Trong lịch sử cận đại Trung Quốc, vị thiên vương Hồng Tú Quàn – kẻ đã sáng lập ra "Thái Bình Thiên Quốc" – và Chủ tịch Mao Trạch Đông – người sau này đặt nền móng cho "Cộng hòa Nhân dân" – thực ra có rất nhiều điểm tương đồng.
Cả hai người Hồng và Mao đều là những trí thức nông thôn truyền thống và anh hùng hào kiệt chốn cỏ dã có tài năng của một kẻ kiêu hùng, nhưng lại mang tâm trạng bất mãn, ôm hận vì thất ý. Tú Quàn thi không đậu tú tài, sau những lần trượt liên tiếp, chán nản nằm liệt giường, cuối cùng được Thượng đế triệu ơn, "thăng thiên" bái kiến Giê-su, mới quyết tâm bỏ đường chính đi lối rẽ, ôm cái tôn giáo Tây phương nửa vời, hiểu biết nửa mùa để trừ yêu tế thế. Trạch Đông thi không đậu đại học, lúc "nghe ké" ở Đại học Bắc Kinh, chịu đủ mọi sự nhục nhã từ một đám trí thức trẻ cao ngạo thời bấy giờ, bèn nghiến răng nghiến lợi chui vào "hầm", thụ giáo chủ nghĩa Mác - Lênin, đến nỗi cả đời ôm cái chủ nghĩa Tây phương u mê không thông suốt để "hưng vô diệt tư" (dấy vô sản, diệt tư bản). Khởi nghiệp bằng phương thức giặc cỏ, lãnh đạo bạo động nông dân, cả hai người sau này đều làm "làm hoàng đế". Sau khi làm hoàng đế, cả hai đều tỏ ra cái biết giả tạo để áp dụng những suy đoán chủ quan cá nhân mà hại chết toàn dân. Về già lại càng đa nghi đố kỵ, tàn sát công thần; cho đến khi tâm lý biến thái, ham mê tửu sắc, loạn luân trong cung cấm. Thế nhưng kết cục số phận của hai người lại khác nhau một trời một vực. Họ Mao được chết già trên giường, được đặt trong quan tài bằng tinh thể, trưng bày công khai, mặc cho người đời chiêm bái hoặc mắng mỏ. Kẻ họ Hô-n (Hồng) sợ tai họa nên tự sát, bị bọc vải vàng, ném xuống cống rác, mặc cho người đời phanh thây hay thở dài.
Tóm lại, cả hai đều là những nhân vật phong lưu, anh hùng cỏ dã coi mạng người như cỏ rác, cả gan làm càn; đều là những trí thức nông thôn, giáo viên tiểu học, thầy đồ tư thục chữ nghĩa nửa chữ bẻ đôi, thế mà giữa may và rủi lại cách biệt một trời một vực như thế! Tại sao lại như vậy? Tạm gác lại chuyện công tử họ Mao ở phần sau, nay hãy bàn về sự thành bại của công tử họ Hô-n (Hồng), để xin ý kiến chỉ giáo của các bậc cao minh.
2.1 "Đổi triều đại" với "Đổi triều chế"
Trước hết, nếu chúng ta dùng quy luật khoa học xã hội hiện đại để phân tích lịch sử "Thái Bình Thiên Quốc", sẽ thấy cuộc cách mạng của Hồng - Dương tuyệt đối không có khả năng thành công. Lý do là vì "thời đại giới hạn", không phải sức người có thể cưỡng cầu.
Thế nào gọi là "thời đại giới hạn"? Phàm các anh hùng hào kiệt trong lịch sử nước ta, vào thời buổi thiên hạ đại loạn, tranh giành thiên hạ, mục tiêu cao nhất mà họ theo đuổi chỉ là một sự "đổi triều đại" đơn giản – họ muốn đánh đổ một triều đình hủ bại, tiêu hủy một xã hội thối nát. Sau đó trên đống tro tàn mà đá và ngọc cùng cháy, đổi triều đại chứ không đổi chế độ, cứ vẽ theo chiếc bầu đã có sẵn, vẽ tiếp thêm hai ba trăm năm nữa, rồi lại để cho người khác tới đánh đổ.
Khốn nỗi, kể từ sau chiến tranh "Nha phiến" (1842), gió tây thổi mạnh sang đông, lịch sử nhân loại đã bước từ "thời trung cổ" vào "thời hiện đại". Bộ "chế độ truyền thống" gồm chính trị, kinh tế, xã hội, luân lý... vốn có của nước ta, dưới sự thách thức của "chế độ hiện đại" phương Tây, đều không thể tiếp tục duy trì nguyên trạng được nữa. Do đó, yêu cầu của "thời đại" và "lịch sử" đối với những hào kiệt tranh giành thiên hạ thế hệ mới chúng ta không chỉ dừng lại ở việc "đổi triều đại", họ còn phải có tầm nhìn và năng lực "đổi triều chế" – "đổi chế độ", không phải chỉ là đổi cái tên "hoàng đế" thành "chủ tịch" hay "tổng thống"; đổi "tư lệnh quan" thành "tư lệnh viên". Chúng ta còn cần một chút "biến chất". Làm "biến chất", không chỉ Hồng và Dương không có kiến thức và năng lực ấy. Ngay cả những vị "tổng thống" và "chủ tịch" sống sau họ hàng chục năm, đến nay vẫn không sao thay đổi được đấy thôi!
Hơn nữa, việc thực hiện sự "biến chất" của một quốc gia, một xã hội – nhất là đối với đại đế quốc cổ xưa như Trung Quốc của chúng ta, vốn không thay đổi gì trong hai, ba nghìn năm – thì không thể chỉ dựa vào một người, một thế hệ mà "hoàn thành công trạng trong một trận chiến" theo kiểu "đột biến". Nó là một quá trình "biến đổi dần dần", chậm chạp, "tích lũy" kinh nghiệm và tiến bước theo từng "giai đoạn". Cùng thì biến, biến thì thông. Trình trình tự của nó quanh co khúc khuỷu, có được có mất, đổ máu đổ mồ hôi, cuối cùng mới có thể mò mẫm ra một chế độ mới trường trị cửu an; rồi sau đó mới có thể cùng các "quốc gia tiên tiến" luân phiên làm chủ trên chính đàn thế giới, tạo ra một cục diện "siêu phương Tây" (Post-Western), "siêu hiện đại" (Post-Modern).
Cho nên các vị hiền tài họ Hồng, họ Dương thay trời hành đạo vào giữa thế kỷ XIX, đều chỉ có tài "đổi triều", nhưng lại thiếu kiến thức "đổi chế". Xin phép cho tôi lặp lại một câu, dẫu cho họ có tầm nhìn đổi chế (như Tôn Trung Sơn tiên sinh sau này), họ cũng không có thời cơ để làm chuyện "đổi chế". Bậc triết gia phương Tây từng nói: "Chế độ là đứa con chung của trí tuệ và thời cơ". Thiếu một trong hai thứ đều không được.
Có "trí tuệ" mà không có "thời cơ", thì đó chỉ là ảo tưởng của triết gia; là đánh giặc trên giấy mà thôi. "Thời cơ" chưa đến mà đã hành động "vượt cấp", thì thường sẽ biến thành những liệt sĩ "biết trước thấy trước". Những "liệt sĩ" trong lịch sử cận đại nước ta há chỉ có vạn người. Lôi Chấn tiên sinh của Đài Loan chính là một người gần đây nhất. Khoảng cách thời gian giữa "trí tuệ" của ông và "thời cơ" mà ông đáng lẽ phải có, chẳng qua chỉ là hai mươi năm mà thôi.
[CHÚ THÍCH] Vượt (liè) cấp: Vượt quá cấp bậc, không theo thứ tự.
Nhìn từ một hướng khác: Nếu có "thời cơ" mà không có "trí tuệ"; ngồi vào vị trí đó, mà tầm nhìn hiểu biết không đủ để lo việc nước, thì sẽ làm lỡ làng đất nước và Nhân dân, vấn đề khi ấy sẽ trở nên rất lớn. Những "lão gia" đang sống an nhàn hưởng phú quý trong chốn thâm cung Trung Nam Hải ở đại lục ngày nay, "có lẽ" thuộc loại này. Tác giả đánh giá về "hạng tám lão" ở đây, chỉ dám dùng hai chữ "có lẽ" (tiếng Anh gọi là probable hoặc possible). Sự diễn biến của lịch sử trong tương lai, và việc các nhà sử học đưa ra đánh giá chính diện về họ, cũng có "khả năng" xảy ra.
Sở dĩ hôm nay hạ bút dám cả gan nói ra những lời này, cũng là căn cứ vào một sự "tất nhiên" trong lịch sử – sự tất nhiên này, chính là việc "tất nhiên được lật lại án" đối với "Biến cố Thiên An Môn" ngày mùng Tư tháng Sáu trong các sách lịch sử đời sau. Sau khi sự kiện ngày mùng Tư tháng Sáu "tất nhiên được lật lại án", thì các nhà sử học sẽ phải sắp xếp "tám vị lão gia" này vào đâu đây? Cho nên tác giả không cần dùng cỏ thi và mai rùa bói toán cũng dám nói trước điều đó.
[CHÚ THÍCH] Đoạn văn trên ban đầu viết là "Dưới đây hôm nay sở dĩ dám cả gan nguyệt đán chi giả" (dưới đây hôm nay sở dĩ dám cả gan bình luận), thực sự không hiểu đầu đuôi thế nào, nghi ngờ là do lỗi xếp chữ, cho nên dùng chữ "viết" thay thế.
Không cần cỏ thi (shī) rùa (guī) bói toán: Người xưa dùng cỏ thi và mai rùa để bói cát hung. Cho nên thành ngữ này có nghĩa là ám phỏng sự việc đã rành rành ra đó.
