Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 127 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XVI. THẤT BẠI TRONG QUÁ TRÌNH TỰ XÁC ĐỊNH

❊ ❊ ❊

Quá trình điều tra căn nguyên sụp đổ các nền văn minh tiếp tục đưa chúng ta đến với những kết luận tiêu cực. Chúng ta phát hiện ra rằng, những sụp đổ này không phải do hành động của Thượng đế – mặc dù, theo một ý nghĩa nào đó, các luật sư bênh vực cho các nền văn minh vẫn cứ đeo bám cách diễn đạt này; đó cũng không phải là sự lặp lại những quy luật vô nghĩa của tạo hóa. Chúng ta cũng biết rằng, sự suy tàn của chúng không thể quy cho sự mất kiểm soát môi trường, vật chất, hay con người; cũng không phải do những thất bại trong công nghiệp hay nghệ thuật, hoặc những cuộc tấn công tàn sát của kẻ thù từ bên ngoài. Khi liên tiếp bác bỏ những lời giải thích không thể đứng vững này, chúng ta vẫn chưa thể tiếp cận đối tượng nghiên cứu; nhưng điều cuối cùng trong các ảo tưởng mà chúng ta vừa liệt kê đã vô tình cung cấp cho chúng ta một manh mối. Qua việc chứng minh các nền văn minh suy tàn không bị đưa tới cái chết do bàn tay của kẻ ám sát, chúng ta chẳng tìm được lý do nào để biện minh cho giả thuyết chúng là nạn nhân của bạo lực, và trong hầu hết các trường hợp, với những lý lẽ hợp lý của quá trình suy tàn, chúng ta lại quay trở lại nhận định về sự tự sát. Nguồn hy vọng lớn nhất cho cuộc điều tra của chúng ta là lần theo đầu mối này, và có một đặc điểm đầy hứa hẹn mà chúng ta có thể xem xét: đó là cái chết của các nền văn minh này không phải là cái chết tự nhiên.

Kết luận mà chúng ta đã đạt được khi kết thúc cuộc nghiên cứu gian khổ này đã được một nhà thơ Tây phương cận đại tiên đoán:

Lạy Chúa! Trong cuộc sống bi thương này,

Cần chi kẻ ác! Dục vọng đã giết ta:

Ta bị bội phản bởi những sai lầm nội tại.

Tia sáng từ bên trong này (trích từ bài Nấm mộ tình yêu của Meredith) không phải là một phát hiện mới. Chúng ta có thể tìm thấy nó từ tác phẩm của các tác giả cổ xưa và nổi tiếng hơn. Nó hiện diện trong những dòng cuối của vở Vua John của Shakespeare:

Nước Anh chưa từng và sẽ chẳng bao giờ,

Chịu giày xéo dưới gót giày xâm lược,

Nhưng khi lần đầu tự gây ra thương tích.

… Chẳng có gì khiến ta hối hận, ăn năn

Nếu một mai chính Anh quốc yên giấc ngàn thu.

Nó cũng hiện diện trong lời của Đức Jesus (Matt. XV. 18-20):

“Thứ gì được đưa vào miệng sẽ vào bụng và rồi được thải ra. Nhưng những điều từ miệng đi ra thì xuất phát từ trái tim; và chính chúng làm vẩn đục con người. Bởi từ trái tim sinh ra những ý nghĩ xấu xa, những kẻ sát nhân, những kẻ thông dâm, bọn trộm cắp, quân dối trá, và lũ báng bổ. Đó là những thứ làm vẩn đục con người”.

Đâu là nhược điểm khiến nền văn minh đang phát triển có nguy cơ vấp ngã giữa chừng và đánh mất đi ngọn lửa thiêng của thần Prometheas? Nhược điểm này hẳn phải rất quan trọng; bởi lẽ, mặc dù tai ương của sự sụp đổ không phải là điều chắc chắn, nhưng nguy cơ rõ ràng là rất cao. Chúng ta đứng trước thực tế là trong số 21 nền văn minh đã ra đời và tiếp tục phát triển, 13 nền văn minh đã chết và bị chôn vùi; 7 trong số 8 nền văn minh còn lại rõ ràng đang suy tàn; và nền văn minh thứ 8, nền văn minh của chúng ta có lẽ cũng đã đi qua thời kỳ thịnh vượng nhất. Quá trình phát triển của một nền văn minh dường như đầy nguy nan; và nếu nhớ lại phần phân tích về sự phát triển, chúng ta sẽ thấy mối nguy đó nằm trong chính bản chất của tiến trình mà nền văn minh đang phát triển buộc phải đi theo.

Sự phát triển là công trình của các cá nhân sáng tạo và thiểu số sáng tạo; họ không thể tự mình tiến về phía trước trừ phi lôi kéo những người khác; và tầng lớp phi sáng tạo, vốn luôn chiếm đa số áp đảo, không thể nhất tề hóa thân và tự nâng mình lên tầm vóc của các nhà lãnh đạo trong nháy mắt được. Trong thực tế, đó là điều bất khả; bởi lẽ ngọn lửa thắp sáng một tâm hồn “mông muội” được truyền trực tiếp từ các thiên thần đến từ Thiên đàng là chuyện kỳ diệu và hiếm hoi chẳng kém việc bản thân các thiên thần giáng trần xuống thế giới này. Nhiệm vụ của người lãnh đạo là biến những người đi theo thành các môn đồ của mình; và phương tiện duy nhất có thể thôi thúc mọi người hướng về một mục tiêu là tranh thủ năng lực nguyên thủy và đồng nhất của khả năng mô phỏng. Khả năng mô phỏng là một hình thức huấn luyện xã hội; những cái tai điếc đặc trước tiếng đàn Lia mê ly của nàng Orpheus sẽ nghe theo mệnh lệnh của người huấn luyện. Khi người thổi sáo xứ Hamelin giả giọng vua Frederick William, những kẻ thường dân vốn tính dửng dưng đột nhiên hoạt động tích cực như những cái máy, và sự tiến bộ mà ông tạo ra cho họ đã đưa họ vào đúng hàng ngũ; tuy nhiên, họ chỉ theo kịp ông qua một con đường tắt, và chỉ tìm được vị trí trong đội hình nhờ sự dàn trải trên con đường rộng rãi dẫn đến hủy diệt. Vì con đường hủy diệt là cạm bẫy tất yếu rình rập trong quá trình tìm kiếm sự sống, có lẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cuộc tìm kiếm này thường kết thúc bằng thảm họa.

Hơn nữa, sự mô phỏng cũng có nhược điểm của nó, hoàn toàn độc lập với cách khai thác năng lực này. Bởi lẽ, do mô phỏng là một hình thức huấn luyện, nên nó là một dạng cơ giới hóa cuộc sống và hoạt động của con người.

Khi chúng ta nói đến “kỹ thuật tài tình”, những từ ngữ này sẽ gợi lên ý tưởng về tài nghệ của con người chiến thắng trở ngại vật chất. Những ví dụ cụ thể cho thấy điều đó: từ máy hát đĩa hay máy bay cho đến chiếc bánh xe và thuyền độc mộc đầu tiên; nhờ các sáng chế, con người mở rộng quyền lực với môi trường, biến những vật vô tri vô giác thành công cụ phục vụ con người, chúng hệt như những người máy thi hành mệnh lệnh của viên trung sĩ huấn luyện vậy. Khi huấn luyện trung đội, viên trung sĩ như có hàng trăm tay chân tuân lệnh mình. Tương tự, kính viễn vọng là sự mở rộng của mắt người, kèn trompet mở rộng tiếng nói con người, cà kheo mở rộng đôi chân người, và thanh kiếm mở rộng cánh tay người.

Tạo hóa đã ngầm khen ngợi tài khéo léo của con người bằng cách cho phép chúng ta ai cũng có thể sử dụng cỗ máy tự động của riêng mình, ấy chính là cơ thể của chính chúng ta – kiệt tác của tạo hóa. Trong tim và phổi, Người đã tạo hai cỗ máy tự điều chỉnh. Bằng việc điều chỉnh những cơ quan này và cơ quan khác làm việc ăn ý với nhau, Người đã phóng thích năng lượng của chúng ta khỏi những nhiệm vụ lặp đi lặp lại đơn điệu, và giải phóng năng lượng để đi lại giao tiếp và sinh ra 21 nền văn minh. Theo sắp đặt của tạo hóa, 90% chức năng của sinh vật sẽ tự động thực hiện với mức tiêu thụ năng lượng tối thiểu; và do đó, tập trung năng lượng tối đa cho 10% còn lại. Cũng như xã hội loài người, sinh vật tự nhiên cấu thành từ thiểu số sáng tạo và đa số “thành viên” không sáng tạo; trong sinh vật lành mạnh và đang phát triển, cũng giống như trong xã hội lành mạnh và đang phát triển, đa số phục tùng thiểu số một cách máy móc.

Khi đắm mình trong sự thán phục những điều kỳ diệu của con người và tự nhiên, việc nhắc lại những cụm từ khác hẳn sẽ làm rối tung cả lên – “hàng hóa sản xuất bằng máy”, “hành vi máy móc” – trong đó ý nghĩa của từ “máy móc” bị đảo ngược hoàn toàn, cho thấy vật chất chiến thắng sự sống, chứ không phải sự sống chiến thắng vật chất. Tuy máy móc được chế tạo để phục vụ con người, nhưng con người cũng có thể trở thành nô lệ của máy móc. Sinh vật có 90% là kỹ thuật sẽ có nhiều cơ hội hoặc năng lực sáng tạo hơn sinh vật có 50% (giống như Socrates ắt sẽ có nhiều thời gian và cơ hội để khám phá bí mật vũ trụ hơn nếu ông không mất thì giờ để nấu ăn), nhưng sinh vật mà 100% trong nó là kỹ thuật thì chẳng khác gì một người máy thật sự.

Nguy cơ mắc tai ương gắn liền với việc khai thác khả năng mô phỏng vốn là phương tiện làm cho các mối quan hệ xã hội của loài người trở nên máy móc; và nguy cơ này rõ ràng còn lớn hơn nữa khi phát huy khả năng mô phỏng trong xã hội. Nhược điểm của khả năng mô phỏng nằm ở sự đáp ứng một cách máy móc trước ngoại cảnh, thế nên hành động chẳng bao giờ là sáng kiến riêng của người thực hiện. Hành động mô phỏng không mang tính tự quyết, và cái vỏ bọc tốt nhất cho hành động này là thói quen hay tập quán, thực tế nó nằm trong các xã hội nguyên thủy ở trạng thái âm. Nhưng khi “chiếc bánh tập quán” vỡ ra, khả năng mô phỏng lại hướng ngược về ông bà tổ tiên với hiện thân là truyền thống xã hội bất di bất dịch. Từ đó trở đi, xã hội phát triển bị ép sống trong mối nguy hiểm. Hơn nữa, mối nguy cơ này không ngớt xảy đến, vì điều kiện cần thiết cho duy trì sự phát triển là tính linh động và tự phát không ngừng, còn điều kiện cần thiết cho khả năng mô phỏng hữu hiệu chính là điều kiện tiên quyết của sự phát triển, và là mức độ tự động hóa đáng kể như một chiếc máy. Người lãnh đạo tài ba sẽ không có người phục tùng theo nếu đa số những người đó tự nghĩ ra mọi thứ. Và nếu tất cả đều “u muội”, thì sự lãnh đạo sẽ nằm ở đâu?

Trong thực tế, cá nhân sáng tạo tiên phong của nền văn minh đã nhờ đến cơ chế mô phỏng đang tự bộc lộ nguy cơ thất bại ở hai mức độ, một tích cực và một tiêu cực.

Thất bại tiêu cực là người lãnh đạo tiêm nhiễm thuật mê hoặc cho những người theo mình. Tính dễ bảo của binh lính được mua bằng cái giá bất hạnh là mất đi thế chủ động ở người sĩ quan. Chuyện này đã xảy ra trong các nền văn minh bị giam hãm, và trong mọi giai đoạn lịch sử của các nền văn minh khác, nó được xem là giai đoạn thoái trào. Tuy nhiên, thất bại tiêu cực thường không đánh dấu chấm hết câu chuyện. Khi người lãnh đạo thôi nắm quyền, họ trở nên lạm quyền. Binh lính nổi dậy; các sĩ quan tìm cách vãn hồi trật tự qua hành động quyết liệt. Orpheus làm mất đàn lia hoặc quên cách chơi, giờ đây đánh tứ tung bằng sợi roi da của Xerxes; và hậu quả là một sự huyên náo ghê gớm, trong đó đội hình quân sự tan rã và hỗn loạn. Đây là thất bại tích cực; và lại một lần nữa, chúng ta dùng tên khác cho nó. Đó là “sự tan rã” của nền văn minh suy tàn thể hiện qua “sự ly khai của tầng lớp bị trị” khỏi hàng ngũ lãnh đạo đã thoái hóa thành “thiểu số thống trị”.

Sự ly khai khỏi hàng ngũ lãnh đạo có thể được xem là sự mất hài hòa giữa các bộ phận tạo thành tổng thể của xã hội. Trong bất kỳ tổng thể nào gồm nhiều bộ phận, sự mất hài hòa giữa các bộ phận sẽ phải trả giá bằng việc mất quyền tự quyết tương ứng. Mất quyền tự quyết là tiêu chuẩn cơ bản của sự sụp đổ; kết luận chẳng làm cho chúng ta ngạc nhiên khi xem điều ngược lại của kết luận này, vì tiến tới quyền tự quyết chính là tiêu chuẩn của sự lớn mạnh. Giờ đây, chúng ta phải khảo sát một số ví dụ thể hiện sự mất quyền tự quyết thông qua mất hài hòa.

(2) BÌNH CŨ RƯỢU MỚI

Hòa giải, cách mạng và tội ác

Nguồn gốc của sự mất hài hòa giữa các thể chế tạo nên xã hội là sự ra đời của lực lượng xã hội mới – khác biệt về khuynh hướng, tình cảm, hay ý tưởng – những gì mà các thể chế hiện có ban đầu không lập được để thi hành. Lời giáo huấn nổi tiếng được cho là của Đức chúa Giê-su nói lên sự tai hại của việc đặt cái cũ và cái mới cạnh nhau một cách phi lý:

“Không ai đem mảnh vải mới dặm vá lên quần áo cũ, vì làm thế chỉ khiến bộ quần áo xấu thêm. Cũng không ai đổ rượu mới vào bình cũ – bình bể, rượu đổ ra ngoài, và bình cũng đi tong; người ta đổ rượu mới vào bình mới, và cả hai đều được an toàn”.[1]

Cơ cấu tổ chức gia đình có thể áp dụng lời giáo huấn trên; tuy nhiên, trong cơ cấu tổ chức của cuộc sống xã hội, khả năng thu xếp công việc theo ý muốn bị thu hẹp do xã hội không phải là tài sản của một người sở hữu, mà là điểm chung của nhiều lĩnh vực hoạt động của nhiều người; và vì lẽ đó, lời giáo huấn, vốn có ý ám chỉ cơ cấu tổ chức gia đình và trí khôn ngoan trong cuộc sống tinh thần, là lời khuyên về tính hoàn mỹ trong công việc xã hội.

Không còn nghi ngờ gì nữa, sự ra đời của động lực mới phải đi kèm với sự tái thiết toàn bộ thể chế hiện có, và trong một xã hội phát triển thật sự, những gì lỗi thời rõ ràng sẽ không ngừng tự điều chỉnh. Tuy nhiên, sức ì luôn cố giữ lại phần lớn cấu trúc xã hội trước đây, dẫu chúng ngày càng không hợp với các lực lượng xã hội mới. Trong tình huống này, lực lượng mới hay đi theo hai chiều đối lập nhau hoàn toàn cùng một lúc. Một mặt, chúng thực hiện công việc sáng tạo thông qua thể chế mới đã thiết lập cho chính mình hoặc thể chế cũ đã biến cải cho phù hợp với mục đích; và khi đổ vào những dòng kênh hòa hợp này, chúng thúc đẩy sự thịnh vượng của xã hội. Đồng thời, chúng còn thâm nhập bừa bãi vào bất cứ thể chế nào vô tình nằm trên đường đi của chúng – tựa như đầu máy hơi nước mới buộc phải ập vào xưởng nơi đầu máy cũ nào đó vô tình được lắp ráp.

