Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 127 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VII. THÁCH THỨC CỦA MÔI TRƯỜNG SỐNG

❊ ❊ ❊

Đặt vấn đề

Đến giờ, có lẽ chúng ta đã chứng minh được chân lý: điều kiện sống dễ dàng là kẻ thù của nền văn minh. Liệu có thể đi xa hơn một bước nữa được chăng? Chúng ta có thể nói rằng, tác nhân kích thích sự phát triển của các nền văn minh mạnh dần lên tỉ lệ với độ khắc nghiệt của môi trường hay không? Hãy xem lại những bằng chứng ủng hộ luận điểm này và sau đó là những chứng cứ chống lại nó, để xem chúng ta rút ra được kết luận gì. Bằng cớ để chứng minh độ khắc nghiệt và tác nhân kích thích của một môi trường sống có khuynh hướng tăng trưởng song song không phải là khó tìm. Thậm chí, chúng ta có thể lúng túng trước quá nhiều ví dụ minh họa nhảy múa trong đầu, phần lớn đều được thể hiện dưới hình thức so sánh. Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc sắp xếp các ví dụ minh họa vào hai nhóm, trong đó lần lượt so sánh môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; và đầu tiên chúng ta hãy xem xét nhóm môi trường tự nhiên. Nó lại được phân chia thành hai phạm trù: So sánh giữa tác động kích thích tương ứng của môi trường tự nhiên trong nhiều mức độ khắc nghiệt khác nhau; và so sánh giữa các tác động kích thích tương ứng của lãnh thổ cũ và lãnh thổ mới, tách biệt với bản chất tự nhiên của địa hình.

Khu vực sông Hoàng Hà và sông Dương Tử

Ví dụ đầu tiên, chúng ta hãy xem xét những mức độ khắc nghiệt khác nhau tác động lên vùng thung lũng hạ lưu của hai con sông lớn ở Trung Quốc. Dường như khi con người lần đầu tiên chạm tay vào dòng nước nguyên thủy ở thung lũng hạ lưu Hoàng Hà, họ không thể đi lại trên con sông này vào bất cứ mùa nào trong năm. Vào mùa đông, dòng sông bị đóng băng hoặc đầy những tảng băng trôi, và sự tan chảy của lớp băng này vào mùa xuân gây ra những cơn lũ hủy diệt, nó thay đổi dòng chảy của con sông qua việc mở ra lòng sông mới, trong khi lòng sông cũ trở thành các khu rừng đầm lầy. Đến tận ngày nay, sau 3-4 nghìn năm nỗ lực, con người đã làm cạn các đầm lầy và thay đổi dòng chảy của con sông bằng hệ thống đê bao, nhưng hoạt động tàn phá của những cơn lũ không phải là đã bị loại trừ hoàn toàn. Mới đây, vào năm 1852, lòng sông Hoàng Hà lại bị thay đổi hoàn toàn, và nó tràn bờ từ phía nam lên phía bắc bán đảo Sơn Đông để ra biển, chảy qua hơn trăm dặm. Sông Dương Tử, trái lại, lúc nào cũng có thể đi lại được, và những cơn lũ của nó, mặc dù đôi khi cũng dữ dội, song xảy ra ít hơn nhiều so với lũ của sông Hoàng Hà. Hơn nữa, trong vùng thung lũng sông Dương Tử, mùa đông ít khắc nghiệt hơn. Ấy vậy mà, nền văn minh Trung Hoa cổ đại đã ra đời chính trên con sông Hoàng Hà chứ không phải sông Dương Tử.

Lãnh thổ Attica và Boeotia

Bất kỳ du khách nào đến hoặc rời Hy Lạp, không theo đường biển mà xuyên qua vùng nội địa phía bắc, chắc chắn không thể không ấn tượng trước thực tế rằng, cái nôi của nền văn minh Hy Lạp cổ vừa khô cằn vừa nhiều sỏi đá và “khắc nghiệt” hơn những vùng đất ở phía bắc, vốn chẳng bao giờ sản sinh ra một nền văn minh nào của riêng chúng. Tuy nhiên, những tương phản tương tự cũng xảy ra ngay trong bản thân khu vực Aegean sau đây.

Nếu một người đi bằng tàu hỏa từ Athens, qua Salonika đến Trung Âu, ở ngay giai đoạn đầu của chuyến hành trình, thì xứ sở trải dài sẽ gợi cho người lữ khách Tây hoặc Trung Âu kia một khái niệm lờ mờ về quang cảnh mà anh ta đã quen thuộc. Sau khi con tàu chậm chạp mất hàng giờ để leo qua các sườn dốc phía đông của núi Parnes, xuyên qua vùng Aegean tiêu biểu với những cây thông cằn cỗi và những vách đá vôi lởm chởm hình răng cưa, lữ khách sẽ kinh ngạc khi thấy mình đang đi qua một vùng đất thấp toàn đất canh tác màu mỡ. Dĩ nhiên khu vực này chẳng qua chỉ là một “ngoại lệ”; anh ta sẽ không thấy cảnh tượng như vậy nữa cho tới khi bỏ lại Nish sau lưng và đi xuống Morava để đến vùng trung sông Danube. Mảnh đất ngoại lệ này được gọi là gì dưới thời nền văn minh Hy Lạp cổ? Nó được gọi là Boeotia; và đối với người Hy Lạp cổ, từ “dân Boeotia” mang một ý nghĩa rất đặc biệt. Nó tượng trưng cho một đặc tính quê mùa, lù đù, thiếu tính sáng tạo, cục súc - một đặc tính xa lạ với sự rực rỡ của nền văn minh Hy Lạp cổ. Sự tương phản càng nổi bật hơn khi, chỉ ngay sau rặng Cithaeron và ở góc bên kia núi Parnes, nơi mà ngày nay có đường ray xe lửa chạy qua - là Attica - “Hy Lạp của Hy Lạp” - vùng đất mang những phẩm chất tinh hoa của Hy Lạp nằm kề bên mảnh đất gây “khó chịu” của người Hy Lạp cổ. Sự tương phản này được tóm tắt trong hai cụm từ đối nghịch: “lợn Boeotia” và “muối Attic”.

Điểm đáng quan tâm đối với cuộc nghiên cứu hiện tại của chúng ta là, sự tương phản về mức độ văn minh vốn hằn sâu trong ý thức của người Hy Lạp cổ có một sự trùng hợp về mặt địa lý và tương phản về môi trường tự nhiên. Đối với Attica, nó là “Hy Lạp của Hy Lạp” không chỉ trong linh hồn mà còn ở tầm vóc. Nếu tiếp cận Hy Lạp từ phía tây và tiến vào theo con đường vịnh Corinth, bạn có thể ngất ngây với phong cảnh của Hy Lạp - đẹp đẽ nhưng đầy bí ẩn - trước khi quang cảnh bị che khuất bởi những bờ đê cao như vách núi của kênh đào Corinth. Nhưng khi chiếc tàu hỏa hơi nước chở bạn vượt lên từ vịnh Saron, một lần nữa bạn sẽ choáng váng bởi sự hoang tàn của quang cảnh khác xa với những gì phía bên kia eo đất. Sự hoang tàn này đạt tới đỉnh điểm khi bạn vòng qua góc Salamis và thấy đất Attica trải dài trước mắt. Ở Attica, với nguồn ánh sáng dị thường và đất đai đá sỏi, một quá trình gọi là bào mòn, đã rửa sạch phần da thịt khỏi bộ xương núi non của nó và chôn vùi xuống biển - điều mà Boeotia đã thoát được đến tận ngày nay - và hoàn tất vào thời Plato, như xác nhận trong diễn giải về nó ở tác phẩm Critias.

Người Athens đã làm gì với vùng đất nghèo nàn của họ? Chúng ta biết rằng họ đã biến Athens thành “tấm gương giáo dục cho toàn Hy Lạp”. Khi các đồng cỏ của đất Attica bị khô héo và đất trồng trọt trôi đi hết, các cư dân của nó phải chuyển từ chăn nuôi gia súc và trồng lúa - sinh kế chủ yếu của người Hy Lạp thời đó - sang những phương thức canh tác đặc biệt mà chỉ mình nó có: trồng ô-liu và tận dụng tầng đất cái. Loài cây tốt bụng của nữ thần Athena không chỉ sống mà còn phát triển mạnh mẽ trên đá sỏi. Tuy vậy, con người không thể sống chỉ bằng dầu ô-liu được. Để có thể tồn tại được từ vườn cây ô-liu của mình, người Athens phải đổi dầu Attica lấy thóc lúa của người Scyth. Để đưa dầu của mình đến khu chợ của người Scyth, anh ta phải đóng nó vào lu vại rồi chở nó vượt biển - các hoạt động này đòi hỏi sự xuất hiện của đồ gốm cùng với đội thương thuyền Attic. Và do đòi hỏi thương mại, tiền tệ ra đời, kéo theo nó là sự xuất hiện các mỏ bạc Attic.

Nhưng sự giàu có đó chỉ đơn thuần là nền móng kinh tế để phát triển chính trị, nghệ thuật và văn minh trí tuệ, khiến Athens trở thành “tấm gương giáo dục cho toàn Hy Lạp” và “muối Attic” tương phản với thú tính của người Boeotia. Trên địa hạt chính trị, kết quả của nó là đế chế Athens hùng mạnh. Về nghệ thuật, sự thịnh vượng của nghề gốm cho người họa sĩ sáng tác một hình thức thể hiện mới của cái đẹp mà 2000 năm sau đã làm mê mẩn Keats - thi sĩ người Anh; trong khi việc các khu rừng ở đất Attica biến mất buộc các kiến trúc sư phải chuyển vật liệu xây dựng công trình từ gỗ sang đá, và từ đây dẫn tới sự sáng tạo ra đền Parthenon bất hủ.

Thành phố Byzantium và Calchedon

Thế giới Hy Lạp cổ bành trướng lãnh thổ, cùng với nguyên nhân đã được trình bày trong phần đầu tiên, đã cung cấp một ví dụ minh họa nữa cho đề tài của chúng ta: đó là sự tương phản giữa hai vùng thuộc địa của Hy Lạp - Calchedon và Byzantium - một ở châu Á, một thuộc châu Âu, tọa lạc ngay kế bên lối vào Bosphorus từ Biển Marmara.

Herodotus cho chúng ta biết rằng, khoảng một thế kỷ sau khi thiết lập nền móng của hai thành phố, vị thống soái người Ba Tư là Megabazus đã “có một câu phát biểu dí dỏm khiến tên tuổi ông trở thành bất hủ trong thế giới Hy Lạp cổ. Ở Byzantium, ông nghe nói rằng người Calchedon đã đặt nền móng cho thành phố của họ sớm hơn 17 năm so với người Byzantine; nó khiến ông ghi nhận: ‘Vậy thì tất cả người Calchedon thời đó hẳn đều bị mù’. Ý ông muốn nói, họ hẳn bị mù nên mới chọn địa điểm tồi tệ đó và vứt bỏ vị trí tốt hơn”.[1]

Nhưng con người ta bao giờ cũng dễ tỏ ra khôn ngoan hơn khi mọi sự đã rồi, và vào thời của Megabazus (thời điểm diễn ra những cuộc xâm lược Ba Tư của người Hy Lạp) số phận của hai thành phố đã hiển nhiên tự bộc lộ. Calchedon vẫn là thứ mà nó luôn luôn mong muốn, dẫu chỉ là một xứ thuộc địa nông nghiệp tầm thường, và theo quan điểm nông nghiệp thì vị trí của nó vô cùng ưu việt so với Byzantium. Người Byzantine đến sau và phải nhận những gì bị bỏ lại. Họ đã thất bại với tư cách một cộng đồng nông nghiệp, có lẽ chủ yếu là do những cuộc tấn công liên tiếp của người man di Thrace. Thế nhưng, họ đã phát hiện ra mình sở hữu một mỏ vàng, ấy là cảng Sừng Vàng, vì dòng chảy xuống Bosphorus cực kỳ thuận lợi cho bất kỳ tàu thuyền nào muốn cập cảng này từ cả hai hướng, tha hồ cho họ thu lợi. Vào thế kỷ thứ hai trước CN, Polybius đã viết về 500 năm sau khi thiết lập nền móng của vùng thuộc địa của Hy Lạp, và gần 500 năm trước khi nó được nâng cấp thành Constantinople, một thủ phủ của toàn thế giới, như sau:

“Người Byzantine đã chiếm hữu một vị trí - đáng giá nhất trong tất cả các vùng thuộc thế giới Hy Lạp cổ về phía biển và kém giá trị nhất về phía đất liền - xét về cả hai mặt an ninh lẫn kinh tế. về phía biển, Byzantium nắm quyền kiểm soát cửa Hắc Hải, nên tuyệt đối không thể có bất kỳ một thương nhân nào vào hoặc ra trái ý Byzantine được”.[2]

Mặc dù có thể Megabazus với câu nói đùa của mình trở nên nổi tiếng về sự khôn ngoan mà ông không xứng đáng được hưởng, nhưng không có gì để nghi ngờ rằng, nếu những người thực dân đã chiếm đóng Byzantium tới sớm hơn 20 năm, họ cũng sẽ chọn vị trí bỏ hoang của Calchedon; và cũng có thể, nếu những nỗ lực phát triển nông nghiệp của họ ít bị tàn phá bởi những cuộc cướp phá của người Thrace hơn, thì họ cũng sẽ ít mặn mà hơn với việc khai thác tiềm năng thương mại của vị trí lãnh thổ mà họ đang chiếm giữ. 

Người Do Thái, người Phoenicia và người Philistine

Nếu chuyển từ lịch sử Hy Lạp cổ sang Syria cổ, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều thành phần dân cư đã nhập cư vào Syria hoặc bám trụ ở đó, vào thời kỳ Völkerwanderung hậu Minoan, và từ đó trở đi phân biệt với nhau qua sự khắc nghiệt của môi trường tự nhiên ở những khu vực khác nhau mà họ đã chọn để cư trú. Không phải người Aramean ở “Abana và Pharpar, các sông của Damascus” dẫn đầu trong công cuộc phát triển nền văn minh Syria cổ; cũng không phải những người Aramean khác cư ngụ ở Orontes - nơi mà rất lâu sau, triều đại Seleucid của Hy Lạp sẽ dựng nên một thành phố thủ đô là Antioch; cũng không phải là những bộ lạc Do Thái đã dừng chân ở bờ đông sông Jordan để vỗ béo đàn “bò Bashan” của họ trên những đồng cỏ xanh tốt của xứ Gilead. Đáng chú ý hơn cả, địa vị vượt trội trong thế giới Syria cổ không còn thuộc về những người tị nạn từ Aegea đến Syria - vốn đến không phải với tư cách là người man di mà là những người thừa kế nền văn minh Minoan và đã chiếm hữu các cảng và những vùng đất thấp ở phía nam Carmel - nó thuộc về người Philistine. Cái tên được đặt cho nhóm người này bao hàm ẩn nghĩa khinh khi giống như danh hiệu dành cho người Boeotia trong cộng đồng người Hy Lạp. Thậm chí, ngay cả nếu chúng ta có thừa nhận rằng người Boeotia và Philistine đều không tối tăm như người ta tô vẽ cho họ, và rằng kiến thức của họ cũng chẳng thua kém gì so với các đối thủ, thì vẫn không thể phủ định rằng các đối thủ đã bỏ xa họ để giành chiến thắng trong việc thu hút sự ngưỡng vọng của hậu thế.

Nền văn minh Syria cổ có ba kỳ tích vĩ đại. Nó đã phát minh ra bảng chữ cái Alphabet, khám phá Đại Tây Dương, và đạt tới một khái niệm cụ thể về Thượng đế - vốn là điều bình thường đối với Do Thái giáo, Bái Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo - nhưng rất xa lạ đối với mạch tư tưởng tôn giáo của người Ai Cập cổ, người Sumer, người Ấn Độ cổ và người Hy Lạp cổ. Những cộng đồng nào trong nền văn minh Syria cổ đã đóng góp vào những thành tựu này?

Với bảng chữ cái Alphabet, chúng ta thực sự chưa biết điều đó. Mặc dù phát minh ra nó thường được quy cho người Phoenicia, song nó có thể đã được truyền bá dưới một hình thức căn bản bởi người Philistine từ thế giới Minoan; vì vậy, với kiến thức hiện nay của chúng ta, công lao phát minh ra bảng mẫu tự vẫn phải được để trống. Chúng ta chuyển sang hai kỳ tích còn lại.

Ai là những thủy thủ Syria đã cả gan bơi suốt chiều dài của biển Địa Trung Hải đến và vượt ra ngoài “các cột chống trời của Hercules”? Không phải người Philistine, bởi bất chấp dòng máu Minoan của mình, họ đã quay lưng lại với biển cả và lao vào một cuộc chiến tranh không có “cửa” thắng để tranh giành những cánh đồng phì nhiêu ở Esdraelon và Shephelah với những chiến binh thiện chiến hơn họ, cũng không phải là người Do Thái sống trên vùng đồi núi Ephraim và Judah. Những người có công khám phá Đại Tây Dương là người Phoenicia sống ở Tyre và Sidon.

Những người Phoenicia này là một nhánh còn sót lại của Canaanite, người nắm quyền kiểm soát trước cuộc đổ bộ của người Philistine và người Do Thái. Đó là một thực tế đã được biểu lộ khi, trong phần trước bàn về kinh Cội nguồn, chúng ta đã đọc được rằng Canaan (con trai của Ham, tức cháu trai của Noah) “đã sinh ra Sidon, đứa con đầu lòng của chàng”. Họ còn sống sót, vì vùng lãnh thổ của họ trải dài suốt khu vực trung tâm của bờ biển Syria, không đủ hấp dẫn để thu hút những kẻ xâm lược. Vùng Phoenicia, nơi mà người Philistine không đụng đến, thể hiện một sự tương phản đáng lưu ý so với vùng Shephelah mà người Philistine đã chọn làm nơi cư ngụ. Trên bờ biển của khu vực này không có cánh đồng màu mỡ nào; dãy núi Lebanon mọc thẳng đứng lên từ biển cả - thẳng đứng đến nỗi khó có thể xây dựng đường sá hoặc đường ray xe lửa. Các thành phố của người Phoenicia không thể giao thương dễ dàng, ngay cả giữa chúng với nhau, ngoại trừ bằng đường biển, và Tyre, thành phố nổi tiếng nhất trong số chúng, được xây dựng giống như một cái tổ chim mòng biển, trên một hòn đảo sỏi đá. Do đó, trong khi người Philistine quanh quẩn ở nhà như “gà què ăn quẩn cối xay”, thì người Phoenicia, vốn khả năng hàng hải cho tới nay vẫn bị giới hạn trong phạm vi di chuyển ngắn ngủi dọc theo bờ biển giữa Byblus và Ai Cập, giờ đây đã hạ thủy những chiếc tàu theo kiểu Minoan vào đại dương bao la, và thành lập một quê hương thứ hai cho phiên bản nền văn minh Syria của riêng họ dọc theo các bờ biển Phi châu và Tây Ban Nha của biển Tây Địa Trung Hải. Carthage, thủ phủ của thế giới Phoenicia ở hải ngoại này, đã phát triển vượt xa người Philistine ngay cả trên địa hạt đã được họ lựa chọn là chiến tranh. Nhà quân sự lẫy lừng nhất của người Philistine là Goliath xứ Gath; ông này trông thật tội nghiệp nếu so sánh với Hannibal của người Phoenicia.

Nhưng khám phá tự nhiên của Đại Tây Dương - một kỳ tích về khả năng của con người - đã bị qua mặt bởi khám phá về mặt tâm linh của thuyết đơn thần; và đó là kỳ tích của cộng đồng Syria cổ đã bị mắc kẹt vào thời kỳ Völkerwanderung trong một môi trường tự nhiên còn kém hấp dẫn hơn cả vùng bờ biển của người Phoenicia: đó là vùng lãnh thổ toàn đồi núi ở Ephraim và Judah. Có vẻ như vùng lãnh thổ đồi núi được che phủ bởi rừng mọc trên lớp đất mỏng này vẫn bị bỏ hoang cho tới khi những người du mục Do Thái tiên phong, vốn đã trôi giạt vào những khu rừng Syria từ thảo nguyên Bắc Ả Rập, trong và sau thế kỷ 14 trước CN, trong suốt thời kỳ quá độ theo sau sự suy tàn của “đế chế mới” ở Ai Cập. Tại đây, họ đã tự biến đổi từ những người chăn nuôi du cư thành những người trồng trọt định cư trên một vùng đất đai sỏi đá, và tại đây, họ sống trong bóng tối lịch sử cho tới khi nền văn minh Syria đi qua thời hoàng kim của nó. Mãi đến thế kỷ thứ năm trước CN, vào thời mà tất cả các nhà tiên tri vĩ đại đều đã phát biểu luận thuyết của họ, cái tên dân tộc Israel vẫn còn chưa được Herodotus biết tới và lãnh thổ Israel vẫn bị coi là lãnh thổ của người Philistine trong bức tranh toàn cảnh mà Herodotus vẽ về thế giới Syria cổ. Ông viết là “Lãnh thổ của người Philistine”[3] - và cái tên Filastine hay Palestine vẫn còn cho tới ngày nay.

Câu chuyện truyền thuyết của người Syria cổ kể lại rằng, Đức Chúa Trời của người Do Thái có lần đã thử thách một vị vua Israel bằng thử thách tinh tế nhất mà thượng đế có thể áp đặt cho con người.

“Đức Chúa đến gặp vua Solomon trong giấc mộng; và Ngài nói: ‘Hãy cầu xin một điều mà ta có thể ban cho nhà ngươi’. Vua Solomon đáp: ‘Xin ban cho kẻ tôi tớ của Người một trái tim hiểu biết’… Câu nói này đã làm Đức Chúa hài lòng. Ngài hài lòng vì Solomon đã cầu xin thứ đó. Và Đức Chúa nói với ông: “Ngươi đã cầu xin thứ đó, chứ không cầu xin sự trường sinh cho bản thân ngươi; cũng không cầu xin sự giàu có cho bản thân ngươi, cũng không cầu xin tính mạng kẻ thù của ngươi; mà đã cầu xin trí tuệ để đưa ra phán xét; vậy hãy trông đây, ta sẽ làm theo lời cầu xin của ngươi: Ta đã cho ngươi một trái tim khôn ngoan và hiểu biết để không một kẻ nào trước ngươi, cũng như không một ai sau ngươi có thể sánh ngang được với ngươi. Và ta còn ban cho ngươi điều mà ngươi đã không cầu xin ta, đó là cả sự giàu sang lẫn tiếng tăm, để không một vị nào trong số những vị vua đương thời có thể sánh ngang được với ngươi”.[4]

Truyền thuyết về sự lựa chọn của vua Solomon là một phiên bản của câu chuyện ngụ ngôn lịch sử về “những người được chọn”. Với sức mạnh của trí tuệ tâm linh, người Do Thái đã vượt qua kỹ năng quân sự của người Philistine và kỹ năng hàng hải của người Phoenicia. Họ đã không theo đuổi những thứ mà “người ngoại đạo” theo đuổi, mà họ theo đuổi đầu tiên là vương quốc của Thượng đế; và tin rằng tất cả những thứ khác sẽ tự động được trao ban cho họ. Về sinh mạng của kẻ thù, người Philistine sau này đã rơi vào tay người Do Thái. Về sự giàu sang, dân tộc Do Thái đã tiến vào tiếp quản Tyre và Carthage, để chỉ đạo những công cuộc thương mại ở những lục địa với một tầm cỡ vượt khỏi mơ ước và kiến thức của người Phoenicia. Về sự trường tồn, dân tộc Do Thái vẫn tồn tại - và giữ nguyên những đặc điểm của họ - cho đến tận ngày nay, rất lâu sau khi người Phoenicia và Philistine đánh mất bản sắc của mình. Những láng giềng của họ thời Syria cổ đã bị tan chảy rồi lại được tái tạo, với những hình ảnh và tên tuổi mới, trong khi người Do Thái đã chứng tỏ mình không bị ảnh hưởng trước phản ứng hóa học - gây ra bởi lịch sử với chất xúc tác là các chính quyền và giáo hội trung ương cùng với sự chệch hướng của các dân tộc - trong đó tất cả những “kẻ ngoại đạo” chúng ta đều sẽ bị diệt vong.

