Poirot và tôi thường hay dùng bữa tại một quán ăn nhỏ ở khu Soho. Một tối nọ, khi đang ngồi ở đó, chúng tôi tình cờ trông thấy một người quen ở bàn bên cạnh. Đó là thanh tra Japp; thấy bàn chúng tôi còn chỗ, ông liền sang ngồi cùng. Đã khá lâu rồi hai chúng tôi mới lại gặp ông.
"Dạo này chẳng thấy ông ghé qua chỗ chúng tôi chơi gì cả," Poirot cất giọng trách móc. "Kể từ sau vụ Hoa nhài vàng đến giờ chúng ta chưa gặp lại nhau, cũng ngót nghét một tháng rồi còn gì."
"Tôi phải lên mạn bắc công tác, vì thế đấy. Công việc bên các ông thế nào rồi? Nhóm Bộ Tứ vẫn tung hoành ngang dọc đấy chứ, hả?"
Poirot lắc ngón tay ra chiều quở trách.
"A! Ông cứ việc chế giễu tôi—nhưng nhóm Bộ Tứ—chúng có thật đấy."
"Ồ! Cái đó thì tôi chẳng nghi ngờ gì—nhưng chúng đâu phải cái rốn của vũ trụ như ông vẫn tưởng tượng ra đâu."
"Bạn tôi ơi, ông lầm to rồi. Thế lực tàn ác lớn nhất trên thế giới ngày nay chính là 'Bộ Tứ' này đây. Chúng đang mưu tính điều gì thì chẳng ai hay, nhưng từ trước tới nay chưa từng có một tổ chức tội phạm nào như thế. Cầm đầu là bộ óc kiệt xuất nhất Trung Hoa, các thành viên gồm một tay triệu phú người Mỹ, một nữ khoa học gia người Pháp, còn kẻ thứ tư—"
Japp ngắt lời:
"Tôi biết rồi—tôi biết rồi mà. Lúc nào đầu óc ông cũng bị ám ảnh bởi chuyện đó. Nó sắp thành chứng cuồng nhẹ của ông rồi đấy, thưa ngài Poirot. Thôi đổi đề tài đi, nói chuyện khác cho khuây khỏa. Ông có hứng thú gì với cờ vua không?"
"Tôi cũng từng chơi, có chứ."
"Hôm qua ông có xem vụ việc kỳ lạ đó không? Trận đấu giữa hai kỳ thủ danh tiếng lẫy lừng thế giới, thế rồi một người đột tử ngay giữa ván cờ?"
"Tôi có thấy tin đó thoáng qua. Bác sĩ Savaronoff, quán quân cờ vua người Nga, là một trong hai người đấu, còn người kia tử vong vì suy tim là Gilmour Wilson, một tài năng trẻ sáng giá người Mỹ."
"Đúng phóc. Savaronoff từng đánh bại Rubenstein để giành ngôi vô địch nước Nga mấy năm trước. Còn Wilson thì được ca tụng là Capablanca thứ hai."
"Một sự việc hết sức kỳ lạ," Poirot trầm ngâm. "Nếu tôi không nhầm, hẳn là ông đặc biệt bận tâm đến vụ này?"
Japp bật cười, vẻ hơi ngượng ngùng.
"Ông đoán trúng phóc rồi, ngài Poirot. Tôi thấy khó hiểu quá. Thằng chạp Wilson ấy khỏe như vâm—chẳng hề có tiền sử bệnh tim mạch gì sất. Cái chết của anh ta quả thực không thể nào giải thích nổi."
"Ông nghi ngờ Bác sĩ Savaronoff đã ra tay trừ khử anh ta ư?" Tôi kêu lên.
"Khó có chuyện đó lắm," Japp khô khốc đáp. "Tôi nghĩ ngay cả một gã người Nga cũng chẳng đến mức giết người chỉ để khỏi thua một ván cờ—với lại theo như tôi tìm hiểu, tình thế có khi còn ngược lại ấy chứ. Vị bác sĩ kia vốn là tay cờ cự phách—người ta bảo ông ta chỉ chịu đứng sau mỗi Lasker thôi."
Poirot trầm ngâm gật đầu.
"Vậy rốt cuộc ý tứ của ông là thế nào?" ông hỏi. "Tại sao Wilson lại bị đầu độc? Bởi tôi đoán chắc là ông đang nghi ngờ có độc dược nhúng tay vào."
"Tất nhiên rồi. Suy tim nghĩa là tim ngừng đập—chỉ có thế thôi mà. Lúc này bác sĩ chỉ kết luận chính thức như vậy, nhưng ngoài mặt thì ông ta lại nháy nước với chúng tôi rằng mình thấy có điều khuất tất."
"Bao giờ thì khám nghiệm tử thi?"
"Ngay đêm nay. Cái chết của Wilson diễn ra đột ngột đến kỳ lạ. Trông anh ta vẫn hoàn toàn bình thường, thậm chí đang đưa tay đi một quân cờ thì bỗng dưng đổ gục về phía trước—chết thẳng cẳng!"
"Trên đời có rất ít loại độc dược có thể phát tác theo kiểu ấy," Poirot lên tiếng phản bác.
"Tôi biết chứ. Tôi hy vọng cuộc khám nghiệm tử thi sẽ giúp ích được phần nào. Nhưng cái tôi muốn biết là tại sao lại có kẻ muốn thủ tiêu Gilmour Wilson kia chứ? Một thanh niên hiền lành, khiêm tốn. Vừa mới từ Mỹ sang đây, dường như chẳng hề có thù oán với ai trên đời."
"Thật khó mà tin nổi," tôi ngẫm nghĩ.
"Chẳng có gì khó tin đâu," Poirot mỉm cười. "Tôi thấy rõ ràng Japp đã có giả thuyết cho riêng mình rồi."
