Vấn đề mối quan hệ giữa các nền văn minh và các cá nhân đã từng cuốn hút sự quan tâm của chúng ta ở một phần trước trong nghiên cứu này, và chúng ta đã kết luận rằng cơ cấu mà chúng ta gọi là một xã hội được bao gồm trong nền tảng chung giữa những phạm vi hoạt động riêng rẽ của một số linh hồn cá nhân; rằng nguồn gốc của hoạt động không bao giờ là bản thân xã hội mà luôn luôn là một cá nhân; rằng hoạt động sáng tạo luôn luôn được thực hiện bởi một linh hồn “thiên tài siêu nhân” theo một nghĩa nào đó; rằng như mọi linh hồn sống khác, thiên tài tự bộc lộ mình, thông qua tác động lên các đồng bào của ông ta; rằng trong bất kỳ xã hội nào các cá nhân sáng tạo cũng luôn luôn chỉ chiếm một thiểu số nhỏ; và rằng tác động của thiên tài lên linh hồn của tầng lớp đa số bình dân đôi khi được thực hiện thông qua phương pháp hoàn hảo của sự soi rọi trực tiếp nhưng thường là thông qua biện pháp thứ hai dựa trên một hình thức rèn luyện xã hội tận dụng năng lực ngụy trang (hoặc bắt chước) trong linh hồn của tầng lớp đa số phi sáng tạo và nhờ đó cho phép họ thực hiện “một cách máy móc” phép tiến hóa mà họ không thể tự sáng tạo ra. Những kết luận này đã đạt được trong khi chúng ta phân tích về quá trình phát triển, và nhìn chung chúng đã khẳng định sự tương tác giữa các cá nhân và xã hội trong mọi giai đoạn của lịch sử xã hội đó. Những chi tiết khác biệt nào trong những tương tác kể trên sẽ được phát hiện khi xã hội đang xét đã trải qua quá trình suy sụp và đang trong quá trình tan rã?
Thiểu số sáng tạo, mà các cá nhân sáng tạo từ đó nổi lên trong giai đoạn phát triển, giờ đây đã không còn sáng tạo nữa và thoái hóa thành một tầng lớp “thống trị” đơn thuần, nhưng sự ly khai của tầng lớp bị trị, vốn là đặc trưng căn bản của quá trình tan rã, bản thân nó lại được lãnh đạo bởi các cá nhân sáng tạo mới nổi lên trong tổ chức đối kháng với sự trì trệ của các lực lượng phi sáng tạo. Do đó sự thay đổi từ trạng thái phát triển sang phân rã không đi kèm với sự lụi tàn ngọn lửa sáng tạo. Các cá nhân sáng tạo vẫn tiếp tục nổi lên và nhận lãnh trọng trách dẫn dắt nhờ vào năng lực sáng tạo của họ, nhưng giờ đây họ thấy mình buộc phải thực hiện công việc cũ với một địa vị mới. Trong quá trình phát triển của nền văn minh, cá nhân sáng tạo đóng vai trò một kẻ chinh phục đáp lại một thách thức bằng một phản ứng thành công; còn trong quá trình phân rã của nền văn minh, cá nhân sáng tạo lại đóng vai trò một vị cứu tinh đến để cứu rỗi một xã hội đã thất bại trong phản ứng do thách thức quá khắc nghiệt khiến cho thiểu số sáng tạo của nó không còn sáng tạo.
Những vị cứu tinh như vậy được chia thành nhiều loại khác nhau, tuỳ theo bản chất của phương thuốc mà họ tìm ra để chữa trị cơn bạo bệnh xã hội. Sẽ có những cá nhân muốn trở thành cứu tinh trong một xã hội đang tan rã, chối bỏ sự thất vọng của hiện tại và dẫn dắt các niềm tin tuyệt vọng trong nỗ lực đưa xã hội sang một trang mới tốt đẹp hơn. Những cá nhân muốn trở thành cứu tinh theo kiểu này là người của tầng lớp thiểu số thống trị, và đặc điểm chung của họ là thất bại chung cuộc trong nỗ lực cứu rỗi. Nhưng cũng sẽ có những cứu tinh đến từ một xã hội đang tan rã tìm kiếm sự cứu rỗi từ một trong bốn con đường giải thoát mà chúng ta đã khảo sát. Những cứu tinh lựa chọn bốn con đường này sẽ nhất trí với nhau về quan niệm nỗ lực cứu vớt trạng thái hiện tại của xã hội. Nhân vật cứu tinh hoài cổ sẽ cố gắng tái thiết một quá khứ tưởng tượng; cứu tinh vị lai sẽ nỗ lực nhảy tới một thế giới tương lai tưởng tượng. Cứu tinh ẩn dật (theo trường phái tự cô lập) sẽ biểu hiện mình như một nhà hiền triết núp sau mặt nạ của một vị vua; còn cứu tinh biến hình sẽ xuất hiện với tư cách một Thượng đế hiện thân qua một con người.
(2) CỨU TINH MANG GƯƠM
Nhân vật muốn trở thành cứu tinh của một xã hội đang tan rã nhất thiết phải là một vị cứu tinh mang gươm, tuy nhiên thanh gươm của vị cứu tinh này có thể tuốt trần hoặc nằm trong bao. Ông ta có thể đi lang thang với thanh gươm tuốt trần trên tay hoặc có thể ngồi tự tại với lưỡi gươm ẩn mình trong bao với tư thế của một kẻ chiến thắng đã “bước qua xác tất cả kẻ thù”. Ông ta có thể là dũng sĩ Heracles hoặc thần Zeus, là chàng tí hon David hoặc vua Solomon; và mặc dù chàng tí hon David hoặc chàng dũng sĩ Heracles không bao giờ ngừng lao động và chết trên yên ngựa có thể là hình tượng lãng mạn hơn so với tất cả vinh quang của vua Solomon và tất cả vẻ đường bệ của thần Zeus, song sức lao động của Heracles hoặc chiến công của David sẽ trở thành những nỗ lực vu vơ nếu vẻ thanh bình của Zeus và sự thịnh vượng của Solomon không phải là mục tiêu của họ. Thanh gươm chỉ được vung lên với niềm hy vọng là sau khi sử dụng nó vì những mục đích tốt đẹp, người ta sẽ không bao giờ phải dùng tới nó nữa; nhưng niềm hy vọng này thực sự là một ảo tưởng; “kẻ nào động đến gươm đao sẽ phải chết dưới gươm đao”. Và kết luận của vị cứu tinh đã tuyên bố thành lập vương quốc ở một thế giới khác đã nhận được sự tán thành của nhà duy thực hoài nghi số một trong số các nhà cầm quyền của Tây phương thế kỷ 19, người sau khi diễn dịch sách Phúc âm sang cách diễn đạt trong không gian và thời gian của mình, đã phán rằng “điều duy nhất không thể làm với lưỡi lê là ngồi lên chúng”. Một kẻ sử dụng bạo lực không thể vừa chân thành ăn năn vừa hưởng lợi lâu dài từ những hành vi bạo lực của mình.Những vị cứu tinh mang gươm thời xưa phải là các bậc thủ lĩnh hoặc các thành viên trong hoàng tộc đã nỗ lực thành lập, hoặc đã thành lập thành công, hoặc đã khôi phục thành công các chính quyền trung ương; và mặc dù sự tiến triển từ thời kỳ rối ren sang chính quyền trung ương có khuynh hướng đem lại lòng tin lớn lao ngay tức khắc khiến những nhà sáng lập các chính quyền này thường được tôn thờ như thánh thần, song các chính quyền trung ương luôn luôn rất phù du và nếu, do một kỳ tích nào đó, chúng bướng bỉnh sống vượt quá thời hạn thông thường, thì chúng sẽ phải trả giá cho tuổi thọ cao bất thường này bằng việc thoái hóa thành các tệ nạn xã hội độc hại (theo kiểu của nó) chẳng kém gì thời kỳ rối ren tiền đề của chúng hoặc giai đoạn quá độ theo sau sự sụp đổ của chúng.
