Tháng Tư năm Tuyên Bình thứ tám đối với Đế quốc Đại Đường mà nói, có thể coi là một tháng khá quan trọng. Sau khi kỳ Hội thí được cải cách diễn ra vào nửa đầu năm, tháng Tư chính là thời điểm tổ chức Điện thí. Mặc dù đối với triều đại Đại Đường, tầm quan trọng của Điện thí chỉ ở mức trung bình, bởi vì chỉ cần thí sinh không có gì quá bất thường thì cơ bản sẽ không bị rớt.
Mục đích của Điện thí thực ra không còn dùng để tuyển chọn nhân tài nữa, mà là dựa vào các bài sách luận mà thí sinh viết ra để định hướng bổ nhiệm chức vụ trong tương lai cho họ. Chính vì vậy, trong hai năm gần đây, đề thi Điện thí ngày càng nhiều, thường thì sách luận sẽ ra mười mấy hai mươi đề, nhưng thí sinh chỉ cần chọn một đề trong số đó để trả lời là được.
Còn kỳ Điện thí năm nay, còn có thêm một khâu là phỏng vấn. Các quan viên Lại bộ, quan viên Ty Khoa cử thuộc Lễ bộ cùng quan viên được các bộ khác cử tới sẽ kết hợp lại, tạo thành các nhóm giám khảo đông đảo, sau đó chia thành từng đợt để phỏng vấn ngắn các thí sinh.
Kiểu phỏng vấn này chủ yếu là để cho các vị chủ quản của các bộ, những người đang chuẩn bị tuyển dụng quan viên mới, có cơ hội trực tiếp khảo sát các tân khoa quan viên. Chuyện là thế đấy, tuyển vào thì chính là thuộc hạ của mình, ai mà chẳng muốn thuộc hạ của mình tốt hơn một chút chứ.
Tất nhiên, ý kiến của các chủ quản bộ ngành chỉ có thể là ý kiến tham khảo. Sau khi phỏng vấn khảo sát, họ có thể đệ đơn xin bổ nhiệm một tân khoa sĩ tử nào đó về bộ của mình, nhưng người nắm quyền quyết định vẫn là Lại bộ.
Lại bộ mới là cơ quan nắm quyền khảo đánh, sắp xếp chức vụ cho quan viên. Mặc dù quyền quyết định trực tiếp của họ chỉ giới hạn ở quan viên địa phương dưới chính tứ phẩm và quan viên trung ương dưới chính ngũ phẩm, nhưng đối với các quan viên cao hơn cấp bậc này, họ vẫn có thể thông qua cách tiến cử nhiều ứng viên lên cho Lý Hiên. Còn việc Lý Hiên cuối cùng có chọn ra một người từ danh sách họ tiến cử hay không, thì chẳng ai biết được.
Việc bổ nhiệm quan viên cao cấp từ trước đến nay đều do Lý Hiên độc đoán quyết định, nguồn ứng viên cũng rất đa dạng, có sự tiến cử của các quan cao cấp như Tuần phủ địa phương, có sự tiến cử từ các quan cao cấp ở các bộ tại kinh kỳ, cũng có sự tiến cử của Lễ bộ. Ngoài ra, thỉnh thoảng Lý Hiên còn để Hàn Lâm Viện tổ chức khảo hạch và đề xuất danh sách. Nếu là chức vụ quan trọng, đôi khi ông cứ để Nội các mở hội nghị tiến cử, hoặc đơn giản là trực tiếp mở hội nghị Nội các trước mặt vua để thảo luận danh sách ứng viên, cuối cùng do Lý Hiên quyết định nhân sự.
Tất nhiên, những cuộc bổ nhiệm cần phải mở hội nghị thảo luận như thế này thường là dành cho các đại quan từ nhị phẩm trở lên, chủ yếu là các quan từ chức Tuần phủ các tỉnh, Thị lang các bộ trở lên. Các chức vụ thấp hơn cấp bậc này thì không đủ tư cách để Lý Hiên đích thân triệu tập hội nghị Nội các thảo luận như vậy.
