Người đàn ông tầng trên và những truyện ngắn khác

Người Đàn Ông Tầng Trên Và Những Truyện Ngắn Khác

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
The Man Upstairs

❊ ❊ ❊

Có ba giai đoạn rõ rệt trong sự tiến triển thái độ của Annette Brougham đối với tiếng gõ phát ra từ căn phòng phía trên. Lúc đầu, cô chỉ xem đó là một nỗi khó chịu mơ hồ. Chìm đắm trong việc sáng tác bản valse của mình, cô nghe thấy tiếng gõ ấy gần như bằng tiềm thức.

Giai đoạn thứ hai bắt đầu khi âm thanh đó trở thành một nỗi đau thể xác, tựa như một chiếc kìm nung đỏ đang giật bứt tâm trí cô ra khỏi âm nhạc. Cuối cùng, với một niềm phẫn nộ dâng trào, cô nhận ra bản chất thực sự của nó—đó là một sự lăng mạ. Tên thô lỗ vô hình kia không ưa tiếng đàn của cô, và đang biểu thị quan điểm của mình bằng gót giày.

Một cách thách thức, với bàn chân đặt lên bàn đạp vang, cô giáng mạnh—gần như tát—vào phím đàn thêm một lần nữa.

‘Cốc!’ từ căn phòng phía trên vọng xuống. ‘Cốc! Cốc!’

Annette đứng dậy. Khuôn mặt cô ửng hồng, cằm ngẩng cao. Đôi mắt ánh lên ngọn lửa chiến đấu. Cô rời khỏi phòng và bắt đầu bước lên cầu thang. Không một người quan sát nào, dù có công tâm đến đâu, có thể tránh khỏi cảm giác xót xa dành cho kẻ khốn khổ đang đứng đó, hoàn toàn không hay biết về thảm hoạ cận kề, thậm chí có lẽ đang đắc thắng, ngay đằng sau cánh cửa mà cô sắp sửa gõ vào.

‘Mời vào!’ tiếng nói vang lên, một giọng nói khá dễ nghe; nhưng giọng nói dễ nghe nào có ích gì nếu tâm hồn đê tiện?

Annette bước vào. Căn phòng là một xưởng họa tiêu biểu ở Chelsea, nghèo nàn đồ đạc và không có thảm trải sàn. Ở giữa phòng là một chiếc giá vẽ, phía sau ẩn hiện một đôi chân quần dài. Một làn khói xám đang cuồn cuộn bay lên phía trên đỉnh giá vẽ.

‘Xin lỗi anh,’ Annette mở lời.

‘Tôi không cần người mẫu nào vào lúc này,’ kẻ Thô Lỗ nói. ‘Cứ để danh thiếp của cô lên bàn đi.’

‘Tôi không phải người mẫu,’ Annette lạnh lùng đáp. ‘Tôi chỉ đến—’

Đến đây, kẻ Thô Lỗ liền bước ra khỏi chiến lũy của hắn, rút tẩu thuốc ra khỏi miệng và kéo ghế ra khoảng không gian trống.

‘Xin lỗi cô,’ hắn nói. ‘Cô ngồi xuống nhé?’

Tạo hóa thật là bừa bãi làm sao trong việc ban phát những món quà của mình! Kẻ chuyên gõ sàn với trái tim đen tối này không chỉ có một chất giọng dễ nghe, mà bù lại, còn sở hữu vẻ bề ngoài ưa nhìn. Trông hắn lúc này có đôi chút lòa xòa, mái tóc dựng ngược lên bù xù như một chổi lau nhà; thế nhưng bất chấp những điểm bất lợi ấy, hắn lại khá là khôi ngô. Annette thừa nhận điều này. Dù đang thị nộ, cô vẫn rất công tâm.

‘Tôi tưởng cô là một người mẫu khác,’ hắn giải thích. ‘Họ cứ kéo đến với tần suất mười người một giờ kể từ khi tôi dọn đến đây. Lúc đầu tôi chẳng bực mình gì, nhưng sau khi khoảng chừng đứa con thứ tám mươi của miền đất nắng ấm Italia xuất hiện, thì tôi bắt đầu thấy phát điên lên rồi đấy.’

Annette lạnh lùng đợi cho hắn nói xong.

‘Tôi lấy làm tiếc,’ cô cất giọng với vẻ đây là lúc anh phải nhận hậu quả, ‘nếu tiếng đàn của tôi làm phiền đến anh.’

Người ta sẽ nghĩ rằng chẳng có ai ngoài một người Eskimo mặc đồ lông thú và quần áo lót mùa đông mới có thể chống lại được sự lạnh giá trong thái độ của cô; thế nhưng kẻ Thô Lỗ chẳng hề bị đóng băng.

‘Tôi lấy làm tiếc,’ Annette lặp lại, ở mức nhiệt độ thấp hơn điểm đóng băng rất nhiều, ‘nếu tiếng đàn của tôi làm phiền đến anh. Tôi ở phòng ngay bên dưới, và tôi đã nghe thấy anh gõ.’

‘Không, không,’ chàng trai phản đối một cách lịch sự; ‘tôi thích nghe mà. Thật đấy.’

‘Thế thì tại sao lại gõ xuống sàn nhà?’ Annette vừa nói vừa quay người bước đi. ‘Điều đó rất có hại cho trần nhà của tôi,’ cô ngoảnh lại nói qua vai. ‘Tôi nghĩ anh sẽ không phiền khi tôi nhắc đến chuyện này đâu. Chào buổi chiều.’

‘Không; nhưng đợi một chút đã. Đừng đi vội.’

Cô khựng lại. Hắn đang quan sát cô với một nụ cười thân thiện. Cô bất đắc dĩ nhận ra rằng hắn có một nụ cười rất đẹp. Sự điềm tĩnh của hắn bắt đầu khiến cô ngày càng tức lộn ruột. Lẽ ra từ lâu hắn phải quằn quại dưới chân cô trong bụi đất, bị nghiền nát và hèn mọn rồi mới phải chứ.

‘Cô thấy đấy,’ hắn nói, ‘tôi vô cùng xin lỗi, nhưng cơ sự là thế này. Tôi rất yêu âm nhạc, nhưng ý tôi là, cô đâu có chơi một giai điệu nào. Nó cứ lặp đi lặp lại đúng một đoạn hệt như nhau.’

‘Tôi đang cố tìm một đoạn nhạc,’ Annette nói với vẻ đường bang, nhưng bớt lạnh lùng hơn. Bất chấp ý chí, cô bắt đầu cảm thấy nguôi giận. Có một sức hấp dẫn kỳ lạ ở chàng trai đầu tóc bù xù này.

‘Một đoạn nhạc á?’

‘Về âm nhạc. Cho bản valse của tôi. Tôi đang sáng tác một bản valse.’

