Trong tất cả những ký ức thời thơ ấu của tôi ở đảo Urkey, câu chuyện về Mary Matheson và anh em nhà Blake hiện về trong tâm trí tôi rõ hơn cả, mang theo cảm giác như nhìn mọi thứ qua một tấm gương tối mờ. Và sự mờ tối của tấm gương ấy chính là tuổi thiếu niên của tôi.
Bây giờ tôi đã hiểu điều đó, và tôi thấy tiếc. Tôi hổ thẹn khi nhận ra mình đang hoài nghi rằng một nửa vẻ đẹp mặn mà của Mary Matheson trong mắt tôi vốn chỉ là sự lãng mạn, một nửa của sự lãng mạn ấy là vẻ huyền bí, và một nửa trong số đó lại là phát hiện đầy xáo trộn rằng phái nữ không hề phai tàn ở tuổi mười bảy và héo mòn đi hoàn toàn ở tuổi hai mươi, như người ta vẫn mặc nhiên đinh ninh từ trước. Tôi mừng vì không có khả năng được gặp lại cô ấy ở tuổi ba mươi để rồi phải kiểm chứng điều đó: tôi muốn giữ mãi hình ảnh cô ấy như cách mà cậu thiếu niên mười sáu tuổi từng nhìn thấy vào đêm hôm ấy, khi cô đứng đợi trên cồn cát nhìn xuống xác chiếc "tàu Ấn Độ", giữa tiếng lẩm bẩm sợ hãi của Rolldown Nickerson khi hắn trốn chạy khỏi chiếc hộp gỗ bóng loáng kỳ lạ mà hắn vừa ném xuống cát, cùng lúc chú rể đang ngước nhìn ra từ cửa sổ nhà thờ, hướng về phía những hoang mạc ở Làng Urkey.
Sự việc bắt đầu từ khi tôi còn quá nhỏ để có thể hiểu hết mọi chuyện, một kỳ quan kéo dài chưa đầy bảy ngày giữa muôn vàn kỳ quan rực rỡ, vụn vặt khác trong cuộc đời của một đứa trẻ lên sáu. Chủ yếu tôi chỉ nhớ rằng Mary Matheson là một kẻ ngốc; tất cả mọi người ở Làng Urkey đều bàn tán như vậy.
Tôi không thể biết anh em nhà Blake đã theo đuổi cô ấy từ bao giờ. Tôi đến quá muộn để chứng kiến bất cứ điều gì ngoài cao trào của cuộc thi tài không giống tình huynh đệ ấy, và chỉ nhờ may mắn hy hữu của một phần trăm cơ hội, tôi mới được chứng kiến dù chỉ là một màn trong số đó.
Tôi đang đi bộ về nhà vào một buổi tối mùa thu lúc chập tối, lững thững bước lên con đường bò từ hướng đông, nơi mấy đứa lớn vừa chơi trò "Chạy đi, cừu chạy đi", còn tôi thì đứng xem từ chỗ ẩn nấp thuận lợi ở chuồng gà của dì Dee Nickerson và bị quất roi vì dám tò mò kể lại. Tôi vừa đi đến khúc rẽ vào ngõ Drugstore thì âm thanh của một giọng nói đã khựng chân tôi lại, toàn bộ mắt và tai đều dán vào hàng rào chấn song của nhà Matheson.
Đó là giọng của anh họ tôi, Duncan, người cha duy nhất mà tôi từng biết. Anh là cảnh sát trưởng của Làng Urkey, và có cái gì đó trong giọng nói của anh khi tôi nghe thấy ở sân nhà đã giải thích lý do vì sao anh giữ chức vụ ấy.
"Bỏ nó xuống, Joshua! Bỏ xuống, nếu không thì có trời mới biết——!"
Về phần Duncan, tôi chỉ có thể nhìn thấy tấm lưng to lớn và gần sát của anh. Nhưng khuôn mặt của những người khác thì hiện lên rõ mồn một qua khe hở giữa các thanh rào, hoặc rõ hết mức có thể trong ánh chiều tà đang buông xuống. Bầu trời phía trên vẫn còn sáng, nhưng cái bóng màu xanh thẫm của vách đá đã trải dài khắp góc làng đó, sâu thẳm lại thành một màu xanh ngắt và tĩnh mịch hơn dưới tán cây táo che chở cho khoảng sân trước. Cho đến tận ngày nay, mỗi khi nhìn thấy thứ ánh sáng đó — thứ hoàng hôn dìu dịu lọc qua những kẽ lá rọi xuống thảm cỏ — tôi vẫn không khỏi rùng mình dù chỉ là một thoáng. Bởi đó là lần đầu tiên tôi biết đến sự giận dữ, sự giận dữ tĩnh lặng và chết chóc của những người đàn ông trưởng thành.
Anh họ tôi vừa lên tiếng với Joshua Blake, và tôi thấy Joshua đang cầm một khẩu súng trên tay, thứ vũ khí đấu súng loại cũ chỉ có một viên đạn từng thuộc về cha anh. Guơng mặt anh ta tái nhợt, và sắc xanh xao ấy càng làm nổi bật những đường nét sắc sảo như lưỡi dao của dòng họ Blake, chiếc mũi khoằm, vương vấn nét quý tộc trên chiếc trán dốc, và đôi môi mím chặt, tím ngắt vì nghiến răng.
Đó là Joshua. Andrew, em trai anh, đứng đối diện cách đó chừng ba bốn bước. Cậu ta là em, người ít được ưu ái hơn và cũng nhạy cảm hơn.
Cậu ta có một điểm mà không nhà Blake nào có, vài nốt tàn nhang mờ trên gò má cao và phẳng. Và cậu ta có thứ mà không ai ở Urkey lúc bấy giờ có được, một cặp răng vàng, chiếc thứ hai và thứ ba bên trái ở hàm trên, nơi chiếc cần trục của Lem White từng đập trúng khi cậu ta đổi hướng lướt qua Mũi đất. Chúng lộ ra lúc đôi môi cử động chậm rãi hé mở, ánh lên một thứ sắc lấp lánh ẩm ướt và mờ đục. Cậu ta cũng xanh xao không kém.
Hai tay cậu ta trống không, buông thõng với lòng bàn tay hướng về phía trước. Nhưng trong ánh mắt cậu ta không hề có vẻ gì là bất lực: chỉ ngập tràn một thứ ánh sáng đầy khinh miệt và đam mê.
Và đứng giữa hai người họ, vươn cao hơn họ, là Mary, được khung cửa trắng của hiên nhà ôm trọn lấy, hai tay ôm lấy cổ họng và đôi mắt dài mở lớn vì nỗi sợ hãi của một thiếu nữ, thứ đáng giá hơn cả sự hân hoan. Cả ba cứ đứng chết trân trong dáng vẻ ấy, trong lúc mọi thứ xung quanh như diễn ra ở một hành tinh khác, hoàng hôn chìm dần từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác: Mụ Pilot, cách đó hai thước, đang mang bữa tối ra cho con heo đang éc éc kêu; và xa hơn nữa, trên tấm gương đang mờ dần của vây cảng, tiếng tù và ốc xà cừ cất lên u hoài để gọi mấy chiếc tàu buồm thả mồi câu.
"Bỏ nó xuống, Joshua!" Giọng Duncan vang lên đanh thép và rõ ràng.
Và lần này, nối tiếp bầu không khí tĩnh lặng, nó dường như đã xua đuổi được con quỷ của sự yên ắng. Tôi nghe thấy tiếng thở của Mary phát ra qua đôi môi hé mở, và thấy Andrew quay phắt người lại để gỡ một lớp vỏ cây bám trên thân gỗ bằng móng tay cái. Ánh mắt Joshua hạ xuống khẩu súng kỳ quái trên tay; anh ta rùng mình nhẹ nhàng như một kẻ mơ màng vừa tỉnh giấc rồi đút nó vào túi. Và rồi, khi thấy Duncan quay lại hướng về phía hàng rào và chỗ tôi, tôi liền chọn thượng sách là chuồn thẳng và chẳng còn thấy gì thêm nữa.
Đêm hôm đó, có rất nhiều người đàn ông nghiêm túc trong thị trấn bàn tán khi biết sự việc đã đẩy đến bờ vực nào; đàn ông thì đi lại dập dờn, phụ nữ thì xì xào bàn tán. Tất cả đều là lỗi của Mary. Lẽ ra từ lâu cô ấy phải chọn lấy một người và "đá cổ kẻ kia đi". Đó là lời của Miah White, khi ngồi sau chiếc lò sưởi trong nhà bếp của chúng tôi phía trên cửa tiệm; đó là điều Duncan nghĩ khi anh bước qua bước lại, lắc đầu ngán ngẩm. Đó là những gì tất cả bọn họ đang nói hoặc đang nghĩ khi ngồi hay lang thang khắp nơi.
Đó là những nỗi truân chuyên của những con người nghiêm túc. Và ngay cả khi mọi chuyện vẫn đang tiếp diễn như thế, Mary Matheson vẫn tiến hành việc lựa chọn của mình theo cách mà tuổi trẻ cho là phù hợp. Giữa không gian ấm áp, náo nhiệt trong tiệc sinh nhật của cô Alma Beedie, gạt đi thật nhanh ký ức về khoảnh khắc đọ súng chớp nhoáng dưới tán cây táo dạo nọ, cô đã đưa ra một lời thề kỳ quặc là sẽ kết hôn với kẻ nào mang lại cho cô chiếc nhẫn cưới — cô hứa hẹn với bàn tay trái đặt lên cuốn lưu bút của cô Beedie còn tay phải giơ lên hướng về bức tranh ngụ ngôn về Người Mục Tử Nhân Lành rằng người nào, là kẻ đầu tiên vượt Eo biển đến tiệm kim hoàn ở Gillyport rồi quay trở lại, mang về cho cô chiếc nhẫn vàng — thì kẻ đó sẽ là chồng cô "cho đến khi đầu bạc răng long, cho đến lúc cái chết chia lìa, v.v. và v.v., Amen!"
Và những ai có mặt ở đó sau này đều nhớ lại rằng trong khi Joshua đứng vững vàng, cười lớn và vỗ tay hòa cùng mọi người, thì em trai anh ta là Andrew đã rời khỏi nhà. Họ bảo rằng gương mặt cậu ta trắng bệch như người bệnh, và khi ở ngưỡng cửa, cậu ta còn ngoái lại nhìn Mary một thoáng với một vẻ mặt đầy thương tổn trong ánh mắt, như muốn nói rằng: "Đối với cô thì đây chỉ là một trò đùa thôi sao? Và nếu nó chỉ là một trò đùa, thì có đáng để đánh đổi không?" Họ đã nhớ lại điều đó về sau; rất lâu về sau.
Họ cứ đinh ninh rằng cậu ta chỉ ra ngoài một lát; rằng chẳng mấy chốc cậu ta sẽ quay lại để tiếp tục cuộc thách đố vui vẻ bên những chiếc bánh ngọt và rượu mùi. Nhưng Andrew Blake đã không bao giờ trở lại bữa tiệc ấy nữa. Man mối đầu tiên về những gì đang xảy ra đến với họ là khi Rolldown Nickerson, kẻ chuyên nhặt đồ trôi dạt, hớt hãi chạy vào, người ướt sũng trong cơn giông bão mùa thu bắt đầu nổi lên từ đêm hôm đó. Hắn muốn Joshua hãy trông chừng em trai mình. Hoàn toàn không hay biết chuyện gì đã xảy ra tại bữa tiệc, hắn tưởng Andrew đã phát điên rồi.
