Ông Satterthwaite chưa bao giờ thực sự hiểu rõ điều gì đã đưa ông đến trọ lại nhà Denman. Họ không thuộc tầng lớp của ông—nói cách khác, họ không thuộc về thế giới thượng lưu rộng lớn, cũng chẳng thuộc về những vòng tròn nghệ thuật đầy thi vị hơn. Họ là những kẻ thực dụng, và là những kẻ thực dụng tẻ nhạt vào loại bậc nhất. Ông Satterthwaite gặp họ lần đầu ở Biarritz, từng nhận lời mời đến thăm nhà họ, đã đến, thấy chán ngắt, thế mà thật kỳ lạ, ông lại cứ đến nữa, hết lần này đến lần khác.
Tại sao chứ? Ông đang tự hỏi mình câu hỏi ấy vào ngày hăm mốt tháng Sáu này, khi chiếc xe Rolls-Royce lướt vút ra khỏi Luân Đôn.
John Denman là một người đàn ông ở tuổi bốn mươi, một con người vững chãi, có chỗ đứng đứng đắn, được kính trọng trong thế giới thương trường. Bạn bè của ông ta không phải là bạn bè của ông Satterthwaite, và tư tưởng của ông ta lại càng không phải. Ông ta là một kẻ tháo vát trong lĩnh vực của riêng mình nhưng hoàn toàn thiếu vắng trí tưởng tượng ngoài đời sống ấy.
Tại sao mình lại làm cái trò này cơ chứ? Ông Satterthwaite lại tự hỏi mình một lần nữa—và câu trả lời duy nhất hiện lên trong đầu lại mơ hồ và ngớ ngẩn đến mức bản thân ông suýt gạt phăng đi. Bởi vì lý do duy nhất bày ra trước mắt chính là việc một căn phòng trong ngôi nhà (một ngôi nhà tiện nghi, được bài trí kỹ lưỡng) đã khơi dậy sự tò mò của ông. Căn phòng đó chính là phòng khách riêng của bà Denman.
Nó hầu như không phải là sự biểu hiện cho cá tính của bà, bởi vì theo như ông Satterthwaite có thể nhận định, bà chẳng có chút cá tính nào cả. Ông chưa từng gặp người phụ nữ nào hoàn toàn vô hồn đến thế. Ông biết bà vốn là người gốc Nga. John Denman từng ở Nga vào lúc Chiến tranh Châu Âu bùng nổ; ông ta đã chiến đấu cùng quân đội Nga, suýt mất mạng trong những ngày đầu bùng nổ cách mạng, và đã đưa người thiếu nữ Nga này đi cùng như một kẻ tị nạn trắng tay. Bất chấp sự phản đối gay gắt từ cha mẹ, ông ta đã cưới bà.
Căn phòng của bà Denman chẳng có gì đáng chú ý. Nó được bài trí đẹp đẽ và vững chãi với những món đồ nội thất Hepplewhite hảo hạng—mang bầu không khí thiên về nam tính hơn là nữ tính. Nhưng trong đó có một vật dụng lạc lõng: một bức bình phong sơn mài Trung Hoa—một tác phẩm có sắc vàng kem và hồng nhạt. Bất kỳ bảo tàng nào cũng sẽ vui mừng nếu sở hữu được nó. Đó là một hiện vật dành cho nhà sưu tầm, vừa hiếm hoi lại vừa kiều diễm.
Nó hoàn toàn lạc lõng giữa khung nền Anh quốc vững chãi ấy. Lẽ ra nó phải là nốt nhạc chủ đạo của căn phòng, với mọi thứ được sắp xếp để hòa quyện một cách tinh tế cùng nó. Thế nhưng ông Satterthwaite không thể trách nhà Denman thiếu gu thẩm mỹ. Mọi thứ khác trong ngôi nhà đều hòa hợp với nhau một cách hoàn hảo.
Ông lắc đầu. Thứ đồ vật ấy, dù tầm thường là thế—vẫn làm ông bận tâm. Chính vì nó, theo như ông thực sự tin là vậy, mà ông đã hết lần này đến lần khác quay lại ngôi nhà này. Có lẽ, đó chỉ là một nét ảo tưởng của phụ nữ—nhưng lời giải thích ấy không làm ông thỏa mãn khi nghĩ đến bà Denman—một người phụ nữ trầm lặng, nét mặt góc cạnh, nói tiếng Anh chuẩn xác đến mức không ai có thể đoán ra bà là người ngoại quốc.
Chiếc xe đỗ lại tại điểm đến và ông bước xuống, tâm trí vẫn còn vương vấn bài toán về bức bình phong Trung Hoa. Ngôi nhà của nhà Denman tên là Ashmead, chiếm khoảng năm mẫu đất trên vùng hoang mạc Melton Heath, cách Luân Đôn ba mươi dặm, nằm ở độ cao năm trăm thước so với mặt nước biển, và hầu như toàn cư ngụ bởi những người có thu nhập dư dả.
Người quản gia đón tiếp ông Satterthwaite một cách niềm nở. Cả ông và bà Denman đều đi vắng—đang dự một buổi tổng duyệt—họ hy vọng ông Satterthwaite cứ tự nhiên như ở nhà cho đến khi họ quay về.
Ông Satterthwaite gật đầu và tiến hành thực hiện những lời dặn dò ấy bằng cách bước ra khu vườn. Sau một hồi lướt nhìn qua các luống hoa, ông dạo bước dọc theo một lối đi rợp bóng râm và chẳng mấy chốc đã đến một cánh cửa trên bức tường gạch. Cánh cửa không khóa, ông bước qua đó và đi ra một con hẻm nhỏ hẹp.
Ông Satterthwaite nhìn sang bên trái và bên phải. Một con hẻm vô cùng duyên dáng, râm mát và xanh ngắt, với những hàng rào cao—một con hẻm đồng quê uốn lượn theo lối xưa cũ đáng yêu. Ông nhớ lại địa chỉ đã in trên bưu thiếp: Ashmead, Lối đi của Harlequin—đồng thời cũng nhớ lại một cái tên địa phương gọi chệch đi mà bà Denman từng kể cho ông nghe.
“Lối đi của Harlequin,” ông lẩm bẩm một mình khe khẽ. “Không biết chừng—”
Ông rẽ qua một góc khuất.
Không phải ngay lúc đó, nhưng mãi về sau, ông tự hỏi tại sao lần này mình lại chẳng hề ngạc nhiên khi gặp lại người bạn khó nắm bắt ấy: ông Harley Quin. Hai người đàn ông siết chặt tay nhau.
“Thế anh cũng xuống đây à,” ông Satterthwaite nói.
“Vâng,” ông Quin đáp. “Tôi đang trọ cùng một nhà với anh đấy.”
“Trọ ở đó cơ à?”
“Vâng. Anh ngạc nhiên lắm sao?”
“Không,” ông Satterthwaite chậm rãi đáp. “Chỉ là... ừm, anh có bao giờ ở lại đâu lâu đâu, phải không?”
“Chỉ ở lại bao lâu cần thiết thôi,” ông Quin điềm đạm đáp.
“Tôi hiểu rồi,” ông Satterthwaite nói.
Họ cứ thế lặng lẽ bước đi trong vài phút.
“Con hẻm này—” ông Satterthwaite mở lời, rồi khựng lại.
“Thuộc về tôi,” ông Quin nói.
“Tôi cứ nghĩ thế đấy,” ông Satterthwaite đáp. “Không hiểu sao tôi lại thấy chắc chắn là như vậy. Còn cái tên kia nữa chứ, cái tên gọi theo vùng ấy. Người ta gọi nó là ‘Lối đi của những người tình’. Anh biết chứ?”
Ông Quin gật đầu. “Nhưng chắc chắn rồi,” ông nhẹ nhàng nói, “làng nào mà chẳng có một ‘Lối đi của những người tình’.”
“Chắc là vậy,” ông Satterthwaite nói, và ông khẽ thở dài một tiếng.
Bỗng nhiên ông cảm thấy mình già nua và lạc lõng làm sao, giống như một lão già gàn dở khô héo và quắt quéo. Hai bên đường là những hàng rào xanh mướt và đầy sức sống.
“Không biết con hẻm này chấm dứt ở đâu nhỉ?” ông bất ngờ hỏi.
“Nó kết thúc... ở đây,” ông Quin nói.
Họ vòng qua khúc cua cuối cùng. Con hẻm chấm dứt tại một mảnh đất hoang, và ngay dưới chân họ là một cái hố sâu hoắm mở ra. Dưới đáy hố là những chiếc hộp thiếc lấp lánh dưới ánh mặt trời, cùng những chiếc hộp khác đã rỉ sét đỏ quạch chẳng còn chút ánh kim, những chiếc ủng cũ, mảnh báo rách, và hàng trăm thứ linh tinh lặt vặt chẳng còn giá trị với bất kỳ ai.
“Một bãi rác,” ông Satterthwaite thốt lên, thở dài một hơi đầy vẻ bất bình và khinh bỉ.
“Đôi khi có cả những thứ tuyệt vời ẩn chứa trên một bãi rác đấy,” ông Quin nói.
“Tôi biết, tôi biết chứ,” ông Satterthwaite kêu lên, rồi lặp lại với một chút ngượng ngùng: “‘Hãy mang đến cho ta hai vật đẹp nhất trong thành phố,’ Thiên Chúa phán. Anh biết câu chuyện ấy diễn ra thế nào rồi đấy, phải không?”
