Cuối cùng thì buổi tiếp khách của Phu nhân Windermere cũng diễn ra trước Lễ Phục sinh. Dinh thự Bentinck bỗng đông khách hơn thường lệ. Sáu thành viên Nội các, ngực cài huân chương, vừa từ buổi tiếp đón những nhân vật nổi tiếng của Chủ tịch Hạ viện đến. Các quý bà, quý cô không bỏ lỡ dịp trưng diện những bộ váy áo đẹp đẽ, sang trọng. Đứng cuối phòng tranh là Công chúa Sophia vùng Carlsrühe. Nàng trông không khác một quý cô người Tartar cao to là mấy với đôi mắt nhỏ đen láy và những món trang sức đính đá lục bảo quý phái. Bằng một thứ tiếng Pháp khó nghe, nàng nói rất to và cười rất lớn về bất kể chủ đề gì người ta chuyện trò cùng mình. Buổi tiệc là một khúc hòa âm tuyệt vời của các quan khách tứ xứ. Các quý bà niềm nở chuyện phiếm với những thành viên đảng Cấp Tiến hung hăng. Những nhà thuyết giáo nổi tiếng bám đuôi những nhân vật có tiếng tăm theo chủ nghĩa hoài nghi. Một nhóm giám mục tụ tập lại theo đuôi nữ danh ca ô pê ra to béo từ phòng này sang phòng khác. Một số Viện sĩ Hàn lâm Hoàng gia cải trang giống như các nghệ sĩ đứng trên cầu thang. Những bậc anh tài dường như đều tụ hội về đây tối nay. Đó chính là buổi tối vui nhất của Phu nhân Windermere. Công chúa ở lại đến gần mười một rưỡi đêm mới ra về.
Công chúa vừa ra về, Phu nhân Windermere quay trở lại phòng tranh. Tại đây, một nhà kinh tế chính trị học lừng danh đang nghiêm trang giảng giải nhạc lý cho một nghệ sĩ bậc thầy người Hungary. Phu nhân tiến tới bắt chuyện cùng nữ Công tước xứ Paisley. Bà là một phụ nữ vô cùng xinh đẹp với cái cổ ngọc ngà quý phái, cặp mắt to màu xanh lưu ly và những lọn tóc vàng óng. Sắc vàng ròng – không phải thứ màu rơm nhàn nhạt ngày nay vẫn trơ trẽn chiếm lấy cái tên duyên dáng của vàng, mà là sắc vàng được dệt lẫn trong những tia nắng, hay lấp lánh trong những viên hổ phách. Món tóc ấy khiến khuôn mặt bà có nét tựa như một vị thánh, không vương chút mê hoặc tội lỗi của kẻ tội đồ. Phải thừa nhận bà là một ca tâm lý gây tò mò. Ngay từ thời thiếu nữ, bà đã phát hiện ra một chân lý trong cuộc sống, đó là: Vô tâm cũng chẳng khác gì mấy với vô tội. Và với một loạt hành động liều lĩnh nhưng vô hại, bà đã đạt được tất cả những đặc quyền của một nữ Công tước có phẩm giá. Bà đã qua nhiều đời chồng. Debrett quả quyết bà từng trải qua tới ba cuộc hôn nhân. Song hình như do bà luôn chung thủy với người tình của mình, người ta cũng thôi không xì xào bàn tán về quá khứ đáng xấu hổ nọ. Giờ đây bà đã ngoài tứ tuần, không có con, cùng một niềm đam mê hưởng lạc quá mức – bí mật để bà gìn giữ vẻ thanh xuân phơi phới của mình.
Bất chợt, Phu nhân Windermere nhìn quanh phòng rồi cất giọng thanh thanh hỏi: “Ông thầy xem chỉ tay của tôi đâu rồi nhỉ?”
“Bà nói tới ai vậy, thưa Phu nhân Gladys?” Nữ Công tước giật nảy người kêu to.
“Thầy xem chỉ tay của tôi, nữ Công tước ạ. Làm sao tôi có thể sống qua bữa tiệc này mà không có ông ấy đây?”