Vẻ mặt chàng trai tràn ngập một sự ngưỡng mộ tuyệt đối đến mức những lớp băng cuối cùng đã tan chảy hoàn toàn. Lần đầu tiên kể từ khi gặp mặt, Annette thấy bản thân thực sự có thiện cảm với tên đồ tể chuyên gõ sàn nhà đồi bại này.

‘Cô có thể sáng tác nhạc ư?’ hắn nói với vẻ đầy ấn tượng.

‘Tôi đã viết được một hoặc hai bài hát.’

‘Chắc hẳn phải tuyệt lắm khi làm được những điều—những việc mang tính nghệ thuật ấy, ý tôi là, giống như sáng tác vậy.’

‘Ơ, chính anh cũng làm nghệ thuật còn gì? Anh vẽ tranh đấy thôi.’

Chàng trai lắc đầu với một nụ cười tươi tắn.

‘Tôi nghĩ rằng,’ hắn nói, ‘mình sẽ làm một thợ sơn nhà khá cừ. Tôi cần không gian rộng lớn. Khung vải có vẻ làm tôi thấy gò bó.’

Điều đó dường như chẳng mang lại cho hắn chút khó chịu nào. Hơn là bực bội, trông hắn có vẻ thích thú thì đúng hơn.

‘Để tôi xem nào.’

Cô bước sang phía chiếc giá vẽ.

‘Tôi khuyên là đừng,’ hắn cảnh báo cô. ‘Cô thực sự muốn xem chứ? Đây chẳng phải là sự liều lĩnh mù quáng đấy chứ? Vậy thì tùy cô nhé.’

Dưới cái nhìn của một nhà phê bình có kinh nghiệm, bức tranh chắc chắn sẽ trông rất thô sơ. Đó là bức họa về một đứa trẻ mắt đen đang ôm một con mèo đen lớn. Các nhà thống kê ước tính rằng chẳng có khoảng thời gian nào trong ngày mà ở đâu đó trên bề mặt trái đất lại không có một hoặc vài họa sĩ trẻ đang vẽ tranh những đứa trẻ ôm mèo.

‘Tôi đặt tên nó là “Đứa Trẻ và Con Mèo”,’ chàng trai nói. ‘Quả là một cái tên khá chỉnh tề phải không cô? Nó mang lại cho cô ý chính của bức tranh ngay lập tức. Kia,’ hắn giải thích, lịch sự dùng cán tẩu chỉ vào, ‘là con mèo.’

Annette thuộc về bộ phận đông đảo công chúng—những người thích hoặc không thích một bức tranh tùy thuộc vào việc đề tài của nó có làm họ vừa lòng hay không. Có lẽ chẳng có bức tranh thảm họa nào trong số khoảng một triệu bức tranh vẽ trẻ em ôm mèo đang tồn tại mà cô lại không thích cả. Hơn nữa, anh ta đã rất tử tế khi nói về âm nhạc của cô.

‘Tôi nghĩ nó tuyệt lắm,’ cô tuyên bố.

Khuôn mặt chàng trai lộ rõ vẻ ngạc nhiên còn hơn cả niềm vui.

‘Cô thực sự nghĩ thế ư?’ hắn nói. ‘Vậy thì tôi có thể nhắm mắt xuôi tay được rồi—đấy là nếu cô chịu xuống dưới nhà và nghe tôi hát những bài hát của cô trước đã.’

‘Anh sẽ lại gõ xuống sàn nhà cho mà xem,’ Annette phản đối.

‘Tôi sẽ không bao giờ gõ xuống bất kỳ sàn nhà nào nữa chừng nào tôi còn sống,’ cựu kẻ-thô-lỗ trấn an. ‘Tôi ghét việc gõ sàn nhà. Mà dù sao thì tôi cũng chẳng hiểu tại sao người ta lại đi gõ xuống sàn nhà làm gì nữa.’

Tình bạn ở Chelsea thường nảy nở rất nhanh. Chỉ trong vòng một tiếng mười lăm phút, Annette đã biết rằng chàng trai đó tên là Alan Beverley (và vì nỗi khổ sở mang đậm chất phả hệ gia đình này, cô đâm ra thương hại hơn là khinh bỉ anh), rằng anh không sống hoàn toàn dựa vào công việc vẽ vời vì bản thân có sẵn một ít tiền riêng, và anh coi đó là một điều may mắn. Ngay từ đầu cuộc trò chuyện, anh đã làm cô hài lòng. Cô thấy anh là một biến thể hoàn toàn mới lạ và độc đáo của những họa sĩ không gặp thời. Không giống như Reginald Sellers—người có một xưởng họa cùng tòa nhà, thỉnh thoảng hay ghé qua để uống cà phê của cô và trút bầu tâm sự—anh không quy chụp sự thất bại của mình cho bất kỳ sự ác ý hay ngu ngốc nào từ phía công chúng. Cô đã quá quen với việc nghe Sellers đả kích tầng lớp Trưởng giả và hào hứng diễn thuyết về những giá trị tài năng không được trân trọng, đến nỗi cô suýt không thể tin vào điều kỳ diệu khi trả lời một câu nói cửa miệng đầy thông cảm về việc công chúng thiếu gu thẩm mỹ trong Nghệ thuật, Beverley liền đáp rằng, xét về phần mình, công chúng đã thể hiện một nhãn quan vô cùng sáng suốt. Nếu anh đã phải vắt kiệt mọi sức lực để giành lấy sự kính trọng của cô thì anh cũng không thể làm điều đó một cách chắc chắn hơn bằng chính câu nói duy nhất ấy. Dù luôn lắng nghe với một sự kiên nhẫn ngọt ngào—điều đã khích lệ họ tiếp tục nói dài dòng mãi sau thời điểm mà trong thâm tâm cô bắt đầu muốn ném đồ đạc vào mặt họ—Annette chẳng có chút đồng cảm nào với những kẻ hay rên rỉ. Bản thân cô là một chiến sĩ. Cô căm ghét hơn bất cứ ai những cú đòn phũ phàng mà Số Phận giáng xuống những kẻ đang oằn mình tranh đấu và ôm ấp hoài bão; nhưng cô chưa bao giờ biến chúng thành chủ đề cho một màn độc thoại. Thường thì, sau những chuyến đi mệt mỏi rã rời qua các văn phòng của nhà xuất bản âm nhạc, cô sẽ thầm khóc tức tưởi một mình, thậm chí cắn cả gối trong những canh ba tĩnh mịch; nhưng trước mặt mọi người, lòng tự trọng luôn giữ cho cô một vẻ rạng rỡ và vui tươi không đổi.

