Tứ Đại Gia

Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Người Hoa Hấp Hối

❊ ❊ ❊

Ngay cả lúc này, tôi vẫn khó lòng cầm bút viết lại những ngày tháng Ba kinh hoàng ấy.

Poirot—Hercule Poirot độc nhất vô nhị, không ai có thể sánh bằng—đã chết! Chiếc bao diêm bị đặt xô lệch quả là một đòn hiểm độc của loài quỷ dữ, bởi nó chắc chắn sẽ đập vào mắt anh, và anh sẽ vội vàng xếp nó ngay ngắn lại—để rồi kích hoạt khối thuốc nổ. Thực tế đau lòng là chính tôi lại là kẻ gián tiếp gây ra thảm họa, nỗi ân hận khôn nguôi ấy cứ giày vò tâm can tôi mãi. Đúng như lời bác sĩ Ridgeway, việc tôi không mất mạng mà chỉ bị chấn động não nhẹ quả thực là một phép màu kỳ diệu.

Dù cảm giác như mình đã tỉnh lại ngay tức khắc, nhưng trên thực tế phải hơn hai mươi tư giờ sau tôi mới hồi sinh. Mãi đến tận chiều tối ngày hôm sau, tôi mới có thể lảo đảo bước từng bước yếu ớt sang căn phòng bên cạnh, nghẹn ngào xúc động nhìn chiếc quan tài bằng gỗ đu thô mộc, nơi an nghỉ của một trong những con người phi thường nhất mà thế giới này từng sản sinh.

Ngay từ giây phút đầu tiên hồi tỉnh, trong tâm trí tôi chỉ còn duy nhất một mục đích—báo thù cho Poirot, và truy lùng Bộ Tứ tàn độc đến cùng trời cuối đất.

Tôi ngỡ Ridgeway cũng sẽ chung chí hướng với mình về chuyện này, nhưng đáng ngạc nhiên thay, vị bác sĩ đáng kính lại tỏ ra hờ hững một cách khó hiểu.

"Hãy quay về Nam Mỹ đi," đó là lời khuyên ông ta đưa ra trong mọi lần trò chuyện. Sao phải cố đâm đầu vào chuyện bất khả thi? Diễn đạt một cách tế nhị nhất thì ý của ông ta là: Nếu ngay cả Poirot, một Poirot xuất chúng dường ấy còn thất bại, thì liệu tôi có cơ may nào thành công?

Nhưng tôi vô cùng ngoan cố. Gạt sang một bên câu hỏi liệu tôi có đủ năng lực gánh vác trọng trách này hay không (và xin nói thêm là tôi chẳng hề đồng tình với nhận định của ông ta về điểm này), tôi đã cộng tác với Poirot bao năm ròng đến mức thuộc lòng từng phương pháp của anh, và tôi cảm thấy mình hoàn toàn có thể tiếp nối công việc dang dở nơi anh đã ngã xuống; với tôi, đây là vấn đề của tiếng gọi con tim. Bạn tôi đã bị sát hại dã man. Lẽ nào tôi lại ngoan ngoãn quay về Nam Mỹ như một kẻ hèn nhát mà chẳng thèm nhấc một ngón tay để đưa lũ thủ ác ra trước công lý?

Tôi đem tất cả những lời ấy và còn nhiều hơn nữa giãi bày với Ridgeway, ông ta lắng nghe hết sức chăm chú.

"Dẫu vậy," ông ta cất lời khi tôi dứt lời, "lời khuyên của tôi vẫn trước sau như một. Tôi tha thiết tin rằng nếu Poirot còn ở đây, chính anh ấy cũng sẽ giục anh quay về. Nhân danh anh ấy, tôi xin anh đấy, Hastings, hãy từ bỏ những ý nghĩ điên rồ này và trở về trang trại của anh đi."

Trước câu nói ấy chỉ có một câu trả lời duy nhất, và ông buồn bã lắc đầu, không nói thêm lời nào nữa.

Phải mất một tháng tôi mới bình phục hoàn toàn. Vào khoảng cuối tháng Tư, tôi đã xin và được chấp thuận một cuộc hội kiến với Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Cung cách của ngài Crowther khiến tôi nhớ đến bác sĩ Ridgeway. Vừa xoa dịu lại vừa thoái thác. Dù đánh giá cao thiện chí giúp sức của tôi, ngài nhẹ nhàng và lịch thiệp từ chối. Những tài liệu mà Poirot đề cập trước kia nay đã được chuyển vào sự quản lý của ngài, và ngài trấn an rằng chính phủ đang thực hiện mọi biện pháp khả dĩ để đối phó với mối hiểm họa sắp tới.

