Ngài Merton vô cùng sầu khổ khi hôn lễ của con gái bị hoãn đến lần thứ hai, còn Phu nhân Julia thì khuyên con gái hãy bỏ mối này đi dù đã đặt lễ phục cho ngày trọng đại của Sybil. May mắn là, dù yêu quý cha mẹ vô cùng, nhưng tiểu thư đã trao gửi toàn bộ cuộc đời mình vào đôi tay của Huân tước Arthur nên những điều Phu nhân nói chẳng hề làm nàng dao động. Còn Huân tước Arthur thì phải mất vài ngày để nguôi bớt nỗi u sầu và tĩnh tâm lại. Song, tinh thần mạnh mẽ và lý trí quyết đoán nhanh chóng mách bảo anh phải làm gì. Phương án đầu độc coi như phá sản hoàn toàn, nên thuốc nổ hẳn là một lựa chọn hợp lý.
Thế là, Arthur rà soát lại danh sách bạn bè, người thân lần nữa. Sau khi suy đi tính lại, anh quyết định cho ông chú Trưởng Giám mục Tu viện Chichester biến mất. Vị Trưởng Giám mục là người uyên bác, nhã nhặn và rất mê đồng hồ. Ông có hẳn một bộ sưu tập đủ loại, từ tận thế kỷ mười lăm cho đến những sản phẩm đương đại. Có vẻ như, chính sở thích này đem đến cho Arthur thời cơ tuyệt vời để thực hiện kế hoạch. Dĩ nhiên, mua thuốc nổ ở đâu lại là chuyện khác. Tra cứu trong Danh bạ London không giúp gì được anh, còn Scotland Yard9 có vẻ như chẳng biết gì về hoạt động mua bán chất nổ cho đến khi có vụ nổ thật.
Bất chợt, anh nhớ ra người bạn cũ của mình là Bá tước Rouvaloff, một nhà cách mạng người Nga trẻ tuổi với tư tưởng rất cấp tiến. Anh từng gặp ông ở nhà Phu nhân Windermere hồi mùa đông. Nghe nói Bá tước Rouvaloff đang viết sách về cuộc đời Sa hoàng Peter Đại đế nên phải sang Anh quốc để thu thập tư liệu về quãng thời gian Sa hoàng đến đây làm thợ đóng tàu. Nói chung hình như Rouvaloff là điệp viên vô chính phủ mà chắc chắn là Đại sứ quán Nga không thừa nhận dính líu đến sự xuất hiện của anh ta ở London. Arthur cảm thấy đã tìm đúng người. Vậy là, một sáng nọ, anh tới khu Bloomsbury để nhờ cậy.
“Thế là, anh định tham gia vào giới chính trị thật đấy à?” Rouvaloff cất tiếng hỏi khi nghe Arthur kể về nhiệm vụ của mình. Nhưng một người ghét huênh hoang như Arthur không muốn thừa nhận rằng mình chẳng quan tâm tới chuyện xã hội, mà chỉ muốn sắm thuốc nổ để giải quyết chuyện trong nhà vốn chẳng liên quan đến ai ngoài bản thân mình.
Bá tước Rouvaloff nhìn chằm chằm người bạn của mình một cách kinh ngạc, sau đó nhận ra là Arthur rất nghiêm túc. Thế là, Rouvaloff viết một địa chỉ gì đó lên một mảnh giấy nhỏ, ký tên và đưa nó cho bạn đang ngồi bên kia bàn.
“Scotland Yard chắc là hứng thú với chỗ này lắmđấy, anh bạn.”
“Họ sẽ không biết đâu.” Arthur bật cười, bắt tay bạn thật chặt trước khi xuống nhà, xem qua mẩu giấy và bảo xà ích đánh xe đến Quảng trường Soho.
Anh xuống xe ở đó, cuốc bộ đến phố Greek cho đến khi dừng bước ở một nơi có tên là phố Bayle. Đi qua chiếc cổng vòm, anh vào con phố cụt kỳ lạ bị chiếm dụng bởi một tiệm giặt là kiểu Pháp. Một loạt quần áo được phơi trên dây nối từ nhà này sang nhà khác. Một mảnh vải lanh phấp phới giữa ban ngày. Arthur đi thẳng đến căn nhà nhỏ màu xanh ở cuối phố và gõ cửa. Những khuôn mặt nhem nhuốc tò mò ló ra từ những ô cửa sổ. Một người ngoại quốc bộ dạng khá bụi bặm mở cửa, hỏi anh cần gì bằng một thứ tiếng Anh bập bẹ. Arthur cho người đàn ông xem mẩu giấy mà Bá tước Rouvaloff đưa cho anh. Người đàn ông gật đầu. Anh được mời vào một căn phòng khách rất tồi tàn ở tầng trệt. Lát sau, một người đàn ông tự giới thiệu là Herr Winckelkopf nhanh nhẹn bước vào, trên cổ còn nguyên chiếc tạp dề dính đầy rượu còn tay trái cầm một cái dĩa.
