Mỗi doanh bộ binh quản hạt sáu đội bộ binh, cộng thêm lực lượng trực thuộc doanh bộ, biên chế đầy đủ tiêu chuẩn của mỗi doanh bộ binh là tám trăm năm mươi người.
Một trung đoàn bộ binh quản hạt bốn doanh chiến đấu, cộng thêm đội pháo đạn chùm, kỵ binh trinh sát, vệ binh... trực thuộc trung đoàn bộ, binh lực của một trung đoàn bộ binh đã đạt tới con số khổng lồ khoảng bốn ngàn người.
Biên chế kiểu mới của Lục quân, thực ra vẫn tham khảo rất nhiều từ biên chế của Cận Vệ quân, bởi vì biên chế của Cận Vệ quân chính là biên chế đại doanh đại đội.
Một đội Cận Vệ quân có binh lực khoảng một trăm bốn mươi người, mà mỗi doanh bộ binh Cận Vệ quân quản hạt sáu đội.
Tuy nhiên ở biên chế cấp trung đoàn, Cận Vệ quân cũng tiến bộ theo thời đại, học tập Lục quân cải đổi thành biên chế năm doanh.
Thế nên trong đợt cải cách Lục quân lần này, thực tế là dưới cấp biên chế trung đoàn, Cận Vệ quân và Lục quân đã học tập lẫn nhau, cuối cùng hình thành nên biên chế trung đoàn bộ binh thống nhất: mỗi trung đoàn bộ binh có tổng binh lực khoảng bốn ngàn người, quản hạt bốn doanh bộ binh, mỗi doanh bộ binh quản hạt sáu đội bộ binh, mỗi đội bộ binh có một trăm bốn mươi người.
Việc cải cách biên chế trung đoàn bộ binh của Lục quân và Cận Vệ quân như vậy, cũng trực tiếp dẫn đến quy mô trung đoàn bộ binh càng thêm mở rộng!
Nhưng quy mô trung đoàn bộ binh được mở rộng thế này, xét ở một mức độ nào đó cũng có thể coi là sự kéo dài thêm của cuộc cải cách chiến thuật Lục quân Đại Đường!
Bởi vì theo thời gian trôi qua, nhiệm vụ mà các đơn vị cấp quân, sư, trung đoàn, doanh... của Lục quân Đại Đường phụ trách đã xảy ra thay đổi rất lớn.
Trước kia, một quân chỉ phụ trách một chiến tuyến mà thôi, một sư đoàn chính là đơn vị chiến thuật cơ bản.
Nhưng hiện tại ở phía Lục quân, một quân đều đã biến thành cơ quan chỉ huy cấp chiến khu, thường là phụ trách các chiến dịch nhắm vào một hướng nào đó, ví dụ như Đệ Ngũ quân phụ trách hướng Tây Bắc, Đệ Tam quân phụ trách chiến sự với Thát Đát ở phía Bắc, Đệ Lục quân phụ trách chiến sự ở Liêu Đông. Ba quân kể trên, nói là quân, nhưng thực tế gọi là chiến khu sẽ thích hợp hơn.
Và trong bối cảnh lớn như vậy, một sư đoàn bộ binh thực tế đã trở thành đơn vị chiến lược, chứ không phải là đơn vị chiến thuật cơ bản. Một sư đoàn bộ binh thường là phụ trách chiến sự của cả một chiến tuyến, ví dụ như trong chiến dịch bán đảo Cao Ly, thực tế chính là màn độc diễn của Đệ Thập Ngũ sư đoàn bộ binh.
Vậy đơn vị chiến thuật cơ bản là gì? Chính là trung đoàn bộ binh!
Khi phụ trách một chiến dịch nhỏ hoặc vừa cụ thể nào đó, thực tế thường không cần đến một trung đoàn, mà thường lấy cấp doanh làm chủ đạo.
Thực ra phần lớn thời gian, các trận chiến quy mô trung đoàn, sư đoàn thường chỉ xuất hiện trong những trận quyết chiến chiến lược quy mô lớn, còn thường ngày thì cơ bản đều tiến hành theo đơn vị doanh.
