Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 135 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
X. BẢN CHẤT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NỀN VĂN MINH

❊ ❊ ❊

Nhờ quan sát, chúng ta đã phát hiện ra rằng, thách thức mang nhân tố kích thích là thách thức nằm trong giới hạn giữa hai thái cực thừa và thiếu độ khắc nghiệt, vì một thách thức thiếu khắc nghiệt sẽ không gây ra sự kích thích, trong khi một thách thức quá khắc nghiệt sẽ triệt tiêu tinh thần phản ứng đáp trả. Nhưng còn những thách thức nằm ở mức giới hạn trên (thừa tính khắc nghiệt) vừa đề cập thì sao? Nếu chỉ xét sơ lược thì đây là thách thức mang nhân tố kích thích cực đại; và qua những ví dụ cụ thể về người Polynesia, người Eskimo, người du mục, người Osmanli và người Sparta, chúng ta thấy rằng những thách thức như vậy có khuynh hướng tạo nên một kỳ tích. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã thấy trong chương tiếp theo của câu chuyện, những người đã tạo ra các kỳ tích này phải trả giá bằng một hình phạt chung thân, đó là sự giam hãm khả năng phát triển của họ. Do đó, về chi tiết, chúng ta phải phát biểu rằng, sự kích thích phản ứng đáp trả mạnh mẽ nhất tại một thời điểm nhất định không phải là căn cứ để xác định thách thức đó có phải là tối ưu theo quan điểm nhân tố tác động kích thích phản ứng đáp trả tốt nhất từ đầu đến cuối hay không. Thách thức tối ưu thực sự không chỉ kích thích cộng đồng chịu thách thức đạt tới một phản ứng đáp trả thành công đơn lẻ mà còn tạo cho cộng đồng đó động lượng để chuyển sang bước tiếp theo: từ một thành tựu cụ thể, từ giải pháp cho một vấn đề cụ thể bước sang một vấn đề khác, tư trạng thái Âm sang trạng thái Dương. Sau khi hình thành, một nền văn minh muốn tiếp tục phát triển thì sự vận động đơn lẻ từ một trạng thái dao động để phục hồi trạng thái thăng bằng là chưa đủ. Và để biến vận động nói trên thành một chuỗi vận động lặp đi lặp lại theo một nhịp điệu đều đặn, thì phải có một élan vital (theo khái niệm của Bergson), đưa cộng đồng chịu thách thức vượt qua trạng thái cân bằng chuyển sang một trạng thái mất cân bằng mới, đặt ra một thách thức mới và từ đó thôi thúc cộng đồng đó tạo ra một phản ứng đáp trả mới dưới hình thức một trạng thái cân bằng mới nhằm kết thúc trạng thái mất cân bằng vừa tạo ra, và cứ như vậy tiếp diễn trong một tiến trình có khả năng là vô tận.

Élan này, hoạt động thông qua một loạt trạng thái mất cân bằng, có thể được phát hiện trong tiến trình của nền văn minh Hy Lạp cổ kể từ khi nó được hình thành tới thời điểm nó đạt đỉnh cao trong thế kỷ thứ năm trước CN.

Thách thức đầu tiên đe dọa nền văn minh Hy Lạp cổ mới khai sinh là thách thức của đêm đen hỗn mang và hoang sơ. Sự sụp đổ của xã hội Minoan tiền nhiệm đã để lại những mảnh vụn xã hội hỗn độn - đó là người Minoan, người Achaea và người Doris. Liệu lớp trầm tích của xã hội cũ có bị chôn vùi dưới lớp đá cuội mà cơn lũ người rợ vừa cuốn tới? Liệu những vùng đồng bằng hiếm hoi trong lãnh thổ của người Achaea có chịu ảnh hưởng của những vùng cao nguyên hoang dã bao quanh chúng? Liệu tinh thần hòa bình của những người nông dân trồng trọt trên đồng ruộng có cảm hóa được sự hung hăng của những người chăn nuôi và bọn cướp ở trên núi?

Thách thức đầu tiên này đã được đáp trả thành công mỹ mãn; nó quyết định rằng xã hội Hy Lạp cổ sẽ là thế giới của các thành phố chứ không phải làng mạc, của nông nghiệp trồng trọt chứ không phải chăn nuôi, của trật tự chứ không phải hỗn loạn. Tuy nhiên, thành công mỹ mãn trước thách thức đầu tiên này đã đặt những kẻ chiến thắng trước thách thức thứ hai. Thắng lợi này đảm bảo nền hòa bình của chế độ nông nghiệp trên các vùng đồng bằng, và nó tạo ra một động lực gia tăng dân số; động lực này vẫn không chịu dừng lại khi dân số đã đạt tới giới hạn tối đa mà ngành nông nghiệp trên lãnh thổ quê hương của xã hội Hy Lạp cổ có thể đáp ứng. Do đó, thành công vang dội của phản ứng đáp trả thách thức đầu tiên đã khiến xã hội Hy Lạp cổ còn thơ ấu phải đối mặt với một thách thức thứ hai, và phản ứng đáp trả của nó trước thách thức này cũng thành công không kém trước thách thức hỗn mang.

Phản ứng của xã hội Hy Lạp cổ trước thách thức của gánh nặng dân số diễn ra dưới hình thức một loạt thử nghiệm khác nhau. Thử nghiệm dễ dàng và thường gặp nhất được đưa ra đầu tiên và được áp dụng rộng rãi, cho tới khi nó bắt đầu suy giảm hiệu quả. Từ đó trở đi, một thử nghiệm khó khăn và ít gặp hơn đã được thông qua và áp dụng, thay thế cho thử nghiệm thứ nhất, cho tới lúc giải pháp được tìm ra.

Phương pháp đầu tiên là sử dụng các kỹ thuật và cơ cấu mà các cư dân đồng bằng trong xã hội Hy Lạp cổ đã tạo ra trong quá trình áp đặt ý muốn của họ lên những người láng giềng sống trên cao nguyên và qua hành trình chinh phục những lãnh thổ mới phía bên kia đại dương cho xã hội Hy Lạp. Với công cụ quân sự là lực lượng bộ binh thiện chiến và công cụ chính trị là chính quyền thành phố, một số lớn những người tiên phong của Xã hội Hy Lạp cổ đã thành lập một xứ sở Magna Graecia (Đại Hy Lạp) ở vùng mũi nước Ý sau khi đẩy lùi người rợ Ý và Chône, một xứ Peloponnese mới ở đảo Sicily sau khi tiêu diệt người rợ Sikel, một ngũ bang Hy Lạp mới ở Cyrenaica trên vùng lãnh thổ cũ của người rợ Libya, và một xứ Chalcidicê trên bờ bắc cao nguyên Aegea vốn thuộc về người rợ Thracia. Tuy nhiên, một lần nữa, thành công quá mỹ mãn của phản ứng đáp trả đã đưa tới một thách thức mới dành cho những con người chiến thắng. Vì điều họ đã làm, bản thân nó lại là một thách thức đối với những cộng đồng người Địa Trung Hải khác; và cuối cùng những người sống ngoài xã hội Hy Lạp đã bị kích thích để chặn đứng đà bành trướng của người Hy Lạp: một phần bằng cách kháng cự lại sự thôn tính của xã hội Hy Lạp bằng văn hóa nghệ thuật và vũ khí vay mượn của chính người Hy Lạp, và một phần bằng cách kết hợp lực lượng với nhau để đạt được số lượng vượt trội so với người Hy Lạp. Và như vậy là cuộc bành trướng của người Hy Lạp cổ, bắt đầu từ thế kỷ thứ tám trước CN, đã bị chặn đứng vào thế kỷ thứ sáu. Nhưng xã hội Hy Lạp cổ vẫn phải đối mặt với thách thức của gánh nặng dân số.

Trong cuộc khủng hoảng mới này của lịch sử Hy Lạp cổ, được giải quyết bởi khám phá của người Athens, những người đã trở thành “tấm gương giáo dục cho toàn Hy Lạp” thông qua việc nghiên cứu và truyền bá, chuyển hóa cuộc bành trướng của xã hội Hy Lạp từ một tiến trình theo chiều rộng sang một tiến trình theo chiều sâu - một chuyển biến vô cùng quan trọng, nhờ đó mà chúng ta mới còn chuyện để bàn tiếp trong chương này. Phản ứng mang nhãn hiệu Athens này đã được trình bày ở phần đầu nghiên cứu của chúng ta và không cần thiết phải lặp lại ở đây.

Nhịp điệu phát triển nói trên đã được Walt Whitman cảm nhận qua những dòng sau: “Rõ ràng, bản chất của mọi việc là từ bất kỳ một thành quả nào, bất kể nó là gì chăng nữa, cũng sẽ kéo theo một cuộc đấu tranh dữ dội hơn và thiết yếu hơn”, và trong một phát biểu bi quan hơn của người cùng thời với ông là William Morris: “Tôi trăn trở rất nhiều về việc … người ta chiến đấu và thất trận, rồi lý tưởng mà họ chiến đấu bất ngờ thay đổi bất chấp sự thất bại của họ, và khi nó không còn đúng ý họ nữa thì những người khác sẽ chiến đấu cho điều mà họ tin tưởng dưới một tên gọi khác”.

Có vẻ như các nền văn minh phát triển thông qua một élan đưa chúng từ một thách thức, trải qua phản ứng đáp trả tới một thách thức cao hơn, và sự phát triển này mang cả những khía cạnh hướng ngoại lẫn hướng nội. Trong thế giới vĩ mô, quá trình phát triển biểu hiện như một tiến trình làm chủ môi trường bên ngoài; còn trong thế giới vi mô, nó là một tiến trình tự khẳng định mình hoặc tự xác minh. Trong cả hai hình thức biểu hiện nói trên chúng ta đều có một tiêu chuẩn hợp lý dành cho sự phát triển của bản thân élan. Chúng ta hãy lần lượt phân tích từng hình thức biểu hiện theo quan điểm vừa nêu.

