Những Vụ Án Của Poirot

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv

❊ ❊ ❊

Bí ẩn tại Hunter’s Lodge

“Suy cho cùng,” Poirot thì thầm, “biết đâu lần này tôi lại không chết.”

Thốt ra từ miệng một bệnh nhân vừa hồi phục sau trận cúm, câu nói ấy được tôi đón nhận như một tia lạc quan đầy ích lợi. Bản thân tôi đã là nạn nhân đầu tiên của căn bệnh, rồi đến lượt Poirot ngã quệnh. Giờ đây, anh đang ngồi dựa lưng vào gối trên giường, đầu quấn kín trong một chiếc khăn len, thong thả nhấp từng ngụm thứ nước thảo dược đắng ngắt mà tôi đã pha theo đúng chỉ dẫn của anh. Ánh mắt anh đầy vẻ mãn nguyện dừng lại trên dãy lọ thuốc được sắp xếp ngay ngắn trên bệ lò sưởi.

“Đúng vậy, đúng vậy,” người bạn nhỏ của tôi tiếp lời. “Một lần nữa tôi sẽ lại là chính mình, là Hercule Poirot vĩ đại, nỗi khiếp sợ của những kẻ gian ác! Anh hãy tưởng tượng xem, mon ami, tôi thậm chí có cả một mục nhỏ riêng trong chuyên mục Chuyện phiếm Thượng lưu đấy! Ôi, thật thế chứ! Nó đây rồi: ‘Hỡi các tội phạm—hãy cứ quậy tưng bừng đi! Hercule Poirot—và tin tôi đi, các cô gái, anh ấy đúng là một vị thần Hercules thực thụ!—thám tử thượng lưu cưng của chúng ta vẫn chưa thể tóm được các người đâu. Tại sao ư? Vì chính anh ấy cũng đang mắc cúm rồi còn gì!’”

Tôi bật cười.

“Hay cho anh đấy, Poirot. Anh đang dần trở thành một nhân vật của công chúng rồi đấy. Và may mắn là anh không bỏ lỡ bất kỳ chi tiết thú vị nào trong suốt thời gian qua.”

“Đúng thế. Những vụ án ít ỏi mà tôi buộc phải từ chối chẳng mang lại cho tôi chút tiếc nuối nào.”

Bà chủ nhà thò đầu qua cánh cửa.

“Có một quý ông ở dưới tầng ạ. Cậu ấy bảo phải gặp bằng được ông Poirot hoặc ngài Đại úy. Thấy cậu ấy có vẻ vô cùng hoảng hốt—mà trông vẫn rất đỗi lịch thiệp—nên em đã mang danh thiếp lên đây.”

Bà đưa cho tôi mảnh bìa cứng. “Ông Roger Havering,” tôi đọc lớn.

Poirot hất đầu về phía giá sách, và tôi ngoan ngoãn với lấy cuốn “Who’s Who”. Poirot cầm lấy từ tay tôi và nhanh chóng lướt qua các trang sách.

“Con trai thứ của Nam tước Windsor đời thứ năm. Kết hôn năm 1913 với Zoe, con gái thứ tư của William Crabb.”

“Hừm!” tôi thốt lên. “Tôi hơi mang Máng rằng đó chính là cô diễn viên từng biểu diễn ở nhà hát Frivolity—chỉ là cô ấy lấy nghệ danh là Zoe Carrisbrook. Tôi nhớ cô ấy đã kết hôn với một công tử bột nào đó ngay trước thềm Chiến tranh.”

“Hastings, anh có hứng thú đi xuống dưới đó để nghe xem vị khách của chúng ta gặp rắc rối nhỏ gì không? Hãy cáo lỗi hộ tôi nhé.”

Roger Havering là một người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, dáng người cân đối và lịch lãm. Tuy nhiên, khuôn mặt anh ta lại phờ phạc, và rõ ràng đang chịu đựng một sự kích động cực độ.

“Đại úy Hastings phải không ạ? Tôi được biết ông là cộng sự của Monsieur Poirot. Việc ngài ấy phải cùng tôi đi đến Derbyshire ngay trong ngày hôm nay là điều bắt buộc.”

“Tôi e là điều đó không thể,” tôi đáp. “Poirot đang ốm liệt giường vì cúm.”

Khuôn mặt anh ta chùng xuống.

“Trời ạ, đó quả là một cú sốc lớn đối với tôi.”

“Vấn đề mà anh muốn tham khảo ý kiến ngài ấy rất nghiêm trọng sao?”

“Chúa tôi, đúng vậy! Chú tôi, người bạn tốt nhất của tôi trên đời này, đã bị sát hại dã man vào đêm qua.”

“Ngay tại London ư?”

“Không, ở Derbyshire. Tôi đang ở trong thành phố thì nhận được bức điện tín từ vợ tôi vào sáng nay. Ngay khi nhận được tin, tôi lập tức quyết định đến đây để cầu xin Monsieur Poirot nhận vụ án này.”

