Người Đàn Ông Tầng Trên Và Những Truyện Ngắn Khác

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngoài Giờ Học

❊ ❊ ❊

Xin lưu ý, tôi không hề bênh vực James Datchett. Tôi chẳng có lý do gì để đứng về phía James cả. Ngược lại, tôi hoàn toàn cho rằng anh ấy không nên làm điều đó. Tôi chỉ muốn nói rằng có những tình tiết giảm nhẹ. Chỉ vậy thôi. Tình tiết giảm. Không hơn không kém.

Chúng ta hãy cùng xem xét lại sự việc một cách bình tĩnh và khách quan, không vội vàng phán xét James, mà thay vào đó là mổ xẻ tận gốc toàn bộ câu chuyện để xem liệu chúng ta có thể củng cố quan điểm của tôi rằng việc tìm kiếm sự tha thứ cho anh ấy là điều khả thi hay không.

Chúng ta sẽ bắt đầu từ thời điểm mà chủ đề về các Thuộc địa lần đầu tiên lộ diện, có xu hướng len lỏi một cách đáng ngại vào những câu chuyện phiếm hằng ngày của người bác Frederick.

Bác Frederick của James lúc nào cũng bàn tán ít nhiều về các Thuộc địa, bởi bác đã kiếm được một gia tài kếch xù ở Tây Australia, nhưng phải đến khi James tốt nghiệp đại học trở về, mọi chuyện mới thực sự trở nên đáng ngại. Cho đến lúc đó, người bác chỉ nhắc đến các Thuộc địa như những vùng lãnh thổ bình thường. Giờ đây, ông bắt đầu nói về chúng với một hàm ý ám ảnh nhắm vào đứa cháu trai. Ông đặt James vào tầm ngắm. Mọi chuyện biến thành một vở kịch mang tên ‘Frederick Knott giới thiệu James Datchett trong tác phẩm "Các Thuộc địa",’ và có vẻ như vở kịch này sẽ được công chiếu không sớm thì muộn; bởi nếu có một bộ phận công chúng nào mà ông Knott còn chán ghét hơn cả những thành phần khác, thì đó chính là Lớp Thanh Niên Đáng Lẽ Phải Ra Ngoài Kiếm Sống Thay Vì Ngồi Lại Nhà Ăn Bám. Ông bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề này với một chút tài hùng biện mỗi khi đến thăm nhà em gái. Bà Datchett là một góa phụ, và kể từ khi chồng qua đời, bà vẫn có thói quen coi mọi phát ngôn của người anh trai Frederick như những chân lý vàng ngọc chính hiệu; mặc dù trên thực tế, bộ óc của ông bác nhà James chỉ đủ để khiến một con chim giẻ cùi bay xiêu vẹo, chứ chẳng hơn gì. Ông kiếm được tiền nhờ vào việc nuôi cừu. Mà kẻ ngốc nào cũng có thể nuôi cừu cả. Dẫu vậy, ông vẫn có tiếng là khôn ngoan, và những gì ông nói đều được tuân theo. Do đó, chẳng mất bao lâu để người ta nhận thấy rằng hàng ngũ của Lớp-Thanh-Niên-Đáng-Lẽ-Phải-Ra-Ngoài-Kiếm-Sống-Thay-Vì-Ngồi-Lại-Nhà-Ăn-Bám sắp sửa mất đi một thành viên.

Về phần James, anh hoàn toàn phản đối các Thuộc địa. Ý tôi là, phản đối việc lấy đó làm nền tảng cho sự nghiệp của mình. Anh không phải là một kẻ theo chủ nghĩa Tiểu Anh. Anh chẳng có chút dị nghị nào với việc nước Anh sở hữu các Thuộc địa. Cứ tự nhiên có thuộc địa đi. Họ có thể tin tưởng vào sự ủng hộ tinh thần từ anh. Nhưng khi phải lếu thếch đến tận Tây Australia để làm một dạng người hầu cho bầy cừu đáng nguyền rủa của ông bác Frederick ư—thì không. Không đời nào có chuyện đó đối với James. Đối với anh, cuộc đời phải gắn liền với văn chương. Vâng, đó chính là giấc mơ của James—được thử sức với nghiệp văn chương. Hồi còn ở Oxford, anh từng cộng tác với tờ Isis, và kể từ khi rời ghế nhà trường, anh vẫn luôn cố gắng làm điều tương tự với các tờ báo ở Kinh đô. Cho đến nay anh vẫn chưa đạt được thành công nào. Nhưng hình như có một tiếng nói thầm kín nào đó mách bảo anh—(Hãy đọc tiếp. Hãy đọc tiếp. Đây không phải là câu chuyện về những nỗ lực của một cây bút trẻ mới vào nghề ở London. Chúng ta còn cách Fleet Street tới năm mươi dặm trọn vẹn.)

