Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 121 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V. THÁCH THỨC VÀ TRẢ LỜI

❊ ❊ ❊

Trong cuộc tìm kiếm nhân tố tích cực thúc đẩy sự hình thành các nền văn minh từ trước đến nay, chúng ta đã áp dụng các “mẹo” cổ điển vào khoa học vật lý cận đại. Chúng ta suy nghĩ về những khái niệm trừu tượng và thử nghiệm vai trò của các lực lượng vô tri vô giác - chủng tộc và môi trường. Giờ đây khi những mẹo đó chỉ đem lại một bức vẽ trắng tinh, chúng ta phải dừng lại và xem xét thất bại của mình có phải do phương pháp sai lầm hay không. Có lẽ, dưới ảnh hưởng âm ỉ dai dẳng của tinh thần từ thời kỳ trước, chúng ta đã trở thành nạn nhân của thứ gọi là chứng “ảo tưởng lãnh đạm”. Ruskin đã từng cảnh báo các độc giả của ông về hội chứng “ảo tưởng lâm ly” thể hiện qua việc cung cấp sự sống tưởng tượng cho những đối tượng vô tri; nhưng chúng ta cũng cần phải cảnh giác không kém đối với sai lầm ngược lại khi áp đặt cho lịch sử - vốn là một ngành nghiên cứu những sinh thể đang sống và tồn tại - phương pháp khoa học được đặt ra để nghiên cứu những điều kiện tự nhiên vô tri vô giác. Trong nỗ lực cuối cùng để vén bức màn bí ẩn này, chúng ta hãy theo chân Plato để thử nghiệm một hướng đi khác. Chúng ta hãy nhắm mắt lại một lúc, tạm xếp lại khoa học và hãy lắng nghe ngôn ngữ thần thoại.

Rõ ràng là, nếu sự hình thành các nền văn minh không phải là kết quả riêng biệt của những nhân tố sinh học hoặc môi trường địa lý, thì nó phải là kết quả của một tương tác nào đó giữa chúng. Nói cách khác, nhân tố mà chúng ta đang cố công nhận diện không phải là một thứ đơn lẻ mà là một yếu tố phức hợp, không phải là một thực thể mà là một mối quan hệ. Chúng ta có thể lựa chọn giữa hai quan điểm, một là coi mối quan hệ này là cuộc chạm trán giữa hai lực lượng không thuộc về nhân loại, hai là một cuộc đối đầu giữa hai cá nhân siêu phàm. Chúng ta hãy hướng về khái niệm thứ hai. Biết đâu nó sẽ dẫn dắt chúng ta đến ánh sáng chân lý.

Cuộc chạm trán giữa hai cá nhân siêu phàm là cốt truyện của một số vở kịch vĩ đại nhất mà nhân loại đã tưởng tượng ra. Cuộc đối đầu giữa Yahweh và thần Rắn là cốt lõi của câu chuyện về sự tích “Sự sa ngã của con người” trong cuốn kinh Cựu ước; cuộc tranh đấu thứ hai cũng giữa hai địch thủ nói trên, được biến đổi để đại diện cho quan niệm người Syria, đó là câu chuyện về sự cứu chuộc kinh Tân ước; cuộc chạm trán giữa Đức Chúa và quỷ Satan là nội dung của kinh thánh Job; Đức Chúa đối đầu với các ác ma là tâm điểm của vở kịch Faust của Goethe; cuộc tranh đấu giữa chư thần và bọn yêu quái là cốt truyện của vở Voluspa của người Scandinavia; cuộc chạm trán giữa thần Artemis và thần Aphrodite là cốt truyện của vở Hippolytus của Euripides.

Chúng ta sẽ thấy một phiên bản khác của cùng một cốt truyện trong những câu chuyện thần thoại phổ biến - cái “thuở ban đầu” rất đỗi quen thuộc và lặp đi lặp lại ở bất cứ nơi đâu - cuộc gặp gỡ giữa Đức Mẹ Đồng Trinh và Cha của Đức Chúa con của bà. Các nhân vật trong thần thoại này tham gia vào hàng nghìn phân cảnh khác nhau dưới hàng loạt cái tên: Danae và cơn mưa vàng; Europa và con bò; Nữ thần Mặt đất Semele và thần Zeus giáng sấm sét, chúa tể bầu trời; Creusa và Apollo trong vở Ion của Euripides; nàng Psyche và thần tình yêu Cupid; Gretchen và Faust. Chủ đề này cũng được lặp lại và làm biến dạng trong lễ Truyền tin. Trong thời đại của chúng ta, ở xã hội Tây phương, câu chuyện thần thoại hay thay đổi này được tái thể hiện trong lời kết của các nhà thiên văn học về sự hình thành hố hành tinh, như được thể hiện trong tóm tắt sau:

“Chúng ta tin rằng … vào khoảng hai tỉ năm trước một ngôi sao thứ cấp, đi lang thang vô định trong không gian, đã đi vào khu vực sức hút của Mặt trời. Cũng như Mặt trời và Mặt trăng gây ra thủy triều trên Trái đất, ngôi sao thứ cấp này hẳn cũng gây ra thủy triều trên bề mặt Mặt trời. Nhưng khác xa so với những cơn sóng yếu ớt mà trọng lượng nhỏ bé của Mặt trăng gây ra trên các đại dương của chúng ta; một cơn sóng thủy triều khổng lồ đã càn quét qua bề mặt Mặt trời, sau cùng tạo ra một ngọn núi cao dị thường; nó ngày càng cao, cao mãi vì cái sức hút gây nhiễu loạn kia ngày càng mạnh hơn. Và trước khi ngôi sao thứ cấp bắt đầu rút lui, lực hút của nó lên đến cực điểm và ngọn núi này đã bị vỡ tan, bắn ra những mảnh nhỏ của chính nó, như những tia nước bắn ra từ mép của một ngọn sóng. Những mảnh nhỏ này từ đó bắt đầu quay tròn quanh “người cha” Mặt trời của chúng. Chúng chính là các hành tinh, lớn và nhỏ, trong đó có Trái đất của chúng ta”.[1]

Như vậy là từ miệng của một nhà thiên văn và toán học, sau khi thực hiện tất cả những tính toán phức tạp và khoa học, một lần nữa câu chuyện thần thoại về cuộc gặp gỡ giữa Nữ thần Mặt trời và kẻ cưỡng bức bà lại được tái hiện rất giống với một câu chuyện truyền thuyết được kể từ miệng của những đứa con thời mông muội của thiên nhiên.

Sự hiện diện và tầm quan trọng của tính hai mặt của nguyên nhân tạo ra các nền văn minh mà chúng ta đang nghiên cứu được thừa nhận bởi một nhà khảo cổ phương Tây thời cận đại, người sở hữu nhiều nghiên cứu bắt đầu từ sự tập trung vào môi trường và kết thúc với một kết luận trực giác về bí ẩn của sự sống:

“Môi trường… không phải là nguyên nhân đóng vai trò tuyệt đối trong quá trình phát triển văn hóa. … Không nghi ngờ gì, nó là nhân tố đơn lẻ dễ nhận thấy nhất. … Nhưng vẫn còn có một nhân tố chưa được định nghĩa mà có lẽ tốt nhất nên được đặt tên một cách hết sức đơn giản là x, lực lượng chưa biết, có vẻ như mang hình thức tâm lý. … Tuy x không phải là nhân tố trực quan nhất, nhưng chắc chắn nó là nhân tố quan trọng nhất, nhân tố tất yếu nhất”.[2]

Trong khoa học nghiên cứu lịch sử hiện nay của chúng ta, đề tài về cuộc gặp gỡ giữa các cá nhân siêu phàm đã tự khẳng định. Trước đây chúng ta đã nhận định rằng “một xã hội … phải đối mặt với tiến trình sống của nó bằng cách vượt qua các trở ngại” và rằng “sự xuất hiện của mỗi trở ngại là một thách thức phải vượt qua”.

Chúng ta hãy thử phân tích cốt lõi nội dung của câu chuyện hoặc vở kịch đã được lặp đi lặp lại trong nhiều hoàn cảnh cũng như trong những hình thức khác nhau.

Chúng ta có thể bắt đầu với hai đặc điểm chung: Cuộc gặp gỡ được coi là một sự kiện hiếm có và đôi khi là sự kiện độc nhất vô nhị; và nó có những hệ quả to lớn tương xứng với những gì mà nó tạo ra trong tiến trình bình thường của tự nhiên.

