Tứ Đại Gia

Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Thảm Hoạ Khủng Khiếp

❊ ❊ ❊

Kể từ sau cái chết bi thảm của cô Flossie Monro, tôi bắt đầu nhận thấy một sự thay đổi nơi Poirot. Trước đây, niềm tự tin vô song vào bản thân ông chưa từng một lần lung lay trước thử thách. Thế nhưng dường như sau chuỗi ngày dài căng thẳng tột độ, sức chịu đựng của ông rốt cuộc cũng bắt đầu suy suyển. Nét mặt ông luôn đăm chiêu, nặng trĩu ưu tư, còn dây thần kinh thì căng như dây đàn. Dạo ấy, ông giật mình thon thót hệt như một con mèo. Ông cố hết sức lảng tránh mọi cuộc bàn luận về Bộ Tứ, và dường như lao đầu vào những vụ án thường nhật với bầu nhiệt huyết gần như xưa cũ. Dẫu vậy, tôi thừa hiểu ông vẫn đang âm thầm hành động trong đại cuộc. Những người Slav với diện mạo kỳ dị liên tục lui tới gặp ông, và dù ông chẳng hé răng nửa lời giải thích về những hành tung bí ẩn này, tôi vẫn nhận ra ông đang mượn tay những kẻ ngoại quốc có vẻ ngoài hơi đáng sợ ấy để xây dựng một pháo đài phòng thủ hay một thứ vũ khí phản công mới mẻ nào đó. Một lần, hoàn toàn do tình cờ, tôi thoáng thấy những con số trong sổ giao dịch ngân hàng của ông — khi ông nhờ tôi kiểm tra lại một khoản mục nhỏ — và tôi nhận ra một món tiền khổng lồ đã được chi trả — một số tiền lớn ngay cả với Poirot, người dạo này đang kiếm tiền như nước — cho một gã người Nga nào đó mà tên dường như gom đủ mọi chữ cái trong bảng vần.

Thế nhưng ông không hề để lộ manh mối nào về phương hướng tác chiến dự định. Ông chỉ lặp đi lặp lại duy nhất một câu nói: "Sai lầm lớn nhất đời người là đánh giá thấp đối thủ. Nhớ lấy điều đó, mon ami." Và tôi hiểu rằng đó chính là cạm bẫy mà ông đang bất chấp mọi giá để né tránh.

Mọi chuyện cứ thế trôi qua cho đến cuối tháng Ba, rồi vào một buổi sáng nọ, Poirot thốt ra một câu khiến tôi không khỏi giật mình.

"Sáng nay, người bạn của tôi ơi, tôi khuyên anh nên mặc bộ âu phục đẹp nhất. Chúng ta sẽ đến diện kiến Bộ trưởng Bộ Nội vụ."

"Thật sao? Hồi hộp quá nhỉ. Ngài ấy mời anh tới để thụ lý một vụ án à?"

"Không hẳn. Cuộc hội kiến này là do tôi chủ động yêu cầu. Có lẽ anh còn nhớ tôi từng kể mình đã giúp ngài ấy một việc nhỏ dạo trước chứ? Vì thế mà ngài ấy đâm ra sùng bái tài nghệ của tôi một cách hơi thái quá, và tôi định bụng sẽ tận dụng thái độ đó của ngài ấy. Như anh đã biết, Thủ tướng Pháp, ngài Desjardeaux, hiện đang có chuyến công du tại London, và theo lời thỉnh cầu của tôi, ngài Bộ trưởng đã sắp xếp để ông ấy cùng có mặt trong cuộc gặp mặt nho nhỏ của chúng ta sáng nay."

Ngài Sydney Crowther Đáng Kính, Quốc vụ khanh phụ trách Nội vụ của Bệ hạ, là một nhân vật nổi tiếng và rất được lòng công chúng. Ở độ tuổi chừng ngũ tuần, mang vẻ mặt hóm hỉnh cùng đôi mắt xám sắc sảo, ông đón tiếp chúng tôi bằng sự niềm nở, đôn hậu đầy lôi cuốn vốn nức tiếng là một trong những thế mạnh lớn nhất của ông.

Đứng tựa lưng vào lò sưởi là một người đàn ông dong dỏng cao, gầy guộc, có chòm râu đen nhọn hoắt và khuôn mặt toát lên vẻ nhạy cảm.

"Thưa ngài Desjardeaux," Crowther lên tiếng. "Xin cho phép tôi được giới thiệu với ngài: ngài Hercule Poirot, người có lẽ ngài cũng từng nghe danh."

Vị chính khách người Pháp cúi đầu chào rồi bắt tay.

"Tôi quả thực đã nghe danh ngài Hercule Poirot," ông nhã nhặn đáp. "Nào có ai mà không biết cơ chứ?"

"Ngài quá lời rồi, thưa ngài," Poirot cúi mình đáp lễ, khuôn mặt rạng rỡ niềm vui thích.