Một thỏa hiệp tạm thời đã được đạt tới giữa hai bên bằng cách tìm cho James một chân trợ giảng tại Harrow House, ngôi trường tư thục của một nhân vật tên là Blatherwick, Thạc sĩ Nghệ thuật, với ngầm hiểu rằng nếu anh có thể giữ vững chiếc ghế của mình, anh sẽ được phép ở lại nước Anh và viết lách, tùy thích, vào thời gian rảnh rỗi. Nhưng nếu anh tỏ ra thiếu sót bất cứ điều gì trong vai trò quản trị những đứa trẻ, anh sẽ phải giáng một bậc trong vương quốc loài vật và bị đem ra so đọ với bầy cừu Tây Australia. Sẽ không có cơ hội thứ hai nếu anh thất bại. Qua cách nói chuyện của bác Frederick, James suýt có cảm giác như thể ông gán cho mối liên hệ với loài cừu một ý nghĩa tâm linh nào đó. Ông có vẻ như đang cố gắng với một thứ cuồng tín tôn giáo để cải đạo James sang Tây Australia. Thế là James đến Harrow House với tâm trạng chẳng khác mấy so với những gì Đội quân Cận vệ Già hẳn đã cảm thấy trên con đường tiến lên ngọn đồi ở Waterloo.

Harrow House là một dinh thự ảm đạm nằm ở ngoại ô Dover. Dĩ nhiên, ở ngoại ô Dover vẫn hơn là ở ngay trong lòng thị trấn, nhưng một khi bạn đã nói được điều đó thì coi như bạn đã nói hết mọi chuyện. Những ấn tượng của James về khoảng thời gian đó trong đời anh hầu như chỉ toàn là phấn. Phấn trong phòng học, phấn phủ khắp vùng nông thôn, phấn trong sữa. Trong vũ trụ toàn phấn này, anh dạy những đứa trẻ chán ngắt các yếu vỡ lòng về tiếng Latinh, địa lý và số học, và đến buổi tối, sau một tách cà phê trang trọng cùng ông Blatherwick trong phòng làm việc của ông, anh trở về phòng mình và viết truyện. Cuộc sống ấy có ưu điểm là mang lại rất ít sự xao nhãng. Ngoại trừ ông Blatherwick và một kẻ kỳ dị từ Dover lên vào các ngày Thứ Ba và Thứ Sáu để dạy tiếng Pháp, anh chẳng nhìn thấy ai khác.

Khoảng năm tuần sau khi học kỳ bắt đầu, dòng chảy cuộc sống tại Harrow House bỗng trở nên nổi sóng đối với vị trợ giảng mới.

Tôi muốn các bạn theo dõi tôi thật sát sao ở đoạn này. Xét về mặt biện hộ cho hành vi của James, đây là cơ hội duy nhất hoặc không bao giờ có nữa. Nếu ở điểm này mà tôi không thể làm động lòng các bạn, thì tôi coi như đã cạn vốn.

Chúng ta hãy sắp xếp lại các sự kiện.

Trước hết, đó là một buổi sáng tuyệt đẹp đến hoàn hảo.

Hơn nữa, vào bữa sáng, anh đã nhận được một bức thư từ tổng biên tập của một tờ tạp chí hằng tháng thông báo chấp nhận một truyện ngắn của anh.

Chuyện này chưa từng xảy ra với anh trước đây.

Anh vừa tròn hai mươi hai tuổi.

Và, đúng lúc anh vòng qua góc ngôi nhà, anh đụng phải Violet, cũng đang ra ngoài hít thở không khí giống như anh.

Violet là một trong số các cô hầu phòng, một thiếu nữ nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, gọn gàng với đôi mắt xanh tròn xoe và nụ cười thân thiện. Bây giờ cô đang cười với James. James khựng lại.

“Chào buổi sáng, thưa ngài,” Violet nói.

Từ danh sách các nguyên nhân góp phần vào sự việc, tôi nhận ra mình đã bỏ sót một chi tiết—đó là dường như chẳng có ai khác quanh quẩn ở đó cả.