Ngay cả trong những câu chuyện thần thoại “dễ dãi” của thế giới Hy Lạp cổ - trong đó việc các cô con gái trần thế bị những vị thần quyến rũ được coi là niềm vinh dự cho họ, và các thần quan hệ lăng nhăng với quá nhiều cô đến nỗi tên các nạn nhân có thể được sắp xếp và liệt kê trong các bài thơ, thì những tình tiết này bao giờ cũng là những câu chuyện tình xúc động và kết quả của nó luôn luôn là sự chào đời của những vị anh hùng. Trong những phiên bản của câu chuyện trong đó cả hai bên trong cuộc gặp gỡ đều là các cá nhân siêu phàm, thì tính hiếm hoi và quan trọng của sự kiện càng gây được niềm tin mãnh liệt hơn. Trong kinh thánh Job, “ngày mà các con của Đức Chúa Trời giáng thế trước Đức Chúa và Satan cũng đến cùng với họ”, rõ ràng được coi là một dịp đặc biệt; và tương tự đối với cuộc chạm trán giữa Đức Chúa và các ác quỷ trong “Đoạn mở đầu trên thiên đàng” (dĩ nhiên đã được gợi ý từ phần đầu của kinh thánh Job) đã là cảm hứng cho vở kịch Faust của Goethe. Trong cả hai vở kịch nói trên, những hệ quả ở trái đất của cuộc gặp gỡ trên thiên đàng là rất khốc liệt. Những thử thách cá nhân của Job và Faust đại diện cho, theo ngôn ngữ trực giác của sự hư cấu, vô vàn thử thách của nhân loại; và theo ngôn ngữ thần học, những hệ quả khốc liệt theo sau cuộc chạm trán giữa các thế lực siêu phàm cũng được khắc họa trong cuốn kinh Cựu ước và kinh Tân ước. Việc Adam và Eve bị trục xuất khỏi vườn Địa đàng, theo sau cuộc gặp gỡ giữa Yahweh và thần Rắn, chẳng kém gì sự tích “Sự sa ngã của con người”; khổ hình của Đức Chúa trong kinh Tân ước cũng chẳng kém gì sự cứu chuộc loài Người. Ngay cả sự khai sinh hệ thống hành tinh của chúng ta từ cuộc gặp gỡ giữa hai mặt trời, như nhà thiên văn học cận đại vừa vẽ ra ở trên, cũng được mô tả là “một sự kiện hiếm đến mức hầu như không thể hình dung”.

Trong mọi trường hợp, câu chuyện luôn bắt đầu với một trạng thái Âm hoàn hảo. Faust hoàn hảo về kiến thức; Job hoàn hảo về lòng hào hiệp và sự thịnh vượng; Adam và Eve hoàn hảo về sự trong trắng và thanh thản; các trinh nữ - Gretchen, Danae và những người khác - hoàn hảo về sự thanh khiết và vẻ đẹp. Trong vũ trụ của nhà thiên văn học, mặt trời, một thiên thể hoàn hảo, di chuyển trên quỹ đạo của mình một cách bình an vô sự. Khi trạng thái Âm đã hoàn tất, mọi thứ đã sẵn sàng để chuyển sang trạng thái Dương. Nhưng điều gì tạo ra chuyển biến đó? Sự thay đổi từ trạng thái đã và đang hoàn hảo chỉ có thể được khởi đầu bởi một lực thúc đẩy hoặc một vận động đến từ bên ngoài. Nếu nghĩ về trạng thái này như một trạng thái thăng bằng vật lý, thì chúng ta cần phải đưa vào một ngôi sao khác. Nếu nghĩ về nó như một phúc lành huyền bí hay một cõi Niết bàn, thì chúng ta cần phải đưa thêm một diễn viên nữa lên sân khấu - đó là người chỉ trích để kích thích trí tuệ làm việc trở lại bằng những ý kiến hoài nghi; một địch thủ để kích thích cảm xúc của trái tim bằng cách cho họ nếm mùi đau buồn hoặc bất mãn, nỗi sợ hãi hoặc niềm ác cảm. Đây là vai trò của thần Rắn trong kinh Cội nguồn, của Satan trong kinh thánh Job, của bọn ác ma trong Faust, của Loki trong thần thoại Scandinavia, của những nhân tình thần thánh trong các huyền thoại về trinh nữ.

Theo ngôn ngữ khoa học, chúng ta có thể nói rằng, chức năng của nhân tố bên ngoài là cung cấp một tác nhân kích thích được tính toán tốt nhất để gây ra những đại lượng sáng tạo hiệu quả nhất cho thứ mà nó xâm nhập. Theo ngôn ngữ thần thoại và tôn giáo, lực đẩy hoặc động cơ khiến một trạng thái Âm hoàn hảo chuyển sang trạng thái Dương năng động mới mẻ đến từ một cuộc xâm nhập của Quỷ vương vào vũ trụ của Thượng đế, hay Đức Chúa Trời. Sự kiện này có thể được mô tả tốt nhất bằng những hình ảnh thần thoại này vì chúng không bị ngăn trở bởi những mâu thuẫn nảy sinh khi xét nó theo góc độ lôgic. Theo lôgic, nếu vũ trụ của Thượng đế là hoàn hảo thì sẽ không thể có một Quỷ vương ở bên ngoài, bởi lẽ, nếu có Quỷ vương tồn tại, thì sự hoàn hảo mà hắn đến để phá hoại vốn đã không hoàn hảo, thể hiện qua thực tế là sự tồn tại của hắn. Mâu thuẫn về mặt lôgic này, dĩ nhiên không thể giải thích bằng lý lẽ, đã được khỏa lấp bằng trực giác qua hình tượng trong thi ca và các lời sấm truyền, trong đó vinh danh Thượng đế tối cao và mặc nhiên công nhận rằng quyền năng của Ngài có hai giới hạn cốt yếu.

Giới hạn thứ nhất là, trong sự hoàn hảo của thế giới mà Ngài đã tạo ra, Ngài không thể tìm thấy cơ hội để tiếp tục sáng tạo thêm nữa. Nếu Thượng đế được coi là đấng tối cao, thì công trình sáng tạo của Người vẫn hoàn hảo như thường nhưng chúng không thể “được thay đổi từ trạng thái hoàn hảo này sang trạng thái hoàn hảo khác”. Giới hạn thứ hai của quyền năng Thượng đế là khi cơ hội sáng tạo mới được cung cấp cho Ngài từ bên ngoài, thì Ngài không thể làm gì khác hơn là đón nhận nó. Khi Quỷ vương thách thức Ngài, thì Ngài không thể từ chối lời thách thức. Thượng đế được quy định là phải chấp nhận thử thách vì Ngài chỉ có thể từ chối với cái giá phủ nhận ngôi vị Thượng đế.

Như vậy nếu Thượng đế không phải là tối cao theo khái niệm lôgic, liệu ngài có còn vô địch theo thần thoại hay không? Nếu Ngài bị trói buộc phải chấp nhận lời thách thức của Quỷ vương, thì phải chăng Ngài cũng đã được quy định sẵn để giành chiến thắng trong trận chiến đó? Trong vở Hippolytus của Euripides, nơi vai trò của Thượng đế được giao cho nữ thần Artemis và vai trò của Quỷ vương thuộc về nữ thần Aphrodite, Artemis không chỉ không thể từ chối trận chiến mà còn bị định trước là phải bị đánh bại. Quan hệ giữa các thần Olympus là vô cùng phức tạp và Artemis trong phần kết chỉ có thể tự an ủi bằng cách hạ quyết tâm rằng, một ngày nào đó, thần sẽ đóng vai trò Quỷ vương trong sự suy vi của Aphrodite. Kết quả không phải là sự sáng tạo mà là sự hủy diệt. Trong phiên bản của người Scandinavia, sự hủy diệt cũng là hậu quả trong sự kiện Ragnarök - khi chư thần tiêu diệt lũ yêu quái - mặc dù tác giả của vở Voluspa để cho ánh mắt của Sibyl chọc thủng màn đêm u ám để nhìn thấy ánh sáng bình minh mới ở phía bên kia. Trái lại, trong một phiên bản khác cũng của cốt truyện này, trận chiến theo sau lời chấp nhận thách đấu một cách miễn cưỡng diễn ra không phải dưới hình thức trao đổi hỏa lực trong đó Quỷ vương giữ vai trò nổ phát súng đầu tiên nhưng không hạ được đối thủ, thực ra là một cuộc đánh cược mà cuối cùng Quỷ vương luôn luôn thua. Các công trình cổ xưa trong đó những cuộc đánh cược kiểu này đã trở thành mô-típ là kinh thánh Job và vở Faust của Goethe.

Quan điểm này đã được hình thành rõ ràng nhất chính trong vở kịch của Goethe. Sau khi Đức Chúa Trời chấp nhận đánh cược với bọn Ác quỷ ở thiên đàng, các thể thức đã được thỏa thuận ở mặt đất, giữa lũ Ác ma với Faust, như sau:

Faust: An nhàn và yên tĩnh! - không, không! Chẳng cần những thứ đó Với ta - ta chẳng cần - chẳng tìm kiếm. Nếu ta ngã xuống chiếc giường lười biếng Nằm dài và yên nghỉ trong giờ phút quan trọng này Chẳng khác gì ta kết liễu phần đời còn lại Các ngươi đừng hòng bằng những lời dối lừa và tâng bốc Lừa dối ta nở nụ cười tự mãn, Gạ gẫm ta vào chốn thanh bình? Nào hãy đến đây, Và chào mừng, ngày cuối cuộc đời - đó là ngày đánh cược của chúng ta.

Ác quỷ: Đồng ý.