Đầu tiên, hãy xem xét tiến trình chinh phục môi trường bên ngoài, chúng ta sẽ thấy thuận tiện hơn nếu phân chia môi trường bên ngoài thành môi trường con người, khái niệm dùng để chỉ những xã hội loài người khác có liên hệ với xã hội đang xét, và môi trường tự nhiên cấu thành bởi những yếu tố thiên nhiên phi nhân tính. Tiến trình chinh phục môi trường con người thường biểu hiện dưới hình thức một sự bành trướng về địa lý của xã hội đang xét, trong khi tiến trình chinh phục môi trường phi nhân tính thường biểu hiện dưới hình thức sự phát triển kỹ thuật. Chúng ta hãy bắt đầu với tiến trình thứ nhất, tức là sự bành trướng địa lý, và phân tích xem nó có thể được coi là một tiêu chuẩn xác đáng của quá trình tiến bộ thực tế của một nền văn minh hay không.

Các độc giả chắc sẽ không phản đối nếu chúng ta khẳng định, mà không phải tốn thêm công sức để sắp xếp những chứng cứ quá phong phú và rõ ràng, rằng sự bành trướng địa lý, hay còn gọi là quá trình “tô hồng bản đồ”, không hề là tiêu chuẩn để đánh giá được sự tiến bộ thực tế của một nền văn minh. Đôi khi chúng ta thấy rằng, một giai đoạn bành trướng địa lý trùng khớp về thời gian, và là biểu hiện cục bộ của quá trình định tính - như trong trường hợp giai đoạn bành trướng thời kỳ đầu của xã hội Hy Lạp cổ đã được đề cập trước đây. Nhưng phổ biến hơn là trường hợp giai đoạn bành trướng địa lý đi đôi với sự suy sụp thực sự và trùng khớp với một “thời kỳ loạn lạc” hoặc một chính quyền trung ương - cả hai đều là dấu hiệu của sự suy tàn và sụp đổ. Lý do không cần phải tìm kiếm ở đâu xa. “Thời kỳ loạn lạc” luôn luôn sản sinh ra chủ nghĩa quân phiệt, mà đó chính là ngã rẽ sai lầm dẫn dắt tư tưởng con người vào hang tối hủy diệt, và nhà quân sự thành công nhất, như một quy luật, sẽ trở thành người thành lập chính quyền trung ương. Sự bành trướng địa lý là một sản phẩm phụ của chủ nghĩa quân phiệt này, diễn ra trong thời gian “giải lao” khi những con người “hùng mạnh và dũng cảm” chuyển hướng cuộc tấn công của họ từ các địch thủ trong cùng nền văn minh sang các nền văn minh láng giềng.

Chủ nghĩa quân phiệt, như chúng ta sẽ thấy ở một phần sau trong nghiên cứu này, cho đến nay là nguyên nhân phổ biến nhất gây nên sự suy vong của các nền văn minh trong bốn hoặc năm thiên niên kỷ gần đây. Chủ nghĩa quân phiệt hủy hoại một nền văn minh bằng cách kích động một chính quyền địa phương - vốn là một khớp nối trong toàn bộ cơ thể xã hội - va chạm với một chính quyền địa phương khác trong những cuộc xung đột “huynh đệ tương tàn”. Trong quá trình tự sát này, toàn bộ kết cấu xã hội trở thành đối tượng cho ngọn lửa tàn bạo của thần Moloch khát máu. Nghệ thuật chiến tranh phát triển với cái giá phải trả là sự hủy diệt nhiều nghệ thuật khác của hòa bình; và trước khi tiến trình chết người này hoàn tất việc hủy diệt tất cả những kẻ tôn thờ nó thì những người này có lẽ đã trở nên quá xuất sắc trong việc sử dụng những phát minh tàn sát của họ đến nỗi, nếu có một lúc nào đó họ tạm dừng cơn điên cuồng hủy diệt lẫn nhau và trỏ mũi gươm vào những kẻ ngoại bang, thì họ có thể quét sạch kẻ thù không mấy khó khăn.

Thực ra, nghiên cứu lịch sử Hy Lạp cổ có thể gợi ra một kết luận hoàn toàn đối lập với kết luận mà chúng ta vừa phủ nhận. Chúng ta đã từng chứng kiến, tại một giai đoạn trong lịch sử của nó, xã hội Hy Lạp cổ giải quyết thách thức gánh nặng dân số bằng sự bành trướng địa lý; và sau khoảng hai thế kỷ (khoảng từ 750-550 trước CN) cuộc bành trướng này bị chặn đứng bởi các thế lực của các nước chung quanh ngoài Hy Lạp. Kể từ đó trở đi, xã hội Hy Lạp cổ rơi vào thế phòng ngự, liên tục bị tấn công bởi người Ba Tư ở phía đông và người Carthage từ phía tây. Trong giai đoạn này, như Thucydides đã chứng kiến, “Hy Lạp bị lấn át từ mọi hướng suốt một thời gian dài”, và như Herodotus đã chứng kiến, “tràn ngập chiến tranh và loạn lạc hơn cả 20 thế hệ sau cộng lại”.[1] Các độc giả hiện đại sẽ khó mà nhận ra rằng, trong những dòng đầy u ám nêu trên, hai sử gia vĩ đại nhất của Hy Lạp đang mô tả về thời kỳ mà, theo quan điểm của hậu thế, được hồi tưởng như là thời kỳ hoàng kim của nền văn minh Hy Lạp cổ: thời kỳ thiên tài Hy Lạp thực hiện những hoạt động sáng tạo vĩ đại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, khiến cho nền văn minh Hy Lạp cổ trở nên bất hủ. Herodotus và Thucydides cảm nhận như trên về thời kỳ sáng tạo bởi lẽ trong giai đoạn này, trái ngược với thời kỳ trước đó, cuộc bành trướng địa lý của người Hy Lạp đã bị chặn đứng. Dù vậy không thể chối cãi rằng, chính trong thế kỷ này, élan của sự phát triển của nền văn minh Hy Lạp mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Và nếu các sử gia nói trên có được tuổi thọ siêu phàm để theo dõi tiếp, chắc chắn họ sẽ phải kinh ngạc khi thấy rằng, sự sụp đổ được báo trước bởi cuộc chiến tranh Athens-Peloponnese lại được tiếp nối bởi sự bột phát của một giai đoạn bành trướng địa lý - cuộc bành trướng của nền văn minh Hy Lạp trên đất liền, do Alexander khởi xướng - vượt xa cuộc bành trướng trước đó. Trong hai thế kỷ tiếp theo của đế chế Alexander, nền văn minh Hy Lạp cổ đã trải rộng khắp châu Á và khu vực thung lũng sông Nile, đẩy lùi tất cả những nền văn minh khác mà nó gặp: nền văn minh Syria, Ai Cập, Babylon và Ấn Độ cổ. Và trong khoảng hai thế kỷ tiếp theo, nó tiếp tục bành trướng, dưới lá cờ của Đế chế La Mã, lấn sâu vào vùng đất nội địa của người rợ ở châu Âu và Tây Bắc Phi. Dù vậy, rõ ràng đây là thời kỳ mà nền văn minh Hy Lạp cổ bước vào quá trình suy tàn.

Lịch sử của hầu như tất cả mọi nền văn minh đều thể hiện những ví dụ minh họa cho thấy, giai đoạn bành trướng địa lý trùng khớp với sự suy đồi về chất lượng. Chúng ta sẽ chỉ chọn ra hai ví dụ.

Nền văn minh Minoan đạt tới phạm vi bành trướng rộng lớn nhất vào thời kỳ mà các nhà khảo cổ hiện đại của chúng ta đặt tên là “Cuối Minoan III”, và giai đoạn này không bắt đầu trước thảm họa Cnossus vào khoảng năm 1425 trước CN; nghĩa là, nó không bắt đầu trước tai ương khiến cho chính quyền trung ương của nền văn minh Minoan - “quyền lực của biển Minos” - bị sụp đổ và được thế chỗ bởi giai đoạn quá độ trong đó xã hội Minoan rơi vào thời kỳ loạn lạc. Dấu ấn của sự xuống cấp được in đậm trên tất cả mọi sản phẩm vật chất của nền văn minh Minoan kể từ giai đoạn thứ 3 của thời kỳ “Cuối Minoan”, cũng rõ ràng như việc các sản phẩm này vượt trên tất cả các sản phẩm trước đó của nền văn minh Minoan về phương diện phân bổ địa lý. Có vẻ như sự sụt giảm chất lượng là cái giá phải trả cho sự gia tăng số lượng.

Trong lịch sử xã hội Trung Hoa cổ đại - tiền đề của xã hội Viễn Đông hiện nay - hiện tượng kể trên được lặp lại. Trong suốt giai đoạn cực thịnh, lãnh thổ của nền văn minh Trung Hoa cổ không mở rộng vượt quá đồng bằng sông Hoàng Hà. Chính trong giai đoạn loạn lạc của nó - “thời Chiến Quốc”, như cách gọi của người Trung Hoa - thế giới Trung Hoa cổ mới sáp nhập đồng bằng sông Dương Tử ở phía nam và vùng đồng bằng phía bắc Peiho ở phía đối diện. Tần Thủy Hoàng - người sáng lập chính quyền trung ương của xã hội Trung Hoa cổ - đã đẩy các đường biên giới chính trị của mình đến vị trí ngày nay vẫn còn được đánh dấu bởi Vạn Lý Trường Thành; và vương triều Hán - những người thừa kế công sức của nhà Tần - tiếp tục đẩy chúng đi xa hơn nữa về phía nam. Do đó, trong lịch sử nền văn minh Trung Hoa cổ đại, các giai đoạn bành trướng lãnh thổ địa lý và suy tàn về xã hội là trùng khớp với nhau.