"Đúng thế đấy, ngài Poirot. Tôi không tin chén thuốc độc ấy nhắm vào Wilson—nó vốn dành cho người kia cơ."
"Savaronoff ư?"
"Phải. Savaronoff đã đụng độ với phe Bolshevik khi Cách mạng bùng nổ. Người ta thậm chí từng loan báo ông ta đã chết. Nhưng trên thực tế ông ta đã trốn thoát, rồi phải chịu đựng những nỗi gian truân khôn xiết suốt ba năm ròng nơi chốn hoang dã Siberia. Những đau đớn ấy khủng khiếp đến mức giờ đây ông ta như biến thành một con người khác. Bạn bè và người quen cũ đều bảo rằng khó lòng mà nhận ra ông ta được nữa. Tóc ông ta bạc trắng, toàn bộ dáng vẻ trông già nua một cách khủng khiếp. Ông ta giờ như một phế nhân, hiếm khi bước chân ra ngoài, sống thui thủi cùng cô cháu gái tên Sonia Daviloff và một người đầy tớ nam gốc Nga trong một căn hộ miệt Westminster. Rất có thể ông ta vẫn luôn tự coi mình là cái gai trong mắt kẻ khác. Chắc chắn là ông ta chẳng hề muốn nhận lời tham gia trận đấu cờ này chút nào. Ông ta đã thẳng thừng từ chối mấy lần liền, mãi đến khi báo chí vào cuộc rùm beng chỉ trích thói 'từ chối thiếu tinh thần thượng võ' thì ông ta mới đành chịu nhượng bộ. Gilmour Wilson thì cứ liên tục thách đấu với sự dai dẳng đặc sệt kiểu Mỹ, và cuối cùng anh ta cũng toại nguyện. Giờ tôi hỏi ông nhé, ngài Poirot, cớ sao ông ta lại không muốn đấu? Vì ông ta sợ bị chú ý. Không muốn có kẻ lần ra tung tích của mình. Lời giải của tôi là thế đấy—Gilmour Wilson chết oan mạng chỉ vì bị trúng tên bay đạn lạc."
"Thế có ai được hưởng lợi riêng gì từ cái chết của Savaronoff không?"
"À, tôi nghĩ là cô cháu gái. Mới đây ông ta được thừa kế một khối gia tài kếch xù. Do bà Gospoja để lại, chồng bà ta là một tay trục lợi buôn đường dưới thời chế độ cũ. Tôi nghe nói thuở trước hai người họ từng có qua lại tình cảm, và bà ta một mực kiên quyết không tin những tin đồn về cái chết của ông."
"Trận đấu diễn ra ở đâu?"
"Ngay tại căn hộ của Savaronoff. Như tôi đã nói, ông ta là người tàn tật mà."
"Có nhiều người đến xem không?"
"Ít nhất cũng phải một tá—có khi còn đông hơn."
Poirot nhăn mặt đầy biểu cảm.
"Japp tội nghiệp của tôi ơi, nhiệm vụ của ông chẳng dễ dàng chút nào đâu."
"Chỉ cần nắm chắc trong tay chứng cứ Wilson bị đầu độc, tôi sẽ có hướng để tiếp tục."
"Đã bao giờ ông nghĩ đến việc, trong lúc này, giả sử phỏng đoán của ông rằng Savaronoff mới là nạn nhân thực sự là đúng, thì hung thủ có thể sẽ ra tay lần nữa không?"
"Dĩ nhiên là có chứ. Tôi đã bố trí hai người canh chừng căn hộ của Savaronoff rồi."
"Việc đó sẽ hữu ích lắm đấy, nếu chẳng may có kẻ nào cắp bom dưới nách mà bước vào," Poirot châm chọc buông một câu khô khốc.
"Xem chừng ông bắt đầu thấy hứng thú rồi đấy, ngài Poirot," Japp nói, mắt lấp lánh ánh cười. "Có muốn cùng tôi ghé qua nhà xác xem thi thể của Wilson trước khi các bác sĩ bắt tay vào việc không? Biết đâu đấy, cái ghim cà vạt của anh ta bị lệch một tí lại giúp ông tìm ra manh mối đắt giá để phá án thì sao."
"Japp thân mến ơi, suốt bữa ăn đến giờ mấy ngón tay tôi cứ ngứa ngáy muốn sửa lại cái ghim cà vạt của chính ông đấy thôi. Ông cho phép chứ, được không? À! Trông thuận mắt hơn bao nhiêu rồi đấy. Phải rồi, dứt khoát chúng ta phải đến nhà xác một chuyến thôi."
Tôi có thể thấy rõ sự chú ý của Poirot đã bị bài toán hóc búa mới này lôi cuốn hoàn toàn. Đã lâu lắm rồi ông mới lại tỏ ra hứng thú với một vụ án bên ngoài như thế, khiến tôi vô cùng mừng rỡ khi thấy ông lấy lại phong độ ngày nào.
Về phần mình, lòng tôi dâng lên niềm xót thương sâu sắc khi nhìn xuống thân thể bất động cùng gương mặt co giật méo mó của chàng trai trẻ người Mỹ bất hạnh, kẻ đã từ giã cõi đời theo một cách quá đỗi kỳ lạ. Poirot chăm chú khám nghiệm tử thi. Khắp người không có bất kỳ dấu vết nào, ngoại trừ một vết sẹo nhỏ trên bàn tay trái.
"Bác sĩ bảo đó là vết bỏng, không phải vết cắt đâu," Japp giải thích.
