Vãn Thanh Thất Thập Niên 2: Thái Bình Thiên Quốc

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Chế Độ Cắt Cứ "Không Trâu Không Ngựa" Của Hồng - Dương

❊ ❊ ❊

Vào cuối thập niên bốn mươi, khi đặt chân đến Mỹ du học, tôi từng đến thăm vườn thú thành phố New York và nhìn thấy một số loài chim lạ thú quý đến từ Trung Quốc, trong lòng thật vô cùng cảm thán. Một trong số đó là "gấu trúc". Trên nhãn ghi là đặc sản Trung Quốc, không biết có phải do phu nhân Tưởng Tống Mỹ Lĩnh tặng hay không, tôi nay đã không còn nhớ rõ. Nó xám xịt, trông giống như một con heo khoang, nằm ì ở góc tường, cũng chẳng thu hút được sự chú ý của khách tham quan. Nào giống như ba mươi năm sau, cặp gấu trúc con cưng của Chủ tịch Mao được máy bay chuyên dụng đưa sang Mỹ, ở Washington oai phong lẫm liệt làm sao! Vợ chồng tôi hiếu kỳ, cũng từng lái xe đến thủ đô Washington để chiêm ngưỡng. Dưới cái nắng gắt, dòng người xếp hàng dài nửa dặm. Thoạt nhìn dung nhan, thật yêu quý vô cùng. Tổ ấm xa hoa của hai vị ấy thì tất nhiên không cần phải bàn tới. Còn khi cặp đôi quý tộc ấy vừa giơ tay nhấc chân, những người cùng đến chiêm ngưỡng bên ngoài không ai là không vỗ tay hoan hô cười lớn, tiếng vang động cả cây cối. Thế nhưng, cặp đôi quý tộc này với con "heo khoang" mà kẻ hèn này từng thấy hồi ba mươi năm trước, rốt cuộc có điểm gì khác biệt? Heo vẫn là heo đó thôi, mà sự vinh nhục, nghèo sang lại cách biệt một trời một vực thế này! Nếu Tiên sinh Tô Tần có ở đây, có lẽ cũng phải cảm thán mà rằng: "Heo sinh ra ở chốn phú quý, há có thể lờ đi được sao?!"

Một loài đặc sản Trung Quốc khác, nhãn mác có ghi tên Latinh hay không tôi cũng quên mất rồi. Chỉ nhớ tên của nó theo phiên âm Wade-Giles là "tứ bất tượng" (Ssu–pu-hsiang, theo bính âm tiếng Trung đại lục hiện nay thì phải là Si-bu-xiang). Cụ ta được đặt trong một khu chuồng thú châu Á, đứng chung với bò ngựa từ châu Á đến và nhai thứ cỏ khô của chúng.

[Chú thích] Phiên âm Wade-Giles: Thường gọi là phép phiên âm Wade, còn gọi là phiên âm kiểu Thomas Wade, do nhà ngoại giao người Anh Thomas Wade sáng tạo vào những năm 1870 khi ở Trung Quốc, biên soạn cuốn sách giáo khoa tiếng Trung "Ngôn ngữ tự nhĩ tập", là phương pháp dùng chữ cái Latinh để đánh vần và phát âm chữ Hán. Ngày 11 tháng 2 năm 1958, sau khi Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc phê chuẩn ban hành "Phương án bính âm tiếng Trung", phiên âm Wade-Giles đã ngừng sử dụng ở đại lục, tuy nhiên ở Đài Loan, châu Âu và Mỹ, kiểu Wade vẫn được rất nhiều người sử dụng.

Những khách tham quan vườn thú dắt theo con cái, ai lại có đủ kiên nhẫn và nhã hứng để phân biệt đâu là bò đâu là ngựa chứ? Mọi người chỉ đành ngắm nhìn rồi bỏ đi, cùng lắm là bàn tán chê bai vài câu mà thôi. Nào ngờ lại có một "lao công" hiếu kỳ, bị hệ thống bính âm tiếng Trung này làm cho mê hoặc, bèn thực sự đọc tấm biển đồng đã gỉ sét kia. Vừa đọc lên, thật kinh hãi, vị lão gia này vốn là quý tộc của nước ta. Hóa ra vốn hưởng gấm vóc lụa là, sinh ra trong ngự viên "Tam Hải", "Nam Uyển" của hoàng thượng. Bất hạnh là "Liên quân tám nước" xâm lược Trung Quốc, xông vào ngự viên, bắt nó làm tù binh. May mắn là nó chưa từng tham gia "Nghĩa Hòa Đoàn"; lại càng không "phù Thanh" hay "diệt Dương", nên không bị mang cái mũ "tội phạm chiến tranh". Thế nhưng lính ngoại quốc của đế quốc nào có màng tới chuyện đó, cứ thế bắt lấy nó, đeo gông xiềng đày sang New York ăn cỏ khô suốt mấy chục năm nay.

Vị lão quý tộc tại sao lại mang cái tên kỳ lạ là "tứ bất tượng"? Nhà lịch sử học trẻ tuổi cũng đến từ Trung Hoa đã cẩn thận tra cứu giúp vị tiền bối. Hóa ra nó "sừng giống hươu, đuôi giống lừa, móng giống bò, cổ giống lạc đà". Kết quả thành ra một con "tứ bất tượng" không ra hươu, không ra lừa, không ra bò cũng chẳng ra lạc đà!

Nay thấm thoắt mấy chục năm trôi qua, vị lão quý tộc ấy sớm đã qua đời. Di hài có lẽ đã biến thành tiêu bản, đứng lặng ở chốn nào. Thế nhưng hình ảnh "tứ bất tượng" hiền từ kỳ quái mà vị tiền bối để lại cho tôi thì mãi mãi không bao giờ quên. Thật ra cụ ta sao lại không thể gọi là "tứ tượng" chứ? Nó chẳng phải vừa giống hươu, vừa giống lừa, vừa giống bò, lại vừa giống lạc đà hay sao?!

Gần đây khi sắp xếp lại các bản thảo cũ, tình cờ lật đến các quyển viết về Thái Bình Thiên Quốc, tôi liền nảy ý định phân loại chính quyền Hồng - Dương theo các nguyên tắc khoa học xã hội: Chính quyền Cơ Đốc giáo? Quốc gia xã hội chủ nghĩa? Cách mạng dân tộc? Khởi nghĩa nông dân? Quốc gia thần quyền? Chuyên chính vô sản chống phong kiến, tư bản và tư tưởng cũ...? Phân loại hoài phân loại mãi, tôi vẫn không sao phân nổi. Thế nhưng bỗng nhiên linh cảm lóe lên, tôi nhớ đến vị tiền bối "tứ bất tượng" cũng là người đồng hương và là vong niên chi giao của mình, lúc đó mới chợt đại ngộ. — Chính quyền Hồng - Dương hóa ra lại là một chính quyền "tứ bất tượng" (giống cả bốn nhưng chẳng giống hẳn gì). Tư tưởng thông suốt rồi, thật chẳng biết tay múa chân nhảy thế nào cho đặng!

4.1 Muôn mặt tai họa Thái Bình

Chính quyền Hồng - Dương vốn là một con "tứ bất tượng", nên các nhà lịch sử học, triết học, chính luận học, tôn giáo học... nếu cứ khăng khăng dùng sở thích chuyên môn của riêng mình để vọng bình hay quy kết, thì tất cả đều sẽ rơi vào ma đạo.

Chương trước đã nói rồi, đại sư Quốc học Tiền Mục đã khẳng định chính quyền Hồng - Dương là một chính quyền tà ác phản bội Khổng Mạnh, trái ngược với đạo thống Trung Quốc. Ông tôn sùng hành vi vệ đạo của Tăng, Tả, Liệu, Hồ, trong khi Hồng - Dương lại đáng tội chết vạn lần. Thế nhưng sáu mươi năm sau thời Hồng - Dương, những nhân vật ở học phủ cao nhất đất nước như Trần Độc Tú, Hồ Thích Chi, Tiền Huyền Đồng, chẳng phải cũng muốn đánh đổ tiệm nhà Khổng đó sao?! Hơn nữa, "Điền mỗ chế độ" của Hồng - Dương, giải phóng phụ nữ, cấm bó chân, nghiêm cấm "hút thuốc phiện", uống rượu say, cấm kỹ viện, cấm đánh bạc, cấm dâm ô, kẻ nào dám "thân mật với tiểu đệ" (đồng tính luyến ái) thì "chém đầu không tha"... Lại nhìn lại cái bang hội Khổng Mạnh mở miệng ra là bàn chuyện nhân nghĩa, nô dịch phụ nữ, cả nước hút thuốc phiện; dẫu là danh sĩ quan lớn, cũng coi việc quan hệ với tiểu đệ là phong nhã... Đem hai bên ra so sánh thì thế nào?

Sau khi Thái Bình bị tiêu diệt, khi đánh giá công tội của nó, danh sĩ Uông Sĩ Đạc đưa ra nhận định khá công bằng. Uông nói: "Giặc (chỉ Hồng - Dương) cải sửa Tứ thư Ngũ kinh, cắt bỏ việc tế tự quỷ thần... không dùng bói toán thuật số, cấm hút thuốc và thói lười nhác... những điều này đều vượt trội chúng ta (triều đình nhà Thanh trên dưới) vạn vạn lần." Uông còn nhấn mạnh rằng: "Không vì người mà bỏ lời, công lao này không dưới các bậc thánh nhân. Đời sau ắt có người hiểu được lời này." (Xem tác phẩm "Ất Bính nhật ký" của Uông)

Nho sĩ đời cũ mở miệng là bàn chuyện đạo thống, thực ra là chỉ biết một mà không biết hai mà thôi.

Những bậc thông đạt như Tiên sinh Hồ Thích Chi cũng phản đối Hồng - Dương. Lập trường phản đối Hồng - Dương của ông xuất phát từ lý thuyết nhất quán của mình là "phản chiến tranh", "phản bạo lực", "phản cách mạng". Ông cho rằng việc sử dụng bạo lực trong xã hội để giải quyết vấn đề đều là sai lầm, được không bù nổi mất. Trên thực tế quả đúng là như vậy. Thế nhưng vì sao trong xã hội lại xảy ra bạo lực, thì đó lại là điều mà một kẻ thư sinh trói gà không chặt như Tiên sinh Thích Chi không thể hiểu thấu.

Người Quốc dân đảng bàn về Hồng - Dương, thoạt đầu thì tôn sùng, như Tôn Trung Sơn tiên sinh và một số đảng viên cách mạng thời kỳ đầu (bao gồm cả Tưởng Giới Thạch thời trẻ); nhưng cuối cùng lại phủ nhận, xoay sang sùng bái Tăng, Hồ (bao gồm cả Tưởng Giới Thạch và Trần Lập Phu thời vãn niên). Tại sao lại như vậy? Đó chính là bởi vì họ đã chuyển từ "dân gian" đứng ngoài triều đình sang nắm quyền "trong triều". Chính vì trong hình ảnh "bốn giống", "tứ bất tượng" của các vị quân vương Thái Bình, mọi thứ đều mơ hồ không rõ ràng — đồng thời cũng là do họ thiếu sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử Thái Bình Thiên Quốc. Dùng thường thức để bàn luận lịch sử, cho nên thường hay nhầm lẫn giữa bò và trâu.

4.2 Hai luồng ý kiến về công tội của Hồng - Dương

Thế nhưng, khi nghiên cứu lịch sử Thái Bình Thiên Quốc mà để cho hình tượng bốn loài cứ nhập nhèm, rồi đi theo đến cùng, thì ngay cả những bậc uy quyền sử học cao nhất cũng không thể tránh khỏi. Các học giả nghiên cứu sâu sắc nhất về lịch sử Thái Bình đời nay, không ai qua được hai vị Giản Lại Văn và La Nhĩ Cương. Tác phẩm của hai ông đều dài tới hàng triệu chữ! Thế nhưng Giản quân trong bốn hình tượng của Thái Bình lại khăng khăng bám lấy con lừa. Ông khẳng định cuộc cách mạng Hồng - Dương là một loại "cách mạng dân tộc" chí cao vô thượng, người Hán chống Mãn Thanh. Vì điều này, Giản công cũng ca ngợi suốt đời. Giản thị trưởng thành trong thời đại cách mạng quốc dân, lập luận phỏng chừng có liên quan đến tinh thần thời đại.

Tiên sinh La Nhĩ Cương lại đi theo một cực đoan khác. Vị lão gia này lại khăng khăng bám lấy con trâu, cho rằng phong trào Thái Bình Thiên Quốc là một "cách mạng giai cấp" vĩ đại huy hoàng. Xác định mục tiêu vĩ đại này, dẫu ngàn vạn người ta vẫn cứ đi, La quân thậm chí tự nhận là nhà sử học chính thống của Thái Bình Thiên triều, mà chỉ trích Tăng Quốc Phàn v.v. là "hán gian", là "phản động", là "địa chủ phong kiến"... lời lẽ chính khí lẫm liệt, có lúc thậm chí trừng mắt rách cả khóe mắt!