Ông Quin gật đầu.
Ông Satterthwaite ngước nhìn tàn tích của một ngôi nhà nhỏ nằm chênh vênh bên bờ mép vách đá.
“Khó mà gọi là một khung cảnh nên thơ cho một ngôi nhà,” ông nhận xét.
“Tôi cho rằng nơi này vốn không phải là bãi rác vào những ngày tháng đó,” ông Quin nói. “Tôi tin là nhà Denman đã sống ở đó khi họ mới cưới nhau. Họ chuyển đến ngôi nhà lớn khi cha mẹ qua đời. Ngôi nhà nhỏ bị phá hủy khi người ta bắt đầu khai thác đá ở đây—nhưng rồi chẳng có gì lớn lao được làm tiếp, như anh có thể thấy đấy.”
Họ quay người và bắt đầu bước ngược trở lại đường cũ.
“Tôi đoán rằng,” ông Satterthwaite mỉm cười nói, “có rất nhiều đôi tình nhân thường lang thang xuống con hẻm này vào những buổi tối mùa hè ấm áp.”
“Chắc là vậy.”
“Những người tình,” ông Satterthwaite nói. Ông lặp lại từ đó một cách trầm ngâm và hoàn toàn không mang chút vẻ ngượng ngùng thông thường của một người Anh. Ông Quin luôn có sức ảnh hưởng ấy lên ông. “Những người tình. Anh đã làm rất nhiều điều cho những người tình đấy, ông Quin ạ.”
Người kia cúi đầu mà không đáp lời.
“Anh đã cứu họ khỏi nỗi đau khổ—khỏi những điều tồi tệ hơn cả đau khổ, khỏi cái chết. Anh đã từng là biện hộ cho chính những kẻ đã khuất.”
“Anh đang nói về chính anh—về những gì anh đã làm—chứ không phải về tôi.”
“Cũng là một thôi,” ông Satterthwaite nói. “Anh biết rõ là thế mà,” ông nài nỉ khi người kia vẫn giữ im lặng. “Anh đã hành động... thông qua tôi. Vì lý do này hay lý do khác, chính anh lại không trực tiếp hành động... lấy.”
“Đôi khi tôi có chứ,” ông Quin nói.
Giọng nói của ông mang một âm sắc mới lạ. Bất chấp ý muốn của mình, ông Satterthwaite vẫn khẽ rùng mình một cái. Ông thầm nghĩ, buổi chiều chắc hẳn đang trở nên lạnh dần. Thế mà ánh mặt trời vẫn cứ rực rỡ như thường lệ.
Đúng lúc đó, một thiếu nữ rẽ qua góc khuất phía trước và lọt vào tầm mắt. Cô là một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, tóc vàng mắt xanh, mặc chiếc áo đầm bằng vải bông màu hồng. Ông Satterthwaite nhận ra đó là Molly Stanwell, người mà ông từng gặp ở đây trước kia.
Cô vẫy tay chào mừng ông. “John và Anna vừa mới quay về rồi,” cô kêu lên. “Họ cứ nghĩ anh thể nào cũng đã đến, nhưng họ buộc lòng phải có mặt ở buổi tổng duyệt.”
“Tổng duyệt cái gì thế?” ông Satterthwaite hỏi.
“Cái trò hóa trang này này—tôi cũng không biết nên gọi chính xác là gì nữa. Có cả ca hát, khiêu vũ và đủ thứ trong đó. Anh Manly (anh còn nhớ anh ấy dưới này chứ?), người sở hữu giọng nam cao khá hay, sẽ đóng vai Pierrot, còn tôi đóng vai Pierrette. Sẽ có hai vũ công chuyên nghiệp xuống đây biểu diễn phần khiêu vũ—Harlequin và Columbine đấy, anh biết không. Và rồi còn có một dàn hợp xướng lớn gồm các cô gái. Phu nhân Roscheimer rất nhiệt tình trong việc huấn luyện các cô thôn nữ ca hát. Thực ra bà ấy đang dựng vở kịch này vì mục đích đó. Âm nhạc khá hay—nhưng rất hiện đại—gần như chẳng tìm thấy giai điệu nào ở bất cứ đâu cả. Claude Wickam sáng tác đấy. Có lẽ anh biết cậu ta chứ?”
Ông Satterthwaite gật đầu, bởi vì, như đã nhắc đến trước đây, nghề của ông chính là phải biết tất cả mọi người. Ông biết về thiên tài đầy hoài bão Claude Wickam, và về phu nhân Roscheimer, một người đàn bà đẫy đà có niềm đam mê kỳ lạ với những chàng trai mang hơi hướng nghệ sĩ. Và ông biết rõ tất cả về ngài Leopold Roscheimer, người thích vợ mình được hạnh phúc và, điều hiếm thấy nhất ở những ông chồng, chẳng hề bận tâm nếu cô ấy tìm thấy hạnh phúc theo cách riêng của mình.
Họ tìm thấy Claude Wickam đang dùng trà cùng nhà Denman, nhồi nhét vào miệng đủ thứ đồ ăn vừa tay một cách bất phân cao thấp, vừa nói chuyện huyên man vừa khua khoắng đôi bàn tay trắng trẻo dài ngoẵng trông có vẻ như khớp đôi. Đôi mắt cận thị của hắn nhìn đăm đăm qua cặp kính gọng sừng to tướng.
John Denman, người ngay thẳng, hơi ửng đỏ với chút xu hướng bóng bẩy thoắt ẩn thoắt hiện, đang lắng nghe với vẻ mặt chú ý đầy chán chường. Khi ông Satterthwaite xuất hiện, người nhạc sĩ liền chuyển hướng câu chuyện sang phía ông. Anna Denman ngồi sau bộ ấm chén pha trà, trầm lặng và vô cảm như thường lệ.
Ông Satterthwaite lén lút liếc nhìn bà. Cao gầy, xơ xác, rất gầy, với làn da căng chặt trên đôi gò má cao, mái tóc đen chẻ ngôi giữa, một làn da sạm nắng gió. Một người phụ nữ của các hoạt động ngoài trời chẳng màng đến chuyện dùng phấn son. Một con búp bê gỗ Hà Lan vô tri, lạnh ngắt—thế nhưng—
Ông thầm nghĩ, Lẽ ra phải có một tầng ý nghĩa nào đó ẩn sau gương mặt ấy, thế mà lại chẳng có gì. Đó mới là điều hoàn toàn sai trái. Vâng, hoàn toàn sai trái. Và quay sang Claude Wickam, ông nói: “Cậu vừa nói gì cơ? Tôi xin lỗi, nghe không rõ lắm?”
Claude Wickam, kẻ rất thích nghe giọng nói của chính mình, bèn bắt đầu kể lại từ đầu. Nước Nga, hắn ta nói, đó là quốc gia duy nhất trên thế giới đáng để người ta quan tâm. Họ thử nghiệm. Thử nghiệm trên cả sinh mạng con người, nếu anh thích thế, nhưng dù sao họ vẫn thử nghiệm. “Tuyệt diệu!” Hắn nhét một miếng bánh sandwich vào miệng bằng một tay, và tiện thể cắn thêm một miếng bánh su kem sô-cô-la đang khua khoắng ở tay kia. “Lấy,” hắn nói (với cái miệng đầy thức ăn), “Ba-lê Nga làm ví dụ đi.” Sực nhớ đến nữ chủ nhà, hắn quay sang bà. Bà nghĩ thế nào về ba-lê Nga?
Câu hỏi rõ ràng chỉ là khúc dạo đầu cho trọng tâm chính—rằng Claude Wickam nghĩ gì về ba-lê Nga—nhưng câu trả lời của bà lại hoàn toàn nằm ngoài dự tính và khiến hắn chưng hửng hoàn toàn.
“Tôi chưa bao giờ xem nó cả.”
“Gì cơ?” Hắn trân trân nhìn bà há hốc miệng. “Nhưng... làm sao có thể...”
Giọng bà vẫn đều đều và vô cảm. “Trước khi kết hôn, tôi là một vũ công. Thế nên bây giờ—”
“Lại cái trò nghỉ phép mà vẫn mang nghề nghiệp theo người,” chồng bà chêm vào.
“Nhảy múa ư.” Bà nhún vai. “Tôi biết tất cả các chiêu trò của nó rồi. Nó chẳng còn gì thú vị với tôi nữa.”
“Ồ!”
Claude chỉ mất vỏn vẹn một khoảnh khắc để lấy lại vẻ điềm tĩnh.
“Nhắc đến sinh mạng con người,” ông Satterthwaite lên tiếng, “và những cuộc thử nghiệm trên đó, dân tộc Nga đã thực hiện một cuộc thí nghiệm vô cùng đắt giá.”
Claude Wickam quay phắt lại phía ông. “Tôi biết anh định nói gì rồi!” hắn kêu lên. “Kharsanova! Nữ thần bất tử, người duy nhất Kharsanova! Anh đã từng xem múa múa ư?”
“Ba lần,” ông Satterthwaite đáp. “Hai lần ở Paris, một lần ở Luân Đôn. Tôi sẽ... không bao giờ quên được.”
Ông cất giọng với một vẻ gần như tôn kính.