Cuối cùng, nếu chuyển sang lịch sử chưa hoàn tất của nền văn minh Tây phương của chúng ta và coi sự bành trướng trong thời kỳ đầu của nó khi thôn tính các nền văn minh yểu mệnh Viễn Tây và Scandinavia; sự bành trướng của nó từ sông Rhine tới Vistula khi thảo phạt các cộng đồng người rợ Bắc Âu và từ dãy Alps tới dãy Carpathians sau quá trình tiêu diệt người Hungary - quân tiên phong của người du mục ở thảo nguyên Á-Âu; và cuộc bành trướng sau đó tới khắp mọi ngóc ngách của vùng đồng bằng Địa Trung Hải, từ eo biển Gibraltar tới cửa sông Nile và sông Don trong động thái mở rộng ồ ạt nhưng sớm lụi tàn bằng cả hai công cụ chinh phạt và kinh tế có thể được gọi rất ngắn gọn là “cuộc Thập tự chinh”; chúng ta có thể đồng ý rằng tất cả những động thái đó, cũng như giai đoạn bành trướng trước đây của người Hy Lạp cổ, là các ví dụ minh họa việc mở rộng lãnh thổ địa lý không đi kèm và cũng không kéo theo sự tiến bộ thực sự của nền văn minh. Nhưng khi chúng ta nghiên cứu sự tiếp nối của nó, đó là cuộc bành trướng tầm cỡ toàn cầu trong những thế kỷ gần đây thì chúng ta chỉ có thể dừng lại và kinh ngạc. Không một người thận trọng nào trong thế hệ chúng ta dám đưa ra câu trả lời chắc chắn cho câu hỏi này.

Giờ đây, chúng ta sẽ chuyển sang phần tiếp theo trong chủ đề của mình và xem xét, liệu tiến trình chinh phục môi trường tự nhiên bằng cách phát triển kỹ thuật có cung cấp cho chúng ta một tiêu chuẩn thỏa đáng về sự tiến bộ thực chất của một nền văn minh hay không? Có chứng cứ nào thể hiện mối tương quan tích cực giữa sự phát triển kỹ thuật với tiến trình phát triển xã hội không?

Mối tương quan này được công nhận trong bảng phân loại của các nhà khảo cổ học hiện đại, trong đó một chuỗi trạng thái phát triển kỹ thuật vật chất được coi là biểu thị của một chuỗi tương ứng trong tiến trình phát triển của nền văn minh. Theo tinh thần này, lịch sử nhân loại được đại diện bởi một chuỗi “thời kỳ” được phân biệt bằng tên gọi theo kỹ thuật: thời kỳ Đồ đá cũ, thời kỳ Đồ đá mới, thời kỳ Chalcolithic, thời kỳ Đồ đồng (Copper), thời kỳ Đồ đồng thiếc (Bronze), thời kỳ Đồ sắt, và có thể thêm vào thời kỳ Cơ giới mà chúng ta đang sống. Bất chấp sự thịnh hành rộng rãi của hệ thống phân loại này, sẽ không có hại gì nếu chúng ta phân tích kỹ lưỡng những hình thái xã hội mà nó đưa ra đại diện cho tiến trình của nền văn minh nhân loại; bởi lẽ, chúng ta có thể chỉ ra nhiều điểm nghi vấn mà không ảnh hưởng tổn hại gì đến phần nghiên cứu này.

Điểm nghi vấn đầu tiên chính là ở lý do mà hệ thống phân loại nói trên được chấp nhận phổ biến, đó là khuynh hướng ưa thích hiện nay cho rằng, một xã hội bị ảnh hưởng bởi chính những thành tựu kỹ thuật đương thời của nó. Sự phổ biến của hệ thống này là một minh họa cho thực tế không thể chối cãi - đã được nêu ra ngay từ những dòng đầu tiên của nghiên cứu này - đó là mỗi thế hệ có khuynh hướng thiết kế lịch sử theo quan điểm tư tưởng phù du của mình.

Lý do thứ hai để ngờ vực hệ thống phân loại tiến trình văn minh nhân loại theo kỹ thuật là vì nó là một ví dụ điển hình cho thấy, các nhà nghiên cứu bị lệ thuộc vào những vật liệu cụ thể trong khi nghiên cứu những mẫu vật thu được một cách ngẫu nhiên. Xét từ quan điểm khoa học, đó chỉ là những thứ phụ bởi lẽ các công cụ vật chất của “người tiền sử” tự tạo ra cho mình sẽ vẫn tồn tại trong khi các tạo tác tinh thần, các tổ chức và ý tưởng của anh ta đều mất đi. Thực ra, khi những công cụ tinh thần này được sử dụng, nó đóng một vai trò quan trọng hơn rất nhiều so với bất kỳ một công cụ vật chất nào khác trong đời sống con người; tuy nhiên, do các công cụ vật chất để lại những di tích hữu hình, trong khi công cụ tinh thần thì không, và vì nhiệm vụ của các nhà khảo cổ là làm việc với những di tích của nhân loại với hy vọng có thể từ đó moi ra được một kiến thức về lịch sử nhân loại, nên tư tưởng của khảo cổ học thường có khuynh hướng phác họa người Homo Sapiens chỉ trong vai trò thấp kém của Ноmo Faber.[2] Khi chuyển sang nghiên cứu các chứng cứ, chúng ta sẽ thấy những trường hợp kỹ thuật phát triển trong khi nền văn minh vẫn dậm chân tại chỗ hoặc bước vào giai đoạn suy tàn, hoặc trái lại, kỹ thuật vẫn giữ nguyên trong khi nền văn minh vận động - theo cả hai chiều tiến bộ và thoái bộ.

Ví dụ, một kỹ thuật bậc cao đã được phát triển ở tất cả các nền văn minh bị giam hãm. Người Polynesia xuất sắc trong vai trò những nhà hàng hải, người Eskimo là những ngư dân cự phách, người Sparta là chiến binh, người du mục là chuyên gia thuần hóa ngựa hoang, người Osmanli là chuyên gia thuần hóa con người. Tất cả các trường hợp này đều là các nền văn minh đứng yên không chuyển động trong khi kỹ thuật phát triển.

Một ví dụ của trường hợp kỹ thuật phát triển trong khi nền văn minh suy tàn đó là sự tương phản giữa thời kỳ đồ đá cũ và thời kỳ đồ đá mới ở Âu châu, vốn là hai giai đoạn kế cận nhau trong bảng phân chia niên đại theo kỹ thuật. Xã hội đồ đá cũ vẫn duy trì các công cụ thô sơ, nhưng nó đã phát triển một ý thức mỹ thuật tốt và không hề sao lãng việc khám phá những phương tiện đơn giản nhất định để biểu đạt hình ảnh. Những hình vẽ muông thú khéo léo và sống động bằng than trên các bức tường hang động của người đồ đá cũ khiến chúng ta phải thán phục. Xã hội đồ đá mới đã bỏ rất nhiều công sức để tự trang bị cho mình những công cụ truyền thụ văn hóa tốt hơn, và có thể đã sử dụng những công cụ này trong cuộc đấu tranh sinh tồn với người đồ đá cũ, trong đó Homo Pictor bị hạ bệ và chỉ còn lại một mình Homo Faber làm chủ môi trường. Dù trong trường hợp nào thì sự thay đổi này, vốn mở đầu cho một tiến bộ nổi bật về mặt kỹ thuật, rõ ràng là một sự thoái bộ của nền văn minh; vì nghệ thuật của người đồ đá cũ cũng đã chết theo họ.

Tương tự như vậy, về mặt kỹ thuật, nền văn minh Maya chưa bao giờ phát triển vượt quá thời kỳ đồ đá, trong khi các nền văn minh hậu duệ Mexic và Yucatec của nó đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc sử dụng nhiều loại kim khí trong suốt 500 năm trước cuộc chinh phạt của người Tây Ban Nha. Dù vậy, vẫn không thể phủ nhận rằng xã hội Maya đã đạt tới một trình độ văn minh cao hơn nhiều so với hai xã hội tầm thường thừa kế nó.

Procopius xứ Caesarea - sử gia Hy Lạp cổ vĩ đại cuối cùng - đã mở đầu câu chuyện lịch sử của ông về những cuộc chiến của hoàng đế Justinian - những cuộc chiến được coi là hồi chuông báo tử của xã hội Hy Lạp cổ - bằng lời khẳng định rằng, câu chuyện của ông hấp dẫn hơn so với câu chuyện của các bậc tiền bối do kỹ thuật quân sự đương thời đã tiến bộ vượt bực so với những kỹ thuật được áp dụng trong bất kỳ cuộc chiến nào trước đó. Thực tế là, nếu cô lập lịch sử kỹ thuật quân sự với các khía cạnh khác của lịch sử Hy Lạp cổ, chúng ta sẽ thấy một quá trình tiến bộ liên tục từ đầu tới cuối, trải qua suốt giai đoạn phát triển và cả giai đoạn suy tàn của nền văn minh đó; và chúng ta cũng sẽ thấy rằng, mỗi bước trong quá trình tiến bộ kỹ thuật đó được kích thích bởi các sự kiện sẽ là tai họa với nền văn minh.