Trong trường hợp như thế, một trong hai thảm họa có khuynh hướng xảy ra. Áp suất của đầu máy hơi nước mới thổi tung đầu máy cũ thành từng mảnh, còn không thì đầu máy cũ cố sức vận hành theo lối mới có tính hủy diệt và đáng sợ.

Chuyển sang cuộc sống xã hội, việc nổ đầu máy cũ vì không chịu nổi áp suất mới – hoặc nổ cái bình cũ vì không chịu nổi sự lên men của rượu mới – đó là cuộc cách mạng để vượt qua thể chế lỗi thời. Mặt khác, cho dù chiếc đầu máy cũ chịu nổi hiệu suất mới, nhưng còn có những tội ác xã hội mà tính lỗi thời của thể chế “ngoan cố đến cùng” đôi khi sinh ra.

Có thể định nghĩa như sau: Cuộc cách mạng là hành động mô phỏng chậm trễ, và mang tính bạo lực. Thành phần mô phỏng đóng vai trò cốt lõi; mỗi cuộc cách mạng đều dính dáng đến chuyện đã xảy ra ở chỗ khác. Điều đó là hiển nhiên, vì khi nghiên cứu cuộc cách mạng trong bối cảnh lịch sử, ta sẽ thấy cách mạng chẳng bao giờ tự bùng nổ nếu nó chưa được khơi dậy bởi sự xoay chuyển trước đó của các lực lượng bên ngoài. Đơn cử, cuộc cách mạng Pháp vào năm 1789 là sự mô phỏng một phần từ những biến cố vừa xảy ra ở Mỹ và một phần từ sự độc lập nước Anh cách đây 1 thế kỷ được hai thế hệ triết gia từ thời Montesquieu trở đi quảng bá và ca ngợi ở Pháp.

Sự chậm trễ cũng đóng vai trò thiết yếu trong cuộc cách mạng và lý giải bạo lực là đặc trưng nổi bật nhất. Cuộc cách mạng mang tính bạo lực vì chúng là chiến thắng muộn màng của lực lượng xã hội mới trước thể chế cũ vốn rất ngoan cố. Trở lực càng dai dẳng, áp lực của lực lượng có lối ra bị ngăn trở càng mạnh; và áp lực càng cao, sự bùng nổ càng mãnh liệt.

Có thể định nghĩa những tội ác xã hội là hậu quả mà xã hội phải gánh chịu khi hành động mô phỏng (lẽ ra phải thay sự mô phỏng bằng sự hòa hợp thể chế cũ với lực lượng xã hội mới) không đơn thuần chậm lại mà còn thất bại.

Rõ ràng, mỗi khi lực lượng xã hội mới thách thức cấu trúc tổ chức hiện có, có ba kết quả khả dĩ: một là điều chỉnh hài hòa cấu trúc với lực lượng, hai là tiến hành cách mạng (đồng nghĩa với sự chậm trễ và điều chỉnh trái ngược nhau), cuối cùng là tội ác. Nếu điều chỉnh hài hòa chiếm ưu thế, xã hội tiếp tục phát triển; giả sử nổ ra cách mạng, sự phát triển sẽ đâm ra mạo hiểm; trường hợp là tội ác, chúng ta có thể tiên đoán một sự sụp đổ. Loạt ví dụ sau sẽ minh họa công thức vừa trình bày.

Tác động của chủ nghĩa công nghiệp lên chế độ nô lệ

Trong hai thế kỷ qua, hai lực lượng xã hội mới năng động đã hình thành, đó là hệ thống công nghiệp và chế độ dân chủ, và một trong những thể chế cũ mà hai lực lượng này phải đương đầu là chế độ nô lệ. Thể chế nô lệ bạo tàn đã góp phần rất lớn vào sự suy vong của xã hội Hy Lạp, và chưa bao giờ bảo vệ chỗ đứng vững chắc xứ sở của xã hội Tây phương, nhưng từ thế kỷ 16 trở đi (khi người Cơ Đốc Tây phương bành trướng trên biển), chế độ nô lệ đã hình thành ở một số thuộc địa hải ngoại mới. Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài, phạm vi bùng nổ chế độ nô lệ đồn điền không còn rộng rãi nữa. Vào cuối thế kỷ 19, lực lượng mới của hệ thống công nghiệp và chế độ cộng hòa bắt đầu tỏa ra từ nước Anh đến phần còn lại của thế giới phương Tây, trong khi chế độ nô lệ vẫn bó hẹp ở ven rìa thuộc địa, và thậm chí có khu vực đang co cụm lại. Những chính khách vốn là chủ nô như Washington và Jefferson không chỉ lên án thể chế này mà còn có một cái nhìn khá lạc quan về viễn cảnh không còn chế độ nô lệ trong thế kỷ tới.

Thế nhưng, sự bùng nổ cách mạng công nghiệp ở Anh đã loại trừ khả năng này, vì nó kích thích nhu cầu về nguyên liệu thô do các nô lệ đồn điền sản xuất ra. Chủ nghĩa công nghiệp đã làm sống dậy chế độ nô lệ vốn èo uột và lỗi thời. Giờ đây, xã hội phương Tây đối mặt với hai sự chọn lựa: một là tích cực chấm dứt ngay chế độ nô lệ, hai là để yên cho tệ nạn xã hội này được động lực mới của chủ nghĩa công nghiệp biến thành mối nguy lớn cho cuộc sống xã hội.

Trong hoàn cảnh này, phong trào chống chế độ nô lệ nổi lên ở nhiều quốc gia thuộc thế giới phương Tây và đạt được một số thành công nhất định; tuy nhiên, phong trào chống chế độ nô lệ không tiến triển hòa bình tại “vành đai bông” ở các tiểu bang miền Nam của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ở đây, những người bênh vực cho chế độ nô lệ vẫn nắm quyền lâu hơn cả một thế hệ, và trong khoảng thời gian ngắn 30 năm – từ 1833 đến 1863 ( chế độ nô lệ bị thủ tiêu ở Đế quốc Anh năm 1833 và ở Hoa Kỳ năm 1863) – “thể chế lạ kỳ” này của các tiểu bang miền Nam, cùng với động lực của hệ thống công nghiệp, vẫn cường thịnh. Sau đó, nó đi đến hồi cáo chung; sự xóa bỏ muộn màng chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ phải trả giá là một cuộc cách mạng long trời lở đất, mà tác động tàn phá của nó vẫn còn thấy rõ đến ngày nay. Đó là cái giá của sự chậm chạp trong mô phỏng.

Dẫu phải trả giá, nhưng xã hội phương Tây vẫn lấy làm vui mừng vì đã quét sạch tệ nạn xã hội của chế độ nô lệ khỏi pháo đài cuối cùng của nó. Có được diễm phúc này, chúng ta phải cảm ơn lực lượng mới của chế độ dân chủ, vốn ra đời ở thế giới phương Tây trước cả hệ thống công nghiệp. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Lincoln, tác giả chính của phong trào thủ tiêu chế độ nô lệ khỏi thành trì cuối cùng ở phương Tây được xem là vị chính khách dân chủ vĩ đại nhất. Một điều may mắn là, chế độ dân chủ là biểu hiện chính trị của chủ nghĩa nhân đạo, mà chủ nghĩa nhân đạo và chế độ nô lệ là hai kẻ thù không đội trời chung, và người theo phe dân chủ đã phát động phong trào chống chế độ nô lệ cùng lúc với người theo chủ nghĩa công nghiệp. Có thể nói chắc chắn rằng, trong cuộc đấu tranh chống chế độ nô lệ, nếu xu thế của chế độ dân chủ không trung hòa với xu thế của chủ nghĩa công nghiệp, thì thế giới phương Tây sẽ không tự thủ tiêu chế độ nô lệ dễ dàng như vậy được.

Tác động của chế độ dân chủ và hệ thống công nghiệp lên chiến tranh

Thật quá xưa cũ khi nói rằng, hệ thống công nghiệp đã làm tăng những nỗi kinh hoàng về chiến tranh. Chiến tranh cũng là một thể chế cổ xưa và lỗi thời bị lên án về mặt đạo đức chẳng kém gì chế độ nô lệ. Về mặt tri thức, cũng có trường phái tư duy cho rằng chiến tranh “không mang lại lợi lộc” cho ngay cả người tưởng được lợi từ nó. Trong thời gian trước khi nổ ra nội chiến ở Mỹ, H.R Helper đã chứng minh chế độ nô lệ không đem lại lợi lộc cho chủ nô, nhưng ông đã bị tầng lớp mà ông tìm cách khai sáng chỉ trích; tương tự như vậy, trong thời gian trước Thế chiến thứ I (1914-1918), Norman Angell đã viết sách chứng minh chiến tranh đem lại tổn thất cho cả phe chiến thắng lẫn kẻ thất bại, và bị đa số quần chúng lên án. Tại sao xã hội chúng ta không thể loại bỏ chiến tranh dễ dàng như khi thủ tiêu chế độ nô lệ? Câu trả lời thật hiển nhiên. Trong trường hợp này, hai động lực của hệ thống công nghiệp và chế độ dân chủ đã tác động đồng thời và cùng chiều.

Nếu quay lại tình trạng của thế giới phương Tây vào thời điểm trước khi hệ thống công nghiệp và chế độ cộng hòa xuất hiện (giữa thế kỷ 18), chúng ta sẽ nhận thấy rằng lúc ấy, chiến tranh ở tình trạng giống hệt như chế độ nô lệ: nó rõ ràng đã hết thời, nhưng vẫn xảy ra ít nhiều. Những người theo chủ nghĩa duy lý vào thế kỷ 18 đã nhìn lại với sự ghê tởm về quá khứ,[2] khi đó chiến tranh đã lên tới mức khủng khiếp do tác động của sự cuồng tín tôn giáo. Tuy nhiên, vào nửa sau thế kỷ 17, bóng tối đã qua đi, và tội ác chiến tranh giảm xuống tới mức chưa từng thấy trong lịch sử phương Tây. Khi “chiến tranh tôn giáo” đến hồi kết thúc vào gần thế kỷ 18, thì chiến tranh một lần nữa lại trỗi dậy do tác động chủ nghĩa công nghiệp và chế độ dân chủ. Nếu thắc mắc lực lượng nào đã đóng vai trò quan trọng hơn cả trong sự khốc liệt của chiến tranh suốt 250 năm qua, chúng ta chắc chắn sẽ quy cho chủ nghĩa công nghiệp. Nhưng chúng ta đã lầm. Một trong những cuộc chiến tranh cận đại đầu tiên theo nghĩa này là cuộc cách mạng Pháp, kéo theo đó là một chu kỳ chiến tranh. Trong những cuộc chiến tranh này, tác động của chủ nghĩa công nghiệp không đáng kể, còn tác động của chế độ dân chủ lại hết sức quan trọng. Ngay sự lãnh đạo của thiên tài quân sự Napoleon cũng không bằng tính chất mãnh liệt mang tính cách mạng của quân đội Pháp trước thành lũy phòng thủ lạc hậu của các cường quốc lục địa châu Âu phi cách mạng đã đưa quân đội Pháp đi khắp châu Âu. Nếu cần bằng chứng cho lời khẳng định này, ta có thể tìm trong sự kiện tân binh Pháp chiến thắng vang dội trước đội quân tinh nhuệ của vua Louis XIV trước khi Napoleon xuất hiện trên chiến trường. Và chúng ta hẳn còn nhớ người La Mã và người Assyria đã tàn phá các nền văn minh mà không cần sự trợ giúp nào của vũ khí công nghiệp, vì thực tế là mãi cho đến thế kỷ XVI, hình thức thô sơ nhất của vũ khí là súng hỏa mai mới xuất hiện.

Lý do cơ bản giải thích tại sao chiến tranh thế kỷ 19 kém tàn bạo hơn trước là do nó không còn là vũ khí của sự cuồng tín tôn giáo, và chưa trở thành công cụ của sự cuồng tín dân tộc chủ nghĩa, suốt giai đoạn này, nó chỉ là “trò giải trí của các vua chúa”. Về mặt đạo đức, việc sử dụng chiến tranh vào mục đích phù phiếm này có lẽ gây ra căm phẫn hơn cả, nhưng không thể phủ nhận tác động này trong nỗ lực xoa dịu những kinh hoàng của chiến tranh. Những tay chơi hoàng gia biết rõ mức độ chịu đựng và sự phẫn nộ của thần dân, và họ giữ các hành động của mình trong ranh giới này. Họ không cưỡng bách tòng quân; họ không sống nhờ vào các quốc gia bị chiếm đóng như quân đội trong các cuộc chiến tranh tôn giáo, cũng như không xóa sổ các công trình xây dựng thời bình như quân đội của thế kỷ 20. Họ tôn trọng luật chơi quân sự, đặt ra mục tiêu vừa phải, và không áp đặt sự triệt hạ dã man lên đối thủ bại trận. Những quy ước này chỉ bị phá vỡ khi vua Louis XIV tàn phá xứ Palatinate vào năm 1674-1689, và hành động tàn bạo này không chỉ bị các nạn nhân mà cả dư luận theo phe trung lập lên án.

Edward Gibbon mô tả tình trạng sự việc này như sau:

“Trong chiến tranh, những cuộc giao tranh chừng mực không mang tính quyết định. Cân bằng sức mạnh sẽ tiếp tục dao động, vương quốc chúng ta hay vương quốc láng giềng có thể lúc thịnh lúc suy; song những biến cố này về cơ bản không thể làm hại đến hạnh phúc chung, hệ thống luật pháp, và phong tục tập quán”.[3]

Tác giả bài viết đầy tự mãn này chỉ sống tới ngày bàng hoàng trước sự mở đầu của chu kỳ chiến tranh mới, và nhận định của ông trở nên lỗi thời.

Cũng giống như sự phát triển của chế độ nô lệ qua tác động của chủ nghĩa công nghiệp đã dẫn đến phong trào chống chế độ nô lệ, sự mãnh liệt của chiến tranh qua tác động của chế độ dân chủ, và tất nhiên qua tác động của chủ nghĩa công nghiệp nữa, đã dẫn đến phong trào phản chiến. Phong trào đấu tranh đầu tiên của Hội Quốc Liên (tiền thân Liên Hiệp Quốc) sau khi kết thúc Thế chiến thứ I (1914-1918) đã không cứu thế giới khỏi Thế chiến thứ II (1939-1945). Với cái giá của tai họa ngày càng chồng chất này, giờ đây chúng ta phải tìm ra cách thủ tiêu chiến tranh thông qua sự hợp tác thế giới, thay vì cứ để mặc cho chu kỳ chiến tranh đi đến hồi kết thúc –lúc đã quá trễ và quá tồi tệ – khi cường quốc duy nhất còn tồn tại nào đó thành lập chính quyền trung ương bằng bạo lực. Liệu chúng ta có đạt được điều mà những nền văn minh khác chưa đạt tới hay không? Câu hỏi đó còn chưa có lời giải đáp.