“Nếu anh thứ lỗi cho tôi một phút,” tôi nói, chợt nảy ra một ý tưởng.

Tôi lao vút lên lầu, và chỉ bằng vài lời ngắn gọn, tôi thông báo tình hình cho Poirot. Anh liền nói đỡ lấy luôn những gì tôi định thưa tiếp.

“Tôi hiểu rồi. Tôi hiểu rồi. Anh muốn tự mình đi, phải không nào? Chà, sao lại không chứ? Lẽ ra anh phải nắm rõ các phương pháp của tôi lúc này rồi chứ. Tất cả những gì tôi yêu cầu ở anh là phải báo cáo đầy đủ cho tôi mỗi ngày, và tuân thủ tuyệt đối bất kỳ chỉ dẫn nào mà tôi điện thoại cho anh.”

Tôi vui vẻ nhận lời.

• • • • • • •

Một tiếng sau, tôi đang ngồi đối diện với ông Havering trong một toa tàu hạng nhất trên tuyến đường sắt Midland, băng băng rời khỏi London.

“Trước hết, Đại úy Hastings, anh phải hiểu rằng Hunter’s Lodge, nơi chúng ta đang tới và là nơi xảy ra thảm kịch, chỉ là một nhà săn bắn nhỏ nằm giữa vùng hoang mạc Derbyshire. Tổ ấm thực sự của chúng tôi ở gần Newmarket, và chúng tôi thường thuê một căn hộ ở thành phố trong mùa cao điểm. Hunter’s Lodge được trông nom bởi một người quản gia hoàn toàn có năng lực lo liệu mọi việc khi chúng tôi ghé qua vào dịp cuối tuần thỉnh thoảng. Tất nhiên, vào mùa săn bắn, chúng tôi mang theo một số gia nhân từ Newmarket xuống. Chú tôi, ông Harrington Pace (như anh có thể biết, mẹ tôi vốn là tiểu thư nhà Pace ở New York), trong ba năm qua đã sống chung một nhà với chúng tôi. Ông ấy chưa bao giờ hòa hợp với cha tôi hay anh trai cả của tôi, và tôi ngờ rằng việc tôi có phần là một đứa con hoang đàng lại làm tăng thêm tình cảm của ông dành cho tôi thay vì giảm đi. Tất nhiên tôi là một kẻ nghèo túng, còn chú tôi là một người giàu có—nói cách khác, ngài là kẻ bỏ tiền chi phối mọi thứ! Nhưng dẫu có phần khắt khe ở nhiều điểm, ông không hẳn là người khó sống chung, và cả ba chúng tôi sống rất hòa thuận với nhau. Hai ngày trước, chú tôi, có phần mệt mỏi vì một vài cuộc vui chơi gần đây của chúng tôi trên thành phố, đã gợi ý rằng chúng tôi nên về Derbyshire nghỉ ngơi một hoặc hai ngày. Vợ tôi đã đánh điện cho bà Middleton, người quản gia, và chúng tôi đã xuống đó ngay chiều hôm đó. Tối qua, tôi buộc phải quay lại thành phố, nhưng vợ tôi và chú tôi vẫn ở lại. Sáng nay tôi nhận được bức điện này.” Anh ta đưa nó cho tôi:

“Đến ngay chú Harrington bị sát hại tối qua mang theo thám tử giỏi nếu được nhưng nhất định phải đến nhé—Zoe.”

“Vậy, tính đến lúc này anh chưa hề biết chút chi tiết nào sao?”

“Không, tôi đoán chắc nó sẽ có trên các tờ báo chiều nay. Không nghi ngờ gì nữa, cảnh sát đang tiếp quản vụ việc.”

Khoảng ba giờ thì chúng tôi đến nhà ga nhỏ Elmer’s Dale. Từ đó, quãng đường đi xe năm dặm đã đưa chúng tôi đến một tòa nhà bằng đá xám nhỏ nằm giữa chốn hoang mạc gồ ghề.

“Một nơi quạnh hiu,” tôi nhận xét với một cái rùng mình.

Havering gật đầu.

“Tôi sẽ cố gắng tống khứ nó đi. Tôi không bao giờ có thể sống ở đây thêm lần nữa.”

Chúng tôi mở then cửa cổng và đang bước đi trên con đường nhỏ dẫn tới cánh cửa gỗ sồi thì một gương mặt quen thuộc xuất hiện và bước tới đón chúng tôi.

“Japp!” tôi thốt lên.

Viên thanh tra Scotland Yard nhe răng cười với tôi đầy thân thiện trước khi quay sang nói chuyện với người đi cùng tôi.

“Có phải ngài Havering đấy không ạ? Tôi được phái từ London xuống để thụ lý vụ án này, và tôi muốn trao đổi vài lời với ngài, nếu được, thưa ngài.”