“Tôi cũng từng được xem bà ấy múa,” Claude Wickam nói. “Lúc đó tôi mới mười tuổi. Một người chú đã dẫn tôi đi. Chúa ơi! Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được điều đó.”
Hắn hằn học ném một mẩu bánh ngọt vào luống hoa.
“Có một bức tượng nhỏ về bà ấy trong một bảo tàng ở Berlin,” ông Satterthwaite nói. “Thật kỳ diệu. Cảm giác mong manh ấy... tựa hồ như anh chỉ cần búng nhẹ móng tay là có thể làm vỡ nát con người ấy. Tôi từng được ngắm bà ấy trong vai Columbine, trong vở Con Thiên Nga, hay trong hình hài Nữ thần suối nguồn hấp hối.” Ông ngừng lại, khẽ lắc đầu. “Đó mới chính là thiên tài. Sẽ còn phải mất rất nhiều năm nữa mới lại có một tài năng như thế ra đời. Bà ấy lại còn trẻ nữa chứ. Đã bị hủy diệt một cách ngu muội và tàn nhẫn ngay trong những ngày đầu của cuộc Cách mạng.”
“Đồ ngu! Lũ điên! Đồ vượn!” Claude Wickam thốt lên. Hắn nghẹn lời vì một miếng bánh trà còn đọng trong cổ họng.
“Tôi từng theo học với Kharsanova,” bà Denman nói. “Tôi nhớ rất rõ về bà ấy.”
“Bà ấy tuyệt vời lắm phải không?” ông Satterthwaite hỏi.
“Vâng,” bà Denman trầm tĩnh đáp. “Bà ấy vô cùng tuyệt vời.”
Claude Wickam ra về, và John Denman thở phào một tiếng nhẹ nhõm, khiến vợ anh ta bật cười.
Ông Satterthwaite gật đầu. “Tôi hiểu anh đang nghĩ gì đấy. Nhưng bất chấp tất cả, âm nhạc mà cậu thanh niên đó viết vẫn cứ là âm nhạc.”
“Chắc là thế,” Denman nói.
“Ồ! Chắc chắn là thế rồi. Còn việc nó sống được bao lâu... ừm, điều đó lại là chuyện khác.”
John Denman nhìn ông đầy tò mò. “Ý anh là sao?”
“Ý tôi là thành công đến quá sớm. Và điều đó rất nguy hiểm. Lúc nào cũng nguy hiểm cả.” Ông liếc nhìn sang phía ông Quin. “Anh đồng ý với tôi chứ?”
“Anh lúc nào cũng đúng,” ông Quin đáp.
“Chúng ta lên lầu vào phòng tôi đi,” bà Denman nói. “Ở trên đó dễ chịu hơn.”
Bà bước đi dẫn đường, và họ nối gót theo sau. Ông Satterthwaite hít một hơi thật sâu khi nhìn thấy bức bình phong Trung Hoa. Ông ngước lên và bắt gặp bà Denman đang dõi theo mình.
“Anh là người lúc nào cũng đúng,” bà nói, chậm rãi gật đầu nhìn ông. “Anh đánh giá thế nào về bức bình phong của tôi?”
Ông cảm thấy những lời đó tựa như một lời thách thức dành cho mình, và ông đáp lại gần như ngập ngừng, vấp váp đôi chút trong câu chữ. “Chà, nó... nó thật đẹp. Hơn thế nữa, nó là vô song.”
“Anh nói đúng đấy.” Denman đã bước đến đứng sau lưng ông. “Chúng tôi mua nó từ những năm đầu mới cưới. Mua được với giá chỉ bằng một phần mười giá trị thực của nó, nhưng ngay cả lúc đó... ừm, nó cũng khiến chúng tôi khốn đốn mất hơn một năm trời. Em nhớ không, Anna?”
“Vâng,” bà Denman đáp, “em nhớ chứ.”
“Thực ra, lúc đó chúng tôi chẳng có lý do gì để mua nó cả—không phải vào thời điểm đó. Tất nhiên bây giờ thì khác rồi. Dạo trước ở hãng đấu giá Christie có bày bán mấy món đồ sơn mài rất đẹp. Đúng thứ chúng ta cần để làm cho căn phòng này trở nên hoàn mỹ. Toàn bộ đều là phong cách Trung Hoa. Dọn sạch đống đồ đạc kia đi. Anh có tin nổi không, Satterthwaite, vợ tôi nhất định không chịu nghe theo đấy?”
“Em thích căn phòng này nguyên trạng như thế này hơn,” bà Denman nói.
Có một vẻ mặt kỳ lạ hiện lên trên gương mặt bà. Lại một lần nữa ông Satterthwaite cảm thấy mình bị thách thức và bị đánh bại. Ông nhìn quanh phòng, và lần đầu tiên ông nhận ra sự vắng bóng của mọi dấu ấn cá nhân. Không có bức ảnh nào, không có hoa tươi, chẳng có mấy món đồ trang trí lặt vặt nào cả. Nó hoàn toàn không giống phòng của một người phụ nữ chút nào. Ngoại trừ yếu tố lạc lõng duy nhất là bức bình phong Trung Hoa, trông nó chẳng khác gì một căn phòng mẫu được trưng bày tại cửa hàng nội thất lớn nào đó.
Ông bắt gặp bà đang mỉm cười nhìn mình.
“Hãy nghe tôi này,” bà nói. Bà chồm người về phía trước, và trong một khoảnh khắc, trông bà có vẻ ít mang nét Anh quốc hơn, mà trở nên rõ rệt mang phong vị ngoại quốc hơn. “Tôi nói với anh điều này, bởi vì anh sẽ hiểu được. Chúng tôi đã mua bức bình phong đó bằng nhiều thứ hơn là tiền bạc—bằng cả tình yêu. Vì tình yêu dành cho nó, bởi vì nó đẹp và độc nhất vô nhị, chúng tôi đã phải nhịn bớt những thứ khác, những thứ chúng tôi thực sự cần và thiếu thốn. Những món đồ Trung Hoa khác mà chồng tôi nhắc tới, chúng ta chỉ có thể mua chúng bằng tiền thôi, chứ chẳng thể đánh đổi bất cứ phần nào từ chính bản thân mình vào đó được.”
Chồng bà cười phá lên. “Thôi được! Cứ chiều ý em đi,” anh ta nói, nhưng với một chút bực bội thoáng hiện trong giọng điệu. “Nhưng trông nó thật lạc lõng và sai trái khi đặt cạnh cái phông nền đậm chất Anh này. Mấy thứ đồ đạc kia kìa, chúng cũng đủ tốt theo loại của chúng, hàng thật, chắc chắn, chẳng có chút pha tạp giả dối nào—nhưng lại làng nhàng. Những món đồ Hepplewhite hậu kỳ giản dị và tốt bụng.”
Bà gật đầu. “Tốt, chắc chắn, hàng Anh chính hiệu,” bà lẩm bẩm khe khẽ.
Ông Satterthwaite trân trân nhìn bà. Ông thoáng bắt gặp một ý nghĩa ẩn giấu sau những lời nói ấy. Căn phòng kiểu Anh—vẻ đẹp rực rỡ bùng cháy của bức bình phong Trung Hoa—Không, nó lại vụt biến mất rồi.
“Tôi vừa gặp cô Stanwell ngoài hẻm,” ông chủ động mở lời xã giao. “Cô ấy bảo với tôi rằng tối nay cô ấy sẽ đóng vai Pierrette trong buổi biểu diễn đấy.”
“Vâng,” Denman nói. “Và con bé múa cũng cừ lắm đấy chứ.”
“Đôi chân cô ta vụng về lắm,” Anna nhận xét.
“Nói nhảm,” chồng bà gạt đi. “Đàn bà ai chẳng thế, Satterthwaite ạ. Chẳng tài nào chịu nổi khi nghe người phụ nữ khác được khen ngợi. Molly là một cô gái rất ưa nhìn, và dĩ nhiên là thế nên phụ nữ ai cũng muốn xỉa xói con bé thôi.”
“Tôi đang nói về nghệ thuật múa,” Anna Denman điềm tĩnh đáp. Giọng bà thoáng vẻ ngạc nhiên nhẹ. “Con bé rất xinh đẹp, vâng, nhưng đôi chân di chuyển thì lại vụng về. Anh không thể tranh cãi với tôi về điểm đó được đâu, bởi vì tôi rất rành về khiêu vũ.”
Ông Satterthwaite khéo léo can thiệp. “Tôi nghe nói các vị còn mời được hai vũ công chuyên nghiệp xuống đây biểu diễn phải không?”
“Vâng. Dành cho phần múa ba-lê chính thức. Hoàng tử Oranoff đang đưa họ xuống đây bằng xe hơi riêng của ngài ấy.”
“Sergius Oranoff ư?”
Câu hỏi thốt ra từ miệng Anna Denman. Chồng bà quay lại nhìn vợ.
“Em quen hắn ta à?”
“Tôi từng quen anh ta—ở Nga.”
Ông Satterthwaite có cảm giác John Denman trông có vẻ phiền muộn.
“Hắn có nhận ra em không?”
“Có. Anh ta sẽ nhận ra tôi.”
Bà bật cười—một tiếng cười trầm khàn, mang âm hưởng gần như đắc thắng. Trên gương mặt bà lúc này chẳng còn chút gì gợi liên tưởng đến con búp bê gỗ Hà Lan nữa. Bà gật đầu ra hiệu trấn an chồng. “Serge. Hóa ra anh ấy đưa hai vũ công xuống đây. Anh ấy vẫn luôn có hứng thú với khiêu vũ mà.”