Sự chú ý của Poirot chuyển sang những đồ vật tùy thân trong túi người chết, được một viên cảnh sát trải ra cho chúng tôi xem xét. Chẳng có gì nhiều—một chiếc khăn tay, chùm chìa khóa, chiếc ví dày cộm tiền giấy và vài lá thư không mấy quan trọng. Thế nhưng có một vật nằm riêng lẻ lại khiến Poirot hết sức lưu tâm.
"Một quân cờ!" ông thốt lên. "Một quân Tượng trắng. Vật này nằm trong túi anh ta sao?"
"Không, nó bị siết chặt trong lòng bàn tay anh ta. Chúng tôi đã phải chật vật lắm mới gỡ được nó ra khỏi các ngón tay đấy. Rồi cũng phải đem trả lại cho Bác sĩ Savaronoff thôi. Nó thuộc về một bộ cờ bằng ngà chạm khắc tuyệt đẹp."
"Xin hãy để tôi mang trả lại cho ông ấy. Như thế sẽ có cớ để tôi đến tận nơi."
"A ha!" Japp reo lên. "Hóa ra ông cũng muốn nhúng tay vào vụ này rồi đấy à?"
"Tôi thừa nhận. Ông đã khéo léo khơi gợi sự tò mò trong tôi quá mà."
"Thế thì tuyệt. Kéo được ông ra khỏi mớ ủ rũ là tốt rồi. Tôi thấy Đại úy Hastings cũng mừng ra mặt kìa."
"Đúng thế thật," tôi vừa cười vừa nói.
Poirot quay lại phía thi thể.
"Không còn chi tiết nhỏ nào khác mà ông có thể kể cho tôi nghe về—anh ta sao?" ông hỏi.
"Tôi nghĩ là không."
"Kể cả việc—anh ta thuận tay trái ư?"
"Ông đúng là phù thủy, ngài Poirot ạ. Sao ông biết được tài thế? Anh ta thuận tay trái thật. Dù chuyện đó thì có can hệ quái gì tới vụ án đâu."
"Chẳng can hệ chút nào cả," Poirot vội vàng đồng tình khi thấy Japp có vẻ hơi tự ái. "Chỉ là trò đùa mọn của tôi thôi mà. Tôi thích trêu ông một chút thế đấy, hiểu không nào."
Chúng tôi rời đi trong bầu không khí hòa thuận vui vẻ.
Sáng hôm sau, chúng tôi cất bước tìm đến căn hộ của Bác sĩ Savaronoff ở Westminster.
"Sonia Daviloff," tôi ngẫm nghĩ thành tiếng. "Cái tên nghe hay đấy chứ."
Poirot khựng lại, ném cho tôi một ánh nhìn tuyệt vọng.
"Lúc nào cũng chỉ tơ tưởng đến chuyện lãng mạn thôi! Cậu thật hết thuốc chữa. Đáng đời cậu lắm nếu Sonia Daviloff lại hóa ra là người bạn kiêm kẻ thù của chúng ta, Nữ Bá tước Vera Rossakoff."
Vừa nghe nhắc đến tên nữ bá tước, mặt tôi liền sa sầm lại.
"Chẳng lẽ, Poirot, anh lại nghi ngờ—"
"Ấy, không, không hề. Tôi đùa đấy thôi! Đầu óc tôi đâu có bị ám ảnh bởi nhóm Bộ Tứ đến mức ấy, mặc cho Japp có nói ngả nói nghiêng thế nào."
Cánh cửa căn hộ mở ra, đón chúng tôi là một người đầy tớ nam có khuôn mặt đờ đẫn như khúc gỗ. Thật khó lòng tin nổi cái bộ mặt vô cảm ấy lại có thể biểu lộ cảm xúc con người.
Poirot chìa ra tấm danh thiếp có vài dòng giới thiệu nguệch ngoạc của Japp, và chúng tôi được dẫn vào một căn phòng dài, trần thấp, bày biện toàn những bức màn trướng lộng lẫy và cổ vật quý hiếm. Một vài bức linh ảnh tuyệt mỹ treo trên tường, còn sàn nhà thì trải những tấm thảm Ba Tư tinh xảo. Trên một chiếc bàn có đặt chiếc ấm samovar.
Tôi đang chăm chú ngắm nhìn một trong những bức linh ảnh mà tôi đoán chừng có giá trị rất lớn, thì quay lại đã thấy Poirot đang nằm rạp dưới sàn nhà. Dù tấm thảm có đẹp đẽ đến đâu chăng nữa, tôi thấy cũng chẳng đến mức phải săm soi kỹ lưỡng đến thế.
"Đó là một mẫu vật tuyệt vời lắm sao?" tôi hỏi.
"Hở? Ồ! Tấm thảm ấy à? Đâu có, tôi đâu có ngắm tấm thảm. Nhưng nó quả là một tuyệt tác, quá đỗi tuyệt vời đến mức không đáng bị một chiếc đinh lớn đóng bừa bãi xuyên qua giữa như thế. Không, Hastings này," ông cất lời khi thấy tôi bước lại gần, "chiếc đinh giờ không còn ở đó nữa đâu. Nhưng cái lỗ thủng thì vẫn rành rành ra đấy."
Một tiếng động bất thình lình vang lên phía sau khiến tôi quay phắt người lại, còn Poirot thì nhanh nhẹn bật dậy. Một cô gái trẻ đang đứng ở ngưỡng cửa. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào chúng tôi, đượm vẻ ngờ vực tối tăm. Cô có vóc dáng tầm thước, khuôn mặt xinh đẹp nhưng mang nét hờn dỗi, đôi mắt xanh thẳm và mái tóc đen tuyền cắt ngắn. Giọng nói của cô cất lên trầm ấm, vang vọng, và hoàn toàn không mang chút ngữ điệu Anh quốc nào.
"Tôi e là bác tôi không thể tiếp các ông được. Bác tôi ốm rất nặng."