“Vợ tôi——”

“Tôi đã gặp quý phu nhân của ngài rồi, thưa ngài—cả người quản gia nữa. Tôi sẽ không làm mất nhiều thời gian của ngài đâu, nhưng tôi rất nóng lòng muốn quay lại làng sau khi đã tận mắt xem xét mọi ngóc ngách ở đây.”

“Tôi chưa biết chút gì về việc——”

“Chính-xác,” Japp điềm nhiên nói. “Nhưng dẫu sao vẫn có một hoặc hai điểm nhỏ mà tôi muốn nghe ý kiến của ngài. Đại úy Hastings đây, ngài ấy quen tôi, và ngài ấy sẽ đi trước vào nhà để thông báo rằng ngài đang tới. Nhân tiện, Đại úy Hastings, ngài đã để vị thám tử tí hon ở đâu rồi?”

“Cậu ấy đang ốm liệt giường vì cúm.”

“Thế cơ à? Tôi tiếc khi nghe tin đó. Việc ngài ở đây mà không có cậu ta trông chẳng khác nào xe không có ngựa kéo phải không nào?”

Bỏ qua câu đùa có phần không đúng lúc của anh ta, tôi tiếp tục đi vào nhà. Tôi bấm chuông vì Japp đã khép cửa lại đằng sau. Sau một lát, cánh cửa được mở ra bởi một phụ nữ trung niên mặc đồ đen.

“Ngài Havering sẽ tới đây ngay bây giờ,” tôi giải thích. “Ngài ấy đang bị thanh tra giữ lại. Tôi đi cùng ngài ấy từ London xuống để điều tra vụ án. Có lẽ cô có thể tóm tắt ngắn gọn cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra tối qua không?”

“Mời ngài vào trong ạ.” Cô ta khép cửa lại sau lưng tôi, và chúng tôi đứng trong sảnh ngập ánh đèn mờ ảo. “Đó là sau bữa tối hôm qua, thưa ngài, thì người đàn ông đó tới. Ông ta đòi gặp ông Pace, thưa ngài, và thấy ông ta nói giọng cùng xứ, tôi cứ nghĩ đó là một vị khách quý người Mỹ của ông Pace nên đã dẫn ông ta vào phòng súng, rồi đi gọi ông Pace. Ông ta không chịu xưng tên, nghĩ lại thì điều đó quả thực hơi kỳ quặc. Tôi vào báo cho ông Pace, và trông ngài có vẻ bối rối, nhưng ngài bảo với phu nhân rằng: ‘Em cứ tự nhiên nhé, để anh ra xem gã này muốn gì.’ Ngài đi về phía phòng súng, còn tôi quay lại nhà bếp, nhưng một lúc sau tôi nghe thấy tiếng cãi vã lớn như thể họ đang cãi nhau, và tôi bước ra sảnh. Cùng lúc đó, phu nhân cũng bước ra, và ngay khoảnh khắc ấy có một tiếng súng vang lên rồi sau đó là sự tĩnh lặng đến rợn người. Cả hai chúng tôi chạy thục mạng đến cửa phòng súng, nhưng nó bị khóa và chúng tôi đành phải đi vòng ra phía cửa sổ. Cửa mở toang, và ở bên trong là ông Pace, toàn thân đầy vết đạn và đầm đìa máu.”

“Gã đàn ông đó đâu rồi?”

“Hắn ta chắc hẳn đã trốn thoát qua cửa sổ, thưa ngài, trước khi chúng tôi kịp đến đó.”

“Rồi sao nữa?”

“Bà Havering phái tôi đi gọi cảnh sát. Phải đi bộ tận năm dặm đấy ạ. Họ quay lại cùng tôi, và viên cảnh sát đã ở lại suốt đêm, còn sáng nay thì viên cảnh sát trên London mới tới.”

“Gã đàn ông tới tìm ông Pace trông như thế nào?”

Người quản gia trầm ngâm suy nghĩ.

“Ông ta có một bộ râu đen, thưa ngài, tầm tuổi trung niên, và mặc một chiếc áo khoác nhẹ. Ngoài việc ông ta nói giọng Mỹ thì tôi không để ý gì thêm về ông ta nữa.”

“Tôi hiểu rồi. Giờ tôi tự hỏi liệu mình có thể gặp bà Havering được không?”

“Bà đang ở trên lầu, thưa ngài. Để tôi lên báo nhé?”

“Làm ơn đi. Hãy bảo với bà rằng ngài Havering đang ở ngoài cùng Thanh tra Japp, và vị quý ông mà ngài ấy đưa từ London về đang rất nóng lòng muốn được nói chuyện với bà càng sớm càng tốt.”

“Vâng, thưa ngài.”

Tôi nóng lòng đến mức sốt ruột muốn nắm bắt mọi sự thật. Japp đã đi trước tôi hai hoặc ba tiếng đồng hồ, và sự nôn nóng muốn rời đi của anh ta khiến tôi càng khao khát bám sát gót anh ta.