Thực tế cho thấy có vẻ như thanh gươm đã một lần được uống máu sẽ không thể tự kiềm chế mãi việc uống máu một lần nữa, chẳng khác gì một con hổ đã có lần được nếm thịt người sẽ không thể tự ngăn mình ăn thịt người một lần nữa. Con hổ ăn thịt người, rõ ràng sẽ phải nhận lãnh cái chết; dù có thoát khỏi viên đạn cũng sẽ chết vì bệnh lở loét; thế nhưng, dù cho con hổ có thấy trước được số phận của mình, nó cũng không thể kìm nén được cơn thèm ăn; và một xã hội đã từng trông cậy vào sự bảo vệ của lưỡi gươm cũng vậy. Các nhà lãnh đạo của nó có thể hối hận vì những hành vi khát máu của mình; họ có thể tha cho kẻ thù, như Caesar, hoặc cho kẻ thù được giải ngũ, như Augustus; và khi giấu lưỡi gươm đi, có lẽ họ hoàn toàn tin tưởng rằng sẽ không bao giờ phải rút nó ra trở lại ngoại trừ vì mục đích lương thiện và do đó sự chính đáng là bảo vệ hòa bình chống lại tội ác vẫn còn lan tràn trong lãnh thổ của họ hoặc chống lại những “người rợ” vẫn còn ngoan cố chống cự trong bóng tối. Thế nhưng, dù ngai vàng của họ có đứng vững được trên nền tảng tàn nhẫn của nó một hoặc hai trăm năm sau khi họ chôn vũ khí, trước sau gì thời gian cũng sẽ xóa sổ công trình của họ.
Liệu nhà cầm quyền tối cao của một chính quyền trung ương có thành công trong việc kiềm chế cơn thèm khát chinh phạt vô độ vốn là một hiểm họa đối với đế chế của ông ta? Và, nếu ông ta không thể cưỡng lại sự cám dỗ của siêu quyền lực, liệu ông ta có thể, trong một chừng mực nào đó, hành động theo lời khuyên của Virgilian? Khi áp dụng cặp thí nghiệm này, chúng ta sẽ thấy rằng hiếm khi ông ta tồn tại được lâu với những giải pháp của cá nhân ông ta.
Nếu chọn đối tượng khảo sát đầu tiên là sự xung đột giữa các chính sách bành trướng lãnh thổ và bất tương xâm trong các mối quan hệ của một chính quyền trung ương và những người láng giềng sống bên ngoài lãnh thổ của nó, chúng ta có thể bắt đầu với ví dụ của xã hội Sinic, vì thực sự không thể có một tuyên bố “gác kiếm” nào quả quyết hơn hành động xây dựng Vạn Lý Trường Thành dọc theo ranh giới thảo nguyên Á–Âu của Tần Thủy Hoàng. Dù vậy giải pháp của ông nhằm tránh chọc vào cái “tổ ong” Á–Âu này đã đổ vỡ không đầy một trăm năm sau khi ông qua đời bởi “chính sách tấn công” của người thừa kế thuộc Hán triều của ông là Wuti. Trong lịch sử chính quyền trung ương Hy Lạp cổ, chính sách tiết chế được Augustus ban hành đã bị phá hủy bởi nỗ lực chinh phạt Đế chế Parthian của Trajan. Cái giá phải trả cho bước tiến nhất thời từ sông Euphrates tới chân dãy Zagros và đầu vịnh Ba Tư là sự cạn kiệt tài nguyên của Đế chế La Mã, và người kế vị của Trajan là Hadrian đã phải dồn toàn bộ tâm trí lẫn khả năng của mình mới thanh toán xong di sản khủng khiếp mà lưỡi gươm của Trajan đã để lại cho ông. Hadrian đã nhanh chóng chấm dứt tất cả các cuộc chinh phạt của người tiền nhiệm; dù vậy ông vẫn chỉ khôi phục được tình trạng lãnh thổ, chứ không khôi phục được tình trạng xã hội như trước cho Đế chế La Mã.
Trong lịch sử của Đế chế Ottoman, Mehmed-Kẻ chinh phục (1451-81 sau CN) đã chủ tâm hạn chế tham vọng của mình với Đế chế Ottoman dừng lại tại các đường biên giới tiếp giáp với lãnh thổ của xã hội Cơ Đốc Chính thống, trừ nước Nga, và cưỡng lại mọi cám dỗ xâm phạm những vùng lãnh thổ liền kề của các xã hội Cơ Đốc Tây phương và Iran. Nhưng người kế vị của ông là Selīm Bạo chúa (1512-20 sau CN) đã phá bỏ sắc lệnh tự chế ở châu Á, trong khi người kế vị Selīm là Suleymān (1520-66) lại phạm tiếp sai lầm nghiêm trọng hơn khi phá bỏ sắc lệnh nói trên ở cả châu Âu. Hậu quả là từ đó trở đi, thế lực của Đế chế Ottoman ngày một suy yếu do những cuộc xung đột liên miên ở cả hai đầu lãnh thổ với những địch thủ mà người Osmanli có thể đánh bại liên tiếp trên chiến trường, nhưng không bao giờ có thể dẹp yên mãi mãi. Và tình trạng ngoan cố này đã ngấm sâu đến nỗi ngay cả sự sụp đổ theo sau cái chết của Suleymān cũng không sản sinh ra được sự thay thế hiệu quả nào cho chính sách tiết chế của Mehmed. Sức lực bị hoang phí của Đế chế Ottoman phục hồi chưa được bao nhiêu dưới sự lãnh đạo của Košprušlušs thì lại bị Qara Mustafa phung phí trong một cuộc chiến mới nhằm xâm lược đất đai của người Frank và đưa đường biên giới của Ottoman đến sông Rhine. Mặc dù chưa bao giờ tiếp cận được mục tiêu này, nhưng Qāra Mustafā đã giải tán “kỳ công” của Suleymān trong việc vây hãm Vienna. Tuy nhiên đến năm 1682-3 sau CN, cũng như lần trước vào năm 1529 sau CN, bức bình phong bên sông Danube của thế giới Cơ Đốc Tây phương tỏ ra quá “xương xẩu” đối với Đế chế Ottoman; và trong lần bại trận thứ hai này người Osmanli đã không thoát khỏi sự trừng phạt. Cuộc vây hãm thứ hai của Đế chế Ottoman đã kích hoạt một cuộc phản công của phương Tây kéo dài từ năm 1683 tới 1922 sau CN, thời điểm người Osmanli bị tước mất toàn bộ đế chế của họ và quay trở về với quê hương ở cao nguyên Anatolia.
