Những Vụ Án Của Poirot

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xi: Vụ Án Bản Di Chúc Mất Tích

❊ ❊ ❊

Vấn đề mà cô Violet Marsh đặt ra cho chúng tôi mang đến một sự thay đổi khá thú vị so với công việc thường nhật của mình. Poirot đã nhận được một bức thư ngắn gọn, mang phong cách công việc từ vị nữ khách hàng yêu cầu một cuộc hẹn, và ông đã đáp lại bằng cách mời cô đến gặp mình vào lúc mười một giờ ngày hôm sau.

Cô đến đúng giờ — một người phụ nữ trẻ cao ráo, ưa nhìn, ăn mặc giản dị nhưng ngăn nắp, với phong thái tự tin và sắc sảo. Rõ ràng đây là một người phụ nữ trẻ biết cách tiến thân trong xã hội. Bản thân tôi không phải là người quá ngưỡng mộ cái gọi là Phụ nữ Mới, và bất chấp vẻ ngoài ưa nhìn của cô ấy, tôi không có mấy thiện cảm lắm.

"Công việc của tôi có phần hơi khác thường, Monsieur Poirot," cô mở lời sau khi đã nhận lấy chiếc ghế được mời. "Tôi nghĩ tốt nhất là nên bắt đầu từ đầu và kể cho ông nghe toàn bộ câu chuyện."

"Xin mời cô, thưa tiểu thư."

"Tôi là một đứa mồ côi. Cha tôi là một trong hai người con trai của một nông dân tiểu điền ở Devonshire. Nông trại vốn nghèo khó, và người anh cả, Andrew, đã di cư sang Úc, nơi ông làm ăn rất phất, và nhờ những vụ đầu cơ đất đai thành công đã trở thành một người rất giàu có. Người em trai, Roger (cha tôi), lại không có khuynh hướng làm nông nghiệp. Ông tự mầy mò học hành một chút và kiếm được một chân nhân viên văn phòng cho một công ty nhỏ. Ông kết hôn với một người có gia thế cao hơn mình một chút; mẹ tôi là con gái của một họa sĩ nghèo. Cha tôi qua đời khi tôi lên sáu. Khi tôi mười bốn tuổi, mẹ tôi cũng theo ông về với đất mẹ. Người thân duy nhất còn sống của tôi lúc đó là bác Andrew, người vừa mới từ Úc trở về và mua lại một cơ ngơi nhỏ mang tên trang viên Crabtree ở chính quê hương mình. Ông cực kỳ tử tế với đứa cháu mồ côi của người anh em, đón tôi về ở cùng và đối xử với tôi chẳng khác nào con ruột."

"Trang viên Crabtree, bất chấp cái tên nghe có vẻ lớn lao, thực chất chỉ là một ngôi nhà nông trang cũ kỹ. Máu làm nông ngấm sâu vào người bác tôi, và ông cực kỳ hứng thú với các thí nghiệm nông nghiệp hiện đại khác nhau. Mặc dù vô cùng tốt bụng với tôi, ông lại có những quan điểm kỳ quặc và bám rễ sâu xa về việc giáo dục phụ nữ. Bản thân là một người ít học hoặc gần như không được học hành chữ nghĩa, dẫu sở hữu sự nhạy bén đáng nể, ông chẳng đánh giá cao cái gọi là 'kiến thức sách vở'. Ông đặc biệt phản đối việc giáo dục phụ nữ. Theo quan điểm của ông, các cô gái nên học việc nhà và làm bơ sữa thực tế, tỏ ra hữu ích trong gia đình, và dính líu đến chữ nghĩa sách vở càng ít càng tốt. Ông định hướng nuôi dạy tôi theo những tiêu chuẩn đó, điều khiến tôi vô cùng thất vọng và bực bội. Tôi thẳng thắn nổi giận. Tôi biết mình có một bộ óc minh mẫn và hoàn toàn không có khiếu làm nội trợ. Bác cháu chúng tôi đã có không ít cuộc tranh cãi nảy lửa về vấn đề này, bởi vì dù rất quý mến nhau, cả hai chúng tôi đều cứng đầu như nhau. Tôi đã may mắn giành được một suất học bổng, và cho đến một mức độ nhất định, tôi đã thành công trong việc bảo vệ chính kiến của mình. Khủng hoảng nổ ra khi tôi quyết định vào học tại Girton. Tôi có một chút tiền riêng do mẹ để lại, và tôi hoàn toàn quyết tâm tận dụng tối đa những ân huệ mà Thượng đế đã ban tặng. Tôi đã có một cuộc tranh luận dài dẳng và dứt khoát lần cuối với bác tôi. Ông bày tỏ rõ ràng các thực tế trước mặt tôi. Ông không còn người họ hàng nào khác, và ông từng định để tôi làm người thừa kế duy nhất. Như tôi đã nói với ông, ông là một người rất giàu có. Tuy nhiên, nếu tôi cứ khăng khăng theo đuổi những 'quan điểm mới mẻ' này, tôi đừng hòng mong đợi gì từ ông. Tôi vẫn giữ thái độ lịch sự nhưng kiên quyết. Tôi nói với ông rằng tôi sẽ luôn dành cho ông tình cảm sâu sắc, nhưng tôi phải tự đi con đường của riêng mình. Chúng tôi chia tay nhau trong bầu không khí đó. 'Cô tưởng bám lấy mấy chữ nghĩa sách vở là hay ho chắc, cô bé,' là những lời cuối cùng của ông. 'Ta chẳng có học thức gì sất, nhưng dẫu vậy, bất cứ lúc nào ta cũng dám đem trí khôn của mình ra chọi với trí khôn của cô. Rồi chúng ta sẽ chờ xem ai hơn ai.'