"Tôi vừa bắt gặp cậu ta ở khuất cầu tàu của White đang nhét chiếc la bàn vào chiếc thuyền buồm chèo tay của ông cụ, và tôi bảo cậu ta rằng: 'Cậu đang định làm gì đấy, Andrew?' Thế là cậu ta cười nhạt và đáp: 'À, đi một chuyến buồm ra khơi đến những chân trời khác thôi,' cậu ta bảo thế đấy — y như vậy. Giờ anh thử nghĩ xem, Josh, với cái thời tiết thế này — quỷ tha ma bắt cái xứ này ở phía bắc rồi chứ còn gì nữa!"
Họ kể rằng có một ánh nhìn xuất hiện trong mắt Joshua mà chưa ai từng thấy trước đây. Anh ta đứng lặng ở đó, bất động và thinh lặng, còn Rolldown vì bị thái độ đó đánh lừa nên lại tiếp tục cằn nhằn.
"Anh không nhận ra đấy thôi, đồ ngốc, nếu không thì anh đã ngăn cậu ta lại rồi!"
"Ừ, tôi sẽ ngăn nó lại!" Giọng anh ta thốt lên khẽ đến mức gần như chỉ là một tiếng thở.
"Tôi sẽ ngăn nó lại!" Và khoác chiếc áo bành tô lên vai, Joshua bước ra ngoài.
Bạn có thể tin rằng ngôi nhà không thể giữ chân đám đông sau chuyện đó. Vừa thì thầm, vừa khúc khích cười lại vừa run rẩy, đám thanh niên kéo nhau xuống Phố Heman hướng ra bờ biển. Và ở đó, dưới ánh sáng ảo ảnh của vầng trăng bị che khuất bởi những đám mây giông cuồn cuộn, họ thấy Andrew đã biến mất và tất cả những gì họ nhìn thấy về Joshua chỉ là một cái bóng — một cái bóng mặc bộ đồ đen dài — đang lội ra xa khỏi họ trên những bãi bùn ngập nửa nước, ngày càng tiến sâu hơn đến nơi chiếc sloop của nhà Adams đang neo đậu, như một chiếc bóng chìm khuất trong gió. Họ gọi lớn nhưng anh ta không đáp lại, và trước khi họ kịp làm gì thì anh ta đã kéo buồng buồm lên, để rồi chính anh ta cũng mất hút vào lòng đêm đen thẳm.
Thật cô đơn trong bóng tối đối với một đứa trẻ lên sáu khi sàn nhà tròng cành, chiếc giường rung lên bần bật và trên đầu nó, những tấm ván lợp mái kêu xào xạc trong gió như linh hồn của tất cả những kẻ lạc lối trên thế gian này. Khoảng thời gian từ hai giờ cho đến lúc rạng sáng hôm đó, tôi đã trải qua dưới gầm bàn trong nhà bếp, nơi Miah White và em trai anh ta là Lem đã đến để nói chuyện với Duncan. Và trong cả ba người họ, tất cả những gì họ thốt lên chỉ là "Ôi trời ơi! Ôi trời ơi!" Tôi nói là cho đến tận lúc rạng sáng; nhưng căn nhà bếp của chúng tôi có lẽ chẳng khác nào một ống thông gió chật chội giữa đô thị nếu tính đến chút ánh sáng mờ ảo hiếm hoi mà chúng tôi nhận được.
Thật khó để có thể miêu tả cho bất kỳ ai luôn sống trong sự che chở của đất liền hiểu được về ngày hôm sau, từng giờ từng phút trôi qua trong sự chờ đợi — cách mà mọi người lang thang trên các bãi biển mà không dám nhìn vào mắt nhau khi lướt qua, và cách mà những người khác, leo lên vách đá để có thể phóng tầm mắt nhìn rõ hơn vùng biển bên kia Mũi đất, lại nhận ra mình bị mù lòa bởi màn sương mù dày đặc ở khoảng cách năm mươi thước mà vẫn tiếp tục ngước nhìn trân trân.
Trong số tất cả bọn họ ngày hôm đó, Mary Matheson là người duy nhất giữ được vẻ im lặng. Và cô ấy im lặng đến mức trông hệt như một bức tượng. Đứng nép một nửa trong góc tối tẻ nhạt phía sau cửa hàng tạp hóa, cô cứ đứng đó dán mắt qua màn sương mù của bến cảng từ lúc rạng đông cho đến khi một đêm đen nặng nề khác trập trùng buông xuống, và chẳng ai dám chắc liệu cô có chịu về nhà lúc ấy không nếu như người góa phụ tội nghiệp, mẹ cô, không lẻn xuống giữa các dãy nhà để kéo cô về.
Dù sao đi nữa, cô ấy cũng đã ở nhà khi Joshua Blake trở về.
Sau bao nhiêu ngày tháng ngóng chờ và canh chừng, không một ai chứng kiến cảnh anh ta đặt chân lên bãi biển đen ngòm và tơi tả ấy, bởi đó là khoảng thời gian tĩnh mịch nhất của buổi sáng sớm; trong số ba người được cho là đã chạm trán anh ta trên đường tới nhà Mary, hai người đã lên tiếng quá muộn màng khiến độ xác thực bị đặt dấu hỏi lớn. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn tin rằng Mụ đỡ đẻ Polly Freeman ở đầu phía tây đã nhìn thấy và trò chuyện với anh ta dưới ánh đèn hắt ra từ cửa sổ tiệm thuốc (nơi mà, giá như tôi đủ lớn để thức giấc, tôi đã có thể nhìn xuống họ từ phòng ngủ của mình và kiếm chút tiếng tăm cho riêng mình).
Mụ bảo rằng thoạt đầu mụ tưởng anh ta là một bóng ma trồi lên từ đáy biển, với bộ quần áo dính bết sát vào người, tóc tai vương vãi rong rêu, và khuôn mặt nhăn nheo, co rút như thịt cá vớt lên khỏi vại muối quá sớm. Về sau, khi anh ta cất lời, mụ lại nghĩ anh ta đã phát điên.
"Tôi lấy được nó rồi!" anh ta vừa nói vừa nắm lấy cánh tay mụ. Mở một bàn tay tím tái ra, anh ta giơ nó dưới ánh đèn cho mụ xem chiếc nhẫn đã siết chặt hằn sâu vào lòng bàn tay. "Xem này, tôi lấy được nó rồi, Mụ Poll!" Mụ bảo rằng tiếng anh ta thốt lên hầu như chỉ là một tiếng thì thầm, giống như một bí mật, và trong ánh mắt anh ta lúc đó mang một vẻ gì đó hệt như thể vừa giáp mặt với Quỷ dữ.
Mụ dự định sẽ chạy trốn ngay khi anh ta buông tay, nhưng khi thấy anh ta sải bước hướng thẳng về phía nhà Mary Matheson, sự khôn ngoan mách bảo mụ đã chiến thắng; lẻo đẻo đi theo con ngõ nhỏ và núp sau hàng rào nhà Mụ Pilot, mụ tiếp tục đứng đợi, theo dõi và lắng nghe, mang lại chiến lợi phẩm bền bỉ cho hội phụ nữ Urkey.
Mụ Poll kể lại chuyện đó rất có duyên. Khi nhớ lại câu chuyện của mụ lúc này, dường như tôi có thể nhìn thấy mặt đất đang bốc hơi mờ ảo dưới tán cây trong buổi bình minh tĩnh lặng, và nghe thấy tiếng nắm đấm của Joshua đang nện, đang nện thình thịch lên những tấm ván cửa.
Chắc hẳn Mụ Poll đã có những phút giây vô cùng kỳ lạ. Bởi trong khi mụ nghe thấy tiếng nện rỗng tuếch dưới mái hiên ấy, tựa như tiếng đập của một trái tim sâu thẳm trong lồng ngực đầy kinh hãi — thì suốt khoảng thời gian đó, mụ lại nhìn thấy chính Mary đang đứng ở cửa sổ tầng trên — chỉ là gương mặt cô đang tì lên một cẳng tay lạnh lẽo, bất động đặt trên bệ cửa. Và theo lời Mụ Poll, đôi mắt của cô đủ sức khiến bất cứ ai cũng phải chạnh lòng thương cảm.
Thật kỳ lạ là cô ấy lại tỏ ra thờ ơ đến thế, không hề nhúc nhích hay cất lời đáp lại trong lúc những tiếng gọi của người tình khải hoàn vẫn đang vang vọng khắp căn nhà phía dưới. Chắc chắn anh ta phải lấy làm lạ lắm. Có lẽ chính vào khoảnh khắc đó, chiếc bóng đầu tiên của bóng ma ngờ vực đã len lỏi bò vào tâm trí anh ta, hoặc có lẽ là lúc anh ta bước ra khoảng sân cỏ, ngước mắt lên và phát hiện ra gương mặt Mary ở khung cửa sổ đang mở.
Anh ta không nói gì. Nhưng với một cử động rộng, không kìm nén được, anh giơ cao chiếc nhẫn lên cho cô thấy. Sau một thoáng, đôi môi cô hé mở.
"Andrew đâu?"
Điều đó dường như là giọt nước tràn ly: một cơn giận dữ cuồng nhiệt bủa vây lấy anh ta.
"Nhẫn đây rồi! Cô thấy nó chưa? Chết tiệt thật, Mary! Cô đã hứa và tôi đã nhận lời, và Chúa mới biết tôi đã phải trải qua những gì. Giờ thì xuống đây! Mặc đồ vào và dắt theo cả mẹ cô nếu cô muốn — nhưng cô phải đi đến chỗ Mục sư Malden với tôi ngay bây giờ! Cô có nghe thấy không, Mary? Tôi sẽ không đợi nữa đâu!"
"Andrew đâu?"
"Andrew? Andrew? Sao quỷ tha ma bắt cô cứ hỏi hoài về Andrew thế hả? Andrew thì dính dáng gì đến cô — vào lúc này cơ chứ?"
"Cậu ấy đâu?"
"Mary, cô đúng là một kẻ ngốc!"
Giọng cô nếu có thay đổi thì chỉ càng trở nên đều đều hơn; còn giọng anh ta thì càng lúc càng cao và điên dại.
"Cô là một kẻ ngốc," anh ta lại thét lên, "nếu cô không biết Andrew đang ở đâu."
"Cậu ấy đi rồi."
"Đi rồi, đúng thế! Và sao cô có thể thốt ra điều đó theo cái giọng điệu ấy, bình thản đến thế — Chúa ơi!"
"Tôi biết cậu ấy sẽ đi," cô nói. "Cậu ấy đã nói với Rolldown rằng cậu ấy sẽ đến những chân trời khác. Nhưng tôi đã biết điều đó trước cả lúc ấy — khi cậu ấy quay người lại ở cửa và nhìn tôi, Joshua. Cậu ấy đã nói rõ mồn một rằng: 'Nếu đó là tình yêu,' cậu ấy bảo thế, 'thì tôi sẽ đến một xó xỉnh nào đó để quên đi nó, và sẽ không bao giờ quay lại Urkey này nữa.'"
Sự chết chóc trôi tuột khỏi giọng cô, nhường chỗ cho một âm vực khác cất lên.
"Joshua, cậu ấy phải quay lại, bởi vì tôi không thể chịu đựng nổi. Tôi đã hứa với anh, và tôi sẽ cưới anh — khi Andrew trở lại để đứng chứng kiến đám cưới. Cậu ấy phải về — bắt buộc phải về!"