Hành động “chọc phá tổ ong” trong thế giới Cơ Đốc Tây phương của Qara Mustafa, cũng như người tiền nhiệm Suleymān, được tái hiện trong sai lầm của Xerxes khi người kế vị Darius này phát động cuộc chiến tranh xâm lược chống người Hy Lạp trên lục địa già và qua đó kích hoạt cuộc phản công của Hy Lạp đã ngay lập tức đoạt quyền thống trị của Đế chế Achaemenid ở châu Á, và đưa tới sự sụp đổ của Đế chế này, khi công trình do Themistocles xứ Athens khởi xướng được hoàn tất bởi Alexander xứ Macedon. Trong lịch sử của thế giới Ấn giáo, chế độ đô hộ Mughal sản sinh ra Xerxes của nó trong hình hài Awrangzib (1659-1707 sau CN). Những nỗ lực bất thành của ông này trong việc áp đặt quyền thống trị lên xứ Maharashtra bằng vũ lực đã kích hoạt một cuộc phản công của người Maratha, cuối cùng đã hủy diệt chế độ cai trị của các hậu duệ Awrangzib ngay tại vùng lãnh thổ thủ đô của họ ở đồng bằng Hindustan.
Chúng ta thấy rằng, trong thử nghiệm thứ nhất về khả năng “gác kiếm”, những bậc cai trị các chính quyền trung ương đã thể hiện không tốt; và, nếu giờ đây chúng ta chuyển từ thử nghiệm bất tương xâm đối với các láng giềng bên ngoài sang thử nghiệm hòa hợp đối với thần dân sống bên trong lãnh thổ, chúng ta sẽ thấy các bậc thống trị này cũng không thể làm tốt hơn thử nghiệm đầu tiên.
Chẳng hạn như chính phủ vương quyền La Mã, đã quyết định hòa hợp với Do Thái giáo và vẫn trung thành với giải pháp này khi liên tục phải đối mặt với những khiêu khích lặp đi lặp lại nhiều lần của người Do Thái. Nhưng nó đã không đủ kiên nhẫn để vượt qua thử thách tinh thần khó khăn hơn khi phải mở rộng chính sách hòa hợp đối với những kẻ dị giáo Do Thái ra khắp thế giới Hy Lạp cổ. Nhân tố bất dung hòa với chính phủ vương quyền của Cơ Đốc giáo là sự từ chối của các tín đồ Cơ Đốc không chấp nhận khẳng định của chính phủ rằng nó có quyền ép buộc thần dân hành động trái ngược với lương tâm của họ. Người Cơ Đốc giáo đã đứng lên chống lại đặc quyền của lưỡi gươm, và thắng lợi cuối cùng về mặt tinh thần của những tín đồ Cơ Đốc tử đạo trước lưỡi gươm của nhà cầm quyền La Mã đã chứng thực cho phát biểu kiêu hãnh đầy thách thức của Tertullian rằng máu của người Cơ Đốc chính là những hạt giống Cơ Đốc giáo.
Chính quyền Achaemenid, cũng như La Mã, tự đặt ra cho mình nguyên tắc cai trị với sự đồng thuận của những kẻ bị trị và chỉ đạt được một thành công cục bộ duy nhất trong khi thực thi chính sách này. Nó thành công trong việc thu phục lòng trung thành của người Phoenicia và người Do Thái, nhưng thất bại trong việc tiếp tục thu phục người Ai Cập và người Babylon. Người Osmanli cũng chẳng thành công hơn trong việc thu phục ra‘iyeh (đàn gia súc người hoặc đàn chiên) của mình, bất kể sự rộng rãi trong phạm vi văn hóa, và thậm chí là quyền tự trị dân sự mà người Osmanli đã trao cho họ qua hệ thống hạt kê (hệ thống tự trị của Đế chế Ottoman). Nhưng tính rộng rãi về lý thuyết của hệ thống này đã bị hủy hoại bởi sự kiêu căng trong cách áp dụng nó. Bởi thế nên ra‘iyeh đã thể hiện sự bất trung của họ ngay khi một chuỗi chính sách đối nghịch của Đế chế Ottoman được ban hành, mở ra một cánh cửa cho sự phản bội khiến những người kế vị Selīm bạo chúa phải hối tiếc về việc con người tàn nhẫn này đã ngăn cản (nếu giai thoại là đúng sự thật) những nỗ lực của quan đại tể tướng và Giáo chủ Hồi giáo của ông ta nhằm đề ra một kế hoạch tiêu diệt cộng đồng Cơ Đốc Chính thống chiếm đa số trong đàn chiên của ông – như ông đã từng tiêu diệt cộng đồng thiểu số Imami Shī‘ī. Tương tự, trong lịch sử của chính quyền đô hộ Mughal ở Ấn Độ, Awrangzib đã từ bỏ chính sách hòa hợp với Ấn giáo mà Akbar đã truyền lại cho những người kế vị như một phần quan trọng trong bí quyết cai trị của họ, và sự chệch hướng này đã mau chóng báo ứng bằng sự sụp đổ của đế chế.
Những ví dụ nêu trên có lẽ đã đủ để củng cố kết luận: cứu tinh mang gươm đã thất bại trong nỗ lực cứu rỗi.