“Tôi nhớ chứ.”
John Denman nói cộc lốc, đoạn quay người bước ra khỏi phòng. Ông Quin lẽo đẽo bước theo sau anh ta. Anna Denman tiến đến chiếc máy điện thoại và quay số gọi. Bà ra hiệu chặn ông Satterthwaite lại khi ông định bước theo chân hai người đàn ông kia.
“Tôi có thể nói chuyện với phu nhân Roscheimer được chứ? Ồ, chị đấy à. Tôi Anna Denman đây. Hoàng tử Oranoff đã đến chưa chị? Sao cơ? Sao cơ? Ồ, trời ạ! Thật kinh khủng làm sao.”
Bà lắng nghe thêm vài giây nữa, rồi đặt ống nghe xuống. Bà quay người lại nhìn ông Satterthwaite.
“Đã xảy ra tai nạn rồi. Chuyện đó chắc chắn phải xảy ra khi Sergius Ivanovitch cầm lái chứ. Ồ, anh ta chẳng thay đổi chút nào suốt ngần ấy năm qua. Cô vũ công không bị thương quá nặng, nhưng người bầm tím và hoảng hốt, quá kiệt sức để có thể biểu diễn tối nay. Anh vũ công nam thì bị gãy tay. Bản thân Serge Ivanovitch thì vô sự. Kẻ ác thường sống dai, quả không sai mà.”
“Thế còn buổi biểu diễn tối nay thì sao?”
“Chính xác đấy, bạn của tôi ạ. Chúng ta buộc phải làm gì đó để cứu vãn tình hình thôi.”
Bà ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Lát sau, bà ngước lên nhìn ông. “Tôi là một nữ chủ nhà tồi, ông Satterthwaite ạ. Chẳng tiếp đón anh cho ra hồn gì cả.”
“Tôi xin đảm bảo là không cần thiết phải câu nệ thế đâu. Chỉ có một điều thôi, thưa bà Denman, mà tôi rất muốn biết.”
“Vâng?”
“Làm thế nào mà bà lại tình cờ gặp được ông Quin vậy?”
“Ông ấy thường xuyên lui tới vùng này,” bà chậm rãi đáp. “Tôi nghĩ ông ấy sở hữu đất đai ở vùng này đấy.”
“Đúng thế, đúng thế. Chiều nay chính ông ấy đã nói với tôi như vậy,” ông Satterthwaite tiếp lời.
“Ông ấy là...” Bà khựng lại. Ánh mắt chạm vào ánh mắt ông Satterthwaite. “Tôi nghĩ anh còn rõ ông ấy là ai hơn cả tôi đấy,” bà nói kết câu.
“Tôi ư?”
“Chẳng phải thế sao?”
Ông cảm thấy bồn chồn lo lắng. Tâm hồn nhỏ bé ngăn nắp của ông cảm thấy bị bà làm cho xáo trộn. Ông cảm nhận được rằng bà đang muốn ép ông tiến xa hơn giới hạn mà ông sẵn sàng đối mặt, rằng bà muốn ông phải thốt thành lời những điều mà chính bản thân ông còn chưa sẵn sàng thừa nhận.
“Anh biết rõ mà!” bà nói. “Tôi nghĩ anh biết hầu hết mọi chuyện đấy, ông Satterthwaite ạ.”
Đó là những lời tán dương, thế nhưng lần này nó lại chẳng thể khiến ông say đắm. Ông lắc đầu với một vẻ khiêm nhường khác hẳn thường ngày. “Con người ta có thể biết được những gì chứ?” ông hỏi. “Ít ỏi lắm... thực sự quá ư ít ỏi.”
Bà gật đầu đồng tình. Lát sau, bà lại cất lời, bằng một giọng điệu kỳ lạ, đầy vẻ trầm tư chiêm nghiệm, mà chẳng buồn nhìn vào ông.
“Giả sử tôi kể cho anh nghe một chuyện... anh sẽ không cười chứ? Không, tôi nghĩ là anh sẽ không cười đâu. Vậy thì, giả sử như để tiếp tục duy trì...”—bà ngưng lại—“...cái nghề nghiệp của mình, cái thiên chức của mình, người ta phải nhờ cậy đến một ảo ảnh—người ta tự huyễn hoặc bản thân về một thứ không hề tồn tại—rằng người ta tưởng tượng ra một nhân vật nào đó. Đó chỉ là một sự giả vờ thôi, anh hiểu chứ, là trò chơi giả vờ—chẳng hơn không kém. Thế nhưng có một ngày—”
“Vâng?” ông Satterthwaite thốt lên. Ông đang vô cùng chăm chú lắng nghe.
“Cái ảo ảnh ấy lại thành sự thật! Điều mà người ta tưởng tượng ra—thứ điều không tưởng ấy, thứ vốn không thể nào có thật—lại hiện hữu bằng xương bằng thịt! Đó có phải là điên rồ không? Hãy nói cho tôi nghe đi, ông Satterthwaite. Đó có phải là sự điên rồ... hay anh cũng tin vào điều đó?”
“Tôi...” Thật kỳ lạ làm sao khi ông chẳng thể thốt nổi nên lời. Trông chúng cứ như đang mắc nghẹn ở đâu đó tận cổ họng.
“Sự ngu ngốc,” Anna Denman lẩm bẩm. “Thật ngốc nghếch.”
Bà bước vội ra khỏi phòng và bỏ mặc ông Satterthwaite cùng lời tuyên xưng đức tin còn dang dở chưa thành lời.
Khi bước xuống bữa tối, ông phát hiện ra bà Denman đang tiếp đón một vị khách, một người đàn ông cao gầy, sậm màu da đang bước vào tuổi trung niên.
“Hoàng tử Oranoff... ông Satterthwaite.”
Hai người đàn ông cúi đầu chào nhau. Ông Satterthwaite có cảm giác rằng vừa có một cuộc trò chuyện nào đó bị cắt đứt ngang xương khi ông bước vào và sẽ chẳng bao giờ được nối lại nữa. Thế nhưng chẳng có chút bầu không khí căng thẳng nào cả. Vị khách người Nga trò chuyện một cách tự nhiên và thoải mái về những đề tài gần gũi với trái tim ông Satterthwaite nhất. Ông ta là một người có gu thẩm mỹ cực kỳ tinh tế, và họ nhanh chóng nhận ra mình có rất nhiều người bạn chung. John Denman nhập cuộc cùng họ, và câu chuyện dần thu hẹp phạm vi lại. Oranoff bày tỏ sự tiếc nuối về vụ tai nạn.
“Đó không phải lỗi của tôi. Tôi thích lái xe nhanh—vâng, nhưng tôi là một tay lái cỏi. Đó là Định mệnh—là sự ngẫu nhiên thôi”—ông ta nhún vai—“những kẻ thống trị của tất cả chúng ta.”
“Chính chất Nga trong con người anh đã thốt lên điều đó, hỡi Sergius Ivanovitch,” bà Denman nói.
“Và tìm thấy sự đồng điệu vang vọng trong chính con người em, Anna Mikalovna,” ông ta lập tức đáp trả.
Ông Satterthwaite đưa mắt nhìn từ người này sang người khác trong số ba con người ấy. John Denman, người đàn ông tóc vàng, xa cách, mang đậm phong cách Anh quốc, và hai con người kia, sậm màu, gầy gò, trông giống nhau một cách kỳ lạ. Có điều gì đó dấy lên trong tâm trí ông—cái gì nhỉ? À! Ông nhớ ra rồi. Màn đầu tiên của vở Walküre. Sigmund và Sieglinde—trông giống nhau quá đỗi—và kẻ xa lạ Hunding. Những phỏng đoán bắt đầu cuộn trào trong bộ não ông. Phải chăng đây chính là ý nghĩa đằng sau sự hiện diện của ông Quin? Có một điều ông vẫn luôn tin tưởng kiên định—bất cứ nơi nào ông Quin xuất hiện, nơi đó ắt sẽ có bi kịch. Phải chăng đây chính là nó—vở kịch tam giác tình ái sáo mòn muôn thuở?
Ông cảm thấy hụt hẫng mang tính mơ hồ. Ông đã kỳ vọng vào những điều lớn lao hơn thế.
“Mọi việc đã được sắp xếp thế nào rồi, Anna?” Denman hỏi. “Chắc là phải hoãn buổi biểu diễn lại thôi. Anh nghe thấy em gọi điện cho nhà Roscheimer mà.”
Bà lắc đầu. “Không—chẳng có lý do gì phải hoãn cả.”
“Nhưng em không thể biểu diễn mà thiếu đi đội múa ba-lê được chứ?”
“Chắc chắn anh không thể dựng lên một vở kịch Harlequinade mà lại thiếu vắng Harlequin và Columbine được rồi,” Anna Denman khô khan đồng tình. “Em sẽ đóng vai Columbine, John ạ.”
“Em ư?” Anh ta vô cùng kinh ngạc—và theo ý nghĩ của ông Satterthwaite, là có cả sự phiền muộn.
Bà bình thản gật đầu. “Anh không cần phải sợ đâu, John. Em sẽ không làm anh mất mặt đâu. Anh quên mất rồi sao—đó từng là nghề nghiệp của em một thời mà.”