La quân là người Quảng Cống, thuở nhỏ từng thụ giáo Tiên sinh Hồ Thích Chi, có viết tác phẩm "Sư môn nhục giáo ký" ghi lại quá trình thụ học tại nhà họ Hồ, được Tiên sinh Thích Chi ca ngợi. Thế nhưng việc ông nghiên cứu lịch sử Thái Bình Thiên Quốc thì lại hoàn toàn trái ngược với sự dạy dỗ của thầy. Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm tư tưởng chỉ đạo, lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh để nghiên cứu lịch sử Thái Bình, mấy chục năm nay lãnh tụ quần hùng ở đại lục, đã trở thành một đại tông sư của một thế hệ. Vài năm gần đây do Trung Quốc mở cửa, "Liên Xô và Đông Âu" sụp đổ cải chế, uy tín của sử học Mác - Lênin ở đại lục đã vấp phải sự hoài nghi. Các học giả trẻ tuổi đặc biệt thích cái mới chán cái cũ, mà La công tuổi già chí lớn, lòng tin càng thêm kiên định, từ đầu đến cuối không hề nhượng bộ chút nào.

[Chú thích] Xô Đông Ba: Ý chỉ sự biến động lớn năm 1989 của Liên Xô, các nước Đông Âu và Ba Lan.

Tôi đọc sách lịch sử Thái Bình của La công mấy chục năm, biết rằng sách bao hàm vô cùng phong phú, khảo chứng tinh tế sắc sảo, là trụ cột vững chắc trong sử học Mác - Lênin. Tác phẩm gần đây "Thái Bình Thiên Quốc sử" bản bìa cứng gồm bốn tập dày (nhất cửu cửu nhất niên cửu nguyệt Bắc Kinh Trung Hoa thư cục đệ nhất bản) tổng cộng hơn một triệu chữ. Tôi cũng lùng mua một bộ, đọc thật kỹ, phê bình thật chi tiết. Thu hoạch được không ít, mà kinh ngạc cũng không ít. Xin thử thuật lại một chút, có lẽ cũng là điều mà các đồng nghiệp hải ngoại thích nghe, bởi vì tác phẩm này là đại tác phẩm quan trọng do giới sử học Thái Bình xuất bản gần đây ở đại lục.

Hơn nữa, Tiên sinh Thích Chi khi xưa trò chuyện với tôi cũng thường xuyên nhắc đến La quân, mang rất nhiều lời niệm cũ. Tôi cũng từng tiếp nối công nghiệp chưa hoàn thành của La công, biên soạn lại di cảo của thân phụ Tiên sinh Hồ Thích Chi là Thiết Hoa tiên sinh. Nay đọc đại tác phẩm của họ La, xa xôi nhớ lại bậc hàn sĩ khuyên bảo đạo lý năm xưa, và vị lão nho tuổi già sức yếu ngày nay, cũng không khỏi có cảm giác nương tựa vào nhau mà sống. Vì đặc biệt nhắc đến La công, viết thêm hai dòng, chắc cũng không tính là lãng phí giấy mực đâu nhỉ!

4.3 Đánh giá sử học của La Nhĩ Cương

Bộ "Thái Bình Thiên Quốc sử" gồm bốn cuốn xuất bản năm 1991 này, hẳn là một tổng kết của Giáo sư La Nhĩ Cương sau mấy chục năm nghiên cứu lịch sử Thái Bình. Chỉ riêng hình thức bên ngoài của cuốn sách thôi đã rất bất bình thường. Từ sau thời kỳ Cách mạng Văn hóa đến nay, đây là bộ sách duy nhất viết về lịch sử cận đại Trung Quốc được xuất bản ở đại lục mà tôi thấy dùng chữ "phồn thể" in dọc, áp dụng các dấu câu thông dụng của thập niên ba mươi, là một đại tác phẩm bìa cứng bọc vải.

[Chú thích] Sau thời kỳ Cách mạng Văn hóa thập niên 60, những cuốn sách được xuất bản ở đại lục theo cùng một hình thức phỏng chừng chỉ có "Tiêu điểm bản Nhị thập tứ sử" và tác phẩm "Liễu văn trích yếu" do Chương Sĩ Chiêu viết. Tuy nhiên, cuốn trước là sách cổ điển, không thể dùng chữ giản thể; cuốn sau là sách do triều đình sắc phong, được Chủ tịch Mao tự tay phê chuẩn, Thủ tướng Chu Ân Lai chỉ định phát hành. Còn La công ngày nay mà lại có thể phá lệ làm như vậy, cũng có thể thấy được sự tự cao về bản thân, cùng địa vị tên tuổi long trọng biết nhường nào. Việc nó được in ấn theo cùng một phương thức với "Tiêu điểm bản Nhị thập tứ sử", tác giả có lẽ có hoài bão làm "phần tiếp theo của chính sử". Thế nhưng hoài bão này lại có thể thực hiện được, cũng cho thấy địa vị chính trị không bình thường của tác giả!

Hơn nữa, hình thức sử học mà cuốn sách này áp dụng cũng là kế thừa trực tiếp truyền thống Kỷ truyền thể của Tư Mã Xá, Ban Cố, được viết theo góc nhìn tôn sùng "Chính sóc triều đình". Ngày tháng trong sách đều dùng "Thiên lịch". Cuối "Thiên lịch" nửa nạc nửa mỡ này là do Nam vương Phùng Vân Sơn tự ý định ra trong ngục nhà Thanh trước khi phát động khởi nghĩa Kim Điền. Phùng Vân Sơn cũng giống như Hồng Tú Toàn, là một tên tú tài thi trượt hoài không đỗ, việc chỉnh sửa "lịch pháp" tuyệt đối không phải là kiến thức mà Phùng có thể đảm đương nổi. Để chiều theo "hai mươi tư tiết khí" mà nông dân quen dùng, ông ta đã cứng nhắc cố định các ngày lễ; thế nhưng trái đất quay quanh mặt trời lại không thèm tuân theo quy củ của vương gia mà quay như vậy, Phùng thị đành chịu, bèn làm ra thứ lịch Phùng "bốn mươi năm nhuận một lần", còn tồi tệ hơn cả âm lịch.

Thêm vào đó, hai người Hồng, Phùng thời kỳ đầu quen thuộc nhất với các tài liệu Cơ Đốc giáo, phỏng chừng là "Cựu di chiếu thư" (Cựu ước), đem giáo lý Do Thái hòa trộn vào Cơ Đốc giáo (tôi có bài viết riêng về chuyện này). Người Do Thái "làm lễ" thờ Thượng đế vào thứ Bảy, Cơ Đốc giáo vào Chủ nhật, Hồi giáo vào thứ Sáu. Phùng Vân Sơn rõ ràng đã nhầm lẫn giữa Chúa Jesus và Moses. Ông ta ấn định "Ngày lễ" của "Thiên lịch" vào "ngày thứ Bảy" (thứ Bảy). Lấy ngày thứ Bảy làm ngày Chủ nhật, cho nên sự sắp xếp chu kỳ tuần trong "Thiên lịch" chênh lệch một ngày so với dương lịch mà các tín đồ Cơ Đốc giáo thông thường sử dụng, gây ra chút hỗn loạn nhỏ trong thiên hạ. Thầy Quách Đình Dĩ khi còn là nghiên cứu sinh tại Đại học Thanh Hoa, đã tốn mất khoảng một năm thời gian, mới gỡ ra được đầu mối và giành được bằng thạc sĩ. La quân vì tôn vinh Thiên triều là chính thống mà dùng kỷ nguyên Thiên lịch, cũng vô tình mang lại thêm chút rắc rối nhỏ cho người đọc lịch sử. — Phải tra cứu đối chiếu qua ba loại lịch mới hiểu được nguyên do của nó, cũng là một chuyện đau đầu. Đây cũng là tàn dư của tư tưởng sử học cũ, khi tác giả khăng khăng bảo thủ "quan điểm chính thống" trong truyền thống phong kiến Trung Quốc.

Năm 1982, Tiên sinh La Nhĩ Cương khi viết lời tựa cho đại tác phẩm "Lịch sử và tư tưởng của Thái Bình Thiên Quốc" của Giáo sư Vương Khánh Thành từng nói: "Trong công tác nghiên cứu, chúng ta biết rằng, để tránh cái bệnh chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Chỉ có nắm vững chủ nghĩa Mác thì mới có thể làm được điều đó." (Xem lời tựa của La trong cuốn sách đó, trang 2).

Thế nhưng chính quyền "tứ bất tượng" Hồng - Dương này, e rằng khó mà vơ đũa cả nắm bằng một cái tên "chủ nghĩa xã hội" hay "cách mạng giai cấp" được. Người nghiên cứu lịch sử dẫu có tinh thông chủ nghĩa Mác - Lênin đến đâu để diễn giải đi chăng nữa, thì cũng chỉ là lời nói từ một phía mà thôi. Còn tôi trong đại tác phẩm của La công, ngoại trừ việc thấy ông mắng đối thủ của Thái Bình là hán gian, là phản động, là giai cấp địa chủ tư sản... cùng những lời lẽ cay độc khác, thì cũng chẳng thấy bao nhiêu chủ nghĩa Mác trong đó. Đem cái mới và cái cũ ra đối chiếu lẫn nhau, ắt biết sách của họ La cũng là một đại tác phẩm chuyển đổi thời kỳ mang hình tượng bốn không bốn giống mà thôi.

Hơn nữa, nếu chúng ta coi Thái Bình Thiên Quốc là một tiểu triều đại độc lập, thì đó cũng là một trong những triều đại dính líu đến ngoại giao nhiều nhất trong lịch sử nước ta, thế mà tác giả lại không thể trực tiếp và đầy đủ tận dụng các tư liệu lịch sử ngoại giao (ngoại trừ ba bốn cuốn sách phương Tây dịch sang tiếng Hán), đó cũng là điều đáng tiếc. Thế nhưng ngọc có vết nhược điểm nhỏ không che lấp được vẻ đẹp, cống hiến cả đời của Tiên sinh Nhĩ Cương trong việc nghiên cứu lịch sử Thái Bình nằm ở chỗ ông nắm bắt được đại cương, còn những tiểu tiết vụn vặt đều có sự khảo cứu cực kỳ tinh thâm, thực sự là kỳ phùng địch thủ với Tiên sinh Giản Lại Văn.

Nhớ lại năm xưa từng có một độc giả viết thư cho tôi, nói rằng "Bức tranh Thiên vương Hồng Tú Toàn" được in trên "Trung Quốc thời báo" và "Truyện ký văn học", thực chất là "Thiên đức vương Hồng Đại Khàn" v.v.. Lúc đó vì hành trình bận rộn nên chưa kịp trả lời. Thực ra dựa trên sự khảo cứu của hai vị Giản, La, "Hồng Đại Khàn" thực chất không có người này. Vào lúc phá vây Vĩnh An bị quân Thanh bắt giữ, được giải về Bắc Kinh lăng trì xử tử "Hồng Đại Khàn", thực chất là Tiêu Lượng người Hồ Nam. Lượng là tiểu đầu mục Thiên Địa hội ở Hồ Nam, tự cho mình có tài kinh thiên động địa sánh ngang Gia Cát, cho nên mới lấy tên là "Lượng". Do không hợp với Hồng - Dương, lúc sa vào tay quân Thanh thì đã nằm trong gông xiểm của quân Thái Bình rồi. Đâu ra cái bức tranh đội vương miện mặc hoàng bào này cơ chứ? (Xem sách của Giản, trang 322; sách của La, trang 2377.)

Tóm lại, "Thái Bình Thiên Quốc" thực chất là một chính quyền cách mạng mang tính "cải triều hoán chế" (không chỉ là "cải triều hoán đại") mang hình tượng bốn không bốn giống. Người nghiên cứu lịch sử không thể tự giới hạn mình trong một góc nhìn để bàn về một hình tượng duy nhất của nó.

4.4 "Tứ bất tượng" là hiện tượng thường gặp trong thời kỳ đầu chuyển đổi

Có độc giả có lẽ sẽ muốn hỏi: "Thái Bình Thiên Quốc" tại sao lại biến thành cái thứ chính quyền bốn không bốn giống như thế này? Điểm này trong khoa học xã hội không khó để tìm ra đáp án.

Hóa ra một nền văn minh đang suy tàn, dưới sự thách thức của một nền văn minh cường thịnh đang xâm nhập. Kết quả của sự giao lưu va chạm giữa hai bên, thường là nền văn hóa gốc của kẻ bảo vệ chỉ còn lại cặn bã; còn nền văn hóa mới của kẻ xâm lược thì phần lớn mang tính "ô nhiễm". Trong đó thứ tồi tệ nhất lại biến thành cái gọi là "văn hóa thực Dân" (hoặc văn hóa bán thực dân, thứ thực dân) không trâu không ngựa!

Hãy nhìn vào thế kỷ 19 và 20, trong ba châu Á, Phi, Mỹ Latinh, các thuộc địa của các cường quốc tồn tại (bao gồm cả các "tô giới" trong các cảng thương mại của nước ta), nơi nào mà không phải là như vậy cơ chứ?! Bạn bảo họ là văn minh phương Tây ư! Nhìn bề ngoài, mặc âu phục, ăn tiệc Tây, vào nhà thờ, nói tiếng Tây, chốn ca vũ lầu xanh, đèn hoa rực rỡ, quả thực là Tây từ trong trứng nước. Thế nhưng xét đến cùng, đâu có thể tìm thấy chút tinh hoa nào của văn hóa phương Tây như pháp trị dân chủ, cứu giúp người yếu cô đơn, tuân thủ trật tự, coi trọng công đức cơ chứ?