"Đó là chuyện của chín năm về trước. Thỉnh thoảng tôi vẫn về thăm ông vào dịp cuối tuần, và quan điểm của chúng tôi vẫn hoàn toàn hòa thuận, mặc dù quan điểm của ông chẳng hề thay đổi. Ông chưa từng nhắc đến chuyện tôi đã tốt nghiệp đại học, hay chuyện tôi có bằng Cử nhân Khoa học. Trong ba năm qua, sức khỏe của ông suy giảm dần, và một tháng trước, ông đã qua đời."

"Bây giờ tôi xin đi thẳng vào mục đích chuyến viếng thăm của mình. Bác tôi để lại một bản di chúc hết sức kỳ lạ. Theo các điều khoản trong đó, trang viên Crabtree cùng toàn bộ tài sản bên trong sẽ thuộc quyền định đoạt của tôi trong thời gian một năm kể từ ngày ông mất — nguyên văn câu chữ là — 'trong khoảng thời gian đó, cô cháu gái thông minh của ta có thể chứng minh trí khôn của nó'. Hết thời hạn đó, 'nếu trí khôn của ta chứng tỏ là vượt trội hơn trí khôn của nó', ngôi nhà cùng toàn bộ gia tài kếch xù của bác tôi sẽ được chuyển cho các tổ chức từ thiện khác nhau."

"Điều đó có vẻ hơi khắc nghiệt với cô, thưa tiểu thư, khi xét đến việc cô là người thân máu mũ duy nhất của ông Marsh."

"Tôi không nhìn nhận vấn đề theo hướng đó. Bác Andrew đã cảnh báo tôi một cách sòng phẳng, và tôi đã tự chọn con đường cho mình. Vì tôi không chịu dung hòa với mong muốn của ông, ông hoàn toàn có quyền để lại tài sản cho bất cứ ai ông muốn."

"Bản di chúc đó có phải do luật sư soạn thảo không?"

"Không; nó được viết trên một mẫu di chúc in sẵn và có sự chứng kiến của hai vợ chồng người làm thuê đang sống trong nhà và lo việc cơm nước cho bác tôi."

"Liệu có khả năng lật ngược một bản di chúc như vậy không?"

"Tôi thậm chí còn chẳng thèm nghĩ đến chuyện làm điều đó."

"Vậy cô coi đó như một lời thách đố mang tính thể thao từ phía người bác của mình?"

"Đó chính xác là cách tôi nhìn nhận nó."

"Chắc chắn là nó mang ý nghĩa đó rồi," Poirot trầm ngâm nói. "Đâu đó trong ngôi trang viên cũ kỹ và rắc rối này, bác của cô đã giấu hoặc là một khoản tiền mặt bằng giấy bạc, hoặc có lẽ là một bản di chúc thứ hai, và trao cho cô thời gian một năm để vận dụng sự tài tình của mình nhằm tìm ra nó."