Faust: Đồng ý, ta nói: chúng ta hãy thỏa thuận dứt khoát. Nếu có bao giờ thời gian trôi qua thật êm đềm, Xoa dịu linh hồn ta trong sự lãng quên Để trong cơn mê dịu êm ta tóm giữ Và mời gọi phút giây hạnh phúc trong dòng thời gian, Xin mời nán lại với ta… Rồi ta sẽ vui lòng chấp nhận sự diệt vong.[3]

Sự ra đời của huyền thoại này cô đọng vấn đề của chúng ta về sự hình thành các nền văn minh, nó có thể được chỉ ra bằng cách đồng hóa Faust, vào thời điểm chàng đặt cược, với một trong những “người ngủ vùi đã thức giấc” đã đứng dậy từ sườn núi nơi mà họ đã nằm bất động và bắt đầu leo lên bề mặt của vách núi. Theo ngôn ngữ ví von của chúng ta, Faust muốn nói rằng: “Ta đã quán triệt tinh thần rời khỏi sườn núi này và leo lên vách núi để tìm kiếm sườn núi ở phía trên. Trong nỗ lực này ta biết rằng mình đã bỏ lại sự an toàn ở sau lưng. Dù vậy, vì tương lai phía trước, ta sẽ chấp nhận nguy cơ bị ngã và bị hủy diệt”.

Trong câu chuyện được Goethe kể, nhà leo núi dũng cảm, sau khi trải qua thử thách nguy cơ đe dọa tính mạng và đảo ngược tình thế trong tuyệt vọng, cuối cùng đã thành công và trèo được lên vách núi một cách thắng lợi. Trong kinh Tân ước cũng vẽ ra kết cục tương tự, thông qua việc triển khai một cuộc chạm trán thứ hai giữa đôi kỳ phùng địch thủ - trận chiến giữa Yahweh và thần Rắn - mà theo phiên bản nguyên thủy trong kinh Tân ước, vốn đã sớm kết thúc dưới hình thức một trận chiến giữa thần Artemis và thần Aphrodite trong vở Hippolytus.

Kinh thánh Job, Faust của Goethe và kinh Tân ước đều ngụ ý, hoặc thậm chí tuyên bố dứt khoát một kết cục tương tự nhau, đó là Quỷ vương không thể thắng cuộc cá cược; có nghĩa là Quỷ vương, với việc can thiệp vào công trình của Thượng đế, không thể làm nản chí mà chỉ có thể phục vụ cho mục đích của Thượng đế, người vẫn luôn luôn làm chủ tình thế và đã tự tay trao cho Quỷ vương sợi dây thừng để trói Ngài. Như vậy phải chăng Quỷ vương đã bị bịp? Phải chăng Thượng đế chỉ chấp nhận cuộc cá cược mà Ngài đã biết rõ là Ngài không thể thua? Thật khó mà nói như vậy; vì nếu điều đó là sự thật thì toàn bộ quá trình chỉ là một sự giả mạo. Một cuộc chạm trán không có thật sẽ không thể sản sinh ra kết quả là một cuộc chạm trán khác - kết quả vô cùng vĩ đại của sự chuyển biến từ Âm sang Dương. Có lẽ cách giải thích ở đây là điều kiện cá cược do Quỷ vương đưa ra, và được Thượng đế chấp nhận, đã bộc lộ sự thật rằng, nó có thể, và đã thay đổi một phần, song không phải là toàn bộ công trình sáng tạo của Thượng đế. Theo ngôn ngữ thần thoại, khi một trong những sáng tạo của Thượng đế bị Quỷ vương dụ dỗ, thì bản thân Thượng đế đứng trước một cơ hội mới để tái tạo thế giới. Sự can thiệp của Quỷ vương, dù thành công hoặc thất bại theo một phương diện nào đó - và cả hai kết quả đều khả dĩ - cũng đã hoàn tất sự chuyển biến từ trạng thái Âm sang trạng thái Dương mà Thượng đế đang nóng lòng chờ đợi.

Về phần nhân vật chính là con người, chịu đựng thử thách là hình ảnh chủ đạo trong mọi biến thể của vở kịch, dù cho nhân vật đóng vai trò đó là Jesus, Job, Faust, hoặc Adam và Eve. Hình ảnh Adam và Eve trong vườn Địa đàng là sự hồi tưởng về trạng thái Âm, thể hiện qua phương pháp tìm kiếm thức ăn của người nguyên thủy trong nền kinh tế hái lượm, khi họ đã chứng minh uy thế của mình so với phần còn lại của hệ động thực vật lúc bấy giờ trên Trái Đất. Sự sa ngã là phản ứng lại cám dỗ của thức ăn trên cây Kiến thức giữa Tốt và Xấu, tượng trưng cho sự chấp nhận thách thức để từ bỏ sự hòa nhập cũ và để mạo hiểm dựa trên một phân biệt mới mà ở đó, sự hòa nhập mới có thể, và cũng có thể không - được hình thành. Việc bị trục xuất khỏi vườn Địa đàng xuống một thế giới xa lạ mà ở đó người Nữ phải sinh con trong đau đớn và người Nam phải ăn bánh mì thấm đẫm mồ hôi của chính mình, chính là thử thách do sự chấp nhận thách thức của thần Rắn đem lại. Sự giao hợp giới tính giữa Adam và Eve là một hoạt động của sáng tạo xã hội. Nó đã đơm hoa kết trái bằng sự ra đời của hai cậu con trai là hiện thân của hai nền văn minh mới định hình: Abel người chăn cừu và Cain người nông dân.

Ở thế hệ của chúng ta, một trong những nhà nghiên cứu môi trường tự nhiên của đời sống con người có tư tưởng lỗi lạc và độc đáo nhất đã kể lại cùng câu chuyện theo cách riêng của ông:

“Cách đây rất lâu, một nhóm người nguyên thủy trần trụi mông muội, không có nhà cửa, thậm chí không có cả lửa, khởi hành từ mái nhà ấm cúng của họ ở vùng nhiệt đới và tiến dần về phương bắc từ đầu xuân tới cuối hạ. Họ chẳng bao giờ đoán được rằng mình đã rời khỏi vùng đất ấm áp quanh năm cho tới tháng chín, khi họ bắt đầu cảm thấy lạnh lẽo vào ban đêm. Thời tiết mỗi ngày một tệ hơn. Không biết nguyên do, họ tản ra tìm đường thoát thân. Một số di chuyển về phía nam, nhưng chỉ có một ít trở về được mái nhà xưa. Tại đó, họ trở lại với cuộc sống cũ, và các hậu duệ của họ vẫn mãi mãi là người man rợ cho tới tận ngày nау. Còn những người chạy sang các hướng khác, tất cả đều bị tiêu diệt ngoại trừ một nhóm nhỏ. Phát hiện ra rằng mình sẽ không thể trốn thoát khí hậu rét buốt, các thành viên của nhóm này đã sử dụng những năng lực cao quý nhất của con người, đó là sự tư duy và khả năng phát minh có ý thức. Một số cố gắng tìm nơi trú ẩn bằng cách đào xuống đất, một số thu lượm cành và lá cây để dựng lều và làm những chiếc giường ấm áp, còn một số tự quấn quanh cơ thể mình bằng da những con thú mà họ giết được. Không lâu sau, những người nguyên thủy này đã tiến một bước dài về phía sự văn minh. Thân thể trần trụi của họ đã được che phủ bằng quần áo; những người không nhà nay đã có nơi trú ẩn; họ học được cách phơi khô và cất giữ thịt, cùng với các thứ trái cây, để dành cho mùa đông; và cuối cùng nghệ thuật tạo ra lửa đã được khám phá như một phương tiện để giữ ấm. Nhờ đó mà họ đã tồn tại được ở nơi mà ban đầu họ đã nghĩ rằng mình bị đọa đày. Và trong tiến trình tự thích nghi với môi trường khắc nghiệt, họ đã tiến những bước dài, bỏ phần nhân loại sống ở vùng nhiệt đới tại rất xa sau lưng”.[4]

Tương tự, một học giả cổ điển cũng diễn dịch câu chuyện sang thuật ngữ khoa học của thời đại chúng ta như sau:

“Đó là … một nghịch lý của sự tiến hóa khi, nếu Tất yếu là mẹ đẻ của Phát minh, còn người cha là sự Ngoan cố, thì nhất định rằng bạn sẽ tiếp tục sống dưới những điều kiện khắc nghiệt chứ không cuốn gói và đi tới nơi nào cuộc sống dễ dàng hơn. Không phải là ngẫu nhiên khi nền văn minh, như chúng ta đã biết, bắt đầu khi khí hậu trở nên tồi tệ, với hệ động thực vật mang những đặc tính của kỷ Băng hà. Những con linh trưởng đã “rời khỏi” những điều kiện sống trên cây sẽ mất dần địa vị vượt trội giữa những con tôi tớ khác trong đàn, song chúng đã dẫn đầu cuộc chinh phục thiên nhiên. Những con đó sẽ trở thành người, những người đứng trên mặt đất khi không còn cây cối để sinh sống nữa, những người biết ăn thịt khi trái cây chưa chín, những người làm ra lửa và quần áo thay vì sống theo ánh mặt trời; những người biết gia cố vững chắc cái hang mình ở và huấn luyện những thành viên mới, còn nhỏ, về tính hợp lý của một thế giới có vẻ như quá vô lý”.