Mụ Poll kể rằng Joshua cứ đứng trân trân nhìn cô — đơn giản là đứng đó ngước nhìn lên tận khung cửa trong buổi bình minh lạnh lẽo kỳ dị, miệng há hốc ra như thể bị một thứ kinh hoàng nào đó bóp nghẹt. Mồ hôi túa ra đầm đìa trên mặt. Quay người bước đi không một lời đáp sau một hồi lâu, anh ta loạng choạng bước đi hướng về phía chiếc cổng, rồi để mặc nó mở toang đằng sau, cứ thế lầm lũi đi khuất qua lớp sương mù trên con đường bò hướng về phía đông.
Khi từng bước chân đưa anh ta rời đi, tôi nghĩ rằng, đôi chân của kẻ đánh bạc bị lừa gạt ấy ngày càng trở nên nặng nề hơn, bờ đôi vai trĩu xuống, cái đầu mang theo ký ức chẳng tài nào rũ bỏ được cứ thế cúi gằm, và địa ngục chính thức tiếp nhận linh hồn anh ta.
Thật bất khả thi nếu chỉ dùng chừng ấy không gian ngắn ngủi để kể lại mười năm tiếp theo đã làm những gì với hai con người đó. Mọi chuyện đối với Mary Matheson lẽ ra sẽ dễ dàng hơn nếu cô ở một thành phố lớn, bởi vì nơi đô thị luôn có sự che khuất của đám đông vô danh. Còn ở một ngôi làng nhỏ thì chẳng có cái diễm phúc được làm người xa lạ ấy, hội đồng thành viên của câu lạc bộ duy nhất chính là bác sĩ và mụ đỡ đẻ, và tất cả các ngôi nhà đều làm bằng kính thủy tinh trong suốt.
Ở thành phố, dư luận xã hội vô cùng hùng mạnh nhưng lại rẽ ngoặt khắt khe. Còn ở một ngôi làng, đặc biệt là một ngôi làng trên đảo, nó trực diện và dữ dội chẳng khác nào một "tai hoạ thiên tai" được ghi lại trong các văn bản bảo hiểm tàu thuyền. Một lời đồn vượt qua các hàng rào đi rất xa, và tại nơi nó rơi xuống, tựa như một hạt giống đang nảy mầm, hàng tá lời khác sẽ mọc lên.
"Thật là xấu hổ, Milly ạ, một sự xấu hổ nhục nhã còn sống sờ sờ, chắc chắn là thế."
"Cậu nói chuẩn không cần chỉnh, Belle. Cứ làm như chưa đủ khi cô ta đẩy Andy đến cái chết đuối nước ấy——"
"Chà, tôi hy vọng cô ta thấy thỏa mãn với những gì đã gây ra cho Joshua. Tối qua tôi thấy anh ta ở bưu điện, và cái dáng vẻ cụp đuôi hổ thẹn ấy——"
"Đúng thế, tôi cũng thấy anh ta. Đàn ông ai lại chịu nổi cảnh bị biến thành trò hề cơ chứ..."
Cứ như thế, vào cái buổi sáng giặt giũ có sắc xanh ngắt, những lời đồn thổi bay qua bay lại giữa những giàn phơi quần áo đầy hoa trái. Hoặc, trong một buổi tối mùa đông phía tây, nơi mụ già Paine lom khom bên dưới giàn lưới bắt cá thu cạnh chuồng gà:
“Trời đất ơi, nói chuyện Sống Điều Độ thì hay ho thật đấy, và tôi không phủ nhận đó sẽ là phúc đức cho vài người — tôi chẳng tiện nêu tên ai đâu nhé — thậm chí cả Miah White nữa. Nhưng trời hỡi trời, làm sao mà anh có thể giảng bài về Sự Điều Độ cho một kẻ mất hồn và bị chơi xỏ như Joshua Blake cơ chứ? Đâu ra cái lý lẽ và lẽ thường đó? Lập luận của anh nằm ở xó nào?”
Hoặc có khi chính Miah White lại lững thững bước lên bậc thang ngoài nhà chúng tôi vào tối u ám nhất của mùa xuân, và chỉ cần nhìn lướt qua gương mặt đỏ bừng như gấc của anh ta là đủ để hiểu thứ Điều Độ mà họ từng ra rả giảng giải đã trôi đi đâu mất. Miah tìm đến chai rượu hệt như một kẻ khác tìm đến lời cầu nguyện.
"Chúa ơi!" anh ta phàn nàn với giọng lè nhè. "Thế quái nào cũng phải làm gì đó thôi!"
"Làm gì ư? Về chuyện gì chứ?" Tôi nhớ anh họ tôi đã nheo mắt nhìn anh ta đầy tò mò qua lớp khói và tiếng xèo xèo của món xúc xích đang rán.
"Về thằng Josh chứ còn gì nữa, và về cô ta ấy. Tôi nói cho anh nghe này, Dunc, thế quái nào lại ra thế này, và tôi sẽ không chịu đựng nữa đâu. Tôi sẽ không để yên nhìn Josh, giống như tôi vừa thấy nó tối nay, đứng đực ra trong bóng tối ở bãi biển bên ngoài và dán mắt vào mặt nước hệt như kẻ mộng du, cứ trừng trừng nhìn mãi nhìn mãi như thể muốn nhìn xuyên thủng qua cả mặt nước để xuống tận đáy biển nơi em trai nó đang nằm, và lẩm bẩm với chính mình rằng: Ai sẽ phải trả món nợ này? Ai là kẻ trả tiền đây? Không, đời nào! Anh và tôi đều là những gã trai trẻ, Dunc, nhưng chúng ta đâu đến nỗi trẻ đến mức không nhớ cha của hai cậu nhóc ấy từng làm gì cho chúng ta cơ chứ, phải không?"
"Ừ," Duncan điềm tĩnh đồng tình. "Nhưng rồi phải làm gì đây?"
"Chúa mới biết! Nhưng nghe này, Dunc, anh là cảnh sát trưởng cơ mà?"
Duncan mỉm cười đầy vẻ thương hại, như muốn nói: "Đừng có ngốc nghếch thế, Miah."
"Và nếu anh là cảnh sát trưởng, và có một kẻ gánh món nợ mà nhất quyết không chịu trả, thì chẳng phải anh có quyền can thiệp vào sao, tôi nói có đúng không nào? Ấy thế mà ở đây lại có một món nợ rành rành ra đấy, công bằng sòng phẳng. Toàn bộ cái đống len lột gạt mà cô ta cứ trùm lên mắt chúng ta về chuyện thằng Andrew với con tàu Ấn Độ — cứ làm như nó thay đổi được mảy may sự thật nào ấy không bằng! Không đời nào, Dunc, cô ta đã hứa sẽ lấy kẻ mang chiếc nhẫn về — kẻ đó chính là Joshua — giao kèo đã được phía anh ta hoàn thành — và sự việc là thế đấy. Giờ anh là cảnh sát trưởng. Tôi cho rằng, Duncan à, anh nên giã vào đầu cô ta một trận chí mạng; làm cho cô ta hiểu rằng, dẫu có tàu Ấn Độ hay không có tàu Ấn Độ đi nữa, cô ta vẫn có một món nợ phải trả và phải cứu lấy linh hồn của một người đàn ông khỏi sự đọa đày đời đời kiếp kiếp."
Tất cả những gì Duncan có thể làm với anh ta đêm hôm đó chỉ là mỉm cười và lắc đầu, coi như ngầm bảo rằng: "Cậu đúng là một gã cuồng nhiệt, Miah, đích thực là thế."
Về niềm tin ngoan cố, lầm lì của Mary đối với "con tàu Ấn Độ", dù đó chỉ là sự giả vờ hay có thật ở cô, nhưng nay đã dần trở thành huyền thoại, tôi chỉ được biết qua những nét chung chung và mơ hồ nhất.
Đúng là đã có một con tàu trông giống như chiếc tàu buôn ba cột buồm chuyên tuyến phương Đông xuất hiện ở vùng biển của chúng tôi vào đêm định mệnh ấy. Ai nấy đều nhìn thấy nó trước khi trời tối hẳn, đang xuôi dòng từ phương bắc và vạch sẵn hải trình để vòng qua Mũi đất nếu có thể trước khi cơn giông bão bùng lên. Mary khăng khăng cho rằng chính Andrew là người đã chỉ cho cô thấy con tàu đó và nói về nó — theo một cách kỳ lạ, một cách đầy tha thiết, cô bảo vậy. Và sâu thẳm trong đêm hôm đó, còn gì tuyệt vời hơn cho một kẻ đang trên đường đi lưu vong ngoài một con tàu Ấn Độ hướng ra khơi được Chúa ban xuống, đang thả trôi neo đậu ngay dưới cái bóng che khuất của Mũi đất.
Vâng, vâng, đúng là thế — chắc chắn phải là thế rồi. Và khi họ cười nhạo cô ở Làng Urkey và nháy mắt thâm trầm trước niềm tin được giả định của cô, thì cô lại yêu cầu họ trả lời cho cô một câu hỏi duy nhất: có ai tận mắt nhìn thấy chiếc thuyền của Andrew chìm nghỉm hay chưa — thực tế là thế.
“Nếu Joshua chịu trả lời tôi, và thừa nhận rằng anh ấy biết Andrew đã chìm! Hoặc nếu bất kỳ ai trong số các anh nói với tôi rằng thi thể của Andrew từng dạt vào bất kỳ hòn đảo nào hay đất liền!”
Nghe thật ngớ ngẩn làm sao, tất nhiên, nhưng chẳng ai trong số họ trả lời được câu hỏi đó, ngoại trừ Miah White, và anh ta chỉ nói khi đã nốc một ngụm rượu từ cái chai và nhận thức được rằng nó chẳng hề có trọng lượng chút nào trên bàn cân.
Được chọn lọc và viết ra như thế, bạn sẽ nghĩ rằng vở kịch này đã làm lu mờ toàn bộ thế giới nhỏ bé của tôi. Đương nhiên là không rồi. Bạn phải nhớ rằng tôi khi ấy chỉ là một cậu bé, với hàng ngàn thứ khác phải làm và hàng triệu thứ khác phải suy nghĩ, những bữa ăn phải nuốt, những bài học phải căm ghét, những hòn đá để ném, những quả táo để ăn trộm, những trận đánh nhau để giải quyết. Tôi xin cam đoan rằng khi tôi lên chín hay lên mười, toàn bộ tập phim bi thảm đó đã trôi tuột khỏi đầu tôi từ bao giờ. Chạm trán Mary Matheson trên đường phố, nơi cô rất hiếm khi xuất hiện, cô ấy cũng hoàn toàn mang vẻ huyền bí và hoàn toàn nhàm chán y hệt như bất kỳ người lớn nào khác. Và nếu tôi có bắt gặp Joshua Blake (kẻ đã tự vươn lên bằng chính đôi chân của mình sau cơn say xỉn và sự tuyệt vọng, bước vào văn phòng luật sư của ông Dow và trở nên sắc bén như dao cạo) — nếu tôi có thấy anh ta, tôi xin nhắc lại, suy nghĩ lãng mạn duy nhất tôi dành cho anh ta chính là việc tôi đã làm vỡ cửa sổ nhà kho chứa củi của anh ta, và với một vẻ thâm trầm đầy nham hiểm, anh ta đã kể với vài đứa trẻ khác rằng anh ta biết thủ phạm là ai. (Một tuyên bố, nhân tiện đây, mà tôi đã tin sái cổ suốt hơn mười tám tháng trời.)