"Chính xác là vậy, thưa Monsieur Poirot; và tôi đang dành cho ông sự kính trọng khi mặc nhiên cho rằng sự tài tình của ông sẽ vượt trội hơn tôi."

"Chà, chà! Thật là dễ thương làm sao khi cô nói thế! Những tế bào xám của tôi xin sẵn sàng phục vụ cô. Cô đã tự mình tìm kiếm chưa?"

"Chỉ là qua loa đại khái thôi; nhưng tôi quá tôn trọng năng lực không thể chối cãi của bác mình để mà ảo tưởng rằng nhiệm vụ này sẽ dễ dàng."

"Cô có mang theo bản di chúc hoặc bản sao của nó không?"

Cô Marsh liền đưa một tập tài liệu qua bàn. Poirot lướt nhanh qua nó, vừa đọc vừa gật đầu ra vẻ đắc ý.

"Được lập cách đây ba năm. Đề ngày 25 tháng Ba; và thời gian cũng được ghi rõ ràng — 11 giờ trưa — điều đó rất gợi mở. Nó thu hẹp phạm vi tìm kiếm lại. Chắc chắn chúng ta phải đi tìm một bản di chúc khác. Một bản di chúc được lập muộn hơn dù chỉ nửa tiếng đồng hồ cũng sẽ lật ngược tình thế này. Chà, thưa tiểu thư, cô vừa đặt ra trước mặt tôi một bài toán vô cùng thú vị và khéo léo. Tôi sẽ cảm thấy vô cùng hào hứng khi được giải quyết nó cho cô. Cứ cho là bác cô là một người có năng lực đi chăng nữa, thì những tế bào xám của ông ta đời nào sánh được với chất lượng của Hercule Poirot!"

(Thật tình mà nói, sự tự phụ của Poirot đúng là trơ trẽn hết chỗ nói!)

"May mắn thay, hiện tại tôi chẳng vướng bận việc quan trọng nào cả. Hastings và tôi sẽ xuống trang viên Crabtree vào tối nay. Hai vợ chồng người hầu chăm sóc bác cô vẫn ở đó chứ, tôi đoán thế?"

"Vâng, họ tên là Baker."

• • • • • • •

Sáng hôm sau chứng kiến chúng tôi bắt đầu cuộc săn lùng thực sự. Chúng tôi đã đến nơi vào tối muộn hôm trước. Vợ chồng ông bà Baker, sau khi nhận được điện telegram của cô Marsh, đã chờ sẵn để đón chúng tôi. Họ là một cặp đôi dễ mến, người chồng nhăn nheo và má hồng hào giống như một quả táo tây khô héo, còn người vợ là một phụ nữ có vóc dáng to lớn mang vẻ điềm tĩnh đặc trưng của xứ Devonshire.

Mệt mỏi sau chuyến hành trình và chặng đường đi xe dài tám dặm từ nhà ga, chúng tôi đã lập tức đi ngủ ngay sau bữa tối gồm gà quay, bánh táo và kem Devonshire. Giờ đây, chúng tôi đã thưởng thức xong một bữa sáng tuyệt vời và đang ngồi trong một căn phòng nhỏ ốp gỗ từng là phòng làm việc kiêm phòng sinh hoạt chung của cố ông Marsh. Một chiếc bàn giấy có nắp cuộn nhét đầy giấy tờ, tất cả đều được phân loại và dán nhãn ngăn nắp, nằm áp sát tường, và một chiếc ghế bành bọc da lớn cho thấy rõ ràng đây là chỗ ngồi nghỉ ngơi quen thuộc của người chủ nhân quá cố. Một chiếc ghế dài lớn bọc vải chintz chạy dọc theo bức tường đối diện, và những bệ cửa sổ sâu và thấp được phủ bằng lớp vải chintz phai màu mang hoa văn cổ kính tương tự.

"Chà, mon ami," Poirot vừa nói vừa châm một điếu thuốc lá nhỏ xíu của ông, "chúng ta phải vạch ra kế hoạch chiến dịch thôi. Tôi đã phác thảo qua về ngôi nhà rồi, nhưng tôi cho rằng bất kỳ manh mối nào cũng sẽ được tìm thấy trong căn phòng này. Chúng ta sẽ phải lục lọi các tài liệu trong bàn giấy với sự cẩn trọng tỉ mỉ đến từng chi tiết. Dĩ nhiên, tôi không hy vọng tìm thấy bản di chúc lẫn trong số đó; nhưng có khả năng là một tờ giấy có vẻ vô hại nào đó sẽ che giấu manh mối về nơi ẩn giấu của nó. Nhưng trước tiên chúng ta phải thu thập thêm một ít thông tin. Làm ơn rung chuông giùm tôi."