Tôi đành phải bằng lòng với niềm an ủi lạnh lùng ấy. Ngài Crowther kết thúc buổi diện kiến bằng việc giục tôi quay về Nam Mỹ. Tôi thấy toàn bộ cơ sự này thật hết sức đáng thất vọng.

Đáng lẽ ra, tôi nên kể lại tang lễ của Poirot ở một đoạn trước đó cho đúng trình tự. Đó là một buổi lễ trang nghiêm và xúc động, còn lượng hoa viếng nhiều đến mức khó tin. Hoa gửi đến từ mọi tầng lớp, sang hèn đều có, minh chứng rõ ràng cho vị thế mà người bạn tôi đã gầy dựng được tại đất nước mà anh chọn làm quê hương thứ hai. Riêng tôi, đứng bên bờ huyệt mộ và hồi tưởng lại bao thăng trầm đã cùng trải qua cùng những ngày tháng êm đềm bên nhau, tôi thực sự không cầm được nước mắt.

Đến đầu tháng Năm, tôi đã vạch ra một kế hoạch hành động. Tôi thấy tốt hơn cả là tiếp tục kế sách của Poirot: đăng báo tìm kiếm bất kỳ thông tin nào liên quan đến Claud Darrell. Tôi cho đăng mẩu quảng cáo với nội dung này trên hàng loạt nhật báo buổi sáng, và khi đang ngồi trong một quán ăn nhỏ ở Soho để ngẫm nghĩ về tác động của nó, một mẩu tin ngắn ở trang khác của tờ báo đã giáng cho tôi một cú sốc điếng người.

Rất vắn tắt, bản tin tường thuật về sự biến mất đầy bí ẩn của ông John Ingles khỏi con tàu S.S. Shanghai không lâu sau khi tàu rời bến Marseilles. Dù biển hoàn toàn êm đềm, người ta e rằng quý ông xấu số này đã rơi xuống biển. Mẩu tin kết lại bằng vài dòng tóm lược về quãng đời cống hiến lâu dài và lẫy lừng của ông Ingles tại Trung Hoa.

Tin tức này thật đáng ngại. Tôi nhận thấy ngay một âm mưu đen tối đằng sau cái chết của Ingles. Chẳng một giây phút nào tôi tin vào giả thuyết tai nạn. Ingles đã bị mưu sát, và cái chết của ông rõ ràng là bàn tay của lũ Bộ Tứ đáng nguyền rủa.

Khi tôi ngồi chết lặng trước hung tin và mải suy đi tính lại toàn bộ sự việc, tôi bỗng giật mình trước hành vi kỳ quặc của người đàn ông ngồi đối diện. Nãy giờ tôi không mấy để ý đến ông ta. Đó là một người đàn ông trung niên gầy gò, da dẻ ngăm đen bủng beo, có chòm râu nhọn. Ông ta ngồi xuống đối diện tôi êm đến mức tôi hầu như chẳng nhận ra sự xuất hiện của ông ta.

Nhưng những cử chỉ lúc này của ông ta, nói giảm nói tránh nhất, cũng là vô cùng kỳ quái. Rướn người về phía trước, ông ta thong thả rắc muối cho tôi, vun thành bốn đống nhỏ viền quanh mép đĩa ăn của tôi.

"Xin thứ lỗi cho tôi," ông ta cất giọng sầu não. "Người ta thường bảo, rắc muối cho người lạ là mang lại phiền muộn cho họ. Đó có thể là điều khó lòng tránh khỏi. Dẫu vậy, tôi mong không phải thế. Tôi mong ông sẽ biết điều."

Sau đó, với một vẻ đầy ẩn ý, ông ta lặp lại thao tác với muối lên chính đĩa của mình. Biểu tượng con số 4 quá rõ ràng không thể nhầm lẫn. Tôi nhìn ông ta chằm chằm dò xét. Trong mắt tôi, ông ta chẳng có nét nào giống chàng trai trẻ Templeton, hay gã người hầu James, hay bất kỳ nhân dạng nào khác mà chúng tôi từng chạm trán. Dẫu vậy, tôi đoan chắc mình đang phải đối mặt với không ai khác ngoài chính Số Bốn đáng sợ. Trong giọng nói của ông ta thoang thoảng nét quen thuộc của người lạ mặt mặc áo khoác cài kín cúc từng đến tìm chúng tôi ở Paris.

Tôi nhìn quanh quất, phân vân chưa biết nên xử trí ra sao. Đọc được suy nghĩ của tôi, ông ta mỉm cười và khẽ lắc đầu.