Tôi tin rằng chúng tôi đều biết, theo một cách lờ mờ nào đó, rằng hai người họ đã "đính hôn", giống như chúng tôi mơ hồ nhận ra rằng họ chẳng bao giờ làm đám cưới cả. Và đó là hồi kết của mọi sự đồn đoán. Vốn dĩ mọi chuyện vẫn luôn thế, hiện tượng ấy chẳng cần phải bàn tán thêm nữa, cũng giống như sự thật là cứ hễ gió thổi hướng đông thì John Dyer lại tưởng mình là Oliver Cromwell, hay việc Mục sư Malden không sống cùng gia đình ông ấy.
John Dyer đã bị cuốn đi vượt quá tầm với của bất kỳ cơn gió hành tinh nào; Mục sư Malden (như tôi đã kể ở một nơi khác) đã quay về sống cùng gia đình: và tôi đã đi học ở Học viện Highmarket được hai năm, trước khi tôi có một lý do bất ngờ và đầy xúc cảm để kiểm điểm lại tấn thảm kịch bị chôn vùi lâu năm đó.
Đó là ba ngày sau khi tôi về nhà nghỉ hè dài hạn, và vì đã khá mệt mỏi với việc cứ hít hà quanh hòn đảo như một con mèo quay lại ngôi nhà cũ, tôi bèn nằm dài nghỉ ngơi trên phiến đá mang tên "Xác tàu Lillian" ở nghĩa trang trên đỉnh Rigg's Dome.
Chính vào lúc đó, khi màn đêm từ bóng râm dưới vách đá bắt đầu bò lên, tôi chợt nhận ra có sự hiện diện của một người khác giữa những ngôi mộ và quay đầu nhìn xuyên qua những bụi gai hoàng liên mọc quanh phiến đá, thầm nghĩ đó có thể là một trong số mấy cô gái. Hóa ra chỉ là Mary Matheson. Vừa hụt hẫng một cách mơ hồ, tôi định quay đầu nhìn ra biển và quên bẵng cô ta đi nếu không vì hai lý do.
Một trong số đó là tư thế của cô ấy. Điều đó khiến tôi cứ tiếp tục nhìn cô, và vì ngước nhìn cô như thế, và tình cờ bước vào cái độ tuổi vô cùng mơ hồ và xáo trộn, tôi đã phát hiện ra một điều. Đó là Mary Matheson, ở cái tuổi ba mươi xa xôi ấy, lại sở hữu một vẻ đẹp sâu sắc và đằm thắm hơn bất kỳ cô gái nào mà vì ánh mắt của họ mà tôi phải chải chuốt đầu tóc ướt sũng rồi lủi thủi đi lễ cầu nguyện giữa tuần.
Tôi thấy thật khó để diễn tả sức tàn phá sâu sắc, mang tính cách mạng của phát hiện này. Chỉ cần nói rằng, đi kèm với cảm giác ửng hồng phấn khích, lại là một nỗi cay đắng mơ hồ và vô lý dâng lên chống lại cả thế giới.
Mắt tôi đã tóm lấy cô ấy ở đó, một dáng hình phớt hồng nổi bật trên nền biển thẫm dần. Cô đứng thẳng người và tĩnh lặng một cách kỳ lạ bên cạnh một ngôi mộ, hai tay nắm chặt, đôi mắt nheo lại. Ở Urkey, người ta luôn dựng một tấm bia đá cho người mất tích trên biển; và rất thường xuyên, họ còn tiến tới một bước xa hơn để xoa dịu tâm hồn mình bằng cách đắp nổi hình dáng bên ngoài của một ngôi mộ vô hình. Chà, đó chính là tấm bia và ngôi mộ của Andrew. Đâu đó trong đám rước Ngày Tưởng Niệm tuần trước, ai đó đã đặt một vòng hoa tử đinh hương dưới tấm bia. Và giờ đây, lang thang một mình, Mary Matheson đã tình cờ bước đến đó.
Tôi thấy cô cúi xuống và với một cử động dữ dội giật lấy biểu tượng của cái chết rồi ném nó ra sau lưng vào thảm cỏ. Sau đó, khi cô đứng đó với lồng ngực phập phồng và đôi môi mím chặt như đang đau đớn, tôi biết mình không nên có mặt ở đó để theo dõi; tôi biết không một thính giác tình cờ nào của tôi được phép nghe thấy tiếng kêu xé lòng phát ra từ sâu thẳm tâm can cô ấy:
"Không, Không, Không! Bọn chúng vẫn đang cố giết anh ấy — vẫn đang cố giết anh ấy — tất cả bọn chúng! Nhưng chúng sẽ không đời nào làm được! Chúng không thể!"
Tôi xin thưa với bạn rằng điều đó đã làm tôi chấn động và hổ thẹn. Tôi nghĩ mình nên húng hắng ho hoặc quẹt giày xuống đất hay làm gì đó, nhưng có vẻ như đã quá muộn cho việc ấy. Hơn nữa, vở kịch đã chuyển sang một diễn biến khác khiến tôi hoàn toàn quên mất những chuẩn mực đạo đức, và một diễn viên khác vừa lặng lẽ xuất hiện trên sân khấu.
Tôi không thể nói liệu Joshua, khi trông thấy Mary đang trên đường đi đến Rigg's Dome, đã đi theo cô, hay anh ta chỉ tình cờ tản bộ về hướng đó. Dù sao thì anh ta cũng đã có mặt ở đó, đứng quan sát cô từ phía bên kia ngôi mộ, đầu hơi nghiêng, hai tay đan vào nhau sau lưng, và hai chân dạng rộng trên thảm cỏ. Màu sắc của chạng vạng phủ lên khuôn mặt không chút máu của anh ta một sắc xanh ngắt, và cơn gió ban đêm thổi lồng lộng qua đường cong trần trụi của ngọn đồi, tung bay tà áo đen dài của chiếc áo khoác, dường như càng làm nổi bật thêm cái sức nặng chết chóc trong tư thế của anh ta.
Khi một phút trôi qua, tôi nghe thấy giọng nói khô khốc của anh ta cất lên.
"Thế nào, Mary, cô lại định giở trò cũ đấy phỏng?"
"Nhưng chúng sẽ không đời nào làm được!" Cô như bốc cháy lên. "Điều đó thật bất công với cả Andrew lẫn tôi. Bọn chúng làm thế chỉ để chế nhạo tôi thôi, và tôi biết thừa điều đó, và ồ! Tôi chẳng thèm quan tâm, nhưng chúng sẽ không được phép làm thế, không đời nào!"
"Mary," Joshua nói, mang theo toàn bộ sự giận dữ âm ỉ suốt bao năm trời trong giọng nói, "Mary, tôi nghĩ đã đến lúc cô nên chấm dứt cái trò ngốc nghếch này đi. Tất cả chúng ta đã chịu đựng đủ lắm rồi, Mary. Andrew đã chết rồi."
Cô quay phắt lại đối đầu với anh ta bằng một sự thách thức châm biếm nhanh gọn.
"Bây giờ anh mới thốt ra điều đó à? Giờ anh mới chắc chắn ư? Có lẽ anh vừa mới tận mắt kiểm chứng xong; có lẽ anh vừa thấy thi thể cậu ấy dạt vào bờ biển nào đó — ngay trong ngày hôm nay phỏng? Hoặc nếu không thì sao lại chần chừ lâu đến thế, hả Joshua? Nếu anh đã biết từ trước, sao anh không thốt lên rõ mồn một điều đó từ mười năm trước — từ năm năm trước chứ? Tại sao?"
"Bởi vì——"
"Vâng, bởi vì sao? Vì sao cơ chứ?" Có một cái gì đó vô cùng nhẫn tâm, tàn độc như loài hổ mang chúa ở người đàn bà mang hình bóng của những niềm đau khuất lấp này. "Nói ngay bây giờ đi, Joshua; rằng anh biết chắc chắn Andrew đã chìm sâu dưới đáy. Tôi lại thách anh đấy!"
Joshua đã nói điều đó.
"Tôi biết chắc chắn một điều rằng Andrew đã chìm xuống vào đêm hôm đó."
“Làm sao anh biết chắc? Anh có tận mắt thấy cậu ấy chìm không? Trả lời tôi đi!”
Trong một thoáng, kéo dài hơn cả một thoáng chốc, câu hỏi của cô treo lơ lửng không một lời đáp giữa không trung. Và khi cô đang căng người rướn tới, đầy sức sống và rung lên bần bật để chờ đợi anh ta, cô nhìn thấy lớp mặt nạ khô khốc, cứng nhắc mà anh ta đã tự tạo ra cho mình qua bao nhiêu năm tháng bỗng chốc nhão nhoét và trắng bệch ra như bột nhào; cô nhìn thấy đôi mắt mở trừng trừng và đôi môi lơi lỏng vì thứ ký ức chưa từng được cất lời.
"Đúng," anh thét lên bằng một giọng thật lớn. "Cô dồn tôi vào chân tường rồi đấy, hả?" Người đàn ông ấy thực sự đang run lẩy bẩy. "Được rồi, thế thì tôi đã thấy Andrew chìm xuống vào đêm đó. Tôi nghe thấy tiếng cậu ấy kêu cứu trong bóng tối. Tôi thấy gương mặt cậu ấy trên mặt nước. Tôi thấy bàn tay cậu ấy giơ lên khi ngọn sóng trôi qua — giơ tay với về phía tôi. Suýt chút nữa thì tôi chạm tới — nhưng chỉ thiếu một chút. Nếu cô biết biển đêm hôm ấy kinh hoàng thế nào, và cả gió lốc nữa; đơn độc biết bao, tối tăm biết bao! Chúa ơi! Và giờ tôi đứng đây thốt lên rành mạch thành lời! Tôi không thể với tới tay cậu ấy — chỉ thiếu một chút... Giờ tôi đã nói cho cô biết rồi đấy, Mary, điều mà tôi từng thề sẽ không bao giờ hé răng... Đồ khốn kiếp!"
Cùng với lời nguyền rủa đó, anh ta lảo đảo quay gót bỏ mặc cô lại phía sau. Những cái bóng lẩn khuất giữa các ngôi mộ dọc theo sườn đồi đưa tay níu lấy dáng hình đổ rạp, lom khom của anh, và anh hóa thành một cái bóng. Có lúc cái bóng ấy vấp ngã. Và như thể hành động lóng ngóng, xa xôi ấy đã đánh thức Mary khỏi một cơn mê sảng nào đó, cô lao vươn người về phía trước một bước, hai tay với ra.
"Joshua!" cô gọi với theo, "Joshua, Joshua, quay lại đi!"
Trong ánh sáng le lói cuối cùng phát ra từ bầu trời nơi các vì sao bắt đầu lấp lánh, gương mặt cô đẫm nước mắt của sự xót xa và hối hận; xót xa cho người đàn ông đã tự giam mình trong chiếc lồng ký ức ấy; hối hận vì tội lỗi của sự mù quáng chính mình.
"Joshua!" cô lại gọi một lần nữa, nhưng dường như anh ta chẳng hề nghe thấy.
Mọi chuyện đã vượt quá sức chịu đựng của tôi. Cảm thấy hổ thẹn hơn bất cứ lời nào có thể diễn tả, kèm theo một nỗi cay đắng ghen tị đang cắn rứt mới mẻ, tôi lủi thủi lẻn ra khỏi chỗ ẩn nấp bên phiến đá "Lillian" và chạy xuống triền đồi Rigg's Dome hướng về phía những hoang mạc.