“Gladys thân mến! Bà thật là độc đáo.” Nữ Công tước lẩm bẩm, cố hình dung một thầy xem chỉ tay là gì, hi vọng ông ấy không giống bác sĩ chữa bệnh tay chân.
“Cứ đều đặn một tuần hai lần ông ấy tới xem chỉ tay cho tôi. Và ông ấy là thầy xem tay giỏi nhất.”
“Lạy Chúa lòng lành!” Nữ công tước tự nhủ: “Cũng tương tự như bác sĩ chữa bệnh tay chân. Chán ngấy đi được! Hi vọng ông ấy là người nước ngoài. Như thế còn đỡ tệ!”
“Nhất định tôi phải giới thiệu ông ấy với bà.”
“Giới thiệu ông ấy ư?” Nữ Công tước kêu lên: “Bà không muốn nói rằng ông ấy có mặt ở đây đấy chứ?” Rồi bà nhìn quanh quất khắp phòng tìm chiếc quạt đồi mồi và tấm khăn choàng ren của mình, sẵn sàng bỏ về bất cứ lúc nào.
“Dĩ nhiên là ông ấy ở đây rồi. Nếu không tôi đã chẳng dám tổ chức buổi tiệc này. Ông ấy bảo tôi có bàn tay thuần chất tâm linh. Ông ấy còn bảo nếu ngón cái của tôi ngắn thêm chút nữa thôi là tôi sẽ thành kẻ bi quan rồi đi vào nhà tu kín.”
“Ồ, tôi hiểu rồi!” Nữ Công tước thốt lên, cảm thấy nhẹ nhõm hẳn: “Ông ấy là thầy bói đúng không?”
“Ông ấy có thể nhìn thấy những vận may, và cũng không ít điều rủi ro,” Phu nhân Windermere đáp lời. “Chẳng hạn như năm tới tôi sẽ gặp hạn lớn dù ở trên rừng hay xuống biển. Thế nên tôi sẽ sống trong quả khinh khí cầu, rồi tối tối sẽ kéo giỏ thức ăn lên. Số mệnh đã được vẽ trên ngón út của tôi rồi, hoặc lòng bàn tay gì đó, tôi không nhớ rõ lắm.”
“Nghe như ý trời đã định, Gladys ạ.”
“Nữ Công tước thân yêu của tôi, lần này thì Thượng Đế sẽ nhắm mắt làm ngơ cho tôi thôi. Tôi tin số mệnh của con người đều được ghi trong bàn tay. Ít nhất mỗi tháng một lần chúng ta nên viện đến thuật xem chỉ tay để biết những việc nên làm và không nên làm. Dù sao cũng khó lòng thay đổi số mệnh, nhưng được cảnh báo trước vẫn hơn chứ phải không? Nào, giờ nếu không ai tìm ông Podgers giúp tôi, tôi sẽ tự mình đi tìm ông ấy.”
“Thưa Phu nhân Windermere, tôi xin đi.” Một thanh niên đẹp trai dong dỏng cao mở lời. Nãy giờ anh đứng cạnh bà, lắng nghe cuộc trò chuyện với nụ cười vui thích.
“Cảm ơn cậu rất nhiều, Huân tước Arthur; nhưng tôi sợ cậu sẽ không nhận ra ông ấy.”
“Thưa Phu nhân Windermere, nếu ông ấy quả thực xuất chúng như bà nói thì tôi không thể bỏ lỡ cơ hội này được. Xin Phu nhân cho tôi biết ông ấy nom thế nào, tôi sẽ đưa ông ấy tới gặp bà ngay.”