Brandenburg và lưu vực sông Rhine

Từ Attica và Israel đến Brandenburg có vẻ như tuột dốc rất dài, mặc dù ở mức độ của mình, nó cũng cung cấp ví dụ minh họa của cùng quy luật. Khi đi xuyên qua vùng đất bỏ hoang đã từng hình thành nên lãnh thổ nguyên thủy của Frederick đại đế - Brandenburg, Pomerania và Đông Phổ - với những vườn thông đói khát và những cánh đồng cát, bạn có thể lầm tưởng rằng mình đang băng qua một vùng hẻo lánh của thảo nguyên Á-Âu. Bất kể bạn đi theo hướng nào để ra khỏi đó, dù là về phía các đồng cỏ và rừng sồi của Đan Mạch, vùng đất đen của Lithuania hoặc các vườn nho của lưu vực sông Rhine, thì bạn cũng sẽ bước vào một vùng ít khắc nghiệt hơn. Vậy mà hậu duệ của những người thực dân thời trung cổ chiếm hữu vùng “đất xấu” này đã đóng một vai trò cực kỳ đặc biệt trong lịch sử xã hội Tây phương của chúng ta. Không chỉ vào thế kỷ 19 họ đã làm chủ nước Đức, mà trong thế kỷ 20, họ đã đưa nước Đức lao vào nỗ lực thâu tóm thế giới dưới chính quyền trung ương của nó. Người Phổ còn dạy cho các láng giềng của họ cách bắt cát sản sinh ra ngũ cốc theo cách chăm bón cho nó bằng phân bón nhân tạo; cách đưa cả một dân tộc đạt tới tiêu chuẩn về hiệu năng xã hội chưa từng có bằng hệ thống giáo dục cưỡng bách và an sinh xã hội chưa có tiền lệ với hệ thống bảo hiểm у tế và thất nghiệp cưỡng bức. Có thể không ưa nó, nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng mình đã học từ nó những bài học quan trọng và giá trị nhất.

Scotland và nước Anh

Không cần phải tranh cãi chuyện Scotland là một vùng đất “khắc nghiệt hơn” so với nước Anh, cũng không cần phải nêu chi tiết sự khác biệt rõ ràng về tính khí giữa người Scot cổ - uy nghi, dè xẻn, tỉ mỉ, kiên định, thận trọng, chu đáo và gia giáo - với người Anh cổ - bông lơn, hoang phí, thiếu quyết đoán, thất thường, cẩu thả, phóng túng, dễ dãi và lắm bệnh tật. Người Anh có thể coi sự so sánh truyền thống này chỉ là một trò đùa; họ coi hầu hết mọi chuyện đều là trò đùa; nhưng người Scot thì không. Johnson đã từng chế giễu Boswell với câu nói đùa lặp đi lặp lại rằng: Viễn cảnh tốt đẹp nhất mà một người Scot từng được thấy là đường đến nước Anh; và trước khi Johnson ra đời, có một câu hóm hỉnh của thời nữ hoàng Anne nói rằng: Nếu Cain mà là người Scot, thì sự trừng phạt đối với hắn sẽ bị đảo ngược, và thay vì bị xử làm một người lang thang trên trái đất, hắn sẽ bị tuyên án phải ở nhà. Người ta thường cho rằng người Scot đã đóng một vai trò không tương xứng với số lượng ít ỏi của họ trong việc xây dựng Đế chế Anh cũng như chiếm hữu những vị trí cao trong giáo hội và chính quyền. Những cuộc xung đột trong nghị viện cổ của nước Anh thời Victoria đã diễn ra giữa những người Scot thuần chủng với những người Do Thái thuần chủng. Và trong số những người kế vị Gladstone ở vị trí Thủ tướng của vương quốc Anh tính đến nay, có tới gần phân nửa là người Scotland.[5]

Cuộc đấu tranh ở Bắc Mỹ

Chủ đề bàn luận kinh điển hiện nay trong lịch sử Tây phương của chúng ta là kết quả của cuộc chạy đua giữa nửa tá nhóm thuộc địa khác nhau để tranh giành quyền lực ở Bắc Mỹ. Chiến thắng trong cuộc tranh đấu này đã thuộc về người New England, và trong phần trước chúng ta đã lưu ý đến sự khắc nghiệt bất thường của môi trường tự nhiên địa phương, vốn đã hạ gục nhiều người mà cuối cùng sẽ làm chủ lục địa này. Giờ đây, chúng ta hãy so sánh môi trường New England mới này, trong đó Town Hill là một hình mẫu hoàn hảo, với môi trường cổ xưa nhất ở Bắc Mỹ đã tiếp đón những bại tướng trong cuộc chạy đua với người New England: đó là người Hà Lan, người Pháp, người Tây Ban Nha và những người thực dân Anh khác đã dừng chân dọc theo vùng bờ biển phía nam Đại Tây Dương, trong và xung quanh Virginia.

Giữa thế kỷ 17, khi tất cả những nhóm người này đều tìm được chỗ để đặt bước chân đầu tiên của họ lên các rìa của lục địa châu Mỹ, chúng ta dễ dàng dự báo được cuộc xung đột sắp xảy ra giữa họ để giành quyền sở hữu vùng nội địa, nhưng ngay cả nhà quan sát nhìn xa trông rộng nhất cũng khó lòng đáp đúng nếu ông ta được yêu cầu chọn người thắng cuộc vào năm 1650. Ông ta có thể nhạy bén gạt bỏ người Tây Ban Nha, bất chấp hai lợi thế rõ ràng của họ như quyền sở hữu Mexico - lãnh thổ Bắc Mỹ duy nhất đã từng có một nền văn minh trước đây xâm nhập, và danh tiếng tuy vẫn còn nhưng đã sút giảm - trong cuộc đua với các thế lực khác ở châu Âu. Ông ta có thể sẽ giảm bớt giá trị của Mexico khi xem xét vị trí hẻo lánh của nó, và giảm bớt uy thế của người Tây Ban Nha khi xét đến thất bại của họ trong cuộc chiến tranh châu Âu (cuộc chiến 30 năm) vừa chấm dứt. “Nước Pháp”, ông ta có thể nói, “sẽ giành ưu thế về quân sự ở châu Âu trước Tây Ban Nha, ưu thế về hải quân và thương mại đường biển trước Hà Lan và Anh. Cuộc chạy đua tranh giành Bắc Mỹ chỉ còn diễn ra giữa Hà Lan, Pháp và Anh. Trong tương lai gần, cơ hội của Hà Lan có vẻ hứa hẹn nhất. Nó vượt trội trước cả Anh lẫn Pháp trên biển, và ở Mỹ châu nó nắm giữ một cửa sông rất tốt là thung lũng Hudson, nhưng về lâu về dài, nước Pháp có nhiều khả năng trở thành người chiến thắng. Nước này nắm giữ một cửa sông còn tốt hơn, St. Lawrence, và có đủ khả năng làm kiệt quệ và buộc người Hà Lan phải rút lui bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự vượt trội của mình để tấn công quê hương họ. Nhưng cả hai nhóm người Anh”, ông ta có thể nói thêm, “thì tôi đều có thể tự tin loại ra khỏi cuộc chơi. Có thể là nhóm thực dân Anh ở phía nam, với đất đai và khí hậu tương đối màu mỡ và ôn hòa, sẽ tồn tại như một ốc đảo, bị cắt rời khỏi vùng nội địa do người Pháp hoặc Hà Lan - nếu bất kỳ ai trong số họ giành được quyền kiểm soát thung lũng sông Mississippi. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn: Nhóm nhỏ những người định cư ở New England hoang vu và cằn cỗi sẽ biến mất, vì họ bị chia cắt khỏi người anh em của mình bởi người Hà Lan ở Hudson, trong khi người Pháp lấn át họ từ St. Lawrence”.

Hãy giả sử rằng, nhà quan sát tưởng tượng của chúng ta có thể sống qua thế kỷ kế tiếp. Vào năm 1701, ông ta sẽ tự chúc mừng mình đã đánh giá cơ hội của người Pháp cao hơn người Hà Lan; vì người Hà Lan đã ngoan ngoãn dâng Hudson cho các đối thủ người Anh vào năm 1664. Trong khi đó, người Pháp từ St. Lawrence tiến lên tới vùng Ngũ Hồ và vượt qua thung lũng Mississippi. La Salle xuôi theo dòng Mississippi đến tận cửa sông; một khu vực định cư mới của người Pháp - Louisiana - đã được thành lập ở đó; và cảng của nó, New Orleans, rõ ràng có một tương lai xán lạn trước mắt. Giữa Pháp và Anh, nhà quan sát của chúng ta chẳng thấy lý do gì để thay đổi dự đoán của mình. Những người New England đã thoát khỏi sự diệt vong nhờ giành được New York, nhưng bao nhiêu đó cũng chỉ đủ để có được một triển vọng khiêm tốn như người họ hàng ở phía nam của họ. Tương lai của Tân lục địa có vẻ như đã được định đoạt một cách rõ ràng; những người chiến thắng sẽ là người Pháp.

Liệu chúng ta có nên ban cho nhà quan sát của mình tuổi thọ siêu phàm để ông ta có thể một lần nữa nhận định lại tình huống vào năm 1803? Nếu sống được tới lúc đó, ông ta sẽ buộc phải thú nhận rằng, tầm hiểu biết của ông ta không sánh được với tuổi thọ (do chúng ta ban cho). Cuối năm 1803, lá cờ Pháp đã biến mất khỏi bản đồ chính trị của Bắc Mỹ. Trong vòng 40 năm qua, Canada đã thuộc quyền sở hữu của Hoàng gia Anh, trong khi Louisiana, sau khi bị Pháp nhượng lại cho Tây Ban Nha và lại được trả về, đã bị Napoleon bán cho Hoa Kỳ - thế lực vĩ đại mới hình thành từ 13 xứ thuộc địa của nước Anh.

Trong năm 1803 này, người Hoa Kỳ đã thâu tóm Tân lục địa trong tay và phạm vi dự đoán bị thu hẹp lại. Bây giờ chỉ còn việc dự đoán xem bộ phận nào của Hoa Kỳ sẽ bỏ túi phần chia lớn hơn của miếng bánh khổng lồ này. Và lần này chắc chắn là không thể sai lầm được nữa. Các bang miền nam hiển nhiên sẽ làm chủ liên bang. Hãy xem họ dẫn trước thế nào trong vòng cuối cuộc chạy đua tới chiến thắng miền viễn Tây. Chính những người sống trong rừng sâu của Virginia đã thành lập Kentucky - tiểu bang đầu tiên ở phía tây những dãy núi - đã từng hợp lực với người Pháp để giữ chân không cho người Anh định cư xâm nhập vào nội địa Kentucky trải dài đến Ohio và Ohio dẫn tới Mississippi. Trong khi đó những nhà máy dệt ở Lancashire cung cấp cho những người miền Nam một thị trường lớn chưa từng có để người miền Nam tiêu thụ những vụ mùa sợi bông mà đất đai và khí hậu của họ cho phép canh tác.

“Những người anh em Yankee của chúng ta”, nhà quan sát người miền Nam phát biểu vào năm 1807, “đã sáng chế ra chiếc tàu hơi nước có thể đi ngược dòng Mississippi, và một cỗ máy để chải và rửa bông vải của chúng ta. Những ‘sáng chế của người Yankee’ này có ích cho chúng ta hơn là cho những nhà sáng chế tài tình đã chế tạo ra chúng”.

Nếu nhà tiên tri già nua và bất hạnh của chúng ta so sánh viễn cảnh của người miền Nam với những gì đã xảy đến cho họ, ông ta chắc chắn sẽ phải công nhận sự lẩm cẩm của mình. Vì trong vòng thi đấu cuối cùng này ông ta dự đoán người miền Nam sẽ mau chóng đánh bại đối thủ của họ như đã từng đánh bại người Hà Lan và người Pháp.

Vào năm 1865, tình thế đã thay đổi một cách không thể tưởng tượng so với năm 1807. Vào ngày chiến thắng miền viễn Tây, người miền Nam đã bị đánh bại và chôn vùi bởi kình địch miền Bắc. Sau khi gần như đã khai phá được con đường tới Ngũ Đại Hồ băng qua Indiana và có được cơ hội tốt nhất trên sông Missouri (1821), họ đã thất bại trong cuộc đối đầu quyết định ở Kansas (1854-60) và không bao giờ tới được Thái Bình Dương. Những người New England giờ đây đã làm chủ hoàn toàn bờ biển Thái Bình Dương từ Seattle cho tới Los Angeles. Người miền Nam đặt niềm tin vào hạm đội tàu hơi nước trên sông Mississippi hòng kéo toàn bộ miền Tây vào hệ thống của họ bằng những mối quan hệ chính trị và kinh tế. Nhưng các “sáng chế của người Yankee” đã không dừng lại. Đầu máy xe lửa đã kế vị tàu hơi nước, và đã lấy của người miền Nam nhiều hơn so với những gì tàu hơi nước đem lại cho họ; và giá trị tiềm tàng của thung lũng Hudson và New York, với tư cách là cửa biển chính để từ Đại Tây Dương đi đến miền Tây, cuối cùng đã thành hiện thực vào thời đại Hỏa xa. Vận chuyển bằng xe lửa từ Chicago đến New York đã qua mặt vận tải đường sông từ St. Louis đến New Orleans. Những đường dây giao thương ở Tân lục địa đã được xoay từ trục dọc sang trục ngang. Miền Tây Bắc đã tách rời khỏi miền Nam và gắn bó với miền Đông Bắc vì cả lợi ích lẫn tình cảm.

Còn miền Đông, những người đã từng trao cho miền Nam tàu hơi nước và máy chải sợi, giờ đây lại chinh phục trái tim của miền Tây Bắc bằng hai món quà: đầu máy xe lửa và máy gặt đập liên hợp, từ đó cũng trao luôn miền Tây Bắc giải pháp cho cả hai vấn đề: vận chuyển và lao động. Bằng hai “sáng chế của người Yankee” này, khối liên minh Tây Bắc đã được quyết định và rõ ràng là miền Nam đã thua trận từ khi cuộc nội chiến còn chưa nổ ra. Khi quyết định tổng động viên với hy vọng khôi phục lại ưu thế kinh tế bằng một nỗ lực quân sự, miền Nam đơn thuần chỉ tự thúc đẩy nhanh hơn sự sụp đổ đã quá rõ ràng.

Ta có thể nói rằng, tất cả các nhóm thực dân ở Bắc Mỹ đều phải đương đầu với những thách thức đến từ môi trường sống của họ. Ở Canada, người Pháp gặp phải mùa đông lạnh giá gần như Bắc cực, còn ở Louisiana, tính khí thất thường của sông ngòi chẳng khác gì Hoàng Hà ở Trung Quốc. Dù vậy, nếu gộp chung tất cả lại với nhau - đất đai, khí hậu, phương tiện vận chuyển và tất cả những yếu tố khác - thì không thể phủ nhận rằng mái nhà nguyên thủy của những người thực dân New England là vùng đất khắc nghiệt nhất. Và như vậy, lịch sử Bắc Mỹ lại một lần nữa xác nhận đề xuất của chúng ta: thách thức càng khắc nghiệt, thì nhân tố kích thích càng lớn.

(2) SỰ KÍCH THÍCH CỦA VÙNG ĐẤT MỚI

So sánh tác động kích thích của các môi trường thiên nhiên có mức độ khắc nghiệt khác nhau như thế là đủ. Bây giờ, chúng ta hãy tiếp cận cùng vấn đề đó nhưng từ một góc độ khác, đó là việc so sánh tác động kích thích của các vùng đất cũ và mới mà bỏ qua bản chất tự nhiên của địa vật.

Liệu tác động của việc khai phá vùng đất mới tự thân nó có phải là một nhân tố kích thích hay không? Câu hỏi này được trả lời khẳng định qua truyền thuyết “Trục xuất khỏi vườn Địa đàng” và truyền thuyết “Cuộc đại di cư khỏi Ai Cập”. Khi bị đuổi khỏi khu vườn màu nhiệm xuống thế giới “làm việc quần quật mỗi ngày”, Adam và Eve đã vượt qua hình thái kinh tế hái lượm của người nguyên thủy và sinh ra những người con sẽ sáng lập các nền văn minh trồng trọt và chăn nuôi gia súc. Trong cuộc đại di cư khỏi Ai Cập, “những đứa con của dân tộc Do Thái” đã sản sinh ra một thế hệ có công thiết lập nền móng cho nền văn minh Syria cổ. Khi rời khỏi những câu chuyện truyền thuyết để chuyển sang lịch sử tôn giáo, chúng ta thấy rằng những nhận định trực giác nói trên được xác nhận. Chẳng hạn một câu hỏi đầy ngạc nhiên như sau: “Nazareth có thể sản sinh ra điều tốt lành nào không?” “Và Chúa cứu thế của dân tộc Do Thái đã xuất hiện từ ngôi làng vô danh đó, trong ‘lễ đường của những kẻ ngoại đạo’” - vùng đất hẻo lánh mới được Maccabees chinh phục cho dân tộc Do Thái chưa đầy một thế kỷ trước ngày Jesus ra đời. Hạt giống bất khuất này dần phát triển trong hậu duệ của dân tộc Do Thái, trở thành những hành vi thù địch, và điều này diễn ra không chỉ ở Judaea mà trên khắp cộng đồng Do Thái, những người truyền giáo của tín ngưỡng mới đã chủ tâm “ngoại đạo hóa” và tiến hành cuộc chinh phục các thế giới để cho Cơ Đốc giáo vượt qua giới hạn xa nhất của vương quốc Массаbaean. Lịch sử Phật giáo cũng cho thấy một câu chuyện tương tự, vì những thắng lợi quyết định của tín ngưỡng này không diễn ra trên vùng đất cũ của thế giới Ấn Độ cổ. Phật giáo Tiểu thừa trước tiên tìm thấy con đường rộng mở ở Ceylon, vốn là lãnh thổ thuộc địa của nền văn minh Ấn Độ cổ. Và Phật giáo Đại thừa bắt đầu chuyến hành trình dài và ngoằn ngoèo hướng về vùng lãnh thổ sau này sẽ là phương Đông bằng cách chiếm lấy vùng lãnh thổ Ấn Độ thuộc Syria và Hy Lạp cổ ở Panjab. Chính trên vùng đất mới của các thế giới xa lạ này, những tinh hoa của thiên tài tôn giáo từ cả hai xã hội Syria và Ấn Độ cổ cuối cùng đã sinh trái ngọt - đó là bằng chứng thực tế cho thấy “một giáo đồ chẳng tu thành chánh quả ngay chính trong ngôi nhà của mình”.

Một thử nghiệm quen thuộc và tiến hành khá thuận tiện, đó là các nền văn minh của những giai cấp “họ hàng” đã mọc lên một phần trên mảnh đất đã bị chiếm hữu bởi nền văn minh tiền đề và một phần trên mảnh đất mà nền văn minh họ hàng đã chinh phục cho riêng mình. Chúng ta có thể kiểm tra những tác động kích thích của vùng đất cũ và vùng đất mới bằng cách nghiên cứu quá trình phát triển của một nền văn minh “họ hàng” bất kỳ, đánh dấu những địa điểm trong phạm vi lãnh thổ của nó, nơi những thành tựu về các mặt bất kỳ tỏ ra nổi bật nhất rồi sau đó khảo sát xem mảnh đất chứa đựng những địa điểm đó là cũ hay mới.

Đầu tiên, chúng ta hãy khảo sát nền văn minh Ấn giáo, và đánh dấu những nguồn tài nguyên địa phương của thành tố mới sáng tạo trong đời sống Ấn giáo, đặc biệt là trong tôn giáo - thứ vốn vẫn luôn luôn là hoạt động trung tâm và tối cao của xã hội Ấn giáo. Chúng ta tìm thấy các tài nguyên này ở miền Nam. Chính tại đây, tất cả những đặc trưng tiêu biểu của Ấn giáo đã hình thành: nghi thức thờ cúng thần linh được biểu hiện qua các linh vật hoặc hình ảnh và được đặt trong đền thờ; mối quan hệ cá nhân xúc động giữa tín đồ và vị thần được thờ cúng; sự thăng hoa siêu hình của việc thờ cúng hình ảnh và sự đa cảm trong một thuyết thần học phức tạp về trí tuệ (Sankara, người sáng lập thần học Ấn giáo, ra đời vào khoảng năm 788 trước CN ở Malabar). Vậy miền Nam Ấn Độ là vùng đất cũ hay mới? Đó là vùng đất mới, vẫn chưa từng được sáp nhập vào xã hội Ấn Độ cổ tiền đề cho tới giai đoạn tồn tại cuối cùng của xã hội đó, vào thời Đế chế Maurya “chính quyền trung ương” của nó (khoảng 323-185 trước CN).

Xã hội Syria cổ sinh ra hai xã hội thừa kế, Ả Rập và Iran, mà sau này, như chúng ta đã biết, xã hội thành công hơn đã nuốt chửng người anh em của nó. Nền văn minh Iran đã đạt được sự hưng thịnh nhất ở những khu vực nào? Hầu như tất cả những thành tựu vĩ đại của nó trong chiến tranh, chính trị, kiến trúc và văn chương đều nảy sinh ở một trong hai đầu của thế giới Iran - Hindustan hoặc Anatolia - và lên tới đỉnh điểm trong thời kỳ Đế chế Mughal và Ottoman. Vị trí của các thành tựu này đều nằm trên vùng đất mới, bên ngoài phạm vi nền văn minh Syria cổ tiền đề; các vùng lãnh thổ này có xuất xứ từ xã hội Ấn giáo và xã hội Cơ Đốc Chính thống. Bằng cách so sánh những thành tựu này với lịch sử của nền văn minh Iran ở những vùng lãnh thổ trung tâm của nó, chẳng hạn như ngay tại Iran, ta sẽ thấy vùng đất cũ thừa kế từ nền văn minh Syria cổ này hoàn toàn không có gì nổi bật.