Phía Lại bộ tuy không thể quyết định việc bổ nhiệm quan viên cao cấp, tiến cử thì cũng chẳng có tác dụng gì, nhưng đối với quan viên cấp trung và cấp thấp thì họ vẫn nắm giữ quyền sinh sát. Tân khoa Tiến sĩ thì lại càng không cần phải nói, bất kể các bộ khác nói gì, bất kể ý nguyện của bản thân tân khoa Tiến sĩ ra sao, ngay khi Lại bộ đã quyết định, đó chính là đại diện cho ý chí của toàn đế quốc. Tân khoa Tiến sĩ hoặc là đi nhậm chức, hoặc là cuốn gói rời đi.
Vì vậy, trong giai đoạn Điện thí tháng Tư, các tân khoa Tiến sĩ đều đặc biệt coi trọng buổi phỏng vấn ngắn do Lại bộ tổ chức, ai nấy đều muốn để lại ấn tượng tốt trong mắt những người nắm giữ vận mệnh của mình.
Tuy nhiên cũng có ngoại lệ, đó là các Giáp nhất Tiến sĩ, Tiến sĩ xuất thân từ Bác sĩ, họ không cần phải lo lắng về những vấn đề này, bởi vì nếu không có gì bất ngờ, họ đều sẽ vào Hàn Lâm Viện nhậm chức.
Kỳ Hội thí tháng Hai, Điện thí tháng Tư, đối với ảnh hưởng của khoa cử trong hàng ngàn năm ở Hoa Hạ là vô cùng to lớn. Điều này đặt trong dòng chảy lịch sử dài dặc, cũng là một nét đậm khó phai.
Sau này mỗi khi nhắc đến chế độ thi tỉnh và thi quốc của khoa cử, nhắc đến chế độ phỏng vấn, thì tuyệt đối không thể bỏ qua kỳ Hội thí và Điện thí năm Tuyên Bình thứ tám.
Mà trong tháng Tư, đối với toàn thể Đế quốc Đại Đường mà nói, chuyện quan trọng cũng không chỉ có mỗi việc này, còn có các sự vụ khác. Chẳng hạn như trong tháng này, Đế quốc Đại Đường sau hơn một năm ấp ủ, đã tiến hành cải cách trọng đại đối với chế độ thuế thu hiện tại. Trọng tâm của cuộc cải cách tập trung vào việc phân loại các loại thuế, đặc biệt là phân loại rõ ràng hơn đối với việc thu thuế công thương.
Đồng thời lần đầu tiên áp dụng chế độ thuế lũy tiến. Chế độ lũy tiến này tạm thời chỉ áp dụng đối với thuế nông nghiệp. Cá nhân sở hữu dưới năm mươi mẫu đất vẫn áp dụng mức thuế cũ, nhưng đối với phần vượt quá một trăm mẫu thì áp dụng thuế nông nghiệp cao hơn một chút, còn đối với phần vượt quá ba trăm mẫu thì áp dụng mức thuế nông nghiệp cao hơn nữa.
Mục đích của việc này không nghi ngờ gì chính là nhằm đả kích những đại địa chủ sở hữu lượng lớn đất đai.
Tất nhiên, chính sách mới ban hành cũng không thể lập tức đánh chết hết mọi người, luôn phải để lại một sơ hở rõ ràng để tâm lý phản kháng của họ không quá gay gắt. Vì vậy, chế độ thuế lũy tiến này được tính theo từng cá nhân chứ không tính theo hộ gia đình.
Nếu tính theo tiêu chuẩn một gia đình năm người, thì sở hữu trong vòng hai trăm năm mươi mẫu đất đều sẽ không bị ảnh hưởng bởi chính sách này!
Mà trên thực tế, hầu như tất cả nông dân tự canh đều không vượt quá con số này.