James đăm chiêu nhìn Violet. Violet mỉm cười nhìn James. Buổi sáng hôm ấy vẫn đẹp tuyệt vời như khoảnh khắc trước. James vẫn ở tuổi hai mươi hai. Và lá thư của vị tổng biên tập vẫn chưa ngừng sột soạt trong túi áo ngực của anh.

Hậu quả là James cúi xuống, và—theo một cách hoàn toàn trong sáng như tình anh em—hôn Violet.

Điều này, dĩ nhiên, là sai trái. Việc đi lang thang ban phát những nụ hôn anh em cho các cô hầu phòng vốn không nằm trong bất kỳ nhiệm vụ nào của một trợ giảng tại Harrow House. Mặt khác, cũng chẳng có tai hại lớn lao nào xảy ra. Trong vòng tròn mà Violet hay lui tới, nụ hôn ấy tương đương với cái bắt tay trong giới thượng lưu. Bất kỳ ai đến cửa sau đều hôn Violet. Người giao hàng làm thế; người bán tạp hóa, thợ làm bánh, hàng thịt, làm vườn, người đưa thư, cảnh sát và người bán cá cũng vậy. Họ là những người có quan điểm vô cùng khác biệt về hầu hết mọi vấn đề. Về tôn giáo, chính trị, và triển vọng của những chú ngựa tham gia cuộc đua lúc ba giờ chiều, ý kiến của họ luôn va chạm nhau. Nhưng về một phương diện, họ hoàn toàn đồng lòng. Bất cứ khi nào họ đến cửa sau của Harrow House, tất cả bọn họ đều hôn Violet.

“Tôi vừa có một truyện ngắn được Tạp chí Universal chấp nhận đấy,” James nói một cách bâng quơ.

“Thế ạ, thưa ngài?” Violet đáp.

“Đó là một tờ tạp chí khá tốt. Chắc là tôi sẽ cộng tác với họ rất nhiều trong thời gian tới. Vị tổng biên tập có vẻ là một tay sành sỏi.”

“Vậy ạ, thưa ngài?”

“Dĩ nhiên là tôi sẽ không tự buộc mình vào đâu cả, trừ khi tôi nhận được các điều khoản rất hời. Nhưng tôi chắc chắn sẽ để ông ấy xem qua kha khá tác phẩm của mình. Sáng nay trời tuyệt thật, phải không?”

Anh thong thả bước đi; còn Violet, sau khi hít hà bầu không khí thêm vài phút với chiếc mũi hếch của mình, liền đi vào nhà để tiếp tục công việc.

Năm phút sau, James, khi đã quay trở lại với bầu không khí ngập tràn phấn trắng, đang viết lên bảng đen một số câu văn để lớp học của anh chuyển đổi thành văn xuôi tiếng Latinh. Chúng mang một chút âm hưởng thời sự thoang thoảng xuyên suốt. Cụ thể như sau:

‘Bác của Balbus muốn cậu ấy chăn cừu ở các Thuộc địa (Provincia).’

‘Balbus nói rằng nước Anh là quá đủ đối với cậu ấy (placeo).’

‘Balbus gửi một câu chuyện (versus) cho Maecenas, người đã đáp lại rằng ông hy vọng sẽ sử dụng nó vào thời điểm thích hợp.’

Tâm trí anh đang trôi dạt khỏi phòng học thì một giọng nói lanh lảnh kéo anh trở về.

“Thưa thầy, xin thầy cho biết cụm từ ‘thời điểm thích hợp’ nghĩa là gì ạ?”

James trầm ngâm suy nghĩ. “Đổi thành ‘ngay lập tức’ đi,” anh nói.

“Balbus là một người vĩ đại,” anh viết lên bảng đen.

Hai phút sau, anh đang có mặt trong văn phòng của một tạp chí quan trọng, và trên khuôn mặt vị tổng biên tập lộ rõ vẻ nhẹ nhõm, bởi James đã gần như hứa sẽ viết cho ông một chuỗi gồm mười hai truyện ngắn.

Người ta đã nhận xét rất đúng rằng khi một nhà văn bị từ chối một câu chuyện, anh ta nên gửi câu chuyện đó cho một biên tập viên khác, nhưng khi anh ta được chấp nhận một bài, anh ta nên gửi một câu chuyện khác cho chính biên tập viên đó. Hành động theo kế hoạch tuyệt vời này, trong khoảng thời gian rảnh rỗi một tiếng sau giờ trà chiều, James rít một tẩu thuốc trong phòng ngủ và ổn định chỗ ngồi để bắt đầu nỗ lực thứ hai cho tờ Universal.

