Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 121 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VI. ƯU ĐIỂM CỦA NGHỊCH CẢNH[24]

❊ ❊ ❊

Một thử nghiệm chính xác

Chúng ta đã phủ nhận quan điểm phổ biến cho rằng, các nền văn minh xuất hiện khi môi trường cung cấp điều kiện sống dễ dàng hơn bình thường và đề xuất một luận điểm hoàn toàn trái ngược. Quan điểm phổ biến nói trên nảy sinh từ thực tế là một nhà quan sát hiện đại khi theo dõi một nền văn minh như Ai Cập cổ - và theo ngữ cảnh này thì người Hy Lạp cổ cũng “hiện đại” như chính chúng ta - cứ chăm chú vào vùng lãnh thổ do con người đã tạo ra, và cho rằng nó vẫn giữ nguyên như vậy từ khi những người tiên phong tới khai phá. Chúng ta đã cố gắng vẽ ra dáng vẻ của vùng thung lũng hạ sông Nile khi những người khai phá lần đầu tiên đặt chân đến đó bằng cách cung cấp một bức tranh về một số khu vực cụ thể của vùng thung lũng thượng sông Nile ngày nay. Nhưng sự khác biệt về vị trí địa lý có thể khiến cho ví dụ minh họa của chúng ta không hoàn toàn thuyết phục, và trong phần này chúng ta sẽ quay trở lại khảo sát những địa điểm mà một nền văn minh đã thành công rồi sau đó lại thất bại tại cùng vị trí đó, và những quốc gia, như Ai Cập chẳng hạn, đã quay trở lại với điều kiện tự nhiên ban sơ của nó.

Trung Mỹ

Vùng lãnh thổ mà xưa kia là cái nôi của nền văn minh Maya là một ví dụ đáng chú ý. Tại đây, chúng ta tìm thấy những công trình kiến trúc hoành tráng và nguy nga giờ đây là những di tích đổ nát đang ẩn mình trong rừng già nhiệt đới, tách biệt với mọi thế giới hiện đại. Rừng già, như một con trăn khổng lồ phàm ăn, đã dần dần nuốt chửng và giờ đây đang nhàn hạ tiêu hóa chúng, bẩy tung các phiến đá bằng những rễ cây và dây leo của nó. Sự tương phản giữa dáng vẻ hiện nay của vùng đất này và dáng vẻ của nó thời nền văn minh Maya lớn đến nỗi, hầu như vượt qua mọi khả năng tưởng tượng. Chắc hẳn đã có một thời những công trình công cộng hùng vĩ này đứng hiên ngang giữa trung tâm của những thành phố lớn và đông đúc, và các thành phố này thì nằm ngay chính giữa những vùng đất trồng trọt rộng lớn. Sự lụi tàn nhanh chóng của những thành tựu và tính phù phiếm trong những mong ước vô tận của con người đã bị vạch trần một cách đau đớn bởi sự tái xâm lấn của rừng già, nhấn chìm trước tiên là những cánh đồng, sau đó là những ngôi nhà và cuối cùng là các cung điện và đền đài. Dù vậy, đó vẫn chưa phải là bài học đáng kể nhất để nghiên cứu so với tình trạng hiện nay của Copán, Tikal hoặc Palenque. Các tàn tích ở đây lên tiếng còn mạnh mẽ hơn cuộc đấu tranh với môi trường tự nhiên mà những người sáng lập nền văn minh Maya đã phải trải qua vào thời của họ. Qua cuộc phục thù bộc lộ tất cả sức mạnh khủng khiếp của nó, thiên nhiên miền nhiệt đới đã xác nhận lòng dũng cảm và sức mạnh của những con người đã từng, dù chỉ trong một thời gian ngắn, thành công trong việc đẩy lùi và khống chế nó.

Ceylon (xứ Sri Lanka ngày nay)

Kỳ công không kém phần gian khổ trong việc chinh phục những vùng đồng bằng khô nẻ của Ceylon để trồng trọt được tưởng nhớ qua những con đập nhô cao khỏi mặt nước và những cái đế quá khổ của những bồn chứa nước khổng lồ từng được xây dựng ở phía có mưa của vùng đất đồi núi này, bởi những người Sinhal cải đạo sang Hīnayāna.