Đầu tiên là sự phát minh “đội hình phalanx” (đội hình được tuyển chọn kỹ, sẵn sàng chiến đấu) của người Sparta - dấu hiệu phát triển đầu tiên của quân đội Hy Lạp cổ được ghi chép lại - là kết quả của cuộc chiến lần thứ hai giữa người Sparta và người Messenia, đã khiến nền văn minh Hy Lạp ở Sparta bị chững lại. Dấu hiệu phát triển tiếp theo là sự phân tách bộ binh Hy Lạp thành hai binh chủng chuyên biệt: Quân phalanx Macedonia và quân peltast (binh sĩ mang khiên) Athens. Đội hình phalanx Macedonia, hai tay được trang bị giáo dài thay cho loại thương ngắn cầm bằng một tay, tỏ ra dữ dội hơn nhiều so với đội hình tiền nhiệm của người Sparta khi đánh giáp lá cà, nhưng cũng kém cơ động hơn và dễ tổn thương hơn nếu bị rối loạn đội hình. Nó không thể chiến đấu an toàn trong thực tế trừ khi hai bên sườn của nó được bảo vệ bởi quân peltast, một loại bộ binh mới trang bị gọn nhẹ có thể tách rời khỏi hàng ngũ và được huấn luyện thành những chiến sĩ chuyên đánh đoản binh. Cải tiến thứ hai này là kết quả của một giai đoạn chiến tranh tàn khốc kéo dài hàng thế kỷ, từ thời điểm bùng phát cuộc chiến Athens-Peloponnese tới thắng lợi của người Macedonia trước người Theban và người Athens ở Chaeronea (431-338 trước CN), và là cột mốc suy sụp đầu tiên của nền văn minh Hy Lạp cổ. Dấu hiệu cải tiến tiếp theo do người La Mã thực hiện khi họ thành công trong việc kết hợp lợi thế và loại bỏ mặt hạn chế của quân phalanx và peltast qua các chiến thuật và trang bị của đội quân La Mã. Quân La Mã được trang bị một đôi lao phóng và một thanh gươm, xông trận bằng đội hình mở theo hai cánh, cùng với một cánh quân thứ ba - được trang bị và sắp xếp theo đội hình phalanx truyền thống - làm dự bị. Cải tiến thứ ba này là kết quả của một giai đoạn chiến tranh tàn khốc khác, bắt đầu từ khi cuộc chiến Hannibal bùng lên vào năm 220 trước CN, kéo dài tới thời điểm kết thúc cuộc chiến La Mã - Macedonia lần thứ ba vào năm 168 trước CN. Cải tiến thứ tư và cũng là cải tiến cuối cùng là sự hoàn thiện các quân đoàn, một tiến trình được Marius khởi xướng và hoàn tất bởi Caesar, là kết quả của một thế kỷ đảo chính và nội chiến, kết thúc với việc thành lập Đế chế La Mã với tư cách là chính quyền trung ương của xã hội Hy Lạp cổ. Quân thiết kỵ Justinian - quân kỵ mã mặc giáp sắt cưỡi ngựa cũng mặc giáp sắt được Procopius giới thiệu với các độc giả là kiệt tác của kỹ thuật quân sự Hy Lạp cổ - chứ không chỉ là đại diện cho một trạng thái kế tiếp trong đường dây phát triển quân sự tự nhiên của xã hội Hy Lạp. Lực lượng quân thiết kỵ này thực ra là một sự phóng tác của những thế hệ văn nghệ sĩ cuối cùng của xã hội Hy Lạp cổ, về một công cụ quân sự của người Iran - láng giềng và địch thủ của họ - những người đã làm La Mã phải e ngại lần đầu tiên khi họ đánh bại Crassus ở Carrhae vào năm 55 trước CN.

Kĩ thuật quân sự không phải là thứ kỹ thuật duy nhất có khuynh hướng phát triển ngược chiều với tiến trình chung của xã hội. Chúng ta hãy khảo sát một kỹ thuật cách xa nghệ thuật quân sự nhất: đó là kỹ thuật nông nghiệp, thường được coi là thứ nghệ thuật tối thượng của hòa bình. Nếu trở lại với lịch sử Hy Lạp cổ, chúng ta sẽ thấy rằng sự phát triển của nó đã từng đi đôi với sự suy tàn của một nền văn minh.

Đầu tiên, có vẻ như chúng ta đang bước vào một câu chuyện khác. Trong khi bước phát triển đầu tiên của nghệ thuật quân sự Hy Lạp cổ phải trả bằng cái giá là sự đình trệ tốc độ tăng trưởng của cộng đồng đã phát minh ra nó, thì bước phát triển đầu tiên tương ứng của nền nông nghiệp Hy Lạp cổ đã cho một kết quả sáng sủa hơn rất nhiều. Khi xứ Attica, với sự khởi xướng của Solon, tìm ra con đường chuyển từ chế độ quảng canh (trồng trọt nhiều loại cây lẫn lộn) sang chế độ chuyên canh (chỉ trồng một loại cây chuyên biệt) phục vụ cho xuất khẩu, sự tiến bộ về mặt kỹ thuật này đã kéo theo sự phát triển bột phát toàn diện trong mọi lĩnh vực của đời sống xứ Attica. Tuy nhiên, chương tiếp theo của câu chuyện bắt đầu trở nên tồi tệ. Sự tiến bộ kỹ thuật tiếp theo là một cải tiến về mặt hiệu quả thông qua hình thức tổ chức sản xuất đại trà dựa trên sức lao động của nông nô. Bước phát triển này có nguồn gốc từ các cộng đồng thực dân Hy Lạp ở đảo Sicily, và có thể đầu tiên là ở Agrigentum; vì người Hy Lạp ở Sicily phát hiện ra một thị trường rộng lớn tiêu thụ rượu và dầu ô-liu của họ ở các cộng đồng người rợ láng giềng. Lần này, tiến bộ kỹ thuật được đánh dấu bởi một sự suy đồi trầm trọng trong đời sống xã hội, do chế độ nô lệ đồn điền mới được thành lập là sự suy giảm nghiêm trọng so với chế độ nô lệ gia đình trước kia. Nó tồi tệ hơn cả về chất lẫn về lượng bởi nó vô cùng bất nhân, dã man và diễn ra trên diện rộng. Cuối cùng, nó đã lan tràn từ các cộng đồng người Hy Lạp ở Sicily sang khu vực rộng lớn vùng Nam Ý, vốn bị bỏ rơi trong trạng thái vô chủ và hoang tàn từ sau chiến tranh Hannibal. Mặc dù sau khi được hình thành, nó lập tức làm gia tăng sản lượng của đất đai và lợi nhuận của địa chủ, nhưng đồng thời nó cũng làm gia tăng sự cằn cỗi của xã hội; vì ở bất cứ nơi nào mà hệ thống nô lệ đồn điền vươn tới, nó luôn luôn loại bỏ và bần cùng hóa tầng lớp tiểu nông một cách bất công. Hệ quả xã hội là sự sụt giảm dân số ở nông thôn và sự hình thành một tầng lớp vô sản ăn bám ở các thành thị, và cụ thể là ở ngay tại Rome. Tất cả những nỗ lực của các thế hệ lãnh đạo La Mã kế thừa, từ Gracchi trở đi, đều không thể cứu thế giới La Mã thoát khỏi cơn bệnh xã hội hiểm nghèo mà bước tiến bộ cuối cùng trong kỹ thuật nông nghiệp đã gây ra. Hệ thống nô lệ đồn điền vẫn đeo bám dai dẳng xã hội Hy Lạp cổ cho tới khi nó hoàn toàn sụp đổ theo sự suy sụp của nền kinh tế tiền tệ mà nó dựa vào để tạo ra lợi nhuận. Cuộc khủng hoảng tài chính này là một phần của thảm họa xã hội xảy ra vào thế kỷ thứ ba sau CN; và thảm họa đó hiển nhiên là một phần hậu quả của tệ nạn ruộng đất đã gặm nhấm dần mòn cơ thể xã hội La Mã trong suốt bốn thế kỷ trước đó. Và như vậy, cơn bạo bệnh xã hội này cuối cùng đã tự tiêu vong sau khi gây ra cái chết của xã hội mà nó ký sinh.

Sự phát triển hệ thống nô lệ đồn điền ở các tiểu bang trồng bông của Hoa Kỳ - hệ quả của những cải tiến kỹ thuật của ngành công nghiệp vải sợi ở Anh - là một ví dụ rất quen thuộc khác của hiện tượng tương tự. Cuộc nội chiến Mỹ đã cắt bỏ được khối ung thư của hệ thống chiếm hữu nô lệ, nhưng nó không thể diệt trừ tận gốc rễ những tệ nạn xã hội bắt nguồn từ sự hình thành một chủng tộc người da đen tự do sống giữa xã hội của người Mỹ da trắng có nguồn gốc từ châu Âu.

Sự thiếu tương liên giữa tiến bộ kỹ thuật với tiến bộ của nền văn minh ở tất cả các ví dụ nêu trên đều xuất hiện khi kỹ thuật phát triển, trong khi các nền văn minh giậm chân tại chỗ, hoặc thoái bộ. Kết quả tương tự cũng xuất hiện trong những trường hợp mà chúng ta sẽ khảo sát ngay sau đây, trong đó kỹ thuật đứng yên trong khi nền văn minh vận động, tiến bộ hoặc thoái bộ.

Ví dụ, một bước tiến dài trên thang đo nền văn minh của nhân loại đã diễn ra ở châu Âu giữa hai thời kỳ đồ đá cũ trước và sau.

“Nền văn minh đồ đá cũ trước được hỗ trợ bởi sự kết thúc của kỷ Băng hà thứ tư. Bên cạnh các di tích của người Neanderthal chúng ta còn tìm thấy di tích của nhiều chủng người khác, không cho thấy quan hệ gì với người Neanderthal. Trái lại, tất cả họ đều có vẻ gần gũi, ít hoặc nhiều, với người hiện đại. Khi xem xét các di tích hóa thạch của thời kỳ này ở châu Âu, tưởng chừng như chúng ta đã bước sang thời kỳ hiện đại nếu chỉ xét theo hình thể con người”.[3]

Sự biến đổi hình thể con người từ giữa thời kỳ đồ đá cũ có lẽ là bước ngoặt quan trọng nhất từng xảy ra trong lịch sử phát triển của loài người; vì tại thời điểm đó, vượn người đã thành công trong việc tiến hóa thành người, trong khi đó con người, từ khi tiến hóa từ người vượn tới nay, vẫn chưa thành công trong việc tiến hóa thành siêu nhân. Sự so sánh này cho phép chúng ta ước lượng mức độ tiến bộ về trí tuệ đạt được khi người Neanderthal bị vượt qua và người Homo Sapiens chiếm ưu thế. Tuy vậy, cuộc cách mạng vĩ đại về trí tuệ này không đi kèm với một cuộc cách mạng tương ứng về kỹ thuật. Nghĩa là, trên thang phân loại kỹ thuật, các nghệ sĩ nhạy cảm đã vẽ nên những bức tranh mà chúng ta vẫn ngắm nhìn trong các hang động của người đồ đá cũ trước vẫn bị coi là “mắt xích còn thiếu”, trong khi thực tế - như có thể đánh giá qua trí tuệ, tầm vóc và những đặc điểm tương tự của nhân loại - chủng người đồ đá cũ cấp cao này vốn khác biệt với những người đồ đá cũ cấp thấp một trời một vực.