Tôi làm theo. Trong lúc chờ đợi người đến đáp tiếng, Poirot đi qua đi lại, hài lòng ngắm nghía xung quanh.

"Đúng là một kẻ có phương pháp, ông Marsh này. Hãy nhìn xem những tập giấy tờ được xếp ngăn nắp ra sao; rồi chìa khóa của từng ngăn kéo đều có nhãn bằng ngà voi — chìa khóa của tủ đựng đồ sành sứ trên tường cũng vậy; và hãy nhìn sự chính xác mà đồ sành sứ bên trong được sắp xếp kìa. Thật là mát lòng mát dạ. Chẳng có gì ở đây xúc phạm đến con mắt người nhìn cả——"

Ông chợt khựng lại đột ngột khi ánh mắt bị thu hút bởi chiếc chìa khóa của chính chiếc bàn giấy, trên đó có đính một cái phong bì bẩn thỉu. Poirot cau mày nhìn nó và rút nó ra khỏi ổ khóa. Trên đó nguệch ngoạc mấy chữ: “Chìa khóa bàn giấy nắp cuộn”, bằng một nét chữ ngoằn ngoèo, hoàn toàn khác với những dòng chữ ghi chú gọn gàng trên các chìa khóa khác.

"Một dấu vết lạc loài," Poirot cau mày nói. "Tôi dám cá rằng ở đây chúng ta không còn thấy dấu ấn tính cách của ông Marsh nữa. Nhưng còn ai khác từng bén mảng đến ngôi nhà này không? Chỉ có cô Marsh, và nếu tôi phỏng đoán không nhầm, cô ấy cũng là một tiểu thư ngăn nắp và có trật tự."

Baker bước vào đáp lại tiếng chuông.

"Anh hãy gọi bà nhà ra đây và trả lời vài câu hỏi nhé?"

Baker bước ra, và chỉ ít phút sau đã quay trở lại cùng bà Baker, vừa đi vừa lấy tạp dề lau tay và nở nụ cười rạng rỡ khắp khuôn mặt.

Bằng những lời lẽ ngắn gọn và rõ ràng, Poirot bày tỏ mục đích chuyến viếng chúng của mình. Vợ chồng Baker ngay lập tức tỏ ra đồng cảm.

"Chúng tôi nào có muốn thấy cô Violet bị tước đoạt những gì thuộc về cô ấy đâu," người phụ nữ tuyên bố. "Tụi bệnh viện mà húp hết thì thật là tàn nhẫn."

Poirot tiếp tục các câu hỏi của mình. Vâng, ông bà Baker nhớ rất rõ việc làm chứng cho bản di chúc. Baker trước đó đã được sai đến thị trấn bên cạnh để mua hai mẫu di chúc in sẵn.

"Hai bản cơ à?" Poirot hỏi dồn.

"Vâng, thưa ông, chắc là để cho chắc ăn thôi, phòng hờ ông chủ làm hỏng mất một bản — và quả nhiên là thế thật. Tụi tôi đã ký vào một bản——"

“Lúc đó là mấy giờ?”

Baker gãi đầu, nhưng vợ ông ta nhanh mồm hơn.

"Chứ sao nữa, tôi vừa bắc sữa lên nấu ca-cao lúc mười một giờ mà. Ông không nhớ à? Lúc tụi tôi quay lại nhà bếp thì sữa đã trào hết ra bếp lò rồi."

"Và sau đó thì sao?"

"Chắc là khoảng một tiếng sau. Tụi tôi lại phải vào trong đó. 'Ta làm sai mất rồi,' ông chủ già bảo thế, 'phải xé toàn bộ đi làm lại. Làm phiền hai người ký lại cho ta nhé,' thế là tụi tôi ký. Rồi sau đó ông chủ thưởng cho mỗi đứa một khoản tiền kha khá. 'Ta chẳng để lại gì cho anh chị trong di chúc đâu,' ông ấy bảo, 'nhưng chừng nào ta còn sống thì mỗi năm các anh chị sẽ có khoản này để làm vốn lận lưng lúc ta qua đời'; và quả đúng là ông ấy đã làm thế thật."