"Trời đánh thánh vật!" Tôi biết mặt mình càng lúc càng đỏ bừng lên trên từng bước chân. "Mong là tôi không phải gặp lại cô ta nữa — mụ già phiền phức ấy!"
Nhưng tôi vẫn gặp lại, và điều đó diễn ra chỉ chưa đầy vài phút sau. Khi quay trở lại làng qua ngõ nhà kho lạnh và lối tắt phía sau lưng, tôi suýt va phải một cái bóng đang hớt hải trong bóng tối dưới những tán liễu nhà Dow. Hóa ra là Mary. Tôi sẽ không bao giờ quên cái khoảnh khắc hồi hộp kỳ lạ khi cô trân trân nhìn vào mặt tôi, hay cảm giác những ngón tay cô chạm vào cánh tay tôi, cùng tiếng thở dài bật ra.
— Cậu — cậu là thằng nhóc nhà Means."
Một sự ngượng ngùng, giờ đây nghĩ lại chỉ thấy đáng thương hại, chợt bao trùm lấy cô.
"Tôi — tôi tự hỏi không biết——" Sự bối rối của cô ngày càng trở nên nhức nhối hơn và đôi mắt đảo đi khắp nơi trong bóng tối. "Cậu có tình cờ nhìn thấy ai không — bất cứ ai — cậu không thấy anh Blake đâu à?"
"Không!" Tôi hất phăng bàn tay vẫn đang đặt hờ hững như thể đã quên bẵng đi trên cánh tay đang nổi giận của mình. "Cô tìm anh ta làm gì chứ? Anh ta chẳng ra gì đâu!"
Ném lại câu nói độc địa đó làm lời chia tay, tôi quay lưng sải bước bỏ đi. Phía sau lưng tôi, chỉ một thoáng sau, tôi nghe thấy tiếng kêu phản kháng đầy thảm thiết của cô.
“Sao cậu lại nói thế, nhóc? Cậu có ý gì hả?”
Vốn dĩ chẳng có ý nghĩa gì sất, ngoại trừ việc tôi sẵn sàng đâm chết hắn ta nếu có thể, tôi giữ cái vẻ mặt càu nhàu cay đắng của mình và tiếp tục rảo bước về hướng tây, mặc kệ cô tự tìm lấy lối đi và linh hồn mình trong những bóng râm đen ngòm, tăm tối dưới những tán cây liễu.
Không một ai từng sống ở Làng Urkey khi ấy có thể quên được cái ngày người ta hay tin Mary Matheson cuối cùng cũng sắp kết hôn với Joshua Blake. Một ngôi làng biệt lập cũng giống như một con người biệt lập, bề ngoài có vẻ điềm tĩnh đến mức tẻ ngắt, nhưng thực chất lại mang tâm lý xúc động đến mức ngớ ngẩn. Hơn bất cứ điều gì, khi tin tức lan truyền, nó giống như cuộc cải đạo trong buổi cúng trại của một tâm hồn đơn thuần. Đầu tiên, để "thức tỉnh tội lỗi", đó là việc khơi gợi lại toàn bộ quá khứ tăm tối đã bị lãng quên, việc xì xào ôn lại những lời đồn đại cũ kỹ đã phai mờ, những bóng ma của các mối thù hằn xưa. Sau đó, giống như dòng lũ của Lòng Thương Xót, là sự đảm bảo rằng mọi chuyện đều ổn cả, kết thúc có hậu rồi. Mọi thứ đều được tha thứ và lãng quên, mọi người sẽ sống hạnh phúc mãi mãi về sau, và dĩ nhiên phải có một đám cưới.
Chắc chắn phải có đám cưới rồi! Ý nghĩ rằng Mục sư Malden sẽ âm thầm đến nhà rồi làm thủ tục xong xuôi mà không cần chút phô trương hay yến tiệc nào — thật đáng buồn cười khi nghĩ xem ý tưởng đó đã bị đám đông nổi giận trong làng vùi dập ra sao. Sẽ có hoa tươi, có đoàn rước dâu, khăn voan, bánh kẹo, gạo ném, giày dép, tất cả những đạo cụ thân thuộc đối với trái tim của đám đông thị dân cuồng nhiệt. Trong khi đó, hàng đống công việc bận rộn diễn ra tấp nập với những chuyến chạy đôn chạy đáo và đường may mũi chỉ, mấy mụ già đánh trứng và rây bột, đám nữ sinh dùng phấn ăn cắp viết nguệch ngoạc dòng chữ "MARY BLAKE" lên những bức tường cấm kỵ. Ôi chao!
Bạn có thể nghĩ rằng Mary và Joshua sẽ nổi loạn chống lại điều đó. Kỳ lạ thay, họ dường như đã vượt qua cả giới hạn của sự phản kháng. Đặc biệt là Joshua, anh ta đã hoàn toàn thay đổi. Bộ mặt cứng nhắc, chai sạn ngày xưa đã biến mất; sự lơi lỏng của đôi môi đã trở thành vĩnh viễn, cùng với đôi mắt mở trừng trừng. Người ta chỉ có thể nghĩ rằng niềm hạnh phúc bị trì hoãn quá lâu đã ập đến với anh ta như một cơn triều cường định mệnh khiến anh chẳng thể làm gì khác ngoài việc buông xuôi và mỉm cười. Anh cười với tất cả mọi người, một nụ cười căng thẳng và đầy vẻ van lơn; trước mọi đề xuất, anh đều gật đầu: "Được thôi! Tuyệt vời! Làm ngay đi thôi —"
Và người ta phảng phất nhận ra luồng suy nghĩ đang tuôn trào bên trong: "— ngay lập tức đi chứ! Nhanh chân lên làm ơn. Nhanh lên! Vì Chúa, hãy làm ơn nhanh lên!"
Nếu có ai chào hỏi anh ta trên phố, đặc biệt là gọi giật từ phía sau, mắt anh ta sẽ giật thót quay phắt lại nhìn người gọi và đôi khi tay anh ta lại bấu chặt vào ngực. Chứng kiến cảnh anh ta vào một ngày trời quang mây tạnh, và vô tình nghe hai ông già trò chuyện sau lưng mình, tôi lần đầu tiên được biết rằng cha của anh em nhà Blake đã qua đời vì bệnh tim. Thật kỳ quặc khi căn bệnh đó giờ đây lại ứng nghiệm lên Joshua, hoàn toàn đột ngột, đi kèm với lớp mặt nạ rạn nứt cùng bí mật vỡ lở, nụ cười sợ hãi, và câu nói: "Được thôi! Tuyệt vời!" — ("Nhanh lên chứ!")
Nhưng sự thật đúng là như thế. Và thế là chúng ta đã tiến đến ngày được ấn định. Buổi sáng hôm đó, bình minh đỏ rực như máu, và mặc dù trời quang mây tạnh, bầu trời vẫn bao trùm một cảm giác ngột ngạt khó tả — cùng một thứ áp lực đè nặng lên tâm lý người dân. Bởi vì đám rước dâu đã đặt chiếc xe ngựa dạng "hack", còn bà Dow thì đã giữ trước chiếc xe ngựa công cộng duy nhất còn lại mang tên Galloway barge, và điều gì sẽ xảy ra với tất cả những chiếc váy vóc tinh tế, vội vã kia nếu cơn giông bão hay mưa xối xả ập xuống?
Có kỳ lạ không khi đâu đó trong buổi chiều hối hả và mỏi mòn chờ đợi ấy, tâm trí ai nấy lại hoài niệm về một ngày khác, khi một cơn bão đang hình thành và một con tàu cao lớn đang hạ buồm xuôi dòng để vượt qua Mũi đất? Bởi vì nếu hôm nay có mối đe dọa từ thời tiết, thì ở đó cũng xuất hiện một con tàu. Chúng tôi dường như dần nhận ra sự hiện diện của nó qua từng chút một, khi nó tiến đến vô cùng chậm rãi từ vùng biển phía nam rộng lớn, xanh ngắt và lặng gió. Suốt nhiều giờ liền vào đầu buổi chiều, con tàu có vẻ như chẳng hề dịch chuyển trên tấm gương soi của mặt biển. Thế nhưng nó vẫn di chuyển, ngày càng đến gần hơn và lớn hơn, bộ cánh buồm khổng lồ buông thõng thẳng đuột như tấm vải liệm trên những cột buồm, và thân tàu bằng gỗ của nó, chẳng mấy chốc đã phơi bày những vết sẹo cùng lớp muối mặn đóng vảy sau một hải trình dài đằng đẵng vừa trải qua.
Vâng, tôi nghĩ sẽ thật kỳ lạ nếu như trong những khoảnh khắc rảnh rỗi hiếm hoi của buổi chiều hôm đó, ánh mắt chúng ta hướng ra ngoài và rơi trúng sự hiện diện ấy — vừa tiều tụy, kỳ dị lại cô độc giữa vòng tròn mênh mông của đường chân trời — mà lại không dấy lên đâu đó trong lòng chúng tôi một chút ký ức mờ nhạt cùng sự kinh ngạc khôn nguôi. Có lẽ không quá sống động; có lẽ không đủ mạnh mẽ để tồn tại lâu hơn sự biến mất của con tàu. Bởi vì vào khoảng năm giờ chiều, chiếc thuyền vốn đang tiến thẳng về phía Mũi đất bỗng từ từ quay mũi về hướng trái, và vạch ra hải trình vòng qua phía tây của hòn đảo, rồi lững lờ trôi khuất tầm mắt của chúng tôi đằng sau bức tường thành của những vách đá.
Tại sao nó lại làm thế, chẳng một ai có thể lý giải nổi. Tại sao, đối mặt với thời tiết đang giận dữ kéo đến, con tàu lại từ bỏ hải trình thông thoáng vòng qua Mũi đất để thay vào đó lựa chọn mạo hiểm với những bãi cạn và luồng nước xiết cách bờ biển Mũi Pilot phía tây tới tận ba dặm biển — tại sao một thao tác liều lĩnh điên rồ như vậy lại được thực hiện sẽ mãi mãi là một ẩn số.
Nhưng ít ra thì con tàu đó cũng đã biến mất khỏi tầm mắt, và vì thế cũng trôi tuột khỏi tâm trí chúng tôi. Và điều này có lẽ cũng hay, bởi vì đầu óc chúng tôi lúc đó đã quá đủ bận rộn với bao nhiêu thứ bị bỏ sót, nào là khiêng ghế, mượn chậu cảnh, những chuyến đi lặt vặt cười khúc khích của mấy cô gái — và ngay giữa tâm điểm của sự huyên náo phút chót ấy, cơn bão đột ngột ập xuống.
Đó là một thảm họa kinh hoàng làm sao! Một tiếng thở dài vô thanh biết bao đã cất lên vào khoảnh khắc đó từ tất cả các tủ tài liệu và bàn trang điểm dọc theo chiều dài của Làng Urkey! Và tôi mới mừng làm sao! Với một niềm vui độc ác xiết bao, tôi đã tạ ơn bên khung cửa sổ vì từng giọt nước do gió quất tạt vào đã phá hoại phần nào đám cưới của một người đàn bà đáng tuổi gấp đôi tôi!
