cần làm.

Cái liếc nhìn kéo dài không lâu hơn thời gian một chiếc lá ăn một tia ánh sáng. Mimi cố để giữ ánh nhìn của người diễn giả, nhưng với hành động quyết liệt cuối cùng của ý chí, “người đàn bà cây” rời mắt đi. Patricia Westerford đưa ánh nhìn của bà trở lại lên trên khán phòng mái vòm. Nụ cười của bà khăng khăng rằng đây không phải là một thất bại. Nó là lợi ích trong một cái tên khác. Một thứ nhỏ bé, một cách để mua thêm một chút thời gian, thêm một vài tài nguyên nữa. Bà liếc nhìn xuống Mimi đang kinh hãi. Những thứ biết đâu chúng ta có thể thấy, những thứ chúng ta vẫn có thể cho!

CÓ MỘT CÂY SỒI ở Ohio mà Patricia muốn đi xem lại lần nữa. Trong số tất cả những cây mà bà sẽ nhớ như hơi thở, một cây sồi đơn sơ, nhẵn bóng mà không có gì đặc biệt ngoài một cái rãnh trên thân ở khoảng cao bốn feet từ mặt đất. Có thể nó đã lớn hết mức. Có thể nắng và mưa và không khí đã tốt với nó. Bà nghĩ: Có lẽ chúng ta muốn làm khổ cây cối tôi vậy là vì chúng sống quả lâu so với chúng ta.

Patty-Cây nâng ly nước lên. Bà lướt qua bài phát biểu ở dòng cuối cùng của trang cuối cùng. Vì Tachigali versicolor. Bà nhìn lên. Ba trăm con người lỗi lạc quan sát bà, kinh sợ. Nhạc nền chẳng có âm thanh nào khác ngoài tiếng la hét nghèn nghẹt ở mép sân khấu. Bà liếc nhìn về phía đám đông huyên náo. Một người đàn ông trong xe lăn di chuyển lên bậc cầu thang phía bên phải. Tóc và râu ông chảy xuống quanh vai. Ông gầy như người cây biết nói trong tộc Yaqui, người mà không ai có thể hiểu. Người duy nhất trong tất cả mọi người trong khán phòng chết lặng này, ông ấn mình xuống ghế, cố đứng dậy. Dung dịch màu xanh bắn ra khỏi miệng cốc, vào bàn tay bà. Bà nhìn lại. Người đàn ông trên xe lăn vẫy điên cuồng. Hai cánh tay khẳng khiu khua khua ra. Sao một thứ nhỏ như thế này lại quá sức ông? Thứ tốt nhất ta có thể làm cho thế giới. Bà sực nhận ra: vấn đề bắt đầu với từ thế giới đó. Nó nói tới hai thứ vô cùng đối lập nhau. Một thứ thực mà chúng ta không thể thấy. Một thứ được tạo ra mà chúng ta không thể trốn thoát. Bà nhấc cái cốc lên và nghe thấy cha mình đọc to: Giờ để ta hát cho con nghe, chuyện con người biến thành những loài khác như thế nào.

TIẾNG HÉT CỦA NEELAY vang ra quá muộn để phá vỡ cơn mê của khán phòng. Người diễn giả đưa ly nước lên, và thế giới chia tách ra. Xuống dưới một cành cây, bà đưa cốc nước lên môi, chúc tụng cả phòng - Vì Tachigali versicolor - và uống. Xuống thêm một cành nữa, cành này, bà hét, “Đây là để không tự tử,” và đung đưa cái cốc nước xanh cuộn xoáy trước khán giả đang kinh ngạc. Bà lao khỏi bục, quay đi, loạng choạng trở vào trong cánh gà, để lại khán phòng trân trân nhìn lên sân khấu trống rỗng.

VÀO MÙA XUÂN, mùa xuân tươi tốt và quá ấm, khi nụ và hoa nở bừng bừng trên mọi cây sơn thù du và dương tử kinh và lê và anh đào rủ (weeping cherry) trong thành phố, vụ của Adam cuối cùng hết thời gian trì hoãn và được đưa ra tòa án liên bang ở West Coast. Phóng viên chật ních khán phòng giống như bầy kiến bu quanh một đóa mẫu đơn. Nhân viên tòa án dẫn Adam vào. Lúc này ông béo mập, có râu. Những nếp rãnh sâu chằng chịt trên khuôn mặt ông. Ông mặc bộ suit mà lần gần nhất ông diện nó là trong đêm tiệc trao giải nơi ông nhận giải thưởng giảng dạy xuất sắc tại trường đại học của ông. Vợ ông đã có mặt, đang ngồi trên hàng ghế sau lưng ông. Nhưng con ông thì không. Con ông sẽ chỉ mãi mãi thấy cha nó giống như mấy năm gần đây, qua video.