Như vậy, cảnh đầu tiên trong cuộc thử thách của nhân vật chính con người là một biến chuyển từ Âm sang Dương thông qua quá trình hoạt động năng động - được biểu hiện bởi sự sáng tạo của Thượng đế dưới sức cám dỗ của địch thủ - đã cho phép Thượng đế nối lại hoạt động sáng tạo của Ngài. Nhưng tiến trình này không phải là không có cái giá của nó; và không phải Thượng đế, mà chính là các tôi tớ của Người - thủy tổ của loài người - là những kẻ phải trả giá. Cuối cùng, sau nhiều thăng trầm, những kẻ vượt qua được thử thách sẽ đóng vai trò những người tiên phong. Nhân vật chính con người trong các vở kịch thần thánh không chỉ phục vụ cho Thượng đế để Ngài có điều kiện làm mới sự sáng tạo của mình, mà còn phục vụ cho các đồng loại con người bằng cách chỉ ra con đường cho những người khác noi theo.

(2) ÁP DỤNG THẦN THOẠI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Nhân tố không thể dự đoán

Dưới ánh sáng của thần thoại học, chúng ta đã có được một cái nhìn tương đối về những thách thức và phản ứng tự nhiên. Chúng ta đã coi sự sáng tạo là kết quả của một cuộc gặp gỡ, hay chạm trán, và coi sự hình thành là một sản phẩm của tương tác. Giờ đây chúng ta hãy quay trở về với sứ mệnh cấp thời của mình: Cuộc tìm kiếm nhân tố tích cực đã lôi nhân loại ra khỏi “sự thống nhất của tập quán” và bước vào “sự phân biệt của văn minh” trong 6000 năm trở lại đây. Chúng ta hãy xem xét lại khởi nguồn của 21 nền văn minh và bằng một thử nghiệm dựa trên kinh nghiệm để xác định chắc chắn rằng, liệu khái niệm “thách thức và phản ứng” có phải là câu trả lời cho nhân tố mà chúng ta đang tìm kiếm, vốn đã được chứng minh không phải là chủng tộc hay môi trường hay không.

Trong cuộc nghiên cứu mới này, chúng ta vẫn quan tâm tới chủng tộc và môi trường, nhưng sẽ xem xét chúng dưới một khía cạnh mới. Chúng ta không còn đi tìm nguyên nhân đơn giản của quá trình hình thành các nền văn minh, một nguyên nhân có thể được chứng minh rằng luôn luôn gây ra một tác động đồng nhất ở bất cứ địa điểm nào. Chúng ta không còn ngạc nhiên nếu thấy, trong quá trình hình thành các nền văn minh, cùng một chủng tộc hoặc cùng một môi trường trong trường hợp này sinh ra nhiều trái ngọt, nhưng trường hợp khác thì lại cằn cỗi. Thực ra, chúng ta không còn đưa ra các định đề khoa học về tính đồng dạng của thiên nhiên, điều mà ta đã làm khi đánh giá cao quá mức vai trò của những yếu tố vô tri vô giác. Giờ đây, chúng ta đã sẵn sàng nhận thức rằng, ngay cả khi chúng ta thực sự quen thuộc với tất cả yếu tố chủng tộc, môi trường, và những dữ liệu khác có khả năng được lập công thức theo khoa học, chúng ta vẫn sẽ không thể dự đoán trước kết quả của sự tương tác giữa những lực lượng mà các dữ liệu đó đại diện. Cũng giống như một chuyên gia quân sự không thể nào dự đoán kết quả của một trận chiến hoặc chiến dịch từ “kiến thức nội bộ” về các kế hoạch và tài nguyên của hai phe đối địch. Hay một chuyên gia chơi bài không thể dự đoán trước kết quả một ván bài từ một kiến thức tương tự về tất cả lá bài nằm trong tay những người chơi.

Trong cả hai trường hợp nói trên, cụm từ “kiến thức nội bộ” là không đủ để cho phép người sở hữu nó tiên đoán kết quả dù là với độ chính xác nhỏ nhất, bởi nó không phải là kiến thức hoàn chỉnh. Có một thứ gì đó vẫn còn là lực lượng chưa biết đối với người quan sát, vì nó vượt quá kiến thức của bản thân người tham chiến, hay tay chơi bài; và nó là khái niệm quan trọng nhất trong phương trình mà chúng ta cần phải giải. Lực lượng chưa biết này là phản ứng của các diễn viên đối với thử thách khi nó đến thực sự. Những động lượng tâm lý này - vốn cũng thừa kế tính không thể cân đo đong đếm, và do đó không thể đánh giá một cách khoa học - là những lực lượng thực sự quyết định vấn đề khi cuộc gặp gỡ diễn ra. Và đó là lý do các thiên tài quân sự vĩ đại nhất vẫn thừa nhận có một thành tố không thể tính toán được tham gia vào thành công của họ. Nếu sùng đạo, họ quy thắng lợi của mình cho Đức Chúa, chẳng hạn như Cromwell; nếu đơn thuần là người mê tín, họ sẽ quy cho uy lực của “ngôi sao chiếu mạng” của mình, như trường hợp Napoleon.

Sự hình thành nền văn minh Ai Cập сổ

Khi nghiên cứu về yếu tố môi trường trong phần trước, cũng như các tác giả thời Hy Lạp cổ đã giả định trong lý thuyết môi trường, chúng ta cho rằng môi trường là một nhân tố cố định; cụ thể hơn là trong giới hạn của thời gian “lịch sử”, các điều kiện tự nhiên thể hiện ở thảo nguyên Á-Phi và thung lũng sông Nile luôn luôn tương đồng với ngày nay và với 24 thế kỷ trước, khi người Hy Lạp đưa ra các lý thuyết về chúng. Nhưng chúng ta biết rằng thực tế không phải như vậy.

“Trong khi Bắc Âu bị băng tuyết che phủ đến tận Harz, và dãy Alps cùng dãy Pyrenees bị che kín bởi các dòng sông băng, áp suất lớn ở Bắc Cực gây ảnh hưởng xuống phía nam trong những cơn mưa giông ở Đại Tây Dương. Những cơn lốc xoáy ngày nay đi ngang qua Trung Âu rồi vượt qua bán đảo Địa Trung Hải và miền bắc sa mạc Sahara, chúng tiếp tục băng qua Mesopotamia và đất Ả Rập tới Ba Tư và Ấn Độ mà không dừng lại ở Lebanon. Sa mạc Sahara khô cằn được hưởng một lượng mưa đều đặn, và vùng Viễn Đông được tưới tắm không chỉ nhiều hơn về lượng so với ngày nay mà còn được phân bổ đều đặn trong suốt cả năm, thay vì chỉ giới hạn trong mùa đông. …

Chúng ta hẳn trông đợi ở các vùng đồng cỏ và hoang mạc ở Bắc Phi, Ả Rập, Ba Tư và thung lũng Indus, một sự hưng thịnh như của vùng Bắc Địa Trung Hải ngày nay. … Trong khi voi ma-mút, tê giác lông mịn và tuần lộc gặm cỏ xuất hiện ở Pháp và miền Nam nước Anh, Bắc Phi có một hệ động vật như ngày nay được tìm thấy trên dãy Zambesi ở Rhodesia…

Khu vực đồng cỏ xanh tươi ở Bắc Phi và Nam Á có mật độ dân cư dày chẳng kém các vùng thảo nguyên lạnh giá ở châu Âu, và có lý do để nghi vấn rằng, trong môi trường tăng trưởng nhanh và kích thích ấy, con người sẽ có quá trình tiến hóa nhanh hơn so với vùng băng giá phía bắc”.[5]

Nhưng sau khi kết thúc kỷ Băng Hà, khu vực thảo nguyên Á-Phi của chúng ta bắt đầu chứng kiến một cuộc thay đổi vật lý sâu sắc theo hướng khô kiệt dần; và đồng thời hai hoặc nhiều nền văn minh mọc lên từ khu vực trước đây, cũng như toàn bộ phần còn lại của thế giới, bị độc chiếm bởi những xã hội nguyên thủy thuộc thời đồ đá cũ. Các nhà khảo cổ đã giúp đỡ chúng ta việc khảo sát quá trình sa mạc hóa của thảo nguyên Á-Phi như một thách thức mà sự hình thành các nền văn minh là quá trình phản ứng lại.

Giờ đây chúng ta đang đứng trên bờ một cuộc cách mạng vĩ đại, và chúng ta sẽ sớm gặp gỡ những người có khả năng tự cung cấp lương thực cho mình thông qua việc chăn nuôi muông thú và việc gieo trồng ngũ cốc. Dường như không thể phủ nhận được mối liên hệ giữa cuộc cách mạng với cuộc khủng hoảng ra đời do sự tan chảy của các dòng sông băng ở phía bắc, sự thu nhỏ liên tục của khu vực áp cao Bắc Cực ảnh hưởng lên Âu châu cùng với sự chuyển hướng của những cơn mưa giông Đại Tây Dương từ vùng Nam Địa Trung Hải chệch qua Trung Âu như lộ trình của chúng ngày nay.