Tác động của nền dân chủ và hệ thống công nghiệp lên chủ quyền địa phương

Tại sao chế độ dân chủ, vốn được tuyên bố là hệ quả tất yếu của Cơ Đốc giáo lại có ảnh hưởng to lớn đến tội ác chiến tranh đến như vậy? Câu trả lời là, trước khi xung đột với thể chế chiến tranh, chế độ dân chủ đã xung đột với chủ quyền địa phương; và việc sáp nhập những động lực mới của nền dân chủ và hệ thống công nghiệp vào cỗ máy cũ kỹ của chính quyền địa phương đã tạo ra tội ác kép của chủ nghĩa dân tộc chính trị và kinh tế. Chính ở hình thức phát sinh này, chế độ dân chủ đã phát động chiến tranh, thay vì chống lại nó.

Tình hình xã hội phương Tây yên ổn hơn vào thời kỳ tiền chủ nghĩa dân tộc ở thế kỷ 18. Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, các nhà nước có chủ quyền địa phương ở thế giới phương Tây đều không phải là công cụ thể hiện nguyện vọng chung của dân, mà gần như là tài sản riêng của các triều đại. Chiến tranh hoàng tộc và hôn nhân hoàng tộc là hai thủ tục sinh ra sự vận chuyển tài sản từ triều đại này sang triều đại khác; và trong hai phương pháp, phương pháp kết hôn hoàng tộc rõ ràng được ưa chuộng hơn. Đó là nội dung quan điểm của chính sách đối ngoại của Hoàng gia Hapsburg: Bella gerant alii; tu, felix Austria, nube (Cứ để kẻ khác đánh nhau, còn người – nước Áo hạnh phúc – hãy kết hôn). Tên của ba cuộc chiến tranh chính vào nửa đầu thế kỷ 18 (chiến tranh kế vị của Tây Ban Nha, Ba Lan, Áo) cho thấy, các cuộc chiến tranh chỉ nổ ra khi những vụ dàn xếp hôn nhân rơi vào tình trạng rối rắm không thoát ra được.

Rõ ràng, có một khía cạnh nhỏ nhen đê tiện trong hình thức hôn nhân ngoại giao này. Khế ước chuyển nhượng là các tỉnh và dân cư từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác giống như tài sản và gia súc gây ra phẫn nộ cho những người nhạy cảm vào thời kỳ dân chủ. Nhưng ít ra vào thế kỷ 18 này, nó đã có những bù đắp. Nó làm lu mờ chủ nghĩa yêu nước; bởi có tinh thần yêu nước lúc ấy nhiều khi lại là một nỗi đau. Một câu chuyện nổi tiếng trong tác phẩm Sentimental Journey (Cuộc hành trình đầy cảm xúc) của Sterne kể về việc tác giả tới nước Pháp mà quên bẵng nước Anh và nước Pháp đang đối đầu nhau trong “cuộc chiến bảy năm”. Sau một chút rắc rối với cảnh sát, một tên hầu cận của một nhà quý tộc Pháp – người mà ông chưa hề gặp mặt trước đó – cho phép ông tiếp tục cuộc hành trình và không gây phiền phức gì thêm. Bốn mươi năm sau, khi cắt đứt hiệp ước Amiens, Napoleon hạ lệnh bắt giam tất cả công dân Anh trong độ tuổi 18-60 vô tình lưu trú ở Pháp vào thời điểm đó, hành động của ông được xem là điển hình của tính bạo tàn. Trên thực tế, cho dù Napoleon đã đưa ra lời xin lỗi về chuyện này, nhưng đó chỉ là chuyện mà ngay cả chính phủ tự do và nhân đạo nhất hiện nay cũng có thể làm chẳng khó khăn gì. Giờ đây, chiến tranh trở thành “chiến tranh tổng lực”, và đó là điều không tránh khỏi vì các nhà nước có chủ quyền đều đã trở thành nền dân chủ theo chủ nghĩa dân tộc.

Chiến tranh tổng lực nghĩa là không chỉ có binh lính và thủy thủ mà toàn dân đều tham gia chiến đấu. Chúng ta sẽ tìm thấy mở đầu của viễn cảnh mới này trong cách cai trị của thực dân Anh – Mỹ với người đứng về phía mẫu quốc vào thời điểm cuối cùng của cuộc chiến tranh cách mạng. Những người trung thành với đế chế liên hiệp bị trục xuất toàn bộ – đàn ông, đàn bà, và trẻ em – ra khỏi nhà sau khi chiến tranh qua đi. Họ nhận được sự đối đãi trái ngược với những gì mà nước Anh đã làm cách đây 20 năm trước đối với người Canada gốc Pháp bị chinh phục, những người không chỉ được phép giữ lại nhà cửa mà còn cả hệ thống luật pháp và thể chế tôn giáo. Đây là điển hình đầu tiên rất có ý nghĩa về “chế độ chuyên chế”; vì những người Mỹ gốc thực dân là dân tộc dân chủ đầu tiên trong xã hội phương Tây chúng ta.[4]

Sự ràng buộc hệ thống công nghiệp với chính quyền địa phương một cách sai lầm đã sinh ra chủ nghĩa dân tộc kinh tế tai hại chẳng kém gì chủ nghĩa dân tộc chính trị.

Tất nhiên, người ta chưa biết tới những tham vọng và cạnh tranh kinh tế trong đời sống chính trị thế giới vào thời kỳ tiền công nghiệp; thực vậy, chủ nghĩa dân tộc kinh tế là biểu hiện kinh điển của “chủ nghĩa con buôn vị kỷ” vào thế kỷ 18, và chiến lợi phẩm trong cuộc chiến tranh thế kỷ 18 là các thị trường thuộc địa và sự độc quyền tư bản, chẳng hạn hiệp ước Utrecht cho phép nước Anh độc quyền mua bán nô lệ ở thuộc địa Tây Ban Nha – Mỹ. Tuy nhiên, những xung đột kinh tế vào thế kỷ 18 chỉ tác động đến các tầng lớp nhỏ. Vào thời kỳ nông nghiệp chiếm ưu thế, khi mỗi quốc gia và làng mạc đều sản xuất hầu như mọi thứ cần dùng cho cuộc sống, các cuộc chiến giành thị trường của người Anh được gọi là “trò tiêu khiển của các nhà buôn”, cũng hợp lý như những cuộc chiến tranh giành lãnh thổ trên lục địa già từng được gọi là “trò tiêu khiển của các vị vua”.

Hệ thống công nghiệp ra đời làm xáo trộn mạnh tình trạng chung của sự thăng bằng kinh tế trên quy mô nhỏ; cũng như chế độ dân chủ, chủ nghĩa công nghiệp thực chất là chủ nghĩa thế giới. Nếu bản chất thật của chế độ dân chủ là tình anh em, thì yêu cầu thực chất của chủ nghĩa công nghiệp là hợp tác trên toàn thế giới. Về phân phối xã hội theo nhu cầu của chủ nghĩa công nghiệp, những người đi đầu trong kỹ thuật mới này tuyên bố trong một khẩu hiệu nổi tiếng “Laissez faire! Laissez passer!” (tự do sản xuất, tự do trao đổi). Cách đây 150 năm, với sự phân chia thế giới thành những đơn vị kinh tế nhỏ, chủ nghĩa công nghiệp đã tái định hình cấu trúc kinh tế thế giới theo hai hướng thống nhất. Nó cố gắng làm cho các đơn vị kinh tế trở nên ít đi và lớn hơn, đồng thời giảm bớt rào cản giữa chúng.

Nếu nhìn vào lịch sử của những nỗ lực trên, chúng ta sẽ thấy có một bước ngoặt xảy ra vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ cuối. Vào thời kỳ đó, chế độ dân chủ hà hơi tiếp sức cho chủ nghĩa công nghiệp trong nỗ lực giảm bớt số lượng đơn vị kinh tế và rào cản giữa chúng. Sau ngày đó, chủ nghĩa công nghiệp và chế độ dân chủ lật ngược chính sách và đi theo hướng đối nghịch nhau.

Trong lần đầu xem xét quy mô của các đơn vị kinh tế, chúng ta thấy vào cuối thế kỷ 18, nước Anh là khu vực tự do mậu dịch lớn nhất ở thế giới phương Tây, điều này lý giải tại sao Cách mạng công nghiệp diễn ra tại chính nước Anh chứ không phải nơi nào khác. Nhưng vào năm 1788, các cựu thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ thủ tiêu hoàn toàn rào cản thương mại giữa các tiểu bang, và tạo ra khu vực tự do mậu dịch lớn nhất và xã hội công nghiệp hùng mạnh nhất trên thế giới. Mấy năm sau, cách mạng Pháp phá bỏ hết biên giới thuế quan giữa các tỉnh, và phá vỡ luôn sự thống nhất kinh tế của nước Pháp. Gần giữa thế kỷ 19, nước Đức đã hình thành liên minh thuế quan, tiền thân của sự thống nhất chính trị. Nếu xét nửa kia của chương trình giảm thuế quan và phá bỏ các rào cản địa phương khác theo hướng mậu dịch quốc tế, chúng ta sẽ thấy Pitt (người nhận mình là học trò của Adam Smith) phát động phong trào ủng hộ nhập khẩu tự do, được Peel, Cobden, và Gladstone hoàn thành vào những năm giữa thế kỷ 19; nước Mỹ sau khi thử nghiệm đánh thuế nặng đã chuyển dần sang hướng tự do mậu dịch từ 1832 đến 1860; cả Louis Phillipe và Napoleon III của nước Pháp lẫn nước Đức trước thời Bismarck đều đi theo cùng một hướng.

Đến đây thì ngọn gió chính trị đã đổi chiều. Chủ nghĩa dân tộc dân chủ (đã hợp nhất nhiều chính quyền địa phương làm một ở Đức và Ý) làm tan rã các Đế chế Hapsburg, Ottoman, và Nga đa quốc gia. Sau khi kết thúc Thế chiến thứ I (1914-1918), đơn vị tự do mậu dịch cũ của chế độ quân chủ chia thành một số quốc gia có người kế vị, mỗi quốc gia cố liều lĩnh đạt tới chính sách tự cấp tự túc kinh tế, trong khi cụm quốc gia khác chen mình vào giữa nước Đức và nước Nga. Trong lúc đó, phong trào tiến tới tự do mậu dịch đã bắt đầu bị đảo ngược ở quốc gia này rồi đến quốc gia kia, rốt cuộc cho đến năm 1931, “chủ nghĩa con buôn vị kỷ” trở lại nước Anh.

Rất dễ thấy rõ nguyên nhân của việc xóa bỏ tự do mậu dịch. Tự do mậu dịch thích hợp cho nước Anh khi nước Anh là “phân xưởng sản xuất của thế giới”; nó thích hợp với các tiểu bang xuất khẩu bông vốn chi phối chính quyền Mỹ từ 1832 đến 1860. Cùng thời kỳ đó, vì nhiều lý do, việc xóa bỏ tự do mậu dịch dường như thích hợp cho Đức và Pháp. Tuy nhiên, khi từng quốc gia một đi theo con đường công nghiệp hóa, thì nó chỉ phù hợp với những lợi ích địa phương thiển cận nhằm theo đuổi cuộc cạnh tranh công nghiệp quyết liệt với tất cả các nước lân cận, và dưới chế độ chủ quyền địa phương, ai có thể cấm đoán được họ xóa bỏ nó đây?

Cobden và các học trò của ông đã tính toán nhầm. Họ mong thấy các dân tộc và quốc gia trên thế giới đi tới thống nhất xã hội thông qua mạng lưới quan hệ kinh tế thế giới gắn bó chặt chẽ với nhau, thế nhưng những tiềm năng non trẻ của chủ nghĩa công nghiệp đã dệt hỏng mạng lưới này ngay từ nút nước Anh. Thật bất công khi những người của Cobben giải tán phong trào tự do mậu dịch ở Anh thời Nữ hoàng Victoria chỉ vì nó là tác phẩm của tính tự lợi. Phong trào này còn là biểu hiện của tư tưởng đạo đức và chính sách quốc tế mang tính xây dựng; những người dẫn giải đã nhắm vào điều hơn cả việc biến nước Anh thành bà chủ nhà của thị trường thế giới. Họ còn hy vọng thúc đẩy phát triển dần trật tự thế giới chính trị, trong đó trật tự thế giới kinh tế mới có thể lớn mạnh; tạo môi trường chính trị cho phép trao đổi an toàn và hòa bình hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới – tăng cường an ninh từng giai đoạn làm tăng mức sống cho cả nhân loại.

Sở dĩ Cobden tính nhầm là vì ông không dự đoán được tác động của chế độ dân chủ và chủ nghĩa công nghiệp lên sự cạnh tranh của các quốc gia mang nặng tính địa phương. Ông cho rằng, chúng sẽ nằm yên vào thế kỷ 19 vì đã vùng vẫy suốt thế kỷ 18 cho đến khi con người có thời gian chế ngự. Ông tin vào tác động thống nhất trong bản chất của chế độ dân chủ và chủ nghĩa công nghiệp sẽ sinh ra mà không bị ngăn trở, trong đó chế độ dân chủ có nghĩa là tình anh em, còn chủ nghĩa công nghiệp có nghĩa là sự hợp tác. Ông không tính đến khả năng cùng những lực lượng đó sẽ tạo ra tình trạng xâu xé và vô chính phủ trên thế giới. Ông không nhớ sách Phúc âm về tình anh em được các phát ngôn viên của cách mạng Pháp thuyết giảng đã dẫn đến cuộc chiến cận đại đầu tiên vì chủ nghĩa dân tộc; nói đúng hơn, ông thừa nhận đây là cuộc chiến tranh đầu tiên và cũng là cuối cùng thuộc loại này. Ông không ý thức rằng nếu các chính thể đầu sỏ theo chủ nghĩa con buôn hẹp hòi vào thế kỷ 18 đã phát động chiến tranh để xúc tiến mua bán hàng xa xỉ, thì các quốc gia dân chủ cũng sẽ chiến đấu với nhau vì các mục tiêu kinh tế vào thời kỳ cách mạng công nghiệp đã chuyển đổi mậu dịch quốc tế từ trao đổi hàng xa xỉ sang trao đổi nhu yếu phẩm.

Trường phái Manchester đã hiểu sai bản chất con người. Họ không biết rằng ngay cả trật tự kinh tế thế giới cũng không thể đơn thuần xây dựng trên nền tảng kinh tế. Bất chấp chủ nghĩa duy tâm chân thật của họ, họ không ý thức được rằng: “Con người không chỉ sống dựa vào bánh mì”. Sai lầm nghiêm trọng này do chính Gregory Đại đế và những nhà sáng lập xã hội Cơ Đốc Tây phương, đồng thời cũng là những người đã truyền bá chủ nghĩa duy tâm Anh quốc thời Victoria tạo ra. Dành hết tâm huyết cho sự nghiệp siêu thế tục, những con người này chưa tìm cách xây dựng một cách có ý thức trật tự thế giới. Mục tiêu của họ giới hạn ở tham vọng vật chất khiêm nhường là cứu vớt những con người trong xã hội bị sụp đổ. Theo Gregory, dinh thự kinh tế mọc lên là cái thay thế tạm thời; khi dựng lên nó, người ta đã lo xây dựng trên nền tảng tôn giáo, chứ không phải kinh tế; nhờ vào lao động, cấu trúc xã hội phương Tây yên vị trên nền tảng tôn giáo vững chắc và phát triển, từ khởi đầu khiêm tốn vào thế kỷ 14 thành đại xã hội ngày nay. Nếu cần nền tảng tôn giáo vững chắc cho tòa nhà kinh tế khiêm tốn, thì cấu trúc rộng lớn của trật tự thế giới chưa chắc dựa vững trên nền tảng lợi ích kinh tế.