"Có lời nào dành cho một người bạn cũ không?" một giọng nói trầm tĩnh cất lên, và một người đàn ông bước ra từ góc phòng bên cạnh giá sách cao.

Đó chính là người quen cũ của chúng tôi, ông Ingles.

Poirot nồng nhiệt bắt tay ông ấy.

"Và giờ đây, ngài Poirot," Crowther nói. "Chúng tôi xin lắng nghe ngài. Tôi được biết ngài có một thông báo tối quan trọng muốn chuyển tới chúng tôi."

"Đúng như vậy, thưa các ngài. Hiện nay trên thế giới đang tồn tại một tổ chức quy mô khổng lồ — một tổ chức tội phạm. Nó được điều hành bởi bốn cá nhân, những kẻ được biết đến và gọi tên là Bộ Tứ. Số Một là một người Trung Hoa, Lý Xương Yến; Số Hai là tài phiệt người Mỹ, Abe Ryland; Số Ba là một phụ nữ Pháp; còn Số Bốn, tôi có đủ cơ sở để tin rằng hắn là một diễn viên kịch người Anh vô danh tiểu tốt tên là Claud Darrell. Bốn kẻ này đã cấu kết với nhau nhằm huỷ diệt trật tự xã hội hiện hành, mưu toan thay thế nó bằng một chế độ vô chính phủ nơi chúng sẽ ngự trị như những kẻ độc tài."

"Thật không thể tin nổi," vị Thủ tướng Pháp lẩm bẩm. "Ryland mà lại nhúng tay vào một chuyện như thế ư? Ý tưởng này nghe chừng quá đỗi hoang đường."

"Xin ngài hãy lắng nghe, thưa ngài, trong khi tôi thuật lại đôi điều về những việc mà Bộ Tứ này đã làm."

Đó là một câu chuyện đầy mê hoặc do Poirot mở ra trước mắt mọi người. Dù đã tường tận từng ngóc ngách chi tiết, lòng tôi vẫn dâng lên nỗi hồi hộp khôn nguôi khi nghe lại bản tường thuật chân thực về những cuộc phiêu lưu cùng những phen thoát chết trong đường tơ kẽ tóc của chúng tôi.

Ngài Desjardeaux lặng lẽ nhìn ông Crowther khi Poirot dứt lời. Người kia đáp lại ánh mắt ấy.

"Vâng, thưa ngài Desjardeaux, tôi nghĩ chúng ta buộc phải thừa nhận sự tồn tại của một 'Bộ Tứ'. Ban đầu Sở Cảnh sát London cũng có ý chế giễu, nhưng rồi họ đã phải công nhận rằng ngài Poirot hoàn toàn có lý trong nhiều khẳng định của mình. Vấn đề duy nhất còn lại là quy mô dã tâm của chúng. Tôi không khỏi cảm thấy ngài Poirot... ừm... có phần hơi phóng đại."

Để trả lời, Poirot nêu ra mười điểm mấu chốt. Đến tận bây giờ tôi vẫn được yêu cầu không tiết lộ những điều ấy ra trước công chúng, bởi vậy tôi xin phép giấu kín, nhưng trong số đó có nhắc đến những tai nạn tàu ngầm kỳ lạ xảy ra vào một tháng nhất định, cùng hàng loạt sự cố máy bay và những vụ hạ cánh khẩn cấp. Theo lời Poirot, tất thảy đều là tác phẩm của Bộ Tứ, và chúng là bằng chứng cho thấy nhóm này đang nắm giữ nhiều bí mật khoa học mà toàn thế giới chưa hề hay biết.

Điều này dẫn chúng tôi thẳng tới câu hỏi mà tôi vẫn hằng chờ đợi vị Thủ tướng Pháp cất lời.

"Ngài nói thành viên thứ ba của tổ chức này là một phụ nữ Pháp. Ngài đã biết chút manh mối nào về tên tuổi của ả chưa?"

"Đó là một cái tên lẫy lừng, thưa ngài. Một cái tên đầy vinh quang. Số Ba không ai khác chính là nữ học giả danh tiếng, phu nhân Olivier."

Vừa nghe nhắc đến nhà khoa học tầm cỡ thế giới, người kế tục sự nghiệp của vợ chồng Curie, ngài Desjardeaux gần như bật phắt dậy khỏi ghế, mặt đỏ tía tai vì phẫn nộ.

"Phu nhân Olivier ư! Vô lý! Thật lố bịch! Những lời ngài vừa nói quả là một sự xúc phạm!"

Poirot khẽ lắc đầu, tuyệt nhiên không đáp lại.

Desjardeaux trố mắt nhìn ông đầy sững sờ trong giây lát. Đoạn, vẻ mặt ông ta dãn ra, ông ta liếc nhìn ngài Bộ trưởng Nội vụ rồi gõ gõ ngón tay lên trán đầy ngụ ý.