Sự kiện đó chắc chắn đã là một thử thách cực điểm đối với sự sinh tồn của các cư dân vùng cựu thảo nguyên này. …

Phải đối mặt với hiện tượng sa mạc hóa diễn ra một cách liên tục do sự chuyển hướng lên phía bắc của vành đai gió xoáy Đại Tây Dương khi các sông băng của châu Âu bị thu nhỏ, có ba chọn lựa mở ra cho các cư dân săn bắt bị ảnh hưởng đó. Họ có thể di chuyển lên phía bắc hoặc xuống phía nam theo con mồi của mình theo vành đai khí hậu mà họ đã quen thuộc; họ có thể ở lại quê nhà sống vất vưởng trong thiếu thốn vì hạn hán và cuối cùng là diệt vong; hoặc họ có thể - vẫn không rời khỏi quê nhà - tự giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào môi trường bằng cách thuần hóa gia súc và phát triển nông nghiệp”.[6]

Trong sự kiện này, những người không chịu thay đổi cả môi trường sống lẫn cách sống của mình đã phải trả một cái giá, đó là sự diệt vong cho phản ứng sai lầm của họ đối với thách thức sa mạc hóa. Những người tránh thay đổi môi trường sống bằng cách thay đổi lối sống đã tự chuyển đổi mình từ những cư dân săn bắt thành những người du mục ở thảo nguyên Á-Phi. Thành tựu và số phận của họ sẽ lôi cuốn sự chú ý của chúng ta ở một phần khác của cuốn sách này. Đối với những người đã chọn thay đổi môi trường sống thay vì thay đổi lối sống, những cộng đồng tránh hạn hán bằng cách bám theo vành đai gió lốc khi nó chuyển hướng lên phía bắc đã vô tình để bản thân mình đứng trước một thách thức mới - thách thức của mùa lạnh ở phương bắc - từ đó họ phải tìm ra một cách sinh tồn mới để khỏi phải chết vì nó; trong khi đó những cộng đồng tránh hạn hán bằng cách rút lui về hướng nam đến khu vực vành đai gió mùa dưới ảnh hưởng từ khí hậu đều đều của các vùng chí tuyến. Thứ năm và cuối cùng là những cộng đồng phản ứng với thách thức hạn hán bằng cách thay đổi cả lối sống lẫn môi trường sống của họ, và trường hợp phản ứng kép hiếm hoi này chính là hoạt động năng động đã tạo ra các nền văn minh Ai Cập cổ và Sumer từ một số xã hội nguyên thủy ở các thảo nguyên Á-Phi đang dần biến mất.

Sự thay đổi về lối sống của các cộng đồng sáng tạo này là một chuyển biến triệt để từ những cư dân săn bắt và hái lượm thành những cư dân trồng trọt. Sự thay đổi trong môi trường sống của họ là rất nhỏ về mặt khoảng cách địa lý nhưng lại là khổng lồ nếu tính toán bằng những điểm dị biệt về đặc tính giữa các vùng thảo nguyên mà họ đã lìa bỏ với môi trường tự nhiên mới mà giờ đây họ cư ngụ. Khi những vùng thảo nguyên nhìn xuống thung lũng hạ lưu sông Nile biến thành hoang mạc Libya và những vùng đồng cỏ nhìn xuống thung lũng hạ lưu sông Euphrates và Tigris biến thành hoang mạc al-Khāli và Dasht-i-Lūt, những người tiên phong dũng cảm này - được thúc đẩy bởi sự táo bạo hoặc liều lĩnh - đã khai phá những khu rừng đầm lầy ở dưới đáy các thung lũng vốn chưa từng bao giờ in dấu chân người, và hành động sáng tạo này của họ sẽ tạo nên lãnh thổ Ai Cập và lãnh thổ Shinar. Còn các láng giềng của họ, những người chọn những lộ trình khác như đã trình bày ở trên, cuộc mạo hiểm của họ có vẻ vô cùng tuyệt vọng; vì trong thời kỳ trước, khi khu vực giờ đây bắt đầu biến thành thảo nguyên Á-Phi còn là thiên đường hạ giới của người Nilotic và Mesopotamia - các khu rừng đầm lầy lúc ấy là một vùng hoang vu cấm kỵ và có vẻ như không thể vượt qua. Khi đường đi đã được mở, cuộc thám hiểm thành công vượt quá những hy vọng lạc quan nhất mà những người khai phá có thể ấp ủ. Tính đỏng đảnh của thiên nhiên đã bị chinh phục bởi ý chí của con người; những cánh rừng đầm lầy không định hình đã nhường chỗ cho một hệ thống kênh đào cùng với những con đê và đồng ruộng; các vùng lãnh thổ Ai Cập và Shinar đã được cải tạo từ thiên nhiên hoang dã, và chúng bắt đầu cuộc phiêu lưu vĩ đại của mình.

Vùng thung lũng hạ lưu sông Nile mà những người khai phá đã tiến xuống không chỉ khác xa so với thung lũng mà chúng ta thấy ngày nay, vì sau 60 thế kỷ những người lao động khéo léo để lại dấu ấn của mình trên đó; mà nó cũng khác xa không kém so với dáng vẻ của nó hiện nay nếu như con người để yên công cuộc cải tổ đó cho thiên nhiên. Có thể nói rằng, vào kì cổ đại và trung đại, nhiều thiên niên kỷ sau thời của những người khai phá - loài hà mã, loài cá sấu và một số lượng lớn các loài chim hoang dã, vốn nhung nhúc trong vùng thung lũng hạ lưu, dựa trên những chứng cứ điêu khắc và hội họa còn tồn tại từ thời kỳ đó, ngày nay không còn loài nào trong số chúng có thể tìm thấy dưới vùng đệ nhất thác. Thực trạng của các loài chim chóc và động vật cũng là thực trạng của hệ thực vật. Mặc dù có tình trạng sa mạc hóa, nhưng Ai Cập vẫn có mưa rào và tam giác sông Nile vẫn là một vùng đầm lầy ngập nước. Có khả năng là vùng hạ lưu sông Nile nằm trên tam giác sông Nile thời đó giống với vùng thượng sông Nile ở sông Bahr-al-Jabal trong địa phận xích đạo của Sudan ngày nay, và bản thân vùng tam giác sông Nile có thể giống với khu vực quanh hồ No nơi hai con sông Bahr-al-Jabal và Bahr-al-Ghazal hợp nhất dòng nước của chúng. Sau đây là một tài liệu mô tả vùng đất ảm đạm này hiện nay:

“Phong cảnh sông Bahr-al-Jabal chảy qua vùng Sudd [bó sậy] thật đơn điệu. Hoàn toàn không có bờ sông, ngoại trừ một vài điểm bị cô lập, không có dấu hiệu của đất đai nào ở hai bên bờ. Toàn bộ là đầm lầy đầy lau sậy trải dài nhiều cây số ở cả hai bên mép nước. Sự kéo dài của chúng chỉ bị ngắt quãng ở những khoảng có phá. Bề mặt của chúng chỉ cao hơn mực nước sông thấp nhất vài xen-ti-mét, và thủy triều dâng lên nửa mét sẽ cuốn chúng ra một khu vực khổng lồ. Các đầm lầy này được che phủ bởi một lượng cỏ nước dày đặc, mênh mông đến tận đường chân trời. …

Suốt dọc khu vực này, đặc biệt là từ Bor tới hồ No, cực kỳ hiếm thấy dấu hiệu của đời sống con người. … Toàn bộ vùng lãnh thổ này có một vẻ bề ngoài hoang tàn không thể miêu tả bằng lời. Cần phải chứng kiến tận mắt mới hiểu được”.[7]

Sở dĩ không có dấu hiệu của sự sống là vì những người cư trú ở khu vực ngoại vi của nó không phải đương đầu - như tổ tiên của nền văn minh Ai Cập cổ khi họ đến ranh giới của thung lũng hạ sông Nile 6000 năm trước - với chọn lựa khó khăn là xâm nhập vào vùng Sudd cấm kỵ hay bám víu vào nơi sinh sống do tổ tiên truyền lại đang trong quá trình biến chuyển từ một thiên đường hạ giới thành một hoang mạc không thể cư ngụ. Nếu các phỏng đoán của các học giả của chúng ta đúng, thì tổ tiên của những người hiện nay sống trên ranh giới của vùng Sudd thuộc Sudan, lúc đó đã sống ở khu vực hiện nay là sa mạc Libya, kề vai sát cánh với những người sáng lập nền văn minh Ai Cập cổ vào thời điểm họ phản ứng lại thách thức của sự sa mạc hóa bằng cách đưa sự lựa chọn quan trọng của mình. Lúc ấy, có vẻ như tổ tiên của người Dinka và Shilluk cận đại đã chia tay với những người láng giềng gan dạ của mình và đi theo con đường ít chông gai hơn là rút lui về phía nam đến một vùng đất mà họ có thể tiếp tục sống trong những điều kiện tự nhiên tương đồng với vùng đất quen thuộc, mà không phải thay đổi cách sống của mình. Họ dừng chân ở Sudan nhiệt đới, trong phạm vi khu vực rừng mưa xích đạo, và tại đây các hậu duệ của họ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, với cuộc sống giống hệt như tổ tiên xa xưa của họ. Dưới mái nhà mới, những người di cư chậm chạp và ít tham vọng này đã tìm thấy những gì họ mơ ước.