Ông Satterthwaite thầm nghĩ, giọng nói mới kỳ diệu làm sao. Những gì nó thốt ra... và những gì nó ngậm ngùi bỏ ngỏ mà ẩn chứa biết bao ý tứ! Ước gì mình có thể thấu tỏ...>
“Thôi được,” John Denman miễn cưỡng lên tiếng. “Điều đó giải quyết được một nửa vấn đề. Thế còn nửa còn lại thì sao? Em sẽ tìm Harlequin ở đâu chứ?”
“Em tìm thấy rồi—ngay đây này!”
Bà hướng tay về phía khung cửa mở nơi ông Quin vừa mới xuất hiện. Ông mỉm cười nhìn lại bà.
“Lạy Chúa, Quin,” John Denman thốt lên. “Anh cũng rành trò này cơ à? Tôi chưa từng mường tượng ra nổi đấy.”
“Ông Quin được bảo lãnh bởi một chuyên gia cơ mà,” vợ anh ta nói. “Ông Satterthwaite sẽ đứng ra bảo đảm cho anh ấy.”
Bà mỉm cười nhìn ông Satterthwaite, và vị quý ông lớn tuổi thấy mình đang lẩm bẩm: “Ồ! Vâng, tôi... tôi xin bảo đảm cho ông Quin.”
Denman chuyển hướng sự chú ý sang việc khác. “Anh biết sau đó sẽ có một buổi dạ vũ hóa trang mà lị. Phiền phức thật đấy. Kiểu gì chúng tôi cũng phải kiếm cho anh một bộ đồ thôi, Satterthwaite.”
Ông Satterthwaite quả quyết lắc đầu. “Tuổi tác của tôi sẽ tha cho tôi khỏi mấy trò này.” Một ý tưởng lóe lên trong đầu ông. “Cắt một chiếc khăn ăn kẹp dưới nách. Thế là xong, tôi sẽ hóa thành một bồi bàn luống tuổi đã trải qua nhiều thăng trầm.”
Ông bật cười.
“Một nghề nghiệp thú vị đấy chứ,” ông Quin nói. “Người ta được chứng kiến biết bao điều.”
“Tôi đành phải xỏ mình vào cái bộ dạng Pierrot ngốc nghếch nào đó vậy,” Denman ủ rũ nói. “Dù sao thì mặc thế cũng mát mẻ, được cái này mất cái kia. Thế còn anh thì sao?” Anh ta nhìn sang Oranoff.
“Tôi có sẵn một bộ trang phục Harlequin,” người đàn ông Nga đáp. Ánh mắt ông ta thoáng lướt qua gương mặt nữ chủ nhà trong giây lát.
Ông Satterthwaite tự hỏi liệu mình có nhầm lẫn không khi tưởng tượng ra rằng vừa có một khoảnh khắc gượng gạo thoáng qua.
“Lẽ ra chúng ta đã có tới ba chàng Harlequin ấy chứ,” Denman cười lớn nói. “Tôi vẫn còn giữ một bộ trang phục Harlequin cũ mà vợ tôi làm cho tôi trong những ngày đầu mới cưới để biểu diễn trong một chương trình nào đó.” Anh ta khừng lại, cúi xuống nhìn phần ngực áo sơ-mi rộng thênh thang của mình. “Chắc bây giờ tôi chẳng tài nào ních nổi vào nó nữa rồi.”
“Vâng,” vợ anh ta nói, “anh không thể nào mặc vừa nó nữa đâu.” Và một lần nữa, giọng nói của bà lại mang theo một tầng ý nghĩa sâu xa hơn cả những từ ngữ thốt ra.
Bà ngước nhìn chiếc đồng hồ treo tường. “Nếu con bé Molly không xuất hiện sớm, chúng ta sẽ không đợi nó nữa.”
Nhưng đúng lúc đó thì có tiếng thông báo cô gái đã đến. Cô khoác trên mình bộ trang phục Pierrette mang hai sắc trắng và xanh lá, trông vô cùng duyên dáng, ông Satterthwaite thầm thán phục ngắm nhìn.
Cô đang tràn ngập trong sự hào hứng và nhiệt huyết đối với buổi biểu diễn sắp tới. “Thế nhưng cháu bắt đầu thấy hồi hộp quá chú ạ,” cô thông báo trong lúc mọi người dùng cà phê sau bữa tối. “Cháu biết là giọng cháu sẽ bị run và cháu sẽ quên sạch lời cho mà xem.”
“Giọng của cháu rất đỗi quyến rũ,” Anna nói. “Nếu là cháu, tôi sẽ chẳng phải lo lắng về điều đó đâu.”
“Ồ, nhưng cháu vẫn lo chứ ạ. Mấy thứ khác thì cháu không bận tâm đâu—ý cháu là chuyện khiêu vũ ấy. Chắc chắn là sẽ ổn thỏa thôi mà. Ý cháu là, đôi chân của mình thì làm sao mà đi lệch đường đi xa quá được cơ chứ, phải không ạ?”
Cô hướng ánh nhìn cầu viện về phía Anna, nhưng người phụ nữ lớn tuổi không đáp lại. Thay vào đó, bà cất lời: “Hãy hát cho ông Satterthwaite nghe một bài đi cháu. Cháu sẽ thấy ông ấy sẽ giúp cháu lấy lại sự tự tin đấy.”
Molly bước đến bên cây đàn piano. Giọng hát của cô cất lên, trong trẻo và đầy giai điệu trong một khúc ca cổ Ireland:
“Sheila hỡi, Sheila u sầu, em đang nhìn thấy điều chi?
Em đang nhìn thấy điều chi, nhìn thấy điều chi trong ngọn lửa?
'Em thấy một chàng trai yêu em—và em thấy một chàng trai bỏ em đi,
và một chàng trai thứ ba, một Chàng Trai Bóng Tối—và chính cậu ta là kẻ làm em đau khổ.' ”
Bài hát tiếp diễn. Khi dứt lời, ông Satterthwaite nhiệt liệt gật đầu tán thưởng.
“Bà Denman nói rất đúng. Giọng của cháu thật quyến rũ. Có lẽ chưa được luyện tập một cách bài bản cho lắm, nhưng lại mang vẻ tự nhiên đến mê hồn, và ẩn chứa chất giọng mộc mạc nguyên sơ của tuổi trẻ trong đó.”
“Chuẩn rồi đấy,” John Denman phụ họa. “Cứ tiến lên đi Molly, đừng để nỗi sợ sân khấu làm nhụt chí. Tốt hơn là chúng ta nên sang nhà Roscheimer thôi.”
Mọi người tản ra để khoác áo choàng. Đêm nay là một đêm tuyệt đẹp và họ định bụng sẽ đi bộ sang đó, vì ngôi nhà chỉ cách đó chừng vài trăm thước dọc theo con đường cái.
Ông Satterthwaite bước đi sát bên người bạn của mình.
“Thật kỳ lạ,” ông lên tiếng, “nhưng bài hát đó cứ khiến tôi liên tưởng đến anh. Một chàng trai thứ ba—một Chàng Trai Bóng Tối—ở đó ẩn chứa sự huyền bí, và bất cứ nơi nào có sự huyền bí là tôi... ừm, lại nghĩ ngay đến anh.”
“Tôi mang nhiều vẻ huyền bí đến thế sao?” ông Quin mỉm cười hỏi.
Ông Satterthwaite nhiệt tình gật đầu. “Vâng, thực sự là vậy đấy. Anh có biết không, cho đến tận tối nay, tôi hoàn toàn không hề hay biết rằng anh lại là một vũ công chuyên nghiệp đấy.”
“Thế ư?” ông Quin thản nhiên đáp.
“Hãy nghe này,” ông Satterthwaite nói. Ông khẽ ngân nga giai điệu tình yêu trích từ vở Walküre. “Đó chính là giai điệu cứ vang vọng mãi trong đầu tôi suốt bữa tối nay khi tôi ngắm nhìn hai con người ấy.”
“Hai người nào cơ?”
“Hoàng tử Oranoff và bà Denman. Anh có nhận ra sự khác biệt ở bà ấy tối nay không? Cảm giác như thể... như thể một cánh cửa chớp vừa bất ngờ được mở toang và anh nhìn thấy thứ ánh sáng rực rỡ đang bùng cháy bên trong vậy.”
“Vâng,” ông Quin nói. “Có lẽ là thế.”
“Vẫn là vở kịch muôn thuở ấy,” ông Satterthwaite nói. “Tôi nói đúng chứ nhỉ? Hai con người ấy sinh ra là dành cho nhau. Họ thuộc về cùng một thế giới, suy nghĩ những điều giống nhau, mơ những giấc mơ giống nhau. Người ta có thể dễ dàng nhận ra mọi chuyện diễn ra như thế nào. Mười năm trước Denman hẳn phải là một chàng trai vô cùng khôi ngô, trẻ trung, bảnh bao, một nhân vật bước ra từ trang tiểu thuyết lãng mạn. Và anh ta đã cứu mạng cô ấy. Tất cả đều rất đỗi tự nhiên. Nhưng bây giờ... xét cho cùng thì anh ta là gì cơ chứ? Một người đàn ông tốt bụng—thành đạt, giàu có—nhưng... ừm, lại tầm thường. Những chất liệu Anh quốc chân chất, thuần khiết—giống y như đúc bộ đồ nội thất Hepplewhite trên lầu vậy. Cổ điển và bình thường hệt như... cô tiểu thư người Anh xinh xắn với giọng hát trong trẻo chưa qua đào tạo kia. Ồ, anh có thể mỉm cười đấy, ông Quin ạ, nhưng anh không thể chối cãi những gì tôi đang nói đâu.”