Anh đang làm việc khá trôi chảy thì dòng suy nghĩ bị cắt đứt bởi tiếng gõ cửa.

“Vào đi,” James quát lớn. (Tác giả của bạn vốn nổi tiếng là dễ cáu kỉnh).

Kẻ mới đến là Adolf. Adolf là một trong số đông đảo những thanh niên Thụy Sĩ và Đức đến đất nước này với sự chuẩn bị sẵn sàng dâng hiến sức lao động rẻ mạt đến mức lố bịch để đổi lấy cơ hội học tiếng Anh. Ông Blatherwick ôm giữ quan điểm rằng đối với một trường tư thục, một nam nhân đứng mở cửa trước sẽ tốt hơn là nữ nhân, với lý do rằng các bậc phụ huynh của học sinh tiềm năng sẽ cảm thấy ấn tượng khi nhìn thấy một người đàn ông mặc đồng phục. Ông hẳn đã muốn một cái gì đó bề thế hơn Adolf, nhưng kẻ sau lại là món hàng phô trương nhất có thể kiếm được bằng số tiền đó, thế nên ông đành tận dụng tối đa và thuê hắn ta. Rốt cuộc, một vị phụ huynh bị quáng gà, nhìn thấy Adolf trong ánh sáng mờ ảo, biết đâu lại ấn tượng với hắn. Ai mà biết trước được cơ chứ.

“Gì thế?” James nói, trừng mắt nhìn ra.

“Có gì từ làng ra không, thưa ngày?”

Phần lớn các khoản thu nhập phụ thêm của Adolf bao gồm tiền boa hắn nhận được khi chạy ra cửa hàng tạp hóa dưới phố để mua thuốc lá, tem thư, v.v. “Không. Cút đi,” James gầm lên, quay lại với công việc.

Anh ngạc nhiên khi thấy Adolf, chẳng những không cút đi mà còn bước hẳn vào và khép cửa lại.

“Xuy!” Adolf nói, đặt ngón tay lên môi.

James trân trân nhìn hắn.

“Trong vương hoa sảng nay,” vị khách tiếp tục, nhếch miệng cười toe toét như một bức tượng máng xối, “toi đã dấy anh hông Violed. Sô!”

Tim James lỗi nhịp một phách. Xét một cách thuần túy dưới góc độ hoàn cảnh, vị trí hiện tại của anh không phải là lý tưởng. Anh phải làm việc cật lực, và chẳng có mấy tiền bạc gắn liền với công việc này. Nhưng chính những gì mà hoàn cảnh ấy đại diện mới là điều quan trọng. Đó là hòn đảo an toàn nhỏ bé của anh giữa đại dương cuồn cuộn sóng gió của những con cừu Tây Australia. Một khi để tuột mất chỗ bám ấy, anh sẽ chẳng còn chút cơ hội nào nữa. Anh sẽ bị cuốn phăng đi không một tia hy vọng trở về.

“Ý mày là gì?” anh hỏi với giọng khản đặc.

“Trong vương hoa. Toi dấy anh từ cừa sô. Anh và Violed. Sô!” Và Adolf, với một cung cách tồi tệ nhất có thể, diễn lại một cách sống động khung cảnh đó, tự mình đóng vai James.

James không nói gì. Cả thế giới dường như ngập tràn tiếng kêu be be bao la, tựa như vô số đàn cừu.

“Nge này!” Adolf nói. “Có khi toi nói hần Blazzervig biết. Có khi toi không nói. Sô!”

James xốc lại tinh thần. Bằng mọi giá anh phải xoa dịu con sâu mọt này. Ông Blatherwick là một con người khắc khổ. Ông sẽ không bỏ qua một tội lỗi tày trời như thế đâu.

Anh bèn khơi gợi lòng trắc ẩn của kẻ kia.

“Còn Violet thì sao?” anh nói. “Chắc chắn là mày không muốn làm cô tội nghiệp ấy mất việc chứ? Bọn họ thế nào cũng đuổi cổ cô ấy cho mà xem.”

Mắt Adolf lóe lên.

“Sô? Nge này! Khi toi mưới đến đây, toi xém chút nữa mốn hông Violed một lầng. Nhưng cô ấy đẩy măt toi ra, và tình yuu của toi đã biến thàng thù hận.”

James chăm chú lắng nghe bi kịch thu nhỏ này nhưng không đưa ra bình luận nào.

“Có gì từ làng ra không, thưa ngài?”