Lấy nay làm gương để soi xưa, quay lại chủ đề chính, chúng ta hãy cùng xem xét cuộc biến loạn của Hồng và Dương:
Chúng ta là những người đọc sử, nếu đem các sử liệu và sách sử đã được phát hiện trong mười bốn năm của "Thái Bình Thiên Quốc" ra trải lên mà bình tâm tĩnh khí xem xét lại, chúng ta sẽ cảm thấy rằng họ vừa thiếu sót cả về mặt "trí tuệ" lẫn "thời cơ". "Trí tuệ" đối với họ mà nói thực chất chỉ mang lại những tác dụng tiêu cực; còn "thời cơ" đối với họ cũng chỉ có một nửa là chính diện – vào thời đại của Hồng và Dương, họ chỉ có một thời cơ "đổi triều" cực lớn, chứ không có thời cơ "đổi chế". Hồng Tú Quàn gây dựng mười bốn năm, thứ mà ông ta dựa vào chính là một nửa "thời cơ" này. Nếu làm tốt, ông ta có lẽ đã có thể thiết lập được một triều đình đoản mệnh. Thế nhưng ông ta không thể giải quyết được vấn đề "đổi chế" trong lịch sử cận đại Trung Quốc. Nếu vấn đề "đổi chế" mà không được giải quyết, thì triều đình của ông ta cũng không thể kéo dài quá lâu. Năm vị Tôn, Viên, Giáp, Mao, Đặng sau này đều không thể giải quyết được vấn đề "đổi chế" này, huống chi là Hồng và Dương? Đây là điều mà tác giả gọi là "thời giới hạn của thời đại".
[CHÚ THÍCH] Tổng thống Lý Đăng Huy có thể nói là đã phần nào giải quyết được vấn đề "đổi chế" trong lịch sử cận đại Trung Quốc. Thật là đáng mừng. Thế nhưng việc bước qua "giai đoạn" đổi chế này không phải là sức mạnh của cá nhân ông Lý, mà là do "thời đại" và "thời cơ" tạo nên. Tuyệt đối không được đi một nước cờ sai, để rồi tẩu hỏa nhập ma!
Thế nhưng ngẫm lại cho kỹ, nếu Hồng và Dương thực sự là anh hùng, họ đáng lẽ phải nắm bắt được một nửa cơ hội "đổi triều" ấy, học theo Sấm vương Lý Tự Thành, một hơi đánh hạ Bắc Kinh, lên ngôi ở điện Thái Hòa, ra lệnh cho toàn quốc, tận hưởng cơn nghiện làm hoàng đế trong vài ngày, vài tháng, thậm chí vài năm hay vài chục năm (như "Chủ tịch Mao"). Ngay cả chuyện đó mà cũng không làm được, để cuối cùng thây vùi rãnh mương, thất bại ngay trong đời mình, thì quả là quá vô dụng.
Tác giả trong bài viết ngắn ngủi thô thiển này, không có ý định bắt chước Giả Sinh để viết bài "Quá Hồng Luận", mà chỉ muốn nhân những điểm lớn lao rõ rệt, nêu sơ qua vài điểm, để thấy được nguyên nhân hưng vong của Thái Bình Thiên Quốc mà thôi.
[CHÚ THÍCH] Rõ rệt lớn lao (luòluòdàzhě): Rõ rệt tức là hiển nhiên, chỉ những phương diện trọng đại rõ ràng.
2.2 Thiên vương Hồng chính là Caesar Jones
Theo cách nhìn phiến diện của tác giả, vết thương chí mạng lớn nhất của phong trào Thái Bình Thiên Quốc thực ra chính là tôn giáo hiểu biết nửa vời nhưng lại vô cùng tự tin, đầy vẻ cuồng tín của họ. Hưng cũng vì nó, bại cũng do nó.
Bản thân Hồng Tú Quàn thực sự không phải là một lãnh tụ cách mạng chống lại chế độ phong kiến, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân được ca tụng như trong miệng của các nhà sử học thông thường. Ngược lại, từ đầu đến cuối, ông ta chỉ là một "giáo chủ" (cult leader) của một giáo phái Cơ Đốc giáo cuồng tín (a fanatical Christian sect). Điểm trùng hợp là: khi giáo phái cuồng tín này hình thành của ông ta hình thành, lại vừa vặn bắt gặp thời cơ đổi triều đại cuối nhà Thanh xuất phát từ Quảng Quảng Tây. Hồng thị cùng một số tín đồ cuồng tín của ông ta liền bị cuốn vào vòng xoáy chính trị mang tính thời đại ấy; từ đó bị ép lên lương sơn, biến tín ngưỡng tôn giáo thành sức mạnh chính trị, một khi đã nổi dậy làm phản thì cũng đâm lao theo lao, biến thành một trong những hào kiệt "tranh giành thiên hạ". Cuối cùng gây ra đại bi kịch "Thái Bình Thiên Quốc" với hàng chục triệu người chết.
"Tôn giáo" vốn là một trong những khâu quan trọng nhất trong văn minh nhân loại. Do nhiều nguyên nhân đặc thù, mặc dù trong lịch sử nước ta, nó chưa từng gây ra quá nhiều tai họa bạo loạn, nhưng trong lịch sử của tất cả các dân tộc khác, những cuộc gọi là "chiến tranh tôn giáo" chết người như rạ ấy, đã xảy ra không biết bao nhiêu trăm lần! Những sử liệu lớn như sự nổi dậy của Hồi giáo, các cuộc Thập tự chinh, kỳ tích của Joan of Arc, vốn không cần phải nhắc tới. Hãy cứ lấy một, hai ví dụ nhỏ ngay trước mắt để so sánh, thì có thể suy ra những trường hợp còn lại.
Mới cách đây vào năm 1978, ở San Francisco, Mỹ có một mục sư Cơ Đốc giáo tên là Jim Jones (1931–1978). Trong lúc không hay không biết, bỗng nhiên ông ta có được cảm ứng thần linh, khiến ông ta biến thành một vị y sĩ có khả năng chữa bệnh kỳ lạ. Ông ta có thể chữa khỏi những căn bệnh hiểm nghèo kỳ lạ cho bệnh nhân, bao gồm cả ung thư phổi. Nhất thời danh tiếng lừng lẫy, tín đồ kéo đến bốn phương. Quần chúng ngày một đông, Jones thậm chí tự xưng là "Giê-su chuyển thế" (Reincarnation of Jesus); thậm chí còn nói bản thân mình chính là "Thượng đế" (God); rồi tự phong là "Đại đế Caesar" (Caesar). Tự xưng là vị cứu thế của Nhân dân đau khổ, đại hộ pháp của chủ nghĩa xã hội. Ông ta còn tổ chức một công xã nhân dân, gọi là "Đền Nhân dân" (People’s Temple). Trong đền bãi bỏ tư sản, toàn thể tín đồ cùng ăn cùng ở cùng lao động. Jones coi toàn thể tín đồ là con cái của Thượng đế; toàn thể "con cái" cũng đồng thanh gọi Jones là "cha" (Dad). Mọi người dốc hết gia tài để giải nạn, quyên góp đi theo. Vùng lân cận San Francisco nhất thời bị nhóm tín đồ của vị thượng đế sống này làm cho náo loạn cả lên. Cư dân và chính quyền chịu không nổi, bèn đồng loạt ra tay trục cuối. Cuối cùng Jones không còn chỗ dung thân ở Mỹ, bèn dẫn dắt tín đồ trốn chạy đến phía nam Guyana ở Trung Mỹ, vùng rừng rậm nhiệt đới thưa thớt bóng người, tự xây dựng "Thị trấn Jones" (Jones-town), vạch đất xưng vương, không chịu sự ràng buộc của luật pháp Mỹ. Thế nhưng bản thân Jones cùng đại đa số tín đồ rốt cuộc vẫn là công dân Mỹ, chính quyền Mỹ không thể mặc kệ cho ông ta làm càn mà không hỏi tới. Một trong ba đài truyền hình lớn của NBC cũng muốn chớp lấy tin tức kỳ lạ này, bèn phái người tới tận nơi thăm dò thực hư. Vào giữa tháng 11 năm 1978, hạ nghị sĩ Leo J. Ryan đã dẫn đầu một đội người đi máy bay nhỏ đến để thị sát. Nào ngờ rứt dây động rừng, những phần tử cuồng tín nổi loạn trong "Đền Nhân dân" lại cho rằng bốn người trong đoàn của ông Ryan là đặc vụ chính quyền, bèn ra tay bắn chết ngay lập tức.
Đảng viên Đền Nhân dân đã gây ra đại họa, Jones thừa biết chính quyền bao vây tiễu trừ là điều không thể tránh khỏi. Đồng thời ông ta cũng cho rằng thời hạn của ông ta và toàn thể tín đồ đã đến, bèn quyết định tuẫn đạo tập thể – toàn bộ thành viên trong đền từ "cha" cho đến bên dưới tổng cộng chín trăm mười một người (cũng có sách nói là chín trăm mười ba người), vậy mà vào tối ngày 18 tháng 11, trong một đêm đã đồng loạt uống thuốc độc tự sát. Tin tức truyền đến, chấn động cả thế giới. Trên tivi, xác nam phụ lão ấu nằm liệt ngang dọc – có gia đình ôm nhau chết chung; có người vợ trẻ ôm con nhỏ mà qua đời... Cảnh tượng bi thảm đến mức tuyệt nhân hoàn, thực sự khiến người ta không nỡ nhìn.
Tác giả sau khi tận mắt chứng kiến, tắt tivi đi, thở dài ngao ngán, không khỏi tự hỏi: Tại sao lại như vậy chứ?
Đọc giả kính mến, đây chính là "tôn giáo" đấy. Dân tộc chúng ta thật may mắn vì có một truyền thống văn hóa "không nói về chuyện quái dị, lực lượng, phản loạn và quỷ thần". Cho nên chứng "cuồng tín tôn giáo" vốn xuất hiện nhan nhản trong sách vở khắp nơi trên thế giới này, lại không mấy khi bắt gặp trong lịch sử nước ta. Thỉnh thoảng có xuất hiện, thì nó cũng không được giới trí thức (bao gồm cả các nhà sử học xưa và nay) của chúng ta thấu hiểu và chấp nhận. Mà một số kẻ dã tâm, nhà tôn giáo, nhà cách mạng muốn lợi dụng sức mạnh tôn giáo để lên ngôi báu, cướp chính quyền, trong lịch sử Trung Quốc chưa bao giờ thành công cả.
[CHÚ THÍCH] Không bàn chuyện quái lực loạn thần: Tức là câu "Khổng tử không nói về chuyện quái dị, bạo lực, phản loạn và quỷ thần". Thông thường đều ngắt câu là "Khổng tử không bàn chuyện quái, lực, loạn, thần." Tức là "Khổng tử không bàn luận về những điều quái dị, sức mạnh, sự phản loạn và quỷ thần." Tuy nhiên cũng có giải thích cho rằng nên ngắt câu là "Khổng tử không nói, quái lực loạn thần." Nghĩa là "Khổng tử không nói nữa, vì sợ dùng sức phân tán sẽ ảnh hưởng đến việc tập trung tinh thần." Nghe có vẻ không đúng lắm, chỉ để tham khảo.