“Bá tước Rouvaloff giới thiệu tôi với ông,” Arthur lên tiếng và cúi chào, “tôi có chút việc trao đổi ngắn gọn với ông. Tên tôi là Smith, Robert Smith. Tôi muốn ông bán cho tôi một cái đồng hồ chứa thuốc nổ.”
“Hân hạnh được gặp ngài, Huân tước Arthur,” một giọng Đức ấm áp kèm tiếng cười vang lên. “Dừng quá cảnh giác như thế, việc của tôi là biết tất cả mọi người. Tôi còn nhớ đã thấy anh vào một buổi chiều ở nhà Phu nhân Windermere. Hi vọng bà ấy vẫn khỏe. Ngài không ngại ngồi chờ tôi ăn xong bữa sáng chứ? Chúng tôi có món pa tê hảo hạng. Bạn tôi khẳng định là rượu vang vùng Rhine của tôi ngon hơn bất kì loại nào họ có thể tìm thấy ở Sứ quán Đức.”
Khi Arthur còn chưa hết sửng sốt vì bị nhận ra, anh đã thấy mình đang ở phòng trong, nhâm nhi chai Marcobrünner trong một chiếc ly vàng nhạt được khắc những chữ lồng của hoàng gia và vô tư tán gẫu với tay hoạt động ngầm.
“Một chiếc đồng hồ chứa thuốc nổ không phải món hàng hay ho gì để xuất khẩu cả. Ngay cả khi qua mặt được Hải quan, thì vận chuyển bằng tàu hỏa cũng không an toàn, vì nó thường phát nổ trước khi đến nơi cần đến. Tuy nhiên, nếu ngài muốn có một quả để dùng riêng thì tôi sẽ hết sức đáp ứng và đảm bảo hiệu quả của nó làm vừa lòng ngài. Tôi có thể hỏi, món quà đó dành cho ai không? Nếu là ‘cớm’ hoặc ai đó dính đến Scotland Yard thì tôi sợ là không giúp gì ngài được. Thật ra, bọn mật thám Anh là bạn thân của tụi tôi. Tôi luôn tin rằng nhờ sự đần độn của chúng, tụi tôi có thể làm những gì mình muốn. Tôi không muốn đánh động chúng.”
“Tôi cam đoan với ông là chuyện này chẳng can dự gì tới Scotland Yard cả. Quả bom đó dành cho Trưởng Giám mục Chichester.”
“Lạy Chúa tôi! Tôi không biết là ngài lại quan tâm tôn giáo đến vậy đấy, ngài Arthur. Ngày nay, rất ít thanh niên như thế.”
“Tôi e là ông đánh giá tôi quá cao rồi, ông Winckelkopf,” Arthur bối rối. “Thật ra, tôi chả hiểu gì về thần học cả.”
“Chỉ thuần túy là vấn đề cá nhân thôi à?”
“Hoàn toàn cá nhân.”
Winckelkopf nhún vai, đi ra ngoài và quay vào sau ít phút, cầm theo một bánh dinamit nhỏ, cỡ đồng xu pen ni và một cái đồng hồ Pháp nhỏ xinh trên có khắc bức tượng mạ vàng hình Nữ thần Tự do giẫm lên con rắn nhiều đầu. Arthur như bừng tỉnh, thốt lên: “Đây chính là thứ tôi cần. Nói tôi nghe nó hoạt động ra sao?
“À, đấy là bí mật của tôi. Cho tôi biết, ngài muốn gửi nó đi lúc nào để tôi căn chỉnh thời gian.” Winckelkopf trả lời trong lúc ngắm nghía kiệt tác của mình đầy vẻ tự hào.
“Được thôi, hôm nay là thứ Ba, nếu ông có thế chuyển nó ngay thì…”
“Không được. Tôi có nhiều việc quan trọng với vài người bạn từ Moscow tới. Để đến mai tôi gửi.”