Ông biện hộ như thế nào?

Vị giáo sư ngành tâm lý chớp mắt, như thể ông là một dạng thể sống khác hoàn toàn mà lời nói của loài người quá nhanh để có thể hiểu.

QUA BẬU CỬA TRỐNG TRƠN, qua cửa sổ phòng bếp, Dorothy Brinkman nhìn ra ngoài một khu rừng. Người đàn ông chưa từng một lần quên đóng thêm tiền đỗ quá giờ ở bãi đỗ xe đã đẩy bà vào một cuộc cách mạng thực hiện theo đơn đặt hàng - Dự án Phục hồi Đất rừng nhà Brinkman. Cây cối rậm rạp đang phát triển khắp mọi nơi qua ngôi nhà. Cỏ cao gần nửa mét, kết cụm, um tùm, gieo-hạt, và dày đặc những cây cỏ bản địa tụ mọc. Cây phong mọc khắp nơi, giống như những bàn tay kết đôi. Những cây hackberry cao đến mắt cá chân phô những chiếc lá như cánh hoa. Tốc độ phục hồi khiến bà ngạc nhiên. Chỉ mấy năm nữa, mảnh rừng của họ sẽ khôi phục lại một nửa hiện trạng trước khi khu phân lô này xâm chiếm.

Những cây thứ sinh thậm chí còn phát triển nhanh hơn. Một lần, rất lâu trước đây, bà đã nhảy xuống từ máy bay, chơi trò kẻ sát nhân tàn bạo, làm những việc khủng khiếp với bất kỳ ai cố giam hãm bà. Giờ bà đã gần bảy mươi tuổi, tuyên chiến với cả thành phố. Rừng rậm trong một khu ngoại ô cao cấp: nó ngang bằng với tội quấy rối trẻ em. Hàng xóm đã ba lần khác nhau ghé sang hỏi xem có vấn đề gì không. Họ tình nguyện cắt tỉa, miễn phí. Bà diễn vai chính mình, ngọt ngào, điên loạn, vừa đủ đanh thép để giữ họ cách xa - một chuyến đi diễn trở lại của vở kịch nghiệp dư cuối cùng.

Bây giờ cả khu phố sẵn sàng ném đá bà. Thành phố đã viết thư hai lần, lần thứ hai là lá thư gửi bảo đảm cho bà một hạn cuối để dọn dẹp nơi này hoặc là đối mặt với một án phạt mấy trăm đô la. Hạn cuối đó đến rồi đi, và cùng với nó, một lá thư đe dọa khác, một hạn chót khác, và một khoản phạt cụ thể khác. Ai mà có thể nghĩ các nền tảng xã hội sẽ bị lung lay bởi một chút rừng xanh ngoài kiểm soát?

Hạn cuối mới là ngày hôm nay. Bà nhìn ra cây dẻ, một cây lẽ ra không thể ở đây. Tuần trước bà đã nghe một câu chuyện trên đài về chuyện ba mươi năm lai tạo cuối cùng đã tạo được một cây dẻ Mỹ kháng được bệnh đốm lá, sắp được đưa ra trồng thử ở đất rừng. Cái cây mà với bà trông như một ký ức bị bỏ quên giờ đây giống như một lời tiên đoán.

Một vệt màu cam ngoài cửa sổ thu hút ánh mắt bà: một con chim redstart Mỹ, con đực, dùng đuôi và cánh xua đuối côn trùng trong các bụi rậm. Chỉ riêng tuần trước là hai mươi hai loài chim. Hai ngày trước, trong ánh hoàng hôn, bà và Ray đã nhìn thấy một con cáo. Sự bất tuân dân sự có thể khiến họ mất hàng nghìn tiền phạt cộng gộp, nhưng khung cảnh từ căn nhà này đã phát triển lên rất nhiều.

Bà làm trái cây trộn cho bữa trưa của Ray rồi chờ tiếng gõ cửa giận dữ đến từ cửa trước. Bà ngập tràn phấn khích. Hơn cả phấn khích: mục đích. Một cảm giác sợ hãi, mà là loại ngon nhất. Bà rửa tay rồi lau khô, nghĩ thầm: Tôi đây rồi, gần vạch đích cuối cùng, yêu cuộc đời trở lại.