Cho nên các nhà sử học truyền thống nước ta, khi đặt bút viết thẳng sự thật về những loại sách sử này, nếu không nguyền rủa họ là "yêu ngôn hoặc chúng" (như Xích Mi, Hoàng Cân và Bạch Liên Giáo, Thiên Địa Hội); thì cũng ca ngợi họ chẳng qua chỉ là "cuộc đại khởi nghĩa nông dân", "cách mạng ruộng đất", "chống đế quốc chống phong kiến" đơn thuần mà thôi (như việc nghiên cứu về "Thái Bình Thiên Quốc" ở đại lục ngày nay), làm tôn giáo chẳng qua chỉ là "ngụy trang" hay "mượn cớ" mà thôi.
Cả hai phái cầm bút truyền thống và hiện đại của nước ta đều hoàn toàn phớt lờ khía cạnh "cuồng tín tôn giáo" cực kỳ quan trọng này, bởi vì sự thật lịch sử này tuy là chuyện như cơm bữa trong lịch sử của các dân tộc khác (bao gồm toàn bộ các dân tộc theo đạo Do Thái, đạo Cơ Đốc, đạo Hồi và Ấn Độ giáo), nhưng lại xuất hiện quá ít ỏi trong lịch sử dân tộc Trung Hoa của chúng ta – các nhà sử học nước ta không có kinh nghiệm viết lách về sự thật lịch sử này, cho nên hễ đụng phải nan đề tôn giáo, thường là sẽ đánh trống lảng sang chuyện khác.
Đáng tiếc thay, thứ mà "Thiên vương Hồng" của chúng ta dấy lên lại chính là trò cuồng tín tôn giáo kiểu "Jones và Caesar". Hô vang "Trời xanh đã chết, trời vàng phải lập", Hồng Tú Quàn cũng là một trong những vị thành công nhất trong lịch sử nước ta rồi.
Lại lấy một ví dụ nhỏ: Tại Mỹ hiện nay vẫn tồn tại hợp pháp, hơn nữa còn hoạt động thường xuyên và gây ra biết bao oán hận, một phái nhánh Cơ Đốc giáo cuồng tín khác là "Hội Thống nhất" (Unification Church), giáo chủ của nó là mục sư Văn Tiên Minh (Rev. Sun Myung Moon), chẳng phải cũng từng nói rằng ông ta đã gặp Môi-se, Giê-su, Thích Ca Mâu Ni và Mô-hăm-mét, hơn nữa còn trò chuyện riêng với họ đó sao?
Bạn bảo ông ta đang nói nhảm, thế mà vị mục sư họ Văn người Hàn Quốc này lại có thể chỉ định hàng vạn nam nữ thanh niên Mỹ tiến hành "kết hôn mù" tập thể tại "Quảng trường Madison" (Madison Square Garden) ở thành phố New York. Sau đó ông ta lại đến Hán Thành, Nam Hàn để tổ chức lễ kết hôn mù tập thể, với quy mô còn lớn hơn nữa. Đó là nước Mỹ và Nam Hàn của thập niên 70, 80 thế kỷ XX đấy nhé! Giới trẻ thời đại này có thể nói là thế hệ khó bảo nhất, ít nghe lời cha mẹ, mai mối nhất trong lịch sử muôn đời của nhân loại. Mục sư Văn có phép thuật gì mà có thể chỉ định hàng vạn nam (nữ) thanh niên tổ chức kết hôn mù như vậy? Theo tin tức gần đây, Văn Tiên Minh đã thâm nhập vào Liên Xô, xem ra ông ta lại sắp đến Moskva để tổ chức lễ kết hôn mù của mình rồi.
Đó chính là "tôn giáo" đấy! Một thứ "tôn giáo" mà Mao Trạch Đông, Hitler, Stalin cũng không đấu lại được!
Hiểu được điều này, chúng ta có thể suy ngẫm được hơn một nửa về những gì mà hai vị "Hòa Nãi Sư" là Hồng Tú Quàn và Dương Tú Thanh đã làm hơn một trăm năm trước.
[CHÚ THÍCH] Hòa Nãi Sư: Một chức vụ hoặc danh hiệu tôn giáo mà Dương Tú Thanh sử dụng, cái tên kỳ lạ này thực chất là đem chữ "Tú" trong tên "Hồng Tú Quàn" tách ra, nhưng ý nghĩa không phải là "thầy của Hồng Tú Quàn" hay "quốc sư". Mà có nghĩa là quân sư.
2.3 Văn tài không đủ, tầm mức tôn giáo cũng không cao
Thiên vương Hồng Tú Quàn tuy có một bộ chiêu thức riêng, nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một ông đồ dạy học làng "ba nhà" thời chuyên phong kiến, không có học vấn, lại càng không có văn tài, cho nên ông ta thi rởm ở Quảng Châu mãi không đỗ, không thể thi đậu tú tài.
Quảng Châu xưa nay vẫn là vùng đất hội tụ nhân tài hoa lệ của miền Nam nước ta, thi đỗ tú tài cử nhân ở đó là một việc vô cùng khó khăn. Vị văn sĩ tài hoa lãng tử, kẻ sau này trở thành Hán gian Uông Tinh Vệ, chính là tú tài xuất thân từ khoa thi, viện thi ở Quảng Châu năm xưa. Chúng ta hãy đọc lại những vòm thơ râm ran đầu môi chót lưỡi như "Dẫn đao thành nhất khoái, bất phụ thiếu niên đầu" (Rút đao sảng khoái một phen, không phụ cái đầu tuổi trẻ) trong tập thơ *Song Chiếu Lâu*, rồi lại nhìn lại những câu thơ thô tục của Hồng Tú Quàn như "Thủ trì tam xích định sơn hà, tứ hải vi gia cộng ẩm hòa" (Tay cầm ba thước định sơn hà, bốn biển là nhà cùng uống chén hòa - bài *Kiếm Thi*); hay như "Long tiềm hải giác khủng kinh thiên, tạm thả thâu nhàn dược tại uyên" (Rồng ẩn góc biển sợ kinh động trời, tạm thời trốn nhàn nhảy xuống vực - bài *Long Tiềm*)..., thì có thể biết tại sao Hồng Tú Quàn có thể làm "Thiên vương" mà không thể làm "tú tài".
Mao Trạch Đông cũng là một ông đồ dạy học làng, mấy bài thơ cổ của ông ta như "Hổ cứ long bàn kim thắng tích, thiên phiên địa phúc khái nhi khái" (Hổm ngồi rồng cuộn nay hơn xưa, trời lật đất lật đáng hào hùng), cũng không đủ trôi chảy, thế mà ông đồ họ Hồng còn kém xa ông ta. Văn tài của Hồng Tú Quàn đại khái nằm ở mức giữa Mao Trạch Đông và vợ ông ta. Phu nhân Mao Giang có thơ rằng: "Giang thượng hữu thanh phong, tàng tại vân vụ trung, bình thời khán bất kiến, ngẫu nhi lộ tranh vơng" (Trên sông có đỉnh xanh, giấu trong chòm mây trắng, ngày thường không thấy được, thỉnh thoảng lộ nét oai). Câu này quả thực có thể nói là "có một không hai" với câu "Tạm thả thâu nhàn dược tại uyên" của Thiên vương họ Hồng.
Hồng Tú Quàn tuy không có văn tài, nhưng rõ ràng ông ta có "cảm giác tôn giáo" vô cùng sâu sắc; thậm chí còn sở hữu cái gọi là "đặc dị công năng" đang rùm beng như hiện nay. Cho nên vào năm ông ta hai mươi lăm tuổi, năm 1837 (năm Đạo Quang thứ mười bảy nhà Thanh - năm Đinh Dậu), sau khi dự thi ở Quảng Châu lại một lần nữa trượt, chịu sự kích thích quá độ, cảm giác tôn giáo ẩn khuất và đặc dị công năng tiềm tàng trong người ông ta đã được đánh thức.
Con em nhà nghèo trong thời kỳ đế chế ở nước ta muốn may mắn đỗ đạt khoa bảng, vốn là một sự nghiệp đầu tư của cả nhà, thậm chí của cả họ. Thường là cả nhà dồn hết tài sản ít ỏi và hy vọng chung vào một cậu con trai thông minh. Một khi cậu ta có tên trên bảng vàng, đỗ đạt khoa cử, thì cả nhà cũng được thơm lây "gà chó lên trời". Ngược lại, nếu ở trường thi liên tiếp thất ý, bảng vàng lọt sổ, thì cú đả kích ấy cũng nặng nề đến mức không thể tưởng tượng nổi. Cho nên sau hai lần trượt thi, Tú Quàn trở về nhà ở Hoa Huyện, tâm trạng muốn sống không được, muốn chết chẳng xong ấy, hoàn toàn là điều có thể hiểu được. Ông ta đổ bệnh hơn bốn mươi ngày, trong cơn mê man liền sinh ra cảm ứng thần linh (vision) – ông ta bái kiến một vị "Thượng đế" mặc áo choàng đen, râu vàng, trang nghiêm thành kính. Thượng đế nói Tú Quàn là "con thứ" của ngài; rồi giới thiệu ông ta với "anh cả" Giê-su của mình; đồng thời dặn dò Tú Quàn cầm gươm "xuống trần trừ yêu".
Trải nghiệm khi bệnh của Hồng Tú Quàn này, dưới ngòi bút của các sĩ đại phu truyền thống vốn "không bàn chuyện quái lực loạn thần", đơn giản chỉ là những lời nói nhảm nhí, vô lý hoang đường tột độ. Tương tự như vậy, trong sách của các nhà sử học cách mạng phái hiện đại, cũng cho rằng đây là điều không thể tin nổi, trong mắt họ, Tú Quàn chẳng qua chỉ là "mượn cớ" mê tín để tranh thủ quần chúng công nông tham gia cách mạng mà thôi. Kỳ thực, sự giải thích của hai phái sử gia mới và cũ tuy điên đường nhưng hội tụ một điểm này đối với Hồng Tú Quàn, đều là kết quả của việc ngấm sâu vào một truyền thống văn hóa vô thần, mà không có kinh nghiệm trị sử tôn giáo và thần học – đem một lịch sử tôn giáo hữu thần xử lý thành lịch sử tư tưởng vô thần.