“Nếu là tối mai hoặc sáng thứ Năm cũng được. Còn thời gian nổ là giữa trưa thứ Sáu. Trưởng Giám mục thế nào cũng ở nhà lúc ấy.”
“Thứ sáu, buổi trưa.” Winckelkopt nhắc lại rồi ghi chú vào một quyển sổ nằm trên bàn, cạnh lò sưởi.
“Thế tôi phải trả ông bao nhiêu?” Arthur hỏi.
“Chuyện nhỏ thôi mà. Tôi không quan tâm đến tiền nong. Thỏi dinamit là bảy si linh sáu xu, cái đồng hồ ba bảng một xu còn phí vận chuyển là năm si linh. Tôi rất hân hạnh giúp đỡ bạn của Bá tước Rouvaloff.”
“Thế còn tiền công, Herr Winckelkopf?”
“Không có gì, việc này là sở thích của tôi. Tôi làm việc không phải vì tiền mà vì nghệ thuật.”
Arthur để lại bốn bảng, hai si linh và một ít xu lẻ, cám ơn gã người Đức trước khi nhã nhặn khước từ lời mời gặp mặt mấy kẻ vô chính phủ vào hôm thứ Bảy tới, sau đó, anh rời đi và thẳng tiến đến Công viên.
Suốt hai ngày sau đó, Arthur vô cùng căng thẳng. Mười hai giờ trưa thứ Sáu, anh đến Buckingham và chờ tin. Người gác cổng bình thản dán những bản thông báo được dịch từ điện tín lên tường, bao gồm đủ thứ chuyện; kết quả đua ngựa, phán quyết ly hôn, tình hình thời tiết. Máy điện tín uể oải thuật lại chi tiết về cuộc họp thâu đêm của Hạ viện, rồi một vụ xáo động nhỏ trên thị trường chứng khoán. Bốn giờ, các báo buổi chiều đã ra lò, Arthur lẩn vào thư viện với một đống báo trên tay, nào là Pall Mall, St. James’s, Globe hay Echo trước sự tức giận của Đại tá Goodchild đang nóng lòng muốn đọc tin về bài diễn thuyết mà ông ta phát biểu ở dinh Thị trưởng sáng nay về chiến dịch ở Nam Phi và sự hợp lý phải có một Giám mục ngầm ở mỗi tỉnh lỵ; vì lẽ nào đó mà ông nhất định không thèm đụng đến tờ Tin Chiều. Không tờ báo nào đăng nổi một dòng về tu viện Chichester: Arthur linh cảm như công sức đổ bể. Đúng là một cú trời giáng khiến anh tối sầm mặt mày. Gã Winckelkopf mà anh gặp ngày hôm sau vô cùng xin lỗi và đề nghị tặng miễn phí cho anh một chiếc khác, hoặc thay bằng một quả bom nitroglycerin với giá ưu đãi. Nhưng Arthur không còn tin tưởng mấy thứ thuốc nổ đó nữa, còn Winckelkopf cũng công nhận là, thời buổi này mọi thứ có thể làm giả được, ngay cả thuốc nổ dinamit. Song, gã cũng thú nhận là máy móc có thể trục trặc, hoặc quả bom phát nổ chậm, ví dụ như quả bom phong vũ biểu mà gã gửi đến dinh Tư lệnh tại Odessa, vốn được cho là sẽ kích hoạt trong vòng mười ngày thì lại mất đến ba tháng. Thực tế, khi nổ thì quả bom chỉ giết chết cô hầu phòng, còn viên Tư lệnh đã đi công cán từ sáu tuần trước đó. Ít ra thì, vụ việc cũng chứng minh là thuốc nổ mạnh như dinamit khi kết hợp với máy móc dẫn đến hoạt động không đúng giờ. Huân tước Arthur có chút nguôi giận, nhưng vô cùng thất vọng. Hai ngày sau, khi đang lên gác thì bà Công tước gọi anh vào khuê phòng để cho anh xem bức thư mà ngài Tu viện trưởng mới gửi tới. Mẹ anh nói:
“Jane thường viết những bức thư thú vị. Con nên đọc bức mới nhất này, hấp dẫn không khác gì tiểu thuyết mà ông Mudie tặng chúng ta.”