"Tôi khuyên ông không nên làm thế," ông ta nhận xét. "Hãy nhớ lại hậu quả của hành động hấp tấp của ông ở Paris xem. Xin đoan chắc với ông rằng đường lui của tôi đã được tính toán kỹ lưỡng. Những toan tính của ông có phần hơi thô thiển đấy, Đại úy Hastings, nếu tôi có mạn phép nhận xét như vậy."

"Đồ quỷ dữ," tôi nghiến răng, nghẹn lại vì giận dữ, "ngươi là hiện thân của quỷ dữ!"

"Nóng nảy rồi—hơi nóng nảy quá đấy. Người bạn quá cố đáng kính của ông hẳn sẽ bảo rằng kẻ biết giữ bình tĩnh luôn nắm giữ lợi thế rất lớn."

"Ngươi còn dám mở miệng nhắc tới anh ấy ư," tôi quát lên. "Người mà các người đã mưu sát dã man. Vậy mà ngươi dám mò đến đây—"

Hắn ngắt lời tôi.

"Tôi đến đây vì một mục đích vô cùng tốt đẹp và hòa bình. Để khuyên ông hãy quay về Nam Mỹ ngay lập tức. Nếu ông làm vậy, mọi chuyện coi như chấm dứt đối với Bộ Tứ. Ông và những người thân thuộc sẽ không bị quấy rầy dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi lấy danh dự ra bảo đảm điều đó."

Tôi bật cười khinh bỉ.

"Thế nếu ta từ chối tuân theo cái lệnh độc đoán của ngươi thì sao?"

"Đây khó có thể gọi là một mệnh lệnh. Cứ coi như đây là... một lời cảnh báo đi, được chứ?"

Giọng hắn lạnh tanh đầy đe dọa.

"Lời cảnh báo đầu tiên," hắn thì thầm khe khẽ. "Tốt hơn hết là ông đừng nên coi thường nó."

Thế rồi, trước khi tôi kịp đoán ra ý đồ, hắn đã đứng phắt dậy và lướt nhanh về phía cửa ra vào. Tôi bật dậy lao theo hắn trong chớp mắt, nhưng rủi thay lại đâm sầm ngay vào một gã mập ú đang chắn lối đi giữa tôi và chiếc bàn bên cạnh. Đến khi tôi gỡ mình ra được thì con mồi đã sắp bước qua ngưỡng cửa, và sự cố tiếp theo lại là một người bồi bàn bưng chồng đĩa khổng lồ đâm sầm vào tôi mà chẳng hề báo trước. Lúc tôi ra được tới cửa thì bóng dáng người đàn ông gầy gò râu đen đã biến mất không tăm tích.

Người bồi bàn rối rít xin lỗi, còn gã mập thì đã ngồi điềm nhiên tại bàn gọi bữa trưa. Chẳng có bằng chứng nào cho thấy hai sự cố vừa rồi không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Dẫu vậy, tôi có suy nghĩ của riêng mình. Tôi thừa hiểu rằng tai mắt của Bộ Tứ giăng khắp mọi nơi.

Khỏi phải nói, tôi chẳng mảy may để tâm đến lời cảnh báo ấy. Tôi thà chết vì đại nghĩa chứ quyết không lùi bước. Rốt cuộc tôi chỉ nhận được vỏn vẹn hai thư phản hồi cho các mẩu quảng cáo. Cả hai đều chẳng cung cấp được thông tin gì giá trị. Họ đều là những diễn viên từng diễn chung sân khấu với Claud Darrell vào thời điểm này hay thời điểm khác. Chẳng ai trong số họ thân thiết với hắn, và cũng chẳng có thêm manh mối nào hé lộ tung tích hay thân phận hiện tại của hắn.

Suốt mười ngày sau đó, Bộ Tứ không hề có thêm động tĩnh gì. Một hôm, khi đang rảo bước qua Công viên Hyde trong dòng suy nghĩ miên man, tôi chợt nghe thấy một giọng nói trầm bổng mang ngữ điệu ngoại quốc đầy sức quyến rũ cất lên gọi tôi.

"Đại úy Hastings phải không nhỉ?"