Kỳ thực, trải nghiệm vision (khải thị) này của Tú Quàn, trong bất kỳ xã hội nào có truyền thống tôn giáo, đều là chuyện như cơm bữa. Các tác giả chuyên nghiên cứu lịch sử tôn giáo hoặc thần học, còn chia những hiện tượng linh dị này thành mấy loại. Những người nhận được "chiếu chỉ" của thần linh trong cơn mê man, sau khi tỉnh lại vẫn còn nhớ như in, có thể tuân theo "chiếu" để hành sự hoặc truyền lời, thường đều được xếp vào loại "tiên tri" (prophet). Còn như một số người trong trạng thái mê man, có thể truyền lời cho quỷ thần (thường dùng thể thơ vinh, ca dao), mà sau khi tỉnh lại bản thân hoàn toàn không biết gì sệt, người phương Tây gọi là "vu sư" (shaman). Kỳ thực, sự khác biệt giữa "tiên tri" và "vu sư" chỉ là cách thức truyền lời cho quỷ thần khác nhau mà thôi. Dĩ nhiên tiên tri và vu sư cũng đều có sự khác biệt giữa thật và giả. Hàng thật giá thật thì quả thực có điểm "linh dị" (miracle); còn đồ giả thì chẳng qua chỉ là một lũ "pháp sư" (magician) mà thôi.
Chiếu theo cách phân loại trên. Hồng Tú Quàn (nếu những gì nói là sự thật) thì nên được xếp vào hàng "tiên tri". Những bậc đại diện cho tiên tri như Môi-se, Giê-su, Mô-hăm-mét đều là như vậy. Mô-hăm-mét vốn là một kẻ mù chữ. Nghe nói cuốn *Kinh Qur'an* của ông ta, chính là thánh ý của "Thượng đế" (Allah), thông qua lời kể của Mô-hăm-mét, được người vợ góa giàu có có văn hóa, lớn tuổi hơn chồng đến mười mấy tuổi của Mô-hăm-mét chép lại một mạch – tin hay không tùy bạn.
"Mười điều răn" của Môi-se và Kinh Thánh (The Holy Scriptures) của Giê-su thì đương nhiên lại càng xuất phát trực tiếp từ miệng Thượng đế rồi. Ba vị kể trên đều là siêu "Đấng Mêsia" (Messiah) truyền lời cho Thượng đế trong lịch sử tôn giáo và thần học phương Tây. Kém hơn một bậc, thì có các "thánh đồ" (saints) của các giáo phái và những "giáo chủ" (cult leaders) có nguy cơ tẩu hỏa nhập ma. Vị "Đấng Mêsia", "Thiên vương Hồng Tú Quàn" – người tự xưng là "con của Thượng đế", "em của Giê-su", nhận lệnh xuống trần, cứu thế trừ yêu của chúng ta, với vị "Đấng Mêsia", "Caesar Jones" – kẻ tự xưng là "Thượng đế", "hóa thân của Giê-su" gần đây, xuống trần đánh đổ chủ nghĩa tư bản, thực hiện chủ nghĩa xã hội, thực ra thuộc cùng một loại "giáo chủ". Cả hai người bọn họ trong lịch sử tôn giáo, đều thuộc về cái bậc thấp tẩu hỏa nhập ma đó.
Dương Tú Thanh và Tiêu Triều Quý có lẽ thuộc về hình thái shaman (vu sư, đồng cốt) phía sau. Cả hai người bọn họ đều trong "trạng thái mê man" (ecstatic trance), đánh mất bản tính (ego). Dương thì có "Thiên phụ (Thượng đế) nhập xác", Tiêu thì có "Thiên huynh (Giê-su) nhập xác", mỗi người thay mặt Thượng đế và Giê-su "giống trần" truyền lời, phát lệnh. Cứ như thế, hai người bọn họ mượn danh Thiên phụ, Thiên huynh truyền thánh chỉ, thì "Thiên vương" – kẻ đứng ở ngôi vị thứ ba xếp sau cha và anh – cũng đành phải cúi đầu nghe chiếu chỉ.
Dương và Tiêu vốn đều là đệ tử của Hồng Tú Quàn, trong bầu không khí cuồng tín tôn giáo đó, có lẽ đều đã biến thành những "đứa đồng cốt". Chuyện này đều xảy ra vào mùa xuân và mùa thu năm 1848, tức là đều trước khi họ liên thủ nổi dậy. Hồng Tú Quàn đã tin vào sự "linh dị" của chính mình, thì ông ta đối với việc Dương và Tiêu "thần linh nhập xác" có lẽ cũng là thật lòng tin tưởng; mà trò "thần linh nhập xác" này vốn cực kỳ thịnh hành ở nông thôn Trung Quốc, tình hình thần bí của nó thường khiến người ta không thể không tin. Thần tích của hai người Dương và Tiêu, có lẽ trong giai đoạn đầu cũng không phải là màn biểu diễn ảo thuật. Thế nhưng sau khi họ đánh chiếm được Nam Kinh, "Thiên phụ" vẫn mượn lời của Tú Thanh để "ép phong vạn tuế" cho Đông vương đối với Thiên vương, lại còn lấy cớ đánh roi phạt Thiên vương, đánh vào mông Thiên vương, đoạn câu chuyện dài đó có phải là "mượn cớ" hay không, lại là một vấn đề khác.
2.4 "Yêu thuật hoặc chúng" và "tụ chúng gây sự"
Việc Hồng Tú Quàn sở hữu một số "đặc dị công năng" dường như cũng là sự thật. Ông ta và mục sư Jones có khả năng chữa bệnh kỳ lạ, thậm chí là y sĩ Giê-su trong *Kinh Thánh Tân Ước*, quả thực có điểm tương đồng. Theo tư liệu từ phía Thái Bình Thiên Quốc, thì Tú Quàn quả thực có bản lĩnh "khiến người câm mở miệng, các chứng bệnh quái ác phong hàn liệt bại, hễ tin là khỏi ngay" (xem *Hồng Nhân Càn Tự thuật*). Tư liệu từ phía nhà Thanh cũng có ghi chép câu chuyện "vợ của Vi [Xương Huy] bệnh nguy kịch, dùng thuốc không khỏi, Hồng nghịch chữa cho là khỏi ngay" (xem *Việt Khẩu Khởi Sự Ký Thực* do Bán Sư Cư Sĩ soạn).
Những pháp thuật này của họ Hồng, nếu đối chiếu với các "khí công sư", "châm cứu sư" đang thịnh hành ở hai bờ eo biển trong những năm gần đây, cũng như màn biểu diễn chữa bệnh của "Yoga sư" Ấn Độ từng có lúc thịnh hành ở Mỹ, thì có lẽ đều là sự thật. Mấy năm trước có một Yoga sư biểu diễn uống nước dung dịch axit nitric, nhai chai thủy tinh và các tuyệt chiêu khác ở New York, giữa đám đông khán giả lại có cả người từng đoạt giải Nobel Vật lý thừa nhận ông ta là "sự thách thức công khai đối với khoa học" (an open challenge to science). Các nhà khoa học đẳng cấp thế giới hạng nhất thế kỷ XX còn như thế, huống chi là những người nông dân nghèo đói tầng lớp đáy ở nông thôn Đại Thanh quốc sống nơi xó vườn góc chợ thế kỷ XIX.
Đã có tuyệt kỹ này theo mình, cho nên vào năm ba mươi mốt tuổi (1843), sau khi trượt thi lần thứ ba ở Quảng Châu, Tú Quàn đã từ bỏ công danh để chuyên tâm vào việc làm tôn giáo của mình. Quả nhiên thi cử thất ý, nhưng trường giáo lại đắc ý. Sau khi ông ta và Phùng Vân Sơn tổ chức "Bái Thượng đế hội" tại núi Tử Kinh, Quế Bình, Quảng Tây, chưa đầy một năm mà người đi theo đã đông như mây, xa gần đều kéo về quy tụ.
[CHÚ THÍCH] Kỳ (jī): Chỉ thời gian quay vòng lặp lại.
Vốn dĩ việc tổ chức quần chúng ở nông thôn, trong bất kỳ triều đại nào ở Trung Quốc (bao gồm cả hai đảng Quốc, Cộng) đều là điều quan phủ không cho phép. Quý vị không thấy ngày nay trong triều, Đặng Tiểu Bình cùng tám vị lão gia đang phải nhờ cậy khí công sư để dưỡng sinh, bảo toàn tính mạng đó sao? Thế nhưng đối với các tổ chức khí công dân gian đang nổi lên cuồn cuộn, bọn họ ngay lập tức sẽ ban hành lệnh cấm. "Khí công" có hại gì đâu? "Tụ chúng" mới là phạm pháp. Bởi vì trong truyền thống của Trung Quốc từ "thiên hạ của nhà" đến "thiên hạ của đảng", việc "tụ chúng" ắt sẽ dẫn đến "gây sự". Gây sự ở mức độ nhỏ, thì không tránh khỏi việc hỗn chiến tập thể, đánh nhà cướp của, cướp của người giàu cứu người nghèo, ăn cướp nhà hào phú, cướp kho lúa, giết quan lại sĩ phu, náo động học đường... thậm chí là có oan báo oan, có thù báo thù. Quan phủ để phòng ngừa từ trước khi sự việc xảy ra, cho nên mới nghiêm khắc ban hành lệnh cấm tụ chúng gây sự. Lệnh văn không cấm được, thì dùng vũ lực trấn áp. Có súng máy, có xe tăng. Giết cho ra một con đường máu, thì kẻ gây sự sẽ tan tác như chim muông, chờ cơ hội tụ tập lại. Không có súng máy, không có xe tăng, lại không có cách chiêu an, thì sẽ giương cờ khởi nghĩa, giết quan lại, chiếm thành trì, xưng vương xưng bá.
2.5 "Ba bài văn mẫu" của Hồng Tú Quàn
Hơn nữa, vị đại vương mặc áo dài đen, để râu vàng ngang ngực cùng với con trai của ông ta mà Hồng Tú Quàn nhìn thấy khi "thăng thiên" vào năm Đinh Dậu (1837), rất có thể chính là Bao Công trong tiểu thuyết *Ô bồn ký* nước ta, hoặc Quan Vân Khương cùng con trai ông ta là Quan Bình hoặc Quan Hưng trong *Tam quốc diễn nghĩa* – Tú Quàn là một tú tài trượt thi, lúc bấy giờ cũng không biết đó là vị thứ mấy.