Ngược lại, hãy nhìn vào các khu dân cư bản địa của chúng ta, trong đó khói nghi ngút, cờ bạc, kỹ viện tràn lan vô bờ bến; băng đảng trộm cướp hoành hành, tham ô nhũng lậu, nghèo đói, bệnh tật, bẩn thỉu, hỗn loạn, tất cả đều đạt đến cực điểm, thì đâu còn có thể tìm thấy dù chỉ một chút "tứ vi bát đức" mà chúng ta vẫn tự khoe khoang cơ chứ? — Tóm lại, giữa nền văn minh tấn công và phòng thủ, cùng lấy đi phần cặn bã của nhau (nay gọi là "ô nhiễm"), là hiện tượng tất yếu của dòng chảy đối lưu giữa văn minh mạnh và yếu thời kỳ đầu. Thế nhưng một dân tộc nhỏ bé (hoặc lớn nhưng yếu) bị thách thức bởi nền văn minh cường thịnh, nếu không phải là một bầy động vật quần tụ sống buông thả, thì qua giao lưu lâu ngày, cặn bã được gạn lọc, dần tiếp thu điểm mạnh của cả chủ lẫn khách, đó chính là nền văn minh hoàn toàn mới của thế giới ngày nay. — Tại Singapore, cựu thuộc địa với tỷ lệ dân số gốc Hoa chiếm tám mươi phần trăm, biểu hiện trong quá trình chuyển đổi này chính là một ví dụ vô cùng tiêu chuẩn. Mặc dù triều chính Singapore cũng có mặt không mấy quang minh cho lắm! Nghĩ về tương lai, hậu duệ người Hoa chúng ta hãy cùng nhau nỗ lực và tự răn mình.

4.5 Nỗ lực cải cách xã hội sớm nhất

Quay trở lại chủ đề chính, chính quyền Hồng - Dương của chúng ta, chính là một trong những đứa con sinh ra trong dòng chảy đối lưu giữa văn minh Trung và Tây thời kỳ đầu. Nói một cách chính xác hơn, nó là giai đoạn đầu tiên của quá trình chuyển đổi xã hội trong lịch sử cận đại Trung Quốc; đồng thời cũng là nỗ lực sớm nhất trong quá trình chuyển đổi Trung - Tây, cải cách xã hội. Vàng thau lẫn lộn, tốt xấu khó phân, áp dụng không đúng chỗ, mới gây ra cái chính quyền "tứ bất tượng" này.

Lấy vài ví dụ nhỏ để nói nhé! Chính quyền Thái Bình vốn là chính quyền bình dân tiến bộ nhất trong lịch sử cận đại Trung Quốc thực hiện chủ nghĩa xã hội, cùng ăn cùng ở cùng lao động. Thế nhưng nó lại giữ lại triết lý chính trị phản động nhất là "trẫm tức là quốc gia", quân quý dân khinh. Thậm chí còn cố tình đổi chữ "Quốc" với ý nghĩa trọng tâm là dân số và can qua thành chữ "Quốc" với một vua duy nhất độc đại, làm quốc hiệu để giáo dục nhân dân. Đây chính là điều mâu thuẫn nhất và cực kỳ phản động. Kết quả của sự tiến hóa là trong triều đại Thái Bình, giai cấp phân hóa nghiêm trọng. Làm vua làm quan thì muốn làm gì thì làm. Còn bách tính tiểu dân làm nông làm công thì chẳng khác nào chó lợn. Định luật trong triết lý chính trị quyền lực vô hạn, hủ bại vô hạn, khi được minh chứng sau khi các vị Hồng - Dương "vào thành", thực sự có thể gọi là vô cùng sinh động. Muốn dùng một đoạn văn ngắn ngủi để nhìn thấu toàn cảnh thì e là không thể; thế nhưng suy luận từ một điều có thể biết được ba điều, hoặc cũng có thể đại khái hiểu được đường nét phác thảo.

4.6 Hồng - Dương sau khi "vào thành"

Trong số các cán bộ ĐCSTQ hưởng đặc quyền ở đại lục ngày nay có một thuật ngữ sử học, gọi là "sau khi vào thành". Số là ĐCSTQ vốn là một chính đảng công nông. Trong thời kỳ kháng chiến, nhờ vận động nông dân đắc pháp mà đánh giang sơn, mới từ nông thôn tiến vào thành phố. Đó là điều mà người cộng sản gọi là "vào thành". Do đó, "vào thành" đối với đảng này mà nói, thực sự là một cột mốc mang tính bước ngoặt thời đại.

Nhìn lại một trăm năm trước, chúng ta thấy các vị quân vương Hồng - Dương, quả thực cũng rập khuôn y hệt sách giáo khoa!

Tác giả ở chương trước từng khắc họa nổi bật cảnh tượng Hồng Thiên vương cử hành đại lễ vào thành vô cùng hoành tráng tại Nam Kinh vào ngày 29 tháng 3 năm 1853. Thực ra, khung cảnh vĩ đại này chỉ mới là sự khởi đầu.

Nhớ trong "Chiến quốc sách" có một câu chuyện về Lã Bất Vi, cha đẻ của Tần Tỉ Hoàng: Bất Vi là một đại thương nhân "mua rẻ bán đắt", gia tài bạc triệu. Thế nhưng ông ta vẫn chê lợi nhuận quá ít, bèn hỏi cha mình rằng: Làm nông nghiệp có thể thu lợi gấp mười lần; buôn bán có thể thu lợi gấp một trăm lần; nếu làm chính trị "lập chủ định quốc", có thể thu lợi bao nhiêu lần? Cha Lã Bất Vi đáp rằng: Con số nhân lên đó thì không thể đếm xuể. Lã Bất Vi bèn quyết tâm làm chính trị, cuối cùng thực sự tạo ra được Tần Thủy Hoàng.

Trong lịch sử Trung Quốc, danh nhân làm chính trị thu lợi nhuận kếch xù, Hồng Tú Toàn cũng có thể coi là một nhân vật kiệt xuất. Đầu mùa xuân năm 1852, ông ta vẫn chỉ là một thủ lĩnh nông dân nghèo rớt mồng tơi chẳng có gì trong tay. Một năm sau, từ Hạ Quan Nam Kinh "vào thành", dưới sự quỳ nghênh của mười vạn quân dân, ông ta liền biến thành một vị vua vạn thăng "giàu có bốn biển", sở hữu ba cung lục viện bảy mươi hai phi tần. — Lão Hồng ơi là lão Hồng! Lúc này có tới tám mươi tám người vợ. Bạn có thể nói người em trai của Chúa Jesus này là trâu? Là lừa? Là hươu? Hay là lạc đà?

Có ngần ấy người vợ, thì đưa đi đâu để ở đây? Cho nên sau khi Hồng Thiên vương vào thành, việc gấp đầu tiên chính là rầm rộ động thổ xây dựng "Cung điện Thiên triều".

Kim Lăng từ xưa là kinh đô của các bậc đế vương! Bạn bè ơi, nếu bạn cướp bãi đáp ở đại lục, muốn cùng Đặng Tiểu Bình dựng lên một "một quốc gia hai chính phủ", thì thành phố đầu tiên bạn nên chiếm lấy chính là Nam Kinh. Nam Kinh với tư cách là quốc đô, đã tích lũy kinh nghiệm từ ba nghìn năm. Ở đó, ngoại trừ "vạn tuế gia" và "thái giám", muốn thứ dâng cúng cho hoàng đế thứ gì là có thứ đó! Cung nữ mỹ nữ, vàng bạc châu báu, thợ khéo tay tài hoa, văn sĩ tung hô, nịnh thần dập đầu vân vân, tất cả đều không thiếu thứ gì. Này huynh đệ, nếu anh có bản lĩnh làm hoàng đế, "sau khi vào thành" — vạn sự chu tất; tất cả chỉ đợi anh khoác hoàng bào lên người!

Tưởng tượng lại chốn hổ cứ long bàn, vật hoa thiên bảo, núi Chung Sơn tựa vàng, sông Trường Giang tựa dải lụa, tháng ba Giang Nam, cỏ xanh én lượn, thực sự là chốn thiên đường đứng đầu, kinh đô đế quốc, khí thế dường nào?! Nhìn lại tiểu đảo Đài Bắc với những tiếng chim hót líu lo, bụi khói mịt mù, cách nhau há chỉ một trời một vực? Những đại thương nhân tiểu chính trị gia có tâm nguyện "lập chủ định quốc" ơi, nếu có chí khí, Nam Kinh mới chính là nơi nên đến! — Dù đây chỉ là lời nói ngoài lề.

Thương thay thầy giáo Hồng của chúng ta từ cái chốn khỉ ho cò gáy nghèo nàn lạc hậu "Tử Kinh Sơn", một bước nhìn thấy chốn phồn hoa lộng lẫy muôn màu muôn vẻ "Tử Kim Sơn"... Đây đều là "giang sơn" của trẫm ta sao?! Lão đại họ Hồng không kìm nén được nữa. Thật hận không thể chết chìm ngay trong "dòng sông Tần Hoài ngập tràn tiếng chèo bóng đèn" cho rồi...

Hồng Tú Toàn bước chân vào Nam Kinh vào ngày 19 tháng 3 năm 1853 (ngày 20 tháng 2 âm lịch, ngày 25 tháng 2 Thiên lịch). Vào thành chưa đầy mấy tuần, ông ta đã bắt đầu quy hoạch hoàng thành, xây dựng hoàng cung.

Ngọn hoàng thành trong thành do chính tay ông ta khoanh vùng này, chiếm diện tích khoảng vài chục phương lý, chia thành hai vòng thành trong và ngoài. Quy mô lớn nhỏ của nó xem chừng không thua kém gì Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh. Trong đó các điện lầu nguy nga tráng lệ, chạm long vẽ phượng thì khỏi phải bàn. Nó được khởi công vào tháng 4 Thiên lịch (tháng 5 dương lịch), phu thợ nam nữ vạn người, ngày đêm hối hả thi công, nửa năm là hoàn thành, vô cùng tráng lệ. Bất hạnh là công trình vừa mới hoàn thiện phần thô thì xảy ra hỏa hoạn, thiêu rụi thành tro. Đầu xuân năm 1854 lại được xây dựng lại trên nền cũ, quy mô còn lớn hơn. Chính điện của nó gọi là "Kim Long Điện". Chiều cao và rộng xem chừng không thua kém gì "Thái Hòa Điện" ở Bắc Kinh, "Cột rường đều sơn son thếp vàng, chạm trổ long phượng, ánh sáng chói lóa. Bốn vách vẽ hổ rồng sư tử voi, chim muông hoa cỏ, tô vẽ cực kỳ công phu...."

Theo lời kể của người chứng kiến, phía sau chính điện có hậu điện; phía sau hậu điện, hai bên trái phải đều có một cái hồ, rộng vuông vẫy vài chục trượng. Trong hồ mỗi bên đặt hai chiếc thuyền đá (một chiếc nay vẫn còn tồn tại, nằm trong khuôn viên "Chính phủ Quốc dân" năm xưa, nay là "Chính hiệp Giang Tố"). Phía sau hồ là nội cung, chia thành hai khu vực trái phải. Mỗi khu vực có lầu lớn năm tầng, cao tám, chín trượng, sâu vài trượng. Đây rõ ràng là nơi ở của tám mươi tám người vợ của Hồng Tú Toàn.

Phía sau lầu sau là hoa viên, đình đài lầu các, hoa thơm cỏ lạ phong phú ở đây thì không cần tốn nhiều bút mực để miêu tả nữa. (Xem sách đã dẫn) Trong các tài liệu lưu trữ của Thái Bình Thiên Quốc, thực sự có lưu giữ một bài thơ Hồng Thiên vương đi dạo hậu uyển. Bài thơ rằng:

Na [lạp] xa đối diện hướng lộ hành,

Hữu trở hồi đầu khán đâu bình.

Uyển nội du hành chân khoái hoạt,

Bách ô [điểu] tác nhạc hòa xa thanh.

Bài "thơ" này của Hồng Tú Toàn dẫu khiến người ta cười rụng cả răng, nhưng cũng là sự bộc lộ tình cảm chân thật của ông ta. Đọc thơ có thể hình dung được cảnh tượng một đại nam nhân là Hồng Thiên vương lúc bấy giờ dẫn theo hàng trăm người phụ nữ, cùng dạo chơi hậu hoa viên với vẻ mặt "vui sướng". Thật sự là đọc thơ như thấy người. Hồng mưu dẫu không thi đậu tú tài, nhưng bài thơ này cũng không hổ danh là một tuyệt phẩm bộc lộ dục vọng cá nhân, cũng chẳng kém Mao Trạch Đông với bài thơ "Viễn khán nhất cái tiên nhân động" là bao.

4.7 Sự biến thái tình dục của Thiên vương

Tại sao tôi lại nói Thiên vương dạo hậu uyển chỉ có "một đại nam nhân"? Hóa ra Hồng Tú Toàn (giống như nhiều thủ lĩnh tà giáo khác, bao gồm cả vị giáo chủ tà giáo dẫn dắt hàng chục tín đồ tự sát tập thể vào tháng 5 năm nay dưới thời Clinton) cũng là một giáo chủ có "tình trạng biến thái tình dục". Ông ta giống như hải cẩu (furseal, tên khoa học Callorhinus Ursinus), có bản tính độc chiếm tình dục. — Hải cẩu là một loài động vật kỳ lạ. Hải cẩu đực mặc dù chiếm giữ hàng trăm con hải cẩu cái, nhưng cái chủ nghĩa đại nam nhân của nó vẫn không cho phép một con hải cẩu đực nào khác xuất hiện. Cái chế độ một chồng lắm vợ này, vì thế cũng vô tình dẫn dắt Đông y chúng ta hiểu lầm "dương hải cẩu" thành "thuốc bổ thận".