Poirot trầm ngâm suy nghĩ.

"Sau khi anh chị ký lần thứ hai, ông Marsh đã làm gì? Anh chị có biết không?"

"Đi ra làng để thanh toán sổ sách với mấy tiệm tạp hóa."

Điều đó có vẻ không mấy hứa hẹn. Poirot bèn thử một hướng khác. Ông chìa chiếc chìa khóa bàn giấy ra.

"Đây có phải chữ viết của ông chủ anh không?"

Có thể là do tôi tưởng tượng ra, nhưng tôi có cảm giác là phải mất một lúc lâu Baker mới trả lời: "Vâng, thưa ông, đúng ạ."

"Hắn đang nói dối," tôi thầm nghĩ. "Nhưng tại sao chứ?"

"Ông chủ anh có cho thuê nhà không?—có người lạ nào ở đây trong suốt ba năm qua không?"

"Không, thưa ông."

"Không có khách khứa gì à?"

"Chỉ có cô Violet thôi."

"Không có người lạ nào bất kể loại nào bước chân vào căn phòng này sao?"

"Không, thưa ông."

"Ông quên mất tốp thợ rồi đấy, Jim," vợ anh ta nhắc nhở.

"Thợ thuyền á?" Poirot quay phắt lại nhìn cô ta. "Thợ thuyền nào thế?"

Người phụ nữ giải thích rằng khoảng hai năm rưỡi trước, thợ thuyền đã đến nhà để thực hiện một số việc sửa chữa nhất định. Cô ta tỏ ra khá mơ hồ về việc sửa chữa những gì. Quan điểm của cô ta có vẻ là toàn bộ chuyện đó chỉ là một sở thích bất chợt của ông chủ và hoàn toàn không cần thiết. Có khoảng thời gian thợ thuyền đã ở trong phòng làm việc; nhưng họ đã làm gì ở đó thì cô ta không thể nói được, vì ông chủ không cho phép ai trong số họ bước vào phòng khi công việc đang tiến hành. Thật không may, họ không thể nhớ tên của công ty đã thuê, chỉ biết rằng đó là một công ty ở Plymouth.

"Chúng ta đang tiến triển đấy, Hastings," Poirot vừa nói vừa xoa tay khi vợ chồng Baker rời khỏi phòng. "Rõ ràng là ông ấy đã lập một bản di chúc thứ hai rồi sau đó thuê thợ từ Plymouth đến để tạo ra một chỗ ẩn giấu thích hợp. Thay vì lãng phí thời gian cạy sàn nhà và gõ vào tường, chúng ta sẽ đến Plymouth."

Với một chút ít rắc rối, chúng tôi đã có thể thu thập được thông tin mình muốn. Sau một hoặc hai lần dò hỏi, chúng tôi đã tìm ra công ty mà ông Marsh từng thuê.

Các nhân viên của họ đều đã làm việc ở đó nhiều năm, và thật dễ dàng để tìm ra hai người thợ từng làm việc theo chỉ thị của ông Marsh. Họ nhớ rất rõ công việc đó. Giữa nhiều công việc phụ nhỏ nhặt khác, họ đã nhấc một viên gạch lên ở chiếc lò sưởi kiểu cũ, tạo một khoảng trống bên dưới, và gọt giũa viên gạch đó sao cho không thể nhìn thấy mối nối. Bằng cách ấn vào viên gạch thứ hai tính từ ngoài cùng vào, toàn bộ cơ cấu sẽ được nâng lên. Đó là một công trình khá phức tạp và ông cụ tỏ ra vô cùng khó tính về chuyện đó. Người cung cấp thông tin cho chúng tôi là một người tên là Coghan, một người cao gầy, vạm vỡ với bộ ria mép điểm hoa râm. Trông anh ta có vẻ là một kẻ thông minh.

Chúng tôi trở lại trang viên Crabtree với tâm trạng hân hoan tột độ, và sau khi khóa cửa phòng làm việc lại, chúng tôi tiến hành áp dụng kiến thức vừa mới thu thập được vào thực tế. Hoàn toàn không thể nhìn thấy bất kỳ dấu hiệu nào trên những viên gạch, nhưng khi chúng tôi ấn vào theo đúng cách đã chỉ dẫn, một khoảng trống sâu hoắm ngay lập tức lộ ra.

Poirot đầy hào hức thò tay vào. Đột nhiên nét mặt ông từ sự đắc thắng tự mãn chuyển sang vẻ kinh hoàng thất vọng. Tất cả những gì ông cầm lên chỉ là một mẩu giấy cứng đã bị cháy xém. Ngoài nó ra, cái hốc đó hoàn toàn trống rỗng.

"Quỷ tha ma bắt!" Poirot giận dữ kêu lên. "Có kẻ đã nhanh chân hơn chúng ta rồi."

Chúng tôi lo lắng kiểm tra mảnh giấy vụn. Rõ ràng nó là một mảnh của thứ mà chúng tôi đang tìm kiếm. Một phần chữ ký của Baker vẫn còn sót lại, nhưng hoàn toàn không có dấu hiệu nào cho thấy các điều khoản trong di chúc ra sao.

Poirot ngả người ngồi thụp xuống gót chân. Biểu cảm của ông trông sẽ khá buồn cười nếu như chúng tôi không đang quá bàng hoàng.

"Tôi không thể hiểu nổi điều này," ông gầm gừ. "Ai đã phá hủy thứ này cơ chứ? Và mục đích của chúng là gì?"

"Vợ chồng Baker chăng?" tôi gợi ý.

"Pourquoi? Chẳng có bản di chúc nào chu cấp điều khoản gì cho họ cả, và họ có khả năng được cô Marsh giữ lại làm việc tiếp cao hơn nhiều so với khi nơi này trở thành tài sản của một bệnh viện. Làm thế nào mà việc hủy hoại di chúc lại đem lại lợi ích cho ai được cơ chứ? Các tổ chức từ thiện được hưởng lợi — vả chăng; nhưng người ta không thể nghi ngờ các tổ chức được."

"Có lẽ ông già đã thay đổi ý định và tự tay hủy bỏ nó thì sao," tôi gợi ý.

Poirot đứng bật dậy, phủi đầu gối bằng vẻ cẩn trọng quen thuộc.

"Điều đó cũng có thể lắm chứ," ông thừa nhận. "Đó là một trong những quan sát có lý hơn của anh đấy, Hastings. Thôi được, chúng ta chẳng thể làm gì thêm ở đây nữa. Chúng ta đã làm tất cả những gì con người phàm trần có thể làm. Chúng ta đã thành công trong việc đấu trí với cố ông Andrew Marsh; nhưng ngặt nỗi là cô cháu gái của ông ấy chẳng được hưởng lợi gì hơn từ thành công của chúng ta cả."

Bằng cách phóng xe thẳng ra nhà ga, chúng tôi vừa kịp bắt một chuyến tàu về London, dù đó không phải là chuyến tốc hành chính. Poirot buồn bã và không mấy bằng lòng. Về phần mình, tôi cảm thấy mệt mỏi và ngủ gật ở một góc toa. Đột nhiên, khi chúng tôi vừa rời khỏi ga Taunton, Poirot phát ra một tiếng kêu ré lên chói tai.

“Nhanh lên, Hastings! Dậy và nhảy xuống mau! Tôi bảo nhảy cơ mà!”

Trước khi tôi kịp định thần xem chuyện gì đang xảy ra thì chúng tôi đã đứng trên sân ga, đầu không đội mũ và chẳng có lấy vali hành lý, trong khi đoàn tàu đã khuất dạng vào màn đêm. Tôi vô cùng tức giận. Nhưng Poirot chẳng thèm để ý.

"Đúng là một tên ngốc!" ông kêu lên. "Đồ ngốc nghếch ba lần! Sẽ chẳng bao giờ tôi dám khoe khoang về những tế bào xám nhỏ bé của mình nữa đâu!"

"Dù sao thế cũng là phúc đức lớn rồi," tôi cáu kỉnh nói. "Nhưng tất cả chuyện này là sao thế hả?"

Như thường lệ, khi đang theo đuổi những ý nghĩ của riêng mình, Poirot hoàn toàn phớt lờ tôi.

"Sổ sách của mấy tiệm tạp hóa — tôi đã hoàn toàn bỏ quên chúng! Đúng thế, nhưng ở đâu cơ chứ? Ở đâu? Mặc kệ đi, tôi không thể nhầm lẫn được. Chúng ta phải quay lại ngay lập tức."

Nói thì dễ hơn làm. Chúng tôi xoay sở bắt được một chuyến tàu chậm đến Exeter, và tại đó Poirot thuê một chiếc xe hơi. Chúng tôi quay trở lại trang viên Crabtree vào lúc canh ba gần sáng. Tôi xin bỏ qua sự ngỡ ngàng của vợ chồng Baker khi cuối cùng chúng tôi cũng gọi họ thức giấc. Chẳng thèm đếm xỉa gì đến ai, Poirot sải bước thẳng đến phòng làm việc.

"Tôi không phải là một tên ngốc gấp ba, mà là gấp ba mươi sáu lần, bạn tôi ạ," ông ban phát vài lời nhận xét. "Nào, hãy nhìn đây!"

Đi thẳng đến bàn giấy, ông rút chìa khóa ra và gỡ chiếc phong bì ra khỏi nó. Tôi ngẩn ngơ nhìn ông. Làm thế nào mà ông có thể hy vọng tìm thấy một mẫu di chúc to tướng trong cái phong bì nhỏ xíu đó cơ chứ? Với sự cẩn trọng cao độ, ông dùng dao rạch mở chiếc phong bì, trải phẳng nó ra. Sau đó, ông châm lửa đốt và hơ mặt trong trơn nhẵn của chiếc phong bì lên ngọn lửa. Chỉ trong vài phút, những ký tự mờ ảo bắt đầu hiện lên.

"Nhìn kìa, mon ami!" Poirot reo lên đầy đắc thắng.

Tôi nhìn. Chỉ có vài dòng chữ mờ ảo viết ngắn gọn rằng ông để lại mọi thứ cho cô cháu gái của mình, Violet Marsh. Nó được đề ngày 25 tháng Ba, lúc 12 giờ 30 trưa, và có chữ ký làm chứng của Albert Pike, thợ làm bánh kẹo, cùng Jessie Pike, người phụ nữ đã có chồng.

"Nhưng... liệu nó có hợp pháp không?" tôi há hốc mồm hỏi.

"Theo như tôi biết, chẳng có điều luật nào cấm viết di chúc bằng sự pha trộn giữa mực tàng hình và mực cảm quang cả. Ý nguyện của người để lại di chúc là hoàn toàn rõ ràng, và người thụ hưởng lại chính là người họ hàng duy nhất còn sống của ông ta. Nhưng sự ranh mãnh của lão già này mới ghê gớm làm sao! Lão lường trước mọi bước đi mà một kẻ tìm kiếm sẽ thực hiện — mà tôi, một tên ngốc đáng thương hại, đã thực hiện. Lão kiếm hai mẫu di chúc, bắt người hầu ký hai lần, rồi đi ra ngoài với bản di chúc được viết ở mặt trong của một chiếc phong bì bẩn và một cây bút máy chứa hỗn hợp mực đặc biệt của lão. Dưới một cái cớ nào đó, lão dụ người thợ làm bánh kẹo và vợ hắn ký tên của họ ngay dưới chữ ký của chính lão, rồi lão cột nó vào chiếc chìa khóa bàn giấy và thầm đắc ý cười khì. Nếu cháu gái lão nhìn thấu trò lừa bịp nhỏ nhặt này của lão, con bé sẽ chứng minh được sự lựa chọn lối sống và nền giáo dục cao cấp của mình, và hoàn toàn xứng đáng nhận số tiền của lão."

"Con bé đâu có nhìn thấu được nó đâu, phải không?" tôi chậm rãi nói. "Nghe có vẻ hơi bất công nhỉ. Rốt cuộc thì ông già đã thắng."

"Nhưng không đâu, Hastings. Chính bộ óc của anh mới là kẻ đi chệch đường. Cô Marsh đã chứng minh được sự sắc sảo trong trí tuệ của mình và giá trị của nền giáo dục bậc cao dành cho phụ nữ bằng cách lập tức giao phó mọi việc vào tay tôi. Hãy luôn thuê chuyên gia. Cô ấy đã chứng minh một cách vô cùng thuyết phục quyền hợp pháp của mình đối với số tiền đó."

Tôi tự hỏi — tôi vô cùng tự hỏi — cố ông Andrew Marsh sẽ nghĩ thế nào nhỉ!

HẾT

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.