Ví dụ của chúng ta trong đó kỹ thuật giữ nguyên không đổi trong khi xã hội tiến bộ tìm thấy hình ảnh trái ngược của nó trong những trường hợp kỹ thuật được giữ nguyên trong khi xã hội thoái bộ. Ví dụ như kỹ thuật luyện kim, ban đầu xuất hiện trong thế giới Aegean vào thời điểm tái thiết xã hội khi xã hội Minoan đang bị phân rã, vẫn duy trì bất biến - không tiến bộ mà cũng không thoái bộ - cho tới tận thời điểm tái thiết xã hội tiếp theo khi nền văn minh Hy Lạp cổ đi theo con đường của xã hội Minoan tiền nhiệm của nó. Thế giới Tây phương chúng ta thừa kế nguyên vẹn kỹ thuật luyện kim từ thế giới La Mã, cùng với các ứng dụng của bảng chữ cái Latinh và toán học Hy Lạp. Về mặt xã hội đã xảy ra một biến động lớn. Nền văn minh Hy Lạp tan rã, sau đó là một thời kỳ quá độ và cuối cùng là nền văn minh Tây phương nổi lên từ đó. Nhưng không có khoảng thời gian gián đoạn tương ứng nào trong sự phát triển của ba kỹ thuật nói trên.

(2) TIẾN TRÌNH TỰ KHẲNG ĐỊNH

Lịch sử phát triển kỹ thuật, cũng như lịch sử bành trướng địa lý, đã không cung cấp cho chúng ta một tiêu chuẩn xác đáng về sự phát triển của các nền văn minh, nhưng nó tiết lộ một yếu tố cơ bản khống chế quá trình tiến bộ về kỹ thuật, có thể được mô tả như một quy luật tiến bộ đơn giản hóa. Động cơ hơi nước chậm chạp và kềnh càng được thay bằng động cơ đốt trong gọn gàng và tiện dụng, giúp cho phương tiện giao thông có thể được sử dụng trên đường phố với tốc độ của tàu hỏa và gần như đạt tới khả năng hoạt động tự do của người đi bộ. Điện báo hữu tuyến được thay bằng điện báo vô tuyến. Chữ viết vô cùng phức tạp của các xã hội Sinic và Ai Cập cổ được thay bằng các mẫu tự Latinh đơn giản và tiện dụng. Bản thân ngôn ngữ cũng cho thấy khuynh hướng tự đơn giản hóa bằng cách loại bỏ những biến tố (inflexion) và thay bằng các trợ từ, có thể được minh họa qua lịch sử của các ngôn ngữ thuộc họ Ấn-Âu. Sanskrit - đại diện tồn tại lâu đời nhất trong họ ngôn ngữ này - có vô số những inflexion và số lượng tiểu lừ (mạo từ, giới từ, phó từ) nghèo nàn một cách đáng ngạc nhiên. Trái lại, tiếng Anh hiện đại, đã loại bỏ gần như tất cả các biến tố, bù lại là sự phát triển của các giới từ và trợ động từ. Ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại diện cho một mức độ trung bình giữa hai thái cực nói trên. Trong thế giới Tây phương hiện đại, trang phục đã được đơn giản hóa từ những phục trang phức tạp theo kiểu người rợ thời Nữ hoàng Elizabeth thành những mẫu trang phục đơn giản như ngày nay. Thiên văn học Copernic - thay thế cho hệ thống của Ptolemae - bằng những khái niệm hình học đơn giản hơn rất nhiều, đã đưa ra một lý giải không kém phần mạch lạc về phạm vi chuyển động lớn hơn của các vật thể nặng nề trong không gian.

Có thể “đơn giản hóa” là một khái niệm không chính xác, hay ít ra là không hoàn toàn chính xác để diễn tả những sự thay đổi này. Đơn giản hóa là một từ phủ định, nó bao hàm sự tiết giảm cũng như sự loại trừ, trong khi những trường hợp nêu trên không phải là tiết giảm mà là một sự tăng cường hiệu quả thực tiễn hoặc về phương diện mỹ học hoặc về phương diện dễ hiểu. Kết quả không phải là “mất” mà là “được”; và cái “được” này là kết quả của một tiến trình đơn giản hóa bởi vì tiến trình này giải phóng các lực lượng lâu nay bị giam hãm và nhờ đó cho phép chúng tự do hoạt động với hiệu năng cao hơn. Có lẽ chúng ta sẽ có thể mô tả tiến trình này một cách sáng tỏ hơn nếu chúng ta gọi nó, không phải là đơn giản hóa nữa, mà là thăng hoa.

Trong lĩnh vực khống chế môi trường thiên nhiên của nhân loại, sự phát triển này được mô tả theo một quan điểm giàu tính tưởng tượng bởi một nhà nhân chủng học hiện đại:

“Chúng ta đứng rời xa mặt đất, chúng ta đang mất dần liên lạc, dấu chân ta đang mờ dần. Đá tồn tại mãi mãi, đồng trong một nền văn minh, sắt trong vài thế hệ, thép trong một đời người. Ai còn có thể lập bản đồ con đường bưu chính hàng không từ Luân Đôn tới Bắc Kinh khi thời đại của vận động đi qua, hoặc hôm nay ai có thể nói đâu là đường đi của những bức thư đã được gửi và được nhận? Nhưng các đường biên giới của vương quốc Iceni vẫn băng ngang biên giới phía nam của Đông Anglia, từ vùng đầm lầy khô cạn tới những khu rừng chết”.[4]

Những ví dụ minh họa của chúng ta gợi ý rằng, tiêu chuẩn của sự phát triển mà chúng ta đang tìm kiếm, và đã không phát hiện được trong cuộc chinh phục môi trường bên ngoài, cả môi trường con người lẫn tự nhiên, thực ra nằm ở sự thay đổi tầm quan trọng và phạm vi hoạt động từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, trong đó tiến trình “thách thức và phản ứng” có thể tìm được một phạm vi hoạt động thay thế. Trong phạm vi mới này, các thách thức không chịu tác động từ bên ngoài mà tự hình thành từ bên trong, và các phản ứng đáp trả thành công không diễn ra dưới hình thức vượt qua những chướng ngại hoặc đánh bại một địch thủ đến từ bên ngoài, mà bộc lộ qua một sự tự khẳng định hướng nội. Khi chứng kiến một con người hoặc một xã hội cụ thể nào đó thực hiện những phản ứng liên tục trước những thách thức liên tiếp, và khi tự hỏi rằng liệu chuỗi thách thức - phản ứng này có thể được coi là một dấu hiệu của sự tiến bộ hay không, chúng ta sẽ tìm được câu trả lời bằng cách xem xét một câu hỏi khác, đó là trong khi chuỗi vận động nói trên diễn ra, thì hoạt động của nó có khuynh hướng luân chuyển giữa hai phạm vi như đã trình bày ở trên hay không?

Chân lý này được thể hiện rất rõ trong những trình bày lịch sử cố gắng diễn tả các tiến trình phát triển riêng biệt theo khái niệm của môi trường bên ngoài từ lúc bắt đầu tới khi kết thúc. Chúng ta hãy lấy ví dụ hai trình bày xuất sắc thuộc loại này, đều là các tác phẩm đầy sáng tạo: Comment la Route crée le Тype Social của M. Edmond Demolins và cuốn Đề cương Lịch sử của tác giả H.G Wells.

Lý thuyết môi trường được Demolins đưa ra trong lời mở đầu ngắn gọn và kiên quyết của ông:

“Trên bề mặt trái đất tồn tại một sự đa dạng vô hạn về dân cư; và đâu là nguyên nhân tạo ra sự đa dạng này? … Nguyên nhân đầu tiên và quyết định tính đa dạng của các chủng tộc là lộ trình mà người ta đã theo đuổi. Chính lộ trình này tạo ra cả chủng tộc lẫn hình thái xã hội”.

Trong khi tuyên bố đầy khiêu khích này đã đạt được mục đích của nó là kích thích mọi người đọc cuốn sách trình bày lý thuyết của tác giả, chúng ta thấy rằng ông ta đã rất khéo léo khi vẽ ra các minh họa từ đời sống của các xã hội nguyên thủy. Trong những trường hợp này, đặc tính của xã hội có thể được giải thích gần như hoàn toàn bằng khái niệm phản ứng đáp trả các thách thức đến từ môi trường bên ngoài; nhưng dĩ nhiên, đây không phải là cách giải thích cho quá trình phát triển, vì những xã hội này ngày nay đã không còn vận động nữa. Demolins cũng thành công trong việc giải thích trạng thái của các xã hội bị giam hãm. Nhưng khi tác giả áp dụng công thức của mình vào các cộng động làng xã, thì độc giả bắt đầu cảm thấy nghi ngờ. Trong các chương nói về Carthage và Venice, người ta cảm thấy chắc chắn là ông đã bỏ sót một điều gì đó, nhưng không thể nói chắc thứ bị bỏ sót là gì. Khi ông tìm cách giải thích hệ thống triết lý của Pythagore dưới hình thức hoạt động buôn bán vận chuyển hàng hóa ngang qua mũi đất Ý, người ta thậm chí phải cố gắng cưỡng lại sự buồn cười. Nhưng chương “Con đường cao nguyên - chủng người Albania và Hy Lạp” thực sự là giọt nước làm tràn ly. Người rợ Albania và nền văn minh Hy Lạp cổ được xếp ngang hàng với nhau, chỉ vì các đại diện của họ đã từng đến được các đích đến địa lý khác nhau bằng một con đường giống nhau! Và cuộc phiêu lưu vĩ đại của nhân loại mà chúng ta biết đến dưới cái tên nền văn minh Hy Lạp cổ bị đánh đồng với một thứ phụ phẩm kém chất lượng của cao nguyên Balkan! Chính trong chương sách khốn khổ này mà luận điểm của cuốn sách đã tự bác bỏ chính nó bởi một định đề phản chứng. Đối với một nền văn minh đã phát triển cao như Hy Lạp cổ, thì nỗ lực diễn giải quá trình phát triển của nó thuần túy bằng khái niệm phản ứng đáp trả thách thức đến từ môi trường bên ngoài trở nên hoàn toàn ngớ ngẩn.