“Vậy là ổn rồi, ông ấy không giống thầy xem chỉ tay chút nào. Ý tôi là nom ông ấy không bí ẩn hoặc mơ mộng hão huyền đâu. Ông ấy thấp đậm, khỏe mạnh, đầu hói khôi hài, đeo cặp kính gọng vàng lớn. Trông ông nửa như bác sĩ gia đình, nửa như luật sư nông thôn vậy. Tôi lấy làm tiếc khi phải phiền phức thế này, nhưng đâu phải lỗi của tôi. Người ta cứ trái khoáy thế đấy: mấy tay chơi đàn dương cầm của tôi thì trông như mấy gã thi sĩ, mấy gã thi sĩ thì nhìn chẳng khác nào tay chơi đàn. Nhớ lại thời gian gần đây, tôi có mời một tay hoạt động ngầm tới bữa tiệc. Ông ta đã từng tung hê không biết bao nhiêu phi vụ của mọi người, lúc nào cũng khoác áo giáp và giấu một con dao găm trong tay áo. Vậy mà anh tin nổi không, hôm đầu tiên tới đây, trông ông ấy chẳng khác nào một giáo sĩ già khả kính, làm mọi người cười ngả nghiêng với những chuyện khôi hài suốt tối? Ồ, tất nhiên là tôi thấy ông ta rất thú vị, song tôi không khỏi cảm thấy phần nào cụt hứng. Khi được hỏi về bộ áo giáp, ông ta chỉ cười mà rằng mặc vậy ở Anh thì chết cóng mất! A, ông Podgers đây rồi! Thưa ông, ngay bây giờ tôi muốn ông xem chỉ tay cho nữ Công tước xứ Paisley đây. Nữ Công tước thân mến, xin bà bỏ găng tay ra. Không, không phải găng trái, bên kia cơ.”
“Gladys thân mến, thực sự tôi không nghĩ việc này là phải lẽ cho lắm.” Vừa nói, nữ Công tước vừa nhẹ nhàng rút chiếc găng tay da dê đã hơi nhuốm bẩn của mình ra.
“Không gì thú vị bằng thuật xem chỉ tay, on a fait le monde ainsi.”1 Phu nhân Windermere nói. “Nhưng trước tiên tôi phải giới thiệu hai người với nhau đã. Thưa nữ Công tước, đây là ông Podgers – thầy xem chỉ tay mà tôi ngưỡng mộ. Thưa ông Podgers, đây là nữ Công tước Paisley. Nhưng xin nhớ cho, nếu ông nói rằng gò thái âm trên tay bà ấy to hơn của tôi, tôi sẽ không bao giờ tin tưởng ông nữa.”
“Gladys à, chắc bàn tay tôi không có thứ mà bà vừa nhắc đến đâu.” Nữ Công tước nói bằng giọng trang nghiêm.
“Câu nói của bà hoàn toàn có lý.” Ông Podgers lên tiếng rồi liếc nhìn bàn tay mập mạp có những ngón ngắn, to bè của thân chủ. Ông nói tiếp: “Gò thái âm phẳng. Tuy nhiên đường đời rất tốt đẹp. Xin bà gập cổ tay lại một chút. Thế. Ba đường chạy ngang cổ tay! Thưa bà Công tước, bà sẽ sống lâu và hạnh phúc vô cùng. Tham vọng có chừng mực, hiểu biết không rộng lắm, còn đường tình duyên thì…”
“Ông nên ăn nói thận trọng một chút, ông Podgers ạ.” Phu nhân Windermere nhắc nhở.
Ông Podgers cúi đầu nói: “Thưa bà Công tước, bàn tay bà nói lên tình cảm lâu bền và ý thức trách nhiệm lớn. Tôi đã thấy được điều đó.”
“Xin ngài cứ tiếp tục.” Bà Công tước nói, vẻ hài lòng.
Ông Podgers nói tiếp: “Đương nhiên kinh tế góp phần không nhỏ trong phẩm hạnh của bà.”
Nghe câu nói ấy, Phu nhân Windermere không nhịn được cười.
“Kinh tế đóng một vai trò rất quan trọng.” Nữ Công tước thừa nhận với nụ cười mãn nguyện. “Khi tôi và Paisley về sống với nhau, ông ấy đã có mười một tòa lâu đài. Nhưng không một tòa lâu đài nào thích hợp với chúng tôi cả.”
“Giờ đây mười một lâu đài không còn nữa, thay vào đó là mười hai ngôi nhà.” Phu nhân Windermere thốt lên.