"Ngài Poirot là một bậc vĩ nhân," ông ta nhận xét. "Thế nhưng ngay cả vĩ nhân... đôi khi cũng có những tật hoang tưởng nhỏ nhặt của riêng mình, phải vậy chăng? Rồi cứ tìm kiếm những âm mưu tưởng tượng nơi tầng lớp quyền quý cao sang. Chuyện này ai mà chẳng rõ. Ngài cũng đồng ý với tôi chứ, ngài Crowther?"

Vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ im lặng hồi lâu. Mãi sau, ông mới cất giọng chậm rãi và nặng nề.

"Có trời chứng giám, tôi cũng chẳng biết nữa," cuối cùng ông nói. "Trước nay tôi luôn hết lòng tin tưởng ngài Poirot và bây giờ vẫn vậy, nhưng... ồ, chuyện này quả thật hơi khó lòng mà tin nổi."

"Còn gã Lý Xương Yến này nữa," ngài Desjardeaux tiếp tục. "Đã có ai từng nghe nói đến hắn ta bao giờ chưa?"

"Tôi nghe rồi," giọng nói bất ngờ của ông Ingles vang lên.

Vị khách người Pháp trừng trừng nhìn ông, và ông cũng thản nhiên nhìn lại, trông chẳng khác nào một pho tượng thánh Trung Hoa hơn bao giờ hết. "Ông Ingles," ngài Bộ trưởng Nội vụ giải thích, "chính là chuyên gia am tường bậc nhất của chúng ta về vùng nội địa Trung Hoa."

"Và ông đã từng nghe về tên Lý Xương Yến này ư?"

"Cho đến khi ngài Poirot ở đây tìm tới tôi, tôi cứ ngỡ mình là kẻ duy nhất trên toàn nước Anh biết đến hắn. Đừng nhầm lẫn, thưa ngài Desjardeaux, ở Trung Hoa ngày nay chỉ có duy nhất một kẻ thực sự nắm giữ quyền lực — đó là Lý Xương Yến. Hắn sở hữu bộ não có lẽ, tôi chỉ dám nói là có lẽ thôi nhé, xuất chúng bậc nhất trần đời vào thời điểm hiện tại."

Ngài Desjardeaux ngồi chết lặng như bị đánh gục. Dẫu vậy, chốc lát sau ông ta đã trấn tĩnh lại.

"Có thể những điều ngài nói cũng có phần đúng, ngài Poirot," ông ta lạnh lùng bảo. "Nhưng riêng về phu nhân Olivier, chắc chắn ngài đã lầm. Bà ấy là một người con ưu tú của nước Pháp, một lòng phụng sự cho sự nghiệp khoa học mà thôi."

Poirot chỉ nhún vai không đáp.

Không gian lắng đi trong một đôi phút, rồi người bạn nhỏ bé của tôi đứng dậy, toát lên một vẻ uy nghiêm có phần hơi kỳ quặc so với vóc dáng lập dị của ông.

"Đó là tất cả những gì tôi cần giãi bày, thưa các ngài — một lời cảnh báo. Tôi đã lường trước khả năng mình sẽ không được tin tưởng. Nhưng ít nhất các ngài cũng sẽ nâng cao cảnh giác. Lời tôi nói rồi sẽ thấm dần, và mỗi sự biến mới ập đến sẽ củng cố niềm tin đang lung lay của các ngài. Tôi buộc phải lên tiếng vào lúc này — bởi sau này, rất có thể tôi sẽ chẳng còn cơ hội mở lời được nữa."

"Ý ngài là...?" Crowther gặng hỏi, bất giác bị vẻ nghiêm trọng trong giọng điệu của Poirot làm cho chấn động.

"Ý tôi là, thưa ngài, kể từ khoảnh khắc tôi lật tẩy được chân tướng của Số Bốn, mạng sống của tôi chẳng còn đáng giá một khắc đồng hồ. Hắn sẽ tìm mọi cách triệt hạ tôi bằng bất cứ giá nào — và chẳng phải ngẫu nhiên mà hắn được mang danh 'Kẻ Huỷ Diệt'. Thưa các ngài, tôi xin kính chào. Riêng gửi ngài Crowther, tôi xin giao lại chiếc chìa khoá này cùng phong bì niêm phong đây. Tôi đã thu thập toàn bộ ghi chép về vụ án, cùng những ý niệm về cách thức đối phó tốt nhất trước hiểm hoạ có thể giáng xuống trần gian bất cứ ngày nào, rồi cất chúng vào một két sắt an toàn. Trong trường hợp tôi bất trắc bỏ mạng, thưa ngài Crowther, tôi uỷ quyền cho ngài tiếp quản những tài liệu đó và sử dụng chúng theo cách ngài thấy hữu ích. Và giờ đây, thưa các ngài, tôi xin kính chúc một ngày tốt lành."

Desjardeaux chỉ khẽ cúi đầu lạnh nhạt, nhưng Crowther thì bật dậy và chìa tay ra.