“Nên biết rằng những bồn chứa như thế đã trở thành thứ nhất thiết phải được biết đến trong lịch sử của Lanka. Ý tưởng đằng sau hệ thống này tuy rất đơn giản nhưng thật vĩ đại. Các vị vua đã cho xây dựng những bồn chứa này muốn rằng, không một giọt mưa nào rơi xuống vùng núi non này có thể chảy ra biển mà không phục vụ con người.

Chính giữa nửa phía nam của Ceylon là một khu vực núi non rộng lớn, nhưng về phía đông và phía bắc là các đồng bằng khô cằn che phủ hàng nghìn dặm vuông, và vào thời bấy giờ rất thưa thớt dân cư. Vào mùa mưa, khi những đám mây giông vần vũ từ ngày này sang ngày khác phô trương sức mạnh của chúng trên các ngọn đồi, có một đường ranh giới tự nhiên mà mưa không thể vượt qua được. … Có những điểm mà đường ranh giới phân chia hai khu vực có mưa và khô cằn thu hẹp lại đến mức chỉ trong vòng một dặm mà ta tưởng như mình đã bước sang một xứ sở khác. … Đường ranh giới này uốn cong nối liền hai vùng biển, vẫn ổn định và không bị tác động bởi những hoạt động của con người, chẳng hạn như việc khai phá rừng”.[1]

Dù vậy, những người truyền giáo của nền văn minh Ấn Độ cổ ở Ceylon đã thành công trong việc chế ngự thiên nhiên khi bắt các cao nguyên có mưa này phải cung cấp nước và sức sống cùng với sự thịnh vượng cho các đồng bằng, nơi mà thiên nhiên đã kết án phải nằm phơi mình chịu đựng sự khô hạn và hoang tàn.

“Các dòng suối chảy từ trên đồi xuống bị chặn lại và nước được dẫn vào những bồn chứa khổng lồ ở bên dưới, có những cái rộng tới 4000 mẫu Anh; và từ đó, các kênh đào dẫn nước tới những bồn chứa khác lớn hơn nữa nằm cách xa các quả đồi hơn, và cứ thế tiếp tục vươn ra xa mãi. Bên dưới mỗi bồn chứa và mỗi con kênh lớn này là hàng trăm bồn chứa nhỏ, mỗi bồn chứa nhỏ đó là trung tâm của một ngôi làng, tất cả đều được cấp nước từ khu vực núi non có mưa. Và dần dần, người Sinhal đã chinh phục tất cả, hay gần như tất cả, những cánh đồng mà ngày nay hoàn toàn vắng bóng người”.[2]

Sự gian khổ của các nhân công tham gia vào công cuộc duy trì một nền văn minh nhân tạo trên những cánh đồng cằn cỗi tự nhiên này được chứng minh qua hai đặc điểm nổi bật trong phong cảnh của Ceylon ngày nay: Đó là sự khôi phục tình trạng cằn cỗi ban đầu của vùng đất đã từng được tưới tắm và có người cư ngụ, và sự tập trung của các đồn điền trồng trà, cà phê và cao su hiện đại ở nửa bên kia của hòn đảo, trong khu vực có mưa.

Sa mạc bắc Ả Rập

Một ví dụ minh họa trứ danh được nhắc tới nhiều đến nỗi gần như nhàm chán cho đề tài của chúng ta là tình trạng hiện nay của Petra và Palmyra - quang cảnh đã tạo cảm hứng cho một loạt bài xã luận về tính triết lý của lịch sử từ bài Tàn tích của Volney (1791) trở đi. Ngày nay, mái ấm một thời của nền văn minh Syria cổ cũng chịu chung số phận với mái nhà xưa của nền văn minh Maya, mặc dù môi trường thiên nhiên thù địch đã trút cơn thịnh nộ lên xã hội Syria cổ là thảo nguyên Á-Phi chứ không phải rừng già nhiệt đới. Các tàn tích cho chúng ta biết rằng, những đền đài nguy nga và những lăng mộ hoành tráng này, khi chúng còn nguyên vẹn, chắc chắn phải là vật trang hoàng của những thành phố vĩ đại; và ở đây, chứng cứ khảo cổ học, vốn là phương tiện duy nhất của chúng ta khi đưa ra bức tranh về nền văn minh Maya, được tiếp sức bởi chứng cứ văn bản là những ghi chép lịch sử. Chúng ta biết rằng những người tiên phong của nền văn minh Syria cổ - những người đã phù phép ra các thành phố này từ sa mạc - vốn rất thành thạo các phép màu mà truyền thuyết Syria quy cho Moses.