“Tôi chẳng chối cãi điều gì cả. Trong những gì anh nhìn thấy, anh lúc nào cũng đúng. Thế nhưng—”
“Thế nhưng sao cơ?”
Ông Quin chồm người về phía trước. Đôi mắt sậm màu, đầy vẻ u uất của ông xoáy sâu vào đôi mắt ông Satterthwaite. “Anh đã học được từ cuộc đời ít ỏi đến thế sao?” ông thì thào.
Ông để mặc ông Satterthwaite trong nỗi hoang mang mơ hồ, chìm đắm đến mức khi nhận ra thì mọi người đã khởi hành đi trước từ lúc nào do ông cứ lề mề chọn khăn quàng cổ. Ông bước ra ngoài lối khu vườn, đi qua cánh cửa hèn lúc chiều. Con hẻm ngập tràn ánh trăng, và ngay khi vừa đặt chân ra cửa, ông đã nhìn thấy một cặp đôi đang ôm siết lấy nhau trong vòng tay của đối phương.
Trong một khoảnh khắc, ông thầm nghĩ—
Và rồi ông tận mắt nhìn rõ. John Denman và Molly Stanwell. Giọng John Denman vọng đến tai ông, khàn đợt và đầy nỗi dằn vặt khẩn thiết.
“Anh không thể sống thiếu em được. Chúng ta phải làm thế nào đây?”
Ông Satterthwaite quay người định đi ngược lại lối cũ, nhưng một bàn tay đã giữ chặt ông lại. Một bóng người khác đang đứng ngay cạnh ông ở khung cửa, một bóng người có đôi mắt cũng vừa chứng kiến cảnh tượng ấy.
Ông Satterthwaite chỉ cần liếc qua gương mặt bà một cái là đủ hiểu mọi suy luận của mình đã sai lệch điên rồ đến nhường nào.
Bàn tay đầy nỗi đau đớn của bà níu chặt lấy ông cho đến khi hai con người kia khuất bóng dọc theo con hẻm. Ông nghe thấy chính mình đang cất lời với bà, thốt ra những lời an ủi ngớ ngẩn nhỏ nhoi cốt để xoa dịu, nhưng lại vô vọng đến thảm hại trước nỗi đau cùng cực mà ông vừa linh cảm được. Bà chỉ cất lời đúng một lần duy nhất.
“Làm ơn,” bà nói, “đừng rời bỏ tôi.”
Ông thấy câu nói ấy thật kỳ lạ và cảm động làm sao. Hóa ra, ông vẫn còn có ích với một ai đó. Và ông tiếp tục thốt ra những lời chẳng mang chút ý nghĩa nào, nhưng thế quái nào lại tốt hơn sự im lặng. Họ cứ thế bước đi trên con đường đó để hướng về nhà Roscheimer. Thỉnh thoảng tay bà lại siết chặt lên vai ông, và ông hiểu rằng bà đang cảm thấy biết ơn vì có sự hiện diện của ông bên cạnh. Bà chỉ buông tay ra khi họ chính thức đặt chân đến đích. Bà đứng thẳng người, ngẩng cao đầu.
“Bây giờ,” bà nói, “tôi sẽ khiêu vũ! Đừng lo lắng cho tôi, người bạn của tôi ạ. Tôi sẽ khiêu vũ.”
Bà rời đi một cách đột ngột. Ông bị phu nhân Roscheimer túm lấy, người đang đeo đầy kim cương và ngập chìm trong những lời than vãn. Rồi bà lại chuyền ông sang cho Claude Wickam.
“Tiêu đời! Hoàn toàn tiêu đời rồi. Đúng cái loại chuyện lúc nào cũng giáng xuống đầu tôi. Mấy kẻ nhà quê này cứ tưởng mình biết nhảy múa cơ chứ. Chẳng thèm hỏi ý kiến tôi lấy một tiếng...”
Giọng hắn cứ rả rích không dứt. Hắn đã tìm được một người lắng nghe vô cùng thấu cảm, một kẻ thực sự am hiểu. Hắn đắm chìm vào một bữa tiệc tự thương hại bản thân. Mọi thứ chỉ thực sự chấm dứt khi những nốt nhạc đầu tiên vang lên.
Ông Satterthwaite sực tỉnh khỏi cõi mộng mị. Ông lấy lại ngay vẻ tinh anh sắc sảo của một nhà phê bình. Wickam dẫu có là một tên ngốc không thể cứu vãn đi nữa, thì hắn vẫn biết cách viết nhạc—thứ âm nhạc mỏng manh tựa tơ nhện, vô hình như mạng sương tiên—nhưng lại hoàn toàn không mang chút vẻ ủy mị hời hợt nào.
Khung cảnh sân khấu rất đẹp. Phu nhân Roscheimer chưa bao giờ tiếc tiền khi tài trợ cho những nghệ sĩ được bảo hộ của mình. Một khoảng rừng thanh bình xứ Arcadia với hệ thống chiếu sáng tạo nên bầu không khí hư ảo đích thực.
Hai hình bóng đang khiêu vũ tựa hồ như họ đã múa như thế suốt từ thời hồng hoang vô tận. Một gã Harlequin mảnh khảnh đang lấp lánh ánh kim sa dưới trăng với chiếc gậy thần kỳ và chiếc mặt nạ che kín mặt, một nàng Columbine mặc váy trắng đang nhún nhảy xoay vòng tựa như một giấc mơ bất tử—
Ông Satterthwaite ngồi thẳng người dậy. Ông đã từng trải qua cảnh tượng này rồi. Vâng, chắc chắn là thế—
Lúc này thân xác ông đang ở cách xa phòng khách nhà Roscheimer. Nó đang đứng trong một bảo tàng ở Berlin ngắm nhìn bức tượng nhỏ về một nàng Columbine bất tử.
Harlequin và Columbine tiếp tục khiêu vũ. Cả thế giới rộng lớn này là sàn diễn cho họ mặc sức tung hoành.
Ánh trăng—và một bóng hình con người. Pierrot lang thang qua khu rừng, cất tiếng ca hướng về ánh trăng. Pierrot, kẻ đã nhìn thấy Columbine và chẳng thể tìm được chốn bình yên. Hai bóng hình bất tử vụt biến mất, nhưng Columbine ngoảnh đầu nhìn lại. Cô đã nghe thấy tiếng lòng của một con tim phàm trần.
Pierrot tiếp tục lang thang qua khu rừng—bóng tối bao trùm—giọng hát của chàng lịm dần vào cõi xa xăm—
Khoảnh sân làng—những thiếu nữ thôn quê đang khiêu vũ—những chàng Pierrot và nàng Pierrette. Molly trong vai Pierrette. Không phải là một vũ công—Anna Denman đã hoàn toàn đúng trong chuyện đó—nhưng sở hữu một giọng ca trong trẻo dạt dào cảm xúc khi cô cất lời ca, “Pierrette khiêu vũ trên sân cỏ.”
Một giai điệu hay—ông Satterthwaite gật đầu tán thưởng. Wickam không đến nỗi tồi khi viết ra một giai điệu bắt tai mỗi khi cần thiết. Đa số các cô thôn nữ khiến ông nổi da gà, nhưng ông nhận thức được rằng phu nhân Roscheimer mang tinh thần từ thiện vô cùng kiên định.
Họ nài nỉ Pierrot cùng tham gia điệu nhảy. Chàng từ chối. Với gương mặt tái mét, chàng tiếp tục lang thang vô định—kẻ tình si muôn thuở mãi đi tìm hình bóng lý tưởng của đời mình. Buổi chiều buông xuống. Harlequin và Columbine, trong hình hài vô hình, lượn lờ thoắt ẩn thoắt hiện giữa đám đông vô tri. Khung cảnh vắng tanh, chỉ còn lại Pierrot mệt mỏi gục đầu chìm vào giấc ngủ trên bãi cỏ. Harlequin và Columbine múa vòng quanh chàng. Chàng choàng tỉnh và trông thấy Columbine. Chàng van nài níu kéo nàng trong vô vọng, cầu xin, khẩn khoản—
Nàng đứng ngập ngừng. Harlequin ra hiệu kêu gọi nàng rời đi. Nhưng nàng chẳng còn nhìn thấy hắn nữa. Nàng đang lắng nghe tiếng lòng của Pierrot, nghe khúc ca tình yêu đang trào dâng một lần nữa từ chàng. Nàng ngã vào vòng tay Pierrot, và tấm màn nhung hạ xuống.
Màn thứ hai diễn ra tại ngôi nhà nhỏ của Pierrot. Columbine đang ngồi bên lò sưởi nhà chàng. Nàng xanh xao, mệt mỏi. Nàng đang lắng nghe điều gì? Pierrot cất tiếng hát du dương cho nàng nghe—vỗ về kéo tâm trí nàng quay trở về với mình một lần nữa. Buổi chiều tối sầm lại. Tiếng sấm vang rền. Columbine đặt chiếc guồng quay sợi sang một bên. Nàng hân hoan, rạo rực. Nàng chẳng thèm lắng nghe Pierrot nữa. Âm nhạc của riêng nàng đang tràn ngập trong không gian, thứ âm nhạc của Harlequin và Columbine. Nàng đã bừng tỉnh. Nàng đã nhớ lại.