Hồng Thiên vương rõ ràng có chứng biến thái tình dục tương tự. Bạn xem, khi ông ta dẫn đầu đội quân tuyên bố hùng dũng vạn người, từ Vũ Xương cưỡi gió rẽ sóng tiến đánh Nam Kinh, vào cái thời khắc tinh thần chiến đấu sục sôi, quân thư tấp nập ấy, vị Tổng tư lệnh tối cao Hồng Thiên vương mà chúng ta ngày nay phát hiện ra lại viết những chiếu lệnh trong "Long thuyền" chỉ có duy nhất một đạo dụ chỉ nghiêm cấm các tướng sĩ tòng chinh theo hầu bên mạn thuyền ngự lén nhìn "nương nương" của Thiên vương, có kỳ lạ hay không cơ chứ?!

Cho nên chúng ta có thể đùa cợt mà nói rằng: Hồng Tú Toàn không chỉ giống lừa, giống trâu giống hươu giống lạc đà, ông ta còn giống cả một con hải cẩu đực nữa đấy! Các bậc hiền đạt độc giả có cho rằng đây là tôi đang cậy già lên mặt, bất kính với Thiên vương không? Không phải đâu. Đây là một chủ đề nghiêm túc chủ chốt trong trường phái phân tâm học Freud đấy; nói một cách không khách sảu, hành vi của Chủ tịch Mao lúc về già, dưới cái nhìn của các nhà tâm lý học phái Freud, cũng có khuynh hướng trầm trọng như vậy đấy! Đây gọi là "dùng phương pháp khoa học xã hội để nghiên cứu lịch sử" (social science approach to the study of history). Chúng ta viết lịch sử cận đại Trung Quốc, đến cả cuốn "Thôi bối đồ" còn phải dung thứ ba phần, thì đối với tác phẩm bất hủ của tiên sinh Freud, há có thể giả điếc làm ngơ được sao?!

4.8 Hoạn thiến trẻ em và tuyển mỹ trong dân gian

Hồng Tú ToànKý nhiên giống như tất cả các vị đế vương phong kiến khác, có cái sở thích của loài hải cẩu, thì cái "Thiên vương phủ" hùng vĩ của ông ta tất nhiên không cho phép bất kỳ con hải cẩu đực nào khác bén mảng tới. — Trừ phi cũng giống như ở Bắc Kinh, nuôi thêm một đám thái giám già trẻ như Lý Liên Anh, Tiểu Đức Trương Trương, làm nô lệ.

Chương trước đã nói rồi, cái kinh đô đế vương sẵn có như Nam Kinh này, việc phục vụ cho Hồng Thiên vương thì "vạn sự sẵn sàng", chỉ thiếu mỗi chút gió đông là "thái giám". — Trong Thiên vương phủ dẫu có rất nhiều nữ binh chân to đến từ Lưỡng Quảng, nhưng gánh nặng đường xa, rốt cuộc vẫn không thể bằng đám phu phen nam nhân lực lưỡng. Vì thế Thiên vương và Đông vương muốn tạo ra một số thái giám ở Thiên Kinh, để có thể đối đầu ngang ngửa với Hàm Phong gia ở Bắc Kinh.

Bạn bè ơi, chế tạo thái giám, tuyệt đối không phải là một chuyện đơn giản đâu! Đạo thống Nho gia của chúng ta đã gom góp kinh nghiệm từ ba nghìn năm mới làm cho việc hoạn thiến thái giám trở nên gọn gàng sạch sẽ, tổn thương mà không chết. Thuật hoạn thiến đòi hỏi kỹ thuật y học đỉnh cao như tiêu độc phòng độc tuyệt đối, khử mục sinh cơ, dùng ống sáp thông đường tiêu hóa, điều dưỡng trong phòng ấm (tàm thất). Lại còn phải là những phẫu thuật và dụng cụ cao cấp như dài ngắn lớn nhỏ, chuẩn xác từng ly từng tí, tay nhanh mắt sắc, dao thép sắc bén! Để tránh cho người bị hoạn bị dị hóa tinh thần, phát điên tìm đến cái chết, nó còn cần phải có đủ loại chế độ kiểu A Q như "phục thân", "lấy vợ", "nạp thiếp" để an ủi... Tất cả đều là tâm lý học cực kỳ thâm sâu... Cứ như thế này, mới có thể tạo ra một đại lượng "công công", để bảo đảm đặc quyền làm hải cẩu của vạn tuế gia! Đây đều là "thành tựu" cực kỳ xuất sắc của văn hóa nhà Hán chúng ta, mới có thể đạt tới trình độ này!

[Chú thích] Tàm (cán): Từ điển giải thích giống chữ "tằm". Tức là nơi tiến hành hoạn thiến gọi là "tàm thất", chú thích của Nhan Sư Cổ trong "Hán thư - Trương An Thế truyện" viết rằng: "Phàm là người nuôi tằm, muốn tằm ấm và sớm thành kén, cho nên làm phòng kín tích trữ lửa để đặt tằm vào. Người mới chịu hình phạt hủ hình cũng có mối hoạ trúng phong, cần phải vào phòng kín mới được bảo toàn, do đó gọi là tàm thất vậy."

Các bậc hiền đạt độc giả, các vị có biết việc chế tạo thái giám, nào có thể giống như cách làm của Đông vương chúng ta — ra dân gian bắt vài đứa trẻ con, cắt đứt "tiểu củ" của chúng, là có thể biến thành thái giám được đâu cơ chứ?! Dựa trên bằng chứng đáng tin cậy, Hồng - Dương v.v. quả thực đã giết hại vô số trẻ con, mà đến một tên thái giám cũng không chế tạo ra được!

Những người viết lịch sử chúng ta, đặt bút đến đây, nghĩ đến tấm lòng của cha mẹ trong thiên hạ, không kìm được nước mắt mà phải cất lời hỏi rằng: Thưa giáo sư, ngài vẫn muốn nói chính quyền Hồng - Dương là "cách mạng giai cấp", vì nhân dân phục vụ sao?!

Thái giám đã không chế tạo ra được, thế thì cái "Thiên vương phủ" và "Đông vương phủ" to lớn nhường ấy đành phải hoàn toàn dựa vào phụ nữ để phục vụ. May mắn là nữ binh đến từ Quảng Tây (đặc biệt là phụ nữ khách gia), đều là những người phụ nữ lao động cực kỳ hiếm thấy trên thế giới. Tác giả trong "Hồi ký Lý Tông Nhân" từng có miêu tả cực kỳ chi tiết, có thể dùng làm tài liệu tham khảo (xem chương 2 của cuốn sách đó). Nữ binh trong quân đội Trường Mao, đặc biệt là chưa từng có tiền lệ và cũng chẳng có ai theo sau. Trong chiến dịch Đông chinh của quân Thái Bình đánh chiếm Nam Kinh, tử thủ Trấn Giang, nữ binh đều là một phần lực lượng chủ lực. Cho đến khi xảy ra Sự biến Thiên Kinh, Hồng - Dương nồi da nấu thịt, bảo vệ cung đình cho Thiên vương, cũng toàn bộ là nữ binh. Điều này không chỉ không có trong lịch sử nước ta, mà trong lịch sử thế giới cũng chưa từng thấy bao giờ.

Thế nhưng lao động làm tổn hại nhan sắc; Hoa Mộc Lan, Mạc Quế Anh đều không thể mãi là những thiếu nữ uyển chuyển thướt tha. Giàu sang đổi bạn, phú quý đổi vợ, cho nên các vị Hồng - Dương (cũng giống như những hậu bối cách mạng tương lai của họ), sau khi vào thành, nhìn thấy những thiếu nữ Tương Giang đa tình, giọng nói ngọt ngào vùng Ngô, họ liền cảm thấy hoảng loạn tâm thần. Dựa theo tài liệu cho thấy, mùa đông năm 1852 quân Thái Bình chiếm được Vũ Xương, thời gian tuy ngắn nhưng Đông vương đã không thể chờ đợi được mà học theo những thói hư tật xấu của các bậc đế vương phong kiến cổ đại, bắt đầu tuyển mỹ trong dân gian.

Đông vương có lệnh yêu cầu toàn thành các thiếu nữ từ mười ba đến mười sáu tuổi đều phải đến quan phủ trình diện để chuẩn bị tuyển vào hậu cung, kẻ nào trái lệnh thì tội chu di tam tộc phụ mẫu. Dưới uy quyền của cái chính quyền cách mạng "ngoài chém đầu ra không còn cách nào khác" đó, ai dám trái lệnh? Cha mẹ đành phải bôi nhọ mặt mũi con cái, hóa trang những người đẹp thành những bà già xấu xí để đến trình diện làm nhiệm vụ. Nào ngờ tại nơi trình diện lại có sẵn một chậu nước trong chờ sẵn, ra lệnh cho các thiếu nữ đến trình diện, trước tiên là rửa mặt, sau đó mới tham gia tuyển chọn. Chỉ trong chớp mắt đã chọn được sáu mươi mỹ nữ, rồi cướp đoạt họ mang đi.

Kiểu bạo chính như Hồng - Dương này, đặt dưới góc nhìn của chúng ta ngày nay, quả thực là quá quắt không nói nên lời. Thế nhưng nước ta từ xưa đến nay, những kẻ đánh thiên hạ và giúp đánh thiên hạ không ai là không làm như vậy! Chuyện đã thành thói quen, có gì đáng phải kinh ngạc đâu cơ chứ? Con trai của Đường Minh Hoàng là Đường Túc Tông (Lý Hanh) "mượn binh người Hồi Hột, dẹp loạn An Sử" (xem "Thông giám" và sách "Tân, Cựu Đường thư"). Điều kiện ông ta đưa ra cho người Hồi Hột chính là, sau khi dẹp xong loạn "giang sơn xã tịch thuộc về nhà Đường, con gái lụa là thuộc về người Hồi Hột". Quả nhiên chẳng bao lâu sau, người Hồi Hột đã đánh chiếm được Trường An. Thế nhưng cái tên khốn kiếp Đường Túc Tông này thì lấy đâu ra "con gái lụa là" để thù lao cho quân ngoại tộc đây? Người Hồi Hột bèn cướp bóc tàn phá Trường An, bắt sạch "con gái lụa là" rồi rời đi. Những đứa "con trẻ" bị người Hồi Hột bắt đi, phỏng chừng đến cả cơ hội rửa mặt bằng "một chậu nước trong" cũng chẳng có đâu nhỉ!

Bạn bè ơi, chúng ta phải ghi nhớ rằng, tất cả các chính quyền độc tài chuyên chế, không có một cái nào là đặt bách tính trong lòng cả. Những vị anh hùng hảo hán này phần lớn đều xuất thân từ dân gian, xuất thân từ giai cấp bị áp bức. Thế nhưng một khi họ đã lật mình, thì sự tàn độc, sự hủ bại, sự đọa đày, cùng với hành vi đê tiện tạo ra giai cấp bị áp bức rồi nô dịch họ, thường gấp trăm lần so với giai cấp áp bức ban đầu. V vốn dĩ là như vậy mà! Tài nguyên của Trung Quốc có hạn, một nhóm nhỏ muốn hủ bại, muốn hưởng thụ, thì đa số người dân sẽ phải chịu áp bức, chịu nô dịch — cho dù những kẻ thống trị mới này giương cao ngọn cờ gì, hô hào khẩu hiệu gì đi chăng nữa!

4.9 Sở thích sắc dục của Đông vương

Những điều nói trên là về Thiên vương phủ nguy nga tráng lệ và hậu cung. Bây giờ hãy nhìn lại sự xa hoa của Đông vương Dương Tú Cúc - người được nhiều sử học gia tung hô lên tận mây xanh. Dương Tú Cúc (1823–1856) vốn là một thợ đốt than không biết chữ ở huyện Quế Bình, Quảng Tây. Thế nhưng người này lại có thiên tài quân sự. Khi quân Thái Bình phá vây Vĩnh An, Tú Cúc mới hai mươi tám tuổi, đã là Tổng tư lệnh quân đội cách mạng trên thực tế. Khi đóng đô ở Nam Kinh, Hồng Tú Toàn (bốn mươi tuổi) vốn là vua bù nhìn; còn Tú Cúc (chưa đầy ba mươi tuổi) đã là Tể tướng nắm toàn quyền triều chính.

Thế nhưng Tú Cúc rốt cuộc vẫn là một kẻ thợ mộc thất học, "có tài lớn mà không có mưu lược" (dẫn lời Trương Học Lương đánh giá Trương Tác Lâm). Một khi đắc chí, liền bắt đầu sinh chứng điên. Sau khi vào thành, ông ta có ít nhất hơn sáu mươi người vợ (họ gọi là "Đông vương nương").