"Ngài đã thuyết phục được tôi rồi, ngài Poirot. Dù toàn bộ câu chuyện nghe chừng hết sức hoang đường, tôi tin tưởng tuyệt đối vào sự thật trong những điều ngài vừa giãi bày."

Ingles cùng rời đi với chúng tôi.

"Tôi không hề thất vọng về cuộc hội kiến này," Poirot nói khi chúng tôi rảo bước trên phố. "Tôi không trông mong thuyết phục được Desjardeaux, nhưng ít nhất tôi cũng đã đảm bảo rằng, nếu tôi có mệnh hệ nào thì tri thức của tôi cũng không tan biến theo tôi. Và tôi đã thu phục được một hai người tin theo. Pas si mal!"

"Tôi luôn đứng về phía anh, như anh đã biết đấy," Ingles nói. "Tiện thể xin nói luôn, tôi sẽ lên đường sang Trung Hoa ngay khi có thể thu xếp xong xuôi."

"Liệu có khôn ngoan không?"

"Không," Ingles cộc cằn đáp. "Nhưng đó là việc cần làm. Người ta phải làm những gì mình có thể thôi."

"Ôi, anh quả là một trang dũng cảm!" Poirot xúc động kêu lên. "Giá như không phải đang ở giữa bàn dân thiên hạ trên phố, tôi đã ôm chầm lấy anh rồi."

Tôi đồ rằng trông Ingles có vẻ thở phào nhẹ nhõm.

"Tôi nghĩ chắc sang Trung Hoa tôi cũng chẳng gặp nguy hiểm nào hơn việc anh ở lại London đâu," ông càu nhàu.

"Điều đó rất có thể là đúng," Poirot thừa nhận. "Tôi chỉ hy vọng bọn chúng sẽ không tiện tay đồ sát luôn cả Hastings, chỉ có thế thôi. Chuyện ấy sẽ làm tôi phiền lòng lắm đấy."

Tôi chen ngang vào cuộc trò chuyện vui vẻ này để tuyên bố rằng mình chẳng có ý định chịu để cho ai đồ sát, và chẳng mấy chốc sau Ingles chia tay chúng tôi.

Chúng tôi đi bên nhau trong im lặng suốt một quãng đường, rồi cuối cùng Poirot phá tan bầu không khí bằng một lời nhận xét hoàn toàn bất ngờ.

"Tôi nghĩ — tôi thực sự nghĩ rằng — phen này mình đành phải kéo cả người anh em của tôi vào cuộc thôi."

"Anh em của anh ư," tôi sửng sốt kêu lên. "Tôi có bao giờ biết anh có anh em đâu?"

"Anh làm tôi ngạc nhiên đấy, Hastings. Lẽ nào anh không biết rằng mọi thám tử lẫy lừng đều có một người anh em, kẻ mà tài năng lẽ ra còn vang dội hơn họ bội phần nếu như không vướng phải thói lười biếng bẩm sinh hay sao?"

Poirot thỉnh thoảng lại mang cái điệu bộ kỳ quặc khiến người ta hầu như không tài nào đoán biết nổi là ông đang nói đùa hay nói thật. Điệu bộ ấy lúc này lộ rõ mồn một.

"Anh em của anh tên là gì?" tôi hỏi, cố thích ứng với cái ý niệm hoàn toàn mới mẻ này.

"Achille Poirot," Poirot nghiêm trang đáp. "Ông ấy sống gần thị trấn Spa bên Bỉ."

"Ông ấy làm nghề gì?" tôi tò mò hỏi, gạt sang bên mối thắc mắc vừa chớm nở trong đầu về tính tình cùng phẩm hạnh của cố phu nhân Poirot, cũng như gu thẩm mỹ mang đậm màu sắc cổ điển của bà khi đặt tên thánh cho con cái.

"Ông ấy chẳng làm gì cả. Như tôi đã nói đấy, tính khí ông ấy lười biếng kỳ lạ. Nhưng tài năng của ông ấy thì chẳng hề thua kém tôi là bao — mà nói thế tức là phi thường lắm rồi đấy."

"Dáng dấp ông ấy có giống anh không?"

"Không đến nỗi khác nhau. Nhưng chẳng thể nào tuấn tú bằng tôi được. Và ông ấy không để ria mép."

"Ông ấy lớn tuổi hơn anh, hay ít tuổi hơn?"

"Trùng hợp là ông ấy sinh cùng ngày với tôi."

"Sinh đôi!" tôi kêu lên.

"Chính xác, Hastings. Anh luôn đi thẳng tới kết luận đúng đắn với một độ chuẩn xác đáng kinh ngạc. Nhưng chúng ta về tới nhà rồi đây. Mau bắt tay vào giải quyết vụ chuỗi vòng cổ của bà Nữ công tước thôi nào."

Thế nhưng chuỗi vòng cổ của bà Nữ công tước số phận đã định là phải gác lại một thời gian. Một vụ án thuộc thể loại hoàn toàn khác đang đón đợi chúng tôi.