Luận điểm của tác giả Wells cũng có vẻ không còn vững chắc khi ông khảo sát một xã hội trưởng thành thay vì một xã hội nguyên thủy. Ông chưa bị mất phương hướng khi đưa ra các lực lượng tưởng tượng để tái thiết một số tình tiết kịch tính về thời đại địa chất. Câu chuyện của ông kể về việc “những theriomorph nhỏ, những tổ tiên hữu nhũ của chúng ta” đã tồn tại bằng cách nào trong khi các loài bò sát khổng lồ (khủng long) bước vào con đường diệt vong xứng đáng được xếp ngang hàng với truyền thuyết về David và Goliath trong Kinh Thánh. Khi những theriomorph nhỏ này trở thành những thợ săn thời Đồ đá cũ hoặc người du mục Á-Âu, tác giả Wells, cũng giống như Demolins, vẫn còn đáp ứng được mong đợi của độc giả. Nhưng khi chuyển sang biên niên sử của chính xã hội Tây phương chúng ta, ông đã phải phóng đại nên một theriomorph phi phàm là William Ewart Gladstone. Ông thất bại tại đây đơn giản vì đã không thể chuyển “báu vật tinh thần” của mình, như ông mô tả, từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô; và thất bại này đã bộc lộ các hạn chế của thành tựu tri thức vĩ đại mà cuốn Đề cương Lịch sử trình bày.

Thất bại của Wells tương phản với thành công của Shakespeare khi giải quyết vấn đề tương tự. Nếu chúng ta sắp xếp các nhân vật nổi bật trong viện bảo tàng vĩ đại của Shakespeare theo một thứ tự thăng hoa tăng dần, và nếu chúng ta ghi nhớ rằng kỹ thuật của kịch tác gia này là biểu lộ đặc điểm nhân vật qua việc thể hiện cá tính con người trong thực tế, chúng ta sẽ nhận thấy rằng, khi Shakespeare chuyển từ các cấp độ thấp lên cao trong thang đánh giá nhân vật của chúng ta, ông thường xuyên thay đổi môi trường hoạt động của nhân vật chính trong mỗi vở kịch của mình, thì ông đã cho ra sân khấu cái riêng của con người và đẩy cái chung vào trong sân khấu. Chúng ta có thể xác minh thực tế này nếu theo dõi các nhân vật từ vua Henry V, Macbeth hay Hamlet. Đặc điểm bản chất của Henry V được bộc lộ gần như trọn vẹn qua các phản ứng đáp trả thách thức đến từ môi trường con người chung quanh ông: qua các mối quan hệ của ông với những người bạn vui tính, với cha ông; qua sự giao tiếp giữa lòng dũng cảm của riêng ông với các đồng đội kề vai sát cánh chiến đấu bên cạnh ông trong buổi sáng ở Agincourt và qua sự đeo đuổi quyết liệt công chúa Kate. Khi chuyển sang Macbeth, chúng ta thấy quang cảnh hoạt động đã thay đổi; vì các mối quan hệ của Macbeth với Malcolm hoặc Macduff, hoặc ngay cả với phu nhân Macbeth, cũng chỉ có tầm quan trọng ngang bằng với các mối quan hệ của vị anh hùng với chính bản thân ông. Cuối cùng, khi đến với Hamlet, chúng ta thấy chàng để cho cái chung gần như phai mờ hẳn, cho tới khi những mối quan hệ của người anh hùng với những kẻ sát hại cha chàng, với ngọn lửa Ophelia đang lụi tàn và với thầy chàng, nhà thông thái Horatio; tất cả bị cuốn hút vào một cuộc xung đột nội tâm đang tìm đường thoát ra khỏi tâm hồn chàng hoàng tử. Trong Hamlet, môi trường hoạt động đã được chuyển gần như trọn vẹn từ thế giới chung sang thế giới riêng - thế giới nội tâm của Hamlet. Trong mảnh ghép nghệ thuật quan trọng này của Shakespeare, giống như trong vở Thần Prometheus của Aeschylus hoặc trong những vở kịch độc thoại (kịch chỉ có một vai diễn) của Browning, một diễn viên duy nhất thực sự chiếm độc quyền sân khấu để có được phạm vi hoạt động lớn hơn cho sự diễn tả cảm xúc và thế giới nội tâm của nhân vật đó.

Sự thay đổi môi trường hoạt động mà chúng ta nhận thấy trong cách trình bày của Shakespeare về các nhân vật chính của ông khi sắp xếp họ theo thứ tự tăng dần của mức độ phát triển tinh thần, cũng có thể bắt gặp trong lịch sử các nền văn minh. Ở đây cũng vậy, khi một chuỗi các phản ứng đáp trả các thách thức được gom lại thành một dãy phát triển, chúng ta sẽ thấy rằng môi trường hoạt động được thay đổi liên tục và chuyển dần từ môi trường bên ngoài vào môi trường nội tại của bản thân cơ thể xã hội.

Ví dụ, chúng ta đã từng lưu ý rằng, khi các tổ tiên nền văn minh phương Tây thành công trong việc đẩy lùi cuộc tấn công của người Scandinavia, một trong những phương tiện giúp họ đạt được thắng lợi này trước thách thức đến từ môi trường con người là sự kết hợp giữa sức mạnh quân sự và công cụ xã hội của hệ thống phong kiến. Nhưng trong phân cảnh tiếp theo của lịch sử Tây phương, sự phân biệt về xã hội, kinh tế và chính trị của các tầng lớp khác nhau mà chế độ phong kiến thừa kế đã tạo ra sự mâu thuẫn, và đến lượt mình, sự mâu thuẫn này đã phát sinh ra thách thức kế tiếp mà xã hội đang phát triển phải đối mặt. Xã hội Cơ Đốc Tây phương khó có thể nghỉ ngơi sau nỗ lực đánh bại người Viking, trước khi nó tìm thấy sứ mệnh mới của mình là thay thế hệ thống phong kiến với mối quan hệ giữa các tầng lớp trong xã hội bằng một hệ thống mới với mối quan hệ giữa các nhà nước có chủ quyền và các công dân của chúng. Trong ví dụ của hai thách thức liên tiếp này, sự thay đổi môi trường hoạt động từ bên ngoài vào bên trong là hết sức rõ ràng.

Chúng ta có thể chứng kiến xu hướng tương tự trong những giai đoạn khác của lịch sử mà chúng ta đã từng phân tích trong những ngữ cảnh khác. Chẳng hạn như trong lịch sử Hy Lạp cổ, chúng ta thấy rằng những thách thức đầu tiên đều bắt nguồn từ môi trường bên ngoài: thách thức đến từ cộng đồng người rợ cao nguyên ở chính Hy Lạp và thách thức của người Malthusia mà Hy Lạp gặp phải do các cuộc bành trướng lãnh thổ vượt đại dương, chuỗi thách thức nhỏ hơn đến từ người rợ bản xứ và các nền văn minh cạnh tranh, những thách thức này lên đến cực điểm trong các cuộc phản công đồng thời của Carthage và Ba Tư trong phần tư thứ nhất của thế kỷ thứ năm trước CN. Tuy nhiên, sau đó, thách thức ghê gớm từ môi trường con người này bị vượt qua trong bốn thế kỷ bắt đầu với thời kỳ của Alexander Đại đế và nối tiếp bằng những thắng lợi của La Mã. Nhờ những thắng lợi này, xã hội Hy Lạp cổ giờ đây được tận hưởng một thời gian nghỉ ngơi kéo dài khoảng năm hoặc sáu thế kỷ mà không gặp một thách thức nghiêm trọng nào đến từ môi trường bên ngoài. Nhưng điều đó không có nghĩa là trong những thế kỷ đó, xã hội Hy Lạp cổ hoàn toàn không gặp một thách thức nào. Ngược lại, như chúng ta đã biết, những thế kỷ này là giai đoạn suy tàn; tức là một giai đoạn mà xã hội Hy Lạp phải đối mặt với những thách thức mà nó không thể đáp trả thành công. Chúng ta đã từng khảo sát những thách thức này là gì và giờ đây, nếu xem xét lại, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả chúng đều là những thách thức nội tại - kết quả của những phản ứng đáp trả thành công trước những thách thức từ bên ngoài. Chẳng hạn như thách thức đến từ hệ thống phong kiến của xã hội Tây phương chúng ta là kết quả của sự phát triển trước đó của chế độ phong kiến với tư cách một phương tiện để đáp trả áp lực từ bên ngoài của người Viking.

Ví dụ, áp lực quân sự từ người Ba Tư và người Carthage đã kích thích xã hội Hy Lạp tạo ra hai công cụ quân sự và xã hội hùng mạnh là lực lượng hải quân Athens và chế độ chuyên chế Syracuse. Những sản phẩm này đã sinh ra sự căng thẳng trong cơ thể xã hội Hy Lạp trong thế hệ tiếp theo; kết quả là cuộc chiến tranh giữa người Athens với người Peloponnese và phản ứng chống chế độ Syracuse của các thần dân người rợ và các đồng minh Hy Lạp của nó; và những biến động này đã dẫn tới sự suy sụp lần đầu tiên của xã hội Hy Lạp cổ.

Trong các chương tiếp theo của lịch sử Hy Lạp cổ, mũi gươm trỏ ra ngoài trong các cuộc chinh phạt của Alexander và Scipios sớm quay vào trong hướng đến cuộc nội chiến giữa hai đối thủ Diadochi Macedonia và các nhà độc tài La Mã. Tương tự, cuộc cạnh tranh kinh tế giữa các xã hội Hy Lạp và Syria cổ để giành quyền làm chủ vùng Tây Địa Trung Hải lại được tái diễn trong trái tim của xã hội Hy Lạp cổ - sau khi đối thủ cạnh tranh của nó là xã hội Syria đã chịu đầu hàng - qua cuộc đấu tranh không kém phần khốc liệt giữa các nô lệ đồn điền người phương Đông và các chủ nhân người La Mã hoặc Siceliot của họ. Cuộc xung đột văn hóa giữa Hy Lạp và các nền văn minh phương Đông - Syria, Ai Cập, Babylon và Ấn Độ cổ - cũng được tái hiện bên trong xã hội Hy Lạp dưới hình thức một cuộc khủng hoảng nội bộ về tâm linh: cuộc khủng hoảng được lột tả qua sự trỗi dậy của tôn giáo thờ thần Isis, thuật chiêm tinh (astrology), đạo Mithra và Cơ Đốc giáo cùng với hàng loạt tôn giáo hỗn hợp khác.