Hôm nay, lần đầu tiên, cô bộc lộ một phần những nỗi niềm cay đắng của mình. Ở chàng trai đầu bù này có thứ gì đó khơi gợi sự thổ lộ tâm tình. Cô kể cho anh nghe về sự trơ tráo tuyệt tình của các nhà xuất bản âm nhạc, về những khó khăn khi muốn in các bài hát trừ khi phải tự bỏ tiền túi, và về doanh số bán hàng thảm hại của chúng.

‘Nhưng những bài hát mà cô vừa chơi ấy,’ Beverley nói, ‘chúng đã được xuất bản chưa?’

‘Rồi, ba bài đó đấy. Nhưng chúng là những bài duy nhất.’

‘Và chúng không bán được ư?’

‘Hầu như không bán được tí nào. Cậu thấy đấy, một bài hát sẽ chẳng thể bán chạy trừ khi có ai đó nổi tiếng chịu hát nó. Rồi người ta hứa hẹn sẽ hát nhưng lại chẳng giữ lời. Chẳng thể tin được những gì họ nói đâu.’

‘Hãy cho tôi tên của họ,’ Beverley nói, ‘ngày mai tôi sẽ đến đó và bắn chết tất cả bọn chúng. Nhưng chẳng lẽ cô không làm được gì nữa sao?’

‘Chỉ biết tiếp tục kiên trì tiến bước thôi.’

‘Tôi ước gì,’ anh nói, ‘bất cứ khi nào cảm thấy chán nản về mọi chuyện, cô đều có thể sang đây và trút hết nọc độc lên đầu tôi. Cứ dồn nén trong lòng chẳng ích gì đâu. Hãy cứ lên đây và kể cho tôi nghe về điều đó, cô sẽ thấy nhẹ lòng hơn rất nhiều đấy. Hoặc cứ để tôi xuống dưới đó. Bất cứ khi nào mọi chuyện không suôn sẻ, cứ gõ lên trần nhà là được.’

Cô phì cười.

‘Đừng có xát muối vào nỗi đau nữa chứ,’ Beverley nài nỉ. ‘Thế thì bất công quá. Chẳng có ai nhạy cảm bằng một kẻ đã cải tà quy chính sau khi hoàn lương từ nghề gõ sàn đâu. Cô sẽ lên đây hoặc để tôi xuống dưới đó, đúng chứ? Bất cứ lúc nào mang cái cảm giác buồn bã, chán nản ấy, tôi lại ra ngoài và đập chết một tên cảnh sát. Nhưng chắc cô không thích cách đó đâu. Thế nên cách duy nhất dành cho cô là gõ lên trần nhà. Khi ấy tôi sẽ lao xầm xuống xem mình có thể giúp gì được không.’

‘Rồi anh sẽ phải hối hận vì đã nói câu này cho mà xem.’

‘Tôi không hối hận đâu,’ anh quả quyết.

‘Nếu anh thực sự có ý đó, thì đúng là một sự giải tỏa lớn,’ cô thừa nhận. ‘Có lúc tôi sẵn sàng đánh đổi toàn bộ số tiền mà tôi có thể kiếm được trong đời chỉ để được gào thét những nỗi bất bình của mình vào tai một ai đó. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng các nhân vật trong tiểu thuyết cổ điển thật may mắn biết bao khi họ có thể thốt lên rằng: “Hãy ngồi xuống và tôi sẽ kể cho anh nghe câu chuyện cuộc đời mình.” Chẳng phải điều đó tuyệt diệu lắm sao?’

‘Thôi được,’ Beverley nói khi đứng dậy, ‘cô biết tôi ở đâu rồi đấy nếu cần tìm. Ngay ở trên kia, chỗ mà tiếng gõ phát ra ấy.’

‘Tiếng gõ ư?’ Annette nói. ‘Tôi chẳng nhớ có tiếng gõ nào cả.’

‘Cô có phiền không nếu chúng ta bắt tay nhau một cái?’ Beverley nói.

Một tiếng đồng hồ vô cùng phát điên với một trong số các học trò đã đẩy cô bước lên phòng anh ngay vào ngày hôm sau. Đám học trò vừa là vị cứu tinh vừa là nỗi tuyệt vọng của cô. Chúng mang lại cho cô phương tiện để duy trì sự sống, nhưng lại khiến cuộc sống ấy chẳng khác nào cực hình. Vài người trong số chúng đang học piano. Số khác lại tưởng rằng mình biết hát. Tất cả đều sở hữu những cái đầu bằng ngà đặc ruột. Chỉ có vỏn vẹn khoảng một thìa cà phê chất xám được phân bổ cho toàn bộ cái đám học trò ấy, và cô học trò mà Annette vừa dạy vào chiều hôm đó lại thuộc nhóm chót bảng.

Trong xưởng họa của Beverley, cô bắt gặp Reginald Sellers đang đứng với vẻ mặt đầy soi mói trước bức giá vẽ. Cô không mấy ưa hắn ta. Hắn là một kẻ dài ngoẵng, khó chịu, mang tư tưởng bề trên, với bộ ria mép trông như một vệt than củi và cái thói hay xưng hô với cô là “Này, cô bé!”.

Beverley ngước nhìn lên.

‘Cô mang theo rìu đấy chứ, cô Brougham? Nếu có, cô đến đúng lúc lắm để tham gia vào cuộc tàn sát những đứa trẻ vô tội rồi đấy. Sellers vừa hạ sát không thương tiếc bức tranh đứa trẻ và con mèo của tôi. Hãy nhìn vào mắt hắn kìa. Đấy! Cô có thấy nó lóe lên không? Hắn lại đang trên đường ra trận rồi đấy.’

‘Này Beverley thân mến,’ Sellers nói với vẻ khá cứng nhắc, ‘tôi chỉ đang cố gắng trình bày cho anh thấy những ý kiến của tôi về các khuyết điểm của bức tranh. Tôi rất tiếc nếu lời phê bình của mình có hơi khắt khe một chút.’

‘Cứ tiếp tục đi,’ Beverley vui vẻ nói. ‘Đừng bận tâm đến tôi; tất cả cũng chỉ vì sự tiến bộ của tôi thôi mà.’

‘Vâng, nói một cách ngắn gọn thì nó vô hồn. Cả đứa trẻ lẫn con mèo đều không có sự sống.’

Hắn lùi lại một bước và dùng hai tay tạo thành khung hình.

‘Còn con mèo này,’ hắn nói. ‘Nó là—tôi phải diễn tả thế nào nhỉ? Nó không hề có—không hề có—ờ—’

‘Loại mèo đó thì không có đâu,’ Beverley nói. ‘Nó không thuộc giống ấy.’

‘Tôi nghĩ đó là một con mèo đáng yêu mà,’ Annette nói. Cô cảm thấy cơn giận dữ vốn bùng nổ rất nhanh của mình đang lấn át lý trí. Cô thừa biết Sellers kém cỏi đến mức nào, và việc chứng kiến sự chấp nhận đầy vui vẻ của Beverley trước thái độ kẻ cả của hắn khiến cô bực bội đến tận cùng.