Tác động của chủ nghĩa công nghiệp lên quyền tư hữu

Tư hữu là thể chế có khuynh hướng tự thiết lập của xã hội, trong đó mỗi gia đình là một đơn vị hoạt động kinh tế, và trong xã hội, nó chắc chắn là hệ thống quản lý phân phối của cải vật chất thỏa mãn nhất. Tuy nhiên, giờ đây đơn vị hoạt động kinh tế không còn là một gia đình, một làng mạc, hay một quốc gia nữa, mà là toàn bộ thế hệ con người. Do sự ra đời của chủ nghĩa công nghiệp, nền kinh tế phương Tây cận đại trên thực tế đã vượt qua phạm vi đơn vị gia đình, và do đó vượt qua thể chế tư hữu gia đình. Tuy nhiên, trong thực tế, thể chế cũ vẫn còn hiệu lực; và trong tình hình lộn xộn đó, chủ nghĩa công nghiệp thiên về khuynh hướng tư hữu, đề cao thế lực xã hội trong khi giảm bớt trách nhiệm xã hội của con người, cho đến khi thể chế vốn nhân đạo vào thời tiền công nghiệp này dần dần mang nhiều đặc trưng của tệ nạn xã hội.

Trong hoàn cảnh đó, xã hội chúng ta ngày nay đang đối mặt với nhiệm vụ điều chỉnh thể chế tư hữu sao cho hòa hợp với lực lượng mới của chủ nghĩa công nghiệp. Phương pháp này điều chỉnh lại việc phân phối không công bằng tài sản riêng bằng cách kiểm soát hợp lý và phân phối lại tài sản riêng thông qua cơ quan nhà nước. Nhờ kiểm soát các ngành công nghiệp mũi nhọn, nhà nước có thể kiềm chế sự tập trung quyền lực quá mức của người sở hữu những ngành công nghiệp quan trọng, đồng thời giảm nhẹ tác động xấu của nghèo đói bằng cách cung cấp dịch vụ xã hội được tài trợ bởi sự đánh thuế tài sản. Phương pháp này tỏ ra có lợi vì nó chuyển hóa chính quyền từ một cỗ máy gây chiến tranh – chức năng rõ nét nhất trong quá khứ – trở thành một thế lực phục vụ phúc lợi xã hội.

Nếu chính sách này tỏ ra không thỏa đáng, chúng ta có thể gần như đoan chắc rằng, cuộc cách mạng thay thế sẽ nổ ra dưới hình thức chủ nghĩa cộng sản và thủ tiêu thể chế tư hữu. Đây dường như là chọn lựa duy nhất thay thế cho việc điều chỉnh, vì phân phối không công bằng tài sản riêng thông qua tác động của chủ nghĩa công nghiệp sẽ là tội ác khó dung thứ nếu không được xoa dịu một cách hiệu quả bằng hệ thống dịch vụ xã hội và thuế suất cao. Tuy vậy, như cuộc thử nghiệm ở nước Nga đã cho thấy, phương thuốc cách mạng của chủ nghĩa cộng sản có lẽ tỏ ra hơi yếu ớt so với chính căn bệnh; bởi lẽ thể chế tư hữu gắn bó quá mật thiết với những gì tốt đẹp nhất trong xã hội tiền công nghiệp đến nỗi, hành vi thủ tiêu nó khó lòng có thể phá vỡ được truyền thống của xã hội Tây phương chúng ta.

Tác động của chế độ dân chủ lên giáo dục

Phổ cập giáo dục là một trong những thay đổi to lớn nhất trong xã hội do chế độ dân chủ đem lại. Ở những nước tiến bộ, hệ thống phổ thông bắt buộc không mất tiền đã biến việc học thành quyền lợi của mỗi trẻ em – trái ngược với vai trò của giáo dục vào thời kỳ tiền dân chủ – là độc quyền của thiểu số hưởng đặc quyền đặc lợi. Hệ thống giáo dục mới này là một tiêu chuẩn để các quốc gia đạt được vị thế đáng kính trọng trong thế giới cận đại hay sự công nhận thân thiện giữa các nước.

Khi hệ thống giáo dục phổ thông lần đầu tiên được áp dụng, dư luận tự do thời đó chào mừng nó như là thắng lợi của công lý và khai sáng, mở ra một kỷ nguyên mới hạnh phúc cho loài người. Tuy nhiên, có thể thấy những kỳ vọng này đã không xét tới sự hiện diện của một vài chướng ngại vật trên con đường tiến tới thời đại hoàng kim; và về vấn đề này, lại là yếu tố khó lường và tối quan trọng.

Chướng ngại vật đầu tiên là sự kiệt quệ khó tránh khỏi do giáo dục, khi quá trình dành cho “đại chúng” này phải trả bằng cái giá là sự tách biệt khỏi nền văn hóa truyền thống. Những ý định tốt đẹp của chế độ dân chủ không có khả năng đem lại bổng lộc. Món ăn trí thức được chế biến đại trà này thiếu đi hương vị và vitamin. Chướng ngại vật thứ hai là tính vị lợi, thành quả học tập dễ bị lợi dụng khi nó nằm trong tầm với của mọi người. Trong chế độ xã hội có giáo dục hạn chế, những người hưởng đặc quyền đi học hoặc tỏ ra có quyền đi học nhờ năng khiếu đặc biệt hay trí thông minh, giáo dục là đem đàn mà gảy tai trâu, là sự xa xỉ, còn không thì là báu vật của người tìm mua nó bằng mọi giá. Đằng nào nó cũng chẳng phải là phương tiện đạt tới mục đích, là công cụ thỏa mãn tham vọng vật chất hay mua vui phù phiếm. Khả năng biến giáo dục thành phương tiện mua vui cho đại chúng chỉ phát sinh kể từ lúc giáo dục phổ thông cơ sở ra đời; và khả năng mới này sinh ra chướng ngại vật thứ ba to lớn hơn cả. Ổ bánh mì giáo dục phổ thông ném xuống nước ngay lúc đàn cá mập ngoi lên từ đáy sâu và ăn ngấu nghiến ổ bánh mì của trẻ em trước con mắt của nhà sư phạm. Trong lịch sử giáo dục ở nước Anh, những thời kỳ này đã tự nói lên tất cả. Nói đại khái, năm 1870, đạo luật Forster hoàn thiện giáo dục phổ thông cơ sở; khoảng 20 năm sau – tức là ngay khi thế hệ trẻ em đầu tiên học trường công lập đã trưởng thành đủ để kiếm tiền– một ý kiến độc đáo vô trách nhiệm đã tiên đoán rằng, hệ thống giáo dục phổ thông vì tình thương này có thể sinh lợi cho thế lực báo chí.

Những phản ứng đảo lộn trước tác động của chủ nghĩa dân chủ lên giáo dục đã thu hút sự chú ý của nhà cầm quyền ở các quốc gia chuyên chế. Nếu vua báo chí kiếm được bạc triệu qua cung cấp trò mua vui lúc nhàn rỗi cho những người học hành nửa vời, thì các chính khách nghiêm túc có thể thâu tóm quyền lực, chứ không phải tiền bạc từ nguồn đó. Những nhà độc tài cận đại đã hạ bệ các vua báo chí, và thay trò giải trí cá nhân thô thiển xấu xa bằng hệ thống tuyên truyền của chính quyền cũng thô thiển xấu xa không kém. Cỗ máy nô dịch hàng loạt những người học hành nửa vời vốn được phát minh vì lợi ích riêng dưới chế độ để mặc tư nhân kinh doanh ở Anh và Mỹ đã được các nhà cầm quyền tiếp tục tăng cường qua việc phát triển phim ảnh và truyền thanh với mưu đồ xấu xa. Sau Northcliffe là Hitler – mặc dù Hitler không phải là duy nhất trong số những kẻ trục lợi này.

Do đó, ở những quốc gia đưa ra giáo dục dân chủ, mọi người đứng trước nguy cơ chịu sự chuyên chế tri thức. Nếu linh hồn của mọi người sẽ được cứu rỗi, phương cách duy nhất là nâng tiêu chuẩn giáo dục đại chúng lên mức độ miễn nhiễm trước các hình thức khai thác và tuyên truyền trắng trợn; và chẳng cần phải nói, đây là một nhiệm vụ gian khổ. May sao, có các tổ chức giáo dục phi lợi nhuận hoạt động rất hiệu quả trong thế giới Tây phương của chúng ta ngày nay – chẳng hạn như Hiệp hội giáo dục công nhân và công ty truyền thông Anh quốc (đài BBC) ở Anh cùng với các hoạt động ngoại khóa của các trường đại học ở nhiều quốc gia.

Ảnh hưởng của nước Ý lên các chính quyền bên kia dãy Alps

Mọi ví dụ đến giờ đều lấy từ giai đoạn gần đây nhất trong lịch sử phương Tây. Vấn đề tiếp theo được trình bày ở đây là cách thức bảo vệ sự hài hòa của chế độ quân chủ phong kiến bên kia núi Alps trước ảnh hưởng của chính trị sinh ra tại các thành phố độc lập có chủ quyền ở Ý thời kỳ Phục hưng. Phương pháp điều chỉnh dễ hơn cả là thông qua sự kích động chế độ quân chủ biến thành chuyên chế hoặc chuyên quyền mà nhiều bang ở nước Ý đã không chống đỡ nổi. Phương pháp tuy khó nhưng hiệu quả hơn là tác động làm cho các quốc hội ở vương quốc bên kia núi Alps thành cơ quan chính quyền đại nghị hiệu quả chẳng kém gì chế độ chuyên quyền ở Ý ngày nay, đồng thời cung cấp trên phạm vi quốc gia biện pháp tự trị tự do không thua gì thể chế tự trị của các thành phố độc lập có chủ quyền ở Ý.

Chính nước Anh đã đạt được sự điều chỉnh hài hòa nhất và đi tiên phong, tức là thiểu số sáng tạo trong chương tiếp theo của lịch sử phương Tây, vì nước Ý đã đi trước rồi. Dưới vương triều Tudor, nền quân chủ bắt đầu phát triển thành chế độ chuyên quyền. Dù có đúng như thế, nó cũng sẽ không hài hòa được nếu thiếu đi hai cuộc cách mạng được tiến hành một cách kiềm chế và đúng mức. Ở Pháp, xu hướng chuyên quyền kéo dài lâu hơn nhiều và đi xa hơn nhiều, và kết quả là một cuộc cách mạng mãnh liệt hơn nhiều, dẫn đến giai đoạn mất ổn định chính trị chưa biết lúc nào sẽ kết thúc. Ở Tây Ban Nha và Đức, xu thế tiến tới chế độ chuyên quyền vẫn tiếp tục đến ngày nay, và do đó, các phong trào phản dân chủ cũng diễn ra quá chậm chạp so với bao rắc rối đã trình bày trong mục trước của chương này.

Tác động của cuộc cách mạng Solon lên các chính quyền thành phố Hy lạp

Hiệu quả chính trị ở Ý tác động lên các nước bên kia núi Alps ở giai đoạn chuyển tiếp từ chương hai sang chương ba trong lịch sử phương Tây có nét tương đồng với hiệu quả kinh tế đạt được ở một số nước trong thế giới Hy Lạp vào thế kỷ 7 và 6 trước CN, khi chúng đang chịu áp lực của vấn đề dân số. Hiệu quả kinh tế mới mẻ này không bó hẹp ở Athens, mà còn tác động lên chính trị của các nước khác lẫn toàn bộ hệ thống đô thị – quốc gia độc lập ở Hy Lạp.

Chúng ta đã mô tả nền kinh tế này là một sự chuyển hướng mới, có thể gọi là cuộc cách mạng Solon. Về bản chất, nó là sự thay đổi từ phương thức trồng trọt tự cung tự cấp sang trồng trọt thu hoa lợi cùng với việc phát triển công thương nghiệp. Giải pháp cho vấn đề kinh tế làm nảy sinh hai vấn đề mới về chính trị. Một mặt, cuộc cách mạng kinh tế tạo ra các tầng lớp xã hội mới, thợ công thương thành thị, thợ thủ công, và thủy thủ. Mặt khác, sự cô lập thành phố độc lập có chủ quyền này với thành phố độc lập có chủ quyền khác trước đó đã cho chúng sự bình đẳng với nhau trên mặt bằng kinh tế, nhưng khi một số thành phố phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chúng sẽ khó lòng duy trì tình trạng cô lập như cũ trên mặt bằng chính trị. Vấn đề thứ nhất đã được nước Anh thời Nữ hoàng Victoria giải quyết thông qua một loạt dự luật cải cách nghị viện. Về vấn đề thứ hai, nước Anh hy vọng giải quyết phong trào tự do mậu dịch.

Trong đời sống chính trị đối nội của chính quyền thành phố Athens, việc trao cho các tầng lớp mới quyền bỏ phiếu đòi hỏi sự thay đổi triệt để về chính trị. Quan hệ họ hàng truyền thống phải được thay bằng quyền bầu cử dựa trên tài sản. Ở Athens, sự thay đổi này được tiến hành hiệu quả và suôn sẻ trong một loạt các thể chế được thành lập từ thời Solon đến thời Pericles. Tính hiệu quả và suôn sẻ tương đối của quá trình chuyển tiếp cho thấy, nhà độc tài đóng vai trò rất nhỏ trong lịch sử Athens. Thông thường, trong lịch sử lập hiến của các thành phố độc lập có chủ quyền, khi quá trình theo gương của cộng đồng tiên phong chậm lại quá mức, tình trạng trì trệ sẽ không thể kéo dài mãi, và chỉ có thể giải quyết qua sự xuất hiện của “nhà độc tài”. Cũng như nơi khác, ở Athens, chế độ độc tài chứng minh nó là giai đoạn không thể thiếu được trong quá trình điều chỉnh, nhưng ở đây, sự chuyên chế của Peisistratus chẳng qua là thời gian ngắn giữa những thời kỳ cải cách dưới thời Solon và Cleisthenean.

Cách điều chỉnh của các chính quyền thành phố khác ở Hy Lạp ít nhiều mang tính hài hòa. Corinth trải qua chế độ độc tài kéo dài, còn Syracuse lặp lại chế độ độc tài. Tại Corcyra, tính tàn bạo của tình trạng trì trệ đã được lưu danh trong những trang sử của Thucydides.

Sau cùng, chúng ta xét trường hợp của Đế quốc La Mã vốn bị hút vào thế giới Hy Lạp do sự bành trướng địa lý của nền văn minh Hy Lạp trong giai đoạn 725-525 trước CN. Sau khi chuyển biến văn hóa, rất lâu sau đó Đế quốc La Mã mới tham gia vào quá trình phát triển kinh tế chính trị. Vì vậy, Đế quốc La Mã trải qua từng giai đoạn chậm hơn đến 150 năm so với lịch sử Athens. Suốt thời gian này, Đế quốc La Mã chịu mọi thiệt thòi trong tình trạng trì trệ cay đắng cùng cực giữa người cai trị nhờ dòng máu quý tộc và người bình dân đòi nắm quyền nhờ vào tài sản và số đông. Tình trạng trì trệ này (từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 3 trước CN) kéo dài tới mức người bình dân lắm lúc ly khai bằng cách bỏ đất, đồng thời thiết lập chính quyền phản kháng của người bình dân. Năm 287 trước CN, nhờ áp lực bên ngoài, người La Mã đối phó thành công với mầm mống lập hiến bằng cách đưa chính quyền và chính quyền phản kháng vào sự hợp nhất chính trị; và sau 150 năm chiến thắng của chủ nghĩa đế quốc, tính tạm thời của sự hòa giải năm 287 trước CN này nhanh chóng lộ ra. Hỗn hợp không tôi luyện của thể chế quý tộc và bình dân mà Đế quốc La Mã đã thừa nhận ấy tỏ ra là một công cụ chính trị quá vô lý cho việc đạt được điều chỉnh xã hội mới, tới mức sự nghiệp non yếu của Gracchi mở ra tình trạng trì trệ lần thứ hai (131-31 trước CN) tồi tệ hơn lần thứ nhất. Lần này, sau một thế kỷ tự xé rách, Đế quốc La Mã ngoan ngoãn trước chế độ độc tài lâu dài; và đến lúc này, những đội quân La Mã hoàn thành cuộc chinh phục thế giới Hy Lạp, nhà độc tài người La Mã Augustus cùng những người kế vị ngẫu nhiên cai trị chính quyền chung cho toàn xã hội Hy Lạp.