“Phải rồi, bà bạn thân yêu của tôi.” Nữ Công tước xác nhận. “Và tôi thích…”
“Tiện nghi. Những tiện nghi hiện đại, nước nóng có sẵn trong mỗi phòng ngủ. Quý bà quả thực sáng suốt. Tiện nghi là thứ duy nhất nền văn minh này đem lại cho con người.” Ông Podgers đưa ra lời nhận xét.
“Ông đã nói về tính cách của bà Công tước một cách đầy ngưỡng mộ, bây giờ ông hãy nói thử chúng tôi nghe về tính cách và niềm đam mê của cô Flora.”
Sau cái gật đầu của bà chủ nhà, một cô gái dong dỏng cao có bộ tóc hung hung thuộc xứ Scotland, xương bả vai nhô cao, lúng túng từ phía sau ghế xô pha bước ra. Cô chìa bàn tay phải gầy guộc với những đầu ngón tay lớn, tròn trịa ra trước mặt ông.
“Ồ, một nghệ sĩ dương cầm thực thụ!” Ông Podgers kêu lên. “Nhưng không phải một nhạc công. Tính cách kín đáo, chân thật, tốt bụng, rất yêu động vật.”
“Đúng thế!” Quay về phía Phu nhân Windermere, nữ Công tước kinh ngạc kêu lên. “Flora nuôi hai mươi tư con chó giống Collie ở Macloskie. Nếu được cha cô cho phép, cô sẽ biến cả Tòa thị chính của thị trấn chúng ta thành trại thú ấy chứ.”
“Chà, chiều thứ Năm nào tôi chẳng biến dinh thự của mình thành như vậy!” Phu nhân Windermere cười vui nói.
“Đó là một sai lầm của bà, thưa Phu nhân Windermere.” Ông Podgers cúi đầu nói, vẻ hoa mỹ.
“Nếu một người đàn bà không thể khiến những sai lầm của mình trở nên quyến rũ, thì cô ta chỉ là một phụ nữ thường tình mà thôi. Nào, phần việc của ông hôm nay chưa xong đâu. Thưa ông Thomas, mời ông lại đây cho ông Podgers xem bàn tay của ông.”
Người đàn ông mặc áo gi lê trắng, tuổi khá cao, vẻ ngoài tốt bụng và vui tính bước lên phía trước. Ông chìa bàn tay dày, thô ráp, với ngón giữa khá dài ra.
“Đây là một người thích phiêu lưu, mạo hiểm, đã qua bốn chuyến hải hành lớn và đang dự tính chuyến tiếp theo. Tàu bị đắm ba lần. Mà không, chỉ hai lần thôi, nhưng chuyến đi biển tới ông phải hết sức thận trọng. Ông ủng hộ Đảng Bảo thủ, là người rất tôn trọng giờ giấc, kĩ tính và có niềm đam mê sưu tầm vật lạ. Trong khoảng thời gian từ mười sáu đến mười tám tuổi, ông đã bị một trận ốm thập tử nhất sinh. Hưởng khoản thừa kế năm ba mươi tuổi. Không thích mèo và những người có quan điểm cấp tiến.”
“Tuyệt vời!” Ông Thomas kêu lên. “Ông phải xem chỉ tay cho vợ tôi nữa.”
“Vợ kế của ông,” Ông Podgers thong thả đáp, trong lúc vẫn giữ bàn tay ông Thomas. “Tôi rất vui mừng được xem chỉ tay cho vợ kế của ông.” Song Phu nhân Marvel với mái tóc nâu, nét mặt u sầu cùng hàng lông mi đa cảm kiên quyết từ chối việc người ta dòm ngó quá khứ lẫn vị lai của mình. Phu nhân Windermere cũng không làm thế nào thuyết phục được Ông Koloff – Đại sứ Nga bỏ găng tay ra. Nhiều người có vẻ sợ bộ mặt người đàn ông nhỏ thó, kỳ quặc có nụ cười rập theo khuôn mẫu với cặp kính gọng vàng che đi đôi mắt nhỏ, sáng quắc. Và khi trước mặt mọi người, ông Podgers không e dè khi nói về cô Fermor là người chẳng có chút ham thích nào với âm nhạc nhưng lại say mê những tay nhạc công thì tất cả mọi người trong phòng, tuy lời không cất nhưng ngầm đồng thuận rằng xem chỉ tay là trò khoa học nguy hiểm nhất, tuyệt đối không nên khuyến khích, trừ phi chỉ có hai người với nhau.