‘Dù sao đi nữa,’ Beverley cười toe toét nói, ‘cả hai người dường như đều nhận ra đó là một con mèo. Hai người hoàn toàn thống nhất về điểm đó, và thế là tốt lắm rồi, xét việc tôi chỉ là một kẻ mới vào nghề.’

‘Tôi hiểu mà, anh bạn thân mến; tôi hiểu chứ,’ Sellers nhã nhặn nói. ‘Anh không được để những lời phê bình của tôi làm nhụt chí đâu nhé. Đừng nghĩ rằng tác phẩm của anh thiếu triển vọng. Còn lâu mới thế. Tôi chắc chắn rằng theo thời gian anh sẽ làm rất tốt. Thậm chí là cực kỳ tốt.’

Người ta có thể nhận thấy một ánh nhìn lạnh lẽo lóe lên trong mắt Annette.

‘Anh Sellers,’ cô cất giọng mượt mà, ‘đã phải làm việc rất vất vả trước khi đạt được vị trí hiện tại. Chắc các anh biết rõ các tác phẩm của anh ấy chứ?’

Lần đầu tiên Beverley có vẻ hơi lúng túng.

‘Tôi—ờ—sao cơ—’ hắn ngập ngừng.

‘Ôi, nhưng chắc chắn là anh biết rồi còn gì,’ cô ngọt ngào nói tiếp. ‘Nó xuất hiện trên tất cả các tạp chí cơ mà.’

Beverley nhìn nhân vật vĩ đại ấy với vẻ ngưỡng mộ, và nhận ra rằng hắn đang đỏ bừng mặt vì ngượng ngùng. Anh cho rằng đó là biểu hiện của sự khiêm tốn thiên tài.

‘Nằm ở các trang quảng cáo ấy,’ Annette nói. ‘Anh Sellers đã vẽ bức tranh chiếc giày Waukeesy, chiếc ghế dài Restawhile và hộp cá mồi trong mục quảng cáo của hãng cá mồi Little Gem. Anh ấy rất giỏi trong mảng tĩnh vật.’

Căn chìm vào một sự im lặng căng thẳng. Beverley dường như có thể nghe thấy tiếng vị trọng tài đang đếm nhịp.

‘Cô Brougham,’ cuối cùng Sellers cũng thốt lên từng chữ qua kẽ răng, ‘đã tự giới hạn bản thân trong khía cạnh thuần túy thương mại của các tác phẩm tôi. Vẫn còn những khía cạnh khác nữa.’

‘Ơ, dĩ nhiên là có rồi. Anh đã bán được một bức phong cảnh với giá năm bảng chỉ vỏn vẹn tám tháng trước phải không? Và một bức khác ba tháng trước đó nữa.’

Thế là quá đủ. Sellers cúi đầu cứng nhắc và sải bước ra khỏi phòng.

Beverley nhặt một chiếc khăn lau bụi lên và thong thả bắt đầu quét sàn nhà bằng nó.

‘Anh đang làm cái quái gì thế?’ Annette nghẹn ngào hỏi.

‘Những mảnh vụn của kẻ khốn khổ ấy mà,’ Beverley thì thầm. ‘Chúng phải được quét hót và đem chôn cất tử tế. Cô đúng là có những cú đấm cực kỳ hiểm hóc đấy, cô Brougham.’

Anh đánh rơi chiếc khăn lau bụi cùng một tiếng kêu giật mình, bởi Annette bỗng nhiên bật khóc nức nở. Lấy hai tay ôm mặt, cô ngồi thụp xuống ghế và khóc thút thít đầy tuyệt vọng.

‘Chúa tôi!’ Beverley ngẩn người thốt lên.

‘Tôi đúng là một con mèo! Tôi là một con quái vật! Tôi căm ghét chính mình!’

‘Chúa tôi!’ Beverley ngẩn người thốt lên.

‘Tôi là một con heo! Tôi là một con ác quỷ!’

‘Chúa tôi!’ Beverley ngẩn người thốt lên.

‘Tất cả chúng ta đều đang chật vật, cố gắng vươn lên và gặp phải bao vận rủi, thế mà thay vì làm những gì có thể để giúp đỡ, tôi lại đi chế giễu—giễu cợt hắn vì không bán được tranh! Tôi không xứng đáng sống nữa! Ổi!’

‘Chúa tôi!’ Beverley ngẩn người thốt lên.

Tiếp theo là một loạt những tiếng nấc nghẹn ngào, rồi nhỏ dần cho đến khi chìm vào im lặng. Chẳng mấy chốc cô ngước lên và mỉm cười, một nụ cười đẫm nước mắt và đầy vẻ thảm hại.

‘Tôi xin lỗi,’ cô nói, ‘vì đã cư xử ngốc nghếch như vậy. Nhưng hắn thật đáng ghét và bề trên với anh quá, tôi không tài nào nhịn được mà phải cào cho bõ tức. Tôi tin chắc mình là con mèo tồi tệ nhất ở Luân Đôn này rồi.’

‘Không, con mèo này mới thế này cơ,’ Beverley vừa nói vừa chỉ tay về phía bức tranh. ‘Ít nhất là theo lời nhận xét của cố nhân Sellers. Nhưng này, nói cho tôi nghe với, chẳng lẽ người quá cố đó lại là một họa sĩ vĩ đại sao? Hắn hớt hải xông vào đây với cái ngực ưỡn ra và bắt đầu chê bai kiệt tác của tôi, nên dĩ nhiên tôi phải thốt lên rằng: “Chà chà! Đúng là một thiên tài rồi!”. Không phải vậy sao?’

‘Hắn không tài nào bán nổi tranh của mình ở đâu cả. Hắn sống nhờ vào chút tiền ít ỏi kiếm được từ việc vẽ minh họa quảng cáo. Thế mà tôi lại đi chế—’

‘Xin cô đấy!’ Beverley lo lắng nói.

Cô nấc lên một tiếng rồi lấy lại bình tĩnh.

‘Tôi không kìm được,’ cô buồn bã nói. ‘Tôi đã xát muối vào nỗi đau của anh ta. Ôi, tôi thật đáng ghét làm sao! Nhưng tôi đã quá căng thẳng sau khi phải dạy một đứa học trò kinh khủng của mình, và khi hắn bắt đầu tỏ thái độ trịch thượng với anh—’

Cô chớp chớp mắt.

‘Tội nghiệp lão quỷ ấy thật!’ Beverley nói. ‘Tôi chưa từng đoán ra được. Chúa tôi!’

Annette đứng dậy.