Còn nền văn minh Cơ Đốc Chính thống đã thể hiện sinh lực sung mãn nhất ở những vùng lãnh thổ nào? Một cái nhìn lướt qua lịch sử sẽ cho ta biết, trung tâm sức mạnh của nó nằm ở nhiều khu vực khác nhau qua những thời kỳ khác nhau. Vào giai đoạn đầu sau khi mọc lên từ thời kỳ quá độ hậu Hy Lạp cổ, đời sống của xã hội Cơ Đốc Chính thống diễn ra náo nhiệt nhất ở các khu vực trung tâm và phía đông bắc của cao nguyên Anatolia. Kể từ đó, khoảng giữa thế kỷ thứ 9 trở đi, trung tâm sức mạnh chuyển từ phía châu Á sang phía châu Âu của eo biển và, được coi là khởi thủy của xã hội Cơ Đốc Chính thống, nó dừng lại ở bán đảo Balkan. Tuy nhiên, đến thời cận đại, tầm quan trọng lịch sử của xã hội Cơ Đốc Chính thống khởi thủy tụt lại rất xa so với phân nhánh hùng mạnh của nó ở Nga.

Vậy ba khu vực nói trên nên được coi là thuộc vùng đất cũ hay mới? Trong trường hợp nước Nga, câu hỏi này hầu như không cần phải trả lời. Trong trường hợp vùng trung tâm và Đông Bắc Anatolia, chắc chắn đó là vùng đất mới đối với xã hội Cơ Đốc Chính thống, mặc dù 2000 năm trước nó đã từng là mái nhà của nền văn minh Hittite. Ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp cổ lên khu vực này bị trì trệ và luôn luôn không hoàn toàn. Đóng góp đầu tiên, cũng có lẽ là duy nhất của nó cho văn minh Hy Lạp cổ diễn ra vào giai đoạn cuối trong vòng đời của xã hội Hy Lạp, được thực hiện bởi tổ tiên của những người Cappadocia đã thành lập Giáo hội trong thế kỷ thứ tư sau CN.

Trung tâm còn lại của xã hội Cơ Đốc Chính thống - vùng nội địa của bán đảo Balkan - cũng là một vùng đất mới, do lớp vỏ bọc của nền văn minh Hy Lạp cổ phủ lên lãnh địa này trong thời gian Đế chế La Mã đã bị tiêu diệt mà không để lại một dấu vết nào trong thời kỳ quá độ theo sau đó. Sự tàn phá ở đây triệt để hơn bất kỳ vùng lãnh địa phương Tây nào của Đế chế La Mã, ngoại trừ nước Anh. Những lãnh thổ La Mã Cơ Đốc không đơn giản bị chinh phục, mà là bị hủy diệt thực sự bởi những kẻ xâm lược man rợ ngoại đạo. Những người man di này đã tận diệt mọi yếu tố của nền văn minh địa phương hiệu quả đến nỗi, khi các hậu duệ của họ hối hận trước những hành động tàn ác của cha ông mình, họ đã phải thu lượm các hạt giống mới từ bên ngoài để bắt đầu ươm mầm trở lại vào khoảng ba thế kỷ sau. Và như vậy, đất đai ở đây đã bị bỏ hoang trong một thời gian dài, gấp đôi thời gian đất đai của nước Anh bị bỏ hoang vào thời kỳ sứ mệnh của thánh Augustine. Vì thế lãnh địa mà nền văn minh Cơ Đốc Chính thống thành lập trung tâm quyền lực thứ hai của nó chính là vùng đất mà mới cách đó không lâu vừa được cải tạo lại từ thiên nhiên hoang dã.

Như vậy, ba vùng lãnh thổ mà xã hội Cơ Đốc Chính thống đạt được những thành tựu nổi bật nhất đều là đất mới, và còn đáng chú ý hơn nữa khi ta thấy rằng chính Hy Lạp, tiêu điểm chói sáng của nền văn minh tiền đề, chỉ đóng một vai trò hết sức mờ nhạt trong lịch sử của xã hội Cơ Đốc Chính thống cho tới khi, vào thế kỷ 18 sau CN, nó trở thành cánh cổng mà qua đó, ảnh hưởng của xã hội Tây phương đã mở được một lối xâm nhập vào thế giới Cơ Đốc Chính thống.

Chuyển sang lịch sử Hy Lạp cổ, chúng ta hãy đặt câu hỏi tương tự đối với hai vùng lãnh thổ đã giữ vị trí số một trong lịch sử thời kỳ đầu của xã hội Hy Lạp cổ: bờ biển Á châu Aegean và bán đảo Hy Lạp thuộc Âu châu. Những đóa hoa này đã nở trên vùng đất mới hay cũ, xét theo quan điểm của nền văn minh Minoan trước đó? Một lần nữa, đây lại là những vùng đất mới. Trên bán đảo Hy Lạp thuộc châu Âu, nền văn minh Minoan, ngay cả trong thời kỳ bành trướng nhất của nó, cũng chỉ chiếm được một dãy tiền đồn trên bờ biển phía nam và phía đông. Và trên bờ biển Anatolia, sự thất bại của các nhà khảo cổ hiện đại trong việc tìm kiếm những vết tích của sự hiện hữu, hoặc thậm chí là ảnh hưởng của nền văn hóa Minoan là dấu hiệu cho thấy rằng, vì một lý do nào đó, bờ biển này đã không lọt vào phạm vi lãnh thổ của xã hội Minoan. Ngược lại, quần đảo Cyclades, vốn là một trong những trung tâm của nền văn minh Minoan, lại đóng một vai trò lệ thuộc trong lịch sử Hy Lạp cổ như những đày tớ hèn kém của các vị chúa tể đại dương. Vai trò của đảo Crete trong lịch sử Hy Lạp cổ, trung tâm đầu tiên và luôn luôn là trung tâm quan trọng nhất của nền văn minh Minoan, còn đáng ngạc nhiên hơn.

Đảo Crete được mong đợi duy trì tầm quan trọng của mình không chỉ vì lý do lịch sử, mà còn vì lý do địa lý, bởi đó là nơi mà văn minh Minoan đã đạt tới đỉnh cao của nó. Đến thời bấy giờ, Crete vẫn là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Aegean, nằm vắt ngang qua hai dòng biển quan trọng trong thế giới Hy Lạp cổ. Mọi con tàu từ Peiraeus tới đảo Sicily đều phải đi qua vùng biển giữa bờ tây của Crete và Laconia; và mọi con tàu đi từ Peiraeus tới Ai Cập đều phải qua vùng biển giữa bờ đông của Crete và đảo Rhodes. Ấy vậy mà, trong khi Laconia và Rhodes đều giữ vai trò tiên phong trong lịch sử Hy Lạp cổ, thì Crete bị bỏ lại phía sau, chìm trong lạc hậu và tăm tối từ đầu tới cuối. Trong khi toàn bộ xã hội Hy Lạp cổ sản sinh ra các chính khách, nghệ sĩ và triết gia, thì Crete chẳng sản sinh ra được thứ gì danh giá hơn là thầy thuốc, lính đánh thuê và cướp biển, và về sau “người Crete” đã trở thành một phương ngữ của xã hội Hy Lạp cổ, giống như “người Boeotia”. Thật vậy, nó đã tự phán xét trong một bài thơ cổ được trích dẫn trong Thánh kinh Cơ Đốc giáo: “Một người trong số họ, một nhà tiên tri của chính họ đã nói: ‘Người Crete luôn dối trá, bạc ác và ngu dốt’”.[6]

Cuối cùng, chúng ta hãy áp dụng cùng thử nghiệm trên với xã hội Viễn Đông, là hậu duệ của xã hội Trung Quốc cổ đại. Xã hội Viễn Đông này thể hiện sức sống mãnh liệt nhất tại những lãnh địa nào? Người Nhật Bản và người Quảng Đông nổi bật lên một cách không thể nhầm lẫn vì sức sống mãnh liệt nhất của họ tiêu biểu cho hiện tại, và cả hai cộng đồng này đều nổi lên từ những vùng đất mới theo quan điểm của lịch sử Viễn Đông. Bờ biển đông-nam Trung Quốc không được sáp nhập vào lãnh thổ của xã hội Trung Hoa cổ cho tới giai đoạn lịch sử cuối cùng, và ngay cả sau đó, nó cũng chỉ đóng góp trên phương diện chính trị với tư cách một lãnh địa tiền đồn của vương triều Hán. Cư dân của nó vẫn là người rợ. Trên quần đảo Nhật Bản, phân nhánh của nền văn minh phương Đông xuất phát từ Triều Tiên khoảng thế kỷ thứ sáu và thứ bảy sau CN trở đi, đã sinh sôi nảy nở trên vùng đất chưa từng thấy dấu vết nào của một nền văn minh trước đó. Sự phát triển mạnh mẽ của phân nhánh nền văn minh Viễn Đông này trên đất Nhật Bản có thể so sánh với sự phát triển của phân nhánh nền văn minh Cơ Đốc Chính thống đã được gieo mầm từ cao nguyên Anatolia trên đất Nga.

Nếu gợi ý từ những chứng cứ của chúng ta là đúng, nghĩa là vùng đất mới luôn luôn cung cấp một nhân tố kích thích vận động lớn hơn vùng đất cũ, thì người ta sẽ mong tìm thấy nhân tố kích thích tương tự trong trường hợp vùng đất mới bị phân cách với vùng đất cũ bởi một chuyến du hành đường biển. Nhân tố kích thích đặc biệt ở những thuộc địa hải ngoại này xuất hiện rất sớm trong lịch sử Địa Trung Hải, trong nửa đầu của thiên niên kỷ cuối (1000-500) trước CN, khi vùng lòng chảo phía tây của nó bị thuộc địa hóa bởi những người tiên phong vượt biển đến từ ba nền văn minh khác nhau ở vùng Cận Đông. Chẳng hạn như, hai xứ thuộc địa mạnh nhất trong số này, Carthage của Syria cổ và Syracuse của Hy Lạp cổ, vượt xa những thành phố đã khai sinh ra chúng là Tyre và Corinth. Các thuộc địa của Achaea ở Magna Graecia (phía nam Ý và Sicily) trở thành những trung tâm thương mại nhộn nhịp và trung tâm sáng tạo, trong khi những cộng đồng Achaea khai sinh ra chúng ở dọc bờ bắc Peloponnese vẫn chìm trong lạc hậu mãi tới sau khi nền văn minh Hy Lạp cổ đã đi qua thời đỉnh cao. Đặc biệt những người Locrian Epizephyrian ở Ý đã qua mặt rất xa những người Locrian ở lại Hy Lạp.

Ấn tượng nhất trong tất cả trường hợp là người Etruria, lực lượng thứ ba chạy đua với người Phoenicia và Hy Lạp trong cuộc thuộc địa hóa miền Tây Địa Trung Hải. Những người Etruria đi về phía tây, khác với người Hy Lạp và người Phoenicia, không hài lòng với việc ở lại gần bờ biển mà họ vừa đổ bộ. Họ tiến sâu vào vùng nội địa, từ bờ biển phía tây nước Ý băng qua sông Apennines và sông Po tới chân dãy Alps. Tuy nhiên, những người Etruria ở lại đã sa xuống tận đáy của tối tăm và vô danh, bởi họ không được lịch sử biết đến cũng như ghi chép lại vị trí chính xác của vùng đất nơi họ đã sinh sống, mặc dù người Ai Cập cổ có ghi nhận rằng người Etruria nguyên thủy có mặt tại đây trong thời kỳ Völkerwanderung hậu Minoan và đã sinh sống ở đâu đó trên bờ biển Á châu của vùng Cận Đông.

Tác động kích thích của cuộc vượt biển có lẽ diễn ra mạnh mẽ nhất trong cuộc di cư ra hải ngoại diễn ra trong thời kỳ Völkerwanderung. Những sự kiện như vậy có vẻ khá bất thường. Ví dụ duy nhất mà tác giả của nghiên cứu này có thể đưa ra là cuộc di cư, diễn ra trong suốt thời kỳ Völkerwanderung hậu Minoan, của người Teucria, Aeolia, Ionia và Doria băng qua Aegean đến bờ tây Anatolia, và của người Teucria và Philistine đến bờ biển Syria; cuộc di cư của người Ăng-lê và Jute của nước Anh trong thời kỳ Völkerwanderung hậu Hy Lạp cổ; cuộc di cư tất yếu của người Briton băng qua eo biển để đến nơi sau này sẽ được gọi là Brittany; cuộc di cư cùng thời của người Scot gốc Ái Nhĩ Lan sang Argyll; và cuộc di cư của người Viking ở Scandinavia trong thời kỳ Völkerwanderung theo sau hồn ma của đế chế La Mã được người Carolingian dựng nên: tất cả là sáu ví dụ minh họa. Trong số này, cuộc di cư của người Philistine đã được chứng minh là tương đối vô bổ, do những hoàn cảnh đã được trình bày (xem trang 92-4), và lịch sử của người Breton không có gì nổi bật, nhưng bốn cuộc di cư vượt biển còn lại bộc lộ một hiện tượng kỳ thú, vốn chưa từng được thấy trong những cuộc di cư trên đất liền vốn diễn ra thường xuyên hơn rất nhiều.

Những cuộc di cư vượt biển đó mang một đặc điểm chung đó là: trong chuyến du hành, bộ máy xã hội của những người di cư phải được đóng gói và đưa lên tàu trước khi nó rời bến và sẽ được mở ra trở lại khi chuyến đi kết thúc. Tất cả mọi hình thức của bộ máy xã hội - con người và của cải, công nghệ và ý tưởng - đều là đối tượng của quy luật này. Bất cứ thứ gì không thể trải qua cuộc du hành đều phải bị bỏ lại, và nhiều thứ - không phải chỉ là đối tượng vật chất - được những người di cư mang theo, đã bị phân rã ra thành từng mảnh, và không bao giờ có thể khôi phục lại trạng thái ban đầu nữa. Chưa kịp chuẩn bị, họ đã thấy mình phải chịu đựng “biển cả biến thành thứ gì đó giàu có và lạ lẫm”. Khi một cuộc di cư xảy ra trong diễn biến của thời kỳ Völkerwanderung, nó trở thành thách thức dữ dội hơn và nhân tố kích thích cũng mãnh liệt hơn vì xã hội tạo ra phản ứng không phải là một xã hội đã tiến bộ (như các thuộc địa Hy Lạp và Phoenicia đã trao đổi ở trên), mà là một xã hội vẫn còn ở trong trạng thái thụ động tức là trạng thái cuối cùng của người nguyên thủy. Sự chuyển biến, trong thời kỳ Völkerwanderung, từ trạng thái thụ động này sang sự bột phát bất ngờ sinh ra tác động tích cực trên đời sống của một cộng đồng, nhưng tác động này tỏ ra mạnh mẽ hơn nhiều khi những người di cư lên thuyền và bỏ lại đa phần bộ máy xã hội của mình.

“Sự thay đổi cảnh quan này (sau chuyến vượt biển) đã cho ra đời một quan niệm mới về thần linh và con người. Các thần thánh địa phương vốn có quyền năng rộng rãi trên địa hạt của các tín đồ đã được thay thế bằng những vị thần đơn lẻ thống trị cả thế giới. Nơi thờ cúng của nó đã mọc lên cao và biến thành tòa lâu đài của thần thánh. Các truyền thuyết lâu đời phản ánh hoạt động của các vị thần độc lập nhưng có sự tương tác với nhau, trong một câu chuyện thơ, hoặc chuyện dân gian (saga) thần thoại, với cùng kiểu cách mà một chủng tộc cổ của người Viking - người Hy Lạp Homer - đã bắt chước theo. Tôn giáo này cho ra đời một vị thần mới: thần Odin, vị thần dẫn dắt con người, thần chiến trận”.[7]

Tương tự như vậy, cuộc di cư vượt biển của người Scot từ Ireland đến vùng Bắc Anh đã chuẩn bị con đường xâm nhập cho một tôn giáo mới. Không phải ngẫu nhiên mà vùng Dalriada ở hải ngoại lại trở thành trung tâm điều phối hoạt động truyền giáo của dòng thánh Columba với trung tâm của nó nằm ở Ionia.

Một hiện tượng nổi bật của cuộc di cư vượt biển là sự pha trộn giữa các chủng tộc khác nhau, vì mảnh đầu tiên trong bộ máy xã hội cũ cần bị loại bỏ là nhóm thị tộc nguyên thủy. Vì con tàu nào cũng chỉ có sức chứa giới hạn nên một số tàu bơi cùng với nhau để được an toàn hơn và hành khách trên tàu sẽ nhập bọn với nhau trên vùng đất mới. Nó trái ngược với quá trình thông thường của một cuộc di cư trên đất liền, trong đó toàn bộ thị tộc đem theo tất cả đàn bà và trẻ con cùng với những đồ đạc trong nhà, chất lên xe bò và từ từ di chuyển chậm như ốc sên trên đất liền. Một hiện tượng nổi bật nữa của cuộc di cư vượt biển là sự hao mòn của một tổ chức nguyên thủy. Nó có thể là biểu hiện tối cao của đời sống xã hội không phân biệt trước khi bị khúc xạ bởi một ý thức xã hội tiến bộ trên các lĩnh vực cụ thể: kinh tế, chính trị nghệ thuật và tôn giáo… Nếu muốn thấy nghi lễ này trong thế giới Scandinavia, chúng ta phải nghiên cứu sự phát triển của nó ở những người Scandinavia đã ở lại quê hương. Trái ngược với “ở Iceland, các trò chơi dân gian, lễ cưới và nghi thức cầu hôn có vẻ khó mà tồn tại được lâu dài, một phần vì những người định cư chủ yếu thuộc tầng lớp người từng trải, già dặn, và một phần vì những lễ kỷ niệm theo kiểu thôn dã này gắn liền với nông nghiệp, rõ ràng không thể là một nhánh quan trọng trong hoạt động của Iceland”.[8]

Luận điểm của công trình mà chúng ta vừa trích dẫn là các bài thơ Scandinavia, được viết trong bản dịch tiếng Iceland của tập thơ nhan đề Edda cũ có nguồn gốc từ những lời thoại của vở kịch Scandinavia nguyên thủy - yếu tố lễ nghi duy nhất mà những người di cư có khả năng cắt rời gốc rễ của nó đã cắm sâu xuống mảnh đất địa phương và đem nó theo lên tàu. Theo thuyết này, các nghi lễ thời nguyên thủy phát triển thành kịch nghệ là do những người Scandinavia di cư vượt biển; và thuyết này được hỗ trợ bởi một câu chuyện tương tự từ lịch sử Hy Lạp cổ. Vậy thì, một thực tế đã rõ ràng, mặc dù nền văn minh Hy Lạp cổ lần đầu tiên đạt tới đỉnh cao hưng thịnh ở Ionia ngoài hải ngoại, song kịch nghệ Hy Lạp cổ, dựa trên những nghi lễ nguyên thủy, đã nảy lộc đâm chồi trên mảnh đất lục địa ở bán đảo Hy Lạp. Tại Hy Lạp, bản sao đền thờ ở Upsala là nhà hát Dionysus ở Athens. Mặt khác, chính ở Ionia, Iceland và ở Anh, những người di dân hải ngoại - người Hy Lạp cổ, người Scandinavia và người Anglo-Saxon - đã sáng tạo ra anh hùng ca của “Homer”, Edda và Beowulf.

Truyện chiến công và anh hùng ca xuất hiện để đáp ứng một tinh thần mới, một nhận thức mới về những cá nhân mạnh mẽ và những sự kiện quan trọng của cộng đồng. “Bài thơ là lời ca ngợi con người theo những âm điệu mới mẻ nhất chưa từng vang lên bên tai họ”, Homer diễn tả. Tuy vậy, trong bài thơ anh hùng ca có một thứ còn được đánh giá cao hơn tính mới lạ của nó, đó là nhân vật đầy hấp dẫn của câu chuyện. Tính hấp dẫn đang chiếm ưu thế tại thời điểm này chẳng qua là nối tiếp sự bùng nổ thời Anh hùng; nhưng bột phát xã hội rất ngắn ngủi. Và như cơn bão dịu đi dần, những người yêu thích anh hùng ca và truyện chiến công cảm thấy rằng, cuộc sống trong thời đại của họ đã phát triển tương đối ổn định. Do đó, họ thôi không đưa ra các câu chuyện mới nữa mà quay trở về với những bài thơ và vè cổ - thứ vốn đáp ứng được thay đổi tâm trạng của thính giả, lặp lại và tô điểm thêm những chuyện kể của thế hệ đi trước. Chính trong giai đoạn này, nghệ thuật anh hùng ca và truyện chiến công đã đạt tới đỉnh cao đúng nghĩa của nó; và như vậy, những công trình bất hủ này sẽ chẳng bao giờ xuất hiện nếu không có nhân tố kích thích bắt nguồn từ thử thách của cuộc di cư vượt đại dương. Chúng ta đi tới một công thức: “Kịch nghệ… phát triển ở quê nhà, anh hùng ca ra đời từ những người di cư”.[9]

Sáng tạo tích cực còn lại xuất hiện từ thử thách của cuộc di cư vượt đại dương trong thời kỳ Völkerwanderung không thuộc lĩnh vực văn học mà thuộc về địa hạt chính trị. Đó là một hình thái tổ chức xã hội mới không dựa trên quan hệ thị tộc mà dựa trên giao kèo.

Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất là chính quyền thành phố được thành lập bởi những người di dân Hy Lạp trên bờ biển Anatolia, ở những khu vực sau này gọi là Aeolis, Ionia và Doris, theo ghi chép ít ỏi về lịch sử lập hiến của Hy Lạp. Dường như nền tảng của tổ chức xã hội này là luật pháp và chính quyền địa phương thay vì phong tục tập quán và thị tộc, lần đầu tiên xuất hiện trong những khu định cư của người Hy Lạp ở hải ngoại và sau đó đã được bắt chước ở cộng đồng Hy Lạp châu Âu. Trong những chính thể thành phố được phát hiện ở hải ngoại ấy, “tế bào” của tổ chức chính trị này không phải là thị tộc, mà là các nhóm di dân đi cùng tàu. Đã từng hợp tác chặt chẽ với nhau khi còn đang “cùng hội cùng thuyền” giữa hiểm họa của biển sâu, họ tiếp tục cảm nhận và hành động theo cung cách đó ở trên bờ khi phải đương đầu với mối đe dọa đến từ một vùng đất không thân thiện. Trên bờ, cũng như khi còn ở dưới biển, tình bạn được tin cậy hơn so với bà con họ hàng, và một khi người lãnh đạo đã được lựa chọn và tin cậy thì mệnh lệnh của họ có thể xóa bỏ các tập quán. Thực tế là, một nhóm cá thể “cùng hội cùng thuyền” hợp lực lại với nhau để chinh phục một mái nhà mới cho chính họ ở hải ngoại, nhóm này sẽ tự động trở thành một chính thể thành phố nhập cùng các “bộ lạc” địa phương và được một phán quan do họ bầu lên cai trị.

Khi chuyển sang thời kỳ Völkerwanderung Scandinavia, chúng ta có thể thấy những phôi thai của sự phát triển chính trị tương tự. Nếu nền văn minh yểu mệnh Scandinavia ra đời thay vì bị xã hội Tây Âu nuốt chửng, thì vai trò đã từng được các chính quyền địa phương ở Aeolis và Ionia nắm giữ có thể đã được thay thế bởi năm chính quyền thành phố của người Ostmen trên bờ biển Ireland, hoặc năm thị xã (Lincoln, Stamford, Leicester, Derby và Nottingham) được người Đan Mạch lập ra để phòng thủ đường biên giới phía đất liền trong các cuộc chinh phạt của họ ở Mercia. Nhưng đóa hoa tươi thắm nhất của một thể chế chính trị Scandinavia ở hải ngoại là nền cộng hòa ở Iceland, được thành lập trên vùng đất đai có vẻ bề ngoài không hứa hẹn của một đảo quốc Bắc cực, cách xa 500 dặm so với điểm tựa gần nhất ở Scandinavia trên quần đảo Faroe.