Arthur nhận lá thư, nội dung như sau:
Tu viện Chichester
Ngày 27 tháng 5
Dì yêu quý;
Cảm ơn dì rất nhiều vì đã gửi vải bông và vải phan nen cho Hội Dorcas. Cháu hoàn toàn nhất trí với dì là không thể để họ mặc những thứ lòe loẹt như thế được. Nhưng thời buổi này, dường như ai cũng chuộng lối nghĩ cấp tiến mà bất kính với tôn giáo. Khó mà làm cho họ hiểu là không nên ăn vận như quý tộc. Cháu không biết rồi chúng ta sẽ đi về đâu. Như lời cha cháu hay nói trong lúc thuyết pháp, thì chúng ta đang sống trong thời đại không có đức tin.
Chúng cháu rất thích chiếc đồng hồ của một con chiên vô danh nào đó gửi tặng hôm thứ Năm vừa rồi, từ London chuyển đến, trong một cái hộp gỗ và cước vận chuyển đã được thanh toán. Cha cháu cho là người gửi chắc hẳn đã đọc bài thuyết giảng đáng nhớ của ông ấy với chủ đề Sự phóng túng có phải tự do không? Trên đỉnh chiếc đồng hồ là tượng một người nữ đội chiếc mũ tự do10. Ban đầu cháu thấy cái mũ chẳng ăn nhập với bức tượng, song cha cháu bảo đây là một biểu trưng mang ý nghĩa lịch sử, nếu vậy thì cháu cũng không có ý kiến gì. Parker mở chiếc hộp để cha cháu đặt chiếc đồng hồ lên mặt lò sưởi trong phòng làm việc. Chúng cháu ở đấy cả buổi sáng thứ Sáu. Rồi khi kim đồng hồ chỉ mười hai giờ cháu nghe thấy một âm thanh lạ, từ chân bức tượng một làn khói bốc lên, Nữ thần Tự Do đổ xuống, đập vào thanh chắn lò sưởi đến gãy cả mũi. Cảnh tượng thật khôi hài, Maria hoảng hốt trong khi cháu và James ôm bụng cười, cha thì có vẻ như cũng được một màn gây cười nho nhỏ. Lúc xem kĩ cái đồng hồ, chúng cháu phát hiện ra, đó là loại đồng hồ báo thức. Chỉ cần đặt giờ thêm một ít thuốc súng vào một cái nắp để dưới cần gạt thì nó sẽ nổ bất cứ lúc nào dì muốn. Cha cháu không cho để nó trong thư phòng vì nó làm ồn nên Reggie mang nó tới lớp. Chẳng việc gì cả, nhưng cả ngày hôm đó có những tiếng nổ lách tách. Dì có nghĩ là Arthur thích món quà cưới như thế không? Cháu đoán là nó sẽ gây sốt ở London. Cha cháu bảo người ta sẽ làm những thứ như thế khi họ muốn chứng minh rằng, tượng Nữ thần Tự Do không thể đứng mãi được mà sẽ sụp đổ. Ông nói Tự Do đã được sáng tạo ra từ thời Cách mạng Pháp cơ đấy, thật kinh khủng không chứ!
Bây giờ cháu chuẩn bị đến Hội Dorcas đây, cháu sẽ đọc cho họ nghe bức thư bổ ích của dì, về ý tưởng để cho họ mặc những trang phục không hợp với họ. Cháu phải nói là thật buồn cười, vì họ để tâm đến chuyện ăn mặc trong khi còn nhiều điều khác quan trọng hơn. Cháu rất thích bộ đồ pô pơ lanh thêu hoa mà dì gửi, vì đăng ten của nó rất chắc chắn. Cháu sẽ mặc bộ xa tanh màu vàng mà dì tặng hôm thứ Tư, ở tu viện. Cháu đoán chắc sẽ đẹp lắm. Dì có nơ không ạ? Jennings bảo là thời buổi này ai cũng cặp nơ, còn váy trong thì thêu diềm đăng ten. Reggie lại gây ra một vụ nổ nữa nên cha cháu bắt chuyển cái đồng hồ ra chuồng ngựa. Cháu nghĩ là ông không còn thích như lúc đầu nữa dù ông rất vui vì nhận được thứ đồ chơi xinh xắn và tinh xảo như thế. Chứng tỏ là có người đã đọc bài thuyết giảng của ông và thấy nó có ích.
Cha và chúng cháu gửi dì những yêu thương ngọt ngào nhất, mong bệnh gút của chú Cecil thuyên giảm.
Cháu yêu của dì!
Jane Percy
Tái bút: Dì nhớ kể cho cháu về những chiếc nơ nhé. Jennings cứ khăng khăng là như thế mới hợp thời trang.