Các pháp sư thời đó biết cách lấy nước từ những tảng đá khô khan và cách tìm đường đi xuyên qua những vùng hoang dã không dấu chân người. Vào buổi sơ khai của chúng, Petra và Palmyra đứng ngay chính giữa những khu vườn được tưới tắm đầy đủ như khu vực hiện nay vẫn bao quanh Damascus. Nhưng rồi sau đó, Petra và Palmyra không thọ được lâu hơn Damascus ngày nay, ngoại trừ ở những ốc đảo nhỏ hẹp của nó. Những người giàu có ở đó không phải là chủ các khu vườn mà là các nhà buôn, những người giúp duy trì mối liên hệ giữa ốc đảo này với ốc đảo khác, giữa lục địa này với lục địa khác, bằng một lịch trình đi lại bận rộn hết nơi này tới nơi khác băng qua các dải thảo nguyên và sa mạc rộng lớn ở giữa. Tình trạng hiện nay của chúng không chỉ biểu thị chiến thắng cuối cùng của sa mạc trước con người mà còn cho thấy tầm cỡ của thắng lợi trước đó của con người trước sa mạc.

Đảo Đông (Easter)

Trong một bối cảnh khác, chúng ta có thể đưa ra kết luận tương tự khi xem xét khởi thủy của nền văn minh Polynesia[3] từ tình trạng hiện nay của đảo Đông. Vào thời điểm nó được khám phá trong thời cận đại, hòn đảo xa xôi nằm ở vùng Đông Nam Thái Bình Dương này có hai chủng tộc người sinh sống: Một chủng tộc ăn thịt sống, và một chủng tộc thời đồ đá; một mang vóc dáng của cư dân nguyên thủy ở Polynesia và một là những cư dân đồ đá đã tiến hóa cao. Các cư dân còn sống sót thuộc thế hệ đó chẳng biết đến nghệ thuật chạm khắc tượng thần, mà cũng không nắm được con đường vượt hàng nghìn dặm biển cả ngăn cách đảo Đông với hòn đảo anh em gần nhất của nó trong quần đảo Polynesia. Trước khi được các thủy thủ Âu châu phát hiện, hòn đảo đã bị cô lập khỏi phần còn lại của thế giới trong khoảng thời gian không biết là bao lâu. Dù vậy, sự pha trộn thành phần dân cư của nó giữa người ăn thịt sống và người đồ đá chứng minh hùng hồn chẳng kém những tàn tích của Palmyra hoặc Copán về một thời quá khứ chắc chắn là khác xa so với hiện tại.

Chắc chắn những con người này đã được sinh ra, và những tượng thần đó đã được chạm khắc, bởi các nhà thám hiểm người Polynesia, người đã có lần tìm ra con đường băng qua Thái Bình Dương trên những chiếc xuồng mỏng manh, mà không hề có hải đồ hoặc compa. Và chuyến đi biển này khó có thể là một chuyến thám hiểm cô độc chỉ với một chiếc thuyền duy nhất đưa những người tiên phong đến đảo Đông nhờ sự may mắn và về sau không lặp lại nữa. Số cư dân đồ đá quá đông nên chắc chắn đã phải trải qua nhiều thế hệ phát triển. Mọi thứ đều dẫn tới kết luận về một cuộc di dân qua hàng nghìn dặm biển đã diễn ra trong một thời gian kéo dài. Cuối cùng, vì một lý do nào đó mà chúng ta chưa biết được, biển cả, đã từng bị con người vượt qua thành công, nay đã nổi giận cắt đứt con đường đến đảo Đông, giống như sa mạc đã cô lập Palmyra và rừng rậm đã cô lập Copán. Những người đồ đá, như những bức tượng trong thư của Housman, đã thoát thai khỏi trạng thái người đồ đá, và sinh ra một nhánh người ăn thịt sống mà mỗi thế hệ sau một hung bạo và kém văn minh hơn.