Trong hệ quả chính trị của những cuộc di cư vượt biển của người Ăng-lê và Jute tới nước Anh, có lẽ không đơn thuần là sự trùng hợp khi một hòn đảo bị chiếm đóng ngay từ buổi bình minh của lịch sử Tây phương bởi những người di cư đã bẻ tung xiềng xích của nhóm thị tộc nguyên thủy trong cuộc vượt biển, sau này lại trở thành một quốc gia mà ở đó xã hội Tây phương của chúng ta đã đạt được một trong những bước tiến quan trọng nhất về chính trị. Những kẻ xâm lược người Đan Mạch và Norman, những người đã theo chân người Ăng-lê, và cũng là những người chia sẻ công lao trong những thành tựu chính trị của người Anh về sau, đã tận hưởng sự giải phóng tương tự. Việc kết hợp những người khác thị tộc như vậy cung cấp một mảnh đất màu mỡ khác thường để gieo cấy hạt giống chính trị. Không có gì đáng ngạc nhiên khi xã hội Tây phương đã thành công, ngay tại nước Anh, trong việc sáng tạo ra “bộ luật dân sự của đức vua” đầu tiên rồi sau đó là hệ thống nghị viện, trong khi đó trên lục địa, nền chính trị Tây phương đã bị chững lại do sự tồn tại của chế độ thị tộc của người Frank và người Lombard, những người luôn không yên tâm trước cơn ác mộng xã hội bắt nguồn từ cuộc vượt biển đi tìm tự do.

(3) TÁC ĐỘNG CỦA TAI ƯƠNG

Sau khi phân tích nhân tố kích thích của môi trường tự nhiên, chúng ta có thể khép lại phần này của cuộc nghiên cứu bằng cách khảo sát lĩnh vực môi trường con người theo phương pháp tương tự. Đầu tiên chúng ta phải phân biệt giữa những môi trường con người khác biệt về địa lý đối với các xã hội mà chúng tác động lên với những môi trường đồng nhất với chúng về mặt địa lý. Phạm trù thứ nhất sẽ đề cập tác động của xã hội hoặc chính thể xã hội lên các láng giềng khi chúng đồng thời tiến hành việc độc chiếm các khu vực lãnh thổ. Đứng trên quan điểm của các tổ chức đóng vai trò thụ động trong cuộc giao thiệp xã hội như vậy, môi trường con người mà chúng gặp phải là “từ bên ngoài” hoặc “xa lạ”. Phạm trù thứ hai mà chúng ta sẽ đề cập đến là tác động của một “tầng lớp” xã hội trên một tầng lớp khác, khi hai tầng lớp này cùng chiếm đóng một khu vực chung - ở đây sử dụng từ “tầng lớp” với nghĩa rộng nhất của nó. Mối quan hệ trong trường hợp này là “nội tại” hoặc “nội bộ”. Chừa lại môi trường con người nội tại này để phân tích sau, chúng ta có thể bắt đầu với việc phân chia tiếp yếu tố “bên ngoài” thành ảnh hưởng thể hiện dưới hình thức một tai ương bất ngờ và một áp lực kéo dài. Do đó ở đây chúng ta có ba chủ đề để nghiên cứu: tai ương bên ngoài, áp lực bên ngoài và sự trừng phạt nội bộ.

Ảnh hưởng của tai ương đến từ bên ngoài là gì? Liệu đề xuất luận điểm “thách thức càng lớn, kích thích càng lớn” của chúng ta còn đứng vững ở đây hay không? Những thử nghiệm đầu tiên cần nghĩ tới là trường hợp một thế lực quân sự, ban đầu được kích thích bằng những cuộc tranh đấu liên tục với các láng giềng của nó, để rồi đột ngột bị khuất phục bởi một địch thủ mà nó chưa bao giờ lường được thực lực. Điều gì sẽ xảy ra khi những đế chế mới phôi thai bị dập tắt từ trong trứng nước một cách đầy bi thảm như vậy? Liệu chúng ngã xuống, như Sisera, nơi chúng đã thất bại, hay sẽ lại mọc lên từ đất mẹ của chúng, như gã khổng lồ Antaeus trong thần thoại Hy Lạp cổ, với sức mạnh được nhân lên gấp nhiều lần? Những minh họa lịch sử cho thấy trường hợp thứ hai là tiêu biểu.

Chẳng hạn như, đâu là tác động của Clades Alliensis (tai ương bên ngoài) lên vận mệnh của La Mã? Tai ương bắt đầu ập xuống chỉ năm năm sau thắng lợi của nó trong cuộc tranh chấp tay đôi dai dẳng với Đế chế Veii của người Etruscau, cuối cùng lại cho nó cơ hội khẳng định bá quyền của mình khắp đất Latinh. Thất bại của quân đội La Mã ở Allia và cuộc chiếm đóng La Mã của những người rợ đến từ ngoài biên giới tưởng chừng như sẽ quét sạch sức mạnh và thanh thế mà La Mã vừa giành được. Thế nhưng, La Mã đã hồi phục cực kỳ nhanh chóng sau thảm họa Gallic, chỉ chưa đầy nửa thế kỷ sau, nó đã có thể giành được tột đỉnh vinh quang trong những cuộc chạm trán kéo dài và khó khăn gian khổ hơn với các láng giềng của nó ở Ý, giúp nó bành trướng quyền thống trị ra khắp nước Ý.

Còn đâu là yếu tố ảnh hưởng lên vận mệnh của người Osmanli khi Timur Lenk (Tamerlane) bắt được Bāyezīd Yilderim (Vua Bajazet) trên chiến trường Angora? Tai ương này ập xuống với người Osmanli ngay khi họ vừa hoàn tất cuộc chinh phạt nhánh chính của xã hội Cơ Đốc Chính thống ở bán đảo Balkan. Đúng vào thời điểm trọng đại đó thì họ bị hạ gục, trên bờ châu Á của eo biển, bởi một đòn sấm sét từ Transoxania. Dinh thự đế chế chưa hoàn tất của họ sụp đổ có vẻ như không thể tránh khỏi. Nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy; vì chỉ nửa thế kỷ sau, Mehmed - Kẻ chinh phục đã có thể đặt chiếc mái vòm lên nóc tòa dinh thự mà Bāyezīd đã xây qua việc chiếm hữu thành phố Constantinople.

Lịch sử của các địch thủ chiến bại của La Mã cho thấy, một thất bại đau đớn luôn truyền sức mạnh cho cộng đồng để hành động quả quyết hơn dù cho sau đó họ lại thất bại, sau một cuộc chống cự ngoan cường hơn trước. Thất bại của Carthage trong cuộc chiến Punic lần thứ nhất đã kích thích Hamilcar Barca chinh phục đế quốc Tây Ban Nha cho đất nước ông, vượt xa đế quốc vừa đánh mất ở Sicily. Ngay cả sau thất bại của Hannibal trong cuộc chiến Punic lần thứ hai, người Carthage vẫn hai lần gây kinh ngạc cho cả thế giới trong vòng nửa thế kỷ trước sự suy tàn cuối cùng của họ, lần đầu bởi việc mau chóng thanh toán khoản bồi thường chiến phí và khôi phục sự hưng thịnh nền kinh tế của họ, và lần thứ hai bởi tinh thần dũng cảm thể hiện khi toàn bộ dân chúng của họ, đàn ông, đàn bà và trẻ con, đều chiến đấu và hy sinh trong cuộc đấu tranh cuối cùng. Thêm một ví dụ nữa, chỉ sau thất bại tan tác ở Cynoscephalae thì vua Philip V của xứ Macedon, cho tới lúc bấy giờ chỉ là một ông vua phù phiếm, mới tự đặt cho mình nhiệm vụ biến đất nước mình thành một thế lực hùng mạnh để rồi sau này, người con trai Perseus của ông có thể thách thức tay đôi với La Mã và suýt nữa đã đánh bại được nó, trước khi sự kháng cự dai dẳng của ông ta cuối cùng đã bị bẻ gãy ở Pydna.

Một ví dụ nữa cùng loại, mặc dù có kết cục khác, được thấy qua năm lần can thiệp của người Áo vào Cách mạng Pháp và các cuộc chiến của Napoleon. Ba lần can thiệp đầu tiên của nước Áo khiến nó không chỉ bị đánh bại mà còn bị sụt giảm uy tín trầm trọng. Tuy nhiên, sau trận Austerlitz, nước Áo lại bắt đầu cười ngạo nghễ. Nếu Austerlitz là Cynoscephalae, thì Wagram là Pydna của nó; nhưng may mắn hơn Macedon, nước Áo lại có thể can thiệp một lần nữa và giành thắng lợi vào năm 1813.

Kỳ tích mà nước Phổ thực hiện trong vòng chinh chiến tương tự còn ấn tượng hơn nữa. Trong suốt 14 năm với cực điểm là thảm họa Jena và những cuộc đầu hàng liên tiếp sau đó, nó đã theo đuổi một chính sách hết sức phù phiếm và nhục nhã. Tuy nhiên, tiếp theo đó, chiến dịch mùa đông quả cảm của Eylau, và sự khắc nghiệt của những yêu sách Tilsit chỉ làm tăng thêm nhân tố kích thích mà cú sốc Jena đã gây ra. Nó đã tái sinh không chỉ quân đội Phổ mà cả hệ thống chính quyền và giáo dục của nước Phổ. Thực ra, nó đã biến chính quyền Phổ thành cái bình cũ được chọn để đựng chất rượu mới của chủ nghĩa dân tộc Đức. Nó gây ảnh hưởng từ Stein qua Hardenberg và từ Humboldt tới Bismarck.

Vòng xoáy này đã tiếp diễn trong thời đại chúng ta dưới một sự việc quá đau đớn khi nhắc lại. Nước Đức bị đánh bại trong cuộc chiến 1914-18 và đỉnh điểm của sự căm tức về thất bại đó là việc chiếm đóng vùng thung lũng Ruhr của người Pháp từ năm 1923-4, khiến nó trở nên điên cuồng với chế độ phát-xít, mặc dù chế độ khủng khiếp này sớm yểu mệnh.[10]

Nhưng ví dụ kinh điển về tác động kích thích của một tai ương là phản ứng của người Hy Lạp cổ nói chung, và người Athens nói riêng, đối với cuộc công kích dữ dội của Đế chế Ba Tư - chính quyền trung ương của xã hội Syria cổ - trong giai đoạn 480-479 trước CN. Tốc độ phục hồi của người Athens tỉ lệ thuận với sự khắc nghiệt mà họ đã phải chịu đựng. Trong khi những cánh đồng màu mỡ của Boeotia được an toàn nhờ sự phản bội của các chủ nhân của nó đối với xã hội Hy Lạp, và những cánh đồng màu mỡ ở Lacedaemon nhờ sự dũng cảm của hạm đội Athens, thì vùng đất nghèo nàn Attica bị tàn phá hai lần liên tiếp, bản thân Athens bị chiếm đóng và các đền thờ của nó bị hủy diệt. Toàn bộ cư dân vùng Attica phải tản cư và vượt biển để đến Peloponese với tư cách là những người tị nạn; và chính trong hoàn cảnh này hạm đội Athens đã chiến đấu và chiến thắng trong trận Salamis. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính tai ương đã đánh thức tinh thần bất khuất của người Athens và mở ra những thành tựu của nền văn minh độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại. Những đền đài đối với người Athens là biểu tượng sâu sắc nhất thể hiện sự phục hưng của xứ sở họ. Khi xây dựng lại chúng, xã hội Athens đã cho thấy một sức sống mãnh liệt hơn rất nhiều so với nước Pháp sau 1918. Lúc người Pháp phục hồi những bức tường đổ nát của Đại thánh đường Reims, họ đã cung kính khôi phục từng mảnh đá hay từng bức tượng vỡ. Khi người Athens phát hiện đền Hekatompedon bị cháy đến tận móng, họ đã để nguyên nền móng cũ nằm đó và tiếp tục tiến lên, tìm một vị trí mới, để xây nên đền Parthenon.[11]

Sự kích thích của tai ương được minh họa rõ nét nhất trong phản ứng từ những thảm họa quân sự, nhưng các ví dụ còn có thể được tìm thấy ở nhiều lĩnh vực khác. Chúng ta hãy xem xét một trường hợp tiêu biểu, xuất hiện trong lĩnh vực tôn giáo với hoạt động của các thánh Tông đồ. Những hoạt động tích cực này, cuối cùng đã chinh phục được toàn bộ thế giới Hy Lạp cổ cho Cơ Đốc giáo, xuất hiện vào thời điểm, các thánh Tông đồ bị suy sụp về mặt tinh thần bởi việc biến mất một cách đột ngột thi thể vị Thầy của họ, ngay sau khi nó được phục hồi một cách kỳ diệu. Sự mất mát lần thứ hai này có lẽ còn nặng nề hơn cả khổ hình. Tuy vậy, tai ương quá đau đớn này đã đánh thức trong tâm hồn họ một phản ứng tâm lý với sức mạnh tương ứng, được diễn đạt qua truyền thuyết về sự xuất hiện của hai người trong bộ áo trắng và sự hạ nhiệt của những lưỡi lửa Pentecostal. Với sức mạnh hồn thánh, họ thuyết giảng về tính linh thiêng của việc chịu khổ hình và sự biến mất của Jesus không chỉ với dân Do Thái mà với cả Sanhedrin. Và trong vòng ba thế kỷ, chính quyền La Mã đã phải đầu hàng trước một tôn giáo do các thánh Tông đồ thành lập vào thời điểm tinh thần họ suy sụp nhất.

(4) NHÂN TỐ KÍCH THÍCH CỦA ÁP LỰC

Giờ đây chúng ta sẽ phân tích những trường hợp, trong đó sự tác động được thể hiện dưới một hình thức khác: một áp lực liên tục từ bên ngoài. Theo ngành địa lý - chính trị thì những người, chính quyền hoặc thành phố nào bị ảnh hưởng trước áp lực như vậy trong hầu hết trường hợp đều ở vùng “biên thùy” hoặc “lãnh thổ biên giới”. Phương pháp tốt nhất theo kinh nghiệm để nghiên cứu dạng áp lực này là nghiên cứu vai trò của vùng biên thùy bị ảnh hưởng, trong lịch sử những cộng đồng của chúng và so sánh với vai trò của những vùng lãnh thổ được che chắn kỹ hơn nằm sâu bên trong nội địa.

Thế giới Ai Cập cổ

Không dưới ba lần trong các dịp quan trọng của lịch sử văn minh Ai Cập cổ, các thế lực của miền nam vùng thượng Ai Cập điều khiển diễn tiến các sự kiện. Còn nhớ nền móng của vương quốc Anh[12] khoảng 3200 trước CN - nền móng của chính quyền trung ương khoảng 2070 trước CN và sự phục hồi của nó vào khoảng 1580 trước CN - tất cả đều xảy ra từ một vùng lãnh thổ nhỏ hẹp và bị hạn chế. Tương tự như vậy, luống đất từ đó đã mọc lên các đế chế Ai Cập cổ trong thực tế là vùng biên thùy phía nam của thế giới Ai Cập vốn chịu ảnh hưởng của áp lực từ các bộ lạc vùng Nubia. Tuy nhiên, nếu theo dõi đường dây lịch sử sau này của Ai Cập cổ ta sẽ thấy, trong vòng 16 thế kỷ thoái trào kể từ sự suy tàn của đế chế mới cho tới sự diệt vong hoàn toàn của xã hội Ai Cập cổ vào khoảng thế kỷ thứ năm sau CN, quyền lực chính trị đã quay trở lại vùng tam giác sông Nile, chính là khu vực biên thùy tiếp giáp với cả Bắc Phi lẫn Tây Nam Á, giống hệt như thời điểm 2000 năm trước đó. Như vậy, lịch sử chính trị của thế giới Ai Cập cổ, từ đầu tới cuối, có thể xem như một sự giằng co giữa hai cực của quyền lực chính trị mà tại mỗi thời kỳ tương ứng được đặt ở vùng biên giới phía bắc và phía nam. Chẳng có ví dụ nào cho thấy các sự kiện lịch sử vĩ đại trong thời kỳ này bắt đầu từ trong nội địa.

Chúng ta có thể tìm ra lý do vì sao ảnh hưởng của vùng biên thùy phía nam trở nên vượt trội trong nửa đầu tồn tại của lịch sử Ai Cập cổ, trong khi nửa sau lại thuộc về khu vực ảnh hưởng của vùng biên thùy phía bắc hay không? Đó là bởi sau cuộc chinh phạt quân sự của người Nubia và sự đồng hóa nền văn minh của họ dưới triều đại Thothmes I (vào khoảng 1557-1505 trước CN), áp lực lên vùng biên thùy phía nam đã suy yếu hoặc biến mất, trong khi cùng thời điểm đó hoặc không lâu sau, áp lực lên vùng tam giác sông Nile từ những người rợ ở Lybia và các vương quốc vùng Tây Nam Á đã gia tăng đáng kể. Như vậy, ảnh hưởng của các lãnh địa ở biên thùy chiếm ưu thế hơn so với ảnh hưởng của các vùng trung tâm, không phải chỉ trong lịch sử chính trị Ai Cập cổ, mà trong mọi trường hợp ở mọi thời đại.

Thế giới Iran cổ

Kết quả tương tự trong các điều kiện hoàn toàn khác được biểu lộ qua lịch sử tương phản của hai cộng đồng người Thổ Nhĩ Kỳ, người Osmanli và người Qaramanli, mỗi cộng đồng chiếm hữu một phần cao nguyên Anatolia, pháo đài phía tây của thế giới Iran, vào thế kỷ 14 sau CN.

Cả hai cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ này đều là “chính quyền thừa kế” của vương quốc Saljuq Anatoli, một lực lượng người Thổ Hồi Giáo thành lập ở Anatolia vào thế kỷ 11, ngay trước cuộc Thập tự chinh, bởi những nhà thám hiểm người Thổ Saljuq, người đã mở rộng lãnh thổ cũng như tôn giáo của mình bằng cách bành trướng các đường biên giới của Dar-al-Islam đến ranh giới của xã hội Cơ Đốc Chính thống. Khi vương triều này tan rã vào thế kỷ 13, trong số những đứa con thừa tự của người Saljuq thì người Qaramanli dường như có triển vọng tốt nhất, còn người Osmanli có viễn cảnh tệ nhất. Người Qaramanli được thừa kế phần nhân ngon lành của lãnh địa Saljuq xưa với thủ đô của nó, Qōniyah (Konieh, Iconium), trong khi người Osmanli chỉ sở hữu một mảnh vỏ khô.

Thực ra, người Osmanli chỉ nhận được những thứ bỏ đi trong tài sản của Saljuq vì họ là những kẻ nhập cuộc trễ nhất và đóng một vai trò rất khiêm tốn trong bối cảnh chung. Thủ lĩnh của họ, Osma, vốn là con trai của Ertoghrul - người cầm đầu một nhóm người tị nạn vô danh, một mảnh vỡ tầm thường trôi dạt tới tận mũi lãnh thổ Dar-al-Islam dưới sự vùi dập của cơn sóng dữ Mông Cổ khi nó tràn qua vùng biên thùy phía đông-bắc của xã hội Iran cổ từ trái tim của thảo nguyên Á-Âu. Những người Saljuq Anatolia cuối cùng đã chia cho những người tị nạn tổ tiên của người Osmanli này một dải đất trên rìa tây-bắc của cao nguyên Anatolia, nơi có nhiệm vụ bảo bọc cho những vùng lãnh thổ Saljuq thuộc Đế chế Byzantine, nằm dọc theo bờ biển Á châu của biển Marmara. Đó là một vị trí trống trải trước áp lực bên ngoài về sau sẽ được gọi là Sultan Önü, tức là tiền đồn của vua. Những người Osmanli này có lẽ đã phải ghen tị với số phận may mắn của người Qaramanli, nhưng ăn mày đâu thể đòi xôi gấc. Osman chấp nhận phần chia của mình và bắt đầu chuẩn bị lực lượng để mở rộng các đường biên giới về phía các láng giềng Cơ Đốc Chính thống, ông chọn mục tiêu đầu tiên là thành phố Byzantine của Brusa và mất chín năm mới chiếm được nó (từ 1317-1326). Kể từ đó người Osmanli đã tự gọi mình bằng cái tên của ông, vì Osman chính là người đã thực sự sáng lập nên Đế chế Ottoman.

Trong vòng 30 năm sau khi Brusa sụp đổ, người Osmanli đã đặt được một chân lên vùng bờ biển Âu châu của người Dardanelle, đó chính là nơi họ đã làm nên vận mệnh của mình. Trước khi thế kỷ này (thế kỷ 14) kết thúc, họ đã kịp chinh phạt người Qaramanli và những cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ khác ở Anatolia bằng tay trái trong khi đánh bại người Serb, người Hy Lạp và người Bulgar bằng tay phải.

Đó là nhân tố kích thích của một vùng biên giới thuộc về chính trị, vì người ta tiên đoán rằng, không có đặc điểm “sản sinh anh hùng” nào tồn tại trong môi trường địa lý của vùng căn cứ nguyên thủy ở Anatolia của người Osmanli, trái ngược với vùng đất của những người Qaramanli không dám phiêu lưu và đã bị lãng quên một cách xứng đáng, để có thể đưa Sultan Önü vào mục đầu tiên (1) trong phần này (VII). Nếu trở ngược thời gian đến trước thời điểm bùng nổ của người Thổ Saljuq vào phần tư thứ ba của thế kỷ thứ 11 sau CN, khi Anatolia vẫn còn nằm bên trong các đường biên giới của Đế chế La Mã miền Đông, chúng ta thấy rằng vùng lãnh thổ sau này sẽ được người Qaramanli chiếm gần như trùng khớp với lãnh thổ xưa của quân đoàn Anatolia, vốn trong thời kỳ đầu của lịch sử Cơ Đốc Chính thống giữ vị trí số một trong số các quân đoàn của quân đội La Mã miền Đông. Nói cách khác, những tiền bối La Mã miền Đông của người Qaramanli trong vùng lãnh thổ Qôniyah đã chiếm giữ vùng tiền thân của Anatolia mà sau này người Osmanli sở hữu và gọi là Sultan Önü; và lý do rất đơn giản: Vào thời ấy, lãnh thổ Qôniyah là vùng biên giới của Đế chế La Mã miền Đông phân cách với vương triều Ả Rập, trong khi vùng đất sau này sẽ được người Osmanli chiếm vẫn đang trong thời kỳ tận hưởng sự vô danh dễ chịu của một vị trí nội địa.

Xã hội Cơ Đốc Chính thống Nga

Cũng như các trường hợp khác, ở đây chúng ta thấy rằng, sức sống của một xã hội thường tập trung vào từng khu vực biên giới, khi cán cân sức mạnh của những áp lực từ bên ngoài lên các khu vực biên giới đó thay đổi. Vùng lãnh thổ Nga mà nền văn minh Cơ Đốc Chính thống lần đầu tiên cắm rễ vào thời kỳ nó vượt biển Đen và băng qua thảo nguyên Á-Âu từ Constantinople là vùng thung lũng thượng lưu sông Dniepr. Từ đó, trong thế kỷ 12, nó được phát tán đến thung lũng thượng lưu sông Volga bởi những cư dân biên giới đã mở rộng đường biên giới của họ về phía những người nguyên thủy ngoại đạo Finn trong những khu rừng phía đông-bắc. Tuy nhiên, không lâu sau đó, trung tâm của nền văn minh này đã thoái lui về thung lũng hạ Dniepr và gặp phải một áp lực dữ dội của những người du mục đến từ thảo nguyên Á-Âu. Áp lực đột nhiên đè nặng lên vai người Nga bởi chiến dịch năm 1237 của vua Mông Cổ Bātū Khan vô cùng khắc nghiệt và kéo dài; và thật thú vị khi phát hiện rằng, trong ví dụ này cũng như những ví dụ khác, một thách thức nghiệt ngã bất thường sẽ đánh thức một phản ứng đáp lại độc đáo và sáng tạo một cách đáng ngạc nhiên.