Đến khi ông ta lật giở lại cuốn *Khuyến thế lương ngôn* do Lương Phát soạn mà mình đã sưu tầm từ sáu năm trước, mới chợt bừng tỉnh đại ngộ, hóa ra vị đại thần này chính là "Thượng đế" trong sách của Lương Phát; con trai của vị đại thần đó hóa ra chính là Giê-su. Đáng thương cho vị đồ dạy học họ Hồng của chúng ta lúc bấy giờ vẫn chưa đọc qua *Kinh Thánh*, không biết rằng Thượng đế là "vô hình vô thể", cũng không biết rằng Giê-su là "con độc sinh" của Thượng đế. Thế nhưng Hồng thị rõ ràng có sự tự tin đầy đủ, ông ta từng lên "thiên đường", từng gặp "Thượng đế", hơn nữa Thượng đế còn giới thiệu cho ông ta gặp "con cả" Giê-su của ngài. Cho nên sau khi đọc qua *Tân Cổ di chiếu thư* (Tân Cổ Ước), Hồng thị cho rằng sách *Kinh Thánh* ghi chép có sai sót, bèn lấy thân phận là con thứ của Thượng đế, sửa đổi hơn bảy mươi điều trong sách *Kinh Thánh*. Khi các nhà truyền giáo người Âu Mỹ ở Trung Quốc nghe tin náo động cả lên, vị Thái tử thứ hai họ Hồng này còn hạ chiếu thân chinh, khẩu chiến bút chiến một trận tơi bời với họ. Ông ta cho rằng đám mũi lõ này chỉ biết một mà không biết hai... các người đều chưa từng lên thiên đường, sao biết được chuyện trong thiên đường chứ? Thật nên ngậm cái mỏ chim lại... Đây là chuyện sau này, phần sau sẽ kể chi tiết.
Tóm lại, sau khi "thăng thiên" ngộ đạo, Hồng thị đã trở thành một tín đồ Cơ Đốc giáo kiên thành và cuồng tín, đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Cho đến khi ông ta cùng người bạn thân, cũng là tín đồ đầu tiên của mình là Phùng Vân Sơn, tổ chức ra "Bái Thượng đế hội", rồi quyết định làm một nhà truyền giáo chuyên nghiệp suốt đời, cũng có thể coi là điều thuận lý thành chương.
Tuy nhiên, vào thuở ban đầu truyền đạo của Hồng và Phùng, những gì họ truyền ở Quảng Tây đại khái cũng chỉ là một thứ "nhất thần giáo" (monotheism) vô cùng nguyên thủy – chỉ thờ "vùng chân thần duy nhất", không thờ "tà thần". Thế nhưng khi Hồng thị trở về phương Đông ở Hoa Huyện vào cuối năm 1844 để tiếp tục sự nghiệp dạy học của mình, tư tưởng và lý luận tôn giáo của ông ta ngày càng trở nên tinh vi hơn. Nghe nói trong hai năm sau đó (1845–1846), ông ta vậy mà đã viết tới "hơn năm mươi quyển" thơ ca khuyên đời. Ba bài tinh phẩm của ông ta, chúng ta cũng có thể gọi là "ba bài văn mẫu của Hồng Tú Quàn" vậy! Chúng là:
*Nguyên đạo cứu thế ca*
*Nguyên đạo tỉnh thế huấn*
*Nguyên đạo giác thế huấn*
Dù đã viết nhiều như vậy, Tú Quàn rõ ràng vẫn cho rằng mình ngộ đạo chưa sâu. Cho nên vào năm 1847, ông ta lại đến Quảng Châu, học hỏi thêm ba tháng nữa tại chỗ nhà truyền giáo Hội Báp-tít người Mỹ Lương Hiếu Tuyền (Issachar J. Roberts). Đáng tiếc là họ Lương lại là một kẻ đầu óc cứng nhắc, lỗ mãng, các tín đồ gốc Hoa do ông ta thuê mướn lại vô cùng ghen ghét Hồng, khiến Tú Quàn không thể toại nguyện "làm lễ rửa tội" mà phải quay về Quảng Tây, tiếp tục dùng ba bài văn mẫu về nguyên đạo của mình để truyền giáo.
Tác giả đọc kỹ các tác phẩm tôn giáo của Tú Quàn lúc bấy giờ, đặc biệt là ba bài văn mẫu kể trên, cảm thấy chúng không thể xem thường. Ngược lại, tôi còn cảm thấy chúng là một cột mốc to lớn trong "lịch sử tôn giáo Trung Quốc". – Ba tác phẩm chấn động đinh tai nhức óc.
Lý do là thế này:
"Văn hóa dân tộc Trung Hoa" của chúng ta, vốn đã có lịch sử hơn ba nghìn năm này, kể từ sau khi Khổng Tử đề xướng tư tưởng "không bàn về quái lực loạn thần" và "kính quỷ thần mà xa lánh", chúng ta vốn là một dân tộc mang tiếng là không có tôn giáo. Kỳ thực không phải vậy. Từ thời "người nhà Ân thích quỷ thần", đến Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Tiếu thích "phương sĩ", cho đến những nhà sư đạo sĩ cầu thần bái Phật trong xã hội sau này, tín ngưỡng tôn giáo thế tục của chúng ta đã chìm sâu vào một thứ "phiếm thần luận" (Pantheism) cấp độ rất thấp; cũng có thể nói là mê tín cấp độ thấp, nhưng lại thực sự chi phối đời sống xã hội của chúng ta, đặc biệt là đời sống xã hội tầng lớp trung lưu và hạ lưu. (Phật học siêu nhiên ngoại vật, đương nhiên xin phép bàn sau. Nhưng "Phật học" thực sự không có mối liên hệ quá lớn với đời sống xã hội của chúng ta).
Không có một tôn giáo nhất thần giáo cao cấp nào làm chủ đạo, xã hội chúng ta do đó khắp nơi đều là quỷ thần. Các sĩ đại phu Nho gia "kính quỷ thần mà xa lánh", thế nhưng quỷ thần không buông tha cho họ, mà họ cũng không thể "xa lánh" được quỷ thần. Phật giáo vốn là một tôn giáo "vô thần", trong tác dụng xã hội, cũng bị kéo xuống nước, giống như Đạo giáo, khiến cho khắp nơi đều là quỷ, không thể phân thân ra được.
Thế nhưng bây giờ thì tốt rồi, vị chúa tể duy nhất của vạn vật trên thế giới "Thiên phụ Thượng chủ Hoàng thượng đế", đột nhiên phái "con thứ" của mình xuống trần làm một đấng Mêsia phương Đông. Ông ta muốn cấm tuyệt mọi "tà thần", độc tôn "Thượng đế" – kéo dân tộc Trung Hoa "thoát khỏi" cái hố lửa mê tín phiếm thần luận. Đây chính là ý nghĩa tinh túy trong ba bài văn mẫu của Hồng Tú Quàn.
Dưới triều đại của Thiên vương họ Hồng, toàn thể bách tính trong nước chỉ được phép thờ một vị "chân thần" là Thượng đế, còn tất cả những vị khác như Thái Thượng Lão Quân, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thích Ca Mâu Ni, Ly Sơn Lão Mẫu, Thành Hoàng Thổ Địa, Nhạc Vương Quan Vương, Táo thần Môn thần, Long vương Diêm vương, Ngưu đầu Mã diện, Tống tử Quan âm, Tài thần Bồ tát, Hồ tiên Thủy quỷ, Sơn tinh Hà bá... cho đến những người xem bói toán mệnh, phong thủy địa lý, âm dương ngũ hành, tam giáo cửu lưu... tóm lại, ngoại trừ "Thượng đế", tất cả mọi yêu ma quỷ quái, đều nằm trong danh sách cấm tuyệt!
Ba bài văn mẫu này của Hồng thị tuy chưa vượt ra khỏi phạm vi "Mười điều răn" của Môi-se (xem *Cựu Ước - Xuất Ai Cập ký*), nhưng nó là phiên bản "Trung Quốc hóa" của "Mười điều răn". Trong "thiên điều" này của ông ta có chứa đựng tính "nguyên thủy" của tôn giáo; cảm giác tôn giáo phong phú mà nó sở hữu cũng vô cùng đanh thép hùng hồn.
Các nhà sử học Nho tông truyền thống của nước ta (như Giáo sư Tiền Mục vừa mới qua đời), lại cười vào mặt nó (xem sách *Quốc sử đại cương* của Tiền Mục, trang 634), còn các nhà sử học cách mạng cánh tả thì cho rằng nó là "mượn cớ tôn giáo" để kích động quần chúng, đều là những thành kiến chỉ biết một mà không biết hai. – Ba bài văn mẫu của Hồng thị, trên thực tế chính là cột mốc trong lịch sử tôn giáo Trung Quốc từ phiếm thần chuyển sang nhất thần. Là một tuyên ngôn cách mạng cải cách tôn giáo; đồng thời cũng là một quy phạm đạo đức, nó cấm tuyệt cả chuyện hút thuốc uống rượu, mua vui cờ bạc.
Các nhà nghiên cứu kinh Qur'an chuyên nghiên cứu "thần học Hồi giáo" (Muslim theology) cho rằng việc tiên sinh Mô-hăm-mét hạ thế là do Thượng đế phái ông đến để biến đổi dân tộc Ả Rập từ "phiếm thần" sang vị cứu thế của "chân thần duy nhất" – giống như cách Môi-se cảm hóa người Do Thái; Giê-su cảm hóa người da trắng châu Âu vậy. Suy luận tương tự theo lý lẽ đó, thì Hồng Tú Quàn chính là Mô-hăm-mét của người da vàng. Đáng tiếc là "Tăng yêu" mà Hồng Tú Quàn gặp phải lại cường đại hơn rất nhiều so với những kẻ dị giáo mà Mô-hăm-mét gặp ở Mecca năm xưa, cho nên "Thái Bình Thiên Quốc" không được may mắn như "Đế quốc" Ottoman.
[CHÚ THÍCH] Đế quốc Ottoman: Tức là đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ.
2.6 "Có cắt hay không cắt, ai mà chẳng do Thượng đế sinh ra"
Một số nhà sử học Thái Bình cho rằng Tú Quàn trước khi học đạo với nhà truyền giáo người Mỹ Lương Hiếu Tuyền vào năm 1847, vẫn chưa từng đọc qua "Tân Cổ Ước". Điểm này tác giả cũng khó mà đồng tình. Khỏi phải nói đến ba bài văn mẫu nói trên (các tác phẩm của Tú Quàn năm 1845, 1846), nếu không có nền tảng Tân Cổ Ước thì không thể viết ra được. Tôi vẫn nhớ vào đầu những năm 50, khi tham gia kế hoạch dịch thuật sử liệu Thái Bình Thiên Quốc do Đại học Columbia biên soạn, trong bài thơ *Ấu học thi* của Thái Bình, tôi từng bắt gặp câu thơ "Có cắt hay không cắt, ai mà chẳng do Thượng đế sinh ra". Không hiểu ý nghĩa gì. Tra lại bản *Ấu học thi* khác (đăng trong *Thái Bình Thiên Quốc thi văn sao*, cuốn sách đó có), thì lại đổi thành "Có biết hay không biết". Lúc bấy giờ khi dịch, lẽ ra tôi có thể chọn cách dễ bỏ qua cái khó, nhưng tự cảm thấy chữ "cắt" mới là nguyên văn, còn chữ "chữ" là tự ý sửa đổi. Trải qua bao nhiêu trắc trở, cuối cùng tôi mới dịch chữ "cắt" thành (circumcise).