"Thật đáng tiếc quá, nhưng có lẽ tiểu thư có thể vui lòng giúp tôi đôi điều thay cho bác chăng. Cô là Tiểu thư Daviloff, phải không ạ?"
"Vâng, tôi là Sonia Daviloff. Các ông muốn biết điều gì?"
"Tôi đang tiến hành vài cuộc điều tra xung quanh sự việc đáng buồn xảy ra tối hôm kia—về cái chết của ngài Gilmour Wilson. Cô có thể cho tôi biết những gì về chuyện đó?"
Đôi mắt cô gái mở to.
"Anh ấy chết vì trụy tim—khi đang chơi cờ vua."
"Cảnh sát lại không dám chắc đó là... trụy tim đâu, thưa tiểu thư."
Cô gái làm một cử chỉ đầy vẻ kinh hãi.
"Vậy là thật rồi," cô thốt lên. "Ivan đã nói đúng."
"Ivan là ai, và tại sao cô lại bảo anh ta nói đúng?"
"Chính Ivan đã mở cửa cho các ông đấy—anh ấy đã nói với tôi rằng theo ý anh ấy, Gilmour Wilson không hề chết vì nguyên nhân tự nhiên—mà là bị đầu độc do nhầm lẫn."
"Do nhầm lẫn ư?"
"Phải, chén thuốc độc ấy vốn nhắm vào bác tôi."
Giờ đây cô đã hoàn toàn quên đi mối nghi ngại ban đầu, giọng nói trở nên dồn dập, tha thiết.
"Sao cô lại nói vậy, thưa tiểu thư? Ai lại muốn đầu độc Bác sĩ Savaronoff cơ chứ?"
Cô lắc đầu.
"Tôi không biết nữa. Tôi hoàn toàn mù tịt. Còn bác tôi, người chẳng bao giờ tin tưởng tôi cả. Điều đó âu cũng tự nhiên thôi. Các ông thấy đấy, bác ấy hầu như đâu có biết tôi. Bác chỉ gặp tôi khi tôi còn là một đứa trẻ, và từ đó bặt vô âm tín cho đến tận khi tôi đến sống cùng bác ở London này. Nhưng tôi biết chắc điều này, bác ấy đang sợ hãi một điều gì đó. Ở Nga chúng tôi có rất nhiều hội kín, và một hôm tôi tình cờ nghe lỏm được vài lời khiến tôi nghĩ rằng chính một hội kín như thế là nỗi khiếp sợ của bác. Nói cho tôi biết đi, thưa ông"—cô bước lại gần hơn một bước, hạ thấp giọng—"ông đã bao giờ nghe nói đến một tổ chức có tên là 'Bộ Tứ' chưa?"
Poirot giật nảy mình suýt nhảy cẫng lên. Mắt ông trố tròn ra vì kinh ngạc tột độ.
"Sao cô lại... cô biết gì về Bộ Tứ, thưa tiểu thư?"
"Vậy là có một tổ chức như thế thật ư! Tôi tình cờ nghe loáng thoáng người ta nhắc đến bọn chúng, rồi sau đó gặng hỏi bác tôi về chuyện ấy. Chưa bao giờ tôi thấy một người đàn ông nào lại khiếp đảm đến thế. Mặt bác tái mét đi và người run lên bần bật. Bác sợ bọn họ, thưa ông, sợ hãi vô cùng, tôi dám chắc là vậy. Và do nhầm lẫn, chúng đã giết chết người thanh niên Mỹ tên Wilson kia."
"Bộ Tứ," Poirot lẩm bẩm. "Lại là Bộ Tứ! Một sự trùng hợp đến kinh ngạc, thưa tiểu thư, bác của cô vẫn đang gặp nguy hiểm đấy. Tôi phải cứu ông ấy. Bây giờ xin cô hãy kể lại tường tận cho tôi diễn biến của buổi tối định mệnh hôm đó. Hãy chỉ cho tôi bàn cờ, chiếc bàn, vị trí hai người ngồi—mọi thứ."
Cô đi về phía góc phòng và mang ra một chiếc bàn nhỏ. Mặt bàn được chế tác vô cùng tinh xảo, cẩn các ô vuông bằng bạc và gỗ đen xen kẽ để làm bàn cờ.
"Chiếc bàn này được gửi tặng cho bác tôi cách đây vài tuần, kèm theo lời thỉnh cầu mong bác sẽ dùng nó trong trận đấu tiếp theo. Hôm đó nó được đặt ở chính giữa phòng—như thế này."
Poirot săm soi chiếc bàn với một sự chú ý mà theo tôi thấy là hoàn toàn không cần thiết. Cách ông tiến hành thẩm tra chẳng giống những gì tôi dự tính chút nào. Nhiều câu hỏi của ông dường như vô nghĩa, trong khi đối với những vấn đề thực sự hệ trọng thì ông lại chẳng buồn đả động tới. Tôi kết luận rằng việc bất ngờ nghe nhắc đến nhóm Bộ Tứ đã khiến tâm trí ông hoàn toàn mất phương hướng.
Sau khi xem xét tỉ mỉ chiếc bàn và vị trí chính xác của nó hôm đó, ông yêu cầu được xem các quân cờ. Sonia Daviloff mang chúng ra trong một chiếc hộp. Ông chỉ quan sát qua loa một hai quân cờ.
"Một bộ cờ tuyệt mỹ," ông đãng trí lẩm bẩm.
Vẫn chẳng có lấy một câu hỏi nào về việc hôm đó có đồ uống gì, hay những ai đã có mặt ở đó.
Tôi húng hắng đằng hắng ra dấu đầy ẩn ý.