‘Tôi phải đi xin lỗi anh ta thôi,’ cô nói. ‘Hắn sẽ mỉa mai tôi một cách khủng khiếp cho mà xem, nhưng tôi buộc phải làm thế.’

Cô bước ra ngoài. Beverley châm một tẩu thuốc và đứng bên cửa sổ, trầm ngâm nhìn xuống đường phố.

Trong cuộc đời này, có một quy tắc hay là không bao giờ phải cất lời xin lỗi. Những người tử tế không cần lời xin lỗi, còn những kẻ tồi tệ sẽ tận dụng chúng để chiếm ưu thế một cách đê tiện. Sellers thuộc về vế sau. Khi Annette—dịu dàng, ăn năn, đã thu lại mọi bộ móng vuốt—đến gặp hắn và hạ mình van xin, hắn đã tha thứ cho cô bằng một sự hào hiệp đầy ghê tởm, nếu ở trong một tâm trạng bớt kiềm chế hơn, chắc chắn đã chọc tức cô đến mức nổi đóa trở lại. Dù vậy, cô vẫn chấp nhận để hắn tha thứ và ra về với một niềm xác tín ảm đạm rằng từ nay về sau hắn sẽ còn trở nên không tài nào chịu nổi hơn nữa.

Dự đoán của cô hoàn toàn chính xác. Những chuyến ghé thăm xưởng họa của người mới chuyển đến lại tiếp tục, và bức tranh của Beverley—lúc này đang dần hoàn thiện—đã nhận được lượng lời phê bình đủ để viết thành cả một cuốn sách. Sự điềm đạm mà anh dùng để tiếp nhận chúng khiến Annette kinh ngạc. Cô chẳng có chút quyền lợi sở hữu nào đối với bức tranh ngoài những tình cảm ngày càng lớn dần dành cho “cha đẻ” của nó (điều khiến cô vô cùng bận lòng mỗi khi có thời gian nghĩ đến); nhưng có những khoảnh khắc mà chỉ nhờ ký ức về sự ăn năn sau cơn bộc phát trước đó mới ngăn cô lại không xé xác nhà phê bình ấy ra. Tuy nhiên, Beverley dường như chẳng hề có chút nhạy cảm nghệ thuật nào sất. Khi Sellers tơi tả con mèo theo cách lẽ ra phải khiến Hiệp hội Bảo vệ Động vật can thiệp, Beverley chỉ mỉm cười rạng rỡ. Sự nhẫn nhịn của anh vượt quá sức tưởng tượng của Annette.

Cô bắt đầu cảm thấy ngưỡng mộ anh vì điều đó.

Để củng cố vị thế nhà phê bình của mình thêm phần kiên cố, giờ đây Sellers đã có thể lên tiếng với tư cách là một kẻ có thẩm quyền. Sau nhiều năm bơi lội ngụp lặn, vận may cuối cùng dường như cũng mỉm cười với hắn. Những bức tranh của hắn, vốn nằm lì ở chỗ đại lý suốt nhiều tháng trời giống như những chiếc thiết giáp hạm bị tàn phơi, cuối cùng cũng bắt đầu tìm được thị trường tiêu thụ. Trong vòng hai tuần qua, ba bức tranh phong cảnh và một bức tranh ngụ ngôn đã được bán với giá hời; và dưới ảnh hưởng của thành công, hắn phổng mũi lên như một đóa hoa đang hé nở. Khi Epstein, người đại diện, viết thư thông báo rằng bức tranh ngụ ngôn đã được một nhà tư bản giàu có người Glasgow tên là Bates mua lại với giá một trăm sáu mươi ghine, quan điểm của Sellers về tầng lớp Trưởng giả cùng sự thực dụng thô thiển và thiếu gu thẩm mỹ của họ đã trải qua một sự thay đổi rõ rệt. Hắn đã nói về người đàn ông tên Bates ấy với sự thân thiện nhất định.

‘Đối với tôi,’ Beverley nói khi Annette thông báo sự việc, ‘vấn đề này mang ý nghĩa sâu sắc hơn. Nó chứng minh rằng cuối cùng Glasgow cũng đã sản xuất ra được một người đàn ông tỉnh táo. Không một kẻ nát rượu nào dám đối mặt với bức tranh ngụ ngôn đó đâu. Toàn bộ câu chuyện này thực sự là một điều đáng mừng.’

Bản thân Beverley cũng đang tiến những bước chậm chạp trong lĩnh vực Nghệ thuật. Anh đã hoàn thành bức ‘Đứa Trẻ và Con Mèo’, và đem nó tới chỗ Epstein kèm theo một bức thư giới thiệu của Sellers. Thái độ quen thuộc của Sellers lúc này là của một nhân vật tiếng tăm tử tế—người đã đạt được thành công và muốn trao cho thế hệ trẻ một cơ hội.

Kể từ khi bức tranh đi mất, Beverley không còn thực hiện mấy công việc vẽ vời thực tế nữa. Bất cứ khi nào Annette đến xưởng vẽ, hoặc là anh đang ngồi trên ghế với đôi chân gác lên bậu cửa sổ để hút thuốc, hoặc là ở tư thế y hệt thế để lắng nghe những quan điểm nghệ thuật của Sellers. Do Sellers đang trên đà thăng tiến, một người có trong tay khoản tiền lớn tại ngân hàng, hắn nay đã có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn. Hắn đã từ bỏ công việc vẽ quảng cáo và đang lên kế hoạch cho một bức tranh lớn—một tác phẩm mang tính ngụ ngôn khác. Điều này giúp hắn có thời gian rảnh để dành phần lớn cho Beverley, và hắn đã làm đúng như vậy. Beverley ngồi đó hút thuốc suốt những bài thuyết giáo của hắn. Có thể anh đang lắng nghe, hoặc cũng có thể không.

Annette đã lắng nghe một hoặc hai lần, và trải nghiệm đó có tác dụng đẩy cô đến chỗ Beverley, toàn thân run rẩy vì phẫn nộ.

‘Tại sao anh lại để hắn trịch thượng với anh như thế?’ cô truy vấn. ‘Nếu có ai đến và nói với tôi những điều tương tự về âm nhạc của tôi, tôi sẽ—tôi sẽ—tôi chẳng biết mình sẽ làm gì nữa. Ừ, ngay cả khi hắn thực sự là một nhạc sĩ vĩ đại đi chăng nữa.’

‘Cô không coi Sellers là một họa sĩ vĩ đại sao, ngay cả lúc này?’

‘Hắn có vẻ bán được tranh của mình, nên tôi đoán chắc chúng phải tốt; nhưng không gì có thể cho hắn quyền được trịch thượng với anh như cách hắn đang làm.’