Huân tước Arthur Savile chưa biết câu chuyện kém may mắn của cô Fermor. Anh đang mải quan sát ông Podgers một cách thích thú. Tính hiếu kỳ trong con người anh trỗi dậy. Anh rất muốn được xem chỉ tay nhưng lại cảm thấy rụt rè khi nghĩ đến việc đẩy mình ra giữa hàng bao cặp mắt. Huân tước Arthur đi nhanh qua phòng tới chỗ Phu nhân Windermere ngồi. Với vẻ cả thẹn dễ lẫn với sự duyên dáng, anh băn khoăn liệu có điều gì bất tiện nếu mời ông Podgers xem chỉ tay cho mình hay không.
“Tôi dám chắc là ông Podgers đây rất vui lòng xem chỉ tay cho ngài Huân tước.” Phu nhân Windermere đáp lời. “Không phải tối nay ông ấy ở đây để làm việc mình thông thạo nhất sao? Huân tước Arthur à, khi tôi yêu cầu thì dễ cả diễn xiếc, bầy sư tử của tôi cũng phải làm. Nhưng tôi báo trước cho cậu biết, tôi sẽ nói với cô Sybil mọi chuyện về cậu. Trưa mai cô ấy sẽ tới dùng bữa cùng tôi để chuyện phiếm về phục trang mũ mão. Nếu ông Podgers xem chỉ tay cho cậu và đọc ra tính cách tồi tệ, hoặc giả thiết cậu mắc bệnh gút, hay đang nuôi một cô vợ ở Bayswater, tôi sẽ nói cho cô ấy biết.”
Huân tước Arthur mỉm cười, lắc đầu nói: “Thưa bà, tôi không sợ đâu. Tôi và cô Sybil quá hiểu nhau.”
“Ồ, tôi thật buồn khi nghe cậu nói như vậy. Nền móng phù hợp nhất cho mọi cuộc hôn nhân chính là sự hiểu lầm. Tôi không có ý giễu cợt cậu, chỉ là kinh nghiệm của tôi mà thôi, mặc dù hai điều ấy không khác nhau là bao. Ông Podgers thân mến, Huân tước Arthur Savile đang rất nóng lòng muốn xem chỉ tay. Ông hãy xem cho cậu ấy. Nhưng xin đừng nói những điều tương tự như việc Huân tước đã đính hôn với một trong những quý cô thanh lịch nhất London, bởi tin đó đã được đăng trên mặt báo Bưu điện buổi sáng từ tháng trước rồi.”
“Phu nhân Windermere thân mến, xin bà để tôi mượn ông Podgers thêm vài phút.” Nữ Hầu tước Jedburgh kêu lên. “Ông ấy vừa bảo tôi sẽ trở thành diễn viên. Đó là nghề tôi rất thích.”
“Thưa Phu nhân, nếu đó là điều ông Podgers vừa nói thì tôi phải giành lại ông ấy ngay lập tức. Ông Podgers, ông hãy tới đây xem chỉ tay cho Huân tước Arthur.”
Nữ Hầu tước khẽ bĩu môi nói: “Nếu tôi không trở thành diễn viên thì tôi đành cam chịu làm khán giả vậy.” Rồi bà đứng dậy khỏi ghế xô pha.
“Đương nhiên là thế rồi, tất cả chúng ta đều là khán giả.” Phu nhân Windermere nhận định. “Giờ thì ông Podgers, ông hãy đoán số mệnh cho Huân tước Arthur. Hãy xem thật chắc chắn và nói những điều thú vị về cậu ấy nhé. Đây là một trong những chàng trai trẻ mà tôi đặc biệt quý mến.”