Một chiếc xe limousine cỡ lớn vừa trờ tới tấp vào lề đường. Một người phụ nữ đang nhoài người ra ngoài. Vận bộ đồ đen tinh tế điểm xuyết chuỗi ngọc trai tuyệt mỹ, tôi nhận ra ngay người phụ nữ mà chúng tôi từng biết đến với cái tên Nữ bá tước Vera Rossakoff, và sau đó dưới một thân phận khác với tư cách là tay sai của Bộ Tứ. Chẳng hiểu vì lý do gì mà Poirot luôn dành một tình cảm thầm kín cho nữ bá tước. Nét rực rỡ, phô trương ở bà ta dường như luôn có sức hút kỳ lạ với người đàn ông nhỏ nhắn. Trong những lúc hào hứng, anh thường tấm tắc khen bà là một người phụ nữ nghìn người có một. Việc bà ta đứng ở chiến tuyến bên kia, về phe những kẻ thù không đội trời chung của chúng tôi, dường như chưa bao giờ ảnh hưởng đến sự đánh giá của anh. "A, đừng vội bỏ đi!" nữ bá tước nói. "Tôi có chuyện tối quan trọng muốn nói với anh. Và cũng đừng dại dột định gọi người bắt tôi, làm thế ngốc nghếch lắm. Anh lúc nào cũng hơi ngốc nghếch—phải, phải, đúng là thế mà. Giờ anh cũng đang ngốc nghếch đấy thôi, khi cứ khăng khăng phớt lờ lời cảnh báo chúng tôi đã gửi. Đây là lời cảnh báo thứ hai tôi mang đến cho anh. Hãy rời khỏi nước Anh ngay lập tức. Anh ở lại đây chẳng làm nên trò trống gì đâu—tôi nói thẳng thắn cho anh biết đấy. Anh sẽ chẳng bao giờ đạt được tích sự gì đâu."

"Nếu vậy," tôi lạnh lùng đáp, "thì thật lạ lùng khi tất cả các người lại sốt sắng tống cổ tôi ra khỏi xứ sở này đến thế."

Nữ bá tước nhún vai—một bờ vai lộng lẫy, và một cái nhún vai cũng kiêu kỳ không kém.

"Về phần mình, tôi cũng thấy chuyện đó thật ngớ ngẩn. Tôi thì cứ để mặc anh ở lại đây mà chơi đùa vui vẻ. Nhưng anh thấy đấy, các thủ lĩnh lại lo sợ rằng một lời buột miệng nào đó của anh có thể giúp ích lớn cho những kẻ thông minh hơn anh. Vì thế—anh buộc phải bị trục xuất."

Có vẻ nữ bá tước đang tâng bốc năng lực của tôi một cách mỉa mai. Tôi nén cơn bực dọc. Chắc chắn thái độ này của bà ta chỉ là đòn tâm lý nhằm chọc tức tôi và khiến tôi nghĩ mình là kẻ vô tích sự.

"Dĩ nhiên, trừ khử anh thì dễ như trở bàn tay," bà ta tiếp tục, "nhưng đôi khi tôi cũng đa cảm lắm. Tôi đã nói đỡ cho anh đấy. Anh có một cô vợ nhỏ ngoan hiền ở phương xa, đúng không nào? Và người đàn ông nhỏ bé tội nghiệp đã khuất kia hẳn cũng sẽ thấy an lòng khi biết anh không bị giết. Tôi luôn có cảm tình với ông ấy, anh biết mà. Ông ấy thông minh—phải nói là quá đỗi thông minh! Nếu không phải tình thế bốn chọi một, tôi thực lòng tin rằng ông ấy đã có thể hạ gục chúng tôi rồi. Tôi xin thú nhận một cách thành thật—ông ấy là bậc thầy của tôi! Tôi có gửi một vòng hoa đến viếng đám tang để tỏ lòng ngưỡng mộ—một vòng hoa hồng đỏ thắm khổng lồ. Hoa hồng đỏ thể hiện đúng tính khí của tôi."

Tôi lắng nghe trong im lặng với một nỗi chán ghét ngày càng tăng.

"Trông mặt anh lỳ lợm y như con la cụp tai chuẩn bị đá hậu vậy. Thôi, tôi đã chuyển xong lời cảnh báo. Hãy nhớ lấy điều này, lời cảnh báo thứ ba sẽ đến qua bàn tay của Kẻ Hủy Diệt—"

Bà ta ra hiệu, và chiếc xe lao vút đi trong chớp mắt. Tôi ghi nhớ biển số xe một cách máy móc, nhưng chẳng hy vọng nó sẽ dẫn tới đâu. Bộ Tứ chẳng bao giờ sơ suất trong những tiểu tiết như vậy.

Tôi trở về nhà với tâm trạng có phần trầm xuống. Một sự thật hiển hiện rõ sau tràng thao thao bất tuyệt của nữ bá tước: mạng sống của tôi đang lâm nguy thực sự. Dù không hề có ý định từ bỏ cuộc chiến, tôi nhận thấy mình cần phải bước đi thận trọng và áp dụng mọi biện pháp phòng ngừa tối đa.