Phản ứng đáp lại này chẳng khác gì sự tiến hóa của một đời sống mới và một tổ chức xã hội mới, cho phép xã hội định cư, lần đầu tiên trong lịch sử, không chỉ đơn thuần để chống đỡ những người du mục Á-Âu hay trừng trị họ bằng các cuộc viễn chinh ngắn ngủi, mà thực sự tiến hành một cuộc chinh phục lâu dài đất đai của người du mục, làm biến đổi bề mặt thổ nhưỡng bằng cách biến những đồng cỏ chăn nuôi của người du mục thành những cánh đồng trồng trọt và thay thế những lều trại dã chiến của họ bằng những làng mạc cố định. Người Cossack - những người đã thực hiện kỳ tích vô tiền khoáng hậu này - chính là những cư dân biên giới của xã hội Cơ Đốc Chính thống Nga, những người đã được tôi luyện qua thử thách và trở thành cái đe cứng tiên phong trong cuộc chiến chống người du mục ở thảo nguyên Á-Âu (“Bộ lạc vàng” của Bātū Khan) trong hai thế kỷ sau đó. Cái tên mà họ đã biến thành huyền thoại - Cossack - là do kẻ thù của họ đặt cho; đó đơn giản là từ qazaq của người Thổ Nhĩ Kỳ, nghĩa là một kẻ ngoài vòng pháp luật không chịu thừa nhận uy quyền của vị chúa tể du mục “Chính thống” của у.[13] Những cộng đồng người Cossack trải rộng đến mức - tính đến thời điểm bị tiêu diệt trong cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 - thì họ đã dàn trải băng ngang châu Á từ Don tới Ussuri, và tất thảy đều có nguồn gốc từ một cộng đồng duy nhất, đó là người Cossack ở Dniepr.

Ban đầu những người Cossack là một hội quân sự bán tôn giáo, mang những đặc điểm tương tự như hội của người Sparta trong xã hội Hy Lạp cổ và Hội Thập Tự Chinh của tầng lớp hiệp sĩ. Nhờ các cuộc chiến không ngơi nghỉ chống lại người du mục, họ đã nhận ra rằng, một nền văn minh nếu muốn đánh bại được người rợ, thì nó phải chiến đấu với họ bằng những vũ khí và tài nguyên khác với những gì mà họ sở hữu. Cũng như những nhà xây dựng đế chế Tây phương cận đại đã đè bẹp các đối thủ nguyên thủy của họ bằng cách tận dụng sự vượt trội về vật chất của nền công nghiệp, người Cossack đã đè bẹp người du mục bằng cách trao cho họ một nền nông nghiệp dư dả về vật chất. Cũng như chiến thuật của phương Tây vô hiệu hóa năng lực quân sự của người du mục trên chính đất đai của họ bằng cách áp đảo khả năng cơ động của đối phương với những phương tiện như đường sắt, xe hơi và máy bay; người Cossack cũng vô hiệu hóa năng lực quân sự của người du mục theo cách riêng của mình, đó là chiếm giữ những con sông - nhân tố tự nhiên trên thảo nguyên không nằm dưới sự kiểm soát của người du mục - lần này đã chống lại họ thay vì mang lại ích lợi cho họ. Đối với các kỵ sĩ du mục, sông ngòi chẳng khác chi các chướng ngại vật và vô dụng trong việc vận chuyển, trong khi đó các nông dân và tiều phu người Nga là chuyên gia di chuyển bằng đường sông. Và như thế người Cossack, trong khi học cách ganh đua với người du mục đã không quên mình là dân miền sông nước, và cuối cùng đã giành thắng lợi thâu tóm vùng thảo nguyên Á-Âu chính ở trên thuyền chứ không phải trên lưng ngựa. Họ tiến từ Dniepr tới Don rồi từ Don tới sông Volga. Sau đó, vào năm 1586, họ vượt lưu vực giữa sông Volga và sông Ob, và đến năm 1638, theo các kênh đào Siberia cuộc bành trướng đã đưa họ tới bờ Thái Bình Dương trên biển Okhotsk.

Cũng trong thế kỷ người Cossack đánh dấu những thắng lợi của mình bằng phản ứng trước nhân tố của người du mục từ phía đông-nam, một khu vực biên giới khác đã trở thành điểm chịu áp lực bên ngoài nặng nề nhất và là tâm điểm của xã hội Nga. Trong thế kỷ 17 sau CN, nước Nga lần đầu tiên trong lịch sử gặp phải một áp lực dữ dội đến từ thế giới Tây phương. Một đội quân Ba Lan đã chiếm đóng Moscow trong vòng hai năm (1610-12), và không lâu sau đó quân đội Thụy Điển dưới quyền của Gustavus Adolphus đã tấn công nước Nga từ biển Baltic, chiếm toàn bộ vùng bờ biển phía đông từ Phần Lan tới đường biên giới phía bắc của Ba Lan, vào thời đó chỉ cách sông Riga vài dặm. Nhưng thế kỷ đó đã khép lại khi Peter Đại Đế trả đũa sự chèn ép này của Tây phương bằng cách thành lập Petersburg vào năm 1703, trên vùng lãnh thổ chiếm lại từ người Thụy Điển, và cắm lá cờ của hải quân Nga, trên biển Baltic, theo như phong cách khẳng định chủ quyền của phương Tây.

Thế giới Tây phương qua cuộc đấu tranh chống người rợ đại lục

Khi chuyển sang lịch sử của nền văn minh Tây phương, điều đầu tiên mà chúng ta nhận thấy rằng, áp lực bên ngoài nặng nề nhất đè nặng trên ranh giới phía đông, hay ranh giới đất liền, ấy là những người rợ ở Trung Âu, điều này dường như không có gì bất thường. Đường biên giới này không những đã được bảo vệ an toàn mà còn được tiếp tục mở rộng cho tới khi những người rợ biến mất khỏi bản đồ. Từ đó trở đi, nền văn minh Tây phương của chúng ta, ở các khu vực biên giới phía đông của nó, va chạm không phải với người rợ nữa mà là với những nền văn minh kình địch. Trước mắt, chúng ta chỉ lấy những ví dụ minh họa cho tác động kích thích của áp lực ở biên giới trong giai đoạn đầu lịch sử.

Trong giai đoạn đầu của lịch sử Tây phương, tác động áp lực của người rợ đại lục được biểu hiện qua sự nổi lên của một cấu trúc xã hội mới, với hình thức thống trị theo kiểu bán du mục của người Frank. Vương triều Merovingian - hiện thân đầu tiên của chế độ cai trị của người Frank - có khuynh hướng hoài cổ về quá khứ oai hùng của La Mã, nhưng vương triều Carolingian nối tiếp đã nhìn về tương lai; và mặc dù nó đã vô tình đánh thức một hồn ma của Đế chế La Mã, nhưng hồn ma đó chỉ được đánh thức để thực hiện những sứ mệnh mà thôi. Sự thay thế chế độ Meroving suy đồi và lười biếng bằng chế độ Caroling tích cực và tràn trề sức sống diễn ra trên phần lãnh thổ nào của người Frank? Không phải ở vùng nội địa mà là ở khu vực biên giới; không phải ở Neustria (tương đương với miền Bắc nước Pháp), trên vùng đất đã được chăm bón bởi nền văn minh La Mã cổ đại và được che chở trước bước chân giày xéo của những người rợ xâm lăng, mà là ở Austrasia (vùng lưu vực sông Rhine), trên vùng đất bắc ngang qua biên giới La Mã, vốn phải hứng chịu những cuộc công kích thường xuyên của người Saxon đến từ rừng rậm Bắc Âu và người Avar đến từ thảo nguyên Á-Âu. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ kích thích của áp lực bên ngoài này chính là những thành tựu của Charlemagne, đó là 18 chiến dịch thảo phạt người Saxon, chiến dịch tiêu diệt người Avar, và “Thời kỳ Phục hưng Carolingian”, một trong những biểu hiện đầu tiên của sức mạnh văn minh và tri thức trong Thế giới Tây phương chúng ta.

Phản ứng ở vùng đất Austrasia trước nhân tố kích thích của áp lực nói trên đã được tiếp nối bởi một sự tái phát căn bệnh lịch sử. Đó là phản ứng đáp trả của người Saxon, làm nên sự nghiệp của Otto I trong vòng chưa đầy hai thế kỷ sau. Thành tựu lâu dài của sự nghiệp Charlemagne là sự sáp nhập lãnh thổ của người rợ Saxon vào xã hội Cơ Đốc giáo Tây phương; nhưng đồng thời với thành công quá vang dội này, ông đã mở đường cho sự dịch chuyển đường biên giới, và cùng với nó là nhân tố kích thích, từ đất Austrasia vinh quang của mình sang vùng lãnh thổ Saxon vừa bị chinh phục. Đến thời của Otto, nhân tố kích thích đó đã gây ra trong vùng lãnh thổ Saxon một đáp ứng phản kháng giống như nó đã từng tạo ra, ở Austrasia vào thời của Charlemagne. Otto đã trừng phạt người Wend như Charlemagne trừng phạt người Saxon trước kia, và từ đó trở đi các đường biên giới của nền văn minh Cơ Đốc Tây phương được đẩy ngược trở lại còn xa hơn những ranh giới xa xôi nhất về phía đông.

Trong các thế kỷ 13 và 14, công cuộc Tây phương hóa những người rợ đại lục cuối cùng sót lại không còn diễn ra dưới sự lãnh đạo của các vương triều cha truyền con nối, như Charlemagne và Otto - những người tự xưng danh vị Hoàng đế La Mã - mà thông qua phương tiện của hai tổ chức mới: chính quyền thành phố và giai cấp tu sĩ chiến binh. Dân cư thị trấn Hansa và các hiệp sĩ Teuton đã đưa ra những ranh giới của xã hội Cơ Đốc Tây phương từ Oder tới Dvina. Đó là vòng cuối cùng của chuỗi xung đột trường kỳ này; vì trước khi thế kỷ 14 kết thúc thì người rợ đại lục - những người đã gây áp lực lên các đường biên giới của ba nền văn minh kế tiếp nhau là Minoan, Hy Lạp cổ và Tây phương trong vòng 3000 năm - cuối cùng đã bị quét sạch khỏi bề mặt trái đất. Vào năm 1400, các nền văn minh Cơ Đốc Tây phương và Cơ Đốc Chính thống, vốn bị cách ly hoàn toàn trên lục địa già bởi cộng đồng người rợ ở giữa, đã tiến tới tiếp cận với nhau dọc theo một đường biên giới kéo dài qua toàn bộ chiều ngang của lục địa từ Adriatic đến Bắc Cực.

Một điều rất đáng quan tâm trong cuộc dịch chuyển đường biên giới giữa một nền văn minh đang tiến bộ và cộng đồng người rợ đang tháo lui dần, đó là sự đảo hướng của áp lực. Nó diễn ra rất thường xuyên, từ khi Otto I tiến chiếm vương quốc của Charlemagne, kéo theo sự tăng tiến nhân tố kích thích khi cuộc phản công của xã hội Tây phương được tiến hành. Ví dụ, vùng Duchy thuộc lãnh thổ Saxon, sau thắng lợi của Otto trước người Wend, đã phải chịu đựng sự tàn phá tương tự những gì Austrasia đã phải chịu đựng sau chiến thắng của Charlemagne trước người Saxon từ hai thế kỷ trước. Vùng lãnh thổ Saxon bị mất quyền lãnh đạo vào năm 1024 và tan rã thành nhiều phần nhỏ 60 năm sau đó. Không như vương triều Saxon đã bắt nguồn từ ranh giới phía đông của Carolingian, vương triều tiếp theo vương triều Saxon không bắt nguồn từ cực phía đông của khu vực biên giới. Thay vào đó, vương triều Franconian và tất cả những vương triều kế tục của nó - Hohenstaufen, Luxemburg và Hapsburg - đều bắt nguồn từ một trong những điểm hợp lưu của sông Rhine. Khu vực biên giới lúc này không còn truyền nhân tố kích thích của nó cho các vương triều kế tục này nữa, và chúng ta không ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, bất chấp sự lỗi lạc của một số vị hoàng đế nhất định, chẳng hạn như Frederick Barbarossa, quyền lực của hoàng đế đã sụt giảm nghiêm trọng kể từ cuối thế kỷ 11.

Tuy vậy, đế chế được phục hưng bởi Charlemagne vẫn tồn tại, và không nghi ngờ gì việc hồn ma của một hồn ma, “không phải Thần thánh cũng không phải La Mã hay một Đế chế”, một lần nữa lại đóng vai trò tối quan trọng trong đời sống chính trị của xã hội Tây phương. Nó được khôi phục nhờ vào thực tế là, vào cuối thời trung cổ, một loạt các vương triều đã được dựng nên và sụp đổ ở miền Nam sông Rhine, vùng Hapsburg thuộc nước Áo, nơi dần dần đã gánh vác trách nhiệm của vùng biên giới mới và đáp trả một nhân tố kích thích mới được mang theo chúng. Chúng ta còn phải tiếp tục phân tích chủ đề này trong các phần tiếp theo.

Thế giới Tây phương qua cuộc đấu tranh chống Đế chế Ottoman

Tác động của người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman lên thế giới Tây phương bắt nguồn từ giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh kéo dài hàng trăm năm giữa Osmanli và Hungary, cuộc chiến lên đến đỉnh điểm vào thời khắc suy tàn của vương quốc trung cổ Hungary trong trận chiến Mohacz (1526) Hungary, dưới sự lãnh đạo của John Hunyadi và người con trai Matthias Corvinus của ông, là địch thủ kiên cường nhất mà người Osmanli từng gặp phải. Tuy nhiên, lực lượng giữa hai bên quá chênh lệch nên cuộc chiến này rõ ràng quá sức đối với Hungary, cho dù nó có được viện binh nhờ liên minh với người Bohemia từ năm 1490 trở đi. Kết quả cuối cùng là thất bại thảm hại trong trận chiến Mohacz; và chỉ có thảm họa như vậy mới có thể sản sinh ra tác động tâm lý đủ để đưa những người Hungary còn lại cùng với người Bohemia và người Áo vào một liên minh gần gũi và lâu dài dưới sự lãnh đạo của vương triều Hapsburg đã cai trị nước Áo từ năm 1440. Liên minh này tồn tại gần 400 năm - để rồi phân ly trong năm 1918, năm chứng kiến sự sụp đổ cuối cùng của thế lực Ottoman, những kẻ đã gây ra tai ương Mohacz bốn thế kỷ trước đó.

Thực ra, kể từ thời điểm nền quân chủ Hapsburg Danube được thành lập, vận mệnh của nó đã gắn liền với các thế lực thù địch mà đã tạo áp lực lên nó. Thời kỳ anh hùng của Nền quân chủ Hapsburg có cùng niên đại với giai đoạn mà áp lực của Đế chế Ottoman đặt lên thế giới Tây phương nặng nề nhất. Thời kỳ anh hùng này có thể xem như bắt đầu bằng cuộc bao vây thất bại thành phố Vienna lần thứ nhất vào năm 1529 và kết thúc với lần thất bại thứ hai vào năm 1682-3. Trong cả hai thử thách nặng nề nói trên, thủ đô nước Áo đều đóng cùng một vai trò trong cuộc kháng cự tuyệt vọng của thế giới Tây phương trước cuộc tấn công của Ottoman, giống như vai trò của Verdun trong cuộc kháng cự của người Pháp trước cuộc tổng tấn công của Đức tại cuộc chiến 1914-18. Cả hai lần bao vây Vienna đều là những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quân sự của Đế chế Ottoman. Lần thất bại thứ nhất dẫn tới sự khựng lại đà chinh phục của Đế chế Ottoman - vốn đã tràn qua khắp vùng thung lũng sông Danube trong vòng một thế kỷ trước đó - và bản đồ cho chúng ta thấy điều mà nhiều người sẽ cảm thấy khó tin, đó là Vienna nằm ở khoảng cách chỉ hơn phân nửa so với khoảng cách từ Constantinople tới eo biển Dover. Thất bại trong cuộc vây hãm lần thứ hai kéo theo một thời kỳ suy sụp sau đó vẫn tiếp diễn, bất chấp tất cả những lần tạm dừng và dao động, cho tới khi đường biên giới Thổ Nhĩ Kỳ bị đẩy ngược trở lại từ ranh giới phía đông nam của Vienna, nơi nó đã tồn tại từ năm 1529 tới 1683, đến tận ranh giới phía tây-bắc của Adrianople.

Tuy nhiên, thất bại của Đế chế Ottoman không phải là những gì mà nền quân chủ Hapsburg Danube giành được, vì thời kỳ anh hùng của nền quân chủ Danube cũng không thoát khỏi sự suy tàn như Đế chế Ottoman. Thế lực Ottoman sụp đổ đã mở ra ở Đông Nam Âu một khoảng trống quyền lực cho các thế lực khác tranh giành, đồng thời đã giải phóng nền quân chủ Danube khỏi áp lực từ trước tới nay vẫn kích thích nó. Nền quân chủ Danube đã theo sau sự suy tàn của lực lượng gây ra tai ương vốn giúp nó hình thành, và cuối cùng chia sẻ cùng số phận với Đế chế Ottoman.

Nếu chúng ta qua Đế quốc Áo trong thế kỷ 19, khi Osmanli một thời đáng sợ nay đã trở thành “lão già bệnh hoạn của châu Âu”, chúng ta thấy rằng giờ đây nó đang phải đối mặt với một căn bệnh kép. Vào thời kỳ này, nó không những không còn là một vùng lãnh thổ biên giới nữa; mà tổ chức siêu dân tộc của nó - vốn đã từng tự chứng minh là một đáp ứng hiệu quả trước thách thức Ottoman ở các thế kỷ 16 và 17 - nay đã trở thành một cản ngại to lớn đối với lý tưởng dân tộc mới của thế kỷ 19. Nền quân chủ Hapsburg đã trải qua thế kỷ cuối cùng trong vòng đời tồn lại của nó với những nỗ lực cản trở sự điều chỉnh không thể tránh khỏi trên bản đồ các dân tộc, nhưng tất cả đều thất bại. Với cái giá phải từ bỏ quyền thống trị nước Đức và quyền sở hữu lãnh thổ Ý, nó đã trù tính việc tiếp tục kề vai sát cánh với đế quốc Đức và vương quốc Ý mới. Bằng cách chấp nhận hiệp ước Áo-Hungary vào năm 1867 và hệ quả tất yếu là hiệp ước Áo-Ba Lan ở Galicia, nó đã thành công trong việc đồng nhất quyền lợi giữa bản thân nó với Ba Lan, Hungary và Đức. Nhưng nó đã không hoặc không thể thiết lập mối quan hệ với người Romania, người Czech-Slovak và Jugoslav, và phát súng hiệu lệnh từ Sarajevo chính là tín hiệu xóa nó khỏi bản đồ.

Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét những điểm tương phản giữa nước Áo và Thổ Nhĩ Kỳ trong “thời hậu chiến”. Kể từ cuộc chiến 1914-18, cả hai nước đều trở thành thể chế cộng hòa và đều là biến thể từ các đế quốc đã từng biến chúng thành láng giềng và kình địch. Nhưng đến đây thì sự tương đồng kết thúc. Người Áo là dân tộc phải gánh chịu tổn thất nặng nề nhất và phục tùng ngoan ngoãn nhất trong số năm dân tộc thua trận. Họ chấp nhận trật tự mới một cách thụ động, với sự nhẫn nhục tột độ và hối tiếc tột cùng. Trái lại, người Thổ là dân tộc duy nhất trong số năm dân tộc thua trận lại cầm lấy vũ khí, chưa đầy một năm sau thời điểm đình chiến, để chống lại những thế lực chiến thắng và họ đã thành công trong việc đòi điều chỉnh những bồi thường chiến phí mà kẻ thắng trận bắt họ phải cáng đáng. Khi làm được những điều này, người Thổ đã tự cải lão hoàn đồng và thay đổi vận mệnh của họ. Giờ đây, họ không còn chiến đấu dưới một triều đại Ottoman suy tàn để giữ vững vùng lãnh thổ nào đó của một đế quốc vô chủ nữa. Bị vương triều của mình ruồng bỏ, họ một lần nữa lại phất lá cờ chiến tranh và đi theo một vị lãnh đạo được chọn ra như vị vua Osman đầu tiên của họ, nhưng lần này không phải để mở rộng lãnh thổ mà là để bảo vệ chúng. Chiến trường In Önü, là nơi trận chiến quyết định cuộc chiến Hy Lạp-Thổ năm 1919-22 diễn ra, nằm chính trên phần đất mà ngày xưa những người Saljuq cuối cùng đã chia cho những người Osmanli đầu tiên từ 600 năm trước. Bánh xe lịch sử đã quay trọn một vòng.

Thế giới Tây phương ở những khu vực biên giới phía tây

Vào thời kỳ đầu, xã hội Tây phương gặp áp lực không chỉ dọc theo đường biên giới phía đông của đại lục mà còn ở ba tiền đồn ở phía tây: Áp lực của “vành đai Celtic” lên các đảo thuộc Anh và Brittany; áp lực của người Viking Scandinavia lên các đảo thuộc Anh và dọc theo bờ Đại Tây Dương của lục địa châu Âu; và áp lực của nền văn minh Syria cổ được đại diện bởi những kẻ chinh phục Hồi giáo cổ xưa lên bán đảo Iberia. Đầu tiên, chúng ta sẽ khảo sát áp lực của “vành đai Celtic”.

Cuộc đấu tranh sinh tồn giữa những người rợ nguyên thủy và người rợ sớm lụi tàn - Heptarchy đã ảnh hưởng đến sự xuất hiện của hai chính thể tiến bộ và trường tồn của xã hội chúng ta như thế nào? Nếu để mắt tới quá trình vương quốc Anh và Scotland thế chỗ “tầng lớp thống trị”, chúng ta sẽ thấy rằng, nhân tố quyết định trong mọi tình huống chính là sự phản ứng lại một thách thức nào đó do áp lực từ bên ngoài gây ra. Quá trình hình thành vương quốc Scotland có thể là do thách thức của người Pict và người Scot lên người Anglo-Saxon cai trị Northumbria. Thủ đô của Scotland ngày nay được thành lập bởi Edwin xứ Northumbria (cái tên này vẫn còn được dùng đến tận ngày nay) để làm pháo đài bảo vệ biên giới Northumbria chống lại người Pict bên kia vịnh Firth và người Briton ở Strathclyde. Thách thức xuất hiện khi người Pict và người Scot chinh phạt Edinburg vào năm 954, rồi sau đó buộc Northumbria nhượng lại cho họ toàn bộ đất Lothia. Việc sang nhượng này làm nảy sinh nghi vấn sau: Liệu sau trận thua này, xã hội cơ đốc phương Tây có duy trì nền văn minh của nó bất chấp sự thay đổi thể chế chính trị hay không, hay là nó sẽ thua nền văn minh “Viễn Tây” ngoại lai của những kẻ chinh phạt người Celtic? Không hề buông xuôi, Lothia đã phản ứng đáp trả thách thức bằng cách bắt sống những kẻ chinh phạt nó, như những người Hy Lạp cổ bị chinh phục đã từng có lúc chiếm đóng Rome.