Arthur tỏ ra thất vọng và căng thẳng sau khi đọc xong bức thư, còn mẹ anh thì lăn ra cười.
“Con yêu, mẹ sẽ không cho con xem thư của một thiếu nữ như thế nữa đâu. Nhưng biết nói sao về cái đồng hồ nhỉ? Mẹ cho đó là một món đồ chơi thú vị. Mẹ cũng muốn một cái.” Bà Công tước nói.
“Con không nghĩ nhiều về chuyện ấy.” Arthur đáp lời, gượng cười, rồi hôn mẹ trước khi rời đi. Trở về phòng, Arthur ngã vật xuống xô pha, nước mắt tuôn trào. Anh đã cố hết sức để gây ra một vụ mưu sát, nhưng cả hai lần đều thảm bại mà chẳng làm được gì cả. Anh đã cố hoàn thành trách nhiệm, nhưng số phận như quay lưng lại với anh. Tâm tư của anh lúc nào cũng bị ám ảnh bởi sự khô khan của lòng hướng thiện và sự tuyệt vọng trong nỗ lực làm điều đúng đắn. Có lẽ, tốt hơn cả là hủy hôn. Dĩ nhiên là Sybil sẽ đau khổ, nhưng đau khổ thế nào cũng không làm hoen ố phẩm giá thanh cao của nàng. Còn với anh thì có thể có chuyện gì cơ chứ? Mỗi người luôn phải trải qua những cuộc tranh đấu và hi sinh vì những chân lý nào đó, nên khi không còn lẽ sống nữa thì cái chết có gì đáng sợ đâu. Hãy để số phận quyết định vận mệnh của anh, và nhẹ gánh cho Sybil.
Đến bảy giờ rưỡi, Arthur vận y phục để tới câu lạc bộ. Surbiton đang tiệc tùng ở đó với đám bạn, nên lẽ dĩ nhiên Huân tước Arthur cũng phải có mặt để cùng yến ẩm. Những chuyện vô vị, vài trò tán gẫu nhạt nhẽo không làm anh bận tâm. Ngay khi cà phê được mang ra, anh đã viện cớ có công chuyện để rời đi. Đến cửa, một người gác cổng đưa cho anh một bức thư của Winckelkopf. Hắn đề nghị anh ghé qua vào chiều mai để xem một cái ô đặc biệt, sẽ phát nổ ngay khi được mở ra. Đó là phát minh mới nhất, được gửi đến từ Geneva. Arthur xé nát bức thư vì anh đã tự nhủ sẽ không tiến hành thêm bất kì một thử nghiệm nào nữa. Rồi anh lang thang dọc bờ phía Bắc sông Thames. Anh ngồi hàng giờ bên bờ sông. Ánh trăng tựa như mắt chúa sơn lâm dần hiện ra xuyên qua làn mây dày đặc, những vì tinh tú tô điểm thêm cho không gian trống trải, giống như đám bụi vàng rắc lên mái vòm tím biếc. Một chiếc xà lan chầm chậm trên sông dập dềnh bởi những đợt sóng nhỏ. Bên đường ray, những chiếc đèn chuyển từ màu xanh sang màu đỏ, báo hiệu đoàn tàu chuẩn bị lăn bánh qua cầu. Một hồi lâu sau, tiếng chuông đồng hồ từ điện Westminster vọng tới điểm mười hai tiếng. Mỗi thanh âm ấy như làm cho màn đêm thêm rúng động. Rồi ánh đèn ray cũng tắt, chỉ rót lại độc một ngọn đèn đường le lói như viên ru bi treo trên cột buồm cao vút. Thành phố chìm dần vào bóng đêm tịch mịch.
Arthur cất bước lúc hai giờ sáng, sải chân hướng về Blackfriars. Quang cảnh thật huyền ảo, như một giấc mơ lạ lùng. Những ngôi nhà bên kia sông hiện rõ trên nền tối. Nói rằng ánh trăng bàng bạc và bóng đêm đã khuôn đúc nên một thế giới bí mật cũng không ngoa. Mái vòm đồ sộ của Nhà thờ Thánh Paul thoắt ẩn thoắt hiện giống như bọt bong bóng phía sau bức màn sương sẫm mờ.
Gần tới Tháp Cleopatra’s Needle, Arthur nhìn thấy một người đang dựa vào chân tháp. Anh tiến lại gần để nhìn rõ hơn, một tia sáng lướt qua mặt người lạ kia. Đó là ông Podgers, thầy xem chỉ tay. Khuôn mặt béo phị, nhão thịt, chiếc kính gọng vàng, nụ cười bệnh hoạn và cái miệng dâm dục ấy không lẫn vào đâu được.