“Những cư dân cư trú ở khu vực thượng sông Nile hiện nay có nhiều đặc điểm giống với những người Ai Cập cổ xưa nhất về hình dạng, vóc dáng, tỉ lệ hộp sọ, ngôn ngữ và trang phục. Họ được cai trị bởi những thầy pháp gọi mưa hoặc bởi những vị vua thần thánh. Mãi tới gần đây còn có người bị giết theo nghi lễ và các bộ lạc được tổ chức thành những thị tộc totem. … Sự thực là, đời sống của các bộ lạc ở vùng thượng sông Nile này như dừng lại ở mức mà người Ai Cập cổ đã vượt qua từ trước khi lịch sử của họ bắt đầu. Với họ, chúng ta có một bảo tàng sống phô bày những chứng cứ và hấp dẫn chúng ta đến với thời tiền sử”.[8]

Việc tồn tại song song một cuộc sống thời tiền sử xa xưa ở một phần thung lũng sông Nile giữa thế giới văn minh hiện nay gợi ra cho ta những suy đoán nhất định. Giả sử rằng thách thức của sa mạc hóa chưa bao giờ xuất hiện đối với những cư dân của thung lũng sông Nile ở những vùng đã vượt khỏi phạm vi vùng mưa xích đạo dưới những điều kiện lúc bấy giờ: nếu vậy, liệu vùng tam giác và thung lũng hạ lưu sông Nile có giữ nguyên được hiện trạng hay không? Phải chăng nền văn minh Ai Cập cổ sẽ không được hình thành? Liệu những người này có ngồi yên trên bờ của một thung lũng hạ sông Nile chưa được cải tạo như người Shilluk và Dinka hiện nay đang ngồi yên trên bờ sông Bahr-al-Jabal? Và còn một lối suy đoán khác không phải về quá khứ mà về tương lai. Chúng ta có thể tự nhắc nhở mình rằng trên nấc thang thời gian của vũ trụ, hoặc của hành tinh chúng ta, hoặc của sự sống, hoặc thậm chí là của nòi giống con người, thì 6000 năm là một khoảng thời gian không đáng kể. Giả sử có một thách thức khác, khắc nghiệt không kém thách thức dành cho cư dân của thung lũng hạ sông Nile ở cuối kỷ Băng hà, mai này sẽ xảy đến với cư dân của thung lũng thượng sông Nile, liệu có lý do nào để tin rằng họ không đủ khả năng phản ứng lại bằng một hoạt động năng động tương tự?

Chúng ta không cần thiết phải đòi hỏi rằng, thách thức dành cho người Shilluk và Dinka này phải cùng loại với những gì đã xảy đến cho tổ tiên của nền văn minh Ai Cập cổ. Ta thử hình dung một thách thức không đến từ môi trường tự nhiên mà từ môi trường con người, không phải từ sự thay đổi khí hậu mà từ sự xâm nhập của một nền văn minh bên ngoài. Chẳng phải là thách thức này đã từng xuất hiện thực sự trước mắt chúng ta với cư dân nguyên thủy ở vùng châu Phi nhiệt đới do tác động của nền văn minh Tây phương chúng ta - một tác động đóng vai trò ác quỷ trong thần thoại đối với mọi nền văn minh hiện tồn khác cũng như mọi xã hội nguyên thủy hiện tồn trên trái đất hay sao? Thách thức này vẫn còn quá mới mẻ nên chúng ta chưa thể dự đoán được phản ứng sau cùng của mỗi xã hội bị thách thức. Chúng ta chỉ có thể nói rằng, thất bại của tổ tiên trong việc phản ứng lại một thách thức không thể suy ra rằng thế hệ sau sẽ thất bại khi đối mặt với một thách thức khác vào thời của họ.

Sự hình thành nền văn minh Sumer

Có thể giải quyết nội dung này bằng một vài từ ngắn gọn, vì ở đây chúng ta có một thách thức tương đồng với thách thức đã xảy đến cho các tổ tiên của nền văn minh Ai Cập cổ và một phản ứng cùng loại. Sự sa mạc hóa của thảo nguyên Á-Phi cũng tạo ra áp lực tương tự lên tổ tiên của nền văn minh Sumer khi họ phải bám chặt lấy vùng rừng đầm lầy của thung lũng hạ lưu các sông Tigris và Euphrates và biến đổi nó thành lãnh thổ Shinar. Các khía cạnh vật chất của hai sự hình thành này là gần như đồng nhất. Những đặc điểm tâm lý của kết quả hai nền văn minh như tôn giáo, nghệ thuật, và thậm chí là đời sống xã hội của họ, thể hiện tính tương đồng ít hơn nhiều - một dấu hiệu nữa cho thấy rằng, trong lĩnh vực nghiên cứu của chúng ta, các nguyên nhân tương đồng không thể được coi là một tiền đề chắc chắn để sản sinh ra những hiệu ứng tương đồng.

Thử thách mà tổ tiên của nền văn mình Sumer đã vượt qua được khắc ghi trong truyền thuyết của người Sumer. Đó là chuyện hạ sát con rồng Tiamat của thần Marduk, việc sáng tạo thế giới từ xác chết của nó ẩn chứa sự khuất phục của thiên nhiên hoang dã nguyên thủy và sự sáng tạo lãnh thổ Shinar bằng hệ thống kênh dẫn nước và việc thoát nước cho đất. Câu chuyện về cơn hồng thủy ám chỉ sự chống đối của thiên nhiên trước những kềm kẹp mà con người đã bạo gan đặt lên nó. Trong phiên bản của Kinh thánh, câu chuyện này đã được người Do Thái thừa kế và phát triển thêm từ sự khổ ải của họ do dòng nước của Babylon gây ra, “cơn đại hồng thủy” đã trở thành từ ngữ quen thuộc của xã hội Tây phương chúng ta. Các nhà khảo cổ cận đại đã phát hiện ra phiên bản nguyên thủy của truyền thuyết, ấy là chứng cứ trực tiếp của một cơn lũ khắc nghiệt bất thường có thật, qua việc khảo sát một lớp đất sét dày có nguồn gốc từ phù sa của cơn lũ đã xen vào giữa hai thời kỳ lắng đọng địa tầng trước và sau do sự cư trú của con người gây ra trên một số vị trí phân bố lịch sử nhất định của nền văn minh Sumer.

Vùng thung lũng sông Tigris và sông Euphrates, giống như vùng thung lũng sông Nile, phơi bày trước mắt chúng ta một “bảo tàng”, trong đó chúng ta có thể nghiên cứu khía cạnh thông thương của thiên nhiên vô tri vô giác trong thế giới hoang dã mà con người đã biến đổi, cùng với đời sống trong thế giới hoang dã của những người Sumer tiên phong. Tuy nhiên, ở Mesopotamia, chúng ta không thể phát hiện ra bảo tàng này nếu đi ngược dòng sông, như ở thung lũng sông Nile. Nó nằm trong vùng tam giác mới ở đầu vịnh Ba Tư, hình thành do sự hợp dòng giữa ba con sông vào thời điểm không chỉ sau khi nền văn minh Sumer được hình thành mà sau cả thời điểm nó và nền văn minh Babylon thừa kế nó đã suy tàn. Các vùng đầm lầy này, vốn đã dần dần hình thành trong vòng 2-3 nghìn năm trước đó, vẫn giữ được trạng thái nguyên thủy của nó đến tận ngày nay chỉ vì không có xã hội loài người nào xuất hiện tại đó với ước muốn làm chủ chúng. Những cư dân của vùng đầm lầy đã tự thích nghi với môi trường sống này theo cách thụ động, được thể hiện qua biệt danh của họ, “người chân màng” (chân có màng như chân vịt), như tên gọi của các binh sĩ Anh giành cho họ trong cuộc chiến 1914-1918, nhưng họ chưa bao giờ tự giao cho mình sứ mệnh, mà các tổ tiên của nền văn minh Sumer đã hoàn thành trên vùng lãnh thổ tương tự từ 5-6 nghìn năm trước, đó là biến các đầm lầy thành một mạng lưới kênh đào và đồng ruộng.

Sự hình thành nền văn minh Trung Quốc cổ đại

Nếu tiếp tục xem xét sự hình thành của nền văn minh Trung Hoa cổ đại ở vùng thung lũng hạ lưu Hoàng Hà, chúng ta sẽ được chứng kiến phản ứng đáp trả của con người trước thách thức từ thiên nhiên có lẽ còn khắc nghiệt hơn khu vực Lưỡng Hà và sông Nile. Trong thiên nhiên hoang dã mà con người đã biến đổi thành cái nôi của nền văn minh Trung Quốc cổ đại rực rỡ ấy, thử thách của các đầm lầy, bụi rậm cùng với lũ lụt chẳng hề đáng kể nếu so với khí hậu khắc nghiệt vốn dao động rất lớn theo mùa, giữa cái nóng gay gắt của mùa hè và cái lạnh buốt giá của mùa đông. Tổ tiên của nền văn minh Trung Hoa cổ không có vẻ khác biệt về chủng tộc so với những người đang chiếm giữ vùng lãnh thổ rộng lớn ở hướng nam và tây nam trải dài từ Hoàng Hà tới Brahmaputra và từ cao nguyên Tây Tạng tới biển Trung Hoa. Nếu một số thành viên nhất định của chủng tộc được phát tán rộng rãi đó tạo ra một nền văn minh trong khi phần còn lại vẫn giữ trạng thái khô khan về phương diện văn hóa, thì sự lý giải có thể là năng lực sáng tạo, vốn vẫn tiềm tàng trong tất cả những người khác, đã được đánh thức trong các thành viên này một khi thách thức xuất hiện. Không thể phân tích điều kiện thiên nhiên chính xác của thách thức này do hạn hẹp về kiến thức ở thời điểm hiện nay của chúng ta, song điều mà chúng ta có thể đoan chắc là các tổ tiên của nền văn minh Trung Hoa cổ đại ở lưu vực sông Hoàng Hà không được hưởng hoàn cảnh sống thuận lợi hơn chút nào so với các láng giềng của họ. Thực tế là, không một ai trong số những người họ hàng của họ ở phía nam, chẳng hạn như ở khu vực thung lũng sông Dương Tử, nơi nền văn minh này đã không khởi nguồn, phải trải qua một cuộc đấu tranh sinh tồn gian khổ đến thế.