Giọng Adolf mang đầy hàm ý. James rút ra một đồng nửa vương miện.

“Đây cho mày này. Đi mua cho tao nửa tá tem và giữ lấy tiền thừa đi.”

“Tem ạ? Vang, thưa ngài. Đi ngay day.”

Ấn tượng cuối cùng của James về kẻ sắp rời đi là một nụ cười rộng đến ghê người và đầy vẻ nhớp nhúa, kéo dài gần hết khuôn mặt hắn.

Adolf, trong vai trò một kẻ tống tiền mà hắn vừa thể hiện, có điểm khác biệt so với những tên tống tiền khuôn sáo trong tiểu thuyết. Có lẽ hắn không chắc James có thể chịu đựng được đến mức nào, hoặc cũng có thể tâm hồn hắn theo quy luật chung vốn coi thường tiền bạc. Dù thế nào đi nữa, số tiền mặt thực tế mà hắn lấy từ nạn nhân của mình là rất ít. Hắn có vẻ chỉ muốn được sai vặt ra làng nhiều hơn trước, thế thôi. Một đồng nửa vương miện mỗi tuần là đủ bù đắp tổn thất tài chính cho James.

Nhưng hắn lại khẳng định bản thân theo một cách khác. Trong những khoảnh khắc vô tư nhất của mình, Adolf chưa bao giờ quên lý do đã đưa hắn đến nước Anh. Hắn đến đất nước này để học ngôn ngữ, và hắn nhất định phải làm cho bằng được. Khó khăn vốn luôn cản trở hắn từ trước đến nay—cụ thể là sự nghèo nàn về vốn từ vựng của những kẻ ở khu vực dành cho người hầu—giờ đây đã được gỡ bỏ. Hắn phong James làm gia sư trưởng dạy tiếng Anh cho chính mình, và đảm bảo rằng anh sẽ bắt tay vào nhiệm vụ ngay lập tức.

Lần đầu tiên Adolf chặn đường James ở hành lang bên ngoài phòng học và đòi anh giải thích một số từ khó trong bài xã luận trên tờ báo ngày hôm qua, James đã cảm thấy rất vui. Adolf, anh nghĩ vậy, coi như tập phim đau đớn đó đã khép lại. Hắn đã chấp nhận đồng nửa vương miện như cái giá trọn gói cho sự im lặng, và giờ đây đang cố gắng tỏ ra thân thiện để chuộc lỗi.

Hành vi đúng đắn này khiến James hài lòng. Anh cảm thấy có thiện cảm với Adolf. Anh đọc bài xã luận, rồi tiến hành giải thích một cách đầy đủ và ân cần những từ ngữ hóc búa. Anh đã bỏ công sức vào đó. Anh đi sâu vào nguồn gốc của các từ. Anh chạm đến một số nghĩa phụ khá lắt léo của chúng. Adolf bỏ đi mà mọi hoài nghi hắn từng có về năng lực của James với tư cách là một giáo viên tiếng Anh đã tan biến hoàn toàn. Hắn cảm thấy mình đã tìm đúng người.

Sự niềm nở đã giảm đi đôi chút trong thái độ của James khi điều tương tự lặp lại vào sáng hôm sau. Nhưng anh không từ chối giúp đỡ gã ngoại quốc dốt nát. Bài giảng ít cạn kẽ hơn buổi sáng hôm trước, nhưng chúng ta phải cho rằng nó đã làm Adolf hài lòng, vì hắn lại đến vào ngày hôm sau, niềm tin vào người thầy của mình không hề suy giảm.

James đang cố viết một câu chuyện. Anh quay phắt lại phía tên học trò.

“Cút đi!” anh gầm lên. “Và mang cái tờ báo chết tiệt ấy đi chỗ khác. Không thấy tao đang bận à? Mày tưởng tao có thể dành toàn bộ thời gian để dạy mày đọc sách chắc? Cút!”

“Có vài từ khó lắm, thưa ngài,” Adolf kiên nhẫn nói, “mà toi không hể hỉu nghĩa.”

James nguyền rủa ngắn gọn từ khó đó.

“Nhưng,” Adolf tiếp tục, “với một từ, với từ "hông", toi lại hỉu nghĩa. Sô!”

James nhìn hắn. Có một khoảng lặng.

Hai phút sau, bài học tiếng Anh đã diễn ra vô cùng sôi nổi.