Trong lúc tôi đang cân nhắc lại mọi dữ kiện và tìm kiếm phương hướng hành động tối ưu thì chuông điện thoại reo vang. Tôi băng qua phòng và nhấc ống nghe.

"Vâng. Xin chào. Ai đang gọi đấy ạ?"

Một giọng nói dứt khoát đáp lại.

"Đây là Bệnh viện St. Giles. Chúng tôi có một người Hoa bị đâm trên phố vừa được đưa vào. Ông ta không qua khỏi được lâu nữa đâu. Chúng tôi gọi cho ông vì tìm thấy trong túi áo ông ta một mảnh giấy có ghi tên và địa chỉ của ông."

Tôi vô cùng kinh ngạc. Tuy nhiên, sau một thoáng suy nghĩ, tôi bảo mình sẽ đến ngay lập tức. Tôi biết Bệnh viện St. Giles nằm gần khu bến tàu, và tôi chợt nghĩ người Hoa này có thể vừa bước chân xuống từ một con tàu nào đó.

Trên đường tới đó, một mối nghi ngờ bất chợt lóe lên trong đầu tôi. Lẽ nào toàn bộ chuyện này là một cái bẫy? Ở đâu có người Hoa, ở đó có thể có bàn tay của Lý Trường Yên. Tôi nhớ lại biến cố Cái Bẫy Mồi. Phải chăng đây là một mưu ma chước quỷ từ phía kẻ thù của tôi?

Ngẫm nghĩ một lát, tôi tin rằng dẫu sao thì việc đến bệnh viện cũng chẳng gây hại gì. Rất có thể đây không hẳn là một âm mưu sát hại mà là cái bẫy mớm tin, kiểu như người ta vẫn gọi là trò "gài bẫy". Người Hoa hấp hối kia sẽ tiết lộ cho tôi một điều gì đó để tôi hành động, và hành động ấy sẽ dẫn tôi thẳng vào tay của Bộ Tứ. Điều cần làm là giữ một cái đầu tỉnh táo, ngoài mặt giả vờ tin tưởng nhưng bên trong phải hết sức đề phòng.

Đến Bệnh viện St. Giles và trình bày lý do, tôi được dẫn ngay tới phòng cấp cứu, đến bên giường bệnh của người đàn ông nói trên. Ông ta nằm bất động hoàn toàn, hai mắt nhắm nghiền, chỉ có lồng ngực khẽ phập phồng rất nhẹ chứng tỏ vẫn còn thoi thóp. Một bác sĩ đứng bên giường, tay bắt mạch cho người bệnh.

"Ông ấy sắp đi rồi," bác sĩ thì thầm với tôi. "Ông có quen ông ta không?"

Tôi lắc đầu.

"Tôi chưa gặp ông ta bao giờ."

"Vậy sao ông ta lại có tên và địa chỉ của ông trong túi áo? Ông là Đại úy Hastings, phải không?"

"Phải, nhưng tôi cũng chịu, chẳng giải thích nổi hơn ông đâu."

"Lạ thật đấy. Căn cứ theo giấy tờ thì ông ta có vẻ là gia nhân của một người tên là Ingles—một cựu công chức đã nghỉ hưu. À, ông biết ông ấy à?" bác sĩ nhanh nhảu hỏi thêm khi thấy tôi giật mình trước cái tên đó.

Gia nhân của Ingles! Vậy thì tôi đã từng gặp ông ta rồi. Không phải vì tôi có thể phân biệt được người Hoa này với người Hoa khác. Chắc hẳn ông ta đã đi cùng Ingles trên hành trình sang Trung Hoa, và sau thảm họa, ông ta đã quay lại Anh quốc mang theo một thông điệp, rất có thể là dành cho tôi. Nghe được thông điệp ấy là điều sống còn, vô cùng cấp bách.

"Ông ấy còn tỉnh táo không?" tôi hỏi. "Liệu có nói được không? Ông Ingles là một người bạn cũ của tôi, và tôi nghĩ rất có thể người đàn ông tội nghiệp này mang lời nhắn từ ông ấy đến cho tôi. Người ta tin là ông Ingles đã rơi xuống biển cách đây khoảng mười ngày."

"Ông ấy còn chút ý thức, nhưng tôi e là không đủ sức để nói. Ông ta mất quá nhiều máu rồi. Tôi có thể tiêm thuốc trợ tim, dĩ nhiên, nhưng chúng tôi đã làm hết mức có thể về khoản đó rồi."