Sự hình thành các nền văn minh Maya và Andes

Nền văn minh Maya chính là phản ứng đáp trả lại thách thức của rừng nhiệt đới rậm rạp.

“Nền văn minh Maya hình thành từ sự cải tạo nông nghiệp ở những vùng đất thấp màu mỡ, nơi tính thiên nhiên phức tạp chỉ có thể bị chặn đứng bằng những nỗ lực có tổ chức. Ở những vùng đất cao, việc cày cấy tương đối thuận lợi, nhờ có những loài thực vật tự nhiên dễ sinh trưởng và lượng nước tưới điều hòa. Tuy nhiên ở những vùng đất thấp, người ta cần phải đốn các cây cổ thụ và những bụi cây phát triển rất nhanh với nỗ lực không biết mệt mỏi. Nhưng khi thiên nhiên đã thật sự được thuần hóa, nó sẽ trao những tặng vật hào phóng cho người nông dân gan dạ. Vả chăng, có lý do để tin rằng sự khai phá rừng rậm che phủ những khu vực rộng lớn đã ảnh hưởng rất tích cực lên điều kiện sống vốn khó lòng đạt được dưới cái bóng của một tán lá cây dày”.[9]

Thách thức này, vốn đã thúc đẩy sự hình thành của nền văn minh Maya ở phía bắc sông Isthmus của Panama, lại không kích thích phản ứng gì phía bên kia bờ sông Isthmus. Các nền văn minh hình thành ở Nam Mỹ đã phản ứng đáp trả trước hai thách thức hoàn toàn khác nhau, đến từ cao nguyên Andes và từ vùng giáp bờ biển Thái Bình Dương. Trên cao nguyên, các tổ tiên của nền văn minh Andean bị thách thức bởi khí hậu lạnh lẽo và đất đai khô cằn; trên bờ biển họ bị thách thức bởi sự nóng bức và khô hạn của vùng sa mạc xích đạo gần như không có mưa, chỉ có thể trồng cấy được từ sự lao động kiệt lực của con người. Những người tiên phong của nền văn minh bờ biển đã phù phép ra những ốc đảo từ sa mạc bằng cách dành dụm những nguồn nước ít ỏi chảy xuống từ bờ phía tây của cao nguyên đã ban sự sống cho các vùng đồng bằng nhờ sự tưới tắm. Những người tiên phong trên cao nguyên thì biến những sườn núi của họ thành đồng ruộng bằng cách chắt chiu nguồn đất đai hiếm hoi trên các khu ruộng bậc thang được duy trì nhờ một hệ thống vách ngăn xây dựng ở khắp mọi nơi.

Sự hình thành nền văn minh Minoan

Đến giờ, chúng ta đã giải thích khái niệm về những phản ứng đáp trả các thách thức đến từ môi trường tự nhiên mà kết quả là sự hình thành của năm trong số sáu nền văn minh có liên quan của chúng ta. Nền văn minh thứ sáu là phản ứng đáp trả thách thức mà chúng ta chưa từng gặp trong cuộc nghiên cứu này, thách thức của biển cả.

Những người tiên phong của “quyền lực của biển Minos” này từ đâu đến? Từ châu Âu, châu Á hay châu Phi? Một cái nhìn liếc qua bản đồ thế giới sẽ gợi ý rằng họ đến từ châu Âu hoặc châu Á, vì các hòn đảo này ở gần những lục địa đó hơn rất nhiều so với Bắc Phi - thực ra ở đây chúng ta đang nói tới phần đỉnh của những dãy núi ngầm dưới biển chạy dài từ Anatolia tới Hy Lạp. Song chúng ta đang đối mặt với một tình huống bối rối, bởi rõ ràng là chứng cứ khảo cổ đã cho thấy di chỉ cổ xưa nhất của những nơi trú ngụ của con người được tìm thấy ở Crete, một hòn đảo tương đối xa đối với cả Hy Lạp lẫn Anatolia, tuy rằng nó vẫn gần cả hai nơi này hơn so với Phi châu. Dân tộc học cũng ủng hộ đề xuất mà khảo cổ học đã đưa ra; vì đã chứng mình được rằng một số cư dân cổ xưa nhất của các lục địa giáp với Aegea, có những phân biệt rất rõ ràng và chắc chắn về kiểu dáng cơ thể. Những cư dân cổ xưa nhất được biết đến của Anatolia và Hy Lạp có “đầu tròn”; những cư dân cổ xưa nhất được biết đến ở các thảo nguyên Á-Phi có “đầu dài”; và một cuộc phân tích những di tích cổ xưa nhất về vóc dáng người ở Crete cho thấy hòn đảo này đầu tiên bị chiếm đóng toàn bộ hoặc chủ yếu bởi những người “đầu dài”, trong khi những người “đầu tròn”, mặc dù cuối cùng họ sẽ chiếm ưu thế, nhưng lúc đầu họ hoặc không hiện diện, hoặc chỉ chiếm một bộ phận rất nhỏ trong thành phần dân cư của đảo Crete. Bằng chứng dân tộc học này đưa tới kết luận rằng, những con người đầu tiên đặt chân lên bất kỳ phần nào trên quần đảo Aegean đều là dân nhập cư chạy trốn sự sa mạc hóa của các thảo nguyên Á-Phi.

Như vậy, chúng ta đã bổ sung phản ứng đáp trả thứ sáu vào năm phản ứng trước đối với hiện tượng sa mạc hóa mà chúng ta đã đề cập từ nãy tới giờ. Bên cạnh những người không chịu di tản và đã bị diệt vong; những người không chịu di tản và đã trở thành dân du mục; những người đã tiến xuống phía nam và giữ lại lối sống xa xưa của mình, như người Dinka và Shilluk; những người đã đi về phía bắc và trở thành các nông dân thời kỳ đồ đá mới trên lục địa Âu châu; những người đã xâm nhập vào các khu rừng đầm lầy và tạo ra các nền văn minh Ai Cập cổ và Sumer, chúng ta phải thêm vào những người tiến lên phía bắc và vượt biển, không phải theo những con đường tương đối dễ dàng qua eo biển, mà xông thẳng vào biển Địa Trung Hải đầy đe dọa, chấp nhận thách thức tiếp theo, băng ngang qua biển rộng, và dựng nên nền văn minh Minoan.

Nếu kết quả phân tích này là đúng, thì nó cung cấp một minh họa sinh động về thực tế là, trong quá trình hình thành các nền văn hóa, tác động qua lại giữa thách thức và phản ứng đáp trả là nhân tố phải được xếp trên tất cả những nhân tố khác - trong trường hợp này là xếp trên khoảng cách địa lý. Nếu khoảng cách địa lý là nhân tố quyết định trong việc chiếm đóng vùng quần đảo Aegea, thì cư dân của những lục địa gần nhất, đó là châu Âu và châu Á, phải là những người đầu tiên đặt chân lên quần đảo này. Nhiều hòn đảo trong quần đảo này chỉ cách các lục địa nói trên trong tầm “ném một hòn đá”, trong khi đảo Crete cách xa tới 200 dặm so với điểm gần nhất ở Phi châu. Còn các đảo gần Á và Âu châu nhất, có vẻ như chỉ bị chiếm đóng rất lâu sau đảo Crete, và bị chiếm đóng đồng thời bởi những người “đầu dài” và “đầu tròn”. Điều này gợi ra suy đoán rằng, sau khi người Á-Phi đã lập nên nền văn minh Minoan, thì những người khác mới đổ bộ lên các lãnh thổ của họ, đơn thuần là bắt chước theo những người tiên phong hoặc dưới áp lực của một thách thức nào đó vào thời của họ mà chúng ta không thể xác định chính xác, tạo ra phản ứng giống với việc chiếm ngụ đảo Crete của người Á-Phi đã diễn ra dưới những điều kiện khắc nghiệt hơn rất nhiều.