(3) CỨU TINH VỚI CỖ MÁY THỜI GIAN
Cỗ máy thời gian là tựa đề của một trong những tác phẩm tiên phong trong lĩnh vực tiểu thuyết giả tưởng của tác giả H.G Wells. Quan niệm coi thời gian là một chiều thứ tư vào thời điểm đó đã khá quen thuộc. Vị anh hùng trong tiểu thuyết của ông Wells phát minh ra một dạng xe hơi – đây cũng là một sản phẩm mới lạ vào thời bấy giờ – và nhờ nó anh ta có thể du hành thuận hoặc ngược chiều thời gian tuỳ theo ý muốn. Anh ta đã sử dụng phát minh của mình để trở về viếng thăm những giai đoạn quá khứ xa xôi trong lịch sử thế giới, và trong tất cả những chuyến du hành đó, ngoại trừ chuyến cuối cùng, anh ta đều trở về an toàn để kể lại câu chuyện du hành của anh ta. Câu chuyện thần tiên của Wells là câu chuyện viết về kỳ tích lịch sử của những vị cứu tinh theo khuynh hướng hoài cổ và vị lai, những người coi hoàn cảnh hiện tại và triển vọng của xã hội mà họ đang sống là không thể cứu vãn và quay sang tìm kiếm sự cứu rỗi trong việc quay trở về quá khứ lý tưởng hoặc một bước nhảy vọt vào tương lai lý tưởng. Chúng ta không cần phải dừng bước lâu với chủ đề này, vì chúng ta đã tiến hành phân tích và vạch trần tính chất phù phiếm và phá hoại của cả hai chủ nghĩa hoài cổ và Vị lai. Nói ngắn gọn, những cỗ máy thời gian – giả sử chúng không có hình dáng những chiếc xe hơi chỉ dành cho một người, mà là những chiếc xe “bus hai tầng” (hiểu theo nghĩa chính xác hơn nghĩa thường dùng) dành cho toàn bộ xã hội – luôn luôn bị trục trặc, và thất bại này thúc giục nhân vật muốn trở thành cứu tinh dẹp cỗ máy thời gian sang một bên, cầm lấy thanh gươm, và gánh lấy thất bại tiếp theo giống như trường hợp “cứu tinh mang gươm” mà chúng ta vừa phân tích. Biến thái từ một nhà duy tâm thành một kẻ ưa chuộng bạo lực là kết cục bi kịch của cả hai loại nhân vật cứu tinh hoài cổ lẫn vị lai.Trong thế giới Tây phương ở thế kỷ 18 sau CN, nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa hoài cổ được cô đọng thành một câu trong phần mở đầu tác phẩm Le Contrat Social của Rousseau: “Con người được tự do khi mới ra đời và bị trói buộc ở mọi nơi khác”. Môn đồ nổi tiếng nhất của Rousseau là Robespierre, người được coi là tác giả chính của bản “Triều đại kinh hoàng” tiếng Pháp được viết vào năm 1793-4 sau CN. Các vị giáo sư lập dị và vô hại này đã bỏ cả thế kỷ 19 vào việc lý tưởng hóa chủng tộc nguyên thủy ngoại giáo “Bắc Âu” và họ không thể hoàn toàn chối bỏ trách nhiệm về cơn ác mộng phát-xít ở thời đại chúng ta. Chúng ta đã từng chứng kiến những nhân vật hoài cổ yêu hòa bình lạc bước khỏi mục đích của mình qua việc dọn đường cho một hậu duệ hiếu chiến và hung bạo, như Tiberius Gracchus từng dọn đường cho người em trai Gaius của ông và từ đó mở ra một thế kỷ loạn lạc.
Người ta có thể trông chờ một sự khác biệt rõ rệt giữa chủ nghĩa hoài cổ và chủ nghĩa Vị lai như sự khác biệt giữa hôm qua và ngày mai, nhưng thông thường khó có thể xác định được phải đặt một động thái hoặc một vị cứu tinh vào phạm trù nào, vì bản chất của chủ nghĩa hoài cổ là tự sụp đổ và chuyển hóa thành chủ nghĩa Vị lai qua việc theo đuổi ảo giác của một thời điểm “y như trước” trong lịch sử. Dĩ nhiên là không thể có chuyện như vậy, vì lý do đơn giản là việc bạn đã đi qua rồi quay trở lại – cứ cho là bạn có thể – sẽ biến địa điểm bạn quay trở lại thành một nơi khác. Các môn đồ của Rousseau có thể hấp tấp đẩy nhanh cuộc cách mạng của họ bằng cách lý tưởng hóa “trạng thái tự nhiên”, ca tụng “người nguyên thủy cao quý” và phàn nàn về tình trạng nghệ thuật và khoa học, nhưng các nhà cách mạng Vị lai có chủ ý – chẳng hạn như Condorcet, người lấy cảm hứng từ một học thuyết “tiến bộ” – chắc chắn là nhìn xa trông rộng hơn. Kết quả của một vận động hoài cổ luôn luôn là một sự chuyển hướng. Trong tất cả những vận động thuộc loại này, nhân tố hoài cổ đơn thuần chỉ là lớp vỏ bọc bên ngoài một viên thuốc Vị lai, dù cho nó được bao phủ một cách đơn sơ bởi “các nhà tư tưởng viển vông” hoặc khéo léo bởi những tay tuyên truyền lão luyện. Dù trong trường hợp nào thì viên thuốc cũng dễ nuốt hơn nếu có lớp vỏ bọc; bởi lẽ tương lai trần trụi phơi bày toàn những nỗi khiếp sợ về những điều chưa biết, trong khi quá khứ có thể được mô tả như một mái ấm mà xã hội đang phân rã đã từ đó lạc vào thế giới hoang dã của hiện tại. Do đó trong những năm tháng đại chiến (Thế chiến thứ nhất), người Anh đã ủng hộ một dạng chủ nghĩa dân tộc hướng những tư tưởng hoài cổ về thời đại Trung cổ lý tưởng và thể hiện cương lĩnh của mình dưới cái tên chủ nghĩa dân tộc phường hội, ngụ ý rằng đó là sự khôi phục một thứ tương tự như hệ thống phường hội thời Trung cổ. Dù vậy ta vẫn có thể tin chắc rằng, nếu cương lĩnh này thành hiện thực, thì kết quả của nó sẽ làm kinh ngạc bất cứ một nhà du hành thời gian nào đến từ thế giới Cơ Đốc Tây phương thế kỷ 13.
Như vậy, rõ ràng là các vị cứu tinh theo khuynh hướng hoài cổ và vị lai cũng thất bại như các vị cứu tinh mang gươm trong việc “ban phát điềm lành”. Và khả năng cứu rỗi ở những thế giới hoàn hảo (utopias) cũng chẳng hề nhiều hơn so với các chính quyền trung ương.
(4) NHÀ HIỀN TRIẾT DƯỚI MẶT NẠ MỘT VỊ VUA
Một phương tiện cứu rỗi không sử dụng đến “cỗ máy thời gian” hoặc thanh gươm được tuyên bố trong thế hệ đầu tiên của thời kỳ rối ren của xã hội Hy Lạp cổ bởi đại diện đầu tiên và vĩ đại nhất trong số các triết gia theo trường phái tự cô lập.“Không có hy vọng chấm dứt những vấn nạn cho các chính quyền [của Hy Lạp cổ] và, theo quan điểm của tôi, không có hy vọng nào dành cho nhân loại – ngoại trừ thông qua một sự kết hợp cá nhân giữa quyền lực chính trị và triết học với một sự loại bỏ cưỡng bách những bản tính chung thuận theo một trong hai mưu cầu nói trên nhưng có khuynh hướng loại bỏ mưu cầu còn lại. Sự kết hợp có thể đạt được theo một trong hai cách. Các nhà hiền triết phải trở thành vua trong các chính quyền của chúng ta hoặc những người hiện nay đang được gọi là vua và những bậc thống trị cần phải học triết học – một cách chân thật và triệt để”.[1]
Qua việc đề nghị phương thuốc này, Plato đã phải giải trừ vũ khí, bằng cách tiên đoán sự phê bình của người đời. Ông giới thiệu đề xuất của mình là một nghịch biện nhiều khả năng sẽ khiêu khích sự nhạo báng của những kẻ không thông hiểu triết học. Tuy nhiên, nếu đơn thuốc của Plato đã khó thực hiện đối với người phàm tục – dù là vua chúa hay thường dân – thì nó lại càng khó hơn đối với các triết gia. Chẳng lẽ mục đích tối thượng của triết học không phải là để đạt đến trạng thái tự tại? Và chẳng lẽ những mưu cầu trạng thái tự tại của cá nhân và sự cứu rỗi xã hội lại thích hợp với đặc điểm riêng biệt của nhau? Làm thế nào một người có thể một mình thoát khỏi thành phố điêu tàn nơi mà anh ta đang đấu tranh để được tự do?