Bà Havering không để tôi phải đợi lâu. Chỉ vài phút sau, tôi nghe thấy tiếng bước chân nhẹ nhàng đi xuống cầu thang, rồi ngước lên và thấy một người phụ nữ trẻ vô cùng xinh đẹp đang tiến về phía mình. Cô mặc một chiếc áo len màu lửa, tôn lên vóc dáng mảnh mai như thiếu niên. Trên mái tóc tối màu là một chiếc mũ nhỏ bằng da màu lửa. Thậm chí thảm kịch hiện tại cũng chẳng thể làm lu mờ sức sống rực rỡ từ con người cô.

Tôi tự giới thiệu, và cô gật đầu thấu hiểu ngay lập tức.

“Tất nhiên tôi đã nghe nhiều về anh và đồng nghiệp của anh, Monsieur Poirot. Hai người đã làm được vài việc thật tuyệt vời phải không nào? Chồng tôi thật tinh đời khi mời được anh nhanh chóng đến vậy. Giờ anh sẽ đặt câu hỏi cho tôi chứ? Đó là cách dễ nhất phải không, để biết mọi điều anh muốn về vụ việc kinh khủng này?”

“Cảm ơn bà Havering. Giờ thì người đàn ông đó đến vào lúc mấy giờ vậy?”

“Chắc là ngay trước chín giờ tối. Chúng tôi đã dùng xong bữa tối, và đang ngồi nhâm nhi cà phê cùng thuốc lá.”

“Chồng bà đã rời đi London từ trước rồi sao?”

“Vâng, anh ấy đi chuyến sáu giờ mười lăm.”

“Anh ấy đi xe hơi ra ga hay đi bộ?”

“Xe hơi của chúng tôi không để ở đây. Có một chiếc xe được gọi từ gara ở Elmer’s Dale đến đón anh ấy kịp giờ tàu.”

“Ông Pace lúc đó hoàn toàn bình thường chứ?”

“Hoàn toàn chứ. Hết sức bình thường về mọi mặt.”

“Giờ thì, bà có thể miêu tả vị khách đó chút được không?”

“Tôi e là không. Tôi không nhìn thấy ông ta. Bà Middleton đã dẫn thẳng ông ta vào phòng súng rồi mới ra báo cho chú tôi.”

“Chú tôi đã nói gì vậy?”

“Ông có vẻ hơi khó chịu, nhưng lập tức đi ngay. Khoảng năm phút sau thì tôi nghe thấy tiếng cãi vã lớn. Tôi lao ra sảnh và suýt va phải bà Middleton. Rồi chúng tôi nghe thấy tiếng súng. Cửa phòng súng bị khóa trái từ bên trong, và chúng tôi buộc phải đi vòng hẳn ra phía cửa sổ của ngôi nhà. Dĩ nhiên việc đó mất một khoảng thời gian, và kẻ sát nhân đã kịp tẩu thoát xa. Chú tội nghiệp của tôi”—giọng cô chùng xuống—“đã bị bắn thủng đầu. Tôi nhận ra ngay ngài đã chết. Tôi phái bà Middleton đi gọi cảnh sát. Tôi đã cẩn thận không chạm vào bất cứ thứ gì trong phòng mà để nguyên hiện trạng đúng như lúc tôi tìm thấy.”

Tôi gật đầu tán thành.

“Còn về hung khí thì sao?”

“Chà, tôi có thể đoán được, Đại úy Hastings. Một cặp súng lục của chồng tôi được treo trên tường. Một khẩu đã biến mất. Tôi đã chỉ điểm điều này cho cảnh sát, và họ đã mang khẩu còn lại đi. Khi họ lấy được viên đạn ra, tôi đoán họ sẽ biết chắc chắn.”

“Tôi có thể vào phòng súng không?”

“Chắc chắn rồi. Cảnh sát đã khám xét xong xuôi ở đó. Nhưng thi thể đã được chuyển đi rồi.”

Cô đồng hành cùng tôi đến hiện trường vụ án. Đúng lúc đó Havering bước vào sảnh, và với một lời xin lỗi nhanh chóng, vợ anh chạy tới bên anh. Tôi đành tự mình tiến hành các cuộc điều tra một mình.

Tôi thú nhận ngay lúc này là chúng khá đáng thất vọng. Trong tiểu thuyết trinh thám, manh mối xuất hiện khắp nơi, nhưng ở đây tôi chẳng tìm thấy gì khiến mình chú ý ngoại trừ một vết máu lớn trên thảm nơi tôi phỏng đoán người đàn ông xấu số đã gục xuống. Tôi kiểm tra mọi thứ với sự tỉ mỉ tột cùng và chụp vài bức ảnh căn phòng bằng chiếc máy ảnh nhỏ mà tôi đã mang theo. Tôi cũng kiểm tra phần đất bên ngoài cửa sổ, nhưng có vẻ nó đã bị giày xéo quá nát bét nên tôi tự nhủ phí thời gian với nó chẳng ích gì. Không, tôi đã xem toàn bộ những gì Hunter’s Lodge có thể cho tôi thấy. Tôi phải quay lại Elmer’s Dale và liên lạc với Japp. Do đó tôi từ biệt vợ chồng nhà Havering, và được chở đi bằng chiếc xe hơi đã đưa chúng tôi từ nhà ga lên đây.