Dĩ nhiên, chứng cứ của đảo Đông đã mâu thuẫn với quan điểm phổ biến của người Tây phương, xem các đảo ở vùng Nam Hải như một thiên đàng hạ giới và cư dân của chúng là những đứa con của thiên nhiên trong trạng thái của Adam và Eve trước khi bị đày xuống trần gian. Ý kiến sai lầm này bắt nguồn từ việc coi một bộ phận là toàn bộ môi trường sống ở Polynesia. Thực ra, môi trường tự nhiên ở đây bao gồm nước và đất, và nước vào thời đó là một thách thức ghê gớm cho bất cứ con người nào cố gắng vượt qua nó mà không có trong tay phương tiện nào tốt hơn những phương tiện của người Polynesia. Đó là một phản ứng dũng cảm và thành công trước thách thức của “biển cả mặn chát và lạnh giá”, một thành tựu khắc chế thiên nhiên trong những chuyến đi biển nối liền đảo này với đảo khác, trong đó những con người tiên phong đã đặt chân lên đất liền sau khi vượt qua thiên nhiên hoang dã của Thái Bình Dương như những vì sao băng qua khoảng không vô tận.

New England

Trước khi khép lại phần khảo sát về hiện tượng khôi phục trạng thái tự nhiên, tác giả tự cho phép mình nêu ra hai ví dụ - một ví dụ đã xa xưa và ví dụ còn lại thể hiện cực kỳ rõ ràng những điều mà chúng ta đang muốn quan sát.

Tôi[4] đã từng đi tới một khu vực nông thôn của tiểu bang Connecticut ở New England, khi đi ngang qua một thị trấn bỏ hoang, một quang cảnh vốn chẳng phải là hiếm thấy ở những khu vực như vậy, song vẫn gây nhiều ngạc nhiên và xao xuyến đối với một người Âu châu. Trong khoảng hai thế kỷ, có lẽ Town Hill - tên của thị trấn đó - đã tồn tại với ngôi nhà thờ thánh George xây bằng gỗ ván nằm ngay giữa cánh đồng cỏ với những ngôi nhà tranh, những vườn cây và ruộng ngô của nó. Ngôi nhà thờ vẫn còn đứng vững, được bảo quản như một di tích cổ; nhưng những ngôi nhà đã biến mất, cây ăn trái đã bị hoang hóa và những ruộng ngô đã không còn.

Trong vòng 100 năm trở lại đây, những người New England nọ đã đóng một vai trò không cân xứng so với số lượng ít ỏi của họ trong việc cải tạo thiên nhiên hoang dã trải rộng khắp lục địa châu Mỹ từ bờ biển Đại Tây Dương đến bờ Thái Bình Dương, ấy vậy mà đồng thời họ lại để cho thiên nhiên tái chiếm thị trấn nằm ngay trung tâm quê hương này, nơi các tổ tiên của họ đã sinh sống trong khoảng 200 năm trước. Sự mau chóng lụi tàn, tính phù du, và sự từ bỏ của con người đã giúp thiên nhiên tái khẳng định quyền làm chủ của nó với Town Hill, ngay khi con người lơi lỏng sự kềm kẹp của mình, đồng thời cũng cho phép ta lường được những nỗ lực của con người để cải tạo đất đai khô cằn xưa kia. Chỉ có một nghị lực mãnh liệt như nghị lực đã khai sinh ra Town Hill mới có đủ khả năng đem lại một “chiến thắng ở miền Tây hoang dã”. Những thành phố mọc lên như nấm sau mưa ở các tiểu bang Ohio, Illinois, Colorado và California, trên sa mạc cằn cỗi đã cho thấy sự kỳ diệu của ý chí con người chế ngự thiên nhiên.