Dưới quan điểm của nhà hiền triết, hình ảnh cụ thể của sự tự hy sinh – Khổ hình của Chúa Jesus – là một biểu hiện điên rồ. Dù vậy một số ít triết gia vẫn đủ can đảm để thừa nhận phán quyết này và một số ít hơn vẫn hành động tuân theo nó. Bởi lẽ một ẩn sĩ phải bắt đầu lại từ đầu như một con người với ngổn ngang những cảm xúc thông thường của con người. Ông ta không thể bỏ qua nỗi đau của một người hàng xóm mà trái tim ông cảm nhận được, cũng không thể tự lừa dối rằng con đường cứu rỗi được phát hiện bởi chính kinh nghiệm của ông không thể mang cùng giá trị đối với người hàng xóm đó cho dù nó có được chỉ dẫn cho anh ta hay không. Vậy liệu nhà hiền triết của chúng ta có gây bất lợi cho bản thân bằng cách chìa bàn tay cứu giúp ra cho người hàng xóm? Trong tình thế tiến thoái lưỡng nan này sẽ thật vô ích nếu ông ta lẩn trốn vào học thuyết Ấn Độ cổ cho rằng tình yêu thương và lòng trắc ẩn là những nhược điểm hoặc vào học thuyết cho rằng “hành động là một hình thái yếu ớt của thưởng ngoạn”. Ông ta cũng không thể thoải mái nhận tội mâu thuẫn giữa tri thức và đạo đức mà các tổ tiên của trường phái “Khắc kỷ” đã thẳng thừng buộc cho Plutarch, người đã trích dẫn những dòng của Chrysippus lên án đời sống hàn lâm an nhàn ở câu trước, rồi ngay câu sau, trong cùng một tác phẩm, lại khuyến khích nó.[2] Bản thân Plato quy định rằng các ẩn sĩ đã thành thạo nghệ thuật tự tại không nên tự cho phép mình thưởng thức mãi quang cảnh dưới ánh mặt trời mà khó khăn lắm họ mới đạt tới được. Với một tâm hồn trĩu nặng ông quy định các triết gia của mình phải quay trở lại hang tối để giúp đỡ cho các đồng bạn con người bất hạnh của anh ta, những người vẫn còn ngồi “trong bóng tối cùng quẫn và xiềng xích”; và thật ấn tượng khi thấy những lời răn nói trên của Plato được Epicurus tuân theo một cách thành kính.
Nhà hiền triết Hy Lạp coi trạng thái lý tưởng là một trạng thái bình thản thư thái (…) này là cá nhân duy nhất trước Jesus xứ Nazareth đạt được danh hiệu Đấng Cứu Thế (…). Vinh dự này thông thường là độc quyền của các thành viên hoàng tộc và là một phần thưởng cho các cống hiến về chính trị và quân sự. Danh hiệu chưa từng có tiền lệ của Epicurus là hệ quả ngoài dự kiến của việc nhà hiền triết trầm tĩnh này vâng theo một lời hiệu triệu không thể cưỡng lại của trái tim. Sự nhiệt tình của lòng biết ơn và thán phục đã khiến cho công trình cứu rỗi của Epicurus được tán dương trong thi ca của Lucretius, và điều này cho chúng ta thấy rằng, ít nhất trong trường hợp này, danh hiệu không chỉ mang tính hình thức sáo rỗng mà là sự biểu đạt một cảm xúc sâu lắng và sống động chắc chắn có liên hệ với thơ ca tiếng Latinh thông qua một xâu chuỗi truyền khẩu bắt nguồn từ những người sống cùng thời với Epicurus, vốn biết rõ và kính phục ông.
Quá khứ đầy nghịch lý của Epicurus đã cho thấy nỗi đau khổ và gánh nặng mà các nhà hiền triết phải gánh vác nếu như, để thực hiện lời dạy của Plato, họ chọn con đường biến mình thành các vị vua; và vì vậy nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy chọn lựa còn lại của Plato – biến các vị vua thành nhà hiền triết – đã thể hiện sức hấp dẫn như thế nào đối với mọi nhà hiền triết có lương tâm xã hội, bắt đầu với chính bản thân Plato. Không dưới ba lần trong cuộc đời mình Plato đã tự nguyện, dù miễn cưỡng, tái xuất hiện từ cuộc rút lui về xứ Attica của ông và vượt biển đến Syracuse với hy vọng biến một bạo chúa Sicily thành một nhà hiền triết Athens có ý thức về trách nhiệm của của một ông hoàng. Kết quả đã tạo nên một chương kỳ lạ nhưng, chúng ta phải thừa nhận một cách tiếc nuối, hoàn toàn không quan trọng trong lịch sử Hy Lạp cổ. Đã từng có nhiều vua chúa, trong thời gian rảnh rỗi của họ, với ít hoặc nhiều sự nghiêm túc, tham khảo ý kiến của các nhà hiền triết, mà những ví dụ quen thuộc nhất với các nhà nghiên cứu lịch sử Tây phương là những nhân vật được gọi là “các bạo chúa khai tâm” trong thế giới Tây phương thế kỷ 18, những người đã tiêu khiển bằng cách lần lượt nuông chiều rồi gây hấn với một loạt các triết gia người Pháp bắt đầu từ Voltaire trở về sau. Nhưng chúng ta sẽ khó lòng tìm thấy một đấng cứu rỗi ở vua Frederick II của nước Phổ hoặc ở Nữ hoàng Catherine II của nước Nga.
Cũng có những trường hợp các bậc thống trị đế vương đạt tới một trình độ tự tại rất chân thật từ những người thầy dạy đã qua đời từ những thế hệ trước. Marcus Aurelius từng tuyên bố biết ơn các thầy giáo của ông là Rusticus và Sextus, nhưng khó có thể nghi ngờ việc những người thầy dạy vô danh này đơn thuần chỉ là những phương tiện chuyển tải triết lý Khắc kỷ vĩ đại trong quá khứ và cụ thể hơn là của Panaetius, người sống vào thế kỷ thứ hai trước CN, ba trăm năm trước thời của Marcus. Hoàng đế Ấn Độ cổ Açoka là môn đồ của Đức Phật, người đã mất hai trăm năm trước khi ông đăng cơ. Tình trạng của thế giới Ấn Độ cổ dưới thời Açoka và thế giới Hy Lạp cổ dưới thời Marcus có lẽ đã minh họa cho luận điểm của Plato cho rằng “đời sống xã hội hạnh phúc và hài hòa nhất khi những người phải cai trị là những người cuối cùng trên thế giới có thể được chọn làm người cai trị”. Nhưng những thành tựu của họ cũng lụi tàn theo họ. Chính Marcus đã tự đạp đổ mọi công lao tu dưỡng của ông với việc chọn người con trai ruột của mình làm người kế vị. Việc làm vi phạm truyền thống bầu chọn này đã được những người kế vị Marcus rập khuôn theo, không sai một lần nào, trong non một thế kỷ. Và sự thánh thiện của cá nhân Açoka cũng không cứu được Đế chế Mauryan khỏi sụp đổ trong tay kẻ tiếm vị Pushyamitra trong thế hệ tiếp theo.