Bà chủ nhà, bà Pearson, liền báo ngay cho chúng tôi hay rằng có một nữ y tá của bệnh viện đã ghé qua và đang ngồi đợi gặp Poirot.

Chúng tôi thấy cô ấy đang ngồi trên chiếc ghế bành lớn đối diện cửa sổ, một người phụ nữ trung niên với khuôn mặt dễ mến, vận bộ đồng phục màu xanh thẫm. Cô có phần ngập ngừng chưa muốn đi thẳng vào vấn đề, nhưng Poirot đã nhanh chóng giúp cô thấy thoải mái, và cô bắt đầu giãi bày câu chuyện của mình.

"Số là thế này, ngài Poirot, tôi chưa từng gặp phải chuyện gì tương tự thế này bao giờ. Tôi được Hội Nữ tu Lark phái đến chăm sóc một ca bệnh dưới vùng Hertfordshire. Đó là một ông lão, ngài Templeton. Cơ ngơi khá tươm tất, và mọi người cũng rất dễ chịu. Người vợ, bà Templeton, trẻ hơn chồng rất nhiều, và ông ấy có một cậu con trai riêng của người vợ trước cũng sống ở đó. Tôi không rõ liệu người thanh niên và bà mẹ kế có luôn hoà thuận với nhau không. Cậu ấy không hẳn là người bình thường theo cách người ta vẫn nói — không hẳn là 'thiểu năng', nhưng trí tuệ rõ ràng là đần độn. Thế rồi, chứng bệnh của ông Templeton ngay từ đầu đã khiến tôi thấy vô cùng kỳ bí. Có những lúc ông ấy dường như chẳng hề đau ốm gì, rồi đùng một cái lại lên một cơn đau dạ dày dữ dội, đau đớn và nôn mửa. Nhưng vị bác sĩ có vẻ hoàn toàn yên tâm, và phận tôi thì đâu dám lên tiếng can dự. Dẫu vậy tôi không tài nào xua đi mối nghi ngờ. Rồi sau đó..."

Cô ngập ngừng, mặt hơi ửng đỏ.

"Có điều gì đó xảy ra khiến cô dấy lên mối nghi ngờ chăng?" Poirot gợi mở.

"Vâng."

Nhưng cô dường như vẫn thấy khó mở lời tiếp.

"Tôi thấy đám người làm cũng xì xào bàn tán."

"Về bệnh tình của ông Templeton ư?"

"Ồ, không! Về... về chuyện khác kia..."

"Về bà Templeton chăng?"

"Vâng."

"Có lẽ là giữa bà Templeton và vị bác sĩ?"

Poirot sở hữu một trực giác nhạy bén đến kỳ lạ trong những chuyện này. Cô y tá ném cho ông một ánh nhìn đầy biết ơn rồi tiếp tục.

"Họ cứ xì xào bàn tán. Thế rồi một hôm đích thân tôi tình cờ nhìn thấy hai người họ bên nhau — ngoài vườn..."

Câu chuyện dừng lại ở đó. Vị khách của chúng tôi đang ở trong trạng thái bẽ bàng tột độ vì thuần phong mỹ tục bị xúc phạm, đến nỗi chẳng ai nỡ hỏi xem rốt cuộc cô đã chứng kiến những gì ngoài khu vườn ấy. Rõ ràng cô đã nhìn thấy quá đủ để tự đưa ra kết luận cho riêng mình về tình cảnh đó.

"Những cơn đau ngày một tệ hơn. Bác sĩ Treves bảo rằng tất cả đều hoàn toàn bình thường và nằm trong dự liệu, rằng ông Templeton khó lòng mà qua khỏi, thế nhưng suốt ngần ấy năm làm nghề điều dưỡng, tôi chưa từng thấy chuyện gì như thế bao giờ. Với tôi, nó giống như một dạng..."

Cô ngừng lại, ngập ngừng đắn đo.

"Trúng độc thạch tín chăng?" Poirot đỡ lời.

Cô gật đầu.

"Hơn nữa, chính ông ấy, ý tôi là người bệnh, cũng thốt ra một câu rất kỳ quặc: 'Bọn chúng sẽ hại chết tôi mất, cả bốn người bọn chúng. Bọn chúng rồi sẽ lấy mạng tôi cho mà xem.'"

"Hả?" Poirot hỏi dồn dập.

"Đó chính xác là những lời ông ấy thốt ra, ngài Poirot ạ. Tất nhiên lúc đó ông ấy đang đau đớn quằn quại, và hầu như chẳng còn tỉnh táo để biết mình đang nói gì."

"'Bọn chúng sẽ hại chết tôi mất, cả bốn người bọn chúng,'" Poirot trầm ngâm nhắc lại. "Theo cô thì ông ấy có ý ám chỉ ai qua câu 'cả bốn người bọn chúng'?"