Tất cả những gì James từng nghe hoặc đọc về sự tận tụy học tập kỳ lạ của một thanh niên Đức thời hiện đại đã hiện rõ trong tâm trí anh suốt hai tuần tiếp theo. Giới trẻ Anh quốc của chúng ta phung phí thời gian vào sự lười biếng và tìm kiếm thú vui. Người Đức thì tập trung cao độ. Adolf tập trung y như một miếng dán cao tiêu độc. Mỗi ngày sau bữa sáng, đúng vào lúc thành công trong sự nghiệp văn chương của James phụ thuộc vào sự cô lập tuyệt đối, hắn lại lạch bạch chạy đến để xin bài học. Việc viết lách của James gần như đình trệ.

Thế này thì không thể kéo dài được. Giới hạn nào cũng có điểm dừng, và Adolf đã chạm đến đỉnh điểm khi hắn định bổ sung các lớp học ban đêm vào chương trình giảng dạy hiện có.

James, như đã nói, có thói quen uống cà phê với ông Blatherwick trong phòng làm việc của ông sau khi đã lùa bọn trẻ lên giường đi ngủ. Chính trong lúc đang trên đường đi thực hiện cuộc hẹn này, đúng hai tuần sau cuộc gặp đầu tiên với Adolf, tên học trò trẻ tuổi đã chặn đường anh với tờ báo buổi tối.

Lẽ ra có điềm gì đó phải cảnh báo Adolf rằng thời điểm này không được chọn cho lắm. Trước hết, James đang bị đau đầu, hậu quả của một ngày vất vả với lũ trẻ. Sau đó, bài học tiếng Anh sáng hôm đó đã khiến anh quên bẵng đi một ý tưởng vốn hứa hẹn sẽ là hạt nhân cho một cốt truyện tuyệt vời. Và cuối cùng, khi đi ngang qua sảnh chỉ một khoảnh khắc trước, anh đã gặp Violet đang bưng cà phê và thư chiều vào phòng làm việc, và cô đã trao cho anh hai phong bì dài viết bằng chính chữ tay của anh. Anh đang trầm ngâm suy nghĩ về những thứ này, chuẩn bị bóc chúng ra, ngay tại thời điểm Adolf cất lời với anh.

“Xin lỗi,” Adolf nói, mở tờ báo ra.

Mắt James lóe lên vẻ đầy đe dọa.

“Ở đay có,” Adolf tiếp tục, không hề hay biết, “vài từ khó không thể so sán mờ toi không hỉu. Ví dụ như—”

Chính tại thời điểm này, James đã tung chân đá hắn.

Adolf nhảy dựng lên như một con sơn dương trúng tên.

“Cái gì thế?” hắn kêu lên.

Với những chiếc phong bì dài trong tay, James chẳng còn màng đến điều gì nữa. Anh lại đá Adolf thêm một phát nữa.

“Sô!” tên học trò nói sau khi đã nhảy vọt ra xa. Hắn bổ sung thêm vài từ bằng tiếng mẹ đẻ rồi tiếp tục. “Đợi đấy! Nge này! Toi nói cho anh biết, cứ đợi đấy! Lát nữa, khi toi đáu hóng bạc xạch sẽ vả hoàn thành các nhiệm vụ khác đông đúc của toi, toi sẽ đi tìm hần Blazzervig vả kể cho hần nghe về câu chuyện nhỏ mờ anh đẵ biết. Sô!”

Hắn tót ngay về hang ổ của mình.

James quay người bỏ đi, rảo bước dọc hành lang để phục hồi các tế bào thần kinh bằng tách cà phê.

Trong khi đó, tại phòng làm việc, đang đứng tựa lưng vào lò sưởi trầm ngâm suy tư, ông Blatherwick đang buồn rầu ngẫm nghĩ về những nỗi gian truân trong cuộc đời của một nhà giáo. Chủ nhân của Harrow House là một người đàn ông cao gầy, nghiêm nghị, một trong những người cuối cùng chống lại chiến dịch bài trừ ria mép. Ông có đôi mắt màu hạt dẻ vô hồn, và dáng vẻ chung của một kẻ xác ở đây nhưng hồn đã trôi đi đâu mất. Các bà mẹ đến thăm trường để gửi gắm con cái thường quy kết sự đãng trí của ông cho sự năng nổ của trí tuệ. “Bộ óc bận rộn đó,” họ nghĩ, “chưa bao giờ nghỉ ngơi. Ngay cả khi đang nói chuyện với chúng ta, một vấn đề hóc búa nào đó trong văn học cổ điển cũng đang chiếm lấy tâm trí ông.”