Như vậy là các vị vua hiền triết cũng không đủ khả năng cứu thoát các đồng loại của mình trên cái xác tàu đắm của xã hội đang tan rã. Thực tế lịch sử đã tự lên tiếng; song chúng ta vẫn phải đặt câu hỏi rằng chúng có tự giải thích hay không. Nếu chúng ta khảo sát xa hơn một chút, chúng ta sẽ thấy câu trả lời là có.
Lời lý giải thực ra tiềm ẩn trong một đoạn của tác phẩm Nền cộng hòa, trong đó Plato giới thiệu hình ảnh một vị hoàng tử vốn là một nhà hiền triết bẩm sinh. Sau khi đặt ra giả định là, tại một thời điểm và địa điểm nào đó, một hoàng tử-triết gia như vậy chắc chắn sẽ sống để nối ngôi vua cha và điều đó đặt ra cho chàng nhiệm vụ tự chuyển dịch những nguyên tắc triết lý của mình vào thực tế chính trị, Plato hăng hái nhảy sang kết luận rằng “một bậc thống trị như vậy có thể – nếu như chàng có được sự đồng thuận của thần dân – đề ra một cương lĩnh có vẻ bề ngoài hoàn toàn không thể thực hiện dưới những điều kiện hiện tại”. Và sau đó người đã đề ra luận điểm này tiếp tục giải thích các căn cứ của sự lạc quan của ông. “Giả sử”, ông nói tiếp, “một vị vua đã ban hành các đạo luật và giới thiệu những quy tắc xã hội lý tưởng của chúng ta, thì chắc chắn sẽ không tồn tại khả năng thần dân từ chối hành động theo mong muốn của nhà vua”.[3]
Tuyên bố cuối cùng này rõ ràng là yếu tố then chốt dẫn tới thành công của hệ thống Plato, nhưng còn có một điều khác rõ ràng không kém là nó phụ thuộc vào sự tranh thủ khả năng ngụy trang; và chúng ta đã biết rằng phương sách có hình thức một sự rèn luyện xã hội này là con đường tắt có khuynh hướng đưa những kẻ chọn lựa nó tới bờ vực diệt vong thay vì thúc đẩy hành trình hướng tới mục tiêu của họ. Do vậy nên sự bao gồm bất kỳ một nhân tố cưỡng bách nào – dù về tinh thần hay vật chất – trong chiến lược xã hội của vị vua hiền triết cũng có thể đủ để giải thích cho thất bại của ông ta trong việc trao sự giải thoát mà ông ta đã tuyên bố sẽ đem lại; và nếu phân tích chiến lược của ông ta cặn kẽ hơn từ quan điểm này, chúng ta sẽ thấy việc vận dụng biện pháp cưỡng bách của ông ta là một thứ ung nhọt kỳ dị. Bởi lẽ, mặc dù Plato đã phải ban cho chính quyền của vị vua hiền triết lợi thế của sự đồng thuận của thần dân, song rõ ràng là không hề có mục đích gì cho sự kết hợp cá nhân đáng ngạc nhiên của nhà hiền triết với một quốc vương vốn là một kẻ thống trị thuần túy trừ khi quyền lực áp chế của kẻ bạo chúa vẫn được dành sẵn để sẵn sàng sử dụng trong trường hợp cần thiết; và sự xuất hiện của những trường hợp như thế là điều hoàn toàn có thể tiên liệu.
“Bản chất của con người là không kiên định, nên thuyết phục họ về một điều gì đó là chuyện dễ dàng, nhưng lại rất khó để duy trì niềm tin của họ về điều đã được thuyết phục. Từ đó mới hình thành nên phương sách cai trị của người có thể dùng sức mạnh để buộc họ tin tưởng, khi niềm tin của họ đã cạn kiệt”.[4]
Những lời chân thật đến độ tàn nhẫn của Machiavelli đã phơi bày một bộ mặt đầy sát khí của vị vua hiền triết mà Plato đã thận trọng giấu kỹ trong hậu trường. Nếu vị vua hiền triết thấy không thể đạt được mục đích bằng sức quyến rũ của mình, ông ta sẽ vứt bỏ vẻ bề ngoài tự tại và vớ lấy thanh gươm. Ngay cả Marcus Aurelius cũng sử dụng đến vũ khí này để chống lại các tín đồ Cơ Đốc. Một lần nữa chúng ta lại được chứng kiến quang cảnh gây sốc khi nàng Orpheus hiền từ hóa thân thành tên bạo chúa hung ác. Trong thực tế, vị vua hiền triết đã được dành sẵn cho số phận thất bại bởi lẽ ông ta cố gắng kết hợp hai bản tính trái ngược trong cùng một con người. Nhà hiền triết đã phủ nhận bản thân mình khi xâm phạm lĩnh vực áp chế của hoàng đế, trong khi ngược lại hoàng đế cũng tự phủ nhận khi xâm phạm lĩnh vực thưởng ngoạn tĩnh tại của nhà hiền triết. Cũng giống như vị cứu tinh với “cỗ máy thời gian”, vốn có hình thức hầu như lý tưởng về mặt chính trị, vị hoàng đế hiền triết đã buộc phải tự tuyên bố thất bại qua hành động rút gươm, hành động tố cáo ông ta là một “cứu tinh mang gươm” giả dạng.
(5) THƯỢNG ĐẾ HIỆN THÂN TRONG MỘT CON NGƯỜI
Đến giờ chúng ta đã phân tích ba “hình tượng hiển linh” khác nhau của thiên tài sáng tạo được sinh ra trong một xã hội đang phân rã, những người đã tập trung sức mạnh và năng lượng của mình vào trọng trách đương đầu với thách thức của sự phân rã xã hội, và chúng ta đã thấy rằng trong mọi trường hợp, con đường cứu rỗi chỉ dẫn tới thảm họa, ngay tức khắc hoặc ở kết quả cuối cùng. Chúng ta rút ra được kết luận nào từ chuỗi ảo tưởng tan vỡ này? Phải chăng chúng báo trước rằng mọi nỗ lực nhằm cứu vãn một xã hội đang tan rã đều sẽ kết thúc trong đổ vỡ, nếu như nhân vật muốn trở thành cứu tinh chỉ là một “người trần mắt thịt”? Chúng ta hãy nhớ lại phát biểu cổ xưa mà chúng ta đã kiểm chứng. “Kẻ nào động đến gươm đao sẽ chết dưới gươm đao” là những lời được một vị cứu tinh dùng làm lý do để ra lệnh cho một môn đồ của ông tra lưỡi gươm mà người này vừa mới sử dụng vào vỏ. Jesus xứ Nazareth đầu tiên đã hàn gắn vết thương do thanh gươm của Peter gây ra, rồi sau đó tự nguyện hy sinh bản thân mình để chịu đựng hình phạt khổ nhục tột độ. Vả chăng, động cơ từ chối rút gươm của ông không dựa trên tính toán thực tế là, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, lực lượng của ông hoàn toàn không thể so sánh với các địch thủ. Ông tin rằng, như trong lời phán xét của ông về sau, nếu ông rút gươm, với “mười hai quân đoàn thiên thần”, nhất định ông đã dành được mọi thắng lợi mà lưỡi gươm của loài người có thể đạt tới. Với niềm tin như vậy nhưng ông vẫn từ chối sử dụng vũ khí. Thay vì chinh phục bằng lưỡi gươm, ông chấp nhận chết trên thập giá.Với việc lựa chọn con đường này vào giờ phút khủng hoảng, Jesus đã từ bỏ con đường hành động quen thuộc được những nhân vật muốn trở thành cứu tinh khác lựa chọn. Điều gì đã thúc giục vị cứu tinh xứ Nazareth chọn ngã rẽ khủng khiếp này? Chúng ta có thể trả lời câu hỏi trên bằng cách đặt ra một câu hỏi khác, đâu là điểm phân biệt ông với những cứu tinh khác đã tự bác bỏ kỳ vọng được đặt vào họ bằng cách trở thành các kiếm sĩ. Câu trả lời là những người này ý thức bản thân họ chỉ là con người, trong khi Jesus tin rằng ông là con trai của Chúa Trời. Liệu chúng ta có thể kết luận rằng, như trong thánh thi đã nói, “con đường cứu rỗi thuộc về Thiên Chúa”, và rằng, nếu không có một tri giác thần thánh nào đó, thì vị cứu tinh con người sẽ luôn luôn bất lực trong việc thực thi sứ mệnh của mình? Giờ đây sau khi đã phân tích kỹ lưỡng và nhận diện được những vị cứu tinh tự phong mà thực chất chỉ là con người thuần túy, chúng ta hãy chuyển sang những vị cứu tinh tự xưng là thánh thần, hoặc Chúa, hoặc Thượng Đế.