"Điều đó thì tôi chịu, thưa ngài Poirot. Tôi cứ ngỡ có lẽ ông ấy ám chỉ vợ, con trai, vị bác sĩ, và có thể là cô Clark, người bạn đồng hành của bà Templeton. Như thế là vừa vặn bốn người, phải không ạ? Có thể ông ấy nghĩ tất cả bọn họ đều đang liên thủ lại để chống lại mình."

"Rất có thể, rất có thể," Poirot trầm ngâm đáp, vẻ mặt đăm chiêu. "Thế còn đồ ăn thức uống thì sao? Cô không thể áp dụng biện pháp phòng ngừa nào ư?"

"Tôi luôn cố hết sức trong khả năng của mình. Nhưng khổ nỗi, đôi khi bà Templeton cứ khăng khăng đòi tự tay mang đồ ăn lên cho ông ấy, rồi lại còn những lúc tôi hết ca trực nữa."

"Chính xác. Và cô cảm thấy mình chưa đủ bằng chứng chắc chắn để đi báo cảnh sát?"

Gương mặt cô y tá lộ rõ vẻ kinh hoàng chỉ trước ý nghĩ ấy.

"Điều tôi đã làm là thế này, ngài Poirot. Ông Templeton lên một cơn đau dữ dội sau khi dùng một bát súp. Tôi đã lén vét lại một ít dưới đáy bát sau đó, và mang nó theo lên đây. Hôm nay tôi được phép nghỉ một ngày để về thăm người mẹ ốm, vì sức khoẻ ông Templeton đã tạm ổn để có thể để ông ấy lại một mình."

Cô rút ra một chiếc lọ nhỏ đựng chất lỏng màu sẫm rồi trao cho Poirot.

"Tuyệt vời, thưa cô. Chúng tôi sẽ mang mẫu này đi xét nghiệm ngay lập tức. Nếu cô có thể quay lại đây sau, độ chừng một tiếng nữa, tôi nghĩ chúng ta sẽ có thể xoá bỏ mối nghi ngờ của cô theo cách này hay cách khác."

Sau khi hỏi han tên tuổi cùng giấy tờ chuyên môn của vị khách, ông tiễn cô ra cửa. Đoạn, ông viết một mẩu giấy ngắn rồi gửi đi cùng với lọ súp. Trong lúc chúng tôi chờ đợi kết quả, Poirot giải khuây bằng việc xác minh lai lịch của cô y tá, điều này khiến tôi có phần ngạc nhiên.

"Không, không, anh bạn của tôi ơi," ông quả quyết. "Cẩn tắc vô áy náy. Đừng quên rằng Bộ Tứ đang bám sát gót chúng ta."

Dẫu vậy, ông nhanh chóng có được thông tin xác nhận rằng một y tá tên là Mabel Palmer đúng là thành viên của Viện Lark và đã được cử đi chăm sóc ca bệnh kể trên.

"Mọi chuyện bước đầu thế là ổn," ông nói với một cái nháy mắt tinh quái. "Và giờ đây Y tá Palmer đã quay lại, đồng thời kết quả phân tích của chúng ta cũng đã tới nơi."

Cả cô y tá lẫn tôi đều nín thở chờ đợi trong lúc Poirot đọc bản báo cáo xét nghiệm.

"Có thạch tín trong đó không ạ?" cô hỏi dồn dập.

Poirot khẽ lắc đầu, gấp tờ giấy lại.

"Không."

Cả hai chúng tôi đều hết sức ngỡ ngàng.

"Không có thạch tín trong đó," Poirot nói tiếp. "Nhưng lại có antimon. Và một khi tình hình đã như vậy, chúng ta sẽ lập tức lên đường đi Hertfordshire. Cầu Chúa cho chúng ta không đến quá muộn."

Kế hoạch được thống nhất là đơn giản nhất: Poirot sẽ cứ nhận mình đúng là một thám tử, nhưng lý do bề ngoài cho chuyến viếng thăm sẽ là để thẩm vấn bà Templeton về một cô người làm từng phục vụ trong nhà bà mà ông biết được tên qua Y tá Palmer, người mà ông có thể giả vờ là có liên can đến một vụ trộm trang sức.

Trời đã về muộn khi chúng tôi tới Elmstead, tên của dinh cơ ấy. Chúng tôi đã để Y tá Palmer đi trước khoảng hai mươi phút, cốt sao không ai mảy may nghi ngờ về việc tất cả chúng tôi cùng đến một lúc.