Vì thế, Lục quân rất vui lòng nhìn thấy việc tăng cường sức mạnh cho doanh bộ binh.
Phía Cận Vệ quân mấy năm gần đây cũng xuất hiện thay đổi như vậy. Khi ở bán đảo Cao Ly, Cận Vệ quân cử đi chính là một doanh tăng cường, chứ không phải một trung đoàn hay một lữ đoàn gì cả.
Bởi nhiệm vụ chính của Cận Vệ quân là củng vệ kinh kỳ, khi có chiến tranh, việc phái bộ đội ra ngoài tham chiến chỉ là luân phiên để duy trì sức chiến đấu mà thôi, không thể rút quá nhiều binh lực đi được, nhưng nếu quá ít thì cũng khó sắp xếp, quy mô một hai ngàn người này là khá thích hợp.
Đây cũng là lý do vì sao trước kia Cận Vệ quân có Sư đoàn bộ binh thứ nhất và Sư đoàn bộ binh thứ hai, nhưng ngoài việc tùy giá xuất chinh ra, chưa từng có trường hợp nào điều động cả một sư đoàn, phần nhiều là dùng hình thức lữ đoàn tạm biên, thực chất chính là trung đoàn tăng cường để phái bộ đội ra ngoài tham chiến, đôi khi thậm chí chỉ phái một doanh tăng cường mà thôi.
Về sau, Lý Hiên dứt khoát giải tán biên chế sư đoàn bộ binh của Cận Vệ quân, đồng thời căn cứ theo mô hình lữ đoàn hỗn hợp khi Cận Vệ quân tác chiến bên ngoài trước đây, thành lập các lữ đoàn Cận Vệ quân. Mỗi lữ đoàn đều là lữ đoàn hỗn hợp tiêu chuẩn, quản hạt hai trung đoàn bộ binh Cận Vệ quân, một doanh pháo binh biên chế lớn, một doanh tư trọng biên chế lớn, một trung đoàn kỵ binh, cộng thêm các binh lực trực thuộc khác.
Sau khi cải cách toàn bộ Cận Vệ quân, từ hai sư đoàn bộ binh Cận Vệ quân trước đây đã chuyển thành ba lữ đoàn Cận Vệ quân, lữ đoàn trưởng mang quân hàm Thiếu tướng Cận Vệ quân.
Tuy nói là lữ đoàn, nhưng thực tế tổng binh lực cũng vượt quá một vạn người. Tổng binh lực mỗi lữ đoàn đạt khoảng mười hai ngàn người, ba lữ đoàn của toàn bộ Cận Vệ quân có tổng binh lực là ba mươi sáu ngàn người.
Áp dụng biên chế lớn, đây có thể coi là một xu thế phát triển dần dần của Lục quân Đế quốc trong mấy năm gần đây. Còn việc nói đúng hay sai thì không có ý nghĩa gì, vì sự phát triển này phù hợp hay không là có liên quan đến truyền thống.
Một lữ đoàn của Cận Vệ quân đã đạt tới mười hai ngàn người, quy mô sư đoàn bộ binh của Lục quân còn khổng lồ hơn, nếu không thì căn bản không thể đảm đương nhiệm vụ chiến lược của cả một chiến tuyến.
Ba trung đoàn bộ binh, cộng thêm các đơn vị pháo binh,tư trọng, kỵ binh... hiện nay một sư đoàn bộ binh hoàn chỉnh của Lục quân khi ở biên chế đầy đủ, tổng binh lực đạt tới mười tám ngàn người.
Mười sáu sư đoàn bộ binh, cộng thêm các đơn vị trực thuộc quân bộ, đó chính là ba mươi vạn người!
Mà đây còn chưa bao gồm các đơn vị độc lập do Lục quân trực hạt đâu nhé. Ngoài mười sáu sư đoàn bộ binh, Lục quân còn có ba lữ đoàn kỵ binh, mỗi lữ đoàn kỵ binh này là bốn ngàn kỵ binh.