Việc quan sát cuộc chạy đua giữa các “cứu tinh thánh thần”, và đánh giá những tuyên bố của họ về các nhân vật và những hành động mà họ tự nhận, có vẻ là một sự áp dụng quá táo bạo chưa từng có tiền lệ phương pháp nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm của chúng ta. Tuy nhiên điều đó chưa chắc sẽ gây khó khăn cho chúng ta trong thực tế. Vì chúng ta sẽ thấy rằng tất cả, ngoại trừ một nhân vật trong cuộc đua, bất kể họ tự xưng là thánh thần nào, cũng chỉ có thể lờ mờ khẳng định được tính cách con người của họ mà thôi. Chúng ta sẽ đi qua những cái bóng và những hình ảnh trừu tượng, hão huyền mà bản chất chỉ là cảm giác, những “con người” đáng bị kết án như các nhà nghiên cứu hiện đại đã làm với “Lycurgus, vị vua người Sparta”, người được tổ tiên chúng ta cho là người khôn ngoan đích thực của xứ Athens – rằng ông ta “không phải con người; mà là một vị thần”. Chúng ta sẽ bắt đầu từ nấc thang dưới cùng với thiên thần trong cỗ máy và thử đi từ bậc thang có lẽ là thấp kém hơn cả con người này lên tới độ cao tột cùng của thiên thần trên thập giá. Nếu chết trên thập giá là đỉnh cao tột độ mà một con người có thể đạt tới trong việc minh chứng chân lý của lời khẳng định tư cách thần thánh của mình, thì xuất hiện trên sân khấu có lẽ là khó khăn nhỏ nhất mà vị thần đã được thừa nhận có thể hỗ trợ cho lời khẳng định của vị cứu tinh.
Trên sân khấu Attica trong thế kỷ chứng kiến sự suy tàn của nền văn minh Hy Lạp cổ, thiên thần trong cỗ máy thực sự là một báu vật trời cho để chế giễu các nhà soạn kịch, những người tuy đang sống trong một thời đại khá văn minh, nhưng vẫn bị ràng buộc bởi nguyên tắc lấy cốt truyện từ thần thoại Hy Lạp cổ. Nếu diễn tiến của vở kịch bị mắc kẹt trong một tình trạng rối rắm không giải quyết được của những tội lỗi về đạo đức hoặc những sự kiện không xác thực, thì tác giả có thể thoát ra khỏi chiếc lưới mà ông ta đã vướng vào qua một trong những quy tắc nghệ thuật của ông ta bằng cách sắp xếp lại trật tự vở kịch theo một quy tắc khác. Ông ta có thể sản sinh ra một thiên thần “núp trong một cỗ máy”, được đưa lên sân khấu để nhào nặn ra đoạn kết. Thủ thuật nói trên của các nhà soạn kịch Attica đã xúc phạm các học giả, bởi lẽ những giải pháp cho các vấn đề của con người được đề xuất bởi những nhà phát minh thần thánh trên đỉnh Olympian này không thuyết phục được trí tuệ của con người mà cũng không lôi cuốn được trái tim của họ. Euripides là một kẻ chuyên công kích người khác bằng thủ thuật nói trên, và một học giả Tây phương hiện đại đã nhận xét rằng Euripides chẳng bao giờ đưa một thiên thần trong cỗ máy lên sân khấu mà không có những lời lẽ xấc xược vô lễ. Theo Verrall, “nhà duy lý” Euripides (như ông ta tự nhận) đã bắt quy tắc truyền thống kia phục vụ cho những mục đích riêng của ông ta bằng cách sử dụng nó như một lớp bình phong che chắn cho những cuộc tấn công bằng các lời chế diễu và báng bổ mà ông ta sẽ khó lòng thoát khỏi sự trừng phạt nếu thể hiện chúng một cách công khai và trực tiếp. Bức bình phong này có kết cấu bề mặt rất lý tưởng, vì nó cản được những mũi tên thù địch từ các nhà thơ địch thủ của ông ta, trong khi vẫn trong suốt đối với những đôi mắt tò mò của những người theo chủ nghĩa hoài nghi.
“Thật không quá lời khi nói rằng trên sân khấu của Euripides, bất kỳ lời nào được thốt ra từ miệng các thánh thần đều phải được coi là một sự báng bổ tự thị. Trong tất cả mọi trường hợp, quan điểm của tác giả này đều gây khó chịu và gần như luôn luôn là điều dối trá. ‘Mượn lời các vị thần, ông ta thuyết phục mọi người rằng họ không tồn tại.’”[5]
Gần gũi hơn với những vinh quang và bất hạnh của số phận con người, và xứng đáng được ca ngợi hơn là những vị anh hùng “nửa thần thánh” được các bà mẹ con người sinh ra với sự đóng góp của một ông bố “siêu phàm” – Heracles (tức Hercules), Asklepios, Orpheus, và đó mới chỉ là các ví dụ của người Hy Lạp. Những nhân vật “bán thần” trong xác thịt con người này, bằng công lao của họ, tìm kiếm nhiều con đường khác nhau để thắp sáng số phận của con người, và qua những hình phạt mà các vị thần ghen tức giáng xuống đầu họ, họ đã chia sẻ những đau khổ của loài người mà họ phụng sự. Nhân vật bán thần, cũng như con người, phải trải qua cái chết – đây cũng chính là niềm vinh quang của họ – và đằng sau hình tượng cái chết của nhân vật bán thần ẩn giấu một hình tượng vĩ đại hơn của một vị thần thực thụ hy sinh vì những thế giới khác nhau dưới những cái tên khác nhau – với thế giới Minoan là Zagreus, với thế giới Sumer là Tammuz, thế giới Hittite có Attis, thế giới Scandinavia là Balder, thế giới Syria có Adonis, thế giới Shī‘ī là Hussayn, và với thế giới Tây phương là Chúa Jesus.