‘“Thái độ của người bạn uyên bác của tôi sẽ là không thể chấp nhận được nếu một vị hoàng đế đối xử với một con bọ hung như thế,”’ Beverley trích dẫn. ‘Nào, thế chúng ta sẽ phải làm gì về chuyện đó đây?’

‘Giá mà anh cũng bán được một bức tranh!’

‘À! Thì, tôi đã hoàn thành phần việc trong giao kèo của mình rồi. Tôi đã giao hàng rồi đấy. Tác phẩm đang nằm chình ình ở chỗ Epstein kìa. Công chúng không thể trách tôi nếu nó không bán được. Tất cả những gì họ phải làm là ùn ùn kéo đến hàng ngàn người và tranh giành lấy nó. Nhân tiện đây, nhắc đến các bản valse—’

‘Ồ, nó xong rồi,’ Annette chán nản đáp. ‘Đã xuất bản rồi nữa là khác.’

‘Xuất bản rồi á! Thế thì có chuyện gì nào? Sao lại rầu rĩ ủ rũ thế này? Sao cô không chạy quanh quảng trường và ca hát như một chú chim đi chứ?’

‘Bởi vì,’ Annette nói, ‘thật không may, tôi đã phải tự trả chi phí xuất bản. Dù chỉ có năm bảng thôi, nhưng doanh số bán ra vẫn chưa đủ bù lại khoản đó. Nếu chúng thực sự bắt kịp, có lẽ sẽ có một ấn bản mới ra đời.’

‘Và cô lại phải tự trả tiền cho ấn bản đó ư?’

‘Không. Nhà xuất bản sẽ chịu.’

‘Họ là ai thế?’

‘Grusczinsky và Buchterkirch.’

‘Ôi trời, thế thì cô còn phải lo lắng cái gì nữa chứ? Chắc chắn trăm phần trăm rồi. Một người có cái tên như Grusczinsky có thể tự mình bán sạch cả tá ấn bản ấy chứ. Được sự trợ giúp và truyền cảm hứng bởi Buchterkirch, ông ta sẽ biến bản valse thành tâm điểm bàn tán của cả nước cho mà xem. Lũ trẻ con sẽ ê a nó trong nôi của chúng đấy.’

‘Ông ta có vẻ không nghĩ thế lúc tôi gặp lần cuối.’

‘Dương nhiên rồi. Ông ta không biết sức mạnh của chính mình đâu. Sự rụt rè e thẹn của Grusczinsky vốn là một giai thoại trong giới âm nhạc rồi. Ông ta chính là đóa Hoa Violet Đích Thực của Nhân Loại. Cô phải cho ông ta thời gian chứ.’

‘Tôi cho ông ta thời gian thoải mái miễn là bán được một hai ấn bản,’ Annette nói.

Điều nổi bật là ông ta đã bán được thật. Dường như chẳng có lý do cụ thể nào giải thích tại sao doanh số bán bản valse đó lại không thể nhỏ và chậm chạp như bất kỳ bản valse nào khác của một nhà soạn nhạc vô danh. Nhưng hầu như chẳng cần báo trước, nó đã bùng nổ từ một dòng nước nhỏ thành cả một trận lụt. Grusczinsky—cười toe toét một cách đầy tình cảm phụ tử mỗi khi Annette bước vào cửa hàng (điều diễn ra rất thường xuyên)—đã thông báo phát hành tận hai ấn bản mới chỉ trong vòng một tuần. Beverley, với sự phát triển nghệ thuật vẫn nằm dưới ánh mắt giám sát của Sellers, nói rằng anh chưa từng mảy may nghi ngờ về thành công của tác phẩm kể từ khoảnh khắc mà một đoạn nhạc đơn lẻ trong đó đã cuốn hút anh đến mức anh buộc phải giậm chân tán thưởng đầy nhiệt tình xuống sàn nhà. Thậm chí Sellers cũng quên đi những chiến tích của chính mình đủ lâu để trao cho cô những lời chúc mừng nhã nhặn. Và tiền bạc bắt đầu cuồn cuộn đổ về, dọn bằng con đường phía trước của cuộc đời.

Đó là những ngày tháng tuyệt vời. Đã có một chiếc mũ...

Tóm lại, cuộc đời vô cùng viên mãn và rực rỡ. Thật ra, chỉ có một điều duy nhất ngăn cản nó trở nên hoàn hảo. Điểm bất lợi thông thường của thành công là nó khiến bạn bè của bạn vô cùng khó chịu; nhưng trong trường hợp của Annette, điểm bất lợi đó hoàn toàn không tồn tại. Thái độ của Sellers đối với cô lúc này tựa như một bậc kỳ cựu lâu năm đang chào đón một tân binh bước vào Sảnh Đường Danh Vọng. Đám học trò của cô—những tâm hồn đáng trân trọng dù đầu óc đặc rỗng—bắt đầu nịnh nọt cô. Beverley có vẻ là người vui mừng hơn cả. Thế nhưng chính Beverley lại là kẻ ngăn cản thiên đường của cô trở nên trọn vẹn. Bản thân đã thành công, cô muốn tất cả bạn bè của mình cũng phải thành công; nhưng ngặt nỗi, Beverley lại khiến cô khó chịu khi cứ mãi là một kẻ thất bại vui vẻ, và tệ hơn nữa là tuyệt đối từ chối việc trịch thượng với Sellers. Chuyện đó sẽ không có gì đáng nói nếu những lời khuyên và bình luận của Sellers xuất phát từ sự vô tư. Beverley đơn giản chỉ là cái công cụ để hắn tấu lên những khúc ca khải hoàn của chính mình. Điều đó khiến Annette phiền muộn đến mức giờ đây, nếu bước lên lầu mà nghe thấy giọng Sellers trong xưởng họa, cô sẽ quay đầu đi xuống mà chẳng buồn gõ cửa.

Vào một buổi chiều nọ, khi đang ngồi trong phòng, cô nghe thấy tiếng chuông điện thoại reng lên.

Chiếc điện thoại đặt ở ngoài hành lang, ngay sát cửa phòng cô. Cô bước ra ngoài và nhấc ống nghe lên.

‘A-lô!’ một giọng nói gắt gỏng vang lên. ‘Có anh Beverley ở đấy không?’

Annette chợt nhớ ra là mình có nghe tiếng anh đi ra ngoài. Cô luôn nhận ra tiếng bước chân của anh.

‘Anh ấy ra ngoài rồi,’ cô nói. ‘Có lời nhắn nào không ạ?’

‘Có,’ giọng nói đáp lại một cách quả quyết. ‘Hãy nhắn với anh ta rằng Rupert Morrison vừa gọi đến để hỏi phải làm gì với cả một đống nhạc khổng lồ vừa được chuyển đến đây bây giờ. Cậu ta có muốn tôi chuyển tiếp đống này đến chỗ cậu ta không, hay tính sao đây?’ Giọng nói ngày càng cao vút và kích động. Hiển nhiên là ông Morrison đang ở trong tình trạng căng thẳng thần kinh—thời điểm mà một người chẳng mảy may quan tâm ai là người nghe những rắc rối của mình miễn là được trút bỏ chúng cho một ai đó.