Dẫu vậy, ông vẫn tiêm một mũi thuốc, còn tôi nán lại bên giường, nuôi một tia hy vọng mong manh về một lời nói—một dấu hiệu—có thể mang giá trị vô giá cho công việc của tôi. Nhưng từng phút trôi qua mà chẳng có động tĩnh gì.

Và đột nhiên, một ý nghĩ hắc ám xẹt qua tâm trí tôi. Phải chăng tôi đang rơi vào bẫy? Giả sử người Hoa này chỉ đóng giả làm gia nhân của Ingles, còn thực chất lại là tay sai của Bộ Tứ thì sao? Chẳng phải tôi từng đọc được rằng một số tu sĩ Trung Hoa có khả năng giả chết hay sao? Hoặc xa hơn nữa, Lý Trường Yên có thể nắm trong tay một toán cuồng tín sẵn sàng đón nhận cái chết nếu đó là mệnh lệnh của chủ nhân. Tôi phải hết sức cảnh giác.

Ngay khi những suy nghĩ ấy lướt qua tâm trí, người đàn ông trên giường khẽ cựa quậy. Mắt ông ta hé mở. Ông ta thì thầm điều gì đó rời rạc. Rồi tôi thấy ánh mắt ông ta dán chặt vào tôi. Ông ta không biểu lộ dấu hiệu nhận biết, nhưng tôi lập tức nhận ra ông ta đang cố nói với tôi điều gì đó. Dù là bạn hay thù, tôi cũng phải nghe xem ông ta muốn nói gì.

Tôi cúi xuống sát giường, nhưng những âm thanh đứt quãng chẳng mang lại ý nghĩa gì rõ ràng cho tôi cả. Tôi ngỡ như mình bắt được từ "hand", nhưng trong ngữ cảnh nào thì tôi chịu. Rồi âm thanh ấy lại vang lên, và lần này tôi nghe thấy một từ khác, từ "Largo". Tôi trố mắt kinh ngạc khi một sự liên kết khả dĩ giữa hai từ gợi lên trong đầu.

"Bản Largo của Handel chăng?" tôi gặng hỏi.

Mí mắt người Hoa chớp chớp liên hồi như thể đồng tình, và ông ta thốt thêm một từ tiếng Ý nữa, từ "carrozza". Thêm hai ba từ tiếng Ý thì thầm lọt vào tai tôi, rồi ông ta đột ngột ngã ngửa ra sau.

Bác sĩ gạt tôi sang một bên. Mọi chuyện đã kết thúc. Người đàn ông đã trút hơi thở cuối cùng.

Tôi bước ra ngoài hít thở không khí, lòng đầy hoang mang bối rối.

"Bản Largo của Handel," và một "carrozza". Nếu tôi nhớ không lầm thì carrozza có nghĩa là cỗ xe ngựa. Những từ ngữ đơn giản ấy có thể ẩn chứa ý nghĩa gì cơ chứ? Người này là người Hoa, chứ đâu phải người Ý, cớ sao lại nói tiếng Ý? Rõ ràng, nếu thực sự là gia nhân của Ingles, ông ta ắt phải biết tiếng Anh chứ? Toàn bộ sự việc thật hết sức bí hiểm. Tôi vắt óc suy nghĩ suốt dọc đường về nhà. Ôi, giá như có Poirot ở đây để giải mã bài toán này bằng trí thông minh xuất quỷ nhập thần của anh!

Tôi dùng chìa khóa riêng mở cửa vào nhà rồi chậm rãi bước lên phòng. Một bức thư đang nằm trên bàn, và tôi xé phong bì ra một cách khá hờ hững. Nhưng chỉ trong một khoảnh khắc, tôi đã đứng chết trân khi đọc nội dung bên trong.

Đó là công văn từ một văn phòng luật sư.

"Thưa Ngài (thư viết),—Theo chỉ thị của thân chủ quá cố của chúng tôi, ngài Hercule Poirot, chúng tôi xin chuyển tới ngài bức thư đính kèm dưới đây. Bức thư này được giao tận tay chúng tôi một tuần trước khi ngài ấy qua đời, cùng chỉ thị rằng trong trường hợp ngài ấy tạ thế, thư sẽ được gửi tới ngài vào một ngày ấn định sau khi ngài ấy mất.

"Kính thư, v.v..."

Tôi lật qua lật lại bức thư đính kèm. Đúng là nét chữ của Poirot không thể lẫn vào đâu được. Tôi quá đỗi quen thuộc với nét chữ ấy. Với trái tim trĩu nặng xen lẫn một thoáng hồi hộp khôn tả, tôi vội vã bóc thư.