Tính vô lý cố hữu của người La Mã trong việc xử trí những vấn đề đối nội trái ngược hoàn toàn với khả năng vô địch trong việc tổ chức và tiến hành những cuộc chinh phục nước ngoài; người Athens vốn thành công trong việc loại bỏ sự trì trệ khỏi đất nước lại thất bại trong khi thiết lập trật tự thế giới vào thế kỷ 5 trước CN, việc làm mà 400 năm sau người La Mã đã thành công.

Nhiệm vụ quốc tế này là sự điều chỉnh thứ hai do cuộc cách mạng Solon đặt ra. Chướng ngại vật trên con đường thiết lập an ninh chính trị thế giới cần thiết cho mậu dịch quốc tế Hy lạp là một thể chế chính trị kế thừa của chủ quyền thành phố độc lập. Từ đầu thế kỷ 5 trước CN trở đi, có thể trình bày có hệ thống về lịch sử chính trị Hy Lạp trong những nỗ lực vượt qua chủ quyền thành phố độc lập và sự kháng cự mà nỗ lực này đã dấy lên. Trước khi thế kỷ 5 khép lại, sức kháng cự dai dẳng trước nỗ lực này đã đưa nền văn minh Hy Lạp đến sụp đổ, và dù người La Mã đã tạm giải quyết được vấn đề này, nhưng không giải quyết đúng lúc vì nó không ngăn được sự tan rã dẫn đến sụp đổ của xã hội Hy Lạp. Giải pháp lý tưởng cho vấn đề này là hạn chế chủ quyền thành phố độc lập theo thỏa thuận tự nguyện giữa các thành phố độc lập có chủ quyền. Tiếc thay, những nỗ lực như sự thành lập liên minh Delian, mà Athens và đồng minh Aegean đạt được trong cuộc phản công Ba Tư đã tan thành mây khói trước sự xâm nhập của truyền thống về quyền bá chủ của người Hy Lạp cổ. Liên minh Delian trở thành Đế quốc Athens, và Đế quốc Athens khơi mào cuộc chiến tranh Peloponnese. Bốn thế kỷ sau, người La Mã thành công ở nơi mà người Athens đã thất bại; tuy nhiên, sự trừng phạt của chủ nghĩa Đế quốc Athens lên thế giới nhỏ bé chẳng là gì so với sự trừng phạt của chủ nghĩa Đế quốc La Mã lên xã hội Hy Lạp rộng lớn hơn nhiều suốt hai thế kỷ.

Tác động của chủ nghĩa địa phương lên giáo hội Cơ Đốc phương Tây

Trong khi xã hội Hy Lạp sụp đổ do giải quyết không đúng lúc chủ nghĩa địa phương truyền thống của nó, xã hội phương Tây – với kết quả vẫn tiềm ẩn trong tương lai – không duy trì sự thống nhất xã hội. Trong thời gian chuyển tiếp từ thời Trung cổ sang cận đại của lịch sử phương Tây, một trong những biểu hiện có ý nghĩa nhất trong việc thay đổi xã hội hiện tại là sự gia tăng chủ nghĩa địa phương. Ở thế hệ chúng ta, thật không dễ thừa nhận thay đổi này vì những điều xấu xa mà nó đã mang lại cho chúng ta khi nó trở thành tàn dư lỗi thời. Có rất nhiều lý do ủng hộ cho việc từ bỏ chủ nghĩa thống nhất Cơ Đốc giáo của thời Trung cổ cách đây 5 thế kỷ. Nó là bóng ma của quá khứ, và luôn có sự trái ngược nhau một cách vô lý giữa ưu điểm trên lý thuyết của tư tưởng thống nhất tôn giáo toàn thế giới và tình trạng vô chính phủ thật sự. Dù sao đi nữa, chủ nghĩa địa phương mới xuất hiện có thể nương nhờ vào những yêu sách bớt tham vọng hơn, và rốt cuộc, lực lượng mới đã thắng. Trong chính trị, nó có mặt trong phần lớn quốc gia có chủ quyền; trong văn học, nó dưới dạng văn chương mang tính địa phương; và trong lĩnh vực tôn giáo, nó xung đột với giáo hội Trung cổ phương Tây.

Xung đột cuối cùng này rất ác liệt, bởi giáo hội là thể chế chính của hệ thống tôn giáo Trung cổ, chịu sự thống trị chặt chẽ của các Giáo hoàng. Xung đột này hầu như đã được điều chỉnh, bởi chế độ Giáo hoàng trong thời kỳ đỉnh cao quyền lực của nó đã làm cố tránh mâu thuẫn này. Ví dụ, khi gặp phải một cộng đồng địa phương khăng khăng sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ vào mục đích tế lễ thay cho tiếng Latinh, giáo hội La Mã đã nhường cho người Croat quyền dịch nghi thức tế lễ sang ngôn ngữ của nó, vì ở quận biên giới này, người La Mã thấy mình không nên bắt chước giáo hội Chính thống ở Đông Âu và Hy Lạp, vốn không ngừng nài ép người không phải Hy Lạp chấp nhận tiếng Hy Lạp làm ngôn ngữ tế lễ, điều này cho thấy sự rộng lượng trong việc dịch nghi thức tế lễ sang nhiều thứ tiếng. Thêm vào đó, trong việc xử trí những biểu hiện thời Trung cổ của các chính phủ có chủ quyền cận đại, các Giáo hoàng tham gia vào cuộc đấu tranh sinh tử chống lại những yêu sách toàn thế giới của Đế quốc La Mã thần thánh, nhưng lại tỏ ra dễ dãi hơn nhiều với yêu sách mang tính địa phương của vua Anh, Pháp, Castile, và các chính quyền địa phương khác nhằm kiểm soát tổ chức giáo hội trong lãnh địa của mình.

Tòa thánh Vatican không được học cách “dâng nạp cho Caesar những thứ thuộc về Caesar”, cho đến lúc chế độ độc tài quân sự mới đủ lông đủ cánh đòi quyền lợi của mình, và trong thế kỷ trước phong trào cải cách, Giáo hoàng đã tiến một bước dài trong việc thương lượng với các quốc chủ giáo ước chia quyền kiểm soát hệ thống cấp bậc tu sĩ giữa chính quyền địa phương và La Mã. Hệ thống giáo ước này là kết quả ngoài dự tính của các hội đồng tôn giáo toàn thế giới sớm thất bại vào nửa đầu thế kỷ 15 tại Constance (1414-1418) và Basel (1431-1449).

Phong trào vô hiệu hóa quyền lực do hội đồng giám mục ban bố vốn thường mang tiếng là lạm dụng quyền lực của Giáo hoàng bằng cách đưa ra hệ thống chế độ đại nghị toàn thế giới, chẳng hạn như đưa ra chế độ địa phương đã tỏ ra hữu ích ở thời phong kiến như là phương tiện kiểm soát hành động của vua. Tuy nhiên, Giáo hoàng khi gặp phải phong trào do hội đồng giám mục ban bố đã quyết tâm phản đối; và sự không khoan nhượng của Giáo hoàng đã thành công. Phong trào do hội đồng giám mục ban bố trở nên vô ích, và bằng cách bác bỏ cơ hội điều chỉnh cuối cùng, những người theo đạo Cơ Đốc bị chỉ trích là gây ra mối bất hòa nội bộ giữa giáo hội toàn thế giới cổ và xu hướng địa phương mới.

Kết quả là một loạt những cuộc cách mạng và bạo động. Cuối cùng, Giáo hội tan rã thành một số giáo phái kình địch nhau, giáo phái này lăng mạ giáo phái kia là kẻ chống Jesus và phát động chu kỳ chiến tranh khủng bố. Các quốc chủ tiếm “quyền thiêng liêng” lẽ ra nằm trong tay Giáo hoàng, “quyền thiêng liêng” vẫn làm mưa làm gió ở thế giới phương Tây dưới hình thức thờ phụng ngoại giáo của các quốc gia có chủ quyền. Chủ nghĩa yêu nước thế chỗ đạo Cơ Đốc trong vai trò là tôn giáo chung của thế giới phương Tây. Dù sao đi chăng nữa, cũng rất khó tưởng tượng được hiện thân của giáo lý đạo Cơ Đốc trong sản phẩm của sự tác động của chủ nghĩa địa phương lên giáo hội Cơ Đốc phương Tây ngày nay.

Tác động của chủ nghĩa duy nhất lên tôn giáo

“Những tôn giáo cao cấp” chỉ mới xuất hiện tương đối gần đây trong lịch sử loài người. Xã hội nguyên thủy chưa hề biết tới chúng; chúng thậm chí chưa nảy sinh trong các xã hội đang khai hóa, mãi cho đến khi một số nền văn minh sụp đổ và tiến dài trên con đường tan rã, đó là phản ứng đáp trả thách thức đặt ra bởi sự suy thoái của các nền văn minh. Cũng như thể chế tôn giáo của xã hội nguyên thủy, thể chế tôn giáo của các nền văn minh có tầng lớp không liên kết gắn liền với thể chế thế tục của những xã hội này và không vượt ra khỏi ranh giới đó. Dưới góc độ tôn giáo chuyên chính, những tôn giáo như thế rõ ràng không đủ tiêu chuẩn, nhưng chúng có một giá trị quan trọng: chúng nuôi dưỡng tinh thần “sống dĩ hòa vi quý” giữa tôn giáo này với tôn giáo kia. Trong điều kiện như thế, phần lớn thánh thần và tôn giáo trên thế giới được cho là đi đôi một cách tự nhiên với đa số quốc gia và nền văn minh.

Trong điều kiện xã hội này, con người không nhìn thấy sự tồn tại khắp nơi và quyền năng tối thượng của Chúa Trời, nhưng họ miễn nhiễm trước cám dỗ phạm những tội lỗi không dung thứ với người khác cũng đang thờ phụng Chúa dưới hình thức khác. Khai trí đưa nhận thức về tính thống nhất của Chúa và tình huynh đệ vào tôn giáo phải đồng thời với tăng cường tính khoan dung và hạn chế ngược đãi. Ý tưởng về tính thống nhất trong tôn giáo gây ấn tượng đối với người đi tiên phong trong tôn giáo tới mức họ có khuynh hướng lao vào bất cứ đường tắt nào hứa hẹn đẩy nhanh quá trình diễn dịch ý tưởng thành hiện thực. Tội ác của sự ngược đãi và không khoan dung đã lộ vẻ gớm guốc ở bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu có thuyết giảng tôn giáo cao siêu. Tính cuồng tín này nổi lên khi Hoàng đế Ikhnaton tìm cách áp đặt ảo tưởng về thuyết độc thần lên thế giới Ai Cập vào thế kỷ 14 trước CN. Sự cuồng tín cũng mãnh liệt không kém đã phủ bóng đen lên quá trình phát triển của đạo Do Thái. Lăng mạ thậm tệ việc tham gia thờ phụng trong cộng đồng Syria cùng một tông là mặt trái của siêu trần hóa thờ phụng Yahweh thành tôn giáo độc thần.

Tác động của ý thức tôn giáo lên tôn giáo có xu hướng sinh ra tội ác tinh thần, và điều chỉnh luân lý. Động cơ đúng cho lòng khoan dung là thừa nhận mọi tôn giáo đều là vật tìm kiếm trong quá trình tìm kiếm mục tiêu tinh thần chung, và cho dù một số vật tìm kiếm có thể cao siêu hơn, nhưng sự khủng bố của “chính” giáo tự xưng đối với “tà” giáo là một sự mâu thuẫn về lời lẽ, vì ham mê khủng bố, “chính” giáo đã đặt mình vào thế có lỗi.

Một trường hợp đáng đáng lưu ý, đó là người sáng lập đạo Hồi đã bắt các môn đồ phải tỏ lòng khoan dung ở thế thượng phong. Muhammad bắt phải khoan dung về mặt tín ngưỡng với người Do Thái và người theo đạo Cơ Đốc, những người đã phục tùng chính trị trước quyền lực muôn thuở của đạo Hồi, và ông đã đặt sự thống trị tuyệt đối này lên hai cộng đồng không theo đạo Hồi. Chính tinh thần khoan dung đã truyền sức sống cho đạo Hồi sơ khai, sau này lòng khoan dung tương tự đã truyền sang Zoroastrians, người chịu sự thống trị của đạo Hồi.

Giai đoạn khoan dung tín ngưỡng của đạo Cơ Đốc phương Tây vào giữa cuối thế kỷ 17 có nguồn gốc mang tính yếm thế hơn nhiều. Chỉ có thể gọi đây là “khoan dung tín ngưỡng” theo nghĩa lòng khoan dung của các tôn giáo; nếu xem xét các động cơ, nó là khoan dung không trọng tín ngưỡng. Trong nửa thế kỷ này, đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành bất ngờ từ bỏ cuộc đấu đá, không phải vì họ nhận thấy tội lỗi của tính không khoan dung, mà do họ ý thức rằng chẳng phe nào có khả năng tiến tới nhiều hơn phe kia nữa. Đồng thời, họ dường như thấy không còn đủ sức bận tâm đến các vấn đề thần học đang thất sủng để hy sinh tiếp vì lợi ích của mình. Họ từ bỏ đức tính “nhiệt tình” truyền thống (nghĩa là tràn đầy linh hồn của Chúa) và từ đó trở đi điều này là thói xấu. Vào thế kỷ 18, giám mục người Anh mô tả người truyền giáo là “kẻ nhiệt tình khốn khổ”.

Bất luận xuất phát từ động cơ nào, lòng khoan dung là liều thuốc giải độc cho sự cuồng tín. Không có nó, người ta buộc phải chọn lựa giữa hành động khủng bố và nỗi sợ hãi những biến động cách mạng chống lại chính bản thân tôn giáo. Một nỗi sợ hãi như vậy đã được thể hiện trong những dòng nổi tiếng nhất của Lucretius: Tantum religio potuit suadere malorum (Hành động tàn ác của quỷ dữ là do tôn giáo xúi bẩy); và trong lời của Gambetta “Đi truyền giáo, nhận được kẻ thù”.

Tác động của tôn giáo lên chế độ đẳng cấp

Lucretius và Voltaire xem tôn giáo chính là cái ác – và có lẽ là cái ác chủ yếu trong cuộc sống con người. Điều này thể hiện trong lịch sử Ấn Độ, tôn giáo rõ ràng có tác động xấu lên cuộc sống của các nền văn minh, và lên chế độ đẳng cấp.

Thể chế này (gồm hai nhiều nhóm người sinh sống chung với nhau trong sự phân biệt xã hội) có xu hướng tự thiết lập mỗi khi cộng đồng này làm chủ cộng đồng khác mà không cần tiêu diệt cộng đồng lệ thuộc hoặc đồng hóa nó. Ví dụ, sự phân chia giai cấp giữa đa số da trắng thống trị và thiểu số da đen ở Mỹ, hay thiểu số da trắng thống trị và đa số da đen ở Nam Phi. Ở tiểu lục địa Ấn Độ, chế độ đẳng cấp dường như phát sinh từ sự xâm nhập của người Arya du mục gốc Âu-Á vào lãnh địa văn hóa Ấn Độ vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai trước CN.