[Chú thích] Đông vương bị Bắc vương sát hại vào năm 1856. Cùng bị tước đoạt tính mạng, tuẫn tiết vì chồng trong hậu cung có năm mươi bốn mỹ nhân. Ít nhất vẫn còn vài người sống sót chứ nhỉ! Cho nên tác giả ước tính, ông ta có ít nhất sáu mươi người vợ. Bắc vương tàn sát hậu cung Đông Đông điện, chú trọng vào việc nhổ cỏ tận gốc (kẻ đang mang thai nhất định phải giết). Một số ít người không mang thai có thể bị bắt cóc hoặc trốn thoát, xem chương tiếp theo.

Dẫu là quý tộc Saudi, tù trưởng Ấn Độ, có sáu mươi người vợ, cũng nên cảm thấy thỏa mãn rồi. Thế nhưng Đông vương của chúng ta lại cứ nhắm trúng bốn mỹ nhân trong hậu cung của Thiên vương: Chu Cửu Muội (hai chị em), Thạch Đinh Lan (em gái của Thạch Đạt Khai) và Dương Trường Muội (em gái của chính hắn). Vì tranh giành bốn mỹ nhân này, vào mùa đông năm 1853, cách thời điểm họ "vào thành" chưa đầy nửa năm, liền gây ra cái chuyện kỳ quái "Thiên hạ giáng trần" (nhập vào xác Tú Cúc), đòi đánh Hồng Thiên vương bốn mươi roi vào mông. — Hành vi xấu xa này, trong sách của Freud và Tiến sĩ Kinsey, đều có thể tìm thấy đáp án chính xác.

[Chú thích] Saudi: Tức là Ả Rập Xê Út, tên chính thức là Vương quốc Ả Rập Xê Út.

Tâm lý tình dục cá nhân, ảnh hưởng đến hành vi chính trị của tập thể, để rồi cuối cùng mang lại họa cho quốc gia dân tộc, chỉ là một sự phát triển logic thuận theo tự nhiên. Việc Tú Cúc ba năm sau bị chết thảm tru di cả họ, đều có quan hệ trực tiếp với những "tiểu tiết" trong hành vi cá nhân này.

Trên đây là ví dụ nhỏ về việc Đông vương Dương Tú Cúc, kẻ thợ đốt than chìm đắm trong sắc dục chỉ trong vài tháng sau khi "vào thành". Lại nhìn xem bộ dạng khi hắn ta làm ra vẻ ta đây trong cơn sốt, lại có khí thế gì nào? Dưới đây xin chép lại một đoạn miêu tả về hắn ta của Tiên sinh La Nhĩ Cương dựa theo sách quan triều Thanh "Tặc tình hội soán". Đông vương mỗi lần ra ngoài đều có tới bốn mươi tám người khiêng kiệu...

Đông vương mỗi lần xuất hành nhất định phải bày biện nghi thức hoành tráng, mở đường bằng một cây đèn lồng rồng, tính ra có ba mươi sáu đoạn, vừa khua chiêng gõ trống vừa đi theo. Tiếp theo là hai mươi đôi bảng hiệu phố mạ vàng viền xanh lòng vàng [chú thích: trên biển ghi rõ các chức quan của hắn]. Tiếp theo là mười sáu đôi đồng chinh (chiêng lớn), do người gánh trên vai, phía sau phất phơ cờ vàng rộng vài thước viết mực đen hai chữ "Kim chiêng". Tiếp theo là hai mươi đôi cờ dài thêu rồng viền xanh lòng vàng; tiếp theo là hai mươi đôi cờ vuông thêu cùng màu như trên; tiếp theo là hai mươi đôi cờ rết cùng màu như trên. Đèn cao, đèn treo mỗi loại hai mươi đôi, cho dù ban ngày cũng dùng y như vậy. Tiếp theo là hai mươi đôi lọng che vàng vẽ rồng. Lò xông hương hai mươi đôi, hai mươi cây lọng vàng vẽ rồng (tán lớn). Cờ lệnh bảo vệ sau lưng [chú thích: giống như các võ tướng đeo trên sân khấu kịch Kinh Tây], cặp đôi người cưỡi ngựa khoảng vài chục đôi. Cuối cùng là hàng chục người cầm vũ khí hộ vệ, một chiếc lọng vàng thêu rồng, hai chiếc kiệu vàng, Đông vương lúc thì ngồi ở phía trước, lúc thì ngồi ở phía sau. Đây là mô phỏng chế độ xe phó cựu thời, để phòng ngừa bất trắc, phía sau kiệu có hơn một nghìn lá cờ nheo vàng, hàng chục người cưỡi ngựa cầm đao lớn. Lại dùng thêm vài ban nhạc và tấu nhạc, xen lẫn với nghi đội. Phía sau kiệu cũng dùng chiêng trống đèn rồng. Phàm là người chấp sự đều mặc áo hiệu trên vàng dưới xanh. Còn như người cầm lọng cầm cờ phần lớn đều là thuộc quan trong phủ Đông vương, đều mặc quan phục. Mỗi lần xuất phủ, sai khiến một ngàn mấy trăm người, bày ra uy phong mười phần.

[Chú thích] Đồng chinh: Nghĩa gốc phải là một loại nhạc cụ cổ đại, làm bằng đồng, hình dáng giống chuông mà hẹp và dài, có cán dài để cầm, miệng hướng lên trên dùng vật đánh vào để phát ra âm thanh, gõ khi hành quân (như đồng chinh ở đài mưa Giang Lăng đời Tây Chu). Thời kỳ Bắc Ngụy chiêng đồng trong quân sự đã thay thế cho đồng chinh, cho nên chú thích trong văn bản gốc không sai, ở đây chỉ bổ sung giải thích hình thái nguyên thủy của đồng chinh.

Đào (dào): Cờ lớn của quân đội hoặc đội nghi lễ thời cổ đại.

Đọc xong đoạn văn phóng sự văn học này, chúng ta không bằng nhắm mắt lại thử suy ngẫm, ở Bắc Kinh và Đài Bắc ngày nay, ngoại trừ các cuộc diễu hành lớn nhân ngày Quốc khánh và ngày sinh nhật đảng ra, đâu có cảnh tượng nào như thế này cơ chứ? Mao Trạch Đông phát cuồng trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, cảnh tượng của ông ta có lẽ cũng có lúc vượt qua mức này, thế nhưng đó cũng chỉ là thỉnh thoảng một lần. Nào có thể giống như Đông vương Dương Tú Cúc "mỗi lần ra khỏi phủ", đều làm một vố như thế này cơ chứ?!

Hơn nữa, tục ngữ có câu: "Một đôi đũa ngà voi xứng với nhà nghèo." Hoa mẫu đơn dẫu đẹp, sao có thể không có lá xanh vun xới, Đông vương "ra khỏi phủ" đã như vậy; thế thì quy mô "ở trong phủ" chẳng phải lại càng xa hoa hơn sao! Trên thực tế Thái Bình Thiên triều, chính quyền xuất phát từ Đông vương, sự xa hoa của Đông vương phủ không hề thua kém Thiên vương phủ, còn thực quyền thì thậm chí còn vượt hơn.

4.10 Vương Hồng Vấn và Dương Tú Cúc - những thành phần cặn bã vô sản

Đông vương có thực quyền lớn như vậy, mỗi lần xuất phủ, trước và sau kiệu đều phải chơi hai chiếc đèn rồng lớn ba mươi sáu đoạn, đó là trò gì thế này? Bạn bè ơi, đây chính là vấn đề cấp độ giữa "kiến thức" (Knowledge) và "thị hiếu" (taste). Kiến thức cao thì thị hiếu đi kèm cũng tăng lên. Kiến thức thấp thì thị hiếu cũng theo đó mà giảm cấp. Người Trung Quốc gọi là "thị hiếu tầm thường" (low taste); người phương Tây gọi là poor taste là vậy.

Mao Trạch Đông gán cho Lưu Thiếu Kỳ cái danh "công tặc". Thực ra Lưu Thiếu Kỳ là một sĩ phu làm công vận, không phải công tặc. Giống như kiểu Vương Hồng Vấn mới có thể gọi là công tặc. Hắn ta đích thực là một công nhân, thế nhưng ở trong nhà xưởng hắn ta lại không phải là một công nhân chăm chỉ, nỗ lực sản xuất tốt. Hắn ta là một tên nghịch ngợm gây sự, chuyên đi châm ngòi thổi gió, đâm thọc sau lưng, nịnh trên đạp dưới. Thế nhưng loại người này thường là nhân tài lãnh đạo, giỏi hoạt động, có tài tổ chức. Một khi thời tới vận đến, phong trào công nhân bùng nổ, họ sẽ leo lên máy bay trực thăng, bay vút lên mây.

Công nhân là thế, nông dân cũng vậy. Khi Mao Trạch Đông làm phong trào nông dân ở Hồ Nam, những kẻ mà ông ta đánh giá cao nhất nào là "kẻ đánh dùi rách", "kẻ mang giày thủng"... (xem bản "Hướng đạo". Trong "Mao tuyển" đã bị cắt bỏ) đều là những loại người này. Trình độ Mác - Lênin của Mao rất thấp, ông ta nhầm lẫn những kẻ mà Mác gọi là "giai cấp vô sản cặn bã" (lumpenproletariat, nguyên văn tiếng Đức), thành lực lượng chủ lực của vô sản. Bởi vì chỉ có những thứ cặn bã này mới có thể giúp ông ta cướp quyền trong phong trào nông dân. Sự bất hạnh này, mãi kéo dài cho đến tận "sau khi giải phóng". Trong thời kỳ cải cách ruộng đất của ĐCSTQ, địa chủ lớn chịu nạn nhiều nhất dẫu đáng đời, thế nhưng những tiểu địa chủ lương thiện, nông dân canh tác độc lập, trung nông giàu, trung nông lớp trên, trung nông lớp giữa ngoài "bần nông, hạ trung nông", cũng bị họ đấu tố đến mức nhà tan cửa nát, thực sự là sự "bất công xã hội" (social injustice) lớn nhất trong lịch sử xã hội loài người, lịch sử đạo đức, lịch sử chính trị.

[Chú thích] Giai cấp vô sản: proletariat, tức là giai cấp không có tư liệu sản xuất.

Ngoài lời cảnh báo của Mác, Rousseau - người làm chính trị dân chủ tư bản chủ nghĩa - từng nói: "Kẻ có quyền lực, nếu không bị hạn chế, không có kẻ nào là không lạm dụng quyền lực cả." Hậu bối của ông ta là Weber nói: "Quyền lực vô hạn, hủ bại vô hạn." Đều là kết luận dựa trên quan sát thực tế.

Chủ nghĩa Mác là một trong những kết tinh quan trọng của trí tuệ nhân loại. Thế nhưng nắm bắt nó một cách mơ hồ nửa vời, rồi từ đó chuyên chế độc tài, thì đó chính là thảm kịch lớn nhất trong lịch sử nhân loại; nếu chính quyền lại lọt vào tay những kẻ cặn bã vô sản, thì lại càng đổ thêm dầu vào lửa. Họa hại của nó thực sự còn lớn hơn cả phong kiến, không tin cứ nhìn "Bè lũ bốn tên".

Các vị thử nghĩ xem: Nếu Vương Hồng Vấn làm Đông vương, hắn có chơi hai cái đèn lồng rồng lớn này, nạp năm mươi bốn người vợ hay không? — Hồng Vấn không làm chắc?

Thế nhưng nếu Chu Ân Lai làm Đông vương, ông ấy có làm vậy không? Bạn có giết lão Chu đi chăng nữa, ông ấy cũng không bao giờ làm ra cái thứ bad taste này đâu. Bạn bè ơi, đây chính là sự khác biệt giữa sĩ phu truyền thống Trung Quốc ("tri thức cao" ngày nay), và đám cặn bã vô sản đấy. Đám cặn bã vô sản lại thêm cái mác tà giáo ngoại lai hễ mở miệng là Thiên phụ (Thượng đế), Thiên huynh (Jesus) giáng trần, thì lại càng làm cho mọi thứ trở nên không trâu không ngựa, bốn không bốn giống. Hồng - Dương vừa chơi trò này, liền đẩy toàn bộ các sĩ phu truyền thống Trung Quốc như Tăng, Tả, Liệu, Hồ (cùng với các văn án mưu sĩ của họ) và tri thức Tây hóa vào trại địch, đến để đối đầu với họ.

Các triều đại từ xưa đến nay của Trung Quốc, đều do vô sản và lưu manh đánh chiếm mà nên. Thế nhưng việc "dựng triều nghi" đặt chế độ, lại phải nhờ cậy vào tầng lớp trí thức cao. Cho nên một lũ vô lưu manh mà muốn làm chính trị đế vương, thì phải "cùng sĩ phu trị thiên hạ", làm đứng đầu sĩ nông (Chủ tịch Mao chẳng phải từng nói "anh thế nào cũng thiếu hắn không được" sao)! Nếu muốn làm chính trị Tây hóa, thì phải "chuyển" nông nghiệp thành công thương, tự làm chủ công thương. Hai vị Hồng - Dương lúc bấy giờ vẫn chỉ có thể làm một chút chính trị truyền thống mang tính "lập chủ định quốc". Mà làm chính trị truyền thống lại thiếu đi "hắn", thì việc thất bại là điều tất yếu phải đến!