Sau đó còn có vài trung đoàn thủ bị độc lập, chủ yếu là các đơn vị thủ bị đóng quân tại các vùng tương đối quan trọng, ví dụ như Trung đoàn thủ bị Giang Âm, Trung đoàn thủ bị Cửu Giang. Hai trung đoàn thủ bị này thực tế là bộ đội thủ bị pháo đài, một đông một tây, trấn giữ Trường Giang, khống chế bảo vệ kinh kỳ.
Ngoài ra còn có các trung đoàn thủ bị đóng quân ở các khu vực hải ngoại, ví dụ như Trung đoàn thủ bị Lưu Cầu, Trung đoàn thủ bị Lữ Tống.
Tiếp đến là các đơn vị độc lập, ví dụ như doanh cầu phao, doanh trọng pháo công thành... Những đơn vị này hoặc là trực thuộc quân bộ, hoặc là trực thuộc Xu Mật Viện.
Do đó, các sư đoàn bộ binh và lữ đoàn kỵ binh, cộng thêm vô số đơn vị độc lập, binh lực chiến đấu tuyến đầu của Lục quân tổng cộng khoảng ba mươi sáu vạn người!
Mà điều này, còn chưa bao gồm các sĩ quan văn chức trong Xu Mật Viện, cũng không bao gồm các sư đoàn dự bị và nhân viên thuộc quyền quản hạt của Bộ tư lệnh thủ bị các tỉnh.
Ngoài ba mươi lăm vạn bộ đội tuyến đầu này, Lục quân Đại Đường còn sở hữu số lượng lớn các đơn vị sư đoàn dự bị, tùy theo tình hình khác nhau mà mỗi tỉnh sẽ bố trí từ hai sư đoàn dự bị trở lên.
Về cơ bản, tỉnh nào có tầm quan trọng tương đối lớn, đồng thời tình thế không mấy ổn định, binh lực tuyến đầu không nhiều, thì sư đoàn dự bị đóng quân sẽ càng đông.
Ví dụ như tỉnh Liêu Đông, tỉnh này tuy dân số ít, hơn nữa chính quy quân cũng không ít, nhưng vì nằm ở nơi biên thùy, hơn nữa đều là khu vực mới chiếm đóng, cho nên sư đoàn dự bị của nó cực kỳ nhiều. Chỉ tính riêng bốn phủ ở bán đảo Cao Ly đã có ba sư đoàn dự bị đóng quân, sau đó những nơi khác cũng có vài đơn vị. Toàn bộ tỉnh Liêu Đông, tổng dân số không quá bốn triệu người, nhưng lại đóng quân tới tận bảy sư đoàn dự bị, nếu cộng thêm hai sư đoàn bộ binh nữa, tổng binh lực của tỉnh Liêu Đông vượt quá mười vạn người.
Còn ở Trực Lệ tứ đạo, quy mô sư đoàn dự bị cũng không ít, cho dù binh lực chính quy ở nơi này đã là rất nhiều rồi. Đệ Nhất quân chiến công hiển hách chính là đóng quân tại Trực Lệ tứ đạo, đồng thời còn có một Cận Vệ quân, hai bên cộng lại binh lực chính quy đạt tới bảy tám vạn người, cả đế quốc, gần như một phần năm chiến lực tuyến đầu đều được triển khai tại Trực Lệ tứ đạo.
Thực lực chính quy quân hùng hậu, nếu là nơi khác thì cơ bản cũng không cần dùng tới quá nhiều sư đoàn dự bị, nhưng Trực Lệ tứ đạo thì lại không giống vậy!
Nơi này thực sự quá quan trọng, ở đây không những có Kim Lăng Thành - trái tim chính trị của đế quốc, mà Trực Lệ tứ đạo còn đã trở thành trái tim kinh tế danh xứng với thực của đế quốc!
Nơi đây là khu vực sản xuất lương thực quan trọng nhất của đế quốc, đồng thời đây cũng là dải đất cốt lõi về chế tạo của đế quốc!
Cùng với sự trỗi dậy của khu công nghiệp Đương Đồ và khu công nghiệp Thượng Hải, nơi đây đã dần dần thay thế Triệu Khánh và Quảng Châu của Quảng Đông, trở thành căn cứ chế tạo công nghiệp quan trọng nhất của đế quốc.