Một tiếng sét đánh đinh tai nhức óc! Harlequin xuất hiện sừng sững ở khung cửa. Pierrot không thể nhìn thấy hắn, nhưng Columbine bật dậy với một tiếng cười hoan hỉ. Lũ trẻ chạy ùa tới, nhưng nàng đẩy phăng chúng ra. Giữa một tiếng sét lớn khác, những bức tường sụp đổ, và Columbine bước vụt ra ngoài đêm giông bão cùng Harlequin.
Bóng tối bao trùm, văng vẳng trong đó là giai điệu mà Pierrette vừa hát. Ánh sáng từ từ trở lại. Ngôi nhà nhỏ hiện ra một lần nữa. Pierrot và Pierrette, giờ đã già nua mái đầu điểm bạc, đang ngồi sưởi ấm trước lò sưởi trên hai chiếc ghế bành. Khúc nhạc thật êm đềm nhưng đượm buồn. Pierrette gật gà gật gù trên ghế. Xuyên qua khung cửa sổ là một luồng ánh sáng trăng rọi vào, mang theo giai điệu của khúc ca thuở nào bị Pierrot lãng quên từ lâu. Chàng khẽ cựa mình trên ghế.
Khúc nhạc thoang thoảng—âm nhạc tiên giới—Harlequin và Columbine đang ở ngoài kia. Cánh cửa bật mở và Columbine khiêu vũ bước vào. Nàng cúi người sát bên Pierrot đang say ngủ, đặt một nụ hôn lên đôi môi chàng.
Rầm! Một tiếng sấm nổ vang. Nàng đã ra ngoài ấy từ lúc nào. Ngay giữa sân khấu là khung cửa sổ được thắp sáng và qua đó người ta nhìn thấy hai bóng hình của Harlequin và Columbine đang chầm chậm khiêu vũ khuất dần... khuất dần vào cõi xa xăm...
Một khúc củi mục rơi xuống. Pierrette tức giận chồm dậy, lao phắt về phía khung cửa sổ và giật mạnh tấm rèm che lại. Câu chuyện kết thúc như thế, trong một âm hưởng chói tai bất chợt.
Ông Satterthwaite ngồi lặng phắc giữa tràng pháo tay và những tiếng hò reo vang dội. Cuối cùng ông đứng dậy tìm đường ra ngoài. Ông bắt gặp Molly Stanwell, mặt đỏ bừng đầy vẻ háo hức đang đón nhận những lời tán dương. Ông nhìn thấy John Denman đang len lỏi chen chúc qua đám đông, đôi mắt sáng rực lên một ngọn lửa mới. Molly bước về phía ông, nhưng một cách vô thức, ông gạt cô sang một bên. Không phải cô là người ông đang tìm kiếm.
“Vợ tôi đâu? Cô ấy đâu rồi?”
“Cháu nghĩ bác ấy ra vườn rồi ạ.”
Tuy nhiên, chính ông Satterthwaite mới là người tìm ra bà, khi bà đang ngồi trên một chiếc ghế đá dưới tán cây bách. Khi bước đến bên bà, ông làm một hành động kỳ lạ. Ông quỳ xuống và nâng bàn tay bà lên đặt nhẹ lên môi mình.
“À!” bà nói. “Anh nghĩ tôi múa đẹp lắm phải không?”
“Bà múa... hệt như những gì bà từng múa trước đây, thưa phu nhân Kharsanova.”
Bà hít một hơi thật sâu. “Thế ra... anh đã đoán ra rồi.”
“Chỉ có duy nhất một Kharsanova trên đời này. Không ai có thể xem bà múa mà lại quên được. Nhưng tại sao... tại sao cơ chứ?”
“Còn con đường nào khác nữa đâu chứ?”
“Ý bà là sao?”
Bà vừa nói rất đỗi giản dị. Và bây giờ bà cũng giản dị y như vậy.
“Ồ, nhưng anh hiểu mà. Anh là người từng trải. Một nữ vũ công vĩ đại—cô ta có thể có những người tình, đúng thế—nhưng một người chồng, lại là chuyện khác hoàn toàn. Và anh ấy... anh ấy không muốn điều đó. Anh ấy muốn tôi thuộc về anh ấy theo cách... mà Kharsanova chưa bao giờ có thể thuộc về ai.”
“Tôi hiểu rồi,” ông Satterthwaite nói. “Tôi hiểu rồi. Thế nên bà đã từ bỏ tất cả ư?”
Bà gật đầu.
“Chắc hẳn bà phải yêu ông ấy rất nhiều,” ông Satterthwaite nhẹ nhàng nói.
“Đến mức phải hy sinh cả sự nghiệp ư?” Bà bật cười.
“Không hẳn thế. Mà là từ bỏ nó một cách nhẹ bẫng đến thế.”
“À vâng... có lẽ... anh nói đúng.”
“Và bây giờ thì sao?” ông Satterthwaite hỏi.
Gương mặt bà trở nên trầm ngâm. “Bây giờ ư?” Bà ngưng lại, rồi cất cao giọng hướng thẳng vào bóng tối phía trước.
“Anh đấy à, Sergius Ivanovitch?”
Hoàng tử Oranoff bước ra dưới ánh trăng. Ông ta nắm lấy tay bà và mỉm cười nhìn ông Satterthwaite mà chẳng hề có chút ngượng ngùng nào.
“Mười năm trước tôi từng tiếc thương cho sự ra đi của Anna Kharsanova,” ông ta điềm tĩnh nói. “Đối với tôi, bà ấy chính là một nửa linh hồn khác. Ngày hôm nay tôi đã tìm lại được bà ấy rồi. Chúng ta sẽ không bao giờ phải chia xa nữa.”
“Gặp nhau ở cuối con hẻm trong mười phút nữa nhé,” Anna nói. “Tôi sẽ không lỗi hẹn đâu.”
Oranoff gật đầu rồi quay người bước đi. Nữ vũ công quay sang nhìn ông Satterthwaite. Một nụ cười phảng phất trên đôi môi bà.
“Thế nào... anh vẫn chưa thỏa mãn sao, người bạn của tôi?”
“Bà có biết không,” ông Satterthwaite cất lời dồn dập, “chồng bà đang đi tìm bà đấy chứ?”
Ông nhìn thấy cái giật mình thoáng qua trên gương mặt bà, nhưng giọng nói của bà vẫn vô cùng kiên định. “Vâng,” bà trầm tĩnh đáp. “Chuyện đó hoàn toàn có thể xảy ra mà.”
“Tôi đã nhìn thấy ánh mắt anh ấy. Chúng...” Ông khựng lại.
Bà vẫn điềm tĩnh đến lạ thường.
“Vâng, có lẽ thế. Chỉ trong một giờ đồng hồ thôi. Một giờ phép thuật, sinh ra từ những ký ức thuở trước, từ âm nhạc, từ ánh trăng. Chỉ có vậy thôi.”
“Vậy thì chẳng còn gì để tôi có thể nói nữa sao?” Ông cảm thấy già nua và chán nản.
“Suốt mười năm qua tôi đã sống cùng người đàn ông tôi yêu,” Anna Kharsanova nói. “Bây giờ tôi chuẩn bị bước đến bên người đàn ông đã dành mười năm trời để yêu thương tôi.”
Ông Satterthwaite im lặng. Ông chẳng còn lý lẽ nào để nói nữa. Hơn nữa, đó dường như lại là cách giải quyết đơn giản nhất. Chỉ có điều—
Chỉ có điều, không hiểu sao, đó lại không phải là kết cục mà ông mong muốn. Ông cảm nhận được bàn tay bà đang đặt lên vai mình.
“Tôi hiểu chứ, bạn tôi ạ, tôi hiểu chứ. Nhưng chẳng có con đường thứ ba nào cả. Con người ta lúc nào cũng mải miết đi tìm một thứ duy nhất—người tình, một nửa hoàn hảo, người tình vĩnh cửu. Đó chính là thứ âm nhạc của Harlequin mà người ta vẫn hằng nghe thấy. Chẳng có người tình nào làm ta thỏa mãn được cả, bởi vì mọi người tình đều là phàm trần. Và Harlequin chỉ là một huyền thoại, một sự hiện diện vô hình—trừ khi—”
“Vâng,” ông Satterthwaite nói. “Trừ khi nào?”
“Trừ khi... tên của hắn là—Cái Chết!”
Ông Satterthwaite rùng mình một cái. Bà bước lùi ra xa ông, rồi chìm khuất vào trong màn đêm tĩnh mịch.
Ông chưa bao giờ biết chính xác mình đã ngồi lặng ở đó bao lâu, nhưng rồi đột nhiên ông choàng đứng dậy với cảm giác rằng mình vừa hoài phí một khoảng thời gian quý giá. Ông vội vã bước đi, bị thôi thúc tiến về một hướng nhất định gần như bất chấp ý muốn của bản thân.
Khi bước ra ngoài con hẻm, ông có một cảm giác kỳ lạ về sự phi thực tế. Phép thuật—phép thuật và ánh trăng. Và hai bóng hình đang tiến về phía ông.