Tôi tìm thấy Japp tại khách sạn Matlock Arms và anh lập tức đưa tôi đi xem thi thể. Harrington Pace là một người đàn ông nhỏ thó, gầy gò, cạo râu nhẵn nhụi, mang ngoại hình đặc trưng của người Mỹ. Ông đã bị bắn xuyên qua sau đầu, và khẩu súng đã được bóp cò ở khoảng cách gần.

“Quay mặt đi một khoảnh khắc,” Japp nhận xét, “và gã kia đã vơ lấy khẩu súng lục rồi bắn ông ta. Khẩu mà bà Havering giao nộp cho chúng tôi được nạp đạn đầy đủ và tôi đoán khẩu kia cũng vậy. Thật nực cười khi con người ta làm những điều dại dột chết tiệt thế nào. Lại đi giữ hai khẩu súng lục đã nạp đạn treo lủng lẳng trên tường nhà cơ chứ.”

“Anh nghĩ sao về vụ án này?” tôi hỏi, khi chúng tôi rời khỏi căn phòng rùng rợn ấy phía sau lưng.

“Chà, ban đầu tôi đã để mắt tới Havering đấy. Ồ, đúng vậy!” nhận thấy biểu cảm kinh ngạc của tôi. “Havering có một hoặc hai vết nhơ trong quá khứ. Hồi còn là sinh viên ở Oxford, có một vài trò mờ ám liên quan đến chữ ký trên một trong những tờ séc của cha hắn ta. Tất nhiên mọi chuyện đã được ém nhẹm đi. Hơn nữa, hiện tại hắn ta ngập ngụa trong nợ nần, và đó là loại nợ mà hắn thà không dám đến tìm chú mình còn hơn, trong khi anh có thể chắc chắn là di chúc của người chú sẽ có lợi cho hắn ta. Phải, tôi đã để mắt tới hắn, và đó là lý do tại sao tôi muốn nói chuyện với hắn trước khi hắn gặp vợ mình, nhưng lời khai của họ khớp với nhau hoàn toàn, và tôi đã đến ga tàu rồi chẳng còn nghi ngờ gì nữa là hắn đã rời đi trên chuyến tàu sáu giờ mười lăm. Chuyến đó đến London khoảng mười giờ rưỡi. Hắn ta đi thẳng đến câu lạc bộ của mình, theo như lời hắn nói, và nếu điều đó được xác nhận chuẩn xác—thì quái lạ, sao hắn có thể bắn chú mình ở đây vào lúc chín giờ trong khi đang đeo một bộ râu đen được chứ!”

“À vâng, tôi định hỏi anh nghĩ gì về bộ râu đó cơ mà?”

Japp nháy mắt.

“Tôi nghĩ nó mọc khá nhanh đấy—mọc trong quãng đường năm dặm từ Elmer’s Dale đến Hunter’s Lodge. Những người Mỹ mà tôi từng gặp hầu hết đều cạo râu nhẵn nhụi. Phải, chúng ta sẽ phải tìm kiếm hung thủ trong số những mối quan hệ người Mỹ của ông Pace. Tôi đã thẩm vấn người quản gia trước, rồi đến phu nhân của bà ta, và câu chuyện của họ khớp nhau hoàn toàn, nhưng tôi tiếc vì bà Havering đã không kịp nhìn rõ mặt gã đó. Cô ta là một phụ nữ sắc sảo, và có lẽ cô ta đã nhận ra điều gì đó giúp chúng ta bắt được dấu vết.”

Tôi ngồi xuống và viết một bản tường thuật tỉ mỉ và dài dòng gửi cho Poirot. Tôi đã có thể bổ sung thêm nhiều thông tin khác trước khi gửi lá thư đi.

Viên đạn đã được lấy ra và chứng minh là được bắn từ một khẩu súng lục y hệt như khẩu mà cảnh sát đang giữ. Hơn nữa, lịch trình di chuyển của ông Havering trong đêm định mệnh đó đã được kiểm tra và xác minh, đồng thời chứng minh ngoài nghi ngờ rằng quả thực ông đã đến London trên chuyến tàu nói trên. Và thứ ba, một diễn biến giật gân đã xảy ra. Một quý ông thuộc tầng lớp thương gia ở thành phố, sống tại Ealing, khi băng qua Công viên Haven để đến Ga Đường sắt Quận vào sáng hôm đó, đã phát hiện ra một bói quà bọc giấy nâu bị kẹt giữa các thanh lan can. Mở nó ra, ông phát hiện bên trong chứa một khẩu súng lục. Ông đã giao gói quà cho đồn cảnh sát địa phương, và trước khi trời tối, nó đã được chứng minh chính là hung khí mà chúng ta đang tìm kiếm, khẩu súng đôi với khẩu được bà Havering giao cho chúng ta. Một viên đạn đã được bắn ra từ nó.