Khi ông Podgers xem chỉ tay cho Huân tước Arthur, mặt ông bỗng tái nhợt. Ông không thốt được lời nào. Dường như ông đang run lên vì sợ hãi, cặp lông mày rậm của ông nhíu lại rồi co giật liên hồi, điều thường xảy ra mỗi khi ông gặp chuyện bất trắc. Mồ hôi trên trán ông túa ra, như những giọt sương có độc. Đôi bàn tay mập mạp của ông lạnh toát và run lên.
Cơn rúng động ấy không thoát khỏi đôi mắt quan sát của ngài Huân tước. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời Huân tước cảm thấy sợ hãi. Anh muốn rời khỏi phòng nhưng đã tự kiềm chế được. Tốt nhất là cứ đối mặt với những điều tồi tệ, còn hơn rơi vào sự mập mờ đáng ghê rợn này.
“Ông Podgers, tôi đang đợi ông. Xin ông nói cho tôi biết.” Anh giục.
“Chúng tôi cũng đang đợi ông.” Phu nhân Windermere vừa nói vừa phác một cử chỉ nóng ruột. Nhưng ông Podgers vẫn nín lặng.
“Tôi tin Arthur cũng sẽ trở thành diễn viên. Ông Podgers sợ nói ra điều ấy làm bà không hài lòng nên ông đã im lặng.” Nữ hầu tước vùng Jedburgh nói mát.
Ông Podgers bất ngờ buông bàn tay phải của Huân tước Arthur ra và giữ chặt tay trái của anh. Ông cúi xuống xem kĩ lòng bàn tay, cặp kính vàng của ông trễ hẳn xuống sống mũi. Trong chốc lát, gương mặt ông trắng bệch như chiếc mặt nạ bằng sáp. Nỗi kinh hoàng lại hiển hiện trong tâm trí ông, nhưng ông đã kịp trấn tĩnh được. Ngước nhìn Phu nhân Windermere, ông nói với nụ cười gượng gạo: “Đây là bàn tay của một thanh niên quyến rũ.”
“Đương nhiên là thế rồi! Nhưng tôi muốn biết cậu ấy có trở thành một người chồng quyến rũ không?” Phu nhân Windermere nóng ruột hỏi.
“Thưa bà, có chứ ạ. Tất cả nam thanh niên đều có sức hấp dẫn.”
“Một người chồng không nên hấp dẫn quá mức. Điều đó hết sức nguy hiểm.” Phu nhân Jedburgh lẩm bẩm.
“Cô em đáng mến của tôi ơi, những anh chồng không bao giờ quá hấp dẫn đến mức ấy đâu!” Phu nhân Windermere kêu lên. “Tôi muốn biết chi tiết hơn. Chi tiết là những điều duy nhất khơi gợi hứng thú. Xin ông hãy nói cụ thể điều gì sẽ xảy ra với Huân tước Arthur?”
“Vài tháng nữa Huân tước Arthur sẽ đi du lịch xa theo đường biển…”
“Ồ, đúng rồi, tuần trăng mật của cậu ấy.”
“Cậu ấy sẽ mất một người thân.”
“Không phải chị gái cậu ấy chứ?” Nữ Hầu tước hỏi, giọng thương xót.
“Đương nhiên không phải chị gái cậu ấy mà là một người họ hàng xa.” Ông Podgers khoát tay gạt đi.
“Ông làm tôi thất vọng quá, ông Podgers ạ. Thời buổi này không ai còn quan tâm đến họ hàng xa nữa. Họ đã trở nên lỗi thời từ lâu lắm rồi.” Phu nhân Windermere bực mình nói. “Vậy là ngày mai tôi chẳng có điều gì để nói với cô Sybil cả. Dù sao thì, tôi nghĩ cô ấy nên chuẩn bị sẵn váy lụa đen cho buổi lễ, ông biết đấy. Bây giờ hãy để chúng tôi dùng bữa tối. Khách khứa có lẽ đã đánh chén một bữa ra trò rồi, nhưng tôi nghĩ vẫn còn một ít súp nóng. François đã từng nổi tiếng với món súp, nhưng về sau ông ấy lại tham gia hoạt động chính trị. Ôi trời, tôi ước gì Tướng Boulanger có thể giữ im lặng một phút. Bà Công tước, hình như bà đang cảm thấy không được khỏe thì phải?”