"Mon Cher Ami (bức thư bắt đầu),—Khi bạn tôi nhận được thư này thì tôi đã không còn trên cõi đời nữa. Đừng rơi lệ vì tôi, mà hãy làm theo những mệnh lệnh của tôi. Ngay khi nhận được thư này, hãy lập tức quay về Nam Mỹ. Đừng có bướng bỉnh về chuyện này đấy. Không phải vì lý do tình cảm ủy mị mà tôi bảo bạn lên đường đâu. Việc này là tối cần thiết. Đó là một phần trong kế hoạch của Hercule Poirot! Đối với một người có trí thông minh sắc bén như người bạn Hastings của tôi, nói nhiều hơn nữa là thừa thãi.

"Đả đảo Bộ Tứ! Tôi xin nghiêng mình chào bạn từ thế giới bên kia.

"Mãi mãi là của bạn,

"Hercule Poirot."

Tôi đọc đi đọc lại bức thư kinh ngạc này. Có một điều hiển nhiên: con người phi thường này đã dự liệu trước mọi tình huống đến mức ngay cả cái chết của chính mình cũng không làm đảo lộn tiến trình kế hoạch của anh! Tôi sẽ là người hành động—còn anh là khối óc chỉ huy. Chắc chắn tôi sẽ nhận được những chỉ dẫn đầy đủ đang chờ đón bên kia bờ đại dương. Trong thời gian này, lũ kẻ thù tin chắc rằng tôi đã chịu khuất phục trước lời cảnh báo của chúng nên sẽ không còn bận tâm đến tôi nữa. Tôi có thể bí mật quay trở lại mà không ai hay biết, giáng cho chúng một đòn sấm sét giữa hang ổ.

Giờ đây chẳng còn điều gì cản trở chuyến khởi hành tức khắc của tôi. Tôi gửi điện tín, đặt vé tàu, và đúng một tuần sau tôi đã bước chân lên con tàu Ansonia hướng thẳng tới Buenos Aires.

Ngay khi tàu rời cầu cảng, một người phục vụ mang đến cho tôi một mẩu giấy. Anh ta giải thích rằng một quý ông cao lớn mặc áo khoác lông thú đã đưa nó cho anh ta ngay trước lúc cầu tàu được rút lên.

Tôi mở ra. Nội dung ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề.

"Ông rất biết điều," dòng chữ viết. Phía dưới ký một chữ số 4 to tướng.

Tôi có thể mỉm cười đắc ý một mình!

Biển không quá động. Tôi thưởng thức một bữa tối tàm tạm, quan sát và đánh giá sơ bộ phần lớn các bạn đồng hành, rồi chơi một hai ván bài Bridge. Sau đó tôi về phòng và ngủ một giấc say như chết, đúng như thói quen của tôi mỗi khi đi tàu biển.

Tôi bị đánh thức bởi một bàn tay lay mạnh liên hồi. Còn đang mơ màng ngơ ngác, tôi thấy một sĩ quan tàu đang đứng bên cạnh. Anh ta thở phào nhẹ nhõm khi thấy tôi ngồi dậy.

"Tạ ơn Chúa là cuối cùng cũng đánh thức được ông. Tôi vất vả mãi đấy. Lúc nào ông cũng ngủ say như thế à?"

"Có chuyện gì thế?" tôi hỏi, đầu óc vẫn còn mụ mẫm chưa tỉnh hẳn. "Tàu gặp sự cố gì à?"

"Tôi đồ rằng ông còn rõ sự tình hơn cả tôi đấy," anh ta đáp cộc lốc. "Mệnh lệnh đặc biệt từ Bộ Hải quân. Có một tàu khu trục đang chờ đón ông đi."

"Cái gì?" tôi thốt lên. "Ngay giữa đại dương thế này ư?"

"Nghe chừng là một vụ việc hết sức bí mật, nhưng đó không phải phận sự của tôi. Họ đã cử một thanh niên lên tàu để thế chỗ ông, và tất cả chúng tôi đều phải tuyên thệ giữ bí mật. Ông làm ơn dậy và mặc quần áo vào được chứ?"

Hoàn toàn không giấu nổi sự kinh ngạc tột độ, tôi làm theo lời anh ta. Một chiếc xuồng được hạ xuống, và tôi được chuyển sang tàu khu trục. Ở đó, tôi được đón tiếp hết sức lịch thiệp nhưng không nhận thêm được bất kỳ thông tin nào. Mệnh lệnh của viên chỉ huy là đưa tôi cập bến tại một địa điểm nhất định trên bờ biển nước Bỉ. Hiểu biết và trách nhiệm của ông ta dừng lại ở đó.