Tất cả những điều này tôi đã bổ sung vào bản báo cáo của mình. Một bức điện từ Poirot đến khi tôi đang ăn sáng vào sáng hôm sau:

“Tất nhiên gã râu đen không phải là Havering chỉ có anh hoặc Japp mới có ý nghĩ đó điện báo cho tôi mô tả về người quản gia và quần áo cô ta mặc sáng nay tương tự với bà Havering đừng lãng phí thời gian chụp ảnh nội thất chúng bị thiếu sáng và chẳng có chút nghệ thuật nào cả.”

Tôi thấy phong cách của Poirot thật vô duyên một cách thừa thãi. Tôi cũng mang Máng là anh có phần ghen tị với vị thế của tôi khi có mặt ngay tại hiện trường với đầy đủ mọi điều kiện thuận lợi để giải quyết vụ án. Yêu cầu mô tả trang phục của hai người phụ nữ mà anh đưa ra có vẻ ngớ ngẩn đối với tôi, nhưng tôi vẫn làm theo khả năng tốt nhất của một gã đàn ông đơn thuần.

Vào lúc mười một giờ, một bức điện hồi âm từ Poirot gửi đến:

“Khuyên Japp bắt giữ người quản gia trước khi quá muộn.”

Chết sững, tôi mang bức điện đến chỗ Japp. Anh thề thốt nhỏ trong lợt.

“Cậu ta lúc nào cũng chuẩn xác! Monsieur Poirot đã nói thế, chắc chắn có uẩn khúc trong đó. Và tôi suýt chút nữa không để ý đến người phụ nữ đó. Tôi không biết mình có thể đi xa tới mức bắt giữ cô ta hay không, nhưng tôi sẽ cho người giám sát cô ta. Chúng ta sẽ đến đó ngay lập tức và xem xét lại cô ta một lần nữa.”

Nhưng đã quá muộn. Bà Middleton, người phụ nữ trung niên tĩnh lặng đó, kẻ thoạt trông có vẻ hết sức bình thường và đáng kính, đã biến mất tăm hơi. Chiếc rương của bà ta đã bị bỏ lại. Nó chỉ chứa toàn những bộ quần áo thông thường. Không có lấy một manh mối nào trong đó về nhân thân của bà ta, hay về nơi bà ta đang ẩn náu.

Từ bà Havering, chúng tôi gặng hỏi mọi sự thật có thể:

“Tôi tuyển dụng cô ta khoảng ba tuần trước khi bà Emery, người quản gia cũ của chúng tôi, nghỉ việc. Cô ta đến với tôi qua Công ty Môi giới của bà Selbourne ở Phố Mount—một địa chỉ vô cùng nổi tiếng. Tôi toàn thuê gia nhân ở đó. Họ đã cử mấy người phụ nữ đến gặp tôi, nhưng bà Middleton này trông có vẻ tử tế nhất và có những lời giới thiệu tuyệt vời. Tôi nhận cô ta ngay tại chỗ và thông báo cho phía Công ty Môi giới biết điều đó. Tôi không thể tin rằng có điều gì không ổn ở cô ta. Cô ta là một người phụ nữ điềm đạm và dễ mến như vậy cơ mà.”

Sự việc quả thực là một điều bí ẩn. Mặc dù rõ ràng bản thân người phụ nữ đó không thể gây ra tội ác, vì vào khoảnh khắc phát súng vang lên, bà Havering đang ở cùng cô ta trong sảnh, tuy nhiên cô ta chắc chắn có liên quan nào đó đến vụ án mạng, bằng không tại sao cô ta lại đột ngột cuốn gói tẩu thoát chứ?

Tôi đánh điện báo cáo diễn biến mới nhất cho Poirot và đề nghị quay lại London để dò hỏi tại Công ty Môi giới của Selbourne.

Hồi âm của Poirot đến rất nhanh:

“Vô ích khi dò hỏi ở công ty môi giới họ chưa từng nghe về cô ta hãy tìm xem phương tiện nào đã chở cô ta lên hunter’s lodge khi cô ta mới đến đó.”