Những ngọn đèn đường chỉ là những vệt mờ màu vàng nhạt, và gió thổi đầy những tiếng bắn tóe nhỏ, tiếng rít cùng âm thanh phần phật của váy áo và khăn choàng khi tôi một mình khởi hành hướng về Nhà thờ Trung tâm, thầm cầu mong tột độ rằng mình sẽ không bao giờ đặt chân đến đó. Việc tôi không đến nơi chính là lý do duy nhất khiến câu chuyện này được kể lại. Không có nhiều người đến đó vào đêm hôm đó (ý tôi là đàn ông), hoặc nếu họ có đến thì cũng chẳng ở lại lâu, bởi vì có một thứ lớn lao hơn cả đám cưới đang sục sôi phía trước.
Cơn gió đầu tiên mang tin tức ấy lướt ngang qua đường đi của tôi ở Phố Heman, một cái bóng khổng lồ kêu lạo xạo hóa ra là cỗ xe ngựa của Si Pilot đang phi nước đại đầy ẩm ướt hướng về phía đường mòn phía sau, với thùng xe chất đầy những đàn ông là đàn ông. Tôi nhìn thấy gương mặt họ khi họ lướt qua dưới ngọn đèn đường Phố Heman, James Burke, Fred Burke, Sandy Snow, nửa tá lính cứu hộ bờ biển khác đang nghỉ hè ở nhà từ trạm Mũi đất, và chính Đại úy Cook đang níu lấy vai Sandy khi ông chật vật luồn bộ đồ đen đi lễ Chủ nhật vào bên trong bộ áo mưa bằng vải dầu màu nâu cũ kỹ của mình. Chỉ trong chớp mắt, họ đã biến mất, và tôi, quên bẫng đi những ánh đèn màu rực rỡ của Nhà thờ Trung tâm, liền cắm cổ đuổi theo sau họ. Tôi không hề cô độc. Có hàng tá cái bóng đang nện chân sầm sập cùng tôi; tới đường bò thì chúng tôi đã thành một đám đông vài chục người. Tôi nghe thấy tiếng hét của những người đàn ông mà tôi chẳng thể nhìn thấy mặt.
"Mắc cạn á? Ở chỗ nào cơ?"
"Trên bãi cạn ngoài khơi; đầu phía nam của bãi cạn ngoài khơi, họ bảo thế."
Những giọng nói đến rồi đi, bị quất tơi tả bởi gió lốc.
"Cậu vừa bảo tàu nào cơ? Tàu nhà à?"
"Không — con tàu đó kìa."
"Cái gì? Không phải cái đó chứ — chiếc đó — tàu Ấn Độ đấy phỏng!"
"Ừ — chiếc tàu Ấn Độ ấy."
"Tàu Ấn Độ" — "Tàu Ấn Độ!" Tôi không biết đối với họ thế nào, nhưng với tôi, âm thanh của cái tên mang tính huyền thoại ấy, được cõng trên ngọn gió giông bão, nghe lạ lùng hệt như cái bóng của ai đó đang bước ra sân khấu.
Tôi sẽ không phí giấy mực để kể lại cách tôi băng qua hòn đảo; nó sẽ chỉ là một câu chuyện hỗn độn của một tiếng đồng hồ mà bây giờ ngẫm lại chỉ thấy ngắn ngủi như một phút giây. Tôi bị lạc lối ở một đoạn nào đó ngắn hơn chỗ nhà Si Pilot, và lội qua lớp cát hướng về phía tây để ra tới bãi biển, hoàn toàn không một mảy may khái niệm xem mình đang ở đâu.
Tôi chỉ biết rằng đó là một nơi vô cùng vĩ đại và đáng sợ để đứng một mình; vĩ đại với sức nặng của gió và tiếng gầm rú cuồn cuộn của nước; càng đáng sợ hơn vì tôi chẳng thể nhìn thấy tận mắt làn nước ấy, ngoại trừ bóng ma xám xịt hiếm hoi của một cái lưỡi sóng liếm nhanh lên bãi cát để chực chờ chộp lấy chân tôi nếu tôi không kịp nhảy tránh ra cho kịp. Có một bận, một mụ mẹ của những con sóng lao vào tôi với một khúc gỗ khổng lồ mờ mịt; tôi né được nó, chẳng biết bằng cách nào, rồi loạng choạng tiến về phía nam, vừa liếc qua vai nhìn bóng tối vừa tự hỏi liệu con tàu đã vỡ nát chưa, và liệu cái thứ đằng sau lưng tôi có phải là một chiếc sườn tàu bung ra từ nó hay không.
Điều đó khiến tôi nghĩ đến tất cả những con người đang gặp nạn ngoài kia đang bám chặt vào những vật trơn tuột mà họ chẳng thể nhìn thấy, có lẽ đang nguyền rủa, hoặc đang cầu nguyện, hoặc có lẽ đang trượt dần xuống, xuống mãi, vào những hang động lạnh lẽo, tối thẳm của đại dương. Và rồi bóng tối dường như tràn ngập những bóng ma, và những cái lưỡi sóng suýt chút nữa đã chộp được đôi chân đang lơ đễnh của tôi.
Nếu khoảng thời gian băng qua hòn đảo chỉ dài như một phút, thì quãng thời gian tôi mò mẫm dọc theo bãi biển dài dằng dặc như cả tỉ đêm liền. Và rồi một trong những cái bóng ấy bỗng đặc quánh lại, và tôi lâm vào tình cảnh suýt chút nữa đã quay đầu tháo chạy trước khi nó cất tiếng và tôi nhận ra đó là Rolldown Nickerson, gã chuyên nhặt đồ trôi dạt.
Hắn ta theo nhiều cách là một gã tốt tính. Nhưng bạn phải nhớ rằng nghề nghiệp của hắn là nghề của loài kèn kèn ăn xác thối, và điều đó đã ngấm một phần vào tâm hồn hắn. Nó lộ rõ mỗi khi thời tiết có bãi biển gặp nạn. Vào đêm mà bãi cạn vớ bở được một món hời lớn, tôi xin đính chính là bạn suýt có thể nhìn thấy cái cổ của Rolldown dài ra và trụi lông hơn vì sự tởm lợm hồi hộp. Hắn sẽ kiếm chác được nhiều hơn từ việc vớt đồ đạc nếu hắn giữ được cái đầu tỉnh táo hơn: trong những khoảnh khắc vàng ngọc hiếm hoi khi của trời cho rơi xuống, đôi khi hắn lại thất bại trong việc chọn lọc và nhặt nhạnh. Ngay cả lúc này, hắn cũng đang còng lưng mang theo một đống rác rưởi mờ mịt mà hắn vớ được trong bóng tối, những thứ hắn chẳng biết để làm gì, những cái chai rỗng và phao lưới, rác rưởi mà có lẽ hắn đã bước qua hàng trăm lần trong những vòng tuần tra ban ngày của mình. Điểm may mắn vớt vát là hắn liên tục làm rơi chúng trong cơn hăng máu tìm kiếm những khoảnh khắc báu vật khác mà đôi chân mù lòa của hắn vô tình vấp phải. Tôi lê bước theo sau hắn và tôi thừa biết điều đó, vì tới nửa tá lần những món đồ hắn vứt đi lại ngáng dưới chân tôi khiến tôi chao đảo. Có lần, bị kích thích bởi một sự tò mò kỳ quái, ngẫu nhiên của xác suất một phần vạn, tôi cúi xuống và vồ lấy một món khi đi ngang qua.
Hết lần này đến lần khác kể từ dạo đó, tôi vẫn luôn tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với lịch sử thế giới tuổi thơ tôi nếu tôi không bị xui khiến như thế, và cúi xuống một cách hoàn toàn bất cẩn khi đi ngang qua, để rồi tóm lấy thứ mà tôi đã cầm.
Vẫn bận tâm với việc giữ cho người dẫn đường nằm trong tầm mắt, tôi bắt đầu săm soi thứ đó bằng những ngón tay lơ đễnh; trong bóng tối đen đặc, các đầu ngón tay là đôi mắt duy nhất tôi có cho một vật nhỏ bé như thế. Nó có kích thước cỡ một hộp bơ năm pao, tôi đoán vậy; khi nằm trong lòng bàn tay, nó giống như một chiếc tráp cổ được đánh bóng kỹ lưỡng, một tạo tác mang nghệ thuật ngoại lai, với các bề mặt được khảm sơn mài rộng bản, những đường cong và những mảnh chạm trổ tinh xảo. Và tôi đã tưởng nó trống rỗng cho đến khi tôi lắc nó và cảm nhận được sự va đập lách cách nhỏ xíu của một vật nặng có buồng chứa bên trong. Ngay lập tức vật đó đã thu hút sự chú ý của tôi. Tiến lên bắt kịp Rolldown, tôi chạm vào cánh tay hắn và hét to vào tai hắn, át cả tiếng gió và tiếng sóng vầm vập:
"Cậu vớ được cái gì thế này, Rolldown?"
Hắn cầm lấy và mân mê nó, làm rơi một nửa đống rác rưởi của mình xuống đất. Hắn lắc lắc nó. Dường như tôi có thể nhìn thấy cái cổ của hắn đang dài ra.
"Có cái gì trong này này," hắn lầm bầm.
"Ừ, tôi biết rồi. Giờ trả lại nó cho tôi đi, Rolldown."
"Nặng phết đấy," hắn tiếp lời, và tôi nhận ra hắn đã vứt bỏ phần còn lại của những báu vật lượm lặt để bám chặt lấy thứ này. "Nặng tay phết — và có giá trị lắm đấy!"
"Nhưng nó là của tôi, tôi bảo thế cơ mà!"
"Không phải đâu! Chẳng phải thế đâu!"
Hắn càng lúc càng rảo bước nhanh hơn để hất cẳng tôi, còn tôi thì cố bám sát theo hắn; tiếng cãi vã giận dữ của chúng tôi vút cao hơn giữa tiếng gió lốc.
Bây giờ nghĩ lại, tôi không thể nhịn được cười khi nhớ về cặp đôi ngây ngô chúng tôi đêm hôm đó, thở hồng hộc dọc theo bãi cát trong cơn gió lạnh buốt và ướt sũng, tranh chấp với nhau hệt như hai đứa trẻ giành giật chiếc tráp vô hình vô giá vừa trôi dạt lên từ lòng đại dương.
"Nó là của tôi!" tôi hét lên, "và cậu phải đưa nó cho tôi!" Và tôi lại chồm tới giật lấy tay hắn. Nhưng lần này, sau một tiếng éc thất thanh, hắn hất phăng tôi ra và tháo chạy ngược lên bờ, hướng thẳng lên triền cồn cát, và tôi thì bám sát ngay đằng sau hắn.
Và thế là, kẻ đuổi người chạy, chúng tôi bất ngờ vượt qua một sườn của cồn cát và nhìn thấy phía dưới trên bãi biển phía nam đống lửa trại mà đội cứu hộ đã nhóm lên. Có rất nhiều bóng người nhỏ xíu đang chập chờn trong ánh lửa, một chiếc thuyền cứu hộ được kéo lên bờ, tôi nghĩ thế, và một đám đông ngọc ngà của những con người xa lạ.
Nhưng tôi chẳng thể thề độc về bất kỳ điều gì trong số đó; tâm trí tôi đã bị giật ngược lại một cách đột ngột đến tất cả những vở kịch đã bị lãng quên của đêm hôm đó, những khúc nhạc và những gương mặt trong Nhà thờ Trung tâm, những bông hoa, chú rể và cô dâu.