Chúng không chịu dừng giao tranh, hai miền Đông và Tây,

Trên những đường biên giới của lồng bộ ngực này.[5]

Trong lịch sử Tây phương của mình, tính đến ngày nay, chúng ta cũng có thể phát hiện một xu hướng tương tự. Vào giai đoạn đầu, những thách thức dễ nhận thấy nhất mà nó phải đương đầu đều bắt nguồn từ môi trường con người, khởi đầu với những thách thức đến từ người Ả Rập ở Tây Ban Nha và khu vực Scandinavia, và kết thúc với thách thức từ người Osmanli. Kể từ đó sự bành trướng của xã hội Tây phương hiện đại của chúng ta đã vươn ra khắp thế giới; và theo thời gian, cuộc bành trướng này đã giải phóng chúng ta hoàn toàn khỏi mối bận tâm về những thách thức đến từ các xã hội xa lạ khác.[6]

Hiện tượng duy nhất có vẻ giống như một thách thức hiệu quả từ bên ngoài đối với xã hội chúng ta, kể từ thất bại lần thứ hai của người Osmanli trong nỗ lực đánh chiếm Vienna, là thách thức của chủ nghĩa Bolshevik đối với thế giới Tây phương từ khi Lenin và các cộng sự của ông giành được quyền cai trị Đế chế Nga vào năm 1917. Dù vậy, chủ nghĩa Bolshevik vẫn chưa đe dọa nhiều đến uy thế của nền văn minh Tây phương bên ngoài lãnh thổ Liên Xô; và ngay cả một ngày nào đó, chế độ Cộng sản thỏa mãn được khát vọng của những người cộng sản Nga qua việc bành trướng ra khắp bề mặt địa cầu, thì một chiến thắng trên bình diện thế giới của chủ nghĩa cộng sản trước chủ nghĩa tư bản cũng không có nghĩa là chiến thắng của một nền văn minh xa lạ, bởi lẽ khác với Hồi giáo, bản thân chủ nghĩa cộng sản cũng có nguồn gốc từ nền văn minh Tây phương, và chính là một phản ứng phủ định chủ nghĩa tư bản Tây phương. Sự chấp nhận chủ nghĩa Tây phương ngoại lai này làm tín ngưỡng cho cách mạng Nga thế kỷ 20 - không phải là dấu hiệu cảnh báo nền văn minh phương Tây đang lâm nguy - mà thực ra nó cho thấy uy thế của nền văn minh này đã đạt tới mức độ mạnh mẽ như thế nào.

Có một sự mơ hồ sâu sắc trong bản chất chủ nghĩa Bolshevik được bộc lộ qua sự nghiệp của Lenin. Ông đã hoàn tất hay phá hủy công trình của Peter Đại đế? Qua việc dời thủ đô của nước Nga từ cứ điểm của Peter về một vị trí ở trung tâm nội địa, có vẻ như Lenin đã tự tuyên bố mình là người theo tư tưởng “yên ổn” kế vị tu sĩ Avvakum, những tín đồ xưa cũ và người Slav ngày xưa. Chúng ta có thể cảm nhận được đây là một “nhà tiên tri” của “nước Nga thần thánh”, hiện thân phản ứng của linh hồn Nga chống lại nền văn minh Tây phương. Mặc dù vậy, khi Lenin tìm kiếm một tín ngưỡng, ông lại vay mượn từ một người Đức gốc Do Thái của phương Tây, Karl Marx. Phải công nhận là chủ nghĩa Marx gần như đạt tới sự phủ nhận hoàn toàn trật tự xã hội của phương Tây hơn bất cứ tín ngưỡng nào khác có nguồn gốc Tây phương mà “nhà tiên tri” thế kỷ 20 của nước Nga có thể chấp nhận. Chính những yếu tố phủ định - chứ không phải những yếu tố khẳng định - trong tín điều của chủ nghĩa Marx khiến cho nó phù hợp với tư tưởng cách mạng của nước Nga; và điều này giải thích lý do tại sao, vào năm 1917, hệ thống chủ nghĩa tư bản phương Tây du nhập vào nước Nga đã bị đè bẹp bởi một chủ nghĩa chống tư bản cũng đến từ Tây phương. Cách giải thích này sinh ra từ hình thức biến đổi mà triết học Marx sẽ khoác lên mình nó dưới bầu khí quyển của nước Nga, nơi chúng ta chứng kiến chủ nghĩa Marx biến thành thứ thay thế cho Cơ Đốc giáo Chính thống về cả cảm xúc lẫn lý trí, với Marx đóng vai trò của Moses còn Lenin đóng vai Messiah và bộ sưu tập các công trình của họ đóng vai trò “thánh kinh” của “giáo hội” vô thần mới mẻ này. Nhưng hiện tượng phi thường nói trên bộc lộ một khía cạnh khác khi chúng ta chuyển sự chú ý của mình từ vận mệnh sang công việc và phân tích xem Lenin cùng những người kế vị ông đã làm được gì cho nhân dân Nga.

Khi tự đặt cho mình câu hỏi: Ý nghĩa “kế hoạch năm năm” của Stalin là gì? Chúng ta chỉ có thể trả lời rằng, đó là nỗ lực cơ giới hóa nông nghiệp cũng như công nghiệp và giao thông vận tải, để biến một quốc gia nông nghiệp thành một quốc gia cơ giới, để biến nước Nga già nua thành một nước Mỹ trẻ trung. Nói cách khác, đó là một nỗ lực Tây phương hóa với quá nhiều tham vọng, quá cực đoan và tàn nhẫn, đã đập tan công trình của Peter Đại đế thành từng mảnh vụn. Các nhà lãnh đạo hiện tại của nước Nga đang cố gắng với nghị lực điên cuồng nhằm đảm bảo thắng lợi cho nước Nga trước nền văn minh mà họ đã ly khai. Không nghi ngờ gì là họ đang mơ đến việc sáng tạo một xã hội mới sánh ngang với nước Mỹ về trang thiết bị nhưng mang linh hồn Nga - mặc dù đây là một mơ ước kỳ lạ đối với những con người đã tuyên bố rằng mỗi cách lý giải biện chứng về lịch sử là một điều khoản của số phận! Dựa trên những triết lý cơ bản của chủ nghĩa Marx, chúng ta phải cho rằng, nếu một người nông dân Nga được dạy cho sống theo lối sống của một người công nhân Mỹ, thì anh ta sẽ học được cách suy nghĩ như người công nhân, cảm xúc như người công nhân, và khao khát điều mà người công nhân khao khát. Trong cuộc giằng co gay go mà chúng ta đang chứng kiến ở nước Nga giữa lý tưởng của Lenin và phương pháp của Ford, chúng ta có thể nhìn về tương lai để thấy uy thế của nền văn minh Tây phương được chứng minh một cách ngược đời trước nền văn minh Nga.

Sự mơ hồ tương tự cũng được biểu lộ trong sự nghiệp của Gandhi, người cũng đã vô tình thúc đẩy tiến trình Tây phương hóa một cách còn mỉa mai hơn. Nhà tiên tri Ấn giáo tìm cách gỡ những sợi chỉ cột chặt Ấn Độ vào màng lưới của thế giới Tây phương. “Hãy se sợi và dệt vải của Ấn Độ bằng đôi tay Ấn Độ của các bạn”, ông khuyên. “Chớ có khoác lên người những sản phẩm của máy dệt phương Tây; và tôi kêu gọi các bạn, đừng nghĩ tới chuyện tống khứ những sản phẩm ngoại nhập này bằng cách lắp đặt trên đất Ấn Độ những máy dệt mới theo kiểu phương Tây”. Thông điệp này, chính là thông điệp thực sự của Gandhi, đã không được các đồng bào của ông chấp nhận. Họ vẫn tôn sùng ông như một vị thánh, nhưng họ chỉ nghe theo sự hướng dẫn của ông khi nào ông từ bỏ quan điểm của mình để dẫn dắt họ tiến theo con đường Tây phương hóa. Vì vậy mà chúng ta thấy Gandhi ngày nay đang thúc đẩy một động thái chính trị theo chương trình của Tây phương - đó là tiến trình biến Ấn Độ thành một chính thể lập hiến độc lập tự chủ - với tất cả những công cụ chính trị của phương Tây như hội nghị, bầu cử, diễn thuyết, báo chí và quảng cáo. Trong chiến dịch này của nhà tiên tri Ấn Độ, những ủng hộ viên hiệu quả nhất của ông - mặc dù không phải là những người được ông ưa thích nhất - chính là các nhà tư bản công nghiệp Ấn Độ, những người đã không từ một việc gì để làm thất bại sứ mệnh thực sự của nhà tiên tri, và cũng là những người đã khiến cho kỹ thuật của hệ thống công nghiệp thích nghi được với bản chất Ấn Độ.[7]

Những chuyển hóa tương ứng từ các thách thức ngoại lai sang nội tại đã diễn ra theo sau thắng lợi của nền văn minh Tây phương trước môi trường vật chất. Những thắng lợi của thứ được gọi là cuộc cách mạng công nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật đã tạo ra một loạt vấn đề trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội, một chủ đề quá phức tạp và quen thuộc nên chúng ta không cần phải mổ xẻ ở đây. Chúng ta hãy nhớ lại bức tranh mà giờ đây đang mờ dần một cách nhanh chóng về một con đường thời “tiền cơ giới hóa”. Con đường cổ lỗ sĩ này chật cứng những phương tiện giao thông có bánh xe ngày xưa: xe kéo tay, xe bò kéo, xe chó kéo, và một tuyến xe ngựa với tư cách là một kiệt tác của sức kéo cơ bắp cùng với một vài chiếc xe đạp chân đây đó như là điềm báo xu hướng của tương lai. Vì con đường quá chật chội, nên đâu đó có một số vụ va chạm; nhưng chẳng ai để ý, vì ít có người bị thương và giao thông hầu như không bị đình trệ. Đó là vì những vụ va chạm này không nghiêm trọng. Chúng không thể nghiêm trọng vì tốc độ giao thông quá chậm và lực đẩy quá yếu. “Vấn đề giao thông” trên con đường này không phải là chuyện tránh va chạm mà chỉ là chuyện có hoàn tất được hành trình hay không, và đường phố vẫn у như thời xa xưa. Không hề có một loại luật lệ giao thông nào: không có cảnh sát điều khiển hoặc đèn hiệu giao thông.