Arthur dừng lại, một ý nghĩ lóe lên. Anh lén lút lẻn ra sau lưng người đàn ông, tóm lấy chân ông ta và hất xuống sông. Một tiếng rống lên chửi thề, nước bắn tung tóe và cuối cùng là sự lặng yên. Arthur lo lắng, nhưng chả có gì ngoài cái mũ chóp cao của kẻ kia đang xoay tròn trên xoáy nước. Cuối cùng thì nó cũng chìm nghỉm theo mọi dấu tích của ngài Podgers. Thoáng chốc, anh như trông thấy một cái bóng đồ sộ xuất hiện phía cầu thang dẫn lên cầu. Một cảm giác kinh hoàng của sự thất bại ập đến, nhưng cái bóng chỉ là ánh sáng phản chiếu, nên khi mặt trăng hiện ra từ trong những đám mây, thì cái bóng biến mất. Arthur thở dài như trút được gánh nặng, anh gọi tên Sybil. Cuối cùng, anh đã thực thi được mệnh lệnh của số phận.
“Ông vừa đánh rơi cái gì à?” Một giọng nói bất ngờ vang lên từ phía sau.
Arthur quay lại, bắt gặp một viên cảnh sát cầm đèn, nhìn anh với ánh mắt dò xét.
“Không có gì quan trọng đâu, ngài cảnh sát.” Anh trả lời, gọi một chiếc xe ngựa, nhảy lên và bảo người đánh xe đến Quảng trường Belgrave.
Mấy ngày sau, anh liên tục bị giằng xé giữa hi vọng và sợ hãi. Có lúc, anh mong ông Podgers đi vào phòng, lúc khác lại cảm thấy số phận không thể bất công với anh như vậy được. Đã hai lần anh tìm đến địa chỉ của Podgers ở phố West Moon, nhưng không đủ can đảm đế bấm chuông. Anh khao khát một xác tín chắc chắn, đồng thời cũng sợ hãi cái ngày nó gõ cửa.
Cuối cùng điều gì phải đến cũng đến. Khi Arthur đang dùng trà trong phòng hút thuốc của câu lạc bộ, uể oải nghe Surbiton tường thuật lại nhạc phẩm hài hước mới nhất tại rạp Gaiety, người bồi bàn xuất hiện với cả xấp báo. Arthur lựa tờ St. James, hờ hững lật giở từng trang cho đến khi dòng tít giật gân đập vào mắt:
VỤ TỰ SÁT CỬA THẦY XEM CHỈ TAY
Thoạt trông, mặt anh như cắt không còn giọt máu song trong lòng một cảm giác kích động, rộn ràng ầm ầm trỗi dậy, anh bắt đầu đọc. Nội dung mẩu tin như sau: “Vào hồi bảy giờ sáng hôm qua, thi thể ông Septimus R. Podgers – thầy xem chỉ tay nổi tiếng – đã dạt vào bờ Greenwich, ngay trước Khách sạn Ship. Người đàn ông xấu số đã mất tích vài ngày trước đó và giới tướng số tỏ ra lo lắng cho sự an nguy của ông. Theo nhận định sơ bộ, nguyên nhân tự sát là do ảnh hưởng của chứng rối loạn tâm thần tạm thời do làm việc quá sức. Kết quả giám định pháp y được đã được gửi về trưa nay. Ông Podgers vừa hoàn tất luận án chi tiết về chủ đề Bàn tay con người, sẽ sớm được phát hành, và được dự đoán sẽ thu hút sự quan tâm của dư luận. Nạn nhân sáu mươi lăm tuổi, không còn thân nhân.”
Arthur cầm theo tờ báo, lao ra khỏi câu lạc bộ trước sự ngơ ngác của người gác cổng dù rất cố gắng song cũng không ngăn được anh lại. Anh chạy một mạch tới khu Park Lane. Từ trên cửa sổ, Sybil ngỡ như đang trông thấy một vị sứ giả tới báo điềm lành. Nàng chạy xuống gặp anh, và khi mặt đối mặt, nàng biết có tin vui.
“Em yêu dấu, ngày mai chúng mình kết hôn đi!” Arthur thốt lên.
“Chàng ngốc của em! Sao phải vội vàng thế chứ, bánh cưới đã đặt đâu.” Nàng cất giọng mỉm cười qua hàng nước mắt.