Bởi vì ngay trên đỉnh dốc trước mặt tôi, hiện lên hình bóng ngược sáng đối lập với ánh lửa hồng, chính là cô dâu.
Bằng cách nào mà cô có mặt ở đó, bằng bạo lực hay mưu kế hoang đường nào mà cô đã trốn thoát được, con đường mù lòa nào đã đưa cô, một kẻ trốn chạy, vượt qua hòn đảo — tất cả đều vượt quá tầm hiểu biết của tôi. Nhưng mặc kệ; cô đang đứng đó ngay trước mặt tôi trên cồn cát ở Mũi Pilot, bất động hệt như một bức tượng lạc lối, chiếc khăn voan và lụa sa tanh ôm sát lấy thân hình được uốn lượn bởi gió lốc, bọc lấy vóc dáng cô mờ ảo như cẩm thạch sáng ngời, đôi tay bất động tĩnh lặng như đá đặt hờ trên lồng ngực không hề phập phồng, gương mặt hướng thẳng ra hướng biển vô hình... Thật kỳ lạ khi thấy cô ở trong trạng thái đó: mờ ảo, bạn biết đấy; chỉ hiện lên mờ nhạt trong màn sương huyền bí nhờ thứ ánh sáng chiếu rọi từ một khoảng cách xa xuyên qua màn đêm dội bão rồi lịm tắt ngay khi vừa chạm vào người cô.
Nhìn trân trân vào cô, một ý nghĩ kỳ lạ nhất xẹt qua đầu tôi, và tôi có cảm giác như thể cô đã đứng ở đúng tư thế đó, không phải trong vài phút, mà là suốt hàng giờ hàng ngày; vâng, đứng đó suốt ngọn nguồn của mười năm đằng đẵng ấy, sừng sững trên một cồn cát hướng ra biển, không hề nao núng trước những nguyên tố thiên nhiên cuồng nộ chuyển động, dòng nước vỡ nát, tiếng gió than khóc, cát bắn ra như kim châm — hệt như thể linh hồn cô đã bay bổng đi lo liệu những việc khác, để lại cái thể xác tĩnh lặng ở đó chờ đợi và canh chừng cho đến khi thủy triều của định mệnh, xoay vần theo chu kỳ được ấn định, mang con tàu huyền thoại từ Ấn Độ quay trở lại để tìm thấy nấm mồ của nó trên những bãi cạn tại Mũi Pilot.
Chắc hẳn cô đã chuẩn bị sẵn sàng để đến nhà thờ; có lẽ cô thực sự đang trên đường đi, và chính trên ngọn gió của con đường bò ấy, tin tức lan truyền về "con tàu Ấn Độ" đã lọt vào tai cô. Tôi không thể diễn tả mình đã bị lay động nhường nào khi nhìn thấy cô trong tàn tích đầy tha thiết của bộ váy cưới. Tôi không thể nói những mục đích to lớn, rối rắm nào đã cuồn cuộn trôi qua đại não tôi khi tôi đứng đó cố gắng húng hắng ho hoặc cựa quậy hay dùng một sự bạo lực nhỏ nhoi nào đó để cho cô biết rằng tôi, Peter Means, đang ở đó — rằng tôi thấu hiểu — rằng tôi mạnh mẽ hơn tất cả những đàn ông trên đảo Urkey — rằng qua xác chết của tôi thôi thì bất kỳ điều tồi tệ nào mới được phép chạm đến cô từ nay về sau, cho đến tận muôn đời muôn thuở.
Như tôi đã nói với bạn, tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra lúc đó, với tất cả những dự án phòng thủ hoang dã, tăm tối của mình, nếu như toàn bộ ảo ảnh ấy không bỗng chốc sụp đổ xung quanh tai tôi theo giai điệu của một tiếng kêu be bé đầy hoảng sợ ở ngay bên cạnh. Đó là Rolldown Nickerson, tôi nhận ra khi quay phắt người lại; kẻ thù đã bị tôi lãng quên, vừa vứt phăng chiếc tráp gỗ màu nâu cổ quý giá mà hắn vừa cướp đi từ tay tôi, và, vẫn tiếp tục phát ra cái nốt cao vút, mỏng manh của nỗi kinh hoàng, lảo đảo, trượt ngã rồi bắn tóe nước chạy thốc xuống sườn cát. Và khi hắn biến mất và tiếng kêu thảm thiết của hắn nhỏ dần quanh khúc quanh của cồn cát, một âm thanh khác cũng lọt vào tai tôi. Rõ ràng là cuộc phi nước đại mù lòa ấy đã khiến hắn va chạm với một cư dân khác của màn đêm; tiếng gào thét phản đối cất lên theo chiều gió, và đó chính là giọng của Miah White — vị tiên tri Miah, kẻ báo thù, say xỉn như chúa đất và điên cuồng như một kẻ vừa đắc đạo.
Chẳng còn thời gian để suy nghĩ; tôi cũng chẳng cần phải nghĩ để biết hắn đang truy lùng cái gì. Mary cũng đã nghe thấy, và cũng thừa biết; hệt như thể cô vừa bừng tỉnh sau một giấc ngủ, và đôi mắt cô "đủ sức khiến bất cứ ai cũng phải chạnh lòng thương cảm", theo lời cũ của Mụ Poll. Thấy họ đang dán mắt vào mình, và chẳng thèm liếc lấy một cái đến chiếc tráp thứ đã lăn lóc đến sát chân cô, tôi liền quay người cắm cổ chạy thục mạng, lao xuống dốc cát, vòng qua sườn cồn cát để khuất tầm mắt, và đâm thẳng vào vòng tay của vị thiên sứ của sự báo thù. Tôi vẫn có thể nhìn thấy tròng mắt trắng dã lờ mờ của hắn khi hắn trừng trừng nhìn tôi, và ngửi thấy cái mùi kinh tởm từ những lời nguyền rủa của hắn. Nhưng tôi chẳng mảy chỉ tâm; chỉ cố gắng vùng vẫy để chạy tiếp.
"Lối này!" tôi thở hổn hển. "Hướng bắc ấy! Hắn đang chạy về hướng bắc. Tôi vừa thấy váy cô ấy ở đằng kia, ngay lúc nãy——"
Chỉ cần bấy nhiêu thôi cũng đủ để hướng sự chú ý của hắn. Khi tôi lao đi, luồn lách vào đất liền, tôi nghe thấy hắn đang bám theo sau tôi với thân hình nặng nề, rên rỉ thở hắt ra. Sự hăng hái của hắn lớn hơn tôi; vừa chạy tôi vừa nghe thấy giọng nói lè nhè của hắn càng lúc càng sát bên tai.
"'Cô ta sẽ quay lại,' ta bảo thế, 'với bàn tay sắt', ta bảo thế."
Như thường lệ trong trạng thái đắc chí này, ngôn từ của hắn mang đậm chất Kinh thánh.
"'Ngươi phải ở lại đây,' tôi nghe thấy hắn lầm bầm. 'Ngươi phải ở lại đây để đến nhà thờ, Joshua,' tôi bảo thế. 'Và cô ta sẽ quay lại với bàn tay sắt — bàn tay sắt!'"
"Đúng thế!" tôi thở dốc. "Đúng vậy đấy, Miah; mau lên. Đằng kia kìa!" tôi hét lên.
Cơn mưa đã ngớt dần và vầng trăng đang nhô lên rọi xuyên qua lớp mây giông một vệt sáng mờ ảo, vừa đủ để chúng tôi thoáng nhìn thấy một bóng người đang leo lên đỉnh dốc phía trước. Hóa ra đó chẳng phải ai khác ngoài Rolldown, vẫn đang hoảng hốt trốn chạy điều bí ẩn và vừa chạy vừa ré lên be bé, điều đó chẳng tạo ra sự khác biệt nào đối với đôi mắt đang lờ mờ của Miah; hắn cắm ngón chân xuống cát và lao vút lên với tốc độ còn cuồng nhiệt hơn nữa — đuổi theo một con mồi đang chạy nhanh hơn.
Tôi sẽ kể cho bạn nghe chúng ta đã tóm được Rolldown ở đâu. Chính là trước cửa nhà thờ, ngay giữa khoảng không gian ngập tràn ánh sáng rực rỡ từ những khung cửa sổ kính màu. Khi Miah phát hiện ra kẻ bị bắt đang thở hồng hộc ấy là ai, cơn thịnh nộ của hắn trong một thoáng thực sự là thứ để đời. Sau đó nó qua đi, để lại hắn ngẩn ngơ và trống rỗng trong sự thất bại. Bản thân gã chuyên nhặt đồ trôi dạt, mặt tái mét như bột bả xuyên qua lớp râu mọc lởm chởm, đang van xin chúng tôi từ bóng râm phớt hồng của Tông đồ Phao-lô: "Các người thấy nó chưa? Thấy cái tôi thấy chưa?" nhưng Miah chẳng thèm đếm xỉa đến hắn, và bước lên bậc tam cấp rồi lê bước nặng nhọc qua tiền sảnh, bước vào thứ ánh sáng mờ ảo cùng mùi hương ngào ngạt của hơi thở và hoa tươi. Bám sát gót hắn, tôi nhìn thấy gương mặt của những người phụ nữ quay phắt lại hướng về phía cửa ra vào với vẻ đầy kỳ vọng.
Bạn có biết cái cảm giác khủng khiếp của một bữa tiệc bỗng chốc tẻ nhạt đến tột cùng không? Bạn có biết sự hoang vắng của một niềm hy vọng bị trì hoãn quá lâu — để rồi lại bị trì hoãn thêm lần nữa?
Joshua đang đứng ở góc khuất nhất, bên kia những dãy ghế nơi lớp học Trường Chủ Nhật của cô Beedie ngồi. Nhìn băng qua biển người với ánh mắt đầy thắc mắc và thất vọng, tôi nhìn thấy anh ta ở đó, bất động, quay lưng về phía tất cả chúng tôi. Anh ta đã đứng như thế suốt một tiếng đồng hồ, họ bảo vậy, trừng trừng nhìn ra ngoài cửa sổ vào chính chiếc bóng của mình hắt lên hàng rào nghĩa trang nhà thờ.
Đó là một khoảnh khắc đầy nhức nhối. Khi Miah gục xuống một chiếc ghế băng ở dãy sau và ôm mặt vào hai bàn tay, thực tình tôi nghĩ bạn có thể nghe rõ cả tiếng một chiếc kim rơi. Rồi, với một tiếng sột soạt gần như không thể nghe thấy, tất cả những khuôn mặt quay ngoắt thành những tấm lưng và mọi ánh mắt đều dồn về phía dáng hình bất động bên ô cửa sổ góc phòng. Và sau đó, cùng một nhịp điệu đồng thuận, sự chờ đợi bị phá vỡ, những tiếng thì thầm lan khắp các dãy ghế, sự thật hiển nhiên được chấp nhận. Mọi người đứng dậy, lôi kéo chân, mặc lại áo khoác với những cử động quen thuộc, nhẹ nhàng, vẫn tiếp tục thì thầm, thì thầm — "Thật là xấu hổ!" — "Chịu thua luôn!" — "Tôi muốn biết cơ đấy!"
Nhưng một số người trong số họ chắc hẳn vẫn đang liếc nhìn Joshua, bởi vì sự im lặng bỗng nhiên bao trùm đột ngột và trọn vẹn. Quay người lại, tôi thấy cuối cùng anh ta cũng đã quay đi khỏi cửa sổ, phơi bày gương mặt trước chúng tôi.