Và bây giờ chúng ta hãy chuyển sang xem xét những con đường ngày nay trên đó hàng loạt xe cơ giới đang gầm rú. Trên con đường này những vấn đề về tốc độ và sức kéo đã được giải quyết, và điều đó được chứng thực qua những chiếc xe tải cơ giới có sức kéo mạnh hơn cả loài voi và những chiếc xe hơi thể thao phóng vùn vụt với tốc độ như tên bắn. Nhưng đồng thời, vấn đề va chạm đã trở thành vấn nạn hàng đầu của giao thông. Do đó trên đường phố ngày nay, vấn đề không còn thuộc lĩnh vực kỹ thuật nữa mà chuyển sang lĩnh vực tâm lý. Thách thức ngày xưa của những khoảng cách xa xôi đã được chuyển hóa thành một thách thức mới của mối quan hệ giữa các tài xế - những người trong khi học cách triệt tiêu khoảng cách - đã tự đưa mình vào mối hiểm họa thường trực là triệt tiêu lẫn nhau.

Rõ ràng là sự thay đổi mang tính bản chất của vấn đề giao thông này là một dấu hiệu quan trọng. Nó tiêu biểu cho sự thay đổi chung diễn ra trên phạm vi toàn bộ đời sống xã hội Tây phương hiện đại kể từ thời điểm hình thành hai lực lượng xã hội thống trị thời đại: hệ thống công nghiệp và nền dân chủ. Nhờ vào tiến bộ phi thường mà các nhà phát minh hiện đại của chúng ta đã thành công trong việc khai thác năng lượng của thiên nhiên, bên cạnh đó, nhờ việc tổ chức phối hợp đồng bộ hoạt động của hàng triệu con người, giờ đây tất cả những công việc được thực hiện trong xã hội chúng ta, dù với mục đích tốt hay xấu, đều được hoàn tất với một tiến độ khủng khiếp; và điều này tạo ra những hậu quả về vật chất cũng như trách nhiệm về đạo đức của các hậu quả nặng nề hơn bao giờ hết. Có thể là trong mọi giai đoạn của mọi xã hội đều có tồn tại một vấn đề về đạo đức với tư cách là thách thức quyết định tương lai của xã hội; nhưng chắc chắn là một thách thức về đạo đức chứ không phải thách thức vật chất đang đe dọa xã hội chúng ta ngày nay.

“Trong quan điểm ngày nay của mọi người về cái gọi là tiến trình cơ giới hóa, chúng ta đang thấy một sự thay đổi về tinh thần. Sự ca tụng hòa lẫn với những lời chỉ trích; sự thỏa mãn nhường chỗ cho hoài nghi; hoài nghi lại chuyển thành lo lắng. Có một cảm giác lúng túng và thất vọng trào dâng, giống như một người đã đi một đoạn đường rất dài để rồi phát hiện ra mình rẽ nhầm đường. Quay trở lại là điều không thể; anh ta sẽ làm thế nào? Bao giờ anh ta mới tìm lại được chính mình nếu đi theo con đường này hay con đường khác? Một người xưa kia từng đề xuất áp dụng cơ giới hóa có thể được tha thứ nếu bây giờ anh ta bày tỏ tâm trạng thất vọng vì giờ đây, khi đứng sang một bên, anh ta mới có dịp quan sát kỹ lưỡng sự phô trương của những khám phá và phát minh đã từng khiến anh ta tự hào vô bờ bến. Anh ta không thể không đặt câu hỏi: Tiến trình kinh hoàng này sẽ đi về đâu? Sau cùng thì đâu mới là mục tiêu của nó? Tác động tiềm tàng của nó lên tương lai của loài người là gì?”

Những lời thâm thúy trên đây đặt ra một câu hỏi vẫn đang ngày ngày đấu tranh để tìm kiếm câu trả lời trong trái tim của tất cả chúng ta; và đây là những lời lẽ có trọng lượng bởi lẽ chúng được thốt ra từ miệng của Chủ tịch Hiệp hội vì sự tiến bộ khoa học Anh quốc trong bài diễn văn khai mạc cuộc họp thường niên lần thứ 101 của tổ chức đó.[8] Liệu sức mạnh khống chế xã hội mới phát hiện của hệ thống công nghiệp và nền dân chủ sẽ được sử dụng trong nhiệm vụ vĩ đại là tổ chức thế giới Tây phương thành một xã hội toàn cầu, hay chúng ta đang hướng sức mạnh mới vào sự hủy diệt chính mình?

Một hình thức có lẽ đơn giản hơn của tình trạng tiến thoái lưỡng nan này đã từng ám ảnh các vua chúa trị vì Ai Cập cổ đại. Khi những người tiên phong của nền văn minh Ai Cập đáp trả thành công trước thách thức tự nhiên đầu tiên của họ; đó là nước, đất và hệ thực vật của vùng thung lũng hạ sông Nile đã quy phục trước ý muốn của con người, thì vị vua và chúa tể của đất và người Ai Cập tự hỏi rằng ông sẽ sử dụng hệ thống phi thường đang có sẵn trong tay ông sẵn sàng đáp ứng ý muốn của mình như thế nào. Đó là một thách thức về mặt đạo đức. Liệu ông có sử dụng sức mạnh của thiên nhiên và sức mạnh của con người dưới sự điều khiển của mình để làm giàu cho các thần dân của ông? Liệu ông có thể dẫn dắt họ tiến lên cao và về phía trước để đạt tới mức độ hạnh phúc mà mới chỉ có nhà vua và số ít tướng lĩnh của ông đạt được? Liệu ông sẽ đóng vai trò anh hùng trong vở kịch kể chuyện thần Prometheus đem ngọn lửa thiêng soi rọi cho loài người hay vai trò hung bạo của thần Zeus? Chúng ta đã biết câu trả lời. Ông đã cho xây các kim tự tháp; và các kim tự tháp đã biến những kẻ thống trị chuyên chế thành bất tử, không phải như những vị thánh sống mà là những kẻ hút máu nhân dân. Tiếng xấu của họ đã đi vào văn học dân gian Ai Cập khi họ được nhắc tới trong các trang sách bất hủ của Herodotus. Như một sự báo ứng cho lựa chọn lầm đường lạc lối của họ, thần chết đã đặt bàn tay băng giá của mình lên nền văn minh đang phát triển này đúng vào thời điểm thách thức kích thích sự phát triển của nó chuyển từ bên ngoài vào bên trong. Trong tình huống gần như tương tự của xã hội chúng ta ngày nay, khi thách thức của hệ thống công nghiệp được chuyển từ lĩnh vực kỹ thuật sang đạo đức, kết quả cuối cùng vẫn chưa thể biết được, do phản ứng đáp trả của chúng ta trước tình huống mới vẫn chưa được quyết định.

Tuy nhiên, chúng ta đã đến được cột mốc cuối cùng trong luận điểm của phần này. Chúng ta kết luận rằng một chuỗi phản ứng đáp trả thành công trước các thách thức liên tục được coi là biểu hiện của quá trình phát triển nếu như, khi diễn tiến đó xảy ra, hoạt động có khuynh hướng chuyển từ một môi trường (tự nhiên hoặc con người) bên ngoài sang một sự phát triển nội tại của đặc điểm xã hội, hoặc của nền văn minh. Càng phát triển theo tiến trình này, nó càng ít gặp những thách thức đến từ các thế lực bên ngoài vốn đòi hỏi đáp trả bằng các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, mà càng thường xuyên gặp những thách thức nội tại. Tiến bộ xã hội có nghĩa là sự phát triển của các đặc điểm xã hội hoặc nền văn minh có khuynh hướng trở thành môi trường, thách thức và lĩnh vực hoạt động của chính nó. Nói cách khác, tiêu chuẩn phát triển của nền văn minh là tiến trình tự khẳng định mình; và tiến trình này là công thức cố định để mô tả phép màu giúp sự sống thâm nhập vào vương quốc của nó.

❀ ❀ ❀

[1] Thucydides, Cuốn I, tr. 17; Herodotus, Cuốn VI, tr. 98.

[2] Trong nhân chủng học, Homo Faber (working man, man the maker): con người lao động; Homo Sapiens (wise man, knowing man): người thông thái; Homo Pictor (depicting man, man of the artist): con người nghệ thuật. (chú thích của người làm ebook)

[3] Carr-Saunders, A.M: Vấn đề dân số, tr. 116-7.

[4] Heard, Gerald: Sự phát triển của nhân loại, tr. 277-8.

[5] Housman, A.E: Một Shropshire Lad, XXVIII.

[6] Nếu tác giả Toynbee viết phần này muộn hơn một vài năm, hẳn ông đã dành một ngoại lệ cho thách thức đến từ Nhật Bản. (Người biên tập)

[7] Thủ tướng Churchill đã kêu gọi mọi người lưu ý đến thực trạng này trong bài phát biểu của ông về Ấn Độ trước Viện thứ dân vào ngày 10/9/1942. Nhận xét của ông đã bị công kích một cách chua chát trên báo chí theo chủ nghĩa dân tộc của Ấn Độ. (Người biên tập)

[8] Ngài Alfred Ewing, theo tường thuật trên tờ The Times, số ra ngày 1/9/1932.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.