4.11 Sự tẩy chay của giới trí thức

Nhớ hồi nhỏ đọc "Cổ văn quán chỉ", học thuộc lòng bài viết của Vương An Thạch, đến nay vẫn không quên. Lời chỉ trích của Vương An Thạch đối với vị Mạnh Thường Quân chuyên chơi với đám cặn bã vô sản thực sự vô cùng có lý. Vương nói rằng:

Thiên hạ đều ca ngợi Mạnh Thường Quân có thể thu hút kẻ sĩ, kẻ sĩ vì thế mà quy tụ về với ông ta; để rồi cuối cùng nhờ vào sức lực của họ, mà thoát khỏi chặng đường hổ lang Tần quốc. Than ôi! Mạnh Thường Quân chẳng qua chỉ là kẻ đứng đầu trong đám gà gáy tró trộm mà thôi, há đủ để gọi là thu hút kẻ sĩ? Nếu không thì với sức mạnh vượt trội của nước Tề, nếu có được một bậc hào kiệt thực sự, đáng lẽ phải quay mặt hướng nam mà chế ngự Tần quốc rồi. Còn cần gì phải nhờ đến sức của đám gà gáy tró trộm làm gì nữa? Việc đám gà gáy tró trộm xuất hiện dưới trướng của ông ta, đó chính là lý do tại sao những bậc trí thức thực sự không thèm đến vậy!

Hai vị Hồng - Dương về cơ bản chỉ là những vị anh hùng cỏ rông kém hơn Lưu Bang và Chu Nguyên Thượng một bậc. Họ rất cần Trương Lương, Trần Bình, Lưu Cơ, Phòng Đỗ... những bậc tri thức đến làm mưu sĩ hoạch định chiến lược cho họ. Bất hạnh thay họ lại bị giới trí thức Trung Quốc cuối thời Thanh triệt để tẩy chay. Thế nhưng xét cho cùng, không phải giới trí thức tẩy chay Hồng - Dương đâu. Mà là Hồng - Dương "phản trí thức" (anti-intellectualism) nên tự gặt hái quả báo đấy chứ. Các vị cứ nhìn hai bộ đèn rồng lớn của lão Đông vương đi xem nào! Bất kỳ trí thức nào có tu dưỡng, có học vấn, có taste, Trương Lương, Trần Bình, Gia Cát Lượng, Chu Ân Lai, Dung Hoành... ai mà chịu nổi cái bộ đó chứ?!

Hãy bàn đến cái ý nghĩa "phản Thanh phục Minh" của "quân Long" đi! Quân Long không phải Hồng - Dương cố ý "để tóc dài" để đối kháng với việc "cạo đầu" đâu; đó cũng chỉ là do các dân tộc thiểu số vùng núi sâu, nghèo đói lạc hậu, chưa tiến bộ đến mức văn minh hiện đại là thường xuyên cắt tóc cạo mặt mà thôi. Nhà thám hiểm người Anh Meadows khi đến thăm Nam Kinh (xem chương trước) từng gặp rất nhiều "tiểu Miêu tử". Họ vô cùng kiêu hãnh nói rằng đầu của họ có "lông dài nguyên thủy". Nói cách khác, tức là từ khi họ sinh ra mười mấy hai mươi năm trước, chưa từng cắt tóc một lần nào trong đời.

Hai vị Hồng - Dương sinh ra trong thời kỳ gió tây thổi tràn vào Trung Quốc ở thế kỷ 19, thế nhưng lại muốn giữ lại cái hủ tục lạc hậu này làm biểu tượng cách mạng. Dưới điều kiện sinh hoạt thường xuyên không cắt tóc, không cạo mặt như vậy, xin hỏi các bậc độc giả và kẻ hèn này, có chịu nổi không cơ chứ?! Cho nên các nam sĩ người Hán bị cuốn vào vùng Trường Mao ở lưu vực sông Trường Giang, một khi đã thoát khỏi quân Long, việc đầu tiên chính là cạo đầu cạo mặt. Xét về mặt an toàn thì tất nhiên là ưu tiên hàng đầu, mặt khác còn là yêu cầu về mặt vệ sinh. Sau khi cắt tóc, ai nấy đều có cảm giác "trả lại thủ cấp cho tôi". — Kẻ hèn này từng đọc qua bút ký tương tự của hơn chục nhà đời Thanh, dẫu là người thân cận với Hồng - Dương, thì cũng có những miêu tả tương tự.

Còn như những "chiếu lệnh" do các vị Hồng - Dương ngụy tạo ra từ việc Thiên phụ Thiên huynh "giáng trần", sự hoang đường của chúng thì khỏi phải bàn, lời lẽ thô tục của chúng cũng chua xót đến tận xương tủy — Trương Lương, Trần Bình, Vương An Thạch, Chu Ân Lai nào... có ai chịu nổi cơ chứ? Thật đúng là "việc đám gà gáy tró trộm xuất hiện dưới trướng của ông ta, đó chính là lý do tại sao những bậc trí thức thực sự không thèm đến vậy"!

4.12 Triều đình nhỏ đánh trận dựa vào công thương nghiệp

Không có trí thức đến hoạch định chiến lược cho hai vị này, mà hai vị lại không muốn rập khuôn theo cái bầu cũ của hai triều Minh, Thanh, thế thì các thiết chế chính trị của họ lại càng ngày càng sai lệch, càng ngày càng mất quy cũ.

Thứ nhất, Hồng - Dương không có một chính phủ trung ương. Nhà giáo Hồng thuộc làu Tứ thư Ngũ kinh. Dựa theo "Chu lễ", ông ta bèn tạo ra một bộ quan chế vương quốc. Quan lại phân chia tước vị và chức vụ nhưng lấy tước vị làm trọng. "Tước" dưới Thiên vương có các vị "Vương" (tôn quý nhất có Đông, Tây, Nam, Bắc, Dực ngũ vương, thế tập võng thế).

Dưới vương là hầu. Sau đó giữa vương và hầu lại thêm năm bậc huân tước Nghĩa, An, Phúc, Yến, Dự, để ban thưởng cho người có công.

Chức vụ quan lại thì văn võ không phân định, cao nhất là thừa tướng. Dưới đó có kiểm điểm, chỉ huy, tướng quân, tổng chế, giám quân, quân soái, sư soái, lữ soái, tốt trưởng, lưỡng tư mã (tiểu đội trưởng). Thừa tướng chia thành sáu bộ Thiên, Địa, Xuân, Hạ, Thu, Đông, mỗi bộ đều có chính phó, tổng cộng mười hai cấp. Các vị trí quan lại khác cũng đều có chính phó, thậm chí cả "chức đồng" (như văn chức trong quân đội Quốc dân đảng gọi là đồng đại tá, đồng trung tá vân vân, gọi là "quân giản nhất giai", "quân tiến nhị giai" vân vân). Sau đó quan và tước lẫn lộn, lại đẻ ra mấy cái danh hiệu như Thiên tướng, Triều tướng, Thần tướng mang danh "nghĩa thượng vương hạ".

Thực ra Thiên triều vốn không có một chế độ khả thi nào cả. Nguyên thủ quốc gia là "Thiên vương", có vẻ như là chế độ quân chủ lập hiến không thực quyền. Chiếu theo "Chu lễ" gọi là "Vương", không gọi là "Đế". Xem ra lại giống như Quốc vương Anh ở London. Thế nhưng ông ta có chính phủ trung ương gồm sáu bộ thừa tướng, lại không có một vị thủ tướng nào, cho nên sáu bộ thừa tướng đều có chức vị mà không có thực quyền.

Thời kỳ hợp tác Hồng - Dương, Thái Bình Thiên Quốc vẫn luôn lấy quân sự làm đầu. Thế nên hành chính triều đình từ trước tới nay cũng là quân chính bất phân. Do đó, điểm trọng yếu thứ hai của chế độ Thái Bình rất đáng để thuật lại, chính là việc nó không có một thể chế chính quyền địa phương. Nam Kinh trên thực tế chỉ là một pháo đài, một doanh trại quân đội. "Đại doanh Giang Nam" của thanh quân đóng tại Hiếu Lăng Vệ chỉ cách Triều Dương môn (nay là Trung Sơn môn) vỏn vẹn vài dặm — người viết khi còn là học sinh trung học ở Nam Kinh, đi xe buýt cũng chỉ có hai trạm xe mà thôi. Thế nên Thiên Kinh của Hồng - Dương ngày đêm đều có thể nghe thấy tiếng đại bác. Chỉ là thanh quân vô dụng hết chỗ nói, đến một viên gạch thành Triều Dương môn cũng chẳng đánh rớt nổi.

Thái Bình quân tại các vùng trấn khác chiếm được ở các tỉnh Tô, Chiết, An, Cản, Hạc, rất ít nơi nào chiếm đóng quá ba năm. Thế nên họ chẳng có mấy "địa phương" cần phải trị lý, và vì thế cũng chẳng có nổi một "chính quyền địa phương". Cái gọi là "Thiên điền mẫu chế" mà các nhà sử học trong và ngoài nước từ trước đến nay vẫn luôn ca tụng, trên thực tế thì phương án cải cách ruộng đất mang tính xã hội chủ nghĩa này chỉ là một bài tập trên giấy của một người vô danh. Giống như "Phương lược kiến quốc" của tiên sinh Tôn Trung Sơn, nó chưa từng được thực thi lấy một ngày. Còn về biện pháp trưng thu thuế tạm thời ở vùng giải phóng, chế độ mà Thái Bình quân thực thi vẫn là phương án cũ rỉa rói đơn giản nhất — "Chiếu cũ nộp lương nộp thuế". — Họ nào có gầy dựng nổi cái gọi là "Tam tam chế" đâu cơ chứ!

Thế nhưng Thái Bình quân đánh trận, hễ động binh là mười vạn, tám vạn người, quân lương lấy từ đâu ra đây? Những bậc tiền bối uy quyền sử học đã dẫn bên trên như Quách, Giản, La, đều chẳng thể thuyết phục nổi tôi về vấn đề tài chính của Thái Bình Thiên Quốc.

Vào cuối thập niên 50, có một lần tôi cùng tiên sinh Thích Chi bàn về vấn đề "Giang Ninh Chức Tạo" trong "Hồng học". Tiên sinh Hồ nói, Giang Ninh Chức Tạo Tào Dần là quan mua sắm của Nội vụ phủ, đồng thời cũng là đặc vụ của vua Khang Hi, đánh trận thống chiến ở Giang Nam, tôi thì không cho là vậy.

Tôi cho rằng "Giang Ninh Chức Tạo" của hai triều Minh Thanh, cũng giống như quan muối, quan sắt thời Hán, quan tơ lụa, quan đồ sứ, quan trà thời Đường, Tống, Minh, cùng với việc độc quyền thuốc lá và rượu thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, là một loại quan thương kiếm bạc cho triều đình, tranh lợi với dân để làm "doanh nghiệp quốc doanh". Nào ngờ cái "giả thiết táo bạo" này, một khi đã qua "chứng thực cẩn thận", lại hoàn toàn không ngoài dự đoán. Nó chẳng những mở ra một con đường mới cho "Hồng học", "Tào học"; mà đối với những người nghiên cứu lịch sử Thái Bình, còn cung cấp thêm một "phi-lị-thuần sợi thuốc lá" mới.

[Phụ chú] Phi-lị-thuần sợi thuốc lá: tức là inspiration (cảm hứng).

Hồng - Dương cát cứ vùng Đông Nam, nội chiến đánh nhau hơn mười năm, công lao của tơ lụa và trà quả thực không thể không kể đến. — "Thái Bình Thiên Quốc" thực ra chính là tiểu triều đình đầu tiên trong lịch sử nội chiến Trung Quốc sống bằng nghề công thương nghiệp để đánh trận đấy! Đây cũng là một trong những hiện tượng lịch sử đặc biệt trong thời kỳ "chuyển dịch" phải không nào!

4.13 Kinh doanh tơ lụa, cấm tuyệt nha phiến

Nếu bàn về mối quan hệ giữa mậu dịch tơ lụa và Thái Bình Thiên Quốc, sách chuyên khảo hay luận văn tiến sĩ, há có thể hời hợt chạm đến? Nhưng đã nhắc đến rồi, thì chi bằng nhân dăm ba câu trình bày sơ lược cho độc giả một chút.

Phải biết rằng ngoại thương nước ta trong thế kỷ 18 và 19, từ trước đến nay vẫn luôn là thặng dư khổng lồ. Âu Mỹ ban đầu vận đến chỉ là từng thuyền từng thuyền bạc trắng, trong khi thứ chúng ta xuất khẩu lại là tơ lụa, đồ sứ và trà số lượng lớn. Thế nhưng mậu dịch thặng dư này cho đến trước chiến tranh nha phiến, bỗng nhiên đảo ngược, bởi vì Công ty Đông Ấn của thương gia Anh đã phát hiện ra nha phiến ở Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Họ có thể cung ứng không giới hạn, chúng ta cũng có thể tiêu thụ trong nước không giới hạn. Thế nên ngoại thương thặng dư của nước ta, chốc lát đã thành thâm hụt. Đến sau hai cuộc chiến tranh nha phiến, người phương Tây có thể công khai buôn bán thuốc phiện ở Trung Quốc, từ đó sông Hoàng Hà vỡ đê, độc dược nha phiến lan tràn, chúng ta liền không còn ra thể thống một đất nước nữa.