"Anh không nghĩ là, Poirot, rằng—"
Ông hách dịch ngắt lời tôi ngay:
"Đừng suy nghĩ gì cả, bạn tôi ơi. Cứ để mặc mọi chuyện cho tôi. Thưa tiểu thư, liệu tôi có thể gặp bác của cô một lát được không, việc đó có quá khó khăn chăng?"
Một nụ cười thoáng hiện trên gương mặt cô gái.
"Bác ấy sẽ tiếp ông thôi. Ông hiểu cho, phận sự của tôi là phải thăm dò mọi người lạ trước đã."
Cô lui bước biến mất. Tôi nghe thấy tiếng thì thào trò chuyện ở phòng bên cạnh, rồi chỉ một phút sau cô quay lại và ra hiệu cho chúng tôi bước vào căn phòng kế bên.
Người đàn ông đang nằm trên trường kỷ quả là một nhân vật đầy uy nghi. Dáng người cao lớn, gầy gò, với đôi lông mày rậm rạp dữ dằn cùng chòm râu bạc trắng, và một khuôn mặt hốc hác vì đói khát và gian lao. Bác sĩ Savaronoff toát lên một cá tính thật khác biệt. Tôi để ý thấy cấu trúc đầu kỳ lạ của ông, phần đỉnh đầu cao một cách bất thường. Một kỳ thủ cờ vua vĩ đại ắt hẳn phải sở hữu một bộ óc phi thường, tôi biết vậy. Tôi hoàn toàn có thể hiểu được vì sao Bác sĩ Savaronoff lại là kỳ thủ đứng hàng thứ hai trên thế giới.
Poirot cúi mình chào.
"Thưa Bác sĩ, tôi có thể nói chuyện riêng với ông được không?"
Savaronoff quay sang bảo cô cháu gái:
"Để chúng ta nói chuyện riêng, Sonia."
Cô ngoan ngoãn lui ra ngoài.
"Giờ thì, thưa ông, có chuyện gì thế?"
"Thưa Bác sĩ Savaronoff, gần đây ông vừa được thừa kế một gia tài khổng lồ. Nếu chẳng may ông... đột ngột qua đời, ai sẽ là người thừa kế số tài sản ấy?"
"Tôi đã lập di chúc để lại toàn bộ cho cháu gái tôi, Sonia Daviloff. Chẳng lẽ ông lại ám chỉ—"
"Tôi chẳng ám chỉ điều gì cả, nhưng ông đâu có gặp lại cháu gái mình kể từ khi cô ấy còn là một đứa trẻ. Bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng mạo danh cô ấy lắm chứ."
Savaronoff dường như sững sờ trước lời gợi ý ấy. Poirot thản nhiên nói tiếp.
"Chuyện đó tạm gác lại ở đây. Tôi chỉ buông lời cảnh báo thế thôi. Giờ điều tôi muốn ông làm là hãy miêu tả lại ván cờ tối hôm nọ cho tôi nghe."
"Ý ông là sao—miêu tả thế nào?"
"À, bản thân tôi không biết chơi cờ, nhưng tôi hiểu rằng có những nước cờ mở đầu quy chuẩn—nước thí quân, người ta gọi thế có phải không?"
Bác sĩ Savaronoff thoáng mỉm cười.
"À! Tôi hiểu ý ông rồi. Wilson đã dùng khai cuộc Ruy Lopez—một trong những thế khai cuộc vững chắc nhất, và rất thường được áp dụng trong các giải đấu cũng như các trận so tài."
"Thế hai người đã đấu được bao lâu thì thảm kịch xảy ra?"
"Chắc chỉ vào khoảng nước thứ ba hoặc thứ tư, khi Wilson bỗng nhiên đổ gục xuống bàn, tắt thở ngay tức khắc."
Poirot đứng dậy chuẩn bị cáo từ. Ông tung ra câu hỏi cuối cùng với vẻ như thể nó chẳng có chút tầm quan trọng nào, nhưng tôi thì thừa hiểu dụng ý của ông.
"Anh ta có ăn hay uống thứ gì trước đó không?"
"Một ly rượu whisky pha soda, tôi nhớ là vậy."
"Cảm ơn ông, thưa Bác sĩ Savaronoff. Tôi xin phép không làm phiền ông nữa."
Ivan đã đứng sẵn ở tiền sảnh để tiễn chúng tôi ra cửa. Poirot nấn ná lại nơi ngưỡng cửa.
"Căn hộ ngay bên dưới tầng này, anh có biết ai ở đó không?"
"Thưa ngài, là của Ngài Charles Kingwell, một thành viên Nghị viện. Dạo gần đây căn hộ đó được cho thuê lại kèm theo đủ đồ đạc rồi ạ."
"Cảm ơn anh."
Chúng tôi bước ra ngoài bầu không khí chan hòa ánh nắng mùa đông.
"Này, thực tình đấy, Poirot à," tôi bộc phát thốt lên. "Tôi chẳng thấy lần này anh thể hiện được tài ba gì cả. Rõ ràng là mấy câu hỏi của anh nghe nông cạn quá chừng."
"Cậu nghĩ thế thật sao, Hastings?" Poirot nhìn tôi với vẻ cầu khẩn. "Tôi đã bị bàng hoàng, đảo lộn hết cả, đúng vậy. Thế nếu là cậu thì cậu sẽ hỏi những gì?"
Tôi cân nhắc câu hỏi một cách thấu đáo, rồi phác thảo kế hoạch của mình cho Poirot nghe. Ông lắng nghe với vẻ chăm chú tột bậc. Bài độc thoại của tôi kéo dài cho đến tận khi chúng tôi gần về đến nhà.
"Rất xuất sắc, rất sâu sắc, Hastings ạ," Poirot vừa nói vừa tra chìa khóa vào ổ rồi đi trước tôi lên cầu thang. "Nhưng hoàn toàn vô ích."