Quân khu La Mã

Ấn tượng mà Town Hill đã gây ra cho tôi cũng là những gì quân khu La Mã gây ra cho Livy, khi ông tự hỏi rằng, làm sao một đội quân gồm vô số những chiến binh hùng dũng đã từng sinh sống trong một vùng lãnh thổ mà vào thời của ông, cũng như thời của chúng ta,[5] là một khu vực hoang dã, khô cằn sỏi đá và đầm lầy. Tình trạng hoang dã của nó hiện nay đã tái lập trạng thái ban sơ của khu vực cấm kỵ, vốn đã từng được cải tạo bởi những người tiên phong Latinh và Volscia thành một vùng đất trồng trọt và sinh sống được; và nghị lực sinh ra trong quá trình cải tạo vùng đất canh tác nhỏ hẹp khắc nghiệt này của nước Ý cũng là nghị lực sau này sẽ chinh phục cả thế giới, từ Ai Cập cho tới Anh quốc.

Thiên đường Capua

Sau khi nghiên cứu đặc tính của một vài môi trường sống, nơi hình thành các nền văn minh hoặc những thành tựu khác của nhân loại, và phát hiện ra rằng điều kiện sống mà chúng cung cấp cho con người hoàn toàn không dễ dàng mà cực kỳ khắc nghiệt, chúng ta hãy chuyển sang một cuộc nghiên cứu bổ sung, ở đây phân tích những môi trường cụ thể khác, nơi cung cấp những điều kiện sống dễ dàng và nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đối với cuộc sống con người. Trong khi thực hiện nghiên cứu này, chúng ta phải phân biệt giữa hai tình huống khác nhau. Tình huống thứ nhất là, con người gặp được môi trường sống dễ dàng sau khi đã sống trong một môi trường khắc nghiệt. Tình huống thứ hai là có những người cư trú trong một môi trường sống dễ dàng ngay từ đầu và chưa bao giờ, ít ra là theo hiểu biết của chúng ta, phải trải qua thử thách của bất kỳ môi trường mới nào kể từ khi tổ tiên tiền sử của họ tiến hóa thành người. Nói cách khác, chúng ta phải phân biệt ảnh hưởng của môi trường sống dễ dàng đối với con người trong tiến trình văn minh hóa và lên người nguyên thủy.

Trong thời kỳ cổ đại của nước Ý, Rome tìm thấy hình ảnh tương phản của nó ở Capua. Quân khu La Mã khắc nghiệt với con người bao nhiêu thì Capua tử tế với con người bấy nhiêu; và trong khi người La Mã tiến lên phía trước từ xứ sở khắc nghiệt của họ để lần lượt chinh phạt các xứ láng giềng, thì người Capua ngồi yên một chỗ chịu trận cho từng xứ láng giềng đến chinh phạt họ. Theo lời thỉnh cầu của mình, Capua được giải phóng khỏi những kẻ chinh phạt cuối cùng, người Samnite, nhờ sự can thiệp của chính La Mã chứ không phải ai khác. Và sau đó, ngay tại thời điểm nguy kịch nhất của cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử La Mã, vào buổi sáng diễn ra trận đánh Cannae, Capua đã trả ơn La Mã bằng cách mở cổng cho quân của Hannibal tràn vào. Cả La Mã lẫn Hannibal đều nhất trí coi sự phản bội của Capua là chiến lợi phẩm quan trọng nhất của trận đánh và có thể là điều kiện quyết định cuộc chiến. Hannibal mất một mùa đông để phục hồi Capua, và rồi một điều ngoài dự kiến của tất cả mọi người đã diễn ra. Chỉ một mùa đông ở Capua đã làm suy sụp nhuệ khí của đội quân Hannibal, đến nỗi nó không bao giờ còn tìm lại được âm điệu chiến thắng nữa.