Mọi chuyện diễn ra cứ như một giấc chiêm bao. Ý nghĩ duy nhất tôi bám chặt lấy là tất cả những điều này ắt hẳn nằm trong kế hoạch của Poirot. Tôi chỉ việc nhắm mắt tiến bước, đặt trọn niềm tin vào người bạn quá cố của mình.

Tôi được đưa lên bờ đúng tại địa điểm đã định. Ở đó đã có sẵn một chiếc ô tô chờ đón, và chẳng mấy chốc tôi đã lao đi vun vút qua những vùng đồng bằng phẳng lặng xứ Flanders. Đêm đó tôi ngủ tại một khách sạn nhỏ ở Brussels. Ngày hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Cảnh quan dần chuyển sang đồi núi rậm rạp cây cối. Tôi nhận ra chúng tôi đang tiến sâu vào vùng rừng Ardennes, và chợt nhớ lại lời Poirot từng nói rằng anh có một người anh trai sống ở Spa.

Nhưng chúng tôi không đi vào chính thị trấn Spa. Chúng tôi rẽ khỏi con đường chính, luồn lách vào những chốn rừng sâu um tùm của các ngọn đồi, cho đến khi tới một xóm nhỏ và một căn biệt thự màu trắng biệt lập nằm cheo leo trên sườn đồi. Chiếc xe dừng lại trước cánh cửa màu xanh lá của căn biệt thự.

Cánh cửa mở ra ngay khi tôi bước xuống xe. Một người quản gia đứng tuổi đứng cúi mình chào ở ngưỡng cửa.

"Thưa Đại úy Hastings phải không ạ?" ông ta cất tiếng bằng tiếng Pháp. "Mọi người đang đợi ngài Đại úy. Xin mời ngài đi theo tôi."

Ông ta dẫn đường băng qua tiền sảnh, đẩy toang cánh cửa ở phía sau rồi né sang một bên nhường lối cho tôi bước vào.

Tôi hơi chớp mắt, vì căn phòng quay mặt về hướng tây và ánh nắng chiều đang tràn ngập khắp nơi. Rồi mắt tôi quen dần với ánh sáng và tôi nhìn thấy một bóng người đang giang rộng hai tay chờ đón tôi.

Đó là—ôi, không thể nào, không thể có chuyện đó được—nhưng đúng là thế!

"Poirot!" tôi kêu lên thất thanh, và lần này tôi chẳng hề tìm cách né tránh cái ôm siết nồng nhiệt mà anh trút lên người tôi.

"Đúng thế, đúng thế rồi, chính tôi đây! Muốn giết Hercule Poirot này đâu có dễ thế!"

"Nhưng Poirot này—sao lại thế?"

"Kế nghi binh đấy, bạn hiền của tôi, một kế nghi binh thôi. Giờ thì mọi sự đã sẵn sàng cho một đòn quyết định rồi."

"Nhưng sao anh không hé răng cho tôi một lời!"

"Không, Hastings à, tôi không thể. Có cho một nghìn năm nữa thì anh cũng chẳng tài nào diễn tròn vai trong đám tang ấy được. Nhờ thế mà mọi chuyện mới hoàn hảo tuyệt đối. Không thể nào không khiến Bộ Tứ tin sái cổ được."

"Nhưng anh có biết tôi đã phải trải qua những gì—"

"Đừng nghĩ tôi là kẻ quá đỗi vô tình. Tôi dựng lên màn kịch này một phần cũng là vì sự an toàn của anh đấy. Tôi sẵn sàng mạo hiểm tính mạng mình, nhưng tôi cứ day dứt mãi khi liên tục đặt mạng sống của anh vào chỗ chết. Thế nên, sau vụ nổ, tôi nảy ra một ý tưởng vô cùng xuất sắc. Ridgeway tốt bụng đã giúp tôi thực hiện nó. Tôi đã chết, anh sẽ quay về Nam Mỹ. Nhưng mon ami à, đó lại chính là điều anh nhất quyết không chịu làm. Rốt cuộc tôi đành phải dàn xếp bức thư của luật sư cùng một mớ chuyện lòng vòng. Nhưng dẫu sao thì anh cũng đã ở đây—đó mới là điều cốt yếu. Và giờ chúng ta sẽ ẩn mình ở đây—perdu—cho đến thời khắc chín muồi để tung ra đòn quyết định cuối cùng—đập tan hoàn toàn Bộ Tứ."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.