"Vô ích ư!" Tôi kêu lên đầy kinh ngạc. "Nếu nạn nhân bị đầu độc—"
"A ha," Poirot reo lên, chộp lấy một bức thư ngắn đặt trên bàn. "Của Japp gửi. Đúng y như tôi đã nghĩ." Ông ném mẩu giấy sang cho tôi. Lời lẽ trong thư ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề. Người ta không tìm thấy bất kỳ dấu vết độc dược nào, và hoàn toàn không có bằng chứng nào cho thấy nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân.
"Cậu thấy chưa," Poirot nói, "những câu hỏi của chúng ta ắt hẳn sẽ trở nên thừa thãi vô cùng."
"Anh đã đoán trước được điều này rồi ư?"
"'Dự đoán kết quả có thể xảy ra của ván bài,'" Poirot trích dẫn một câu từ thế bài Bridge hóc búa dạo gần đây mà tôi đã tốn bộn thời gian nghiền ngẫm. "Bạn tôi ơi, khi cậu làm được điều đó một cách chuẩn xác, người ta không gọi đó là đoán mò đâu."
"Thôi đừng có bẻ hoe từng chữ nữa," tôi sốt ruột càu nhàu. "Anh đã nhìn thấy trước việc này sao?"
"Phải, tôi đã thấy trước."
"Tại sao?"
Poirot thò tay vào túi áo và rút ra—một quân Tượng trắng.
"Kìa," tôi kêu lên, "anh quên không trả lại cho Bác sĩ Savaronoff rồi."
"Cậu nhầm rồi, bạn tôi ơi. Quân Tượng kia vẫn đang nằm yên trong túi áo bên trái của tôi đây này. Còn quân này là bạn đồng hành của nó, tôi lấy từ hộp cờ mà Tiểu thư Daviloff đã có lòng cho phép tôi xem xét. Số nhiều của một quân tượng là hai quân tượng."
Ông nhấn mạnh chữ "s" ở cuối bằng một tiếng rít dài đầy vẻ đắc ý. Tôi hoàn toàn mờ mịt không hiểu ra làm sao.
"Nhưng tại sao anh lại lấy nó?"
"Trời đất quỷ thần ơi, tôi muốn xem xem chúng có giống nhau y đúc hay không chứ sao."
Ông đặt hai quân cờ nằm cạnh nhau trên bàn.
"Thì chúng, dĩ nhiên rồi," tôi nói, "giống nhau như lột còn gì."
Poirot nghiêng đầu ngắm nghía chúng.
"Trông thì có vẻ như thế thật, tôi công nhận. Nhưng chớ có coi điều gì là hiển nhiên cho đến khi nó được chứng minh. Cậu làm ơn lấy giúp tôi chiếc cân tiểu ly ra đây."
Với sự cẩn trọng vô bờ, ông cân từng quân cờ một, rồi quay sang nhìn tôi với gương mặt bừng sáng vẻ đắc thắng.
"Tôi đã đúng. Cậu thấy chưa, tôi đã đúng. Đố ai lừa nổi Hercule Poirot này!"
Ông lao vội đến bên máy điện thoại—nóng lòng chờ đợi.
"Có phải Japp đấy không? A! Japp, ông đấy à. Hercule Poirot đang nói đây. Hãy để mắt tới tên đầy tớ Ivan. Tuyệt đối không được để hắn lọt lưới đấy nhé. Phải, phải, đúng như tôi nói đấy."
Ông dập mạnh ống nghe xuống rồi quay ngoắt sang tôi.
"Cậu vẫn chưa nhận ra sao, Hastings? Để tôi giải thích cho nhé. Wilson không hề bị đầu độc, anh ta bị điện giật chết. Có một thanh kim loại mảnh luồn xuyên qua giữa một trong hai quân cờ ấy. Chiếc bàn đã được chuẩn bị sẵn từ trước và đặt đúng vào một vị trí cố định trên sàn nhà. Khi quân Tượng được đặt xuống một trong các ô vuông bằng bạc, dòng điện liền chạy thẳng qua cơ thể Wilson, giết chết anh ta ngay tức khắc. Dấu vết duy nhất để lại chính là vết bỏng điện trên bàn tay anh ta—tay trái, bởi vì anh ta thuận tay trái. 'Chiếc bàn đặc biệt' đó là một cỗ máy móc vô cùng xảo quyệt. Chiếc bàn tôi kiểm tra ban nãy chỉ là vật thế mạng, hoàn toàn vô hại. Nó đã được tráo đổi ngay sau khi vụ án mạng diễn ra. Mọi sự được điều khiển từ căn hộ bên dưới, nơi mà nếu cậu còn nhớ, vừa mới được cho thuê lại kèm đủ đồ đạc. Nhưng chắc chắn phải có ít nhất một kẻ đồng lõa nằm ngay trong căn hộ của Savaronoff. Cô gái kia chính là tay chân của Bộ Tứ, trà trộn vào hòng chiếm đoạt gia tài của Savaronoff."
"Thế còn Ivan?"
"Tôi hết sức nghi ngờ rằng Ivan chẳng phải ai khác ngoài Kẻ Số Bốn lừng danh."
"Cái gì cơ?"
"Phải đấy. Hắn là một diễn viên đóng thế đại tài. Hắn có thể hóa thân thành bất kỳ nhân vật nào hắn muốn."
Tôi nhớ lại những biến cố đã qua, người gác trại tâm thần, gã phụ việc lò mổ, vị bác sĩ nhã nhặn, tất cả đều cùng là một người, vậy mà chẳng ai giống ai một mảy may nào.