Vị thần có nhiều “hình tượng hiển linh” nhưng chỉ chịu cùng một khổ hình này là ai? Mặc dù ngài xuất hiện trên sân khấu trần thế của chúng ta dưới hàng tá mặt nạ khác nhau, nhưng cá tính của ngài là bất biến thể hiện qua cảnh cuối của vở bi kịch với sự đau khổ và cái chết của ngài. Và nếu cầm lấy que dò tìm của nhà nhân loại học, chúng ta có thể dò theo vở kịch không bao giờ thay đổi này đến những nguồn gốc lịch sử của nó. “Ngài sẽ lớn lên như một cây non, như rễ cây vươn dài trong lòng đất”.[6] Sự xuất hiện cổ xưa nhất của vị thần hy sinh là trong vai trò của …, linh hồn của cây cối sinh ra cho con người vào mùa xuân để rồi chết đi vì con người trong mùa thu. Con người hưởng lợi từ cái chết của vị thần thiên nhiên này và sẽ diệt vong nếu ân nhân của họ không đều đặn chết vì họ.[7] “Ngài chịu thương tích vì tội lỗi của chúng ta; ngài bị bầm dập vì tội lỗi của chúng ta; hình phạt dành cho sự an lành của chúng ta được ngài gánh chịu và vết thương của chúng ta được ngài hàn gắn”.[8] Nhưng một thành tựu bề ngoài, cho dù có vĩ đại đến đâu cũng không thể bộc lộ điều bí ẩn ngay tại trái tim của vở bi kịch. Nếu muốn đọc được bí mật này, chúng ta phải nhìn xa hơn lợi ích về hoa lợi của con người và sự mất mát của vai chính thần thánh. Chúng ta không thể biết được ý nghĩa của vở kịch nếu không biết những hoàn cảnh, cảm xúc và động cơ của vai chính. Vị thần hy sinh bị bức tử hay tự nguyện? Thần chấp nhận hy sinh với tâm trạng rộng lượng, cảm thông, hay với nỗi niềm cay đắng? Với tình yêu thương hay nỗi tuyệt vọng? Chừng nào còn chưa tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi nêu trên về tinh thần của vị cứu tinh thần thánh, chúng ta khó có thể phán xét con đường cứu rỗi này chỉ đơn thuần là một mối lợi cho con người nhận được từ sự mất mát tương đương của vị thần hay nó là một sự chia sẻ về mặt tinh thần, và con người sẽ báo đáp bằng cách đạt tới (“như được soi sáng bởi tia sáng cuối cùng loé lên từ ngọn lửa sắp tắt”)[9] một tình yêu thương và lòng trắc ẩn linh thiêng đã được vị thần thể hiện trước con người qua hành động tự hy sinh của ngài.
Vị thần hy sinh đối mặt với cái chết với tinh thần như thế nào? Nếu với câu hỏi này chúng ta lại một lần nữa tìm thấy tấm mặt nạ bi ai của mình, thì chúng ta có thể coi đây là một sự hy sinh không hoàn toàn. Ngay cả trong lời than khóc đáng thương của Calliope về cái chết của Orpheus vẫn có một “nốt nghịch” chói tai của sự cay đắng, làm choáng váng đôi tai của những tín đồ Cơ Đốc giáo.
“Vì sao loài người chúng ta phải than khóc cho cái chết của các con chúng ta, khi đã chứng kiến ngay cả thần thánh cũng không đủ sức ngăn thần Chết cướp đi cuộc sống của con cái họ?”[10]
Thật là mỉa mai! Như vậy là nữ thần mẹ của Orpheus đã chẳng bao giờ để cho Orpheus chết nếu bà có cách can thiệp. Như một đám mây che khuất mặt trời, những câu thêm vào của nhà thơ Hy Lạp cổ đã che khuất ánh sáng chói lọi từ cái chết của Orpheus. Nhưng bài thơ của Antipater đã được trả lời trong một kiệt tác khác vĩ đại hơn:
“Vì Chúa Trời quá yêu thương thế giới nên đã ban người con trai duy nhất của ngài, và những ai tin theo người đó sẽ không phải chết mà sẽ có cuộc sống vĩnh cửu”.
Khi sách Phúc âm trả lời khúc bi ca như trên, nó đã truyền đi một lời sấm. “Một người ở lại, nhiều người thay đổi và ra đi”.[11] Và thực tế đây là kết quả cuối cùng của cuộc nghiên cứu của chúng ta về các cứu tinh. Khi mới bắt đầu cuộc tìm kiếm này, chúng ta thấy mình lạc giữa một rừng vận động viên, nhưng càng về sau, các vận động viên này, từng người một, lần lượt rời khỏi cuộc đua. Tay đua thất bại đầu tiên là nhân vật “kiếm sĩ”, tiếp theo là những người theo xu hướng hoài cổ và vị lai, tiếp đến là các nhà hiền triết, cho tới khi chỉ còn lại các thánh thần trên đường đua. Đến cửa ải cuối cùng, thử thách của cái chết, thì ngay cả những nhân vật cứu tinh tự xưng là thần thánh cũng chỉ còn một vài người dám chấp nhận thử thách bằng cách lao mình xuống dòng sông băng. Và giờ đây, khi chúng ta chăm chú nhìn vào đích đến ở bờ sông bên kia, chỉ còn một hình tượng duy nhất trồi lên từ dòng nước và ngay lập tức che phủ toàn bộ đường chân trời. Đấng Cứu Thế đã được nhận chân; “và ước mong của Thiên Chúa sẽ thành công trong tay ngài; Thiên Chúa sẽ chứng kiến công lao của linh hồn ngài, và sẽ hài lòng”.[12]
❀ ❀ ❀
[1] Plato: Nền cộng hòa, 473 D.
[2] Plutarch: De Stoicorum Repugnantiis, ch. 2 và 20.
[3] Plato: Nền cộng hòa, 502 A.
[4] Machiavelli: Hoàng tử, ch. 6.
[5] Verrall, A.W: Nhà duy lý Euripides, tr. 138. Lời trích dẫn trong câu cuối là của Aristophanes: Thesmophoriazusae, II. 450-I.
[6] Isa. liii. 2.
[7] Thực ra con người đảm bảo việc vị thần hy sinh cho họ bằng cách tự tay lấy mạng vị thần này để con người có thể tiếp tục sống. Tinh thần của tôn giáo thờ cúng thực vật này được thể hiện trong bài thơ John Barleycorn của Robert Burns rõ ràng hơn bất kỳ tác phẩm văn học tiếng Anh nào khác.
[8] Isa. liii. 5.
[9] Tuyển tập thư từ của Plato, VII, trang 341 C-D.
[10] Khúc bi ca của Antipater xứ Sidon dành cho cái chết của Orpheus (khoảng 90 trước CN).
[11] Shelley: Adonais, Lii.
[12] Isa. Iiii. 10-11.