Điều đang chiếm lấy tâm trí ông vào khoảnh khắc này chính là hành vi hoàn toàn không thể chấp nhận được của cậu em vợ, Bertie Baxter. Càng trầm ngâm suy nghĩ về những nét nổi bật trong lịch sử cuộc đời của cậu em vợ Bertie Baxter, vết dao cứa vào tâm can ông càng thêm sâu hoắm. Bertie là một trong những kẻ chuyên moi tiền thiên bẩm. Đây là thời đại của các chuyên gia, và chuyên môn của Bertie chính là đi vay tiền. Anh ta là một kẻ có sự linh hoạt đến mức gần như kỳ quái theo hướng này. Thời gian không thể làm tàn phế cũng như thói quen không thể làm phai mòn sự phong phú vô tận của anh ta. Anh ta có thể vay tiền bằng một vẻ mặt trơ trẽn đầy tự tin đến mức biến sự việc thực chất thành một vụ cướp ngày. Và rồi, khi nạn nhân của anh ta đã tự trang bị sự cứng rắn để chống lại phương pháp này, anh ta lại có thể rút thêm một tờ năm bảng nữa từ khoản tích lũy nhỏ nhoi của họ với sự khéo léo của một người chơi gậy gỗ. Ông Blatherwick đã là một mỏ vàng đối với anh ta trong nhiều năm trời. Theo quy luật, chủ nhân của Harrow House thường rút ví không chút phàn nàn, bởi Bertie, giống như mọi con nợ cừ khôi khác, có biệt tài khiến nạn nhân của mình cảm thấy ngay tại khoảnh khắc trao tiền, cứ như thể họ vừa thực hiện một khoản đầu tư khá hời. Nhưng một khi thoát khỏi thứ bùa mê từ sức hút cá nhân của cậu em vợ, ông Blatherwick lại hay trầm ngâm suy nghĩ. Và ông đang trầm ngâm ngay lúc này. Tại sao, ông tự hỏi một cách rầu rĩ, mình lại phải chịu đựng sự quấy rầy bởi gã Bertie này cơ chứ? Đâu phải Bertie túng thiếu gì cho cam. Anh ta có một khoản thu nhập nhỏ của riêng mình. Không, đó thuần túy là sự thiếu chu đáo. Bertie là cái thá gì mà hắn dám—

Đến đoạn này trong dòng suy tư, Violet bước vào mang theo cà phê sau bữa tối và thư tín buổi chiều.

Ông Blatherwick nhận lấy những lá thư. Có hai bức, và một trong số đó, ông nhận thấy với một luồng phẫn nộ dâng trào, chính là nét chữ của cậu em vợ. Máu trong người ông Blatherwick bắt đầu sôi lên. Thế ra gã này tưởng hắn có thể vay tiền qua thư đấy phỏng? Thậm chí còn chẳng buồn ghé qua một chuyến, hử? Ông xé toạc bức thư ra, và thứ đập vào mắt ông đầu tiên chính là một tờ séc trị giá năm bảng.

Ông Blatherwick vô cùng kinh ngạc. Việc một bức thư từ cậu em vợ gửi đến mà không đi kèm yêu cầu xin tiền đã là một điều bất ngờ; việc nó lại chứa một tờ séc, dù chỉ là năm bảng, lại là một phép màu.

Ông mở bức thư thứ hai. Nó ngắn gọn, nhưng chứa đầy những tình cảm cao cả và tốt đẹp nhất; đại ý là người viết, Charles J. Pickersgill, sau khi nghe nhà trường được ca tụng hết lời bởi người bạn của mình, ông Herbert Baxter, sẽ rất vui lòng nếu ông Blatherwick có thể nhận ba cậu con trai của ông ấy, lần lượt bảy, chín và mười một tuổi, vào thời điểm sớm nhất có thể.

Cảm xúc đầu tiên của ông Blatherwick là sự ân hận vì dẫu chỉ trong ý nghĩ, ông đã có phần khắc nghiệt với Bertie có trái tim bằng vàng. Tiếp theo đó là cảm giác phấn khởi.

Trong khi đó, Violet vẫn kiên nhẫn đứng trước mặt ông cùng khay cà phê. Ông Blatherwick tự rót cho mình. Ánh mắt ông rơi vào người Violet.