Nền văn minh của vùng đất bị chinh phục cũng có sức thu hút tương tự đối với các vị vua người Scot khi họ chọn Edinburg làm thủ đô. Dần dần, họ có cảm giác và hành xử như thể Lothia là nơi chôn nhau cắt rốn của họ còn cao nguyên là một vùng đất xa lạ nằm bên ngoài lãnh thổ vậy. Về lâu về dài, bờ biển phía đông Scotland đến tận Moray Firth đều bị thuộc địa hóa, và “ranh giới cao nguyên” bị đẩy lùi bởi những người Anh định cư đến từ Lothia dưới sự bảo hộ của các vua chúa Celtic và bởi sự bành trướng về dân số Celtic vốn là họ hàng với các vua Scot. Do một sự đổi tên tất yếu và rất hợp lý, “tiếng Scot” chuyển nghĩa thành thổ ngữ tiếng Anh được sử dụng ở Lothia thay vì là thổ ngữ Gaelic được những người Scot sử dụng lúc đầu. Kết quả cuối cùng rút ra từ cuộc chinh phạt Lothia của người Scot và người Pict không phải là dời ranh giới phía tây bắc của xã hội Cơ Đốc Tây phương từ Forth đến Tweed mà là đẩy nó tiến lên cho tới khi nó bao trùm toàn bộ đảo quốc sương mù.

Như vậy, một bộ phận đã từng bị chinh phục của một trong những lãnh địa thuộc “Heptarchy” Anh quốc đã thực sự trở thành trung tâm của vương quốc Scotland hiện nay, và cần phải thấy rằng vùng Northumbria đã thực hiện kỳ tích này là biên giới giữa Tweed và Forth chứ không phải một vùng nội địa giữa Tweed và Humber. Nếu du khách đến thăm Northumbria ở thế kỷ thứ 10, vào thời gian trước khi nhượng lại Lothia cho người Scot và Pict, anh ta sẽ đoan chắc rằng Edinburgh không có tương lai sáng sủa gì cho lắm, và rằng nếu có một thị trấn nào của Northumbria sẽ trở thành thủ đô lâu dài của một chính quyền “văn minh”, thì thị trấn đó phải là York. Tọa lạc ngay chính giữa vùng đồng bằng trồng trọt của miền Bắc nước Anh, York đã từng trở thành trung tâm quân sự của một quận thuộc La Mã và là trung tâm tôn giáo quan trọng, trước đó không lâu lại vừa trở thành thủ đô của “Danelaw”, một vương quốc yểu mệnh xứ Scandinavia. Nhưng Danelaw đã bị vua xứ Wessex khuất phục vào năm 920; từ đó trở đi York bị rơi xuống vị trí của một thị trấn tỉnh lẻ. Ngày nay chẳng còn gì ngoại trừ kích thước khác thường của Yorkshire so với các hạt khác của nước Anh, nhắc lại quá khứ huy hoàng và một vận mệnh tốt đẹp hơn rất nhiều tưởng chừng như đã được dành sẵn cho nó.

Trong số các lãnh địa Heptarchy ở phía nam Humber, vùng nào sẽ nhận vai trò dẫn dắt và trở thành hạt nhân của vương quốc Anh trong tương lai? Chúng ta thấy rằng, đến thế kỷ thứ 8 sau CN, ứng viên dẫn đầu không phải là vùng lãnh địa gần đại lục nhất mà là Mercia và Wessex, cả hai đều không được bảo vệ trước nhân tố kích thích ở biên giới đến từ người Celt ở xứ Wales và Cornwall. Chúng ta cũng thấy rằng, trong vòng đầu của cuộc thi đấu này, Mercia đang dẫn trước. Vua Offa của Mercia nắm giữ quyền lực lớn hơn bất kỳ một vị vua nào của Wessex cùng thời với ông, do áp lực của xứ Wales lên Mercia mạnh hơn áp lực của Cornwall lên Wessex. Mặc dù cuộc kháng cự của “miền Tây xứ Wales” ở Cornwall đã để lại tiếng vang bất hủ trong truyền thuyết về vua Arthur, song cuộc kháng cự này xem ra đã bị người Saxon miền Tây dập tắt tương đối dễ dàng. Ngược lại, sự khắc nghiệt của áp lực đặt lên Mercia đã được chứng minh một cách hùng hồn bởi chính tên tuổi của nó “Đệ nhất biên thùy”, nhờ khảo cổ học qua những di tích công sự vĩ đại, kéo dài từ cửa sông Dee tới tận cửa sông Severn, được đặt tên con đê của Offa. Vào thời điểm bấy giờ, có vẻ như tương lai sẽ thuộc về Mercia, chứ không phải Wessex. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 9, khi thách thức từ “vành đai Celtic” bị qua mặt bởi một thách thức mới và khắc nghiệt hơn nhiều đến từ Scandinavia, dự đoán này đã sai lệch. Lần này Mercia đã thất bại trong phản ứng đáp trả, trong khi Wessex dưới sự lãnh đạo của vua Alfred đã kháng cự và thành công vang dội, nhờ đó đã trở thành trung tâm của vương quốc Anh.

Áp lực của người Scandinavia lên các vùng bờ biển của xã hội Cơ Đốc Tây phương không chỉ đưa tới sự thống nhất của vương quốc Anh dưới mái nhà Cerdic từ Heptarchy, mà còn lắp ghép nên vương quốc Pháp dưới mái nhà Capet từ những mảnh vụn bị bỏ rơi ở miền Tây đế chế Charlemagne. Phải đối mặt với áp lực này, nước Anh đã tìm ra thủ đô của nó, không phải ở Winchester - thủ phủ trước đây của Wessex, nằm trong phạm vi miền Tây xứ Wales nhưng cách tương đối xa mối đe dọa từ Scandinavia - mà là Luân Đôn, vùng đất vốn đang hứng chịu toàn bộ gánh nặng và tai ương của thời kỳ đó. Và có lẽ, nó tạo cho cuộc chiến dai dẳng này bước ngoặt quyết định vào năm 895 khi đẩy lùi nỗ lực tiến tới sông Thames của một hạm đội Đan Mạch. Tương tự, nước Pháp tìm ra thủ đô của nó không phải ở Laon - nơi trú ngụ của những người Carolingia cuối cùng - mà là ở Paris, vùng đất đã đứng mũi chịu sào dưới sự lãnh đạo của tổ tiên những vị vua Capetian đầu tiên đã chặn đứng người Viking tiến lên vùng thượng lưu sông Seine.

Như vậy, phản ứng đáp trả của xã hội Cơ Đốc Tây phương trước thách thức bên ngoài đến từ vùng Scandinavia đã khai sinh những vương quốc mới là Anh và Pháp. Hơn nữa, trong quá trình chiếm thế thượng phong trước những địch thủ này, người Pháp và người Anh đã tôi luyện được đội quân hùng mạnh và thiết lập chế độ phong kiến. Người Anh cũng tạo ra nghệ thuật biểu đạt những thử thách bi tráng mà họ đã trải qua, đó là thi ca anh hùng mà một phần còn sót lại là Bài ca trận chiến Maldon.

Normandy của nước Pháp là sự lặp lại thành tựu của người Anh ở Lothia qua thắng lợi trước những kẻ xâm lược người Scandinavia bằng cách biến những kẻ đi chinh phục thành những người bị chinh phục bởi nền văn minh bản địa. Hơn một thế kỷ sau khi Rollo và thuộc hạ ký với vua Charles của chế độ Carolingian bản hiệp ước sơ bộ đảm bảo cho họ một khu vực định cư lâu dài trên bờ Đại Tây Dương của nước Pháp vào năm 912, hậu duệ của họ đã mở rộng ranh giới của xã hội Cơ Đốc Tây phương ở Địa Trung Hải đến khu vực chịu ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo Chính thống và Hồi giáo, và đã soi rọi ánh sáng của nền văn minh Tây phương, như giờ đây nó đang tỏa sáng ở Pháp, tới các đảo quốc Anh và Scotland, vốn lúc bấy giờ vẫn còn đang nằm trong vùng tranh tối tranh sáng. Về mặt tự nhiên, cuộc chinh phục nước Anh của người Norman phải được coi là thành tựu cuối cùng của tham vọng từng thất bại trước đó của người rợ Viking, nhưng về mặt văn minh thì cách giải thích này chỉ là những lời vô nghĩa. Người Norman đã từ bỏ quá khứ dị giáo Scandinavia của họ qua việc không thủ tiêu luật lệ của Cơ Đốc giáo Tây phương ở nước Anh mà tuân thủ theo nó. Trên chiến trường Hastings, khi chàng ca sĩ - chiến sĩ người Norman là Taillefer vừa cưỡi ngựa vừa hát trong đội tiên phong của các hiệp sĩ Norman, ngôn ngữ mà chàng sử dụng không phải là tiếng Na Uy mà là tiếng Pháp và câu chuyện mà chàng sáng tác cũng không phải là câu chuyện dân gian của Sigurd mà là câu chuyện về Chanson de Roland. Khi nền văn minh Cơ Đốc phương Tây đã chinh phục được những kẻ xâm lược lãnh thổ của nó, sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta thấy nó có thể đưa ra những dấu hiệu báo trước thắng lợi của mình bằng việc thế chỗ nền văn minh suy tàn Scandinavia ngay trên bán đảo Scandinavia. Lát nữa, chúng ta sẽ trở lại với đề tài này sau khi đã thu thập được một danh sách tương đối của các nền văn minh “suy tàn”.

Chúng ta đã để dành đến cuối mới trình bày về áp lực thời gian lên vùng biên giới - sự kiện xảy ra đầu tiên và vượt qua tất cả những áp lực khác về mặt cường độ, và có vẻ như vượt trội cả về uy thế vì nó chỉ phải chống lại lực lượng nhỏ bé của nền văn minh chúng ta đang còn trong trứng nước. Thực ra, theo Gibbon, nó đã suýt đưa xã hội Tây phương vào danh sách các nền văn minh suy tàn.[14] Cuộc tấn công của người Ả Rập vào nền văn minh non trẻ của phương Tây là một phần trong phản ứng đáp trả cuối cùng của xã hội Syria cổ trước cuộc xâm lăng dai dẳng của người Hy Lạp cổ trên lãnh thổ của nó. Khi người Ả Rập nhận sứ mệnh bành trướng Hồi giáo, họ đã không ngừng nghỉ cho tới khi nào khôi phục lại cho xã hội Syria cổ toàn bộ lãnh thổ cũ vào thời hoàng kim. Không vừa lòng với sự khôi phục là đế chế Ả Rập - chính quyền trung ương của xã hội Syria cổ ban đầu hiện thân qua Đế chế Achaemenid ở Ba Tư - họ đã tiếp tục tái chinh phục lãnh thổ của người Phoenicia ở Carthage thuộc châu Phi và Tây Ban Nha. Vào năm 713, theo dấu chân Hamilcar và Hannibal, họ đã vượt qua không chỉ eo biển Gibraltar mà luôn cả dãy Pyrenees; và sau đó, mặc dù không bắt chước hành trình của Hannibal vượt sông Rhone và dãy Alps, nhưng khi vươn cánh tay tới lưu vực sông Loire, họ đã chiếm được vùng đất mà Hannibal chưa bao giờ đặt chân tới.

Thất bại của người Ả Rập trước người Frank, tổ tiên của Charlemagne diễn ra trong trận chiến Tours năm 732 chắc chắn là một trong những sự kiện quyết định của lịch sử. Phản ứng của xã hội Tây phương trước áp lực của xã hội Syria cổ vốn vẫn tiếp diễn trong bạo lực và gia tăng dần động lượng cho tới khi, khoảng 7 hoặc 8 thế kỷ sau, nó đã đưa đội quân tiên phong người Bồ Đào Nha của xã hội Cơ Đốc Tây phương từ bán đảo Iberia vượt biển vòng qua châu Phi đến Goa, Malacca và Macao, đội quân tiên phong người Castilia vượt Đại Tây Dương đến Mexico và vượt Thái Bình Dương đến Manila. Những người tiên phong Iberia này là những người phụng sự chưa từng có cho xã hội Cơ Đốc Tây phương. Họ đã mở rộng đường chân trời, và từ đó phát triển tiềm năng mở rộng lãnh thổ của xã hội mà họ đại diện cho tới khi nó bao trùm tất cả các vùng đất đai có thể cư ngụ và những vùng biển có thể đi lại trên hành tinh. Chính nhờ nghị lực Iberia ban đầu này mà xã hội Cơ Đốc Tây phương có thể lớn mạnh, như hạt giống cây mù-tạc trong chuyện ngụ ngôn, cho tới khi nó trở thành “xã hội vĩ đại”: Một cây to mà cư ngụ trên các nhánh của nó là tất cả các dân tộc trên trái đất.

Sức mạnh của Cơ Đốc Iberia là do áp lực từ người Ma Rốc cổ kích thích. Thực tế đã chứng minh điều đó rằng nghị lực này biến mất ngay khi áp lực của người Ma Rốc ngừng lại. Trong thế kỷ 17, người Bồ Đào Nha và Castilia đã phát hiện ra thế giới mới. Tuy nhiên, thành phần mới nổi của xã hội Cơ Đốc Tây phương - người Hà Lan, người Anh và người Pháp - đã xâm chiếm. Và thất bại ở hải ngoại này trùng khớp về thời gian với sự biến mất của nhân tố kích thích lịch sử ở quê nhà do sự diệt vong của những người “Ma Rốc cổ” còn sót lại trên bán đảo Iberia, bởi bị tàn sát, trục xuất hoặc đồng hóa bằng vũ lực.

Như vậy, dường như mối quan hệ giữa người Iberia với người Ma Rốc cổ cũng tương tự như mối quan hệ giữa chế độ quân chủ Hapsburg Danube với người Osmanli. Mỗi dân tộc này đều tràn trề sinh lực khi nào áp lực đặt lên họ vẫn còn nặng nề; và rồi, ngay khi áp lực được nới lỏng, thì các dân tộc này, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Áo, bắt đầu buông xuôi và đánh mất vị trí dẫn đầu trong cuộc đua tranh giành quyền lực trong thế giới Tây phương.

(5) NHÂN TỐ KÍCH THÍCH CỦA SỰ TRỪNG PHẠT

Thợ rèn thọt và thi sĩ mù

Khi một sinh thể sống, so với những thành viên khác trong cùng nòi giống, bị trừng phạt bằng khiếm khuyết của một cơ quan hoặc chức năng cụ thể nào đó, nó sẽ có khuynh hướng đáp trả thách thức này bằng cách chuyên biệt hóa một cơ quan hoặc chức năng khác, cho tới khi đạt tới khả năng vượt trội so với những thành viên khác trong lĩnh vực hoạt động thứ hai để bù đắp sự thua kém trong lĩnh vực thứ nhất. Chẳng hạn như người mù thường có khuynh hướng phát triển xúc giác nhạy bén hơn so với những người sáng mắt. Tương tự như vậy, chúng ta thấy ở một tổ chức, một cộng đồng hoặc giai cấp nào đó bị trừng phạt về mặt xã hội - kể cả do tai nạn gây ra bởi hành vi của chính nó hoặc do hành vi của những thành viên khác trong xã hội mà nó đang sống - thường có khuynh hướng đáp trả thách thức của trừng phạt ở một số lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách tập trung nghị lực vào những lĩnh vực khác và trở nên xuất sắc trong những lĩnh vực đó.

Có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ ví dụ đơn giản nhất: Đó là tình huống một khiếm khuyết tự nhiên ngăn cản một số cá thể nào đó làm theo tập quán thông thường của xã hội mà họ là thành viên. Chẳng hạn như người thọt hoặc người mù sống trong xã hội của người rợ mà ở đó, theo tập quán, một thành viên nam giới phải là một chiến binh bất cứ lúc nào. Người thợ bị thọt sẽ phản ứng thế nào? Mặc dù đôi chân thọt không thể giúp anh ta xông trận chiến đấu được, nhưng đôi tay vẫn có thể rèn vũ khí và áo giáp cho bạn bè, và dần dần anh ta phát triển kỹ năng này để khiến họ phải phụ thuộc vào anh ta như anh ta phụ thuộc vào họ. Anh ta trở thành một hình mẫu của thần thợ rèn thọt chân Hephaestus (thần Lửa) hoặc Weland (người thợ rèn đất Wayland) trong truyền thuyết. Còn người rợ bị mù sẽ phản ứng như thế nào? Tình thế của anh ta tồi tệ hơn, vì không thể sử dụng đôi tay cho công việc rèn vũ khí; tuy vậy anh ta vẫn có thể dùng chúng để đánh đàn Harp để hòa cùng giọng ca của mình và vẫn có thể sử dụng trí óc để làm thơ ca ngợi những chiến công mà anh ta không chứng kiến tận mắt, nhưng đã được nghe kể lại từ những anh bạn chiến binh cục mịch. Anh ta trở thành nhà thơ, phương tiện để truyền bá danh tiếng mà người chiến binh luôn luôn mong mỏi.

Dòng dõi anh hùng dũng cảm và mạnh mẽ Trước khi Atrides chiến đấu và hy sinh: Không có Homer làm sao có bài ca linh thiêng Những chiến công vĩ đại đã hóa thành bất tử: Họ nằm xuống không ai hay biết, chẳng kẻ xót thương, Bị che phủ bởi mây mù và đêm đen dài vô tận; Chẳng nhà thơ nào sống để tôn vinh Tên tuổi họ như vầng dương sáng chói.[15]

Kiếp nô lệ

Trong số những trừng phạt không đến từ thiên nhiên mà do bàn tay con người sắp đặt, thì thứ rõ ràng nhất, phổ biến nhất và khắc nghiệt nhất chính là chế độ nô lệ. Chẳng hạn như, lịch sử đã ghi chép một số lượng lớn dân nhập cư từ tất cả các nước quanh vùng Địa Trung Hải bị đưa về Ý làm nô lệ trong suốt hai thế kỷ khủng khiếp từ Chiến tranh Hannibal tới Bộ luật dân sự Augustan. Hình phạt mà những người nô lệ nhập cư này phải gánh chịu gần như vượt ra ngoài mọi sự tưởng tượng. Trong số họ có người kế thừa nền văn minh Hy Lạp cổ, và những người này đã chứng kiến thế giới tinh thần lẫn vật chất của mình sụp đổ hoàn toàn khi các thành phố của họ bị cướp phá, bản thân họ cùng với những công dân tự do khác bị lôi tới chợ nô lệ. Những người khác, đến từ “giai cấp vô sản nội địa” ở phương Đông của nền văn minh Hy Lạp cổ, vốn đã mất hết tài sản xã hội, nhưng vẫn phải chịu những nỗi đau khổ cá nhân do kiếp nô lệ gây ra. Có một câu nói của người Hy Lạp cổ rằng “kẻ nô lệ chỉ còn phân nửa nhân tính”, và câu nói này vô cùng thích hợp để mô tả giai cấp vô sản thành thị, con cháu của những người nô lệ ở La Mã - những kẻ không chỉ sống bằng bánh mì mà bằng “bánh mì và giác đấu” kéo dài từ thế kỷ thứ hai trước CN tới thế kỷ thứ 6 sau CN - mãi tới khi các đấu trường bị lãng quên và bọn họ bị quét sạch khỏi cõi đời. Cuộc đấu tranh sống còn dai dẳng này là hình phạt dành cho thất bại của họ trong phản ứng chống trả sự nô lệ hóa, và không nghi ngờ gì khi con đường rộng rãi dẫn tới diệt vong của họ in đầy dấu chân của những con người thuộc rất nhiều dòng dõi khác nhau là hậu duệ của các nô lệ trong thời kỳ đen tối nhất của lịch sử Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, vẫn có một số nô lệ đã chống trả với thách thức và đã thành công, theo một cách nào đó.

Một số dần được thăng tiến trong khi phục dịch chủ nhân của mình, cho tới khi họ trở thành người quản lý những tài sản khổng lồ, thậm chí là tài sản của Caesar; và khi La Mã phát triển thành chính quyền trung ương của thế giới Hy Lạp cổ, nó vẫn được quản lý bởi những nô lệ đã được giải phóng của Caesar. Một số khác có chủ nhân là người buôn bán nhỏ đã tự chuộc thân bằng khoản tiền dành dụm mà chủ nhân cho phép họ giữ lại, và cuối cùng họ trở nên giàu có và nổi tiếng trong giới kinh doanh của La Mã. Những người khác vẫn là nô lệ trong thế giới này để rồi trở thành “minh quân” hoặc người sáng lập giáo hội ở một thế giới khác, và người La Mã chính gốc có thể vừa khinh miệt quyền thế bất hợp pháp của Narcissus hoặc kiểu cách trưởng giả học làm sang của Trimalchio nhưng lại vừa nồng nhiệt hoan nghênh trí tuệ sáng suốt của người nô lệ què Epictetus, mặc dù ông ta không thể không ngạc nhiên trước sự hăng hái của vô số nô lệ và cựu nô lệ dành cho mình, và lòng tin của họ quả thật có sức mạnh dời non lấp biển. Trong vòng năm thế kỷ kể từ chiến tranh Hannibal tới cuộc đảo chính của Constantine, các nhà cầm quyền La Mã đã liên tục chứng kiến phép lạ đến từ niềm tin của những người nô lệ - bất chấp những hành động bạo lực hòng ngăn chặn nó - cho tới khi chính bản thân họ đành phải đầu hàng. Lý do là những người nô lệ nhập cư tuy đã mất hết nhà cửa và đồ đạc song vẫn giữ được tôn giáo của họ. Người Hy Lạp mang theo vũ điệu ca ngợi thần Bacchanalia, người Anatolia mang theo phong tục thờ cúng thần Cybele (“Nữ thần Diana của người Ephesian”, một nữ thần Hittite sống lâu hơn rất nhiều so với xã hội đã tưởng tượng ra thần), người Ai Cập mang theo nghi thức thờ cúng thần Isis, người Babylon thờ cúng các vì sao, người Iran thờ thần Mithra. “Sông Orontes của Syria đổ nước vào sông Tiber”, Juvenal viết trong thế kỷ thứ hai sau CN; và từ điểm hợp lưu của những dòng nước này, người nô lệ tìm thấy ý chí phản kháng những người cai trị mình.