Đối tượng thực sự bị ảnh hưởng là những đại địa chủ sở hữu hàng trăm thậm chí hàng ngàn mẫu đất. Những đại địa chủ này cho dù đặt trong phạm vi cả nước thì tổng số người cũng không nhiều lắm.
Họ thực ra cũng là đối tượng đả kích chính của đế quốc, những người này sở hữu quá nhiều đất đai. Đế quốc luôn muốn họ bán bớt đất đai, gom vốn đầu tư vào ngành công thương.
Ngành công thương kiếm tiền như thế, cớ sao cứ phải khư khư ôm lấy đất đai không buông, nhất định phải đối đầu với đế quốc chứ!
Ngoài thuế nông nghiệp, về môi trường bên ngoài, Lục quân đế quốc đã gần như chiếm lĩnh hoàn toàn Liêu Đông. Liêu Đông trấn lừng danh cũng đã bị công phá vào tháng Tư. Trận chiến này cũng không đánh đấm gì nhiều, bởi vì Huệ Vương của Ngụy Minh tại Liêu Đông trước đó đã dẫn quân chủ lực bỏ chạy từ lâu. Khi hắn chạy, thậm chí còn cưỡng ép cả dân chúng địa phương chạy theo. Khi Lục quân Đại Đường chiếm được Liêu Đông trấn, phát hiện nơi đó cũng chỉ còn lại một số người già trẻ yếu tàn tật mà thôi.
Nhưng dù thế nào đi nữa, Liêu Đông trấn cũng được coi là vị trí chiến lược mang tính biểu tượng của khu vực Liêu Đông. Lục quân đế quốc chiếm được nơi này cũng có nghĩa là đã gần như thu phục hoàn toàn Liêu Đông. Các trận chiến sau đó chính là dọc theo hướng bỏ chạy của Huệ Vương Ngụy Minh, một đường đánh thẳng sang bán đảo Cao Ly.
Tình hình Liêu Đông khả quan, tình hình hải ngoại cũng không tệ, hơn nữa còn xảy ra việc chiếm lĩnh quần đảo Đại Ngung, một sự kiện mang tính biểu tượng của Hải quân Đại Đường.
Sau này nếu có người nhắc đến lịch sử Đại Đường chinh phục Phù Tang, thì tháng Tư năm Tuyên Bình thứ tám là một cột mốc tuyệt đối không thể bỏ qua, bởi vì trong tháng này, lính thủy đánh bộ của Hạm đội Lưu Cầu thuộc Hải quân Đại Đường đã lần đầu tiên đặt chân lên vùng đất Phù Tang.
Mặc dù quy mô đổ bộ hiện tại còn rất nhỏ, toàn bộ thủy thủ và lính thủy đánh bộ của Hạm đội Lưu Cầu cũng chỉ có hơn hai ngàn người, và cũng chỉ mới chiếm được hai hòn đảo nhỏ, nhưng điều này vẫn mang lại sức ảnh hưởng chiến lược to lớn.
Tư lệnh Hạm đội Lưu Cầu là Phùng Khải Vinh thậm chí còn đang chuẩn bị dẫn dắt hạm đội đóng quân lâu dài tại đảo Chủng Tử, hòn đảo vừa trở thành lãnh thổ Đại Đường này, đồng thời còn phái các đội tàu vận tải quay về, ông ta đang rất cần thêm sự chi viện!
Chiến hạm, lính thủy đánh bộ, súng ống, đạn dược, thậm chí cả nhân khẩu, đều là những thứ ông ta đang cấp bách cần đến. Tất nhiên, ông ta cũng không quên báo cáo lên nha môn Tri phủ Lưu Cầu phủ đại diện cho quan văn.
Nói rằng hải quân đã mở mang bờ cõi thêm hẳn một quần đảo cho đế quốc, mau chóng bảo Nội các phái quan viên địa phương tới cai trị đi!