Giờ thì chúng tôi đã hiểu anh ta đã tự làm gì với bản thân mình trong suốt tiếng đồng hồ đằng đẵng đó. Gương mặt anh ta giờ đây lại một lần nữa là chiếc mặt nạ quen thuộc mà chúng tôi từng biết qua bao nhiêu năm trời với cái tên Joshua Blake, khô khốc, cay đắng, khép kín, đôi mắt nheo lại dưới mí, đôi môi mỏng dính như sự căm hận. Anh đối mặt với chúng tôi, nhưng không phải nhìn chúng tôi; mà là nhìn vượt qua chúng tôi, trên đầu chúng tôi, hướng về góc phòng nơi có cánh cửa.
Ở đó, được khung cửa ôm trọn lấy, chính là cô dâu đến muộn, một dáng hình trắng bệch và cứng đờ như bức tượng ngoại giáo, cùng với biểu cảm trên gương mặt cô mang vẻ tĩnh lặng, đáng sợ hệt như một kẻ mộng du. Cô cũng chẳng mảy may để tâm đến chúng tôi, mà phóng tầm mắt vượt qua đầu chúng tôi để chạm vào ánh mắt của chú rể. Cả hai đối mặt nhau trân trân trong suốt thời gian của một hơi thở dài. Rồi chúng tôi nghe thấy cô cất lời.
"Cậu ấy về rồi!" cô nói bằng một giọng trong trẻo. "Andrew đã quay về rồi."
Cô vẫn nhìn chằm chằm vào Joshua. Anh ta không hề nhúc nhích hay đáp lời.
"Anh hiểu chứ?" Tôi xin thưa với bạn, kẻ đứng ngay bên dưới, rằng thật kỳ lạ biết bao khi nghe giọng nói ấy — trong trẻo, mạnh mẽ nhưng phảng phất chút tan vỡ — vang vọng trên đầu chúng tôi. "Anh hiểu không, Joshua? Andrew đã quay về dự đám cưới rồi, và giờ em sẽ cưới anh — nếu anh muốn."
Thậm chí đến lúc đó Joshua vẫn không thốt một lời, vẻ giận dữ khô khốc trên mặt anh cũng không thay đổi. Anh bước tới, thong thả cất bước, đầu tiên là dọc theo những dãy ghế ở phía trước, rồi tiến lên suốt chiều dài lối đi dọc giữa. Đang bước xuống vài bậc thềm, Mary đứng chờ anh, và trên môi cô lúc này vương một nụ cười kỳ lạ.
Joshua khựng lại trước mặt cô. Khoanh hai tay ra sau lưng, anh chầm chậm quan sát cô từ đầu đến chân.
"Cô nói dối!" Đó là tất cả những gì anh thốt lên.
"Ồ không, Joshua. Em không nói dối đâu. Andrew đã đến dự đám cưới rồi đây."
"Cô nói dối," anh lặp lại bằng đúng cái giọng vô cảm đó. "Cô thừa biết là tôi biết cô đang nói dối, Mary, vì cô biết tôi biết chắc Andrew đã chết rồi."
"Đúng vậy, đúng vậy —" Cô đang lúi húi gỡ một nếp áo ướt sũng ra khỏi thứ gì đó đang được ôm gọn trong khúc khuỷu tay.
"Nhưng em đâu có bảo rằng——"
Nói đoạn, cô mở tung vật đang bọc kín ra và giơ nó lên trong lòng bàn tay đang chìa ra.
Cô giơ nó ra dưới ánh đèn để tất cả chúng tôi đều có thể nhìn thấy — thứ mà Rolldown đã vứt đi khỏi đống chiến lợi phẩm, thứ mà tôi đã nhặt lên và bị cướp mất trong màn đêm nhân từ ấy — chiếc tráp gỗ màu nâu cổ xưa với những bề mặt nhẵn bóng cùng những mảnh chạm trổ tinh xảo ghê rợn từng có lúc đón nhận ánh sáng ban ngày và âm thanh của lời nói — chiếc hộp nâu cũ kỹ, bị biển cắn xé, bị cát mài mòn chính là hộp sọ của Andrew Blake, với hai chiếc răng vàng ở hàm trên đã mờ đục đi vì những dòng thủy triều ngả màu muối mặn đã từ từ vớt nó lên từ đáy biển sâu thẳm. Và nghĩ đến việc tôi đã từng mang nó theo, từng sờ soắn nó mà chẳng hề hay biết đó là thứ gì!
Nó nằm lăn lóc một cách ngoan ngoãn trong lòng bàn tay Mary, hoàn toàn không mảy may để tâm đến chúng tôi, mà chỉ đăm đăm dán cái nhìn hốc hác vào những chiếc bóng ẩn khuất giữa các vì kèo mái nhà. Và Joshua, người anh trai, không thốt lên một tiếng động nào.
Gương mặt anh ta đổi sang một màu sắc kỳ quái, hệt như sắc xanh tái của những mầm cây đâm chồi dưới tảng đá. Đầu gối anh ta hơi khụy xuống dưới sức nặng cơ thể, và khi chúng tôi nín thở quan sát, ta thấy hai bàn tay anh đang bấu víu lên chính ngực mình, nơi trái tim đang nằm, với một cử động bất lực tựa như đang mơn trớn. Sau khoảng thời gian tưởng chừng như vô tận, chúng tôi nghe thấy giọng anh ta cất lên, một tiếng thì thầm đầy vẻ mê hoặc ghê rợn.
"Lật nó lại xem nào!"
Mary không nói gì, cũng chẳng nhúc nhích làm theo lời anh. Hệt như một trò chơi tàn nhẫn của con mèo vờn con chuột, cô đứng yên lặng và chăm chú nhìn anh.
"Mary — làm theo lời anh đi — và lật nó lại!"
Sự im lặng không đáp lời kéo dài của cô cuối cùng dường như đã chọc giận anh ta. Giọng anh ta ré lên sắc lẹm. Huy động chút sức lực cuối cùng còn ẩn giấu, anh thét lên: "Đưa nó cho tôi! Nó là của tôi cơ mà!" và có một động thái lao tới bất ngờ, đôi bàn tay khua khoắng cấu xé lấy cổ vật. Nhưng anh họ tôi là Duncan đã kịp thời bước ra chắn ngang đường và đẩy anh ta chao đảo văng ra rìa đám đông.
Gã kỳ quặc đó không hề dừng lại, quay đầu hay thử lại lần nữa; liên tục phát ra tiếng cười cợt ghê rợn nhất mà tai tôi từng được nghe thấy, hắn cứ thế lao thẳng qua cánh cửa và gian tiền sảnh chật ních người, vẫy vùng cào cấu để tìm đường ra ngoài khoảng không với chút sinh khí ngắn ngủi còn sót lại.
Thật quá đỗi hoang đường và rợn ngợp khi nhìn thấy anh ta cư xử như thế, trong bộ quần áo lanh trắng cùng lễ phục đen lịch lãm cùng mái tóc hoa râm đủ để che cho đầu của một ủy viên hội đồng năm tới — mọi thứ thật ngớ ngẩn và kinh hoàng đến mức chúng tôi cứ thế chết trân tại chỗ trong nhà thờ, ngạc nhiên nhìn Mary Matheson và thấy gương mặt cô vẫn chìm đắm trong nỗi u mê tĩnh lặng, cùng nụ cười ma quái hiện hữu, hệt như thể cô không hề biết rằng những giọt nước mắt tròn xoe đang tuôn rơi thành dòng trên má.
“Cứ để hắn đi,” đó là tất cả những gì cô nói.
Họ đã không để mặc anh ta đi quá lâu, bởi vì họ đã nhìn thấy vết ấn của tử thần trên gương mặt người đàn ông ấy. Khi cuối cùng họ tìm kiếm anh ta, họ phát hiện anh nằm bất động ngã gục trên thảm cỏ gần cổng nhà Lem White. Tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh của anh dưới ánh đèn lồng, cũng như ánh mắt của những kẻ vây quanh trân trân nhìn xuống anh — tôi nhớ Duncan thì đang bối cảnh — Miah thì nguyền rủa Chúa — và ba người đàn ông da đen ngơ ngác đảo tròng mắt trắng dã, những thủy thủ da đen xa lạ được cứu từ vụ đắm tàu: bởi vì con tàu rốt cuộc không phải tàu Ấn Độ, mà là một chiếc tàu chở cà phê đến từ Brazil.
Nhưng nhìn thấy Miah khiến tôi nhớ lại câu hỏi bị lãng quên từ lâu mà đôi môi của người đàn ông đã khuất này từng đặt ra cho đại dương điếc đặc và bầu trời mù lòa.
"Ai sẽ phải trả món nợ này? Ai là kẻ trả tiền đây?"
Chà, hai trong số ba người đã góp phần thanh toán món nợ đó bằng một lời nói bâng quơ của một thiếu nữ. Nhưng tôi nghĩ người còn lại mới là kẻ phải trả giá nhiều nhất, bởi vì cô ta có quãng thời gian dài hơn để đối mặt với khoản nợ đó. Cô ấy vẫn sống ở đó, đơn độc trong ngôi nhà trên con đường bò. Giờ đây cô đã là một bà lão, nhưng trên gương mặt chẳng hề có lấy dù chỉ một nếp nhăn hay một sợi tóc bạc nào, và điều đó thật tệ. Điều đó lúc nào cũng tệ hại cả. Nó giống như lời nguyền từng giáng xuống kẻ được mệnh danh là Người Do Thái Lang Thang. Vâng, tôi hoàn toàn chắc chắn Mary đã phải trả giá đủ rồi.
Nhưng tôi suýt quên mất câu trả lời cho tất cả những chuyện này. Tôi chẳng phải chờ đợi lâu như đa phần mọi người — chẳng lâu hơn một tiếng đồng hồ trong đêm định mệnh đó. Bởi vì khi tôi về đến nhà bếp của chúng tôi, tôi đã thấy anh họ Duncan đang ở đó từ bao giờ với ngọn đèn dầu được thắp sáng. Tôi rón rén bước vào vì trời đã quá muộn, và đó là cách tôi bất ngờ bắt gặp anh ấy và thoáng nhìn thấy thứ mà anh đang giấu trước khi kịp cất nó đi.
Tôi vẫn không biết làm thế nào mà anh ấy lại có được nó, nhưng ngay trên chiếc bàn bếp lúc đó chính là hộp sọ của Andrew Blake. Khi tôi cầm nó lên, bất chấp sự ngăn cản của anh, và lật ngược nó lại, tôi đã tìm thấy thứ mà ý Joshua ám chỉ — một lỗ thủng nhẵn thín và tròn vo như mũi khoan xoắn ốc nằm ở phần phình ra đằng sau đầu. Và khi nhớ lại cảm giác va đập nhè nhẹ có buồng chứa mà tôi từng cảm nhận được khi lắc món báu vật vô danh trên bãi biển, tôi nheo mắt nhìn qua cái lỗ tròn đó, và nhận ra hình hài của một viên đạn chì nằm lọt thỏm kẹt giữa hai điểm xương phía sau mũi — một viên đạn, tôi dám cá là thế, bắn ra từ khẩu súng lục đấu súng đơn cũ kỹ — thứ vũ khí mà Joshua Blake từng đùa giỡn trong bóng râm dưới những tán cây táo vào buổi chiều xa xăm ấy, và chắc hẳn đã đút trong túi áo khi bước vào bữa tiệc sinh nhật náo nhiệt ngập tràn ánh đèn của Alma Beedie...