Nơi này, nói chiếm giữ một nửa tài phú của toàn bộ Đại Đường Đế quốc cũng không quá lời!
Mất Liêu Đông thậm chí cả phương Bắc, Lý Hiên đều có lòng tin chỉnh đốn quân bị rồi giết ngược trở lại, nhưng mất Giang Nam, thì đó là chuyện sẽ chết đói người!
Tình huống này, thực tế cũng giống như Tiền Minh vương triều lúc trước. Minh vương triều khi đó tuy thủ đô ở U Châu, nhưng thực tế khu vực cốt lõi chống đỡ sự thống trị của Minh vương triều vẫn là Giang Nam. Giang Nam vừa xong đời, Minh vương triều cũng xong đời, bất kể là Chính Đức hoàng đế hay Thiệu Vũ Đế, đều lần lượt binh bại thân vong!
Cho nên mới nói, giữ tốt căn bản của mình rất quan trọng, để mặc khu vực thống trị cốt lõi bị đám nho sinh đục khoét, chỉ biết gào thét "thiên tử thủ quốc môn" thì cũng vô ích thôi.
Đặt trọng tâm chính trị tại Giang Nam, và đóng quân trọng binh, Lý Hiên mới có lòng tin nắm chắc Giang Nam trong tay mình, khi thúc đẩy các loại cải cách mới có thể thuận lợi tiến hành.
Mấy năm nay, các loại cải cách của Đại Đường vương triều, đặc biệt là cải cách về nông nghiệp và thuế thu, đã đắc tội với không ít người, vì thế mà vũ trang kháng thuế thậm chí kéo đại quân tạo phản cũng nhiều vô kể, nhưng đều bị Đại Đường Vương Sư anh dũng vô địch trấn áp từng đợt một.
Cho nên, mấy năm nay Lý Hiên vẫn luôn rất cảnh giác!
Cảnh giác với nội loạn!
Vì vậy năm đó sau khi Đệ Lục quân xuất phát đi Liêu Đông, Đệ Nhất quân liền nhanh chóng về phòng thủ Trực Lệ tứ đạo.
Mà Trực Lệ tứ đạo quan trọng như thế, ngoài chính quy quân ra, còn có đông đảo sư đoàn dự bị thì cũng không có gì kỳ lạ. Chỉ nhìn riêng Giang Nam Đạo, một cái đạo nhỏ bé thế này, đã có bốn sư đoàn dự bị đóng quân!
Đúng vậy, không sai, chính là bốn sư đoàn dự bị!
Hơn nữa ngoài bốn sư đoàn dự bị này ra, Đệ Nhị sư đoàn bộ binh của Đệ Nhất quân cũng đóng quân tại phủ Tùng Giang, căn cứ hải quân quan trọng nhất về phía hải quân là căn cứ hải quân Ngô Tùng, cũng nằm ở phủ Tùng Giang. Ở đây hải quân ngoài quân hạm và thủy thủ ra, còn đóng quân một trung đoàn lục chiến!
Phủ Tùng Giang đất nhỏ bằng bàn tay, nhưng thực tế lại có hơn ba vạn binh lực lục quân và hải quân đóng quân!
Tình huống ở ba đạo còn lại của Trực Lệ cũng tương tự như vậy, tuy không khuếch trương như thế, nhưng về cơ bản mỗi đạo đều có từ hai sư đoàn dự bị trở lên!
Tổng binh lực dự bị của toàn bộ Trực Lệ tứ đạo, còn nhiều hơn cả tỉnh Liêu Đông!
Mà đây cũng là chuyện không còn cách nào khác, ai bảo Trực Lệ tứ đạo lại quan trọng như vậy chứ!
Ngoài các yếu tố về công nghiệp và kinh tế ra, binh nguyên cũng rất quan trọng.
Bởi vì dân số của Trực Lệ tứ đạo rất đông, Trực Lệ tứ đạo chính là khu vực sản xuất lương thực quan trọng nhất của Đại Đường Đế quốc, số người có thể nuôi sống vốn dĩ đã nhiều, mà dân số đông thì số lượng binh nguyên tự nhiên cũng đủ nhiều rồi.