Oranoff trong bộ trang phục Harlequin. Ban đầu ông đã nghĩ thế. Nhưng rồi khi họ lướt qua người, ông nhận ra mình đã nhầm. Bóng hình mềm mại uyển chuyển ấy chỉ thuộc về duy nhất một người—ông Quin.
Họ tiếp tục bước xuống con hẻm—bước chân nhẹ bẫng tựa hồ như đang dẫm đạp lên những tầng mây. Ông Quin quay đầu nhìn lại, và ông Satterthwaite giật nảy mình một cú shock, bởi vì đó không phải là gương mặt của ông Quin mà ông từng thấy trước đây. Đó là gương mặt của một kẻ xa lạ—không, không hẳn là một kẻ xa lạ. À, ông nhớ ra rồi, đó chính là gương mặt của John Denman vào khoảnh khắc trước khi cuộc đời trở nên quá đỗi thuận buồm xuôi gió với anh ta! Tràn đầy nhiệt huyết, phiêu lưu, gương mặt vừa mang nét mặt của một thiếu niên lại vừa phảng phất chất lãng tử của một người tình.
Tiếng cười của bà ngân vang vọng lại bên tai ông, trong trẻo và hạnh phúc... Ông dõi theo bóng họ và nhìn thấy từ xa ánh đèn của một ngôi nhà nhỏ. Ông ngẩn ngơ nhìn theo tựa như một kẻ đang mơ màng trong giấc mộng.
Ông thô bạo bị đánh thức bởi một bàn tay giáng xuống vai khiến ông quay phắt người lại đối mặt với Sergius Oranoff. Gã đàn ông trông tái mét và đầy vẻ hoảng loạn.
“Cổ đâu? Cổ đâu rồi? Cô ấy hứa là... vậy mà sao vẫn chưa tới.”
“Bà chủ vừa mới đi lên con hẻm rồi ạ—một mình.”
Đó là giọng của người hầu gái của bà Denman cất lên từ bóng tối của cánh cửa phía sau họ. Cô ta đang đứng đợi sẵn với áo khoác của bà chủ.
“Tôi đứng đây nãy giờ và tận mắt thấy cô ấy đi qua,” cô ta nói thêm.
Ông Satterthwaite thốt lên một từ lạnh lùng cộc lốc với cô ta.
“Một mình ư? Cô vừa bảo là đi một mình sao?”
Đôi mắt người hầu gái trố lên đầy kinh ngạc. “Vâng, thưa ngài. Chẳng lẽ ngài không thấy cô ấy sao?”
Ông Satterthwaite chộp lấy cánh tay Oranoff. “Nhanh lên,” ông lẩm bẩm. “Tôi... tôi đang thấy sợ lắm.”
Họ cùng nhau vội vã chạy xuống con hẻm, người đàn ông Nga liên tục lẩm bẩm những câu nói ngắt quãng, đứt quãng.
“Cổ là một sinh linh kỳ diệu. Chà! Cổ múa tuyệt vời làm sao trong đêm nay. Cả người bạn của anh nữa chứ. Anh ta là ai vậy? Chà, anh ta thật tuyệt vời... độc nhất vô nhị. Vào những ngày xưa cũ, khi cổ múa vở Columbine của Rimsky-Korsakoff, cổ chưa từng tìm thấy một gã Harlequin hoàn hảo nào cả. Mordroff, Kassnine—chẳng ai trong số họ là hoàn hảo cả. Cổ luôn có chút ảo tưởng nho nhỏ của riêng mình. Cổ từng kể với tôi về điều đó một lần. Cổ luôn khiêu vũ cùng một giấc mơ Harlequin—một người đàn ông không hề có thật bằng xương bằng thịt. Cổ bảo rằng chính bản thân Harlequin mới là kẻ đến khiêu vũ cùng cô ấy. Chính cái ảo tưởng đó đã làm nên một nàng Columbine tuyệt diệu đến thế ở con người cổ.”
Ông Satterthwaite gật đầu. Trong đầu ông lúc này chỉ tồn tại duy nhất một ý nghĩ. “Nhanh lên,” ông giục giã. “Chúng ta phải đến kịp lúc. Ôi, chúng ta buộc phải đến kịp lúc.”
Họ vòng qua khúc cua cuối cùng—tiến đến chiếc hố sâu và chạm mặt thứ đang nằm dưới đáy hố mà ban nãy chưa hề có ở đó, thi thể của một người phụ nữ đang nằm trong một tư thế kỳ diệu với đôi tay dang rộng và phần đầu ngả hẳn ra sau. Gương mặt và thân xác của một người đã khuất mang vẻ đẹp đắc thắng và lộng lẫy dưới ánh trăng rọi chiếu.
Những từ ngữ mơ hồ dội ngược trở lại trong tâm trí ông Satterthwaite—những lời của ông Quin:— “những thứ tuyệt vời trên một bãi rác...” Giờ thì ông đã hiểu thấu đáo những lời ấy rồi.
Oranoff đang lẩm bẩm những câu từ đứt quãng nghẹn ngào. Những giọt nước mắt lã chã tuôn rơi trên gương mặt ông ta.
“Tôi yêu cô ấy. Lúc nào tôi cũng yêu cô ấy.” Ông ta thốt ra những từ ngữ gần như y hệt những gì đã hiện lên trong đầu ông Satterthwaite ban ngày. “Chúng tôi vốn thuộc về cùng một thế giới, cô ấy và tôi. Chúng tôi có chung những suy nghĩ, chung những giấc mơ. Tôi sẽ mãi mãi yêu cô ấy—”
“Làm sao anh biết chắc được điều đó?”
Gã đàn ông Nga ngẩng lên trân trân nhìn ông—với vẻ cáu kỉnh bực dọc trong giọng điệu.
“Làm sao anh biết được chứ?” ông Satterthwaite tiếp lời. “Đó là điều mà tất cả những kẻ đang yêu đều nghĩ—điều mà tất cả những kẻ đang yêu đều thốt lên. Trên đời này chỉ có duy nhất một người tình mà thôi—”
Ông quay phắt người lại và suýt va phải ông Quin. Trong cơn hoảng hốt, ông Satterthwaite chộp lấy tay ông ta kéo giật sang một bên.
“Chính là anh,” ông nói. “Chính anh là người đã ở bên cô ấy ban nãy phải không?”
Ông Quin chờ đợi một lát rồi mới nhẹ nhàng cất lời: “Anh có thể hiểu theo cách đó, nếu anh muốn.”
“Và con hầu gái đã không nhìn thấy anh sao?”
“Con hầu gái đã không nhìn thấy tôi.”
“Nhưng tôi thì có. Tại sao lại thế?”
“Có lẽ, là kết quả từ cái giá mà anh đã trả, nên anh mới nhìn thấy những thứ mà người khác... không thể thấy.”
Ông Satterthwaite đờ đẫn nhìn ông ta vẻ ngơ ngác trong một hai phút. Rồi bỗng nhiên toàn thân ông bắt đầu run lẩy bẩy tựa như chiếc lá trước gió mùa. “Nơi này là đâu vậy?” ông thì thào. “Nơi này rốt cuộc là đâu?”
“Tôi đã nói với anh từ ban ngày rồi mà. Đây là con hẻm của tôi.”
“Một ‘Lối đi của những người tình’,” ông Satterthwaite lẩm bẩm. “Và con người ta vẫn đi qua nơi này.”
“Hầu hết mọi người, sớm muộn gì cũng thế thôi.”
“Và ở tận cùng của nó... họ sẽ tìm thấy những gì?”
Ông Quin mỉm cười. Giọng ông vô cùng dịu dàng. Ông chỉ tay về phía ngôi nhà hoang phía trên bọn họ. “Ngôi nhà của những giấc mơ... hay một bãi rác phế thải—nào ai dám chắc được chứ?”
Ông Satterthwaite bất ngờ ngước lên nhìn ông ta. Một sự phản kháng điên cuồng dâng trào trong lòng ông. Ông cảm thấy mình bị lừa gạt, bị tước đoạt.
“Nhưng còn tôi—” giọng ông run rẩy. “Tôi chưa từng bước đi qua con hẻm của anh.”
“Và anh có hối tiếc không?”
Ông Satterthwaite chùng xuống sợ hãi. Ông Quin lúc này dường như cao lớn sừng sững đến mức đáng sợ. Ông Satterthwaite thoáng thấy trước mắt một tầm vóc vừa mang hơi hướng đe dọa lại vừa kinh hoàng. Niềm Vui, Nỗi Buồn, Sự Tuyệt Vọng.
Và tâm hồn nhỏ bé tiện nghi của ông rụt rè co rúm lại đầy hoảng sợ.
“Anh có hối tiếc không?” Ông Quin lặp lại câu hỏi. Có điều gì đó thật đáng sợ ở con người ông.
“Không,” ông Satterthwaite lắp bắp. “K... Không.”
Và rồi đột nhiên ông lấy lại được tinh thần.
“Nhưng tôi được nhìn thấy mọi thứ đấy chứ!” ông kêu lên. “Tôi có thể chỉ là một kẻ đứng bên lề ngắm nhìn Cuộc Đời—nhưng tôi nhìn thấy những thứ mà người khác không thấy được. Chính anh đã nói vậy mà, ông Quin.”
Nhưng ông Quin đã biến mất tự lúc nào.