Vấn đề đặt ra ở đây là, liệu tôn giáo nhập cư của giai cấp vô sản nội địa có che khuất những tôn giáo bản xứ của giai cấp thống trị xã hội Hy Lạp cổ hay không. Một khi hai dòng nước đã gặp nhau thì chúng không thể không trộn lẫn vào nhau; và một khi đã trộn lẫn thì chúng sẽ lan tràn khắp nơi nếu không có sự can thiệp bằng nghệ thuật hoặc bạo lực. Trong khi các thần giám hộ của thế giới Hy Lạp cổ phải thoái lui khỏi cộng đồng mà họ đã chi phối tín đồ, thì các thần của giai cấp bị trị tự khẳng định rằng họ “là sức mạnh, là sự trợ giúp, là nơi trú ẩn trong thời kỳ loạn lạc” của các tín đồ. Trước tình hình này, nhà cầm quyền La Mã đã lưỡng lự trong năm thế kỷ trước khi quyết định lựa chọn một trong hai quan điểm: Họ nên bài trừ những tôn giáo ngoại nhập hay đưa chúng vào trái tim mình? Các thần thánh mới đều lôi cuốn một bộ phận nào đó trong tầng lớp thống trị La Mã: thần Mithra đại diện cho chiến binh, thần Isis đại diện cho phụ nữ - những thân xác tuyệt trần chứa đựng trí tuệ, thần Dionysus đại diện cho những người yêu Hy Lạp, và thần Cybele đại diện cho những người thờ cúng linh vật. Vào năm 205 trước CN, trong cơn khủng hoảng do chiến tranh Hannibal gây ra, hơn năm thế kỷ sau viện nguyên lão La Mã đã thúc đẩy sự tiếp nhận Cơ Đốc giáo của Constantine, bằng cách nhận, và chính thức chào mừng, hòn đá phép thuật hay “thiên thạch” từ thiên đàng rơi xuống và được nạp đầy phép màu của thần Cybele, mà họ đã nhập khẩu như một loại bùa từ Pessinus Anatolia. 20 năm sau, họ lại thúc đẩy người Diocletia khủng bố người Thiên Chúa giáo bằng cách diệt trừ vũ điệu ca ngợi thần Bacchanalia của người Hy Lạp. Cuộc chiến dai dẳng giữa các thần là bản sao của cuộc đấu tranh dưới trần thế giữa những nô lệ nhập cư với các chủ nhân người La Mã của họ; và trong cuộc đấu tranh diễn ra song song này, những người nô lệ và thánh thần của họ đều giành chiến thắng.

Nhân tố kích thích của sự trừng phạt còn được minh họa bằng chế độ phân biệt chủng tộc, tiêu biểu là trong hệ thống đẳng cấp của xã hội Ấn Độ giáo. Ở đây chúng ta thấy các chủng tộc, hay các đẳng cấp, khi bị ngăn cấm thực hiện một công việc hay theo một nghề nghiệp nào đó, đã trở nên rất xuất sắc trong một lĩnh vực khác. Tuy nhiên, những người nô lệ nhập cư da đen ở Bắc Mỹ cận đại chính là những người phải chịu sự trừng phạt gấp đôi của chế độ phân biệt chủng tộc và chế độ nô lệ hợp pháp, tựa như một cổ hai tròng. Ngày nay, đã 80 năm sau khi hình phạt thứ hai của họ được tháo bỏ, nhưng hình phạt thứ nhất vẫn đè nặng trên số phận của những người cựu nô lệ da màu. Ở đây không cần thiết phải nhắc lại những vết thương kinh hoàng gây ra bởi những nhà buôn nô lệ và chủ sở hữu nô lệ của thế giới Tây phương, cả người Âu châu lẫn người Mỹ, đối với chủng tộc da đen; điều mà chúng ta muốn khảo sát ở đây - và sau khi phân tích về xã hội Hy Lạp cổ, chắc chắn chúng ta không ngạc nhiên vì điều này - đó là người Mỹ da đen, với tất cả gánh nặng trừng phạt trút lên vai họ trong thế giới này, đã đi tìm một thế giới khác để khuây khỏa.

Người da đen đã đáp trả thách thức ghê gớm của chúng ta bằng một phản ứng tôn giáo có thể so sánh với phản ứng đáp trả của những người nô lệ phương Đông cổ đại trước các chủ nhân La Mã của họ. Thực ra, người da đen không mang theo một tôn giáo sẵn có nào từ Phi châu để thu phục trái tim của các công dân da trắng ở châu Mỹ. Tài sản thừa kế từ xã hội nguyên thủy của họ là một thứ mỏng manh đến nỗi, nó đã bị cuốn phăng trước ngọn gió của nền văn minh Tây phương, ngoại trừ một vài mảnh vụn. Nghĩa là, họ đến châu Mỹ gần như là trần trụi và trắng tay, về cả tinh thần lẫn vật chất, và họ đã che đậy sự trần trụi của mình bằng chiếc áo mà những người chủ nô, chủ của họ, đã vứt bỏ. Người da đen đã tự thích nghi với môi trường xã hội mới bằng cách tái khám phá trong Cơ Đốc giáo những ý nghĩa và giá trị nguyên thủy nhất định mà Cơ Đốc giáo Tây phương đã bỏ quên từ lâu. Mở ra một tư tưởng đơn giản và ấn tượng cho sách Phúc âm, họ đã phát hiện rằng, Chúa Jesus là một đấng tiên tri đến thế giới này không phải để xác nhận vị thế quyền lực của ngài, mà là để tôn vinh sự khiêm tốn và hiền lành. Các nô lệ nhập cư của xã hội Syria xưa kia đã từng du nhập Cơ Đốc giáo vào nước Ý La Mã để tạo nên điều kỳ diệu là lập nên một tôn giáo mới sống trên lãnh địa của một tôn giáo cũ đã chết. Có khả năng những người nô lệ da đen nhập cư đã tái phát hiện Cơ Đốc giáo ở châu Mỹ sẽ thực hiện được phép màu còn vĩ đại hơn, đó là cải tử hoàn sinh cho tôn giáo này. Với trực giác tâm linh của trẻ con và thiên tài trong việc biểu lộ thẩm mỹ tự nhiên về kinh nghiệm tôn giáo của mình, họ có khả năng nhen nhóm lại đống tro tàn lạnh lẽo của Cơ Đốc giáo mà chúng ta đã chuyển cho họ miễn là trong trái tim họ, ngọn lửa linh thiêng còn bùng cháy. Do đó, có thể hình dung là lần thứ hai Cơ Đốc giáo sẽ trở thành niềm tin sống của một nền văn minh đang chết. Nếu phép màu này thực sự được thực hiện bởi một tôn giáo của người Mỹ da đen, thì đó sẽ là phản ứng tích cực nhất đáp trả lại thách thức của những sự trừng phạt xã hội mà con người đã thực hiện trong lịch sử.

Người Phanariot, người Qāzānli và người Cận Đông

Sự trừng phạt xã hội của tầng lớp thống trị tôn giáo đối với một cộng đồng đơn lẻ gần gũi với thực tế đến mức, không cần phải đưa ra ví dụ minh họa. Ai cũng biết phản ứng mãnh liệt của các tín đồ Thanh giáo Anh đối với một thách thức như vậy trong thế kỷ 17: Những người ở lại quê hương, bằng phương tiện đầu tiên là Hội đồng nhân dân và sau đó là quân đội Cromwell, đã thay đổi Hiến pháp Anh từ trong ra ngoài và đảm bảo sự thành công tuyệt đối của chính phủ lập hiến như thế nào, còn những người vượt biển đã thiết lập nền móng của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ ra sao. Sẽ thú vị hơn nếu chúng ta nghiên cứu một số ví dụ ít quen thuộc hơn trong đó giáo phái đàn áp và giáo phái bị trừng phạt thuộc về các nền văn minh khác nhau, mặc dù đã được gộp chung trong một thể xác chính trị thông qua sự cưỡng bức của tầng lớp thống trị.

Trong Đế chế Ottoman, nhánh chính của Cơ Đốc giáo Chính thống đã được cung cấp, bởi sự xâm nhập của tín ngưỡng và văn hóa ngoại lai, một chính quyền trung ương mà xã hội Cơ Đốc Chính thống không thể thiếu song lại không thể tự mình thành lập; và những người Cơ Đốc Chính thống đã phải trả giá cho sự kém cỏi của họ qua việc đánh mất chủ quyền trên chính quê hương mình. Những kẻ chinh phạt Hồi giáo đã thành lập và duy trì chính quyền trung ương Ottoman trong thế giới Cơ Đốc Chính thống để trừng phạt họ, dưới hình thức phân biệt tôn giáo. Và ở đây, như một quy luật tất yếu, các tín đồ của giáo phái bị trừng phạt đã phản ứng lại bằng cách trở thành chuyên gia trong những lĩnh vực hạn chế mà họ được phép hoạt động.

Trong Đế chế Ottoman cổ, ngoài những người Osmanli ra, không ai được phép tham gia chính quyền hoặc sở hữu vũ khí, và trong các lãnh địa rộng lớn của đế chế này, ngay cả quyền sở hữu và cày cấy trên đồng ruộng cũng bị chuyển từ các thần dân Cơ Đốc giáo vào tay các chủ nhân Hồi giáo của họ. Trong hoàn cảnh đó, nhiều người Cơ Đốc giáo Chính thống đã - lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong lịch sử của họ - hình thành một thứ nhận thức vô tình, thậm chí có lẽ là vô ý thức nhưng không kém phần hiệu quả. Giờ đây, họ không còn được tiêu khiển bằng những cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cũng không thể tự do lựa chọn nghề nghiệp, nên họ đã tự phân chia ngầm thành những nhà buôn nhỏ. Và với tư cách tiểu thương, họ dần dần tái chiếm địa vị của mình bên trong những bức tường của thủ phủ vương quốc, nơi họ đã bị trục xuất hàng loạt bởi Kẻ chinh phục - Mehmed. Người Vlach đến từ vùng cao nguyên Rumelia tự khẳng định mình trong thành phố với tư cách những người bán tạp hóa; người Hy Lạp nói tiếng Hy Lạp ở Archipelago và người Hy Lạp nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng nội địa Qaraman thuộc Anatolia buôn bán lớn hơn; người Albani trở thành thợ nề; người Montenegrin làm phục vụ và gác cổng; ngay cả những người Bulgar du mục cũng tìm được sinh kế ở các vùng ngoại ô với tư cách người chăn ngựa và trồng rau quả để bán.

Trong số những người Cơ Đốc Chính thống tái định cư ở Constantinople, có một nhóm người Hy Lạp gọi là người Phanariot, được kích thích bởi thách thức của sự trừng phạt đến độ, họ đã trở thành các cộng sự chính thức và những người thay thế tiềm năng của người Osmanli trong việc cai trị và điều hành đế chế. Vùng đất Phanar - nguồn gốc tên gọi của nhóm người Hy Lạp này - nằm ở góc tây bắc của Stamboul, nơi chính quyền Ottoman đã để mặc cho các thần dân Cơ Đốc Chính thống của nó cư ngụ trong thủ đô như một khu biệt lập. Cái giá phải trả là tòa giáo trưởng của giáo hội Santa Sophia đã bị chuyển thành một đền thờ Hồi giáo, và ẩn bên trong sự thoái lui có vẻ không chút hứa hẹn này, chức giáo trưởng đã trở thành điểm tập kết và là công cụ của những người Cơ Đốc Chính thống Hy Lạp thành đạt trong thương nghiệp. Những người Phanariot này đã đạt được hai thành tựu đặc biệt: Với tư cách là các thương nhân lớn, họ đã thiết lập các mối quan hệ thương mại với thế giới Tây phương và học hỏi được cách cư xử, tập quán và ngôn ngữ của phía đối tác. Với tư cách là người cai quản công việc của Giáo trưởng, họ thu thập được một kiến thức thực tiễn hơn và gần gũi hơn là hệ thống cai trị của Ottoman, vì dưới hệ thống Ottoman cổ, tòa Giáo trưởng là trung gian chính thức về mặt chính trị giữa chính quyền Ottoman với tất cả thần dân Cơ Đốc Chính thống thuộc mọi ngôn ngữ ở tất cả các vùng lãnh thổ. Hai thành tựu này tạo ra cơ hội quý báu cho người Phanariot, khi trong cuộc xung đột trường kỳ giữa Đế chế Ottoman với thế giới Tây phương, thời thế hoàn toàn chống lại người Osmanli sau cuộc vây hãm thành phố Vienna thất bại lần thứ hai vào năm 1682-3.

Sự thay đổi trong cán cân quân sự này đã kéo theo những thay đổi lớn trong phương pháp hoạt động của chính quyền Ottoman. Trước khi gió đổi chiều vào năm 1863, người Osmanli luôn tin tưởng rằng mình có thể áp đặt tôn giáo lên các thế lực phương Tây đơn giản bằng sự áp chế của vũ lực. Sự suy yếu của lực lượng quân sự đặt họ trước hai vấn đề mới. Giờ đây, họ phải thương thảo tại bàn đàm phán với các thế lực Tây phương mà họ đã không thể đánh bại trên chiến trường, và họ phải cân nhắc tới cảm xúc của các thần dân Cơ Đốc giáo, những người mà họ không còn đảm bảo là sẽ khống chế được. Nói cách khác, họ không thể không cần tới những nhà ngoại giao và nhà cầm quyền giỏi với quỹ kinh nghiệm cần thiết, thứ mà bản thân người Osmanli rất thiếu, bởi họ chỉ có một ít vốn kiến thức nghèo nàn sở hữu được từ người Phanariot, một trong số các thần dân của họ. Hệ quả là người Osmanli buộc phải giảm nhẹ những luật lệ và sự can thiệp vào hệ thống cai trị của chính họ qua việc phong cho người Phanariot quyền lực và địa vị thích hợp trong bốn cơ quan cấp cao của chính quyền, vốn là những địa vị then chốt trên bàn cờ chính trị mới của Đế chế Ottoman. Do đó mà trong thế kỷ 18 sau CN, quyền lực chính trị của người Phanariot đã được nâng cao một cách vững vàng, và có vẻ như kết quả của áp lực từ nền văn minh Tây phương sẽ cung cấp cho đế chế này một tầng lớp thống trị mới nổi trong số những nạn nhân của sự trừng phạt về chủng tộc và tôn giáo kéo dài suốt nhiều thế kỷ.

Nhưng cuối cùng, người Phanariot đã thất bại trong việc giành lấy “vận mệnh lịch sử” của mình, vì đến cuối thế kỷ 18, áp lực của Tây phương đối với xã hội Ottoman đã đạt tới cường độ khiến cho trạng thái tự nhiên của nó phải chịu đựng một biến chuyển đột ngột. Người Hy Lạp - vốn là những người đầu tiên trong số các thần dân của Đế chế Ottoman thiết lập các mối quan hệ thân mật với phương Tây - giờ đây cũng là những người đầu tiên bị lây nhiễm dòng siêu vi mới của xã hội Tây phương là chủ nghĩa dân tộc - một hiệu ứng dây chuyền sau cú sốc của cuộc cách mạng Pháp. Từ lúc cách mạng Pháp bùng nổ cho tới cuộc chiến tranh độc lập của Hy Lạp, người Hy Lạp đã phải sống dưới ảnh hưởng của hai tham vọng không thể dung hòa. Họ chưa từ bỏ tham vọng của người Phanariot là kế thừa toàn bộ gia tài của người Osmanli và duy trì Đế chế Ottoman nguyên vẹn dưới sự cai trị của người Hy Lạp; và đồng thời họ cũng khao khát thành lập một quốc gia độc lập có chủ quyền của riêng mình, một nước Hy Lạp của người Hy Lạp như nước Pháp của người Pháp. Sự mâu thuẫn giữa hai tham vọng này đã được bộc lộ rõ vào năm 1821, khi người Hy Lạp cố gắng đồng thời thực hiện cả hai.

Khi Hoàng tử Hypsilanti của người Phanariot vượt dãy Pruth từ căn cứ của ông ở Nga để độc chiếm Đế chế Ottoman và Maniot chief Petro Bey Mavromikhailis hỏa tốc tiến binh từ vùng núi của mình tới Morea để thành lập một nước Hy Lạp độc lập, kết quả cuối cùng là một thất bại đã được dự báo trước. Việc vận dụng đến vũ khí đánh dấu sự phá sản các tham vọng của người Phanariot. Mũi tên bén nhọn mà người Osmanli đã dựa dẫm trong hơn một thế kỷ qua đã đâm thủng tay họ, và cơn thịnh nộ vì bị phản bội đã truyền cho họ sức mạnh để đập tan hàng ngũ những kẻ soán ngôi ra thành từng mảnh. Người Osmanli đã đáp trả hành động gây chiến của hoàng tử Hypsilanti bằng cách tiêu diệt trong nháy mắt công trình quyền lực mà người Phanariot đã xây dựng nên trong hòa bình kể từ năm 1683; và cuộc chiến này là bước đầu tiên trong việc tiêu diệt tất cả những yếu tố ngoài Thổ Nhĩ Kỳ trong những gì còn lại của Đế chế Ottoman - nó lên đến đỉnh điểm trong cuộc truất phế quyền cai trị của người Cơ Đốc Chính thống ở Anatolia vào năm 1922. Thực tế là, sự bùng phát đầu tiên của chủ nghĩa dân tộc Hy Lạp đã khơi mào cho ngọn lửa tương tự trong lòng người Thổ Nhĩ Kỳ.

Như vậy là, sau rốt người Phanariot đã thất bại trong việc giành “quyền làm chủ” trong Đế chế Ottoman tưởng chừng như đã định sẵn cho họ. Dù vậy, một sự thật không thể chối cãi là họ đã đến rất gần thành công, đó là bằng chứng của sức sống mạnh mẽ đã giúp họ đáp trả thách thức của sự trừng phạt. Thực vậy, lịch sử mối quan hệ của họ với người Osmanli là một minh họa tuyệt vời cho “quy luật” thách thức và đáp trả của xã hội; và sự mâu thuẫn giữa người Hy Lạp và người Thổ, vốn đã lôi kéo rất nhiều sự quan tâm và kích động rất nhiều thù hận, chỉ có thể giải thích bằng khái niệm này chứ không phải bằng khái niệm chủng tộc và tôn giáo vẫn hay được vận dụng trong các cuộc tranh luận. Các Turcophil và Graecophil đều đồng ý trong việc quy các khác biệt lịch sử về đặc điểm những người Cơ Đốc giáo Hy Lạp với những người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ cho một đặc tính không thể xóa bỏ nào đó về chủng tộc hoặc một dấu vết không thể gột rửa về tôn giáo. Họ chỉ bất đồng trong việc nghịch đảo các giá trị xã hội mà họ gán cho những đại lượng chưa biết trong cả hai trường hợp. Graecophil công nhận một đức tính bẩm sinh trong dòng máu Hy Lạp cũng như trong cộng đồng Cơ Đốc Chính thống và một sự xấu xa bẩm sinh trong dòng máu của người Thổ và trong cộng đồng Hồi giáo. Còn Turcophil chỉ đơn giản đổi chỗ đức hạnh và sự xấu xa. Thực ra chúng đều mâu thuẫn với thực tế.

Cụ thể, về chủng tộc tự nhiên, rõ ràng không thể phủ nhận rằng, dòng máu của những người Thổ ở Trung Á đi theo Ertoghrul xưa kia, tức là dòng máu đang chảy trong huyết quản của người Thổ Nhĩ Kỳ cận đại chẳng có gì là khác thường. Người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đã phát triển quốc gia bằng cách đồng hóa dân chúng của Cơ Đốc Chính thống và người Osmanli đã chung sống với họ trong sáu thế kỷ cuối. Đến thời điểm cuối cùng, chắc chắn là có rất ít sự khác biệt giữa hai dân tộc.

Nếu đã thẳng thừng bác bỏ thuyết chủng tộc nói trên trong việc giải thích sự tương phản giữa người Hy Lạp và người Thổ, thì chúng ta cũng có thể bác bỏ thuyết tôn giáo qua việc khảo sát một cộng đồng người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang còn sống, và đã sống rất lâu, trong những hoàn cảnh tương tự, không phải người Thổ Ottoman mà là những người “Osmanli”, nguyên là thần dân Cơ Đốc Chính thống người Hy Lạp. Trên sông Volga có một cộng đồng Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ gọi là Qāzānli, những người này đã thần phục chính quyền Cơ Đốc Chính thống ở Nga, và đã phải chịu đựng sự trừng phạt về chủng tộc và tôn giáo dưới chế độ xa lạ đó như những người Osmanli đã gây ra cho người Cơ Đốc Chính thống. Vậy những người Qāzānli này như thế nào? Chúng ta đọc được rằng họ “nổi bật bởi sự điềm tĩnh, trung thực, cần kiệm và siêng năng. … Người Thổ Qāzān chủ yếu dựa vào thương mại. … Những ngành nghề chính của họ là nấu xà phòng, xe tơ và dệt vải. … Họ có thể làm tốt công việc của thợ đóng giày và đánh xe ngựa. … Đến cuối thế kỷ 16, vẫn chưa có đền thờ Hồi giáo nào ở Qāzān và người Tatar bị buộc phải sống trong một góc biệt lập, thế nhưng ưu thế của Hồi giáo vẫn dần dần được khẳng định”.[16]

Về cơ bản, cách diễn giải việc người Thổ bị người Nga trừng phạt vào thời Sa Hoàng cũng có thể sử dụng để lý giải việc người Cơ Đốc Chính thống bị người Thổ trừng phạt vào thời hoàng kim của Đế chế Ottoman. Lý do chung bị trừng phạt về tôn giáo là nhân tố chủ đạo trong sự phát triển của cả hai cộng đồng; và trong nhiều thế kỷ, phản ứng đồng nhất của họ đối với thử thách chung này đã làm phát sinh bên trong họ “sự hao hao giống”, hoàn toàn làm lu mờ sự phân biệt giữa các vết tích nguyên thủy của Cơ Đốc giáo Chính thống với Hồi giáo.

“Sự hao hao giống” này được chia sẻ bởi các tín đồ của những giáo phái tôn giáo nhất định, những người bị trừng phạt do tín ngưỡng tôn giáo của họ và đã phản ứng đáp trả theo cùng một cách, chẳng hạn như những người Thiên Chúa giáo La Mã “Cận Đông” trong lòng Đế chế Ottoman cũ. Những người Cận Đông, cũng như người Phanariot, vốn có thể thoát khỏi sự trừng phạt bằng cách từ bỏ tôn giáo của họ và gia nhập tôn giáo của chủ nhân họ. Tuy nhiên, rất ít người chọn con đường này; thay vì vậy, cũng như người Phanariot, họ tận dụng tối đa những cơ hội còn để ngỏ của mình, và trong khi thực hiện điều này, họ đã thể hiện sự kết hợp kỳ lạ và khó ưa giữa sự cứng rắn trong cá tính và sự khúm núm trong kiểu cách bên ngoài, dường như đó là đặc tính chung của tất cả các nhóm xã hội bị đặt trong hoàn cảnh này. Chẳng có gì là khác biệt cả, cho dù người Cận Đông có thể là hậu duệ tự nhiên của một trong những dân tộc hiếu chiến, hống hách và giàu nghị lực nhất trong số các dân tộc thuộc xã hội Cơ Đốc Chính thống như người Venice và Genoa thời trung cổ hay người Pháp, Hà Lan và Anh thời cận đại. Trong bầu không khí ngột ngạt của khu vực biệt lập Ottoman, họ buộc phải hoặc là đáp trả thách thức của sự trừng phạt tôn giáo giống như các nạn nhân Phanariot của họ, hoặc là chết.