Chế độ đẳng cấp này không liên quan đến tôn giáo. Ở Mỹ và Nam Phi (nơi người da đen từ bỏ đạo ông bà và nhập đạo Cơ Đốc của người châu Âu thống trị), sự chia rẽ giáo phái làm nảy sinh sự chia rẽ chủng tộc, cho dù những thành viên da trắng và da đen của mỗi giáo phái được tách ra trong nghi lễ thờ cúng như trong những hoạt động xã hội khác. Trái lại, ở Ấn Độ, chúng ta có thể phỏng đoán ngay từ đầu rằng các đẳng cấp được phân biệt với nhau sự khác biệt của nghi thức hành lễ tôn giáo. Sự phân biệt tôn giáo càng lộ rõ khi nền văn minh Ấn Độ theo xu hướng tôn giáo truyền lại cho đời sau. Rõ ràng tác động của tôn giáo lên chế độ đẳng cấp đã làm trầm trọng thêm tính xấu xa của chế độ này. Chế độ đẳng cấp mấp mé trở thành tội ác xã hội, nhưng khi được tôn giáo giải thích và thừa nhận, nó lại xấu xa gấp bội.

Tác động của tôn giáo lên chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ đã sinh ra từ ngữ lăng mạ tiện dân, và người Bà La Môn (giai cấp thượng đẳng của toàn bộ chế độ đó) chẳng có biện pháp hữu hiệu nào để thủ tiêu hay thậm chí giảm nhẹ tiếng tiện dân. Cái ác này vẫn tồn tại, trừ phi có một cuộc cách mạng phá bỏ.

Cuộc nổi dậy sớm nhất chống lại chế độ đẳng cấp là của Mahavira, người sáng lập ra Jains (Kỳ-na) giáo và Phật giáo cách đây khoảng 500 năm trước CN. Nếu đạo Jains hay đạo Phật thu phục được thế giới Ấn Độ, chế độ đẳng cấp có lẽ đã bị thủ tiêu. Tuy nhiên, Ấn giáo (một thuyết hổ lốn về những cái cũ và cái mới, trong đó hệ thống đẳng cấp đã được Ấn giáo hồi sinh) đóng vai trò là giáo phái chung trong chương cuối suy tàn và sụp đổ của Ấn Độ. Không hài lòng với việc giữ lại từ thóa mạ cũ này, Ấn giáo đã trau chuốt nó, và nền văn minh Ấn giáo đã không ngóc đầu lên được trước gánh nặng đẳng cấp hơn cả trước đây.

Trong lịch sử của nền văn minh Ấn giáo, các cuộc nổi dậy chống lại chế độ đẳng cấp biểu hiện dưới hình thức ly khai khỏi Ấn giáo trước sức hấp dẫn của một số tôn giáo ngoại lai. Một số cuộc ly khai do những người sáng lập ra giáo phái mới từ sự kết hợp phiên bản sàng lọc của Ấn giáo với yếu tố ngoại lai cầm đầu. Ví dụ, Nanak (1469-1538) – người sáng lập đạo Sikh – vay mượn các yếu tố từ đạo Hồi, và Ram Mohan Roy (1772-1833) lập ra Samaj Brahmo bằng cách kết hợp Ấn giáo với Cơ Đốc giáo. Trong cả hai giáo phái này, chế độ đẳng cấp bị loại bỏ. Trong trường hợp khác, những người chủ trương ly khai đã rời bỏ Ấn giáo, và nhập đạo Hồi hay đạo Cơ Đốc; những vụ cải đạo như thế diễn ra trên quy mô lớn ở các khu vực chiếm tỉ lệ cao người thuộc đẳng cấp thấp và tiện dân.

Đây là đòn trả đũa mang tính cách mạng trước từ ngữ lăng mạ tiện dân, dấy lên do tác động của tôn giáo lên chế độ đẳng cấp; và vì quần chúng nhân dân Ấn Độ bị khuấy động trước biến động Âu hóa về kinh tế, trí tuệ, và đạo đức. Dòng suối nhỏ của những người bị mất địa vị trong đẳng cấp tìm cách cải đạo sẽ cuộn dậy thành dòng thác, trừ phi các thành viên trong xã hội Ấn giáo tôn trọng tư tưởng tôn giáo và chính trị của Banya Mahatma Gandhi nhằm đạt được điều chỉnh hài hòa trong chế độ xã hội – tôn giáo.

Tác động của nền văn minh lên phân công lao động

Phân công lao động hoàn toàn không được biết tới trong xã hội nguyên thủy, nó thể hiện trong sự chuyên môn hóa của thợ rèn, thi sĩ, linh mục, thầy mo… Tác động của nền văn minh lên phân công lao động nói chung có chiều hướng phát triển tới mức, nó dường như thật sự muốn thay đổi cả xã hội; và tác động này sinh ra trong đời sống của thiểu số sáng tạo và đa số không sáng tạo. Người sáng tạo bị đẩy vào chủ nghĩa bí truyền, còn người bình thường thì bị thiên lệch trong phân công lao động.

Chủ nghĩa bí truyền là dấu hiệu thất bại trong sự nghiệp của cá nhân sáng tạo, và có thể mô tả nó thông qua sự mở đầu trong chu kỳ ra đi – trở lại, dẫn đến một kết quả không trọn vẹn. Tình trạng thiên lệch là tác động của nền văn minh lên phân công lao động trong đời sống của đa số không sáng tạo.

Người sáng tạo quay lại đổi mới đa số không sáng tạo bằng cách nâng mức độ trung bình của tâm trí người thường lên cao hơn, ngang bằng với chính người sáng tạo; và ngay khi vật lộn với nhiệm vụ này, anh ta phải đối mặt với việc, hầu hết người thường không thể sống toàn tâm toàn ý ở mức độ cao hơn. Trong tình huống này, anh ta phải cố gắng đi tắt và vận dụng mưu chước là nâng cao năng lực mà không phải bận tâm đến toàn bộ tính cách. Theo giả thuyết, điều này có nghĩa là buộc con người phát triển thiên lệch. Kết quả dễ đạt được nhất là ở lĩnh vực kỹ thuật cơ khí, vì năng lực máy móc dễ cô lập và truyền đạt nhất. Khai thác hiệu quả tính máy móc của người có tâm trí vẫn còn sơ khai man rợ là điều không khó. Tuy nhiên, có thể định ra những năng lực khác theo cách tương tự.

Chúng ta đã bắt gặp tình trạng thiên lệch trong khảo sát phản ứng của thiểu số bất lợi trước thách thức trừng phạt là sự khiếm khuyết cơ thể. Bị tước hết quyền công dân, thiểu số này buộc phải thành công trong những hoạt động mà không ai tham gia, kết quả là chúng ta kinh ngạc và ngưỡng mộ trước những thành tựu nổi bật của họ. Đồng thời, chúng ta không thể phớt lờ một vài thiểu số – người Armena và người Do Thái – nổi tiếng là không giống ai. Trong quan hệ chẳng mấy vui vẻ giữa người Do Thái và người không phải là Do Thái (trường hợp điển hình), người không phải là Do Thái ghê tởm và xấu hổ trước hành vi của người bài Do Thái. Người không phải là Do Thái cũng lúng túng khi bị ép phải thú nhận rằng, có một phần sự thật trong bức tranh châm biếm ngược đãi người Do Thái bào chữa hành động thú tính của mình. Thực chất của bi kịch này nằm ở việc trừng phạt kích thích thiểu số bị bất lợi gây ra phản ứng là xu hướng thiên lệch trong bản chất con người. Và bản chất của thiểu số bị bất lợi về mặt xã hội cũng giống như thiểu số chuyên về kỹ thuật. Đây là điều cần ghi nhớ khi nhận xét sự xâm nhập của nghiên cứu kỹ thuật lên cái trước đây là giáo dục quảng đại nếu quá phi thực tế.

Vào thế kỷ 5, người Hy lạp có từ ßalavơía ám chỉ tình trạng thiên lệch này. ßalavơía là người chuyên về một hoạt động tập trung vào một kỹ thuật cụ thể, và trả giá bằng sự phát triển kém toàn diện của anh ta. Loại kỹ thuật thường hiện ra trong tâm trí người ta khi dùng thuật ngữ này là nghề cơ khí hay thủ công vì tư lợi. Tuy nhiên, người Hy lạp khinh miệt ßalavơía còn hơn nữa, và ăn sâu trong tâm trí người Hy lạp là sự coi khinh tài năng đủ loại. Ví dụ, sự tập trung của người Spartan vào kỹ thuật quân sự là ßalavơía bằng xương bằng thịt. Ngay cả một chính khách vĩ đại là vị cứu tinh của đất nước cũng không thoát khỏi lời chỉ trích này nếu ông ta không biết thưởng thức hết nghệ thuật sống.

Trong xã hội có học thức, người mang tiếng có học thức quảng đại chế giễu người thiên lệch (vì họ thiếu tài nghệ) và tưởng rằng họ vô tích sự, nhưng nếu bạn giao tiểu quốc vô danh vào tay anh ta, anh ta sẽ biết cách biến nó thành một đại quốc lừng lẫy.

Sự nhạy cảm của người Hy Lạp trước mối nguy hiểm của ßalavơía cũng thể hiện trong thể chế của các xã hội khác. Ví dụ, chức năng xã hội của lễ Sabbath của người Do Thái và ngày Chủ nhật của người theo đạo Cơ Đốc là bảo đảm vào một ngày trong bảy ngày, người bị bó buộc kiếm sống trong 6 ngày bằng nghề chuyên môn sẽ dành ngày thứ bảy tưởng nhớ đấng tạo hóa và sống một cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Một lần nữa, chẳng phải vô tình mà người Anh ưa chuộng các trò chơi có tổ chức và môn thể thao khác trong thời đại công nghiệp; vì thể thao là nỗ lực có ý thức nhằm đối trọng với sự chuyên môn hóa chán chường do phân công lao động đem lại.

Tiếc thay, nỗ lực điều chỉnh cuộc sống theo thời đại công nghiệp thông qua thể thao đã bị thất bại một phần do tinh thần và nhịp sống công nghiệp thâm nhập cả vào thể thao. Trong thế giới phương Tây ngày nay, các vận động viên chuyên nghiệp là ví dụ kinh hoàng về ßalavơía ở tột đỉnh, được chuyên môn hóa và hưởng lương cao hơn cả kỹ thuật viên công nghiệp. Tác giả bài nghiên cứu này từng viếng thăm hai sân bóng tại khuôn viên hai trường đại học ở Mỹ. Một sân có gắn đèn pha cho các cầu thủ thi đấu luân phiên ngày đêm. Sân kia có mái che để tập bóng bất kể thời tiết như thế nào. Nó là sân có mái che lớn nhất trên thế giới, chỉ riêng việc dựng nó lên đã tốn một chi phí khó tin. Quanh sân bóng là các dãy ghế tiếp nhận cầu thủ bị chấn thương hay kiệt sức. Trên sân bóng, các cầu thủ như hạt cát trong biển người; họ mong đợi thử sức trong giải đấu với nỗi sợ chẳng kém gì người lính lao mình vào chiến hào. Trong thực tế, bóng đá Anh đã không phải là một trò chơi.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi tội ác xã hội thách thức sự điều chỉnh, các triết gia phải mơ tưởng đến kế hoạch mang tính cách mạng quét sạch những tội ác này. Plato tìm cách triệt tận gốc ßalavơía bằng việc tạo ra một xã hội không tưởng trong khu vực không có điều kiện kinh doanh đường biển và ít xui khiến hoạt động kinh tế ngoại trừ canh tác tự cung tự cấp. Thomas Jefferson, tác giả của chủ nghĩa duy tâm lầm đường lạc lối, ôm giấc mộng tương tự vào đầu thế kỷ 19. Ông viết: “Nếu theo đuổi thuyết riêng của mình, tôi sẽ ước gì các quốc gia không tiến hành mậu dịch và hàng hải, mà đứng trên địa vị chắc chắn của Trung Quốc”[5] (quốc gia đóng cửa trước mậu dịch châu Âu cho đến khi quân đội Anh buộc mở cửa vào năm 1840).

Tác động của nền văn minh lên sự mô phỏng

Như chúng ta đã thấy, sự thay đổi chiều hướng mô phỏng từ tổ tiên sang người tiên phong đương thời chính là sự đổi hướng năng lực đi kèm với biến đổi của xã hội nguyên thủy sang nền văn minh; và mục tiêu của nó là nâng đa số không sáng tạo lên lên mức độ mới mà người tiên phong đạt tới. Tuy nhiên, do phương sách mô phỏng này là đường tắt, khó có thể thay thế cho phương pháp thật, nên việc đạt được mục tiêu có xu hướng không hiệu quả. Đa số không được phép gia nhập nhóm người trong sạch. Người nguyên thủy thường biến hóa khôn lường thành quần chúng giả mạo. Trong trường hợp đó, tác động của nền văn minh lên sự mô phỏng sinh ra tội ác của quần chúng thành thị giả mạo, về nhiều mặt thấp kém hơn nhiều so với tổ tiên nguyên thủy. Aristophanes chiến đấu với Cleon bằng vũ khí nhạo báng trên sân khấu thành Athens, nhưng rốt cuộc Cleon đã thắng. Việc quần chúng đi vào giai đoạn lịch sử Hy lạp trước cuối thế kỷ 5 trước CN là một trong những dấu hiệu đáng tin cậy của xã hội suy tàn, cuối cùng chuộc lại linh hồn của mình bằng cách khước từ dứt khoát nền văn hóa đã không thỏa mãn cơn đói tinh thần vì chỉ tọng đầy vỏ ngoài vô giá trị vào bụng. Đứa con của giai cấp vô sản bất đồng quan điểm đã tự cứu rỗi linh hồn của mình qua khám phá tôn giáo cao siêu hơn.

Có lẽ những ví dụ này cũng đủ minh họa tính ngoan cố của thể chế cũ trước lực lượng xã hội mới đã đóng một vai trò trong sự sụp đổ của các nền văn minh.

(3) TÀI MÔ PHỎNG SÁNG TẠO: TÔN SÙNG CÁI TÔI PHÙ DU

Đảo ngược vai

Chúng ta đã nghiên cứu hai khía cạnh của việc thiếu khả năng tự quyết, và dường như tại nó mà các nền văn minh sụp đổ. Chúng ta đã xem xét cơ chế mô phỏng và tính ngoan cố của các thể chế. Có thể kết thúc phần điều tra này bằng nghiên cứu tài mô phỏng sáng tạo.

Hiếm có một thiểu số nào phản ứng sáng tạo trước hai hay nhiều thách thức liên tiếp trong lịch sử của nền văn minh. Thực vậy, người nổi danh vì thắng được thách thức này rất dễ thất bại thấy rõ trong nỗ lực đối phó với thách thức tiếp theo. Tính không bền của vận may con người là một trong những mô típ nổi trội trong kịch nghệ thành Athens. Nó cũng là chủ đề chính trong kinh Tân ước.

Trong kịch kể về kinh Tân ước, Chúa Jesus hiển linh trên trái đất là thực hiện hy vọng của Đấng cứu thế; tuy nhiên, trường phái của tín đồ giáo phái Pharisee và các nhà thần học Do Thái bác bỏ điều này, chỉ vài thế hệ sau họ đã đi đầu trong cuộc nổi dậy anh hùng của người Do Thái chống lại tiến trình Hy Lạp hóa. Tính chính trực và sáng suốt vốn đưa tín đồ giáo phái Pharisee và nhà thần học Do Thái lên vị trí nổi bật trong cuộc khủng hoảng trước đây, giờ rời bỏ họ trong cuộc khủng hoảng quan trọng hơn, và người Do Thái phản ứng lại bằng cách nảy sinh ra chủ quán và gái điếm. Đấng cứu thế xuất thân từ lễ đường của người không phải là Do Thái, và người thi hành di chúc vĩ đại nhất của Người là người Do Thái ở Tarsus, thành phố ngoại giáo nằm ngoài chân trời của vùng đất hứa. Nếu xem kịch dưới góc độ hơi khác và trên sân khấu hơi rộng hơn, có thể phân vai tín đồ giáo phái Pharisee cho toàn thể dân Do Thái, còn vai chủ quán và gái điếm dành cho người không phải là Do Thái tiếp nhận lời dạy thánh Paul khi nó bị người Do Thái bác bỏ.