Bởi vì trong phong tục tập quán xã hội của người Do Thái cổ đại, việc nam giới cắt bỏ lớp da quy đầu ở bộ phận sinh dục trong "thời kỳ thơ ấu" hoặc "trước khi kết hôn", thực ra là một đại lễ tôn giáo vô cùng trọng đại. Cho nên trong "Do Thái giáo" (Judaism), "có cắt" và "không cắt" vốn là hai loại người khác nhau; nam giới chưa trải qua "đại lễ cắt da quy đầu" do "mười lăm luật của Môi-se" quy định, thì rất khó trở thành "dân được Thượng đế lựa chọn".
*Ấu học thi* là một tài liệu thời kỳ đầu của Thái Bình Thiên Quốc. Trong thơ thể hiện quan niệm đạo đức Nho gia đậm đặc. Chẳng hạn như đoạn vịnh "Đạo vợ" nói rằng: "Đạo vợ ở tam mươi, không trái lời chồng ngươi, mái gà mà gáy sớm, tự rước khổ gia đạo." Thứ mà nó nhấn mạnh vẫn là "tam tòng tứ đức" và chủ nghĩa đại nam nhân của Nho gia. Thế nhưng trong giáo lý Cơ Đốc giáo, nó đã khá sâu sắc rồi – giáo lý Cơ Đốc giáo không kỳ thị "dân không cắt". Cho nên trước khi gặp Lương Hiếu Tuyền, Tú Quàn từ lâu đã học được rất nhiều giáo lý cổ quái trong tôn giáo phương Tây rồi.
2.7 "Thái Bình Thiên Quốc" là một danh từ tôn giáo
Cho nên tác giả không tự lượng sức mình, cho rằng các vị lãnh đạo Thái Bình, đặc biệt là Hồng Tú Quàn, cơ bản chính là một giáo chủ cuồng tín mắc chứng cuồng tín tôn giáo, và Jim Jones là nhân vật cùng một loại. Thứ mà Jones theo đuổi cũng là một "Thiên quốc" – một cuộc sống tôn giáo cộng sản chủ nghĩa tự do tự tại, không bị sự can thiệp của quyền lực thế tục, do ông ta và các tín đồ cùng nhau trải qua – cuộc sống ở "Jones Town".
Thứ mà Hồng Tú Quàn và Phùng Vân Sơn theo đuổi trong giai đoạn đầu rõ ràng cũng chỉ là một "Jones Town" hoặc "Tú Quàn Town". Cho nên ngay khi vừa đến núi Tử Kinh, hai người bọn họ đã viết "tấu chương", cầu xin "Thiên phụ thượng chủ hoàng thượng đế, xin hãy chọn nơi hiểm trở kiên cố để cho chúng con dung thân" (xem *Thái Bình thiên nhật*). Họ không hề có chí lớn tranh giành thiên hạ với hoàng đế nhà Mãn Châu.
Sau đó Dương Tú Thanh và đồng bọn gia nhập Bái Thượng đế hội, muốn thiết lập một "thiên đường nhỏ", có lẽ vẫn là ý này. Tuy nhiên cổ ngữ có câu: "Trên có thiên đường, dưới có Tô Hàng." Nhắc đến việc xây dựng một "thiên đường nhỏ" tột cùng nghèo nàn rặt lụa là, "nam mặc long bào nữ cài hoa" ở nhân gian, họ có lẽ bắt đầu khao khát vùng tam giác vàng Tô Hàng Ninh này rồi. – "Thiên đường nhỏ" rốt cuộc không phải là "đại đế quốc". Thứ mà họ tưởng tượng chỉ là một Thiên quốc thái bình kiểu "Jones Town" mà thôi.
Cho nên cái quốc hiệu "Thái Bình Thiên Quốc" này ban đầu thực ra chỉ là một "thiên đường nhỏ" trong giấc mơ, một danh từ tôn giáo mà thôi. Danh từ này có lẽ đã xuất hiện từ rất lâu trước khi Thiên vương đăng cơ.
2.8 "Đoàn doanh" ở Kim Điền là chuyện thế nào?
Hãy xem "Cuộc khởi nghĩa Kim Điền" nổi đình nổi đám trong sách sử cận đại nước ta. Theo bản "cung trạng" tự viết trước khi chịu chết của Trung vương Lý Hố Thành: Lúc khởi sự của quân Thái Bình, ngoài Hồng Tú Quàn ra, chỉ có "sáu người" gồm Dương Tú Thanh, Tiêu Triều Quý, Phùng Vân Sơn, Vi Xương Huy, Thạch Đạt Khai, Tần Nhật Xương là "nắm rõ chuyện Thiên vương muốn lập giang sơn". Còn các cán bộ khác và hội chúng bình thường thì hoàn toàn không hay biết gì sệt.
Đã thế hàng ngàn hội chúng phụng mệnh giáo chủ tề tựu tại thôn Kim Điền để "đoàn doanh" mà lại không biết mục đích của đoàn doanh là gì, thì đoàn doanh trong tâm trí hội chúng thực ra chỉ là một hoạt động tôn giáo mà thôi. Kỳ thực lời của Lý Hố Thành là nói sau sự việc. Vào thời điểm "đoàn doanh Kim Điền", dẫu là bảy vị khai quốc công thần bọn họ, cũng chưa chắc đã có chí lớn mượn thế làm phản đánh thiên hạ này. Đoàn doanh vốn là một hoạt động tôn giáo, sự phát triển sau khi đoàn doanh chẳng qua chỉ là thuận nước đẩy thuyền từng bước bị ép lên lương sơn mà thôi.
Thế nhưng sau đoàn doanh, lại từng bước làm phản như thế nào?
Hóa ra tỉnh Quảng Tây vào những năm 40 thế kỷ trước, nghèo nông, giáo phái (như "Thiên Địa Hội", "Tam Hợp Hội") hỗn chiến thành thói quen, tụ chúng gây sự, từ lâu đã khiến cho toàn tỉnh náo loạn cả lên. Phân khu hành chính của tỉnh Quảng Tây thời Thanh vốn chia thành "mười một phủ" và một số "châu", "sảnh". Trước cuộc khởi nghĩa Kim Điền của Hồng và Dương, theo báo cáo từ sách quan phương nhà Thanh, những vụ bạo loạn cướp nhà cướp của, giết quan lại sĩ phu, chiếm thành trì này đã lan rộng khắp "năm phủ một châu", thậm chí là "bảy phủ một châu" (xem *Khâm định tiễu bình Việt phỉ phương lược*).
Các quan lại địa phương như tuần phủ Trịnh Tổ Sâm bất lực trong việc ứng phó, đành phải giấu giếm "tình hình giặc", tìm cách chiêu an. Nào ngờ càng chiêu an càng dữ dội – lúc này quần chúng bạo động vũ trang từ lâu đã không coi quan phủ ra gì.
Triều đình nhà Thanh nhận được tin, bất đắc dĩ bấy giờ mới trọng dụng viên quan năng động Lâm Tắc Từ, đồng thời điều động binh lính từ các tỉnh. Tỉnh An Huy quê mẹ của tôi cũng bị điều đi một nghìn người. Tinh binh tề tựu bốn phương, quan phủ bấy giờ mới quyết định dùng vũ lực trấn áp. Sau khi Lâm Tắc Từ không may qua đời trên đường đi, triều đình nhà Thanh bèn chọn các đại thần khác để thay thế, từ đó mới có Lý Tinh Nguyên, tiếp theo là Tái Thượng A, mang chức hiệu "Khâm sai đại thần" đi Quảng Tây. Sau đó lại thăng bố chính sứ Lao Sùng Quang thay Trịnh Tổ Sâm làm tuần phủ Quảng Tây, phối hợp với đề đốc Hướng Vinh, nghiêm túc đốc thúc tiễu trừ. Mục tiêu ban đầu của họ vốn là "giặc giáo" nghiêm trọng hơn như "Tam Hợp Hội", "Thiên Địa Hội". Đặc biệt là thủ lĩnh Thiên Địa Hội Trần Á Quế (Quý), Dương Lao Gia, Từ Á Minh – những kẻ đã chiếm giữ thành huyện. Theo *Tương quân ký* do Vương Định An soạn ghi chép lại: "Lúc bấy giờ giặc Việt hơn hai mươi băng nhóm, phần lớn đều bị Lao Sùng Quang tiêu diệt, chỉ có nhóm Tú Quàn là còn tồn tại" vân vân, cũng quả thực là tình hình thực tế lúc bấy giờ – quan phủ lúc bấy giờ vốn không xem việc "tụ chúng gây sự" của vị tú tài trượt thi "Hồng Tú Quàn" ra gì. Thế nhưng cho đến khi các băng nhóm khác lần lượt tan rã, "giặc địch lẻ tẻ" bốn phương không có chỗ dung thân, bèn lần lượt đầu quân về phía họ Hồng. Những nhân vật nổi cộm như thủ lĩnh Thiên Địa Hội ở Bình Nam là La Đại Cương đầu quân cho Hồng, chính là một ví dụ. Hào kiệt bốn phương kéo về quy tụ, Tú Quàn thế lực ngày càng lớn, quan quân lúc bấy giờ mới bắt đầu đàn áp Hồng, nào ngờ sau vài lần giao chiến ở Kim Điền, Giang Khẩu, quan quân liên tiếp thất bại, bấy giờ mới biết mình mắt mù không nhận ra thái sơn – sự hung hãn của nhóm Tú Quàn này thực ra vượt xa những kẻ như Trần Á Quế. Sự nhút nhát vô dụng của quan quân, cùng với sự anh dũng khi lâm trận của hội đảng, đã cổ vũ rất lớn cho đảng vũ của Tú Quàn, bọn họ lại càng không coi quan quân ra gì, mà mưu tính chuyện lớn.