‘Nhạc á?’ Annette thốt lên.

‘Nhạc chứ sao!’ ông Morrison gào lên chói tai. ‘Chồng chất, hết đống này đến đống khác. Cậu ta đang chơi trò khăm tôi hay sao ấy nhỉ?’ ông ta hằn học hỏi. Rõ ràng lúc này ông ta đã coi Annette như một người tâm sự hợp pháp rồi. Cô đang lắng nghe. Đó là điều chính yếu. Ông ta cần một ai đó—chẳng quan trọng là ai—chịu lắng nghe. ‘Cậu ta cho tôi mượn căn hộ,’ ông Morrison rên rỉ, ‘để tôi có được sự yên tĩnh và không bị làm phiền trong lúc viết tiểu thuyết, thế mà điều đầu tiên tôi nhận được là đống âm nhạc này bắt đầu kéo đến. Làm sao tôi có thể yên tĩnh và không bị làm phiền khi mà sàn nhà ngập tràn tới hai thước ta với những bưu kiện âm nhạc khổng lồ, và ngày nào chúng cũng tiếp tục được gửi đến nữa chứ?’

Annette bấu chặt lấy hộp điện thoại với cơ thể rã rời. Tâm trí cô xoay mòng mòng, nhưng cô bắt đầu lờ mờ nhận ra rất nhiều điều.

‘Cô còn nghe chứ?’ ông Morrison gọi giật giọng.

‘Vâng. Từ—từ hãng phát hành nào gửi đống nhạc này đến vậy ạ?’

‘Gì cơ?’

‘Nhà xuất bản nào đã gửi nhạc đến thế ạ?’

‘Tôi không nhớ nổi. Tên dài lắm. À rồi, tôi nhớ ra rồi. Grusczinsky và ai đó.’

‘Tôi sẽ nhắn lại cho anh Beverley,’ Annette điềm tĩnh nói. Một tảng đá lớn dường như vừa đè nặng lên đỉnh đầu cô.

‘A-lô! A-lô! Cô còn ở đó chứ?’ giọng ông Morrison vang lên.

‘Vâng?’

‘Và nhắn thêm là có cả mấy bức tranh nữa đấy.’

‘Tranh ư?’

‘Bốn bức tranh to tướng gớm ghiếc. To bằng mấy con voi ấy. Tôi nói cho cô biết, chẳng còn chỗ nào để mà bước chân đi nữa. Và—’

Annette dập máy.

Chàng Beverley, vừa đi dạo về, đang sải bước ba bậc một lao vút lên cầu thang theo cái cách đầy năng lượng thường thấy của anh, thì vừa lúc anh đến trước cửa phòng Annette, cánh cửa bật mở.

‘Anh có rảnh một phút không?’ Annette hỏi.

‘Tất nhiên rồi. Có chuyện gì thế? Họ lại vừa bán được thêm một ấn bản của bản valse nữa à?’

‘Tôi chưa nghe nói, thưa anh—Bates.’

Lần hiếm hoi cô nhìn thấy vẻ điềm đạm vui tươi của kẻ ở tầng trên bị phá vỡ; thế nhưng anh tiếp nhận đòn giáng đó mà chẳng chút nao núng.

‘Cô biết tên tôi rồi cơ à?’ anh nói.

‘Tôi còn biết nhiều thứ hơn là cái tên của anh đấy. Anh là một nhà triệu phú người Glasgow.’

‘Đúng là thế thật,’ anh thừa nhận, ‘nhưng đó là do thừa kế. Cha tôi từng là triệu phú trước cả tôi.’

‘Và anh dùng tiền của mình,’ Annette cay đắng nói, ‘để tạo ra những thiên đường giả tạo cho bạn bè, kéo dài cho đến khi—tôi đoán thế—anh thấy chán cái trò tiêu khiển này rồi phá hủy chúng đi. Anh chưa bao giờ nghĩ rằng, thưa anh Bates, hành động đó có chút tàn nhẫn hay sao? Anh có nghĩ rằng anh Sellers sẽ lại bình thản quay về với công việc làm thuê viết mướn khi anh ngừng mua tranh của anh ấy, và khi anh ấy phát hiện ra rằng—rằng—’

‘Tôi sẽ không ngừng lại đâu,’ chàng trai nói. ‘Nếu một nhà triệu phú Glasgow không được phép mua tranh ngụ ngôn của Sellers, thì anh ta được mua tranh ngụ ngôn của ai cơ chứ? Sellers sẽ chẳng bao giờ phát hiện ra đâu. Hắn sẽ tiếp tục vẽ và tôi sẽ tiếp tục mua, và tất cả sẽ tràn ngập niềm vui và sự bình yên.’

‘Thật sao! Thế còn tương lai nào anh đã sắp đặt sẵn cho tôi?’

‘Cô ư?’ anh trầm ngâm đáp. ‘Tôi muốn cưới cô.’

Annette cứng đờ người từ đầu đến chân. Anh đối diện với ánh mắt đang bừng bừng lửa giận của cô bằng một cái nhìn đầy vẻ sùng kính tĩnh lặng.

‘Cưới tôi ư?’

‘Tôi biết cô đang nghĩ gì rồi đấy,’ anh nói. ‘Tâm trí cô đang mường tượng đến viễn cảnh sống trong một ngôi nhà được trang hoàng khắp nơi bằng những bức tranh ngụ ngôn của Sellers. Nhưng sẽ không có chuyện đó đâu. Chúng ta sẽ đem cất hết chúng lên gác mái.’

Cô định cất lời, nhưng anh đã ngắt lời cô.

‘Nghe này!’ anh nói. ‘Hãy ngồi xuống và tôi sẽ kể cho cô nghe câu chuyện cuộc đời mình. Chúng ta sẽ bỏ qua hai mươi tám năm ba tháng đầu tiên, chỉ xin hé lộ rằng trong phần lớn khoảng thời gian đó, tôi vẫn luôn đi tìm một người hệt như cô. Một tháng chín ngày trước, tôi đã tìm thấy cô. Cô đang đi qua đoạn kè sông Embankment. Tôi cũng có mặt ở đó. Trên một chiếc tắc-xi. Tôi bảo tài xế dừng xe, bước xuống và trông thấy cô đang chuẩn bị bước xuống ga tàu điện ngầm Charing Cross. Tôi lao tới—’

‘Chuyện này chẳng có gì thú vị với tôi cả,’ Annette nói.