"Kỳ diệu thật," cuối cùng tôi cất lời. "Mọi mảnh ghép đều khớp nhau đến hoàn hảo. Savaronoff đã đánh hơi được âm mưu này, thảo nào ông ta lại khăng khăng từ chối trận đấu đến thế."
Poirot nhìn tôi không nói một lời. Rồi ông đột ngột quay lưng đi, bắt đầu rảo bước đi đi lại lại trong phòng.
"Cậu có cuốn sách nào về cờ vua ở đây không, bạn tôi ơi?" ông chợt hỏi.
"Tôi tin là có đâu đó quanh đây."
Tôi phải mất một hồi lâu mới lục lọi ra được, nhưng rốt cuộc cũng tìm thấy và mang lại cho Poirot; ông liền thả mình xuống ghế và bắt đầu đọc ngấu nghiến với sự chăm chú cao độ.
Khoảng chừng mười lăm phút sau thì chuông điện thoại reo vang. Tôi nhấc máy. Là Japp gọi. Ivan đã rời khỏi căn hộ, tay xách theo một bọc đồ lớn. Hắn đã nhảy tót lên một chiếc taxi đang chờ sẵn, và cuộc rượt đuổi bắt đầu. Hắn lộ rõ ý đồ muốn cắt đuôi những kẻ bám theo. Rốt cuộc dường như ngỡ rằng mình đã thoát nạn, hắn liền cho xe chạy tới một ngôi nhà lớn bỏ hoang ở Hampstead. Ngôi nhà hiện đã bị bao vây chặt chẽ.
Tôi thuật lại mọi chuyện cho Poirot nghe. Ông chỉ trố mắt nhìn tôi như thể chẳng hề lọt tai những gì tôi vừa nói. Ông chìa cuốn sách cờ vua ra trước mặt tôi.
"Nghe này, bạn tôi ơi. Đây là thế Khai cuộc Ruy Lopez. 1. e4 e5; 2. Mã f3 Mã c6; 3. Tượng b5. Rồi sau đó nảy sinh vấn đề về nước cờ thứ ba tối ưu của bên Đen. Đen có nhiều cách phòng thủ khác nhau để lựa chọn. Chính nước đi thứ ba của bên Trắng đã lấy mạng Gilmour Wilson, 3. Tượng b5. Mới chỉ là nước thứ ba thôi—điều đó chẳng gợi cho cậu điều gì sao?"
Tôi chẳng hiểu đầu đuôi ông muốn ám chỉ điều gì, và liền bảo thực với ông như vậy.
"Tôi giả dụ thế này nhé, Hastings, khi cậu đang ngồi trên chiếc ghế này mà nghe thấy tiếng cửa trước mở ra rồi đóng lại, cậu sẽ nghĩ gì?"
"Tôi nghĩ là có ai đó vừa đi ra ngoài, hẳn là thế rồi."
"Phải—nhưng bao giờ cũng có hai cách nhìn nhận một vấn đề. Có người đi ra ngoài—hoặc có người bước vào nhà—hai chuyện hoàn toàn trái ngược nhau đấy chứ, Hastings. Nhưng nếu cậu suy đoán sai hướng ngay từ đầu, chẳng mấy chốc sẽ có những mâu thuẫn nhỏ len lỏi vào để chỉ cho cậu thấy rằng mình đã đi lầm đường."
"Mấy chuyện này rốt cuộc có nghĩa là sao hả Poirot?"
Poirot bỗng bật phắt dậy với một nguồn sinh lực trỗi dậy bất ngờ.
"Nó có nghĩa là tôi vừa xử sự như một thằng đại ngốc. Mau lên, mau lên, đến căn hộ ở Westminster ngay. May ra chúng ta vẫn còn kịp."
Chúng tôi lao vút đi trên một chiếc taxi. Poirot chẳng buồn hé răng đáp lại những câu hỏi dồn dập đầy kích động của tôi. Chúng tôi chạy thục mạng lên cầu thang. Bấm chuông và đập cửa dồn dập mãi mà chẳng có tiếng đáp lại, nhưng khi ghé sát tai lắng nghe, tôi có thể nhận ra một tiếng rên rỉ yếu ớt vọng ra từ bên trong.
Hóa ra người gác cổng tòa nhà có giữ chìa khóa vạn năng, và sau đôi chút khó khăn nài nỉ, ông ta cũng đồng ý mở cửa giúp.
Poirot lao thẳng vào căn phòng phía trong. Một luồng mùi chloroform xộc thẳng vào mũi chúng tôi. Trên sàn nhà là Sonia Daviloff, cô bị trói chặt và nhét giẻ vào miệng, với một búi bông gòn đẫm thuốc mê áp chặt lên mũi và miệng. Poirot giật phăng búi bông ra và bắt đầu thực hiện các biện pháp sơ cứu để giúp cô hồi tỉnh. Một lát sau thì bác sĩ đến; Poirot bàn giao cô gái lại cho ông chăm sóc rồi kéo tôi sang một bên. Chẳng thấy bóng dáng Bác sĩ Savaronoff đâu cả.
"Tất cả chuyện này rốt cuộc là thế nào?" Tôi hỏi, đầu óc hoàn toàn mụ mị.
"Nghĩa là đứng trước hai suy luận có xác suất ngang nhau, tôi lại đâm đầu chọn nhầm cái sai. Cậu còn nhớ tôi từng bảo rằng bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng mạo danh Sonia Daviloff vì bác của cô ấy đã không gặp cô suốt bao nhiêu năm ròng không?"
"Nhớ chứ?"
"Thế thì, điều hoàn toàn ngược lại cũng đúng y như vậy. Ai ai cũng có thể dễ dàng mạo danh người bác cơ mà."
"Cái gì cơ?"