Bà Templeton, một phụ nữ cao ráo, nước da ngăm, với những cử chỉ uốn éo mềm dẻo cùng ánh mắt đầy bất an, ra đón chúng tôi. Tôi để ý thấy khi Poirot xưng danh nghề nghiệp, bà ta hít một hơi vào nghe như tiếng rít khẽ, như thể bị giật mình kinh hãi, nhưng rồi bà ta vẫn trả lời câu hỏi của ông về cô người làm một cách khá trôi chảy. Đoạn, để thử lòng người đàn bà, Poirot bắt đầu kể một câu chuyện dài dằng dặc về một vụ án đầu độc có sự nhúng tay của một người vợ tội lỗi. Ánh mắt ông không một giây rời khỏi gương mặt bà ta trong lúc trò chuyện, và dù có cố gắng đến đâu, bà ta cũng khó lòng che giấu nổi nỗi hoảng loạn đang dâng trào. Đột nhiên, miệng lắp bắp một lời cáo lỗi rời rạc, bà ta vội vã lao ra khỏi phòng.

Chúng tôi không phải ở lại một mình quá lâu. Một người đàn ông vạm vỡ, mang bộ ria mép nhỏ màu hung đỏ và đeo kính kẹp mũi bước vào.

"Tôi là Bác sĩ Treves," ông ta tự giới thiệu. "Bà Templeton nhờ tôi gửi lời cáo lỗi tới hai ngài. Ngài biết đấy, bà ấy đang trong tình trạng rất tồi tệ. Căng thẳng thần kinh. Lo lắng cho chồng và đủ thứ chuyện khác. Tôi đã kê đơn cho bà ấy nằm nghỉ và dùng thuốc an thần bromide. Nhưng bà ấy hy vọng hai ngài sẽ ở lại dùng bữa cơm thân mật, và tôi sẽ đứng ra làm chủ nhà. Dưới vùng này chúng tôi đều đã nghe danh ngài, ngài Poirot ạ, và chúng tôi nhất định phải tiếp đãi ngài cho thật chu đáo. Ái chà, Micky đây rồi!"

Một gã trai trẻ với dáng đi lừ đừ bước vào phòng. Cậu ta có khuôn mặt tròn xoe cùng đôi lông mày ngây dại luôn nhướng lên như thể muôn đời kinh ngạc. Cậu ta nhe răng cười ngượng nghịu khi bắt tay. Đây rõ ràng chính là cậu con trai "thiểu năng" nọ.

Chẳng bao lâu sau, tất cả chúng tôi cùng bước vào bàn ăn tối. Bác sĩ Treves rời khỏi phòng — tôi nghĩ là để đi khui rượu — và bất thình lình nét mặt của cậu trai trẻ kia biến chuyển một cách đáng kinh ngạc. Cậu ta chồm người tới trước, trừng trừng nhìn Poirot.

"Các người đến vì chuyện của bố tôi," cậu ta nói, đầu gật gù. "Tôi biết tỏng. Tôi biết nhiều thứ lắm — nhưng chẳng ai nghĩ là tôi biết đâu. Mẹ sẽ mừng rơn khi bố chết đi để bà ta có thể cưới Bác sĩ Treves. Bà ta không phải mẹ đẻ của tôi, ông biết đấy. Tôi ghét bà ta. Bà ta chỉ mong bố chết đi thôi."

Mọi chuyện nghe thật rùng rợn. May thay, trước khi Poirot kịp lên tiếng đáp lời, viên bác sĩ đã quay lại, và chúng tôi đành phải gượng gạo duy trì cuộc trò chuyện.

Thế rồi đột ngột, Poirot ngả người ra sau ghế với một tiếng rên nghẹn ngào. Khuôn mặt ông nhăn nhó vì đau đớn cùng cực.

"Trời đất ơi, ngài làm sao thế?" viên bác sĩ kêu lên.

"Một cơn co thắt đột ngột. Tôi quen với nó rồi. Không, không, tôi không cần bác sĩ giúp đâu. Giá như tôi có thể lên tầng nằm nghỉ một lát."

Thỉnh cầu của ông lập tức được chấp thuận, và tôi đỡ ông lên tầng, nơi ông gục xuống giường, rên rỉ từng hồi nặng nề.

Trong một hai phút đầu, tôi đã bị mắc lừa, nhưng rồi tôi nhanh chóng nhận ra Poirot — như cách ông vẫn thường nói — đang diễn kịch, và mục đích của ông là muốn được ở lại một mình trên tầng gần phòng bệnh nhân.

Thế nên tôi đã hoàn toàn chuẩn bị tâm lý khi thấy ông bật dậy ngay tức khắc lúc hai chúng tôi vừa ở riêng với nhau.

"Nhanh lên, Hastings, lối cửa sổ. Bên ngoài có dây thường xuân. Chúng ta có thể tụt xuống trước khi bọn chúng bắt đầu sinh nghi."

"Tụt xuống ư?"

"Phải, chúng ta phải thoát khỏi ngôi nhà này ngay lập tức. Anh có nhìn thấy hắn ta trong bữa tối không?"

"Viên bác sĩ à?"

"Không, gã Templeton con ấy. Cái thói quen với mẩu bánh mì của hắn. Anh có nhớ những gì Flossie Monro đã nói với chúng ta trước khi chết không? Rằng Claud Darrell có thói quen chấm bánh mì xuống mặt bàn để nhặt những mẩu vụn. Hastings ơi, đây là một âm mưu to lớn, và cái gã trai trẻ trông ngớ ngẩn kia chính là kẻ thù không đội trời chung của chúng ta — Số Bốn! Nhanh lên."