“Tôi không sao, Gladys thân mến của tôi.” Bà Công tước trả lời rồi chậm chạp đi về phía cửa ra vào. “Tôi rất thích nghe ông Podgers chẩn bệnh, ý tôi là xem chỉ tay rồi nói về số mệnh của mỗi người. Flora, chiếc quạt đồi mồi của tôi đâu rồi nhỉ? Ồ, cảm ơn ông Thomas. Và chiếc khăn choàng viền đăng ten của tôi nữa, Flora ạ. Cảm ơn ông Thomas, ông thật tốt.” Bước những bước thận trọng, nữ Công tước khả kính xuống cầu thang và ra về sau khi đánh rơi lọ nước hoa đến lần thứ hai.
Trong lúc ấy, Huân tước Arthur Savile vẫn đứng yên bên lò sưởi với cảm giác sợ hãi. Dường như tai họa sắp giáng xuống đầu anh. Nhìn chị gái xinh đẹp của mình trong lớp áo hồng thêu kim tuyến có đính ngọc trai, tựa vào cánh tay Huân tước Plymdale đi ngang qua, anh mỉm cười buồn bã.
Trong tâm trạng bất an, Huân tước Arthur dường như không nghe thấy tiếng gọi của Phu nhân Windermere. Anh nghĩ về Sybil Merton và sợ hãi khi hình dung đến những điều có thể xảy ra giữa anh với cô ấy, ý nghĩ đó làm đôi mắt anh ngấn lệ.
Nhìn Huân tước Arthur, người ta không khỏi nghĩ đến cảnh Nemesis2 đã đánh cắp khiên của nữ thần Pallas3 rồi cho anh thấy cái đầu lâu của Gorgon. Anh như hóa đá, gương mặt tái nhợt như màu hoa cương trong nỗi u sầu. Anh đã quen với lối sống cảnh vẻ, cao sang của một Huân tước trẻ tuổi và giàu có từ thuở sinh thời. Một cuộc sống được nhào nặn hoàn hảo sao cho vừa khéo nằm ngoài vòng cương tỏa của những sự bần tiện, và nhuốc nhơ; một cuộc sống vô ưu, vô lo. Vậy mà giờ đây, lần đầu tiên trong đời, anh nhận thức rõ lối vận hành bí ẩn của Định Mệnh cũng như ý nghĩa nghiệt ngã, kinh hoàng của Số Phận.
Mọi chuyện thật kì quái và điên khùng làm sao! Lẽ nào nằm trong lòng bàn tay anh là những bí mật đáng sợ của tội lỗi, những manh mối vấy máu của tội ác mà anh chẳng hay trong khi người khác có thể giải mã? Không có lối thoát nào khả dĩ hay sao? Lẽ nào chúng ta như những quân cờ trên bàn cờ của một thế lực vô hình, hay những lọ gốm hình dáng ra sao tùy bàn tay người tạo tác, trông chờ vinh dự hay tủi nhục? Lý trí của Huân tước Arthur trỗi dậy phản ứng lại. Anh cảm thấy như thảm họa đang treo lơ lửng trên đầu, và bỗng nhiên tên anh được số mệnh xướng lên cho một gánh nặng không chịu đựng nổi. Các diễn viên còn tốt số hơn anh vì họ được lựa chọn vai diễn, hỉ, nộ, ái, ố, bi kịch hay hài kịch, bĩ cực hay thái lai. Song cuộc đời lại là một câu chuyện khác hẳn. Đàn ông và đàn bà bị ném ra sân khấu và phải trình diễn những màn mà họ không có chút chuyên môn nào. Những anh chàng Guildenstern thì đóng vai Hamlet, còn những chàng Hamlet của chúng ta thì phải nhập vai Hoàng tử Hal. Thế giới như một sân khấu với dàn diễn viên dở tệ.