Lời khuyên của Artembares

Herodotus đã kể một câu chuyện minh họa rất rõ cho trường hợp này. Một nhà quý tộc và các bạn của ông ta đã đến cầu kiến vua Cyrus với lời gợi ý sau:

“Giờ đây, thần Zeus đã ban Astyages và trao quyền cho dân tộc Ba Tư cũng như cho cá nhân người, tâu bệ hạ, tại sao chúng ta không di cư khỏi vùng đất nhỏ hẹp và sỏi đá mà hiện nay chúng ta đang sở hữu, để chiếm lấy một lãnh thổ tốt hơn? Có rất nhiều đất đai ở gần đây và nếu đi xa thì còn nhiều hơn nữa, chúng ta chỉ cần đưa ra chọn lựa của mình và có thể cải tạo cả thế giới. Đó là chính sách tất yếu của một đế quốc và lúc này là cơ hội nghìn vàng để thực hiện điều đó, khi đế chế của chúng ta đã có một dân số khổng lồ và trải dài khắp lục địa Á châu”.

Cyrus lắng nghe nhưng chẳng ấn tượng gì mấy, ông bảo những người thỉnh cầu cứ việc làm theo ý nguyện của mình, đồng thời cũng dè dặt lưu ý họ phải chuẩn bị tinh thần đánh đổi địa vị hiện tại đang có. Những xứ sở mềm yếu, ông nhắc họ, luôn luôn sản sinh ra những con người mềm yếu.[6]

Odyssey và Exodus

Nếu chuyển sang các tài liệu văn học cổ nổi tiếng còn hơn cả lịch sử của Herodotus, chúng ta sẽ thấy rằng hiểm họa mà bọn khổng lồ Cyclop và những địch thủ hung ác khác gây ra cho Odyssey chẳng khi nào lớn hơn mối nguy từ những kẻ muốn quyến rũ chàng vào một cuộc sống thảnh thơi. Nữ phù thủy Circe và lòng mến khách của nàng cuối cùng đã kết thúc trong chuồng heo; toàn bộ “vùng đất của lạc thú”, theo tác giả viết sau này, thực chất “luôn luôn chìm trong buổi hoàng hôn”; giọng hát mê hồn của các nàng tiên cá - có thể làm con người ta phát điên - và Odyssey đã phải chống lại bằng cách nút kín lỗ tai của các thủy thủ, sau đó bảo họ cột chặt chàng vào cột buồm; còn Calypso, với vẻ đẹp tuyệt trần hơn cả Penelope lại đặc biệt kém cỏi trong vai trò của một người vợ.

Tương tự đối với những người Do Thái - tác giả khổ hạnh của kinh Cựu ước - trong cuộc đại di cư, không gặp phải nàng tiên cá hay nữ phù thủy nào làm họ lầm đường lạc lối, song họ luôn ước ao về “những vùng trù phú trên đất Ai Cập”. Nếu họ mà tìm được đường đi tới những nơi đó, thì chúng ta có thể tin chắc rằng kinh Cựu ước sẽ chẳng bao giờ ra đời. May mắn là Moses cũng có tư tưởng giống như Cyrus.

Những kẻ “thích gì làm nấy”

Một nhà phê bình có thể sẽ chỉ trích rằng những ví dụ chúng ta vừa đưa ra không được thuyết phục lắm. Dĩ nhiên anh ta sẽ cho rằng, một người chuyển từ cuộc sống khó nhọc sang một điều kiện sống dễ dàng hơn sẽ bị “hư thân”, giống như một người sắp chết đói bỗng nhiên được chén một bữa quá no nê nhất định sẽ lăn đùng ra chết vì vỡ dạ dày; nhưng còn những người vốn vẫn có cuộc sống dễ dàng thì chẳng sao. Như vậy, chúng ta phải chuyển sang tình huống thứ hai trong hai tình huống mà chúng ta đã phân biệt ở trên - đó là tình huống những người được sống trong một môi trường dễ dàng và chưa bao giờ, theo như kiến thức của chúng ta, đặt chân vào một môi trường sống nào khác. Trong trường hợp này, nhân tố quấy rối sự tiến hóa bị loại trừ, và chúng ta hoàn toàn có thể nghiên cứu tác động của các điều kiện sống dễ dàng. Sau đây là một bức tranh xác tín của nó từ Nyasaland, theo một nhà quan sát Tây phương cách đây nửa thế kỷ:

“Như những tổ chim giấu mình trên cây, trong nỗi khiếp sợ lẫn nhau và khiếp sợ kẻ thù chung là những tay buôn nô lệ, những ngôi làng nguyên thủy nhỏ bé ẩn nấp trong những cảnh rừng già sâu hun hút. Và ở đây, trong túp lều hết sức đơn giản của mình, một người nguyên thủy - không quần áo, không văn minh, không học hành, không tôn giáo - đứa con trần trụi của thiên nhiên, vô tư lự và mãn nguyện. Con người này có vẻ hoàn toàn hạnh phúc; anh ta thực sự không mong mỏi gì cả. … Người Phi châu thường bị chê trách là lười biếng, nhưng đó là một cách dùng từ sai. Anh ta không cần phải làm việc; với thiên nhiên phong phú như thế ở chung quanh thì anh ta chẳng có lý do gì phải làm việc cả. Do đó, sự lười biếng của anh ta, như chúng ta vẫn thường gọi, chẳng qua chỉ là một phần bản chất của anh ta, tự nhiên và cố hữu giống như cái mũi tẹt, và không đáng bị chê trách hơn so với sự chậm chạp của loài rùa”.[7]

Charles Kingsley, nhà đạo đức học thời Nữ hoàng Victoria, khi nghiên cứu về lối sống tích cực đã viết một câu truyện nhỏ gọi là “Lịch sử về xứ sở vĩ đại và nổi tiếng của những kẻ thích gì làm nấy, đã rời bỏ xứ sở làm lụng vất vả để suốt ngày gẩy đàn Harp của người Do Thái”. Cuối cùng, họ phải trả giá với việc thoái hóa thành khỉ đột.

Thật buồn cười khi xem xét những quan điểm khác nhau về “vùng đất lạc thú” được thể hiện qua thi ca Hy Lạp cổ cũng như tác phẩm của nhà đạo đức học Tây phương cận đại nói trên. Đối với thi ca Hy Lạp cổ, những người sống trên thiên đường và vùng đất lạc thú của họ chứa một ma lực kinh khủng, một cạm bẫy của quỷ dữ trên con đường văn minh của Hy Lạp. Kingsley, trái lại, đưa ra quan điểm của người Anh cận đại, ánh mắt khinh bỉ và chê trách những “kẻ thích gì làm nấy” cho thấy ông không bị họ cuốn hút; và cảm thấy có bổn phận giúp họ hòa nhập với đế quốc Anh, dĩ nhiên, không phải vì lợi ích của chúng ta mà vì lợi ích của chính họ, và phải cung cấp cho họ quần dài và Kinh thánh.

Tuy nhiên, mối quan tâm của chúng ta không phải là để tán thành hay phủ nhận mà là để hiểu. Bài học này được rút ra từ những chương đầu của kinh Cựu ước; chỉ sau khi Adam và Eve bị đuổi khỏi vườn Địa đàng, tức là vùng đất lạc thú, thì các hậu duệ của họ mới phát minh ra nông nghiệp, ngành luyện kim và các loại công cụ.

❀ ❀ ❀

[1] Tác giả Toynbee đặt tựa phần này là χαλεπὰ τὰ καλά (Tiếng Hy Lạp. The good/beautiful things [are] difficult [to attain]); Nghĩa là “Vẻ đẹp của khó khăn” hay “Ngọc bất trác, bất thành khí”. (Người biên tập và người làm ebook)

[2] Trích Still, John: Nghiên cứu rừng già, trang 74-5.

[3] Trích Ibid., tr. 76-7.

[4] Đây là một trong những “nền văn minh bị cầm tù” sẽ được trình bày sau. Xem tr. 164.

[5] Tức là tác giả Toynbee, đối tượng của đại từ nhân xưng này trong suốt cuốn sách (không phải là biên tập viên).

[6] Điều này ngày nay không còn đúng nữa, vì chính quyền Mussolini đã để lại một di tích hiếm hoi đáng kính trọng và trường tồn, kết quả của những nỗ lực không mệt mỏi để cải tạo vùng đất này cho con người.

[7] Herodotus, Cuốn IX, chương 122.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.