Cùng mô típ “đảo ngược vai” là chủ đề về một số truyện ngụ ngôn và tình tiết phụ trong sách Phúc âm. Đó là những truyện ngụ ngôn về Dives và người hành khất, tín đồ giáo phái Pharisee và chủ quán rượu, người hay làm phúc đối lập với linh mục và người Levite, và đứa con hoang đàng đối lập với người anh đáng kính của mình. Chủ đề này cũng xuất hiện trong cuộc chạm trán của Chúa Jesus với sĩ quan chỉ huy người La Mã. Nếu đưa kinh Tân ước và kinh Cựu ước vào một tổng quan, chúng ta thấy kịch trong kinh Cựu ước kể về Esau để mất quyền thừa kế vào tay Jacob đã được đảo ngược vai trong kinh Tân ước trả lời khi đến phiên con cháu của Jacob bị tước quyền thừa kế. Mô típ này không ngừng trở lại trong các câu nói của Chúa Jesus: “Bất cứ ai tâng bốc chính mình sẽ bị hạ xuống; người sau sẽ đến trước và người trước sẽ đến sau; trừ phi bạn cải đạo và trở thành đứa trẻ nhỏ, bạn sẽ không lên thiên đường”. Và Người đã áp dụng lời răn dạy này vào sứ mệnh của mình qua trích thơ từ bài thánh ca thứ 18 và thánh ca 100 : “Hòn đá bị người thợ xây chối bỏ sẽ trở thành vật báu”.

Ý tưởng này chạy xuyên suốt các tác phẩm lớn trong văn chương Hy Lạp và thể hiện sơ lược trong công thức: Kiêu hãnh là lý do của thất bại. Herodotus nhấn mạnh điều này trong phần lịch sử viết về người Xerxe, Croesu và Polycrate. Sự thực là, toàn bộ chủ đề trong các tác phẩm lịch sử của ông là sự huy hoàng và sụp đổ của Đế chế Achaemenid. Cũng về đề tài này, Thucydides của thế hệ sau đã miêu tả sống động hơn nhiều với tinh thần khoa học, vì ông đã loại bỏ cách miêu tả sáo rỗng về một đề tài kinh điển của lịch sử – đó là sự vinh quang và sụp đổ của thành Athens. Chúng ta không nhất thiết trích dẫn chủ đề bi kịch thành Athens được minh họa trong Agamemnon của Aeschylus, Oedipus và Ajax của Sophocles, hay Pentheus của Euripides, bởi vì những vần thơ về sự suy tàn và sụp đổ của Trung Hoa dưới đây cũng diễn tả ý tưởng tương tự:

Người đứng trên đầu ngón chân sẽ không đứng vững;

Người bước sải chân dài nhất sẽ không đi nhanh nhất…

Người khoe khoang việc mình làm sẽ chẳng làm được gì;

Người tự đắc về thành quả của mình sẽ chẳng đạt được gì vĩnh cửu.[6]

Đó là ví dụ về tài mô phỏng sáng tạo; và nếu cốt truyện của bi kịch này thật sự hay xảy ra – nếu đúng là người sáng tạo thành công trong chương này thấy mình gặp trở ngại rất lớn trong nỗ lực tiếp tục vai trò sáng tạo trong chương tiếp theo – rõ ràng chúng ta đã truy tận gốc căn nguyên rất có sức thuyết phục về sự sụp đổ của các nền văn minh. Có thể thấy, sự mô phỏng này dẫn đến sự sụp đổ của xã hội theo hai cách khác nhau. Thứ nhất, nó triệt hạ những ứng viên khả dĩ đóng vai trò sáng tạo trong cuộc đối đầu với thách thức, bởi nó là người đã đáp ứng thành công với thách thức cuối cùng. Thứ hai là sự mất quyền của người đã đóng vai trò sáng tạo ở thế hệ trước sẽ đẩy họ lao vào cuộc chiến chống lại người có thể đáp ứng thành công với thách thức mới. Nhờ vào sáng tạo trước đây, những người sáng tạo cũ lúc này nắm cương vị quan trọng đầy quyền lực trong xã hội có họ lẫn người sáng tạo mới. Ở địa vị này, họ sẽ không thúc đẩy xã hội tiến tới nữa; họ sẽ “tạm nghỉ tay chèo”.

Trong khi thái độ “tạm nghỉ tay chèo” có thể được xem là phương cách tiêu cực cho thấy sự đầu hàng của nó trước tài mô phỏng sáng tạo, nhưng sự tiêu cực của thái độ này không phải là không có tội. Thụ động ngu ngốc trước thực tại xuất phát từ sự mê đắm quá khứ, và mê đắm này là tội sùng bái thần tượng. Có thể định nghĩa sự sùng bái thần tượng là tôn sùng mù quáng sinh vật thay mặt cho Đấng tạo hóa. Nó có hai hình thức là tôn sùng cá nhân và tôn sùng xã hội trong giai đoạn chóng tàn của những thách thức liên tiếp và sự đối phó tương ứng với những thách thức liên tiếp ấy; hoặc có thể mang hình thức tôn sùng những thể chế hay kỹ thuật có lợi cho người sùng bái thần tượng. Để dễ dàng cho việc khảo sát từng kiểu sùng bái thần tượng khác nhau, chúng ta sẽ bắt đầu từ sự tôn sùng cái tôi, bởi nó minh họa rõ nét nhất tội lỗi mà chúng ta sắp nghiên cứu. Nếu sự thật “Con người có thể trèo lên những bậc thang đá Của cái tôi lụi tàn để tới những điều cao hơn”[7] thì người sùng bái thần tượng mắc sai lầm ở chỗ: anh ta không xem cái tôi lụi tàn là nấc thang tiếp theo để phấn đấu mà là lý do để anh ta xa lánh khỏi cuộc sống hệt như ẩn sĩ ngoan đạo tự bước mình lên cột cô đơn.

Giờ chúng ta đã sẵn sàng chuẩn bị khảo sát một vài minh họa mang tính lịch sử về chủ đề hiện tại.

Người Do Thái

Ví dụ lịch sử phổ biến nhất về sự sùng bái cái tôi phù du là tội lỗi của người Do Thái được phản ánh trong kinh Tân ước. Trong giai đoạn lịch sử từ lúc bắt đầu thuở sơ khai của nền văn minh Syria cổ và cực thịnh vào thời kỳ sáng lập đạo Hồi, dân Do Thái nổi trội hơn người Syria cổ nhờ quan niệm tôn giáo nhất thần. Họ đã dấn thân vào giai đoạn tuy ngắn ngủi nhưng đáng chú ý trong quá trình phát triển tôn giáo này. Thực vậy, họ có tài hiểu biết vô song về tôn giáo; nhưng sau khi tiên đoán sự thật tuyệt đối và bất diệt, họ cho phép mình bị quyến rũ bởi sự thật hão huyền. Họ cho là, việc khám phá ra thuyết nhất thần đã chứng tỏ rằng, chính dân Do Thái là “dân tộc được lựa chọn” của Thượng đế; và sự thật nửa vời này đã khiến họ phạm sai lầm tai hại là xem địa vị nhất thời như là đặc quyền được thượng đế ban cho họ kéo dài sẽ mãi mãi. Họ từ chối báu vật thậm chí còn to lớn hơn nữa mà thượng đế ban tặng, đó là khi Jesus xứ Nazareth ra đời.

Người Athens

Nếu người Do Thái tự phong cho mình là người được chọn, thì người Athens cũng tôn sùng mình là “tấm gương giáo dục cho toàn Hy Lạp”. Người Athens giành được quyền ngồi vào địa vị vinh dự ngắn ngủi này nhờ vào những chiến tích vào giữa thời kỳ Solon và thời kỳ Pericles. Tuy nhiên, sự không hoàn hảo của điều mà người Athens đã đạt được lại thể hiện chính trong việc những đứa con lỗi lạc của Athens phong tặng danh hiệu ấy cho quê hương. Pericles đặt ra cách diễn đạt này trong “bài điếu văn” mà Thucydides đã đọc, với mục đích ca tụng vong linh người Athens trong năm đầu của cuộc chiến với thế giới bên ngoài, và khi những dấu hiệu sụp đổ bên trong đời sống xã hội Hy Lạp nói chung và người Athens nói riêng bắt đầu xuất hiện. Chiến tranh nổ ra do sự thiết lập trật tự thế giới chính trị Hy Lạp vượt ngoài phạm vi chịu đựng của người Athens vào thế kỷ 5. Thất bại hoàn toàn về mặt quân sự của người Athens vào năm 404 trước CN và thất bại tinh thần to lớn hơn – ấy là việc kết án tử hình Socrates 5 năm sau – đã khiến Plato, học trò của Socrates phải lên tiếng cảnh báo điều đó trong các tác phẩm của mình. Tuy nhiên, điệu bộ nửa giả tạo nửa nóng nảy của Plato không gây ấn tượng được đối với đồng bào của ông. Và hậu duệ kế nghiệp những người tiên phong của Athens đã cố gắng đòi lại tước hiệu bị mất bằng cách phớt lờ tất cả và tỏ ra mình không cần phải dạy dỗ. Họ cứ sử dụng chính sách vô ích và mâu thuẫn ấy trong suốt thời kỳ hưng thịnh của người Macedonia, mãi cho đến đoạn kết bi thảm trong lịch sử Athens, khi thành Athens chỉ còn là một tỉnh vô danh của Đế quốc La Mã.

Sau đó, khi sự mở mang văn hóa manh nha ở Athens – nơi từng một thời là đô thị-quốc gia độc lập trong thế giới Hy Lạp, thì Athens không còn mảnh đất màu mỡ cho hạt giống ấy nữa. Trong Kinh Thánh, phần “Sự nghiệp của các tông đồ” miêu tả cuộc chạm trán giữa người Athens và thánh Paul, nói rằng các tông đồ không phải là người Do Thái đã ra sức truyền đạo ở Athens, trong không khí học thuật của thành phố đã từng là trường đại học Oxford của người Hy Lạp này. Vị tông đồ đã cố gắng tiếp cận với dân chúng Athens – những thính giả đặc biệt qua các bài diễn thuyết về chiến tranh, song dường như thuyết giáo của họ đã thất bại. Như chúng ta đã biết, cho dù sau đó vị tông đồ gửi được thư thuyết giáo đến một số giáo phái đã thành lập trong các thành phố ở Hy Lạp, song ông ta vẫn chưa thể cải đạo cho người dân thành Athens – những người vốn trơ trơ trước những bài diễn thuyết.

Người Ý

Nếu như người Athens vào thế kỷ 5 trước CN tự phong mình làm “tấm gương giáo dục cho toàn Hy Lạp”, thì thế giới phương Tây cận đại có thể tặng tước hiệu tương ứng cho các thành phố độc lập có chủ quyền ở Bắc Ý, bởi những thành quả thời Phục hưng của chúng. Thử khảo sát lịch sử xã hội phương Tây suốt 400 năm từ cuối thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19, chúng ta sẽ thấy những thành tựu kinh tế và chính trị, cùng với văn hóa thẩm mỹ và trí tuệ đều bắt nguồn từ Ý. Động lực đã giúp Ý thúc đẩy phong trào rực rỡ nhất trong lịch sử cận đại này đến các nước phương Tây là sự lan tỏa của văn hóa Ý thời kỳ trước. Thực vậy, có thể gọi chương này trong lịch sử phương Tây là thời kỳ văn hóa Ý, cũng giống như “thời kỳ văn hóa Hy Lạp” là tên gọi của giai đoạn truyền bá văn hóa Athens trong lịch sử Hy Lạp vào thế kỷ 5, cùng với dấu vết đội quân của Alexander Đại đế từ bờ biển Địa Trung Hải đến biên giới hẻo lánh của Đế chế Achaemenid bị nhận chìm.[8] Tuy nhiên, chúng ta lại đứng trước một ý kiến ngược đời đó là, cũng như Athens đóng vai trò không đáng kể trong lịch sử văn hóa Hy Lạp, đóng góp của Ý vào đời sống chung của xã hội phương Tây thời cận đại chẳng đáng là bao so với các “học trò” của nó bên kia dãy Alps.

Vai trò tương đối của nước Ý trong kỳ cận đại thể hiện rõ nét trong mọi ngôi nhà và lò sưởi thời Trung cổ thiết kế theo phong cách Ý ở Florence, Venice, Milan, Siena, Bologna, Padua. Thậm chí điều đó còn rõ rệt hơn nữa ở những căn nhà được xây vào cuối thời cận đại. Lúc khép lại chương kịch sử này, các quốc gia bên kia dãy Alps đã đủ sức trả lại món nợ thời Trung cổ cho nước Ý. Bước sang thế kỷ 18 và 19, người ta chứng kiến nền văn hóa mới bắt đầu lan tỏa qua các nước thuộc dãy Alps, nhưng lần này theo hướng ngược lại; và dòng ảnh hưởng của các nước bên kia núi Alps đổ vào nước Ý là căn nguyên đầu tiên của Phong trào thống nhất ở Ý thế kỷ 19.

Động lực chính trị mạnh mẽ đầu tiên mà nước Ý nhận được từ bên kia núi Alps là tạm thời sáp nhập vào Đế chế Napoleon. Động lực kinh tế đầu tiên là mở lại con đường buôn bán từ Địa Trung Hải đến Ấn Độ, phát sinh gián tiếp từ cuộc viễn chinh của Napleon đến Ai Cập. Tất nhiên, những động lực bên kia núi Alps sẽ không tác dụng đến thế cho đến khi tương tác với các tác nhân nội tại của nước Ý; tuy nhiên, nếu không có chúng, thì sức mạnh sáng tạo nên phong trào thống nhất ấy đã không nảy sinh trên mảnh đất Ý vốn mang nặng những ảnh hưởng của văn hóa Ý thời Trung cổ.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực kinh tế, hải cảng đầu tiên chiếm được thị phần trong mậu dịch hàng hải phương Tây cận đại không phải là Venice, Genoa, hay Pisa, mà là Leghorn – tác phẩm thời hậu Phục hưng của đại công tước Tuscan, người đă lập khu định cư của những người ủng hộ Do Thái Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Mặc dù Leghorn được thiết lập trong địa phận Pisa, nhưng những người tị nạn đầy ý chí từ bên kia Địa Trung Hải, chứ không phải con cháu lười biếng của người đi biển Pisa cổ, đã làm cho Leghorn thịnh vượng.

Trong lĩnh vực chính trị, nước Ý thống nhất nhờ giành được quyền thống trị ở bên kia núi Alpes – nơi mà trước thế kỷ 11, không hề có dấu chân của người Ý ngoại trừ những người Val d’Aosta nói tiếng Pháp. Trung tâm quyền lực của dòng họ Savoy vẫn chưa được thiết lập ở bên kia dãy Alps khi các thành phố tự trị ở Ý giành được độc lập và phong trào Phục hưng Ý lan tỏa mạnh mẽ. Trong thời kỳ này, không có thành phố quan trọng bậc nhất nào của Ý nào lại nằm dưới quyền thống trị của vua Sardinia, giờ đây được gọi là người trị vì của dòng họ Savoy, cho đến khi ông chiếm được Genoa sau cuộc chiến với Napoleon. Vào thời đó, đặc tính của người Savoy vẫn quá xa lạ với truyền thống của thành phố tự trị kia, tới mức người Genoa nổi giận dưới ách thống trị của vua Sardinia. Mãi đến năm 1848, khi triều đại này sát nhập mọi vùng của bán đảo Ý làm một bằng phong trào dân tộc, thì điều này mới chấm dứt.