Tiếng gõ cửa đến nhanh hơn và to hơn. Bà băng qua phòng khách, xem xét lại trong đầu biện hộ về quyền đất đai của họ mà Ray đã giúp bà chuẩn bị. Bà đã trải qua nhiều ngày trong thư viện công cộng và tòa thị chính, học cách đọc các pháp lệnh địa phương, tiền lệ pháp lý, và mã thành phố. Bà mang các bản photo về lại cho chồng để giải thích, mỗi lần một âm tiết còi cọc. Bà đã xem xét qua các sách, tống hợp các số liệu thống kê về chuyện cắt cây, tưới nước, bón phân là trọng tội như thế nào, chuyện một mẫu rưỡi đất tái hình thành rừng tốt tới mức ra sao. Tất cả các lập luận sáng rõ và có lý đều đứng về phía bà. Chống lại bà chỉ có một ước muốn vô lý và căn bản. Nhưng khi bà mở cửa, đó là một thằng bé gầy gò mặc quần jeans và áo phông có cổ, mái tóc vàng gọn sóng xòe ra dưới cái mũ lưỡi trai do Mỹ sản xuất của nó, và toàn bộ kế hoạch biện hộ thay đổi.

“Bà Brinkman?” Phía sau thằng bé, ngoài vỉa hè, ba cậu bé thậm chí còn nhỏ tuổi hơn nói liến thoắng tiếng Tây Ban Nha đang đưa dụng cụ làm cỏ từ một chiếc xe bán tải và rơ moóc xuống. “Bọn cháu từ thành phố đến để dọn dẹp chỗ của bà. Bọn cháu sẽ chỉ mất mấy giờ thôi, và sau này thành phố mới tính phí của bà.”

“Không,” bà nói, âm thanh dày dặn, ấm áp, thông thái của âm tiết duy nhất đó khiến thằng bé bối rối. Nó mở miệng ra, nhưng dường như quá lúng túng để có thể nói gì. Bà mỉm cười và ưỡn ngực lên. “Các cháu không thực sự muốn làm thế đâu. Nói với thành phố rằng đó sẽ là một sai lầm khủng khiếp đấy. “

Bà nhớ một bí mật từ những ngày đi diễn: Huy động ý chí bên trong của bạn. Triệu tập tất cả các ký ức của một cuộc đời đã sống. Giữ điều này trong đầu bạn: đúng và sai. Sự thật, sự hiển nhiên. Chẳng có gì có sức mạnh hơn sự thuyết phục đơn giản đó.

Thằng bé nao núng. Thành phố đã không trang bị được cho nó thẩm quyền như thế. “Vâng, nếu được thì…”

Bà mỉm cười và lắc đầu, xấu hổ thay cho thằng bé. “Nó không được. Nó hoàn toàn không được.” Cậu biết rõ hơn đấy. Làm ơn đùng khiến tôi phải thấy xấu hổ cho cậu nhiều thêm. Thằng bé hoảng sợ. Bà nhìn nó với vẻ thương cảm, thấy hiểu, gần như là thương hại, cho tới khi nó quay đi gọi đồng bọn và xếp đồ đạc trở lại lên xe tải. Dorothy đóng sầm cửa và cười khúc khích khi họ lái xe đi. Bà đã luôn thích được đóng vai một bà già điên tốt bụng.

Đó là một chiến thắng nhỏ nhất, một sự trì hoãn nhẹ nhất. Thành phố sẽ quay trở lại. Máy xén và máy cắt sẽ vào cuộc, lần tới sẽ đến cả đoàn không cần hỏi. Họ sẽ cạo sạch khoảng vườn. Các khoản tiền phạt sẽ chồng chất lên, cùng với các phí và tiền phạt trả muộn. Dorothy sẽ kiện ngược, đấu tranh trước tòa cho tới lần kháng cáo cuối cùng. Để cho thành phố tịch thu ngôi nhà và tống một ông già bị liệt vào tù. Bà sẽ tồn tại lâu hơn họ. Tình trạng vô chính phủ của các cây non mới và mùa xuân tới đứng về phía bà.

Bà đi vào bếp, ở đó bà làm cho xong bữa trưa. Bà cho Ray ăn, kể với ông về thằng bé tội nghiệp và đội làm việc toàn người nước ngoài của nó, những đứa đã không hề biết chúng động phải cái gì. Bà diễn lại tất cả các phần. Phần vui nhất là đóng vai của chính bà. Bà có thể thấy ông mỉm cười, mặc dù không một ai khác trên thế giới có thể xác nhận điều đó.