Tôi chẳng buồn nán lại để đôi co. Dù toàn bộ sự việc nghe chừng khó tin đến mấy, tốt hơn hết là không nên chậm trễ. Chúng tôi men theo giàn thường xuân leo xuống càng khẽ khàng càng tốt rồi nhắm thẳng hướng thị trấn nhỏ và ga xe lửa mà chạy thục mạng. Chúng tôi vừa vặn bắt kịp chuyến tàu cuối cùng, chuyến 8 giờ 34 phút, đưa chúng tôi về đến nội thành vào khoảng mười một giờ đêm.

"Một âm mưu," Poirot trầm ngâm nói. "Tôi tự hỏi rốt cuộc có bao nhiêu kẻ trong số chúng nhúng tay vào việc này? Tôi đồ rằng toàn bộ gia đình Templeton chỉ là những tay chân của Bộ Tứ. Phải chăng chúng chỉ đơn thuần muốn dụ chúng ta xuống đó? Hay sự tình còn thâm hiểm hơn thế. Liệu chúng có định giở trò diễn kịch ở đó để cầm chân tôi, khiến tôi bận tâm cho tới khi chúng kịp ra tay thực hiện... điều gì? Bây giờ tôi mới tự hỏi đấy."

Ông chìm sâu vào dòng suy tưởng miên man.

Về tới nơi trọ, ông giữ tôi lại ngay trước ngưỡng cửa phòng khách.

"Coi chừng, Hastings. Tôi có linh cảm chẳng lành. Hãy để tôi vào trước."

Ông bước vào, và trước sự buồn cười nho nhỏ của tôi, ông thận trọng dùng một chiếc ủng đi mưa cũ để bấm công tắc điện. Đoạn, ông lượn quanh căn phòng như một con mèo lạ nước lạ cái, thận trọng, khẽ khàng, giương hết giác quan đề phòng hiểm hoạ. Tôi đứng nhìn ông một hồi lâu, ngoan ngoãn chôn chân tại chỗ cạnh bức tường theo đúng lời ông dặn.

"Mọi chuyện ổn cả mà, Poirot," tôi sốt ruột nói.

"Có vẻ là vậy, mon ami, có vẻ là vậy. Nhưng chúng ta hãy cứ cẩn tắc vô áy náy."

"Vớ vẩn," tôi đáp. "Dù sao thì tôi cũng sẽ nhóm lửa lò sưởi rồi hút một tẩu thuốc. Lần này tôi bắt quả tang anh rồi nhé. Anh là người dùng bao diêm sau cùng và anh đã không đặt nó lại vào khay như thường lệ — chính cái điều mà anh vẫn luôn miệng cằn nhằn mắng mỏ tôi đấy thôi."

Tôi vươn tay ra. Tôi nghe thấy tiếng thét cảnh báo của Poirot — thấy ông lao vụt về phía tôi — những ngón tay tôi vừa chạm vào bao diêm.

Và rồi — một tia lửa xanh loé lên — một tiếng nổ xé toang màng nhĩ — rồi bóng tối vây hãm...

Tôi tỉnh lại và thấy gương mặt quen thuộc của người bạn cũ, Bác sĩ Ridgeway, đang cúi xuống nhìn mình. Một nét nhẹ nhõm thoáng qua trên gương mặt ông.

"Nằm yên nào," ông cất giọng vỗ về. "Cậu bình an rồi. Vừa có một tai nạn xảy ra, cậu biết đấy."

"Poirot đâu?" tôi thều thào.

"Cậu đang ở chỗ tôi. Mọi chuyện đều ổn cả rồi."

Một nỗi sợ hãi lạnh ngắt bóp nghẹt lấy tim tôi. Sự lảng tránh của ông đánh thức một mối kinh hoàng tột độ.

"Poirot đâu?" tôi lặp lại dồn dập. "Poirot thế nào rồi?"

Ông hiểu rằng tôi buộc phải biết sự thật và mọi lời thoái thác lúc này đều vô nghĩa.

"Nhờ một phép màu mà cậu đã thoát chết... còn Poirot... thì không!"

Một tiếng thét bật ra khỏi bờ môi tôi.

"Không thể nào chết được? Chẳng lẽ anh ấy chết rồi ư?"

Ridgeway gục đầu, các cơ trên mặt co giật vì xúc động khôn xiết.

Bằng một nguồn sức lực tuyệt vọng, tôi gượng ngồi dậy.

"Poirot có thể đã chết," tôi run rẩy thốt lên. "Nhưng linh hồn anh ấy vẫn trường tồn. Tôi sẽ tiếp bước sự nghiệp của anh ấy! Bộ Tứ phải đền mạng!"

Đoạn, tôi ngã vật ra sau, ngất lịm đi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.