"Savaronoff thực sự đã chết ngay khi Cách mạng bùng nổ rồi. Kẻ giả vờ trốn thoát với biết bao nỗi gian truân khủng khiếp, kẻ đã thay đổi đến mức 'ngay cả bạn bè thân thiết cũng khó lòng nhận ra', kẻ đã danh chính ngôn thuận đứng ra đòi quyền thừa kế món tài sản kếch xù ấy—"
"Phải rồi. Thế hắn là ai?"
"Chính là Kẻ Số Bốn. Thảo nào hắn lại hoảng hồn đến thế khi Sonia để lộ cho hắn biết rằng cô đã nghe lỏm được một trong những cuộc trò chuyện bí mật của hắn về 'Bộ Tứ'. Lại một lần nữa hắn tuột khỏi kẽ tay tôi. Hắn đoán trước thế nào rồi tôi cũng lần ra manh mối đúng đắn, nên hắn đã sai gã Ivan thật thà chạy lòng vòng để đánh lạc hướng chúng ta, chuốc thuốc mê cô gái rồi tẩu thoát, đến giờ này chắc hẳn hắn đã kịp tẩu tán phần lớn số chứng khoán do bà Gospoja để lại rồi."
"Nhưng... nhưng thế thì ai là kẻ đã tìm cách giết hắn chứ?"
"Chẳng có ai tìm cách giết hắn cả. Mục tiêu thực sự ngay từ đầu vốn dĩ chính là Wilson."
"Nhưng cớ làm sao?"
"Bạn tôi ơi, Savaronoff vốn là kỳ thủ cờ vua vĩ đại thứ hai thế giới. Trong khi rất có thể Kẻ Số Bốn ngay cả những nước đi vỡ lòng của môn cờ này cũng chẳng hề hay biết. Chắc chắn hắn không tài nào duy trì nổi màn kịch đóng giả trong suốt một ván đấu. Hắn đã tìm đủ mọi cách hòng trốn tránh trận đấu đó. Khi mọi toan tính đổ bể, số phận của Wilson coi như đã được định đoạt. Bằng mọi giá hắn phải ngăn không cho đối phương phát hiện ra rằng ngài Savaronoff vĩ đại thực chất mù tịt về cờ vua. Wilson vốn rất chuộng thế khai cuộc Ruy Lopez, và chắc chắn sẽ áp dụng nó. Kẻ Số Bốn đã sắp đặt để cái chết giáng xuống ngay ở nước đi thứ ba, trước khi bất kỳ thế trận phòng thủ phức tạp nào kịp mở ra."
"Nhưng, Poirot thân mến ơi," tôi vẫn chưa chịu buông xuôi, "chẳng lẽ chúng ta đang đối phó với một kẻ điên sao? Tôi hoàn toàn hiểu lập luận của anh, và thừa nhận chắc chắn anh nói đúng, nhưng việc giết chết một mạng người chỉ cốt để giữ trọn vai diễn của mình ư! Chắc chắn phải có những cách đơn giản hơn để thoát khỏi tình cảnh éo le đó chứ? Hắn hoàn toàn có thể viện cớ rằng bác sĩ cấm ông ta lao lực trong một trận đấu căng thẳng cơ mà."
Poirot nhăn trán suy nghĩ.
"Dĩ nhiên rồi, Hastings," ông nói, "có những cách khác, nhưng chẳng cách nào đủ sức thuyết phục đến thế. Vả lại, cậu đang mặc định rằng giết người là chuyện phải tránh né, có đúng không? Nhưng đầu óc của Kẻ Số Bốn đâu có vận hành theo lẽ thường ấy. Tôi tự đặt mình vào vị trí của hắn, điều mà cậu không thể nào làm nổi. Tôi hình dung ra những suy nghĩ của hắn. Hắn khoái chí tận hưởng vai diễn giáo sư trong trận đấu ấy. Tôi dám chắc hắn đã từng lui tới các giải đấu cờ vua để nghiên cứu kỹ vai diễn của mình. Hắn ngồi đó, cau mày đăm chiêu suy nghĩ; hắn tạo cho người ta cái cảm giác rằng hắn đang vạch ra những kế hoạch vĩ đại, trong khi thâm tâm thì đang cười thầm khoái trá. Hắn biết rõ rằng hai nước đi là tất cả những gì hắn biết—và cũng là tất cả những gì hắn cần phải biết. Hơn nữa, tâm trí hắn ắt hẳn rất đắc ý khi có thể lường trước mọi diễn biến và biến chính nạn nhân thành đao phủ tự kết liễu đời mình vào đúng thời khắc mà Kẻ Số Bốn đã định sẵn.... Ôi, phải rồi, Hastings ạ, tôi bắt đầu thấu hiểu người bạn của chúng ta cùng tâm lý của hắn rồi đấy."
Tôi nhún vai.
"Chà, tôi cho là anh đúng, nhưng tôi không thể nào hiểu nổi tại sao lại có kẻ dám dấn thân vào một mối hiểm nguy mà hắn hoàn toàn có thể dễ dàng né tránh."
"Hiểm nguy ư!" Poirot khịt mũi chế giễu. "Hiểm nguy nằm ở chỗ nào cơ chứ? Liệu Japp có phá nổi vụ án này không? Không đời nào; nếu Kẻ Số Bốn không phạm phải một sai lầm nhỏ nhoi, hắn đã chẳng phải đối mặt với bất kỳ hiểm nguy nào hết."
"Và sai lầm của hắn là gì?" Tôi hỏi, dù trong lòng đã lờ mờ đoán ra câu trả lời.
"Bạn tôi ơi, hắn đã xem thường những tế bào xám nhỏ bé của Hercule Poirot này."
Poirot có rất nhiều đức tính tốt, nhưng khiêm tốn thì tuyệt nhiên không nằm trong số đó.