Sau bữa trưa họ chơi giải ô chữ. Rồi, như vẫn thường làm trong những ngày này, Ray nói, “Kể tiếp đi.” Dorothy mỉm cười và trèo lên giường bên cạnh ông. Bà lại nhìn ra ngoài, qua ô cửa sổ, lên vùng cây cối phát triển lộn xộn mới. Ở giữa đó, cái cây đáng lẽ không thể có ở đây. Cành của nó sum sê vươn ra, về phía ngôi nhà, chầm chậm, hẳn rồi, nhưng đủ nhanh để khiến bà hồi hộp. Làm thế nào mà cuộc sống xoay xở để thêm trí tưởng tượng vào tất cả các mánh khóe khác trong bộ dụng cụ thí nghiệm của nó là bí ẩn mà Dorothy không thể nào hiểu thấu. Nhưng sự thật là: khả năng nhìn thấy, tất cả cùng một lúc, trong tất cả các nhánh đồng quy của nó, tất cả bạt ngàn giả thuyết của nó, thứ nối quá khứ với tương lai, đất với trời này.

“Nó là một con bé ngoan, anh biết đấy.” Bà cầm lấy bàn tay cứng đơ của chồng. “Nó chỉ hơi mất phương hướng một chút. Tất cả những gì nó cần là tìm lại bản thân. Tìm một lý lẽ. Một cái gì đó lớn hơn con người nó.”

CÔNG TỐ đưa ra những bức ảnh từ hiện trường của một trong số các tội đã được xác nhận của người đàn ông - một góc graffiti bên một bức tường cháy đen. Những con chữ đầu tiên của mỗi dòng đều mọc ra tua rua và dây leo, giống như các chữ cái của một bản thảo có minh họa (illuminated manuscript):

KIỂM SOÁT GIẾT CHÓC

KẾT NỐI PHỤC HỒI

VỀ NHÀ HAY LÀ CHẾT

Nó là trung tâm vụ án của họ, các căn cứ cho bản án bất thường mà họ đang yêu cầu. Họ muốn chứng minh tính chất đe dọa. Một nỗ lực dùng bạo lực để tác động lên hành động của chính quyền.

LUẬT SƯ CỦA ADAM biện hộ đề nghị được khoan hồng. Họ lý luận rằng lửa được nhen bởi một thanh niên mang chủ nghĩa lý tưởng đang kêu gọi sự chú ý của cộng đồng tới một tội ác chống lại tất cả mọi người. Họ nói bản thân việc bán rừng là bất hợp pháp và chính phủ đã thất bại trong việc bảo vệ đất đai được giao phó. Vô số cuộc biểu tình ôn hòa đã không dẫn tới kết quả gì. Nhưng họ không có bằng chứng vô tội. Luật pháp rất rõ ràng trên mọi phương diện. Ông ta là phạm tội cố ý phóng hỏa. Phạm tội hủy hoại tài sản tư nhân. Phạm tội bạo lực chống lại sự thịnh vượng chung. Phạm tội ngộ sát. Phạm tội, như bồi thẩm đoàn những người ngang địa vị với Adam Appich kết luận, là khủng bố trong nước.

Luật pháp là ý chí đơn giản của con người, được viết ra. Luật pháp phải để mọi mẫu Trái Đất đang sống được biến thành tarmac, nếu đó là mong muốn của mọi người. Nhưng luật pháp cho phép tất cả các bên có tiếng nói của họ. Thẩm phán hỏi, “Ông có muốn nói lời cuối với tòa không?”

Những ý nghĩ reo lên trong đầu Adam. Những lời tuyên án đã khiến ông thả lỏng, như gió lốc hoặc là như lửa. “Chúng tôi sẽ sớm biết chúng tôi đúng hay sai thôi.”

Tòa kết án Adam Appich hai kỳ liên tiếp với mỗi kỳ bảy mươi năm. Sự khoan hồng này khiến ông kinh ngạc. Ông nghĩ: Bảy mươi cộng với bảy mươi chẳng là gì. Một cây liễu đen cộng với một cây cherry dại. Ông đã nghĩ về sồi. Ông nghĩ về linh sam Douglas hoặc thủy tùng. Bảy mươi cộng bảy mươi. Với những lần giảm cho hành vi tốt, ông thậm chí có thể kết thúc nửa đầu tiên của bản án vừa kịp lúc để chết.

❀ ❀ ❀

[1] Hội chứng “say khô” (dry drink) xảy ra khi một cá nhân đã từng nghiện rượu dù đang tỉnh táo nhưng lại liên tục hành động như thể vẫn đang nghiện rượu hoặc các chất kích thích khác.

Hà Uy Linh dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.