Dù thấy khó hiểu, tôi vẫn ngoan ngoãn làm theo. Các phương tiện giao thông ở Elmer’s Dale rất hạn chế. Gara địa phương có hai chiếc xe Ford cũ nát, và có hai chiếc xe ngựa cho thuê ở nhà ga. Không chiếc nào trong số đó được thuê vào ngày hôm đó. Khi được chất vấn, bà Havering giải thích rằng cô ta đã đưa tiền cho người phụ nữ đó để trả tiền tàu xuống Derbyshire và đủ để thuê một chiếc xe hơi hoặc xe ngựa đưa cô ta lên Hunter’s Lodge. Thường thì có một chiếc xe Ford đậu ở nhà ga để chờ khách có nhu cầu. Xét đến thực tế bổ sung rằng không một ai ở nhà ga chú ý đến sự xuất hiện của một kẻ lạ mặt, dù có râu đen hay không, vào buổi tối định mệnh đó, mọi thứ dường như đều hướng đến kết luận rằng kẻ sát nhân đã đến hiện trường trên một chiếc xe hơi, chiếc xe đã đỗ chờ sẵn gần đó để hỗ trợ hắn tẩu thoát, và chính chiếc xe đó đã chở người quản gia bí ẩn đến nơi làm việc mới của cô ta. Tôi xin phép được đề cập rằng việc dò hỏi tại Công ty Môi giới ở London đã củng cố cho dự đoán của Poirot. Không có người phụ nữ nào tên là “Mrs. Middleton” từng có tên trong sổ sách của họ. Họ đã nhận được đơn xin tìm người quản gia của phu nhân Havering, và đã cử tới vài ứng viên cho vị trí đó. Khi bà gửi phí tuyển dụng cho họ, bà lại quên không đề cập xem mình đã chọn người phụ nữ nào.

Hơi tiu nghỉu, tôi quay trở lại London. Tôi thấy Poirot đang ngồi trong một chiếc ghế bọc nệm cạnh lò sưởi, khoác chiếc áo choàng lụa sặc sỡ. Anh chào đón tôi với rất nhiều sự trìu mến.

“Mon ami Hastings! Nhưng tôi mừng biết bao khi gặp lại anh. Thực sự tôi dành cho anh một tình cảm lớn lao. Và anh đã tự thưởng cho mình những niềm vui chứ? Anh đã chạy ngược chạy xuôi cùng anh chàng Japp tốt bụng chứ? Anh đã tra vấn và điều tra đến mỏi cả lòng chưa?”

“Poirot,” tôi kêu lên, “đó là một bí ẩn đen tối! Nó sẽ không bao giờ được giải mã đâu.”

“Đúng là chúng ta không có khả năng vắt kiệt vinh quang từ vụ này rồi.”

“Không, thực sự là vậy. Đó là một hạt dẻ cứng đầu khó nuốt.”

“Ồ, nói về chuyện đó thì tôi rất giỏi việc phá vỡ những hạt dẻ đấy! Một chú sóc thực thụ! Không phải điều đó làm tôi bối rối. Tôi thừa thừa biết ai đã sát hại ông Harrington Pace.”

“Anh biết ư? Anh phát hiện ra bằng cách nào?”

“Những câu trả lời sáng tỏ của anh cho các bức điện của tôi đã cung cấp cho tôi sự thật. Này Hastings, chúng ta hãy cùng xem xét các sự kiện một cách có phương pháp và theo trình tự nhé. Ông Harrington Pace là một người sở hữu khối tài sản kết xù, khi ông chết chắc chắn sẽ thuộc về người cháu trai của ông. Điểm số 1. Người cháu trai của ông nổi tiếng là kẻ túng quẫn tuyệt vọng. Điểm số 2. Người cháu trai đó cũng nổi tiếng là—ta có thể gọi là một kẻ có đạo đức lỏng lẻo không? Điểm số 3.”

“Nhưng Roger Havering đã được chứng minh là đi thẳng một mạch lên London cơ mà.”

“Précisément—và do đó, vì ông Havering đã rời Elmer’s Dale lúc sáu giờ mười lăm, và vì ông Pace không thể bị sát hại trước khi ông ấy rời đi, bằng không bác sĩ đã phát hiện ra thời gian của vụ án bị báo sai khi khám nghiệm thi thể, chúng ta kết luận hoàn toàn chính xác rằng ông Havering đã không bắn chú mình. Nhưng vẫn còn một bà Havering nữa, Hastings ạ.”

“Không thể nào! Người quản gia đã ở cùng cô ta khi phát sinh tiếng súng mà.”

“À vâng, người quản gia. Nhưng cô ta đã biến mất rồi.”

“Cô ta sẽ bị tìm ra thôi.”

“Tôi không nghĩ thế. Có điều gì đó vô cùng khó nắm bắt ở người quản gia đó, anh không thấy vậy sao, Hastings? Nó đập vào mắt tôi ngay lập tức.”

“Cô ta đóng vai trò của mình, tôi đoán thế, rồi chuồn mất vào phút chót.”

“Và vai trò của cô ta là gì?”

“Chà, có lẽ là để mở cửa cho đồng bọn của cô ta, gã đàn ông râu đen.”

“Ồ không, đó không phải vai trò của cô ta! Vai trò của cô ta chính là điều anh vừa đề cập, tạo ra một chứng cớ ngoại phạm cho bà Havering vào thời điểm phát súng vang lên. Và sẽ chẳng ai tìm ra cô ta đâu, mon ami, bởi vì cô ta vốn dĩ không hề tồn tại! ‘Làm gì có con người như thế,’ như đại văn hào Shakespeare của anh từng nói.”