[CHÚ THÍCH] Tên thật của Trần Á Quế là "Á Quế", giống như Tôn Trung Sơn tên thật là Tôn Văn, sách quan phương nhà Thanh phần lớn viết thành "Tôn Vấn", để thể hiện sự chê bai miệt thị.
[CHÚ THÍCH] Nhút nhát (wèixǐ): Sợ hãi, sợ sệt.
Cho nên cái gọi là "Khởi nghĩa Kim Điền" ấy. Trên thực tế chỉ là hình thế khách quan, tích lũy dần dà mà thành. Một mặt là đại quân nhân dân nghèo khổ đang tiến hành một hoạt động tôn giáo cuồng tín. Người đông thế lớn, khó tránh khỏi sẽ có những hành vi cực đoan như cướp của nhà giàu cứu người nghèo, ăn cướp nhà hào phú, chống đối quan quân. Mặt khác lại là một chính quyền chuyên chế hủ hóa. Nó cho rằng nhóm người này u mê tin theo tà giáo, tụ chúng gây sự, không coi quan phủ ra gì, cần phải điều động cảnh sát quân đội đến trấn áp. Xung đột giữa hai bên đã diễn ra từ lâu. Chỉ là vào đầu tháng Chạp năm 1850 (năm Đạo Quang thứ ba nghìn), trong một hành động phản đàn áp quy mô lớn, đã đánh chết phó tướng triều đình Y Khắc Đàm Bố, đồng thời làm bị thương và giết chết ba trăm quan quân. Cơn này khiến lòng tin của quần chúng cách mạng tăng vọt, bèn mượn dịp mừng sinh nhật lần thứ 38 của giáo chủ (ngày mùng 10 tháng Chạp năm Đạo Quang thứ ba mươi - ngày 11 tháng 1 năm 1851), làm một trận "Cung chúc vạn thọ khởi nghĩa" (lời của Hồng Nhân Càn), ăn mừng một trận. – Cái gọi là "vạn thọ khởi nghĩa" thực ra cũng là được truy phong sau sự kiện.
Hồng Tú Quàn với tư cách là giáo chủ cũng nhân hứng thú viết ra "Năm điều kỷ luật", nào là tuân thủ điều lệnh, nam nữ phân biệt, không phạm chút lông tơ, lòng công dung hòa (tiếng Quảng Đông là hòa thuận), đồng tâm hiệp lực, làm sự chuẩn bị để giao chiến lần nữa với quan quân, chỉ có thế mà thôi.
[CHÚ THÍCH] Nã (nuó): (1) Tư thế đi đứng mềm mại, uyển chuyển; (2) Nghi lễ xua đuổi quỷ dịch trong tháng Chạp thời cổ đại - múa nã. Nã kịch (một trong các loại hình kịch địa phương của Trung Quốc, diễn viên đeo mặt nạ gỗ, phần lớn dùng các động tác quy thức lặp lại, biên độ lớn để thể hiện việc thỉnh thần xua tà, cầu phúc và các câu chuyện chiến đấu đơn giản). Nã thần (thần linh xua đuổi ôn dịch trong truyền thuyết).
Hồng Tú Quàn là một nhà văn đa tài, cũng là một giáo chủ thích viết "chiếu dụ". Thế nhưng trong khoảng thời gian gọi là "Khởi nghĩa Kim Điền" này, lại không hề lưu lại bất kỳ văn bản nào kiểu chiếu, dụ cả. Cho nên cái danh hiệu vinh quang gọi là "Khởi nghĩa Kim Điền" này thực ra là do nhóm người Hồng và Dương sau khi đánh chiếm được nửa giang sơn mới quay đầu truy phong lại. Tình huống của nó có lẽ giống như "Ngày Kiến quân tiết (Ngày kiến quân)" của ĐCSTQ ngày nay. – Ngày 1 tháng 8 năm 1927, Hạ Long và Diệp Đình "bạo động" ở Nam Xương, phản lại Quốc Dân Cách Mạng Quân của Quốc Dân Đảng. Ai mà ngờ được hơn hai mươi năm sau, nó lại được phong là ngày kỷ niệm thành lập Quân Giải phóng Nhân dân cơ chứ?
[CHÚ THÍCH] Chiếu: Giống chữ "chiếu", chữ do Võ Tự Thiên tạo ra cho tên của mình.
Vì "Khởi nghĩa Kim Điền" không có địa điểm chính xác, cũng không có ngày tháng chính xác, lại không có một văn kiện chính thức nào. Cho nên nó trông không giống như một hành động phát nạn cách mạng có kế hoạch. Hồng Nhân Càn thuật lại sau sự kiện rằng: "Vốn không muốn làm phản, ngặt vì quan binh bức hại, bất đắc dĩ mới chống lại." Tôi nghĩ câu này đại khái là có thể tin được.
Tóm lại, đoàn doanh Kim Điền, cho đến việc phân chia nam nữ, chế độ "Thánh khố" của công hữu tài sản sau này, đều có điểm vô cùng tương đồng với cơn cuồng tín tôn giáo kiểu Jim Jones xảy ra ở châu Mỹ những năm gần đây. Chỉ là môi trường khách quan khác nhau, khiến cho bọn họ mỗi người đi một con đường mà thôi.
2.9 "Thủy An phong vương" cũng mang tính tôn giáo
Mùa xuân năm 1851, sau khi Hồng - Dương khởi nghĩa ở Kim Điền, đôi bên giằng co với quan quân triều đình Thanh ở các vùng Quế Bình, Vũ Tuyên, Tượng Sào huyện (Xã Tượng) suốt mấy tháng trời. Biểu hiện của quan quân trong giai đoạn này thực sự quá vô dụng, mà lúc bấy giờ lòng người lại đang chộn rộn có ý muốn làm loạn, lực lượng bị Thái Bình quân ép buộc gia nhập ngày càng lớn, đánh càng thêm dũng mãnh. Sức nóng tôn giáo càng sục sôi, "càng trời giá rét, càng cởi áo", đơn giản là đã đến cảnh giới phát cuồng. Ngày 23 tháng 3 (ngày 21 tháng 2 âm lịch), Hồng Tú Tuyền lại cùng thiên huynh Giê-su "lên ngôi" ngay tại trấn Đông Hương, huyện Vũ Tuyên, tự phong là "Thiên vương", tự xưng là "Trẫm", quần thần đối với Thiên vương thì gọi là "Chúa".
Ngày 25 tháng 9 cùng năm, Thiên vương bèn dẫn đám đông chiếm lấy thành Vĩnh An Châu (nay là trị sở huyện Mông Sơn), chiếm giữ liền mấy tháng trời. Sự thất thủ của Vĩnh An đủ khiến triều đình Bắc Kinh chấn động. Triều đình trong lúc trừng phạt nặng nề sự thất chức của quan lại vùng biên giới, lại càng điều động đại quân đến vây quét.
Hồng - Dương đã chiếm Vĩnh An, bản thân cũng thừa nhận "cưỡi lưng cọp khó xuống" (lời Dương Tú Cửu). Đã không làm thì thôi, một khi đã làm thì làm cho tới, bèn dần biến tôn giáo thành chính trị, tổ chức lại quân đội, biên soạn lại hội chúng, để đối phó với cục diện không thể tự kết thúc này, thế là có động thái "Phong vương ở Vĩnh An".
Thái Bình quân từ tháng 9 năm 1851 (bài này đều dùng dương lịch) chạy trốn vào Vĩnh An cho đến tháng 4 năm sau thì phá vây, tổng cộng đóng quân ở Vĩnh An tám tháng. Hành động lớn nhất trong tám tháng này chính là việc phong vương cho các tướng lĩnh vào ngày 17 tháng 12 năm 1851. Bạn bè giới sử học luôn coi "Phong vương ở Vĩnh An" này là bước khởi đầu cho tổ chức quân chính của Hồng - Dương, nhưng người viết lại không cho là vậy. "Phong vương ở Vĩnh An" vẫn chỉ là hành vi tôn giáo của một đám cuồng tín giáo môn. Hãy xem lời của Hồng Tú Tuyền. Ông ta nói uy quyền của Thiên phụ Thượng chủ Hoàng thượng đế lớn hơn tất cả, "không gì không biết, không gì không làm được, không gì không giáng xuống". Hết thảy chỉ nghe lệnh Thượng đế là được (đây là lời Hồng thị tự xưng). Việc phong vương cho năm người thực ra chỉ là "tạm theo lệ méo mó của người trần" mới miễn cưỡng làm vậy mà thôi.
Nguyên văn là:
Nay đặc biệt ban phong Tả phụ Chánh quân sư (Dương Tú Thanh) làm Đông vương, cai quản các nước phương Đông; ban phong Hữu bật Hựu chánh quân sư làm Tây vương, cai quản các nước phương Tây; ban phong Tiền đạo Phó quân sư (Phùng Vân Sơn) làm Nam vương, cai quản các nước phương Nam; ban phong Hậu hộ Hựu phó quân sư (Vi Xương Huy) làm Bắc vương, cai quản các nước phương Bắc; lại ban phong Đạt bào (Thạch Đạt Khai) làm Dực vương, che chở thiên triều. Các vương được phong ở trên, đều chịu sự tiết chế của Đông vương. Lại chiếu rằng hậu cung của (Thiên vương) gọi là nương nương; quý phi của (các vương) gọi là vương nương.
Thực ra khi Thái Bình quân trốn vào Vĩnh An Châu, nam nữ già trẻ chẳng qua chỉ có hai, ba ngàn người (người viết có khảo cứu khác), sách sử truyền là ba, bốn vạn người đều là không đúng. Trong đám ô hợp hai, ba ngàn người ấy, phong ra năm vị vương gia tuổi độ đôi mươi (Đạt bào lúc đó có lẽ còn chưa đủ hai mươi), đến để cai quản "các nước" bốn phương, há chẳng phải giống như trò đùa trẻ con! Thế nhưng thế hệ chúng ta sinh trưởng trong vùng nông thôn Trung Quốc truyền thống. Quá quen thuộc với những thứ như "lập đàn", "làm chay" của hai giáo Phật Đạo v.v., thì sẽ biết chẳng có gì là kỳ lạ để mà bàn tán. Hãy nhìn những vị đạo sĩ hòa thượng ăn mặc kỳ quái, khiêng những lá cờ phấp phới, nào là "Thập phương đại Bồ Tát", "Thập điện Diêm vương" v.v., thì sẽ biết những tín đồ giáo "Bái Thượng đế" cuồng tín này, thứ mà bọn họ đang làm cũng chính là bộ dạng này.