Thế nhưng tài sản nước ta tập trung ở đồng bằng châu thổ sông Dương Tử miền Đông Nam; nút thắt tửm của ngoại thương lại nằm trọn ở nha phiến. Một khi có thể nhổ tận gốc nha phiến, thì ngoại thương liền chốc lát thành thặng dư, vàng bạc tự khắc sẽ cuồn cuộn kéo đến. Với nhân tài đỉnh thịnh, tài nguyên phong phú ở vùng Đông Nam nước ta, "Bốn con rồng nhỏ" có đáng là gì chứ? Quả nhiên vào năm 1853 Thiên vương định đô ở Kim Lăng, triệt để cấm thuốc phiện. Theo ghi chép trong tác phẩm "Tặc tình phỏng vấn ký" do Kỳ Tuấn Tảo trước tác: "Giặc (Thái Bình quân) cấm hút thuốc lào, thuốc lá sợi, thuốc lá Triều Châu. Kẻ nào hút nha phiến thì chém đầu tại chỗ." Bọn tóc dài giết người, tuyệt đối không phải nói chơi đâu đấy nhé! Thế nên độc dược nha phiến ở Đông Nam, trong chốc lát đều bị tuyệt tích.

[Phụ chú] Tuấn (jùn): (1) Tích tụ. (2) Tuấn kiệt, người có trí tuệ tài hoa nhất.

Nha phiến đã dứt, mà xuất khẩu tơ lụa vẫn như cũ. Chẳng mấy chốc, ngoại thương hạ lưu sông Dương Tử của chúng ta, chốc lát thành thặng dư. Lúc bấy giờ quân Tương, Hoài vẫn chưa xuất hiện; người phương Tây chuộng lợi, cũng đang đứng ngoài quan sát, để kiếm chác chiến lợi phẩm từ cả hai phe giao chiến, đồng thời giúp đỡ duy trì trật tự nhằm gia tăng mậu dịch. Vàng bạc bay ngợp trời, cũng kích thích mạnh mẽ sự sản xuất và xuất khẩu tơ lụa. Buôn bán chốc lát hưng thịnh, hạ lưu sông Dương Tử nghiễm nhiên trở thành thủy tổ của bốn con rồng nhỏ sau này, lượng xuất khẩu tăng vọt.

Đoạn trước đã nói rồi, Hồng - Dương sau khi vào Nam Kinh, đã đem trăm nghề thủ công, tùy theo tính chất biên soạn vào "Bách công nha" và "Chư thợ doanh". "Đem tư liệu sản xuất thu hồi làm của quốc gia, phế bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, dùng hình thức quốc doanh thủ công nghiệp, thay thế cho sản xuất cá thể của công nhân thủ công nghiệp..." (xem sách trước của họ La, trang 839). Trong số những Bách công nha, Chư thợ doanh này, thứ mà Hồng - Dương làm với quy mô lớn nhất và thành công nhất chính là "Chức doanh" dệt tơ lụa và "Cơ thợ quán" vậy.

Nam Kinh trong lịch sử vốn là điểm khởi đầu của "Con đường tơ lụa trên biển". Vào thời điểm Hồng - Dương vào thành, trong thành có năm vạn khung cửi, gần như một nửa dân cư trong thành trông cậy vào đó để sinh sống. Bọn tóc dài bây giờ đem nó tập thể hóa, toàn thành trở thành một xưởng quốc doanh lớn. Vạn công thợ trong xưởng đều được quản lý theo lối quân sự, phân chia thành năm quân, quan trưởng đều do người bản địa đảm nhiệm. Bởi vì đây là công việc mang tính kỹ thuật thuần túy, cán bộ lão thành trường chinh, kẻ ngoại đạo không thể lãnh đạo người trong nghề được. (Xem cuốn "Kim Lăng Quý Giáp Chích Đàm" của Trương Nhữ Nam)

Tương truyền rằng nhà máy vĩ đại này từ khâu cấu tứ, thiết kế cho đến thực thi, thực ra do một thương gia lụa là Hán Khẩu tên là Ngô Phục Thành một tay gầy dựng nên. Khi thành vỡ, ông ta đang ở Kim Lăng, bèn thông qua một người Quảng Đông có đặc quyền miễn tử (bọn tóc dài khi bắc chạy dọc Trường Giang có mặc ước "người Lưỡng Quảng không giết"), thuyết phục Thừa tướng Chung Phương Lễ đứng ra chủ trì thực thi. Nhà máy quốc doanh vĩ đại này vốn là nguồn thu nhập chính của quốc khố triều Thái Bình, thế nên triều đình đối với hai vạn thợ dệt của nhà máy, miễn nghĩa vụ quân sự, giảm thuế má, cũng dành sự ưu đãi đặc biệt. Do đó nhà máy này cũng trở thành chốn dung thân cho đám phú thương sĩ phu trong thành, nên khá là nổi tiếng (xem sách trước của họ Giản, trang 508 ~ 509 và các tạp thư được dẫn chiếu).

Thế nên người trong quân Tương, Hoài ngày ấy đều biết rằng giặc tóc dài lắm tiền nhưng lại thiếu lương thực. Hãy nhìn Thiên vương, Đông vương đại động thổ mộc, cưới thê thiếp, bày biện trường mặt, chỗ nào cũng mang phong cách của một kẻ trọc phú, tiền từ đâu mà ra cơ chứ? Hóa ra bọn họ cũng có một đại vương lụa là Ngô Phục Thành giống như nhà tư bản Vinh Nghị Nhân, đang tính toán hộ cho họ đấy lị! Bọn họ làm công thương nghiệp và ngoại thương, làm đến mức sinh ra hứng thú và kinh nghiệm, về sau Tướng quân xưng hùng ở Tô Châu, Thị vương trấn thủ Thường Châu, đều đại lực làm kinh tế, đại động thổ mộc, mà vàng bạc ròng rỗng vẫn cứ vung tay không hết. — Người viết nghe các cụ già chòm xóm am hiểu sâu sắc về quân Hoài kể lại rằng: Khi quân Hoài hạ được Tô Châu, bước vào phủ Trung vương, chỉ thấy trong khu vườn sau phủ lại chất mấy ngọn núi bạc, "cao ngang với mái nhà". Lý Hồng Chương cũng từng tự mình bước vào phủ Trung vương thị sát, kinh thán sự hoa lệ của nó, quả thực giống như chốn thần tiên vậy. Còn về mấy ngọn núi bạc này sau đó đã trôi về đâu, thì ông ta giữ kín như bưng.

4.14 Cấm nha phiến là vẽ đường cho hổ chạy

Bọn tóc dài lắm tiền là sự thật. Nhưng kỷ luật quân đội của bọn tóc dài cũng có nhiều điểm đáng khen. Toàn quân không hút thuốc uống rượu, không dâm ô phụ nữ, không hãm hiếp tiểu đệ; hễ động một chút là chém đầu không tha, để lại ấn tượng trong lòng bách tính là "ngoài giết chóc ra thì không còn cách nào khác" (thực ra cũng có "cách khác", chỉ là không gọn gàng dứt khoát bằng chặt đầu mà thôi). Thêm vào đó trên dưới một lòng sùng đạo, tuân thủ nghiêm ngặt "Thiên điều" (phỏng theo "Mười điều răn" của Moisés trong "Cựu Ước"). "Sớm thỉnh thị, tối báo cáo", ban đầu quả thực kỷ luật nghiêm minh, thu không phạm một chút. Dưới sự lãnh đạo của một nhóm thiên tài quân sự — bao gồm Trung vương Lý Tú Thành và Anh vương Trần Ngọc Thành thời kỳ cuối — quả thực là đánh đâu thắng đó, không gì không chiến thắng. Bọn họ so với đội quân chính phủ lỏng lẻo vô tích sự, kỷ luật tơi tả, ý chí chiến đấu hoàn toàn bằng không — quân Bát Kỳ và binh Lục Doanh, thì quả thực khác biệt một trời một vực.

[Phụ chú] Quân Bát Kỳ là quân đội quốc phòng mang tính nghề nghiệp chủ yếu do dân kỳ tịch thế tập đóng giữ khắp nơi của chính phủ Mãn Thanh, còn Lục Doanh thì là quân đội phòng thủ các tỉnh được tuyển mộ từ các tỉnh.

Bởi vì Thái Bình quân vô cùng tinh nhuệ, Hồng - Dương sau khi "vào thành" Nam Kinh, phái binh đánh chiếm Trấn Giang, Dương Giang ở phía Đông, tây chinh An Khánh, Cửu Giang, Vũ Hán ở phía Tây, không có việc gì là không thuận tay hay ý, khiến cho sông Trường Giang nghìn dặm (vươn tới tận Vũ Hán ở phía trên và chạm đến Ngô Tùng ở phía dưới), cuối cùng trở thành nội hà của Thiên vương.

Đội quân Bắc phạt dưới sự chỉ huy của hai vị tướng Lý Khai Phương, Lâm Phụng Tường, tiến lên phía bắc vào An Huy, Hà Nam, ban đầu cũng thế như chẻ tre.

Đương nhiên Thái Bình quân kỷ luật nghiêm minh, cũng có những tổn thất kiểu quân tử mà họ không ngờ tới — họ nghiêm cấm nha phiến, lại nào ngờ hành động ái quốc này, rốt cuộc lại trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khiến Thiên triều sụp đổ chứ? Đã nói ở phần trước, nha phiến vốn là mặt hàng chủ chốt đảo ngược thặng dư và thâm hụt mậu dịch quốc tế của nước ta trong thế kỷ 19. Mà cái gọi là mậu dịch quốc tế lúc bấy giờ, chính là mậu dịch với Anh — thương gia Anh chiếm trên bảy mươi phần trăm tổng kim ngạch mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc; vận tải đường biển thì chiếm trên chín mươi phần trăm. Biến mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc từ thâm hụt thành thặng dư, thì kẻ đầu tiên gánh chịu tai họa là ai thì ai cũng rõ. Cho nên nước Anh tuyệt đối không thể dung thứ cho Trung Quốc trở thành một quốc gia cấm thuốc phiện, mà các vị Hồng - Dương lại cứ khăng khăng muốn cấm, thì sự xuất hiện của tướng quân Gordon, cùng quân đội bách chiến bách thắng của ông ta, há lại là chuyện ngẫu nhiên trong lịch sử cơ chứ?!

Giáo sư La Nhĩ Cương ngây thơ trong tác phẩm lớn của mình thường hay tiếc nuối, rằng Thái Bình quân đã không thể phối hợp với Tiểu Đao hội của Lưu Lệ Xuyên để hạ gục Thượng Hải, đuổi cổ chủ nghĩa đế quốc (xem các bài viết trong sách của họ La). Chủ nghĩa đế quốc dễ bị đuổi cổ đến thế sao? Bậc hiền hào một đời như Lâm Văn Trung công còn bỏ giáp ném mũ, một ông thầy đồ già như Hồng Tú Cuồng thì có thần thông gì để trừ ngoại bang chứ?! Hồng - Dương muốn tìm viện binh, thì đành phải cạnh tranh hút thuốc phiện với Mãn Thanh. Hồng - Dương nếu cấm thuốc phiện đến cùng, thì đế quốc Anh sẽ tiêu diệt các ông đến cùng. Nước Anh là con hổ; nha phiến là da hổ. Vẽ đường cho hổ chạy, há có chuyện không bị hổ ăn thịt cho được chứ?

Quả nhiên nước Anh vào năm 1860 đã đốt cháy Viên Minh Viên, đánh thắng "Chiến tranh nha phiến lần thứ hai" (The Second Opium War, còn gọi là The Anglo-French Chinese War, liên quân Anh - Pháp, 1858 ~ 1860), ký kết "Hiệp ước Bắc Kinh", giành được mọi đặc quyền đối với Trung Quốc, bao gồm cả việc buôn bán công khai hợp pháp độc dược nha phiến. Sau khi bức tử Hàm Phong gia, hắn ta liền quay đầu súng lại để đối phó với cái tên hồ đồ Hồng Thiên vương đó.

Phái Harvard độc quyền giới nghiên cứu Hán học hải ngoại về ngoại giao cuối đời Thanh, vẫn luôn lớn tiếng hô hào "Chiến tranh nha phiến không phải vì nha phiến mà đánh" (The Opium War is not for opium). Ngày nay tiên sinh Fairbank tuy đã qua đời; tôi vẫn muốn nhắn nhủ với các môn đồ của tiên sinh Fairbank rằng, chẳng những "Chiến tranh nha phiến" lần thứ nhất là vì nha phiến mà đánh, mà "Chiến tranh nha phiến lần thứ hai" vẫn cứ là vì nha phiến mà đánh đấy thôi! (Tham khảo tác phẩm "United States Diplomacy in China. Seattle: University of Washington Press, 1964. p.232" của kẻ hèn này). Không tin các vị hãy tra lại sổ sách hải quan Trung Quốc; nghiên cứu lại nguồn cơn gốc tích của quân bách chiến bách thắng. Chỉ là những chuyện này chỉ có thể nói cho người hiểu biết nghe. Bọn nhà quê chỗ Hồng Thiên vương đó, thì làm sao mà biết được chứ?

4.15 Xưng vương quá sớm, thánh linh phong bừa

Quân sự và kinh tế công thương nghiệp của Thái Bình Thiên Quốc dưới sự lãnh đạo của Hồng - Dương, làm cũng khá ổn, thế nên sau khi bọn họ "vào thành" vẫn còn có thể tạo ra cục diện cát cứ Đông Ngô giống như Tôn Quyền vậy — sau đó Thạch Đạt Khai mang binh đến Tứ Xuyên, cũng là có ý định đi làm Lưu Bị.