“Đó là Dickens,” tôi thì thầm, không kìm được một nụ cười. “Nhưng ý anh là gì, Poirot?”

“Ý tôi là Zoe Havering từng là một nữ diễn viên trước khi kết hôn, rằng anh và Japp chỉ nhìn thấy người quản gia trong một căn sảnh tối tăm, một bóng hình trung niên mờ ảo trong sắc đen với chất giọng trầm khẽ khàng, và cuối cùng là cả anh, Japp lẫn cảnh sát địa phương do người quản gia gọi đến chưa từng nhìn thấy bà Middleton và nữ chủ nhân của bà ta cùng một lúc tại cùng một thời điểm. Đó chỉ là trò trẻ con đối với người phụ nữ thông minh và liều lĩnh đó. Dưới chiêu bài đi gọi nữ chủ nhân, cô ta chạy lên lầu, khoác vội chiếc áo len sáng màu và chiếc mũ đính những lọn tóc đen mà cô ta trùm sụp xuống chiếc tóc giả màu xám. Chỉ bằng vài động tác khéo léo, lớp hóa trang được xóa bỏ, một chút phấn hồng phớt nhẹ, và Zoe Havering rực rỡ bước xuống với giọng nói trong trẻo vang vọng. Chẳng ai thèm để ý kỹ đến người quản gia cả. Tại sao họ phải làm thế chứ? Chẳng có gì liên kết cô ta với vụ án mạng cả. Bản thân cô ta cũng có chứng cớ ngoại phạm mà.”

“Nhưng khẩu súng lục được tìm thấy ở Ealing thì sao? Bà Havering không thể đặt nó ở đó được chứ?”

“Không, đó là việc của Roger Havering—nhưng đó lại là một sai lầm từ phía họ. Nó đã đưa tôi vào đúng đường ray. Một kẻ đã thực hiện vụ án mạng bằng một khẩu súng lục tìm thấy tại hiện trường sẽ vứt bỏ nó ngay lập tức, hắn sẽ không mang nó lên London cùng mình. Không, động cơ rất rõ ràng, những kẻ thủ ác muốn thu hút sự chú ý của cảnh sát về một nơi cách xa Derbyshire, chúng nôn nóng muốn đưa cảnh sát rời khỏi vùng lân cận Hunter’s Lodge càng nhanh càng tốt. Tất nhiên khẩu súng lục tìm thấy ở Ealing không phải là khẩu dùng để bắn ông Pace. Roger Havering đã bắn một phát đạn từ nó, mang nó lên London, đi thẳng đến câu lạc bộ của mình để thiết lập chứng cớ ngoại phạm, sau đó nhanh chóng ra ngoài Ealing bằng tuyến đường sắt khu vực, chỉ mất khoảng hai mươi phút, đặt bói quà ở nơi nó được tìm thấy rồi quay lại thành phố. Sinh vật quyến rũ đó, người vợ của hắn, đã bình tĩnh bắn ông Pace sau bữa tối—anh nhớ là ông ấy bị bắn từ phía sau chứ? Lại một điểm đáng chú ý nữa!—nạp đạn lại cho khẩu súng lục và đặt nó trở lại chỗ cũ, rồi bắt đầu vở kịch nhỏ liều lĩnh của cô ta.”

“Thật khó tin,” tôi lầm bầm, đầy mê hoặc, “và thế mà——”

“Và thế mà đó là sự thật. Bien sur, bạn tôi ơi, đó là sự thật. Nhưng để đưa cặp đôi trân quý đó ra ánh sáng công lý lại là chuyện khác. Chà, Japp phải làm những gì có thể—tôi đã viết thư tường tận cho cậu ấy—nhưng tôi rất e rằng, Hastings, chúng ta buộc phải phó mặc họ cho Định mệnh, hoặc le bon Dieu, tùy anh chọn lựa.”

“Kẻ ác thường xanh tươi như cây nguyệt quế,” tôi nhắc nhở anh.

“Nhưng phải trả giá đấy, Hastings, luôn luôn phải trả giá, croyez-moi!”

Những linh cảm của Poirot đã được xác thực. Japp, dù bị thuyết phục bởi sự thật trong lý thuyết của anh, vẫn không thể thu thập đủ bằng chứng cần thiết để đảm bảo một bản án kết tội.

Khối tài sản khổng lồ của ông Pace đã rơi vào tay những kẻ sát nhân của ông. Tuy nhiên, sự Báo ứng cuối cùng cũng bắt kịp họ, và khi tôi đọc trên báo rằng ngài Roger và bà Havering nằm trong số những người thiệt mạng trong vụ tai nạn rơi máy bay Thư tín Hàng không đi Paris, tôi biết rằng Công lý đã được thỏa mãn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.