Ông Podgers bất ngờ trở lại phòng. Nhìn Huân tước Arthur, ông bỗng giật mình. Mặt ông biến sắc xanh bủng. Ánh mắt hai người giao nhau, lặng im trong chốc lát. Ông Podgers chủ động mở lời: “Thưa Huân tước Arthur, bà Công tước bỏ quên một chiếc găng ở đây. Bà bảo tôi vào lấy giúp bà. À, chiếc găng đây rồi! Tạm biệt cậu.”
“Ông Podgers, nhất định ông phải thẳng thắn cho tôi biết những điều ông đã đọc được trên bàn tay tôi.”
“Xin hẹn cậu lần sau, bà Công tước đang vội.”
“Ông đừng đi. Bà Công tước có việc gì đâu mà vội. Ông cứ để bà ấy ngồi đợi một lúc.”
“Huân tước Arthur ạ, cậu thừa biết không nên để các quý bà phải chờ đợi. Họ thường thiếu kiên nhẫn.” Ông Podgers nói, giọng khổ sở.
Đôi môi như tạc của Huân tước khẽ cong lên vẻ khinh thị dằn dỗi. Ông Podgers lại quan tâm đến việc của bà Công tước hơn việc của anh, làm như việc của bà ấy quan trọng lắm. Anh đi nhanh tới chỗ ông Podgers đứng và chìa bàn tay mình ra. Anh nói với giọng van nài: “Hãy nói cho tôi biết ông thấy điều gì ở bàn tay tôi? Tôi muốn biết sự thật. Tôi đâu còn là một đứa trẻ.”
Ông Podgers chớp mắt, đôi chân bứt rứt, những ngón tay bồn chồn không ngừng vần vò dây hồng hồ quả quýt sáng lóe.
“Điều gì khiến cậu nghĩ rằng tôi vẫn chưa nói hết những gì tôi thấy trên bàn tay cậu?”
“Dường như ông vẫn còn giấu tôi một điều quan trọng. Hãy nói cho tôi biết điều ấy. Tôi sẽ trả ông một tấm séc trị giá một trăm bảng.”
Đôi mắt xanh của ông Podgers lóe sáng trong chốc lát, rồi lại điềm tĩnh trở lại. ông nói bằng giọng trầm trầm: “Một trăm đồng ghi nê?”4
“Được rồi. Ngày mai tôi sẽ đưa ông tấm séc ấy. Ông làm việc ở hội nào?”
“Tôi không tham gia hội nào cả. Những gì cần thiết không thể nói lúc này được. Địa chỉ của tôi trong tấm danh thiếp này.” Ông rút từ túi áo gi lê ra một mảnh bìa cứng viền mạ vàng đưa cho Huân tước Arthur. Tấm danh thiếp đề hàng chữ:
Ông SEPTIMUS R.PODGERSThầy xem chỉ tay chuyên nghiệpSố nhà 103A đường West Moon
“Tôi làm việc từ mười giờ sáng đến bốn giờ chiều. Có ưu đãi giảm giá cho cả gia đình.” Ông Podgers lẩm bẩm một cách máy móc.
“Nhanh lên!” Huân tước Arthur giục giã, mặt tái nhợt. Anh chìa bàn tay mình ra.
Ông Podgers nhìn quanh với sự lo lắng rồi kéo rèm cửa lại.
“Sẽ mất khá lâu nên xin cậu hãy ngồi xuống.”
“Mau lên ông!” Huân tước Arthur thúc giục, nóng nảy giậm chân trên mặt sàn bóng loáng.
Ông Podgers mỉm cười, rút từ túi áo ngực ra một chiếc kính lúp nhỏ. Ông dùng khăn mùi soa lau sạch chiếc kính rồi nói: “Bây giờ tôi sẵn sàng cho cậu biết mọi điều.”