Điều bất hạnh là vào những năm 50 của thế kỷ trước, vận số của nhà Thanh đã sắp cạn, toàn quốc, đặc biệt là Quảng Tây; ở Quảng Tây, đặc biệt là những nông dân "Khách gia" đã từng trải qua tôi luyện trong các cuộc hỗn chiến "Thổ - Khách", đang rục rịch chuyển động. Trải qua hoạt động tôn giáo cuồng tín có tổ chức này của Hồng - Dương, tụ tập quần chúng gây chuyện, biến giả thành thật, thế là nổi dậy làm phản.
2.10 Chỉ đuổi không chặn và "kéo chết quan quân"
Thái Bình quân chiếm cứ Vĩnh An tám tháng sau, quan quân Quảng Tây khoảng một vạn bốn ngàn người dưới sự ra lệnh nhiều lần của Bắc Kinh, bèn vây chặt lấy quân phản loạn. Đối mặt với "kẻ địch gấp nhiều lần", đám đông của Hồng - Dương đành phải phá vây để tự bảo vệ mình. Theo hồi ức sau sự việc của một lão Trường Mao từng tham gia trận phá vây lần này, bọn họ ba hai ngàn người, đặt phụ nữ và trẻ em ở đoạn giữa đại quân (phụ nữ Khách gia đều là chân tự nhiên), thanh niên trai tráng vây quanh trước sau, một cú đánh xông thẳng ra khỏi vòng vây. Đã ra khỏi vòng vây, bọn họ chạy trốn phía trước, thanh quân bám đuôi theo sau, tình thế liền biến thành cảnh "giặc lưu vong" thường thấy trong lịch sử nước ta.
Phương thức tác chiến của giặc lưu vong truyền thống, phần lớn là ép buộc nông dân tham gia, luồn lách khe hở chạy trốn, phất phơ như gió lốc mưa rào; mũi nhọn của chúng không gì cản nổi. Kẻ nào chạm phải mũi nhọn ấy, không một ai là không tan xương nát thịt. Cho nên quan quân đuổi quét cũng có một bộ luật bất thành văn. Bọn họ theo lệ thường là lấy láng giềng làm hố chứa nước, chỉ đuổi chứ không chặn. Chặn thì tự chuốc lấy diệt vong, có trăm hại không một lợi; đuổi thì có thể thừa nước đục thả câu, khắp nơi báo công xin thưởng, có trăm lợi không một hại. Quan quân ở chính diện nếu không né tránh nổi, cũng chỉ giữ chặt thành trì và hiểm yếu, hoặc đánh tạt hông đánh du kích, tuyệt đối không chặn đánh chính diện. Dưới công thức này, hễ giặc lưu vong nổi lên, liền lăn thành quả cầu tuyết, giống như đi vào nơi không có người. Quan quân bám đuôi theo đó cũng nuôi giặc để tự trọng, hò hét đi theo, tuyệt đối không buông lỏng. May mà Trung Quốc quá lớn, ai nấy đều có thể chơi trò đèn ngựa chạy không giới hạn, cho nên khi Hoàng Sào, Trương Hiến Tông v.v. khởi nghĩa, đều có danh ngôn "kéo chết quan quân"; quan quân cũng vui vẻ chịu cảnh bị kéo chết mà không thấy mệt mỏi. Sự thăng tiến liên tục của Đề đốc Hướng Vinh là một ví dụ hay.
Giữa thập niên 30, khi "Xích phỉ Chu - Mao" phá vây "Vạn lý Trường Chinh" từ Thụy Kim, Giang Tây, phương thức mà cả hai bên đuổi và trốn vận dụng, vẫn là công thức truyền thống này. "Quân trung ương" đi đuổi và "Hồng quân" đi trốn, khoảng cách giữa hai bên thường chỉ là "một ngày đường". Ở những nơi Hồng quân đi qua, các tướng lĩnh địa phương chỉ huy quan quân chặn quét như Hà Kiện ở Hồ Nam, Trần Tế Đường ở Quảng Đông, Lý Bạch ở Quảng Tây, Long Vân ở Vân Nam, Lưu Tương ở Tứ Xuyên, các Mã ở Tây Bắc... đều chỉ giữ chứ không chặn, "Xích phỉ" đi qua rồi, thế là ai nấy đều vui vẻ.
Kẻ gặp xui xẻo chính là vị thiếu soái Trương Học Lương vẫn giữ được tấm lòng xích tử của chúng ta. Cậu ta tuổi trẻ thiếu hiểu biết, phụng mệnh chặn quét, bèn thực sự đi thẳng vào mũi nhọn của địch, vừa chặn vừa quét. Do đó phạm phải điều cấm kỵ của nhà binh, làm cho mất khiên vứt giáp, "không nhận được bổ sung" mà đầy rẫy những lời oán trách. Thiếu soái lúc ấy nếu đã bắt đầu nghiên cứu "Minh sử", đọc lấy một bài, thì đã không phải chịu cái thiệt lớn đó rồi.
“Giặc làm phản Hồng - Dương” trong công thức lịch sử của chúng ta, sau khi phá vây ở Vĩnh An, không một ai dám chặn. Bọn họ bèn dọc đường ép buộc dân chúng (Lý Tú Cung chính là một trong những kẻ bị ép buộc), ép sát tỉnh lỵ Quế Linh. Vây thành một tháng không hạ được, bèn trốn vào Toàn Châu, tiến thẳng vào Hồ Nam. Người Hồ Nam vốn ưa võ nghệ, thấy triều đại mới quật khởi, nông dân nghèo thợ mỏ phu thuyền hội đảng theo nghĩa như mây, một thời thanh thế lừng lẫy.
Thái Bình quân tháng 8 hạ Sầm Châu, tháng 9 ép Trường Sa. Vây thành hơn tám mươi ngày không hạ được, bèn bỏ Trường Sa, vượt Động Đình tiến lên phía bắc. Tháng 12 hạ Hán Dương; năm sau (1853) tháng 1 thì công chiếm Vũ Xương. Tháng 2 bỏ Vũ Xương, cướp thuyền dân, kẹp theo bảy vạn rưỡi người (tự nhận là năm mươi vạn), xuôi dòng nước xuống phía đông, hạ Cửu Giang, An Khánh, Vu Hồ, nhưng đều không giữ; ngày 19 tháng 3 bèn phá thành đánh vào Nam Kinh. Từ đó Thái Bình quân chiếm lĩnh Nam Kinh, đổi tên là Thiên Kinh tổng cộng mười một năm ba tháng, thế là hình thành cục diện cát cứ của Thái Bình Thiên Quốc ở hạ lưu sông Trường Giang. Còn Trấn Giang, Dương Châu ở hạ lưu hơn thì biến thành các cứ điểm ngoại vi lúc được lúc mất.
2.11 Không thể dứt ra khỏi "Thiên đường nhỏ"
Hồng - Dương từ lúc "phá vây Vĩnh An" cho đến khi "đóng đô Thiên Kinh" thời gian chưa đầy một năm; tốc độ hành động, tốc độ phát triển của họ, không kém gì cuộc "Bắc phạt" của Quốc Dân đảng bảy mươi năm sau. Thế nhưng cuộc Bắc phạt của Quốc Dân đảng là có "căn cứ địa cách mạng" ở Lưỡng Quảng trước, rồi sau đó mới là sự bành trướng chính trị có kế hoạch "thề non hẹn biển Bắc phạt". Còn việc Hồng - Dương trốn chạy lên phía bắc lại là hành vi giặc lưu vong chiếm một thành vứt một thành. Cho nên khi Quốc Dân đảng đóng đô ở Nam Kinh vào năm 1927 thì đã chiếm được một nửa giang sơn; mà khi Hồng - Dương đóng đô ở Nam Kinh, thì chỉ có ba tòa thành cô lập Nam Kinh, Trấn Giang, Dương Châu mà thôi.
Hồng - Dương nếu thực sự là nhân vật anh hùng, thì nên gộp ba thành này lại rồi bỏ đi, dốc toàn lực hướng lên phía bắc. Với khí thế của họ lúc bấy giờ, muốn một hơi đánh hạ Bắc Kinh là chuyện hoàn toàn không thành vấn đề. Bởi vì lúc này Bắc Kinh đã tiếng gió thổi tiếng hạc kêu gào, quý tộc trọng thần cùng gia tộc đã trốn chạy sạch không còn một ai. Hàm Phong hoàng đế cũng đã chuẩn bị dời đô đến Nhiệt Hà, mà nghĩa quân Thái Bình, khí thế đang độ hừng hực, nhược điểm chưa lộ ra. Nhân dân toàn quốc cùng các lộ anh hùng đều ngóng trông cờ xí để giải cứu cảnh nước sôi lửa bỏng, Thần Châu hoàn toàn có thể chỉ cần một tờ hịch là định đoạt được. Nào ngờ Hồng Tú Tuyền về cơ bản chỉ là một giáo chủ kiểu "Jones", chỉ quản "tình trời", không rành "việc đời", mà tổng chỉ huy thực tế của Thái Bình quân là Dương Tú Cửu, lại là một con gấu chó. Phú quý đến với hắn ta quá nhanh. Bốn năm trước vẫn chỉ là một thợ đốt than nghèo rớt mồng tơi, nay lại hô mưa gọi gió, áo gấm cơm ngọc, làm "Đông vương Cửu thiên tuế", cắm đầu đâm bổ vào "son phấn sáu triều", hắn ta liền không thể dứt ra được nữa.
Đối với đám nông dân nghèo khổ xuất thân từ vùng đất lạc hậu này mà nói, cái "Thiên đường nhỏ" với rạng đông nam giang, son phấn sáu triều kia, thực sự là "có được cái này là đủ rồi", tuyệt đối không muốn rời đi nữa. Hãy nghĩ xem cái "Yến đô" kia là "vùng đất sa mạc"; "Trực Lệ" là "tỉnh tội lệ" (đây đều là lời trong chiếu thư của Thiên vương), cái khí thế tranh hùng hướng lên phía bắc liền hoàn toàn biến mất.
Lũ giặc lưu vong Thái Bình đã không muốn dốc toàn lực kéo ra ngoài, Khâm sứ đại nhân Hướng Vinh bám đuôi theo sau, cũng xây dựng "Giang Nam đại doanh" của mình ở Hiếu Lăng Vệ vùng ngoại ô phía đông Nam Kinh; một vị Khâm sứ khác là Kỳ Thiện, cũng xây dựng "Giang Bắc đại doanh" của mình ở ngoài ô cửa Dương Châu. Cả hai bên đối trì lẫn nhau, chậm rãi đôi co với nhau, thế là thắng thua khó phân.