Năm 1848, sự xâm lược của người Piedmont cùng các cuộc khởi nghĩa ở Venice, Milan, và thành phố Ý khác trong lãnh thổ Áo đã đe dọa đến chế độ cai trị của người Áo ở Lombardy và Venetia. Thật thú vị khi ngẫm nghĩ về hai hoạt động chống lại Áo khác nhau nhưng diễn ra cùng một lúc này, vốn được coi như là hai cú đánh gây ra phong trào giải phóng của người Ý. Không thể phủ nhận những cuộc khởi nghĩa ở Venice và Milan là vì quyền tự do; nhưng ảo tưởng tự do của chúng bắt nguồn từ hồi ức về thời Trung cổ. Về tinh thần, những thành phố này đang tiếp tục cuộc đấu tranh thời Trung cổ chống lại Hohenstaufen của họ. Người Hohenstaufen dẫu thất bại song vẫn anh hùng, và thành tích quân sự của người Piedmont vào năm 1848 -1849 còn kém xa, cuối cùng là sự vi phạm đình chiến phải trả giá bằng thất bại nhục nhã ở Novara. Tuy nhiên, sự nhục nhã này của người Piedmont hóa ra lại có lợi cho nước Ý hơn là cuộc kháng chiến vẻ vang của người Venice và Milan. Vì 10 năm sau, đội quân Piedmont trả được mối thù (nhờ sự trợ giúp lớn lao của Pháp), và thể chế nghị viện kiểu Anh mới lạ được vua Charles Albert công nhận vào năm 1848 sau này trở thành thể chế của nước Ý thống nhất năm 1860. Trái lại, chiến công vẻ vang ở Milan và Venice năm 1848 không lặp lại nữa; về sau, những thành phố cổ này vẫn thụ động dưới ách áp bức của Áo, chờ đợi sự cứu giúp của quân đội Piedmont để giải phóng mình.

Lời giải thích cho sự tương phản này là thất bại đã được tiên đoán trước của những kỳ công chói lọi của người Venice và Milan năm 1848, bởi động lực tinh thần thúc đẩy họ không phải là chủ nghĩa dân tộc cận đại, mà là sự sùng bái cái tôi đã chết từ thời Trung cổ của mình. Người Venice khi hưởng ứng lời kêu gọi của Manin năm 1848 chỉ chiến đấu cho thành phố Venice mà thôi; họ khao khát khôi phục nền cộng hòa lỗi thời, chứ không góp phần xây dựng nước Ý thống nhất. Ngược lại, người Piedmont không tôn sùng cái tôi phù phiếm lỗi thời, bởi quá khứ chẳng thể là cái tôi để họ biến thành đối tượng tôn sùng.

Khác biệt này được tổng kết trong sự trái ngược giữa Manin và Cavour. Manin là người Venice thủ cựu, vốn quen sống ru rú ở nhà vào thế kỷ 14. Cavour sử dụng tiếng Pháp làm tiếng mẹ đẻ và có quan điểm của thời đại Victoria. Ông đã vượt lên những quan niệm bấy giờ của thế kỷ 14, và có tư tưởng giống như những người cùng thời trong các quốc gia tự trị bên kia dãy Alpes, chẳng hạn như Peel và Thiers. Ông cống hiến tài năng của mình cho chính trị và ngoại giao, đồng thời quan tâm đến nông nghiệp, và có lẽ nếu số phận chọn ông làm địa chủ ở Anh hay Pháp thay vì Ý thế kỷ 19, thì ông đã không là một thiên tài như vậy.

Những gì nói đến ở trên đã chỉ ra rằng, cuộc khởi nghĩa năm 1848-1849 nhìn chung đóng một vai trò tiêu cực đối với Phong trào thống nhất ở Ý. Nhưng dù sao chăng nữa thì thất bại của cuộc khởi nghĩa là bước mở đầu quý giá và là cuộc diễn tập cần thiết cho thành công năm 1859-1870. Năm 1848, thần tượng cũ của người Milan và Venice Trung cổ bị bóp méo và bôi bác tới mức giờ đây chúng mất đi ảnh hưởng tai hại trong tâm trí người tôn sùng chúng; và sự lu mờ muộn màng này dọn đường cho sự xây dựng một nước Ý không bị dằn vặt bởi những ký ức trong quá khứ.

Tiểu bang Nam Carolina

Nếu mở rộng nghiên cứu từ cựu thế giới sang châu Mỹ, chúng ta sẽ thấy minh họa tương tự về tài mô phỏng sáng tạo trong lịch sử nước Mỹ. Khi tiến hành so sánh lịch sử hậu chiến của một số bang thuộc Phe miền Nam và có liên quan đến thất bại chung của toàn miền Nam trong cuộc nội chiến 1861-1865, chúng ta sẽ nhận thấy sự khác biệt rõ rệt giữa chúng trong mức độ khôi phục sau tai họa đó. Đồng thời, chúng ta cũng thấy rằng, sự khác biệt này chính là sự tương phản với những đặc điểm rõ nét giúp phân biệt các tiểu bang đó trong giai đoạn trước nội chiến.

Một nhà quan sát nước ngoài viếng thăm miền Nam vào những năm 1950 nhất định sẽ chọn Virginia và Nam Carolina là hai tiểu bang ít phục hồi nhất; ông ta sẽ lấy làm ngạc nhiên vì tác động của thảm họa chiến tranh vẫn còn quá dai dẳng ở hai nơi này. Ở đây, ký ức về thảm họa đó vẫn còn mới nguyên như ngày hôm qua; và từ chiến tranh vẫn có nghĩa là cuộc nội chiến hai miền Nam-Bắc trên môi của nhiều người dân Virginia và Nam Carolina, mặc dù cuộc nội chiến trong quá khứ và cuộc Thế chiến vừa qua đều kinh hoàng với họ. Người dân Virginia hay Nam Carolina thế kỷ 20 tạo cho người ta ấn tượng đất nước của họ đang bị bùa mê, và thời gian như ngưng đọng lại. Ấn tượng này sẽ hoàn toàn thay đổi khi viếng thăm tiểu bang nằm giữa chúng. Ở tiểu bang Bắc Carolina, khách viếng thăm sẽ bắt gặp những ngành công nghiệp hiện đại, trường đại học mọc lên như nấm, và nhịp sống ở đó đang diễn ra hối hả. Bên cạnh những nhà tư bản công nghiệp thời hậu chiến đầy quyền lực và thành công, tiểu bang Nam Carolina còn sản sinh ra vị chính khách của thế kỷ 20 Walter Page.

Điều gì lý giải nhịp sống mạnh mẽ đang phát triển nhanh ở tiểu bang Bắc Carolina trong khi cuộc sống của người hàng xóm vẫn triền miên ảm đạm? Nếu quay về quá khứ, chúng ta hẳn sẽ bối rối trong giây lát khi biết rằng, ngay khi cuộc nội chiến xảy ra, tiểu bang Bắc Carolina có thể chế xã hội nghèo nàn trong khi Virginia và Nam Carolina sở hữu sức sống bền bỉ hiếm có. Trong 40 năm đầu của lịch sử liên minh Hoa Kỳ, Virginia được xem là tiểu bang dẫn đầu, sản sinh 4 trong 5 vị tổng thống đầu tiên. Nó còn là quê hương của John Marshall, người đã chấm dứt tình trạng nhập nhằng và xé lẻ giữa các bang trên thực tế của Hoa Kỳ bằng việc triệu tập Hội nghị Philadelphia. Và khi Virginia tụt hậu sau năm 1825, Nam Carolina dưới “tài lãnh đạo” của Calhoun đã lèo lái các tiểu bang miền Nam vào con đường sụp đổ trong cuộc nội chiến. Suốt thời gian này, người ta ít nghe nói tới Nam Carolina – nơi đất đai nghèo nàn mà cũng chẳng có cảng biển. Những tiểu nông nghèo khổ ở Nam Carolina (chủ yếu xuất thân từ người nhập cư vô công rồi nghề ở Virginia hay Nam Carolina) không thể sánh bằng điền chủ ở Virginia hay người trồng bông ở Bắc Carolina.

Thất bại ban đầu của Bắc Carolina so với những người hàng xóm tuy dễ lý giải, song những thất bại và thành công tiếp theo thì sao? Lời giải thích cũng giống như trường hợp của Piedmont, Bắc Carolina chưa bị sự sùng bái quá khứ lẫy lừng một thời kiềm chế; Bắc Carolina mất mát tương đối ít sau thất bại trong cuộc nội chiến, bởi chẳng có gì nhiều để mất cả; và càng ít sụp đổ bao nhiêu, thì nó khôi phục dễ dàng nhanh chóng bấy nhiêu.

Quan niệm mới về vấn đề cũ

Những ví dụ về tài mô phỏng sáng tạo làm sáng tỏ cho chúng ta một hiện tượng vốn đã gây nhiều sự chú ý trong phần đầu của cuốn sách này, có tên là “Nhân tố kích thích của vùng đất mới”. Giờ đây, nó lại xuất hiện trong những ví dụ kể trên: người không phải là Do Thái với người Do Thái, người Piedmont với người Milan và Venice, và Bắc Carolina với người hàng xóm phương bắc và phương nam. Nếu theo đuổi tiếp cuộc điều tra về Athens, chúng ta sẽ thấy chính ở Achaia chứ không phải ở Attica, vào thế kỷ 3 và 2 trước CN, người Hy Lạp đã tiến gần đến giải pháp hợp thành liên bang các thành phố độc lập có chủ quyền để có thể duy trì nền độc lập trước các cường quốc bên ngoài Hy Lạp. Có thể thấy, sự màu mỡ hơn hẳn của vùng đất mới hoàn toàn không được tác nhân kích thích sự thử thách khai phá vùng đất mới xét tới. Có những lý do tích cực lẫn tiêu cực giải thích tại sao vùng đất mới có xu hướng thành công, cụ thể là vì nó không bị đè nặng bởi truyền thống hay ký ức – những thứ giờ đây chẳng còn ích lợi nữa.

Chúng ta còn thấy lý do cho hiện tượng khác trong xã hội – xu hướng thiểu số sáng tạo thoái hóa thành thiểu số thống trị – mà chúng ta đã chọn ra trong bài nghiên cứu này là dấu hiệu nổi bật của tan rã và sụp đổ của xã hội. Tuy thiểu số sáng tạo không phải là tác nhân làm cho sự thay đổi có ảnh hưởng xấu, nhưng vì họ kiên quyết dẫn dắt đa số không sáng tạo theo hướng đó nên tài sáng tạo khi được phát huy lần đầu đã đối phó thành công với thách thức, lại tiếp tục trở thành thách thức mới khủng khiếp cho những người theo sau.

(4) TÀI MÔ PHỎNG SÁNG TẠO: TÔN SÙNG THỂ CHẾ YỂU MỆNH

Chính quyền thành phố Hy lạp

Khi khảo sát vai trò của sự tôn sùng thể chế trong quá trình tan rã và sụp đổ của xã hội Hy Lạp – nền văn minh đã có những thành công chói lọi trong một giới hạn nhất định, song đồng thời cũng yểu mệnh như bao sáng tạo của con người – chúng ta phải phân biệt hai tình huống khác nhau, trong đó thần tượng là vật cản trên con đường tiến tới giải pháp cho vấn đề xã hội.

Vấn đề đầu đã trình bày và mổ xẻ nên giờ đây có thể cho qua. Như một hệ quả tất yếu, cuộc cách mạng kinh tế thời Solon đòi hỏi loại hình liên bang cho thế giới Hy Lạp. Người Athens đã thất bại trong nỗ lực đạt được điều này, và kết quả như chúng ta đã chẩn đoán là sự sụp đổ của xã hội Hy Lạp. Nguyên nhân thất bại rõ ràng là sự bất lực của một cá thể không thể vượt qua quyền độc lập của phần còn lại trong tổng thể. Tuy người Athens không giải quyết được vấn đề cốt lõi này, song họ vẫn bám sát vấn đề thứ yếu do mưu cầu riêng của thiểu số thống trị Hy Lạp, khi lịch sử Hy Lạp chuyển từ chương 2 sang chương 3 tại bước ngoặt của thế kỷ 4 sang thế kỷ 3 trước CN.

Nhìn chung, dấu hiệu bên ngoài chủ yếu của bước quá độ này là phương diện vật chất tăng đột biến trong đời sống Hy Lạp. Ngành hàng hải vốn bó hẹp ở bờ biển vịnh Địa Trung Hải, nay bành trướng qua đất liền từ Dardanelles đến Ấn Độ, từ Olympus và Apennines đến Danube và Rhine. Trong một xã hội đã bành trướng về mặt địa lý nhưng không thể thiết lập luật pháp và trật tự giữa các nước mà nó đi qua, thì thành phố độc lập có chủ quyền trở nên nhỏ bé tới mức không còn gây ảnh hưởng trong đời sống chính trị nữa. Bản thân điều này không hẳn là bất hạnh; thực vậy, sự kết thúc hình thức chủ quyền địa phương truyền thống tồn tại bấy lâu ở Hy Lạp là cơ hội trời cho để tống khứ gánh nặng về chủ quyền địa phương. Nếu Alexander tự liên minh với Zeno và Epicurus, người Hy Lạp có lẽ đã thành công khi bước thẳng từ thể chế đô thị-quốc gia nhỏ hẹp sang thành phố quốc tế; và với sự kiện đó, xã hội Hy Lạp có lẽ đã hồi sinh. Tuy nhiên, Alexander sớm qua đời và phó mặc tất cả cho những người kế vị định đoạt. Những cuộc tranh giành ngang tài ngang sức của các chỉ huy trưởng Macedonia đã góp phần duy trì thể chế chủ quyền địa phương trong kỷ nguyên mới mà Alexander đã khai sinh. Nhưng trên bình diện vật chất phát triển vượt bậc trong đời sống của người Hy lạp, chỉ có thể duy trì chủ quyền địa phương với một điều kiện, đó là những đô thị độc lập có chủ quyền kia phải tìm đường cho nhà nước mới có tầm cỡ cao hơn.

Những nhà nước mới này đã mở ra thành công, nhưng do một loạt đòn hạ gục của người La Mã nhắm vào chúng từ năm 220 đến 168 trước CN, số lượng nhà nước kiểu này giảm sút mạnh. Xã hội Hy Lạp mất cơ hội thành lập liên bang tự nguyện, giờ bám chặt vào nhau trong những mối ràng buộc của nhà nước chung. Nhưng điều thú vị có ích cho mục đích của chúng ta hiện nay là ở chỗ, cả phản ứng trước thách thức của người La Mã dẫn đến thất bại của Athens thời Pericles cùng những lý do khác đóng góp vào sự thất bại đó đều là sản phẩm của nhiều thành viên Hy Lạp – những người hoàn toàn không bị mê muội trước sự sùng bái chủ quyền thành phố độc lập.

Người La Mã tối kỵ với sự sùng bái; nguyên tắc tổ chức nhà nước của họ là “hai quyền công dân”, nghĩa là người công dân phải có bổn phận với thành phố nơi anh ta sinh ra và với chính thể rộng lớn hơn của Đế quốc La Mã. Thỏa hiệp này chỉ khả thi về mặt tâm lý trong những cộng đồng nào mà sự sùng bái chủ quyền độc lập chưa bóp nghẹt con tim và khối óc của người dân.

Ở đây, không cần nhấn mạnh nét giống nhau giữa chủ quyền địa phương trong xã hội Hy Lạp với vấn đề tương ứng trong thế giới chúng ta hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều để bàn luận. Lúc trình bày lịch sử Hy Lạp, chúng ta mong muốn tìm được giải pháp cho vấn đề của phương Tây chúng ta ngày nay, hoặc ít ra là ở những nơi mà chủ quyền quốc gia chưa trở thành đối tượng của sự sùng bái. Chúng ta