‘Cốt truyện đang dần kịch tính lên đấy chứ,’ anh trấn an cô. ‘Chúng ta vừa dừng lại ở đoạn người hùng đang lao tới, phải không nào. Cứ thế đi. À, thế là cô đón tuyến tàu đi về phía Tây và xuống ở bãi Sloane Square. Tôi cũng vậy. Cô băng qua Sloane Square, rẽ vào đường King’s Road, và cuối cùng đến được đây. Tôi bám theo sau. Tôi nhìn thấy tấm biển “Cho thuê xưởng họa”. Tôi chợt nghĩ rằng, với việc từng vẽ vời một chút theo kiểu nghiệp dư, tôi hoàn toàn có thể đóng giả làm họa sĩ; thế nên tôi đã thuê lại xưởng họa này. Cả cái tên Alan Beverley nữa. Tên thật của tôi là Bill Bates. Tôi vẫn luôn tự hỏi cảm giác được gọi bằng một cái tên như Alan Beverley hay Cyril Trevelyan sẽ ra sao. Chỉ là một cú tung đồng xu đã quyết định giúp tôi chọn cái tên đầu tiên. Một khi đã dọn vào trong này rồi, vấn đề tiếp theo là làm thế nào để làm quen được với cô. Khi nghe thấy cô chơi đàn, tôi biết mọi chuyện ổn thỏa cả rồi. Tôi chỉ cần kiên trì gõ xuống sàn nhà cho đủ lâu—’

‘Ý—anh—là—muốn—nói—với—tôi’—giọng Annette run rẩy—‘ý anh muốn nói với tôi rằng lần đó anh gõ chỉ để ép tôi phải bước lên lầu thôi sao?’

‘Đúng thế đấy. Khá là hay ho phải không cô? Và bây giờ, cô có phiền không nếu cho tôi biết làm thế nào mà cô phát hiện ra tôi đã mua bản valse của cô vậy? Những lời lẽ của cô ban nãy về mấy cái thiên đường giả tạo chắc không chỉ lấy cảm hứng từ chuyện của riêng Sellers đâu nhỉ. Nhưng tôi chịu thua không hiểu sao cô lại phát hiện ra đấy. Tôi đã bắt lão Rozinsky, hay bất cứ tên gì của lão ta đi chăng nữa, phải thề là giữ bí mật cơ mà.’

‘Một người tên là Morrison,’ Annette dửng dưng đáp, ‘đã gọi điện đến và nhờ tôi nhắn lại với anh rằng ông ấy đang vô cùng phiền muộn vì đống âm nhạc chất đống làm bừa bộn cả căn hộ mà anh đã cho ông ấy mượn.’

Chàng trai bật cười ha hả.

‘Lão Morrison tội nghiệp! Tôi quên bén mất tiêu lão ta rồi. Tôi cho lão mượn căn hộ của tôi ở khu Albany. Lão đang viết tiểu thuyết, và lão không thể làm việc nổi nếu có bất cứ chuyện cỏn con nào không suôn sẻ xảy ra. Chuyện đó cho thấy—’

‘Anh Bates!’

‘Sao thế em?’

‘Có lẽ anh không có ý định làm tổn thương tôi. Tôi dám cá là anh chỉ muốn tốt thôi. Nhưng—nhưng—ôi, anh không nhận ra mình đã làm nhục tôi đến nhường nào sao? Anh đối xử với tôi như một đứa trẻ, ban cho tôi một thành công giả tạo chỉ để—chỉ để giữ cho tôi thôi thắc mắc, chắc vậy nhỉ. Anh—’

Anh đangí loay hoay thọc tay vào túi áo.

‘Tôi có thể đọc cho cô nghe một bức thư được chứ?’ anh nói.

‘Một bức thư ư?’

‘Ngắn lắm. Nó là từ Epstein, tay buôn tranh. Đây là những gì hắn viết. “Thưa ngài,” ý chỉ tôi đấy, chứ không phải “Bill thân mến” đâu nhé—chỉ “Thưa ngài” thôi. “Tôi rất vui mừng được thông báo với ngài rằng sáng nay tôi đã nhận được lời đề nghị mua bức tranh ‘Đứa Trẻ và Con Mèo’ với giá mười bảng. Xin vui lòng cho tôi biết liệu tôi có nên sang nhượng nó với mức giá này hay không.”’

‘Thế thì sao?’ Annette cất giọng lí nhí.

‘Tôi vừa mới tới chỗ Epstein về. Hóa ra người mua là một cô Brown. Cô ấy để lại địa chỉ ở Bayswater. Tôi đã ghé qua địa chỉ đó. Chẳng có cô Brown nào sống ở đấy cả, nhưng lại có một học trò của cô ở đó. Tôi hỏi cô ấy rằng có đang mong đợi bưu kiện nào gửi cho cô Brown hay không, và cô ấy bảo rằng cô ấy đã nhận được thư của cô và hoàn toàn hiểu rõ, sẽ nhận hộ khi nó được chuyển tới.’

Annette đang giấu khuôn mặt vào hai bàn tay.

‘Đi đi!’ cô yếu ớt nói.

Anh Bates nhích lại gần thêm một bước.

‘Cô có nhớ câu chuyện về những cư dân trên hòn đảo nọ—những kẻ đã xoay xở kiếm sống qua ngày bằng cách nhận giặt quần áo cho nhau không?’ anh bâng quơ hỏi.

‘Đi đi!’ Annette kêu lên.

‘Tôi vẫn luôn nghĩ rằng,’ anh nói, ‘chắc hẳn điều đó đã kéo họ xích lại rất gần nhau—khiến họ cảm thấy gắn bó với đối phương hơn. Cô có nghĩ thế không?’

‘Đi đi!’

‘Tôi không muốn đi đâu. Tôi muốn ở lại và nghe cô nói rằng cô sẽ đồng ý lấy tôi.’

‘Làm ơn đi đi! Tôi muốn suy nghĩ thêm.’

Cô nghe thấy tiếng anh dịch chuyển về phía cửa. Anh khựng lại, rồi lại tiếp tục bước đi. Cánh cửa khép lại nhẹ nhàng. Chẳng mấy chốc, từ căn phòng phía trên vọng xuống âm thanh của những bước chân—những bước chân đang di chuyển qua lại đều đặn tựa như một con thú trong lồng.

Annette ngồi lắng nghe. Không có khoảng ngắt nào trong tiếng bước chân ấy.

Đột nhiên cô đứng dậy. Ở một góc phòng là một chiếc sào dài dùng để đẩy mở và kéo đóng khung cửa sổ. Cô cầm lấy nó, và đứng thừ người do dự trong chốc lát. Rồi với một động tác nhanh gọn, cô giơ cao chiếc sào lên và đâm thẳng ba nhát lên trần nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của P. G. Wodehouse

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.