Thế nhưng chính trị dưới sự lãnh đạo của Hồng - Dương lại xen lẫn một tà giáo phương Tây dở hơi, thì lại trở nên nát bét cả rồi.

Chu Nguyên Chương khi mới khởi binh mưu phản, rất biết cách cung kính lễ phép với kẻ sĩ. Thế nên vẫn còn có một cử nhân tên là Chu Thăng đưa cho ông ta một lời khuyên, bảo rằng: "Xây tường cao, tích trữ lương thực rộng, chậm xưng vương."

Sai lầm nghiêm trọng đầu tiên mà Hồng Tú Cuồng phạm phải trong chính trị, chính là "xưng vương quá sớm". Khi ông ta mới chỉ có vỏn vẹn hai, ba nghìn tên tay sai trong tay, ở Vĩnh An ông ta đã xưng vương rồi. Ông ta chẳng những tự xưng Thiên vương hiệu vạn tuế, mà năm vị vương dưới quyền ông ta — Đông, Tây, Nam, Bắc, Dực, cũng lần lượt trở thành: Chín nghìn tuế, tám nghìn tuế, bảy nghìn tuế, sáu nghìn tuế và năm nghìn tuế.

Từ đó xảy ra chuyện lớn, chẳng những bản thân ông ta không thể có được sự thỏa mãn về mặt tâm lý; cái vòng luẩn quẩn dưới trướng ông ta cũng chẳng thể thăng cấp thêm được nữa. Giả sử vị Dực vương Thạch Đạt Khai văn võ song toàn kia, bỗng nhiên lập được công trạng vô tiền khoáng hậu là ba mũi tên định Thiên Sơn, muốn thăng quan, thì cấp trên của hắn ta cũng phải thăng theo. Người khác thì còn được, chứ Đông vương thì không thể thăng được nữa: hễ thăng là thăng lên thành "vạn tuế"; biến thành trời có hai mặt trời, dân có hai chủ nhân, thế thì còn ra thể thống gì nữa cơ chứ?!

Hơn nữa, trong tôn giáo của bọn họ, có lẽ là do sự vô tri của họ Hồng đối với thần học Cơ Đốc giáo, ông ta đã phong Dương Thanh Thúc lên vị trí cao hơn mình một bậc. Tước hiệu của Dương trong giáo phái là: "Hòa Nãi sư, Thục bệnh chủ, Thánh thần phong, Khuyến úy sư..." Trong đó đặc biệt là thần vị Thánh thần phong trong giáo lý "Ba ngôi một thể" (Trinity) của Cơ Đốc giáo, ông ta được xếp ngang hàng với Thượng đế và Chúa Jesus.

Ba ngôi ấy là, Thánh phụ (Thượng đế, Father), Thánh tử (Son, Jesus), Thánh linh (Holy Spirit hoặc Holy Ghost). Mà "Thánh linh" trong các bản dịch đầu tiên của "Kinh Thánh" lại được dịch thành "Thánh thần phong". Tú Cuồng không biết tiếng Tây. Chỉ chiết tự chữ "Phong" trong bản dịch tiếng Trung theo nghĩa đen, lầm tưởng "Thánh thần phong" chỉ là một nhà truyền giáo kỳ cựu, hoặc thứ gì đó đại loại như "Phong sư", "Lôi công". Thế nên mới ban phát thần vị này cho Dương Tú Thanh. Thực ra trong giáo lý, "Thánh thần phong" là một thể trong một thể ba ngôi của Thượng đế, không giống như nhà truyền giáo thông thường. Giống như hóa "thân" của "Thiên thủ Quan Âm", "Thiên nhãn Quan Âm" trong Phật giáo, không thể đặt ngang hàng với ni cô bình thường được.

Về sau khi Hồng giáo chủ tranh biện về giáo nghĩa cứu rỗi với các nhà truyền giáo phương Tây, ông ta vẫn khăng khăng bảo vệ cách giải thích của chính mình, đồng thời lấy ví dụ rằng: Ông ta cũng từng phong Dực vương Thạch Đạt Khai làm một vị "Thánh thần điện" (Lôi công?) cơ mà! Còn việc Thánh thần điện rốt cuộc tính là cái thá gì trong thần học Cơ Đốc giáo, thì ông ta mặc kệ. — Ông ta cho rằng bản thân có thể sửa đổi "Kinh Thánh".

Thế nhưng Dương Tú Thanh đã có tước hiệu này, tự cho mình là "Thánh linh", và có thể thay Thượng đế Thiên phụ truyền lời, mọi thứ đều ở trên Thiên vương, ông ta liền muốn soán ngôi Thiên vương để làm giáo chủ.

Cả về thực lực chính trị lẫn lý luận tôn giáo, Dương Tú Thanh đều cảm thấy đây là thời điểm để soán ngôi, quả nhiên vở kịch vui này, đã được công diễn vào mùa thu năm 1856, năm thứ ba sau khi bọn họ "vào thành".

4.16 Ta làm vạn tuế, ngươi làm vạn vạn tuế

Năm 1856 là một năm tương đối huy hoàng trong lịch sử mười bốn năm của Thái Bình Thiên Quốc. Tháng sáu năm ấy, dưới sự dốc sức hợp tác của Dực vương Thạch Đạt Khai, Yến vương Tần Nhật Cương, Thừa tướng Trần Ngọc Thành, Lý Tú Thành, Thái Bình quân một cú đánh úp vào đại doanh Giang Nam của Hướng Vinh, giải tỏa vòng vây Thiên Kinh kéo dài suốt ba năm. Hướng Vinh chẳng bao lâu sau thì tức tưởi mà chết.

Thái Bình quân đông chinh cố thủ ở Dương Giang Trấn Giang cũng vững như thành đồng vách sắt. Thái Bình quân tây tiến lúc bấy giờ cũng đánh hạ Hán Khẩu và Hán Dương, Vũ Xương cũng đang trong vòng vây hãm. Thái Bình quân nam hạ cướp đất, tiến sâu vào Giang Tây, cũng có không ít chiến tích. Lúc này quân Bắc phạt của bọn họ tuy đã bị đánh cho toàn quân bị tiêu diệt, nhưng đối với đám vương gia Thái Bình và cán bộ cao cấp đang hưởng phúc ở tiểu thiên đường này mà nói, thì điều đó quá ư là xa vời. Chẳng những không gây ảnh hưởng gì đến sự thụ hưởng cá nhân của họ, mà cũng chẳng đe dọa gì đến tiểu vương quốc cát cứ Đông Ngô này: đất nước không có ngoại hoạn, nội ưu liền đúng hẹn phát sinh.

Về sự kiện "Thiên Kinh chi biến" trong "Thời Thái Bình, vương giết vương". Người trong và ngoài nước lúc bấy giờ đều có rất nhiều ghi chép đại đồng tiểu dị. Tổng hợp lại thành một bản tin, câu chuyện đại khái như sau:

Sau khi tin tức Hướng Vinh chết vào ngày 9 tháng 8 truyền đến Nam Kinh, Đông vương vô cùng kiêu ngạo, cho rằng đó là công huun của một mình ông ta, liền nảy sinh dị chí soán ngôi cướp vị. Để lấy cớ tuyến phía Tây đang nguy cấp, bèn điều động toàn bộ các yếu nhân như Bắc vương Vi Xương Huy, Dực vương Thạch Đạt Khai vội vã chạy ra tiền tuyến đốc sư. Hậu phương Thiên Kinh lúc bấy giờ chỉ còn lại Thiên vương và chính hắn ta. Một hôm Đông vương ngụy xưng "Thiên phụ hạ phàm", triệu Thiên vương đến Đông phủ, Thiên phụ nói với Thiên vương rằng: "Ngươi và Đông vương đều là con ta, Đông vương có công lao tày trời thế này, sao chỉ dừng lại ở cửu nghìn tuế?" Hồng nói: "Đông vương đánh giang sơn, cũng đáng làm vạn tuế." Thiên phụ lại hỏi: "Đông thế tử (con trai Đông vương) há chỉ nghìn tuế?" Hồng nói: "Đông vương đã xưng vạn tuế, thế tử cũng nên là vạn tuế; hơn nữa đời đời đều là vạn tuế." Thiên phụ vô cùng vui mừng nói: "Ta về trời đây."

[Phụ chú] Cầm (gān): Thế này, như thế, như vậy.

Tương truyền rằng Thiên vương sau khi đồng ý để Đông vương xưng vạn tuế, lại phản vấn một câu: "Tứ đệ... danh xưng vạn tuế, từ lâu đã nên thuận theo trời hợp lòng người, ngoảnh lại thì ta phải tính sao đây?" Đông vương nói: "Nhị huynh nên xưng vạn vạn tuế." Hồng giả vờ vui mừng. Hai người bèn quyết định vào sinh nhật của Tú Thanh tháng sau (ngày 23 tháng 9 năm 1853), chính thức tấn phong.

Hồng thị hồi cung, một mặt điều động nữ binh trong cung phòng thủ hoàng thành, để đề phòng Đông vương đánh úp; một mặt gửi mật chiếu cho nhị vương Bắc, Dực đang đốc sư ở thượng lưu Trường Giang, nhanh chóng trở về kinh, cần vương hộ giá. Dực vương ở xa hơn, quay về cần có thời gian, còn Bắc vương ở gần hơn, bèn dẫn ba nghìn tinh binh, thừa đêm đáp thuyền vội vã quay về Nam Kinh; đêm mùng một tháng chín liền bỏ thuyền lên bờ, lẻn vào trong thành. Việc hắn ta có từng vào Thiên vương phủ bàn bạc bí mật với Hồng hay không, thì không thể khảo cứu được nữa. Chỉ biết rằng đêm đó hắn ta liền cấu kết với Yến vương Tần Nhật Cương, đánh úp vào Đông vương phủ, tình hình khi đó có lẽ giống như "Sự biến Tây An", ra tay bất ngờ vào giữa đêm khu vực.

Có người ghi chép lại rằng Tần Nhật Cương xông thẳng vào phòng ngủ của Đông vương, thấy Đông vương không nói hai lời liền đâm thẳng một dao vào ngực: "Lưỡi dao thấu ra sau lưng". Đông vương đã chết, bọn họ bèn tàn sát sạch sẽ mấy nghìn nam nữ trong Đông vương phủ, trong đó bao gồm Đông vương nương và năm mươi tư người thê thiếp. Khi trời sáng, bọn họ lại dùng cả biện pháp mềm lẫn cứng lùng bắt "Đông đảng". Chỉ trong một ngày một đêm mà có hơn hai vạn người bị tàn sát. Trong số đó cán bộ tinh hoa mặc áo đỏ áo vàng nắm quyền triều chính, nhiều không kể xiết! Toàn bộ cán bộ tinh anh nắm quyền triều chính chốc lát bị tiêu diệt sạch!

Sau khi Đông vương chết, Bắc vương đã phóng lao thì phải theo lao, bèn mở màn cuộc tàn sát đẫm máu. Lấy cớ lục soát Đông đảng, lùng bắt kẻ bất đồng chính kiến. Trong thành Nam Kinh bị giết đến quỷ khóc thần gào. Mà kẻ giết người tàn độc nhất lại chính là đội quân thiếu nhi trong Thái Bình quân, cũng giống như Hồng vệ binh và phái nổi dậy của Mao Trạch Đông vậy, lấy việc tra tấn giết chóc làm trò tiêu khiển.

Kết quả là âm mưu soán ngôi của Đông vương chưa thành, mà cuộc phản loạn của Bắc vương lại trở thành sự thật. Khoảng hơn mười ngày sau khi Đông vương chết, Dực vương mới từ tiền tuyến Vũ Xương vội vã quay về Nam Kinh. Sau khi gặp mặt Bắc vương, ông ta vô cùng sợ hãi, bèn nhân lúc đêm tối trèo dây thừng trốn chạy. Bắc vương bắt không kịp, bèn tiện tay chính thức phản biến, đánh chiếm Thiên vương phủ. May thay lúc bấy giờ cán bộ và tướng sĩ trung thành với Thiên vương vẫn còn rất nhiều, bọn họ bèn cấu kết với tàn dư của Đông vương để phản công Bắc vương. Bắc vương đánh không lại, cuối cùng chết trong loạn quân, chấm dứt màn kịch "Vương giết vương" của "Thiên Kinh chi biến" này.

[Phụ chú] Ân (yín) dạ: Đêm khuya. Trụy (zhuì): Dùng dây thừng buộc người hoặc vật thả từ trên cao xuống.

Sau khi Đông vương và Bắc vương đều chết, những cán bộ lão thành khởi nghĩa thuở ban đầu, duy chỉ còn lại Dực vương. Tú Cuồng bèn triệu Thạch Đạt Khai về triều phò tá. Thế nhưng Thái Bình Thiên Quốc trải qua "kiếp nạn" này xong, nhân sự đã hoàn toàn đổi khác. Anh em họ Hồng bắt đầu nắm quyền chấp chính. Thạch Đạt Khai sợ bị giết, bèn một lần nữa trèo dây thừng tháo chạy giữ mạng.

Dực vương vừa đi, trong triều đình Thái Bình ngoài Thiên vương ra, lãnh tụ khởi nghĩa thuở ban đầu không còn lấy một ai sót lại.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.