Sự hình thành các nền văn minh hậu duệ

Khi chúng ta chuyển từ nền văn minh “không có họ hàng” - được hình thành từ trạng thái Âm của các xã hội nguyên thủy - sang nền văn minh sau này vốn có quan hệ họ hàng theo nhiều cách và nhiều mức độ với các nền văn minh tiền đề của chúng, rõ ràng là, mặc dù vẫn có thể có một mức độ nào đó của thách thức tự nhiên kích thích chúng, song thách thức chính yếu và cơ bản nhất chính là thách thức của con người xuất phát từ mối quan hệ với xã hội tiền đề trực hệ của chúng. Thách thức này tiềm ẩn trong bản thân mối quan hệ, bắt đầu bằng sự chia rẽ và lên đến đỉnh điểm là một cuộc ly khai. Sự chia rẽ xuất hiện trong cơ thể của nền văn minh tiền đề, khi nền văn minh đó bắt đầu đánh mất năng lực sáng tạo mà thông qua đó, trong thời kỳ phát triển hưng thịnh của mình, nó đã từng truyền một lòng trung thành tự nguyện vào trái tim của những người sống bên trong nó hoặc các láng giềng xung quanh. Khi điều này xảy ra, nền văn minh ốm yếu kia sẽ phải trả giá cho sự thiếu sinh khí của mình bằng việc phân rã thành một tầng lớp thống trị, cai trị với sự áp bức ngày càng tăng nhưng không thể kéo dài, và một giai cấp bị trị (trong nước hoặc ngoài nước) phản ứng lại thách thức này bằng cách ý thức rằng nó có một linh hồn của riêng nó và quán triệt tư tưởng phải duy trì sự sống cho linh hồn đó. Tầng lớp thống trị sẽ nỗ lực đàn áp những mầm mống ly khai trong giai cấp bị trị; và một cuộc xung đột giữa nguyện vọng của hai giai cấp sẽ nổ ra và kéo dài trong khi nền văn minh đang suy tàn tiến gần đến bờ vực sụp đổ. Khi thời cơ đến, giai cấp bị trị phá bỏ và thoát ra khỏi thứ đã từng là mái ấm tinh thần nhưng giờ đây đã trở thành ngục tù của nó và kết quả cuối cùng là một thành phố chết. Trong cuộc xung đột giữa giai cấp bị trị và giai cấp thống trị này, vì nó tự vận động từ đầu tới cuối, chúng ta có thể nhận thấy một trong những cuộc chạm trán đầy bi kịch đó sẽ tái hiện công trình sáng tạo bằng cách đưa cuộc sống của vũ trụ ra khỏi sự trì trệ của mùa thu, vượt qua những đau đớn của mùa đông để đến với sinh khí của mùa xuân. Sự ly khai của giai cấp bị trị là hành vi năng động, phản ứng đáp lại thách thức, thông qua đó chuyển từ trạng thái Âm sang Dương; và trong quá trình phân ly năng động này, nền văn minh “hậu duệ” đã ra đời.

Chúng ta có thể phát hiện ra thách thức tự nhiên nào đó cũng góp phần hình thành nên các nền văn minh hậu duệ hay không? Chúng ta đã thấy, trong phần II, nền văn minh hậu duệ có mối quan hệ với nền văn minh tiền đề của chúng ở những mức độ khác nhau, phụ thuộc vào vị trí địa lý của chúng. Chẳng hạn như nền văn minh Babylon được phát triển hoàn toàn bên trong lãnh thổ của xã hội Sumer tiền đề của nó. Ở đây thách thức tự nhiên khó có thể tham gia vào quá trình hình thành nền văn minh mới, ngoại trừ trong thời kỳ quá độ giữa hai nền văn minh, khu vực cái nôi của chúng có thể rơi trở lại về trạng thái tự nhiên nguyên thủy và điều đó tạo ra thách thức buộc các tổ tiên của nền văn minh mới lặp lại những thành tựu khởi thủy của nền văn minh tiền đề của nó.

Tuy nhiên, khi nền văn minh hậu duệ khai phá một vùng đất mới và xác định vùng lãnh thổ của nó một phần hoặc toàn bộ nằm bên ngoài lãnh thổ của nền văn minh tiền đề, thì sẽ có một thách thức mới từ môi trường thiên nhiên mới mẻ và chưa được chế ngự. Do đó mà trong quá trình hình thành, nền văn minh Tây phương của chúng ta đã phải đương đầu với thách thức từ các khu rừng mưa và sương giá thuộc khu vực Âu châu bên kia dãy Alps, vốn chưa từng đe dọa nền văn minh Hy Lạp cổ tiền đề. Nền văn minh Ấn Độ cổ trong quá trình hình thành cũng đã phải đối mặt với thách thức đến từ các khu rừng mưa xích đạo ẩm của thung lũng Ganges, vốn chưa từng đe dọa nền văn minh tiền đề của nó là Sumer ở những vùng phụ cận hoặc những phần thuộc thung lũng Indus.[10] Nền văn minh Hittite trong quá trình hình thành phải đối đầu với thách thức đến từ cao nguyên Anatolia trước kia không đe dọa nền văn minh Sumer tiền đề. Thách thức mà nền văn minh Hy Lạp cổ phải đương đầu khi nó ra đời - thách thức của biển - giống hệt như thách thức đã đe dọa nền văn minh Minoan tiền đề. Tuy nhiên, thách thức này là hoàn toàn mới mẻ đối với giai cấp bị trị ngoại quốc đến từ phía bên kia ranh giới lãnh thổ của “quyền lực của biển Minos”; và những người man di đại lục này - người Achaea và các nhóm đại loại - khi họ tiến ra biển trong thời kỳ Völkerwanderung hậu Minoan, đã phải đối mặt và vượt qua thử thách khắc nghiệt chẳng kém gì những người tiên phong của nền văn minh Minoan vào thời của họ.

Ở châu Mỹ, trên dải đá vôi ở bán đảo Yucatán, nền văn minh Yucatec phải đương đầu với thách thức không có nước, không có cây cối và gần như không có đất trồng trọt. Còn nền văn minh Mexic phải vượt qua thách thức của cao nguyên Mexico, cả hai thách thức này nền văn minh tiền đề của chúng là Maya đều chưa từng gặp phải.

Còn lại là các nền văn minh Ấn Độ giáo, phương Đông, Cơ Đốc Chính thống, Ả Rập và Iran. Các nền văn minh này có vẻ như không gặp phải một thách thức rõ ràng nào về mặt điều kiện tự nhiên do lãnh thổ của chúng, cũng như nền văn minh Babylon, đồng nhất với lãnh thổ của các nền văn minh tiền đề, vốn đã bị chinh phục bởi những nền văn minh tiền đề này. Tuy nhiên, chúng ta thấy có lý do để chia nhỏ các nền văn minh Cơ Đốc Chính thống và phương Đông. Phân nhánh của nền văn minh Cơ Đốc Chính thống ở Nga gặp phải thách thức đến từ các khu rừng mưa và sương giá khắc nghiệt hơn so với nền văn minh Tây phương đã trải qua; và phân nhánh nền văn minh Viễn Đông ở Triều Tiên và Nhật Bản phải đối mặt với một thách thức đến từ biển cả hoàn toàn khác so với bất kỳ thách thức nào đã từng đe đọa những người tiên phong của nền văn minh Trung Quốc cổ đại.

Đến đây, chúng ta đã chứng minh rằng các nền văn minh hậu duệ, trong mọi trường hợp đều nhất thiết phải đương đầu với thách thức con người vốn có trong quá trình tan rã của các nền văn minh tiền đề, ngoài ra trong một số trường hợp còn phải đối mặt với thách thức từ môi trường tự nhiên, tương tự như thách thức mà các nền văn minh không có họ hàng gặp phải. Để hoàn tất cuộc điều tra này, chúng ta sẽ đặt câu hỏi là, liệu những nền văn minh không họ hàng, ngoài các thách thức thiên nhiên ra, có phải đối đầu với những thách thức con người xuất hiện trong quá trình chúng phân ly từ các xã hội nguyên thủy hay không. Đến lúc này, chúng ta chỉ có thể nói rằng bằng chứng lịch sử là rất thiếu thốn so với mong đợi. Rất có thể là sáu nền văn minh không có họ hàng của chúng ta, trong quá khứ “tiền sử” vốn che giấu sự hình thành của chúng, đã từng gặp những thách thức mà con người có thể so sánh với những thách thức dành cho nền văn minh hậu duệ từ tầng lớp thống trị chuyên chế của nền văn minh tiền đề của chúng. Nhưng để triển khai chủ đề này cần phải có một cuộc nghiên cứu bổ khuyết. 

❀ ❀ ❀

[1] Trích ngài James Jeans: Vũ trụ huyền bí, tr. 1 và 2.

[2] Means, P.A: Các nền văn minh cổ xưa trên dãy Andes, tr. 25-6.

[3] Trích Faust của Goethe, 11.1692-1706 (bản dịch của John Anster).

[4] Trích Huntington, Ellsworth: Nền văn minh và khí hậu, trang 405-6.

[5] Trích Childe, V.G: Phương Đông cổ kính, chương II.

[6] Trích Ibid, trang III.

[7] Trích Ngài William Garstin: Tường thuật trên thung lũng thượng sông Nile, 1904, tr. 98-9.

[8] Trích Childe, V.G: Phương Đông cổ kính, tr. 10-11.

[9] Trích Spinden, H.J: Các nền văn minh cổ ở Mexico và Trung Mỹ, trang 65.

[10] Chúng ta hãy tạm bỏ qua phần thảo luận của tác giả Toynbee ở phần trước của cuốn sách, về câu hỏi liệu nền văn minh thung lũng Indus này có phải là một phân nhánh, hoặc một thuộc địa của nền văn minh Sumer hay không. Ông đã để ngỏ câu hỏi này, nhưng phần II đã coi “nền văn minh thung lũng Indus” là một phần của xã hội Sumer. (Người biên tập)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.