Trong những thế kỷ đầu cai trị, người Osmanli chỉ biết đến những người thuộc xã hội Cơ Đốc Tây phương - người Frank, theo cách gọi của người Osmanli - thông qua các đại diện Cận đông của họ, và cho rằng toàn bộ Tây Âu đều là chỗ cư ngụ của những kẻ thuộc về “nòi giống thấp kém không có luật pháp”. Một kinh nghiệm khiến họ sửa chữa lại quan điểm của mình, và người Osmanli bèn vẽ ra một đường ranh phân biệt rõ ràng giữa “người Frank nước ngọt” và “người Frank nước mặn”. “Người Frank nước ngọt” là những người được sinh ra và lớn lên ở Thổ Nhĩ Kỳ dưới bầu không khí Cận Đông và đã phản ứng bằng cách phát triển cá tính Cận Đông. Còn “người Frank nước mặn” là những người được sinh ra và lớn lên ở quê nhà - “đất của người Frank” - và đến Thổ Nhĩ Kỳ khi họ đã lớn với cá tính đã định hình. Người Thổ đã tỏ ra bối rối khi phát hiện rằng, cái hố sâu tâm lý khổng lồ chia rẽ họ với những “người Frank nước ngọt” vẫn chung sống với họ lại không xuất hiện khi họ gặp những người Frank ở bên kia đại dương. Những người Frank là láng giềng và đồng bào với họ về mặt địa lý lại xa lạ về tâm lý, trong khi những người Frank đến từ một xứ sở xa xôi lại có cùng cảm xúc với họ. Nhưng sự lý giải thực ra rất đơn giản. Sở dĩ người Thổ và người Frank nước mặn có thể hiểu nhau là vì có một sự tương đồng lớn giữa các nền tảng xã hội của họ. Cả hai đều trưởng thành trong một môi trường mà họ làm chủ lãnh địa của chính họ. Trái lại, cả hai đều thấy khó hiểu hoặc khó tôn trọng được người Frank nước ngọt vì người Frank nước ngọt có nền tảng xã hội rất xa lạ đối với cả hai. Những người này không phải là con của chủ nhà mà chỉ là những đứa trẻ sống tạm bợ trong khu biệt lập, và sự trừng phạt mà họ phải gánh chịu đã phát triển trong con người họ một đặc điểm mà cả người Frank đến từ “đất người Frank” lẫn người Thổ lớn lên ở Thổ Nhĩ Kỳ đều không có.

Người Do Thái

Đến giờ chúng ta đã nhận thấy, mà không cần phải trao đổi dài dòng nữa, những kết quả của sự phân biệt tôn giáo trong trường hợp những nạn nhân của sự trừng phạt thuộc về cùng một xã hội với những kẻ đàn áp. Những người theo Thanh giáo ở Anh quốc là một trong những ví dụ quen thuộc nhất; và chúng ta đã bàn về những ví dụ chi tiết hơn là lịch sử của Đế chế Ottoman để minh họa cho trường hợp những nạn nhân bị phân biệt tôn giáo thuộc về một nền văn minh khác với những kẻ thủ ác. Hiện giờ vẫn còn lại trường hợp các nạn nhân phân biệt tôn giáo đại diện cho một xã hội đã lụi tàn chỉ tồn tại như một thứ hóa thạch cổ. Một danh sách các hóa thạch như thế đã được giới thiệu ở phần trước (xem trang 8), và tất cả chúng đều minh họa cho kết quả của những sự trừng phạt như vậy; nhưng đến giờ phút này thì đáng chú ý nhất là một trong những tàn tích của xã hội Syria cổ, đó là dân tộc Do Thái. Trước khi chuyển sang khảo sát theo phương pháp tỉ mỉ và chi tiết, mà đến nay kết quả của nó vẫn chưa đạt được,[17] chúng ta có thể nhận thấy rằng một tàn tích khác của xã hội Syria cổ - người Parsee - đã đóng cùng vai trò như người Do Thái trong xã hội Ấn giáo, cũng phát triển những chuyên môn rất tương đồng trong thương mại và tài chính; và một tàn tích nữa của xã hội Syria cổ - người Armenia Gregorian Monophysite - đóng vai trò rất tương tự trong thế giới Hồi giáo.

Người Do Thái vốn đã rất nổi tiếng với đặc điểm cá tính của dân tộc mình khi phải sống dưới sự trừng phạt. Điều mà chúng ta quan tâm tìm hiểu ở đây là, liệu những phẩm chất đó có phải, như thường được cho là do “chất Do Thái” của người Do Thái, dưới góc độ chủng tộc hoặc tôn giáo, hay đơn giản chỉ được sản sinh ra dưới ảnh hưởng của sự trừng phạt. Những kết luận đã được rút ra từ những ví dụ trước có thể làm chúng ta nghiêng về quan điểm thứ hai, nhưng chúng ta vẫn sẽ tiếp cận chứng cứ với một quan điểm mở. Chứng cứ có thể được kiểm nghiệm theo hai cách. Chúng ta có thể so sánh những đặc tính được người Do Thái thể hiện khi họ bị trừng phạt trên địa hạt tôn giáo của họ với những đặc tính mà họ thể hiện khi sự trừng phạt được nới lỏng và hoàn toàn miễn xá. Chúng ta cũng có thể so sánh các đặc tính của những người Do Thái đang hoặc đã từng bị trừng phạt với những cộng đồng Do Thái khác chưa bao giờ tiếp xúc với nhân tố kích thích của sự trừng phạt.

Hiện nay, những người Do Thái thể hiện những đặc tính nổi tiếng và nổi bật nhất thường được gọi là Jewish, họ được đại đa số những người ngoại đạo coi là tượng đài của Do Thái giáo. Đó là người Do Thái Ashkenazi ở Đông Âu, Rumania và những lãnh thổ lân cận đã từng được gộp vào cái gọi là “hàng rào Do Thái” trong đế quốc Nga. Những người Do Thái này vẫn bị giam cầm về mặt đạo lý, nếu không phải là pháp lý, trong vùng biệt lập đằng sau những quốc gia Cơ Đốc giáo. Đặc điểm của người Do Thái Đông Âu vốn đã dễ nhận biết so với các cộng đồng Do Thái ở Hà Lan, Anh, Pháp và Hoa Kỳ; và khi chúng ta xét tới khoảng thời gian rất ngắn kể từ khi người Do Thái ở các quốc gia nói trên được giải phóng hợp pháp, và khoảng thời gian rất dài trong tương lai để họ được hoàn toàn giải phóng về mặt tinh thần, ngay cả ở những quốc gia tương đối tiến bộ ở phương Tây, chúng ta sẽ không thể xem nhẹ tầm quan trọng của sự thay đổi đặc tính vốn đã rõ ràng ấy.[18]

Chúng ta còn có thể nhận xét rằng, trong số những người Do Thái đã được giải phóng ở phương Tây, những người Ashkenazi đến từ khu vực hàng rào Do Thái vẫn bộc lộ nhiều “chất Do Thái” hơn so với cộng đồng ít ỏi người Sephardi sống lẫn trong chúng ta vốn bắt nguồn từ Dar-al-Islam; và chúng ta có thể giải thích điểm khác biệt này bằng cách tự nhắc nhở mình về tính đa dạng trong lịch sử của hai cộng đồng người Do Thái nói trên.

Người Ashkenazi là hậu duệ của những người Do Thái đã lợi dụng việc người La Mã mở ra châu Âu để chiếm độc quyền trong công việc buôn bán lẻ ở những vùng lãnh thổ “bán khai” bên kia dãy Alps. Kể từ sự sụp đổ của Đế chế La Mã, những người Ashkenazi này đã phải chịu đựng tai ương kép gây ra do sự cuồng tín của Giáo hội Cơ Đốc giáo và từ sự oán hận của người rợ. Người rợ không thể nào chịu đựng được khi chứng kiến những cư dân thuộc một chủng tộc xa lạ sống tách biệt và thu lợi bằng cách tiến hành công việc kinh doanh mà bản thân họ không có đủ kỹ năng để thực hiện. Cũng hành động dựa trên những cảm xúc tương tự, người Cơ Đốc Tây phương đã trừng phạt người Do Thái khi nào dân tộc này còn giữ tầm quan trọng thiết yếu đối với mình, và trục xuất họ ngay khi cảm thấy có thể đứng vững mà không cần tới họ nữa. Vì vậy, sự bành trướng của xã hội Cơ Đốc Tây phương được phụ họa bởi một cuộc trôi dạt về phía đông của người Ashkenazi từ những khu vực biên giới cổ xưa của Đế chế La Mã ở lưu vực sông Rhine đến vùng biên giới cận đại của xã hội Cơ Đốc Tây phương được gọi là “hàng rào Do Thái”. Trong cuộc bành trướng trong lòng xã hội Cơ Đốc Tây phương, người Do Thái đã bị trục xuất khỏi hết quốc gia này tới quốc gia khác khi người Tây phương đạt đến một trình độ thương mại nhất định. Chẳng hạn như họ đã bị Edward I (1272-1307) trục xuất ra khỏi nước Anh - trong khi đó lại được chấp nhận, thậm chí là chào đón ở hết nước này tới nước khác khi tiến về vùng rìa lục địa, vốn đang trong giai đoạn đầu của quá trình Tây phương hóa, với tư cách là những người tiên phong trong lĩnh vực thương mại, để rồi sau đó lại bị trừng phạt và cuối cùng là trục xuất một lần nữa ngay khi họ lại để tuột mất vị trí thiết yếu trong đời sống thương mại của tổ ấm tạm thời của mình.

Đến vùng hàng rào, cuộc di cư kéo dài từ tây sang đông của người Do Thái Ashkenazi đã phải dừng lại và nỗi thống khổ của họ đạt tới đỉnh điểm; vì đây là giao điểm của xã hội Cơ Đốc Tây phương và Cơ Đốc Chính thống Nga, người Do Thái lâm vào cảnh một cổ hai tròng. Trong tình hình đó, khi họ tìm cách di cư tiếp về phía đông, họ lập tức bị “nước Nga linh thiêng” cản đường. Tuy nhiên, may mắn cho những người Ashkenazi là đến thời điểm này những quốc gia đầu tàu của phương Tây, cũng là những kẻ đầu tiên trục xuất người Do Thái trong thời Trung cổ, đã phát triển tới một trình độ thương mại khiến họ không còn lo sợ sự cạnh tranh từ người Do Thái nữa, chẳng hạn như họ đã được Cromwell (1653-58) nhận lại vào nước Anh. Sự giải phóng người Do Thái ở phương Tây diễn ra vừa đúng lúc để cung cấp cho người Ashkenazi ở khu vực hàng rào một lối thoát mới về phía tây, khi cuộc trôi dạt về phía đông trước đó của họ đã bị chận lại bởi bức tường là đường biên giới phía tây của “nước Nga linh thiêng”. Trong thế kỷ trước, dòng chảy di dân của người Ashkenazi đã đảo theo hướng từ đông sang tây: từ hàng rào Do Thái vào nước Anh rồi sang Hoa Kỳ. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu, với những tiền đề này, những người Ashkenazi mà dòng di dân đảo chiều đã cư trú trong cộng đồng chúng ta sẽ biểu hiện cái gọi là “đặc trưng của chất Do Thái” một cách rõ ràng hơn so với những người đồng đạo Sephardi sinh sống ở những khu vực dễ dàng hơn.

Sự kém rõ nét của “chất Do Thái” mà chúng ta nhận thấy ở những người Sephardi nhập cư từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được giải thích bằng các tổ tiên của người Sephardi ở Dar-al-Islam. Các nhóm đại diện tiêu biểu của những người Do Thái đã phân tán ở Ba Tư và trong các vùng lãnh thổ của Đế chế La Mã sau cùng rơi vào tay người Ả Rập, cảm thấy mình có được một vị trí tương đối hạnh phúc. Hoàn cảnh sống của họ dưới vương triều Abbasid chắc chắn là không tệ hơn so với những người Do Thái ở các nước phương Tây, nơi mà ngày nay họ đã được giải phóng. Tai ương lịch sử của người Sephardi là sự chuyển dịch dần dần bán đảo Iberia từ tay người Ma Rốc sang tay người Cơ Đốc Tây phương được hoàn tất vào cuối thế kỷ 15. Họ bị những kẻ chinh phục Cơ Đốc giáo đặt trước ba khả năng lựa chọn: bị tiêu diệt, bị trục xuất, hoặc phải thay đổi. Chúng ta hãy thử xem tình trạng về sau của những người Sephardi, những người đã theo một trong hai cách lựa chọn để bảo toàn tính mạng và hậu duệ của họ vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Những người chọn con đường ra đi tìm thấy tổ ấm ngay giữa các kẻ thù ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha: ở Hà Lan, ở Thổ Nhĩ Kỳ hoặc ở Tuscany.[19] Những người chọn Thổ Nhĩ Kỳ được khuyến khích bởi những người bảo hộ Osmanli đến cư trú ở Constantinople, Salonica và những khu vực thành thị nhỏ hơn của Rumili để lấp đầy khoảng trống để lại bởi sự trục xuất hoặc diệt vong của tầng lớp Hy Lạp trung lưu trước đó. Trong hoàn cảnh thuận lợi này, người Sephardi tị nạn ở Đế chế Ottoman có thể chuyên môn hóa và phát đạt trong ngành thương mại mà không phải trả cái giá là thay đổi tính cách của mình như người Ashkenazi.

Còn đối với người Marrano - những người Do Thái Iberia đã chấp nhận cải đạo theo Cơ Đốc giáo từ bốn hoặc năm thế kỷ trước - những đặc điểm Do Thái của họ đã mờ nhạt đến mức không còn nhận thấy được nữa. Có đầy đủ lý do để tin rằng ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay có một phần đáng kể dòng máu của những người Do Thái cải đạo chảy trong huyết mạch của người Iberia, đặc biệt là trong các tầng lớp thượng và trung lưu. Dù vậy, ngay cả các nhà phân tâm học nhạy bén nhất cũng thấy khó lòng phát hiện được những ai có tổ tiên là người Do Thái, nếu họ nghiên cứu các điển hình tầng lớp thượng và trung lưu của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Trong thời cận đại, một nhóm người Do Thái được giải phóng ở phương Tây đã tìm cách hoàn tất sự giải phóng cho cộng đồng mình bằng cách cung cấp cho nó một hình thái quốc gia theo kiểu phương Tây. Mục tiêu tối hậu của những người Do Thái theo tư tưởng phục quốc (gọi tắt là người Do Thái phục quốc) là giải phóng người Do Thái khỏi trạng thái tâm lý đặc biệt phức tạp vốn là kết quả của nhiều thế kỷ bị trừng phạt; và mục tiêu tối hậu này của người Do Thái phục quốc cũng tương đồng với trường phái tư tưởng Do Thái kình địch với họ. Những người Do Thái phục quốc đồng ý với những người Do Thái đồng hóa về ước muốn giải thoát người Do Thái khỏi trạng thái những “người đặc biệt”. Tuy nhiên họ bất đồng với phương pháp luận của người Do Thái đồng hóa, mà họ cho là không thích hợp.

Ý tưởng của những người Do Thái đồng hóa là người Do Thái ở Hà Lan, Anh hoặc Mỹ nên đơn giản trở thành người Hà Lan, người Anh, hoặc người Mỹ “theo Do Thái giáo”. Họ biện luận rằng, chẳng có lý do gì một công dân gốc Do Thái sống trong một quốc gia tiến bộ lại không thể trở thành một công dân hoàn toàn mãn nguyện và hòa đồng với dân tộc đó chỉ vì anh ta đến giáo đường Do Thái vào thứ bảy thay vì đi nhà thờ vào chủ nhật. Đối với luận điểm này, những người Do Thái phục quốc đưa ra hai lập luận đáp trả. Thứ nhất họ chỉ ra rằng, ngay cả khi phương pháp luận của những người Do Thái đồng hóa có khả năng đưa tới kết quả như họ khẳng định, thì nó cũng chỉ khả dĩ ở những quốc gia tiến bộ, và những công dân Do Thái may mắn được ở đó chỉ là một bộ phận của thế giới Do Thái mà thôi. Thứ hai, họ tranh luận rằng, ngay cả với những điều kiện thuận lợi nhất, thì vấn đề của người Do Thái vẫn không thể được giải quyết theo cách này vì một người Do Thái không chỉ là một người “theo Do Thái giáo”. Dưới mắt những người Do Thái phục quốc, một người Do Thái cố gắng tự thay đổi thành một người Hà Lan, một người Anh hoặc một người Mỹ chẳng khác gì cắt bỏ cá tính Do Thái của anh ta, trong khi không có bất kỳ hy vọng nào để đạt đến cá tính đầy đủ của một người Hà Lan hay bất kỳ một dân tộc ngoại đạo nào khác mà anh ta có thể chọn. Vì vậy, những người Do Thái phục quốc cho rằng, nếu muốn người Do Thái có thể “ngang hàng với các dân tộc khác”, thì tiến trình đồng hóa phải được thực hiện ở tầm cỡ dân tộc chứ không phải ở những cá thể cơ bản. Thay vì các cá nhân người Do Thái tự nỗ lực đồng hóa bản thân mình thành một cá nhân người Anh hoặc người Hà Lan, thì dân tộc Do Thái phải đồng hóa nó với dân tộc Anh hoặc dân tộc Hà Lan bằng cách chiếm hoặc tái chiếm một quốc gia quê hương nơi những người Do Thái - giống như người Anh ở nước Anh - sẽ tự làm chủ quê hương mình.

Mặc dù luận điểm của những người Do Thái phục quốc chỉ mới ra đời cách nay nửa thế kỷ, song triết lý xã hội của nó đã được thỏa mãn bởi những thành quả. Trong những khu định cư nông nghiệp của người Do Thái ở Palestine, những đứa con của vùng biệt lập đã thoát ly khỏi mọi đặc điểm cũ và trở thành những người tiên phong của tầng lớp nông dân biểu hiện rất nhiều đặc điểm của những kẻ thực dân ngoại đạo. Rủi ro đáng buồn của thí nghiệm là sự thất bại trong việc hòa giải với các cư dân Ả Rập đã có mặt từ trước trên vùng lãnh thổ này.

Chúng ta còn phải ghi nhận sự hiện diện của một vài nhóm người Do Thái ít được biết đến, đã thoát khỏi sự trừng phạt kéo dài suốt lịch sử của họ bằng cách rút lui đến những vùng đất “vững chắc” xa xôi hẻo lánh, nơi họ hoàn toàn trở thành những người nông dân cứng cáp hoặc thậm chí là những người sinh sống trên cao nguyên hoang dã. Ví dụ như những người Do Thái sống ở Yaman ở góc tây nam bán đảo Ả Rập, Falasha ở Abyssinia, những người Do Thái sống trên cao nguyên Caucasus và những người Do Thái nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ ở Krimchaks thuộc Crimea. 

❀ ❀ ❀

[1] Trích Herodotus, cuốn IV, chương 144.

[2] Trích Polybius, cuốn IV, chương 38.

[3] Herodotus, cuốn II, trang 104, và Cuốn VII, trang 89.

[4] Trích: Các vì vua III. 5-13.

[5] Đó là các vị Rosebery, Balfour, Campbell-Bannerman và MacDonald; và có thể bổ sung thêm một vị nữa là Bonar Law - thành viên của một gia đình có dòng máu pha trộn Scotland-Ireland và được sinh ra ở Canada, nhưng mẹ ông là người Scot thuần chủng và ông đã chọn quê hương là Glasgow. Như vậy là năm vị. Trong khi đó có bảy vị Thủ tướng không phải người Scot. (Người biên tập)

[6] Thư gửi Titus, i. 12. Tác giả của câu nói được chép là Epimenides.

[7] Trích Grösnbech, V.: Nền văn minh Teuton, Pt. II, trang 306-7.

[8] Trích Phillpotts, B.S: Edda cũ và kịch nghệ của người Scandinavia cổ, trang 204.

[9] Trích Phillpotts, B.S: Edda cũ, trang 207.

[10] Tác giả Toynbee viết phần này của cuốn sách trong mùa hè năm 1931, khi TS. Brüning vẫn còn làm Thủ tướng Đức, nhưng sau khi Đảng Phát-xít đạt được thành công gây xôn xao dư luận và trở nên đáng lo ngại trong cuộc tổng tuyển cử Reichstag vào tháng 9/1930, họ đã gia tăng số ghế của mình trong Quốc hội từ 12/491 lên 107/577. Ông đã viết: “Đây là bằng chứng rõ ràng, chứng tỏ những tai ương đổ xuống đầu nước Đức từ thỏa ước đình chiến năm 1918 đã gây ra tác động kích thích tương tự với những tai ương đã xảy ra với nước Phổ trước đó một thế kỷ từ năm 1806-7”. (Người biên tập)

[11] Luân Đôn sau cuộc đại hỏa hoạn năm 1666 cũng đã có hành động dũng cảm tương tự khi từ bỏ kiến trúc đương thời và xây dựng nhà thờ Thánh Paul thay vì cố gắng khôi phục lại kiến trúc Gothic. Người Luân Đôn thế hệ chúng ta hiện nay sẽ làm gì nếu tu viện Westminster hoặc nhà thờ Thánh Paul bị hủy diệt bởi bom đạn của người Đức? (Người biên tập)

[12] Trong bản in là “Anh” chứ không phải “Ai Cập”. Không rõ đây có phải lỗi không. (chú thích của người làm ebook)

[13] Thực ra nghĩa của từ “Cossack” trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ có vẻ giống với nghĩa của từ “Tory” trong tiếng Ireland hơn. Nhưng về mặt chữ nghĩa, từ qazsq mang nghĩa của “kẻ đào bới”, nghĩa là một người làm ruộng trên đất ở rìa thảo nguyên, một kẻ ương ngạnh chống lại quyền thống trị của người du mục. Nói cách khác, qazaq chính là nhân vật Cain trong câu chuyện về Cain và Abel - một câu chuyện được kể theo quan điểm của người du mục.

[14] “Một đường dây chiến thắng đã được nối dài thêm trên nghìn dặm từ vùng đá sỏi Gibraltar đến tận bờ sông Loire; một sự lặp lại vùng không gian này có thể đã đưa người Saracen đến biên giới Ba Lan và các cao nguyên của Scotland… Rất có thể giờ đây các bản dịch kinh Koran đang được dạy ở các trường học ở Oxford, và các nhà truyền giáo của nó có thể đang giảng giải cho mọi người tính linh thiêng và chân thực của đấng tiên tri Mahomet”.

[15] Horace: Odes, IV, ix (Vixere fortes, &c.), De Vere dịch.

[16] Trích Bộ Hải quân Anh: Sổ tay về người Turania và chủ nghĩa Turania toàn cầu, tr. 181-4.

[17] Tác giả Toynbee viết phần này của cuốn sách trước khi cuộc khủng bố người Do Thái của chủ nghĩa Phát-xít mở ra một chương mới khủng khiếp hơn của câu chuyện; vì vậy nên chương đó không được dành chỗ trong những phần tiếp theo. (Người biên tập)

[18] Với tư cách là một giáo sư, tôi (người biên tập) có thể đưa ra nhận xét rằng mình đã nhiều lần nhận thấy các cậu thiếu niên người Do Thái mà tôi đã giảng dạy rất giỏi trong các môn thể dục thể thao, và rất được bạn đồng học tôn trọng, thể hiện ít “chất Do Thái” hơn so với những cậu bé Do Thái kém may mắn khác. Những cậu bé “ngoại đạo” bình thường đơn giản không còn xem họ là người Do Thái nữa, bất chấp diện mạo và tên họ của họ. (Người biên tập)

[19] Người Israel thường tự coi mình là hậu duệ của một trong những cộng đồng sống sót này, và có lẽ điều đó là đúng, mặc dù sự giải thích lịch sử dòng dõi của họ rất giàu tính tưởng tượng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.