Violet là một cô gái nhỏ thân thiện và ấm áp. Cô thấy ông Blatherwick vừa nhận được tin vui; và với tư cách là người mang những bức thư chứa đựng niềm vui ấy đến, cô cảm thấy mình gần như có trách nhiệm. Cô ân cần mỉm cười nhìn lên ông Blatherwick.

Đôi mắt hạt dẻ mơ màng của ông Blatherwick đăm chiêu đậu trên người cô. Phần lớn tâm trí ông đang bay bổng ở tương lai, đối mặt với viễn cảnh về một ngôi trường phát triển đến quy mô khổng lồ và được các triệu phú bảo trợ. Phần tâm trí vẫn đang hoạt động ở hiện tại thì vừa đủ lớn để giúp ông hiểu rằng ông cảm thấy thiện cảm, thậm chí gần như biết ơn, đối với Violet. Đáng tiếc là nó lại quá nhỏ bé để khiến ông nhận ra việc hôn cô một cách mơ hồ, ra điều phụ huynh qua khay cà phê ngay lúc James Datchett bước vào phòng là sai trái đến nhường nào.

James khựng lại. Ông Blatherwick húng hắng ho. Violet, hoàn toàn bình thản, rót cà phê cho James rồi tất tả bước ra khỏi phòng.

Cô để lại phía sau một bầu không khí im lặng có phần nặng nề.

Ông Blatherwick lại húng hắng ho.

“Trông có vẻ sắp mưa nhỉ,” James bâng quơ nói.

“Hả?” ông Blatherwick đáp.

“Rất giống trời sắp mưa,” James nói.

“Thế ư!” ông Blatherwick nói.

Một khoảng lặng.

“Thật tệ nếu trời mưa,” James nói.

“Đúng vậy,” ông Blatherwick nói.

Lại một khoảng lặng nữa.

“Ừm—Datchett,” ông Blatherwick lên tiếng.

“Vâng,” James đáp.

“Tôi—ừm—cảm thấy có lẽ—”

James chăm chú chờ đợi.

“Cậu có dùng đường không?”

“Đủ rồi, cảm ơn thầy,” James nói.

“Tôi sẽ buồn nếu trời mưa,” ông Blatherwick nói.

Cuộc trò chuyện trở nên nguội lạnh.

James đặt tách xuống.

“Tôi có vài việc phải viết,” anh nói. “Chắc tôi lên lầu đây.”

“Ừm—cứ thế đi,” ông Blatherwick nói với vẻ nhẹ nhõm. “Cứ thế đi. Một ý kiến hay.”

“Ừm—Datchett,” ông Blatherwick nói vào ngày hôm sau, sau bữa sáng.

“Vâng?” James đáp.

Một cảm giác mãn nguyện đang bao trùm lấy anh sáng nay. Mặt trời đã phá vỡ tầng mây chiếu rọi xuống. Một trong những chiếc phong bì dài mà anh nhận được tối hôm trước, khi kiểm tra kỹ lại, hóa ra lại chứa một bức thư từ vị tổng biên tập đồng ý chấp nhận câu chuyện nếu anh chịu cấu trúc lại một số đoạn được đánh dấu ở lề.

“Tôi—ờ—không may bị buộc phải sa thải Adolf,” ông Blatherwick nói.

“Thế ạ?” James nói. Anh đã hơi nhớ cái khuôn mặt lúc nào cũng bóng nhẫy vì sáng sủa của Adolf.

“Vâng. Sau khi cậu rời khỏi chỗ tôi tối qua, hắn ta đã đến phòng làm việc của tôi với một sựa bị đặt—ờ—đầy ác ý liên quan đến chính cậu mà tôi không cần phải—ờ—nêu chi tiết.”

James ra vẻ đau khổ. Thật là một điều khủng khiếp khi nuôi ong tay áo mà lỵ.

“Sao cơ, dạo này tôi còn đang dạy tiếng Anh cho Adolf hầu như mỗi ngày ấy chứ. Mấy tên ngoại quốc này chẳng có chút lòng biết ơn nào cả,” anh buồn bã nói.

“Thế nên tôi buộc phải—” ông Blatherwick tiếp lời, “—nói chung là vậy đấy.”

James gật đầu đầy thông cảm.

“Thầy có biết gì về Tây Australia không?” anh hỏi, chuyển chủ đề. “Tôi tin đó là một đất nước tuyệt vời. Đã có lúc tôi nghĩ đến chuyện đến đó.”

“Thế ư?” ông Blatherwick nói.

“Nhưng giờ thì tôi từ bỏ ý định đó rồi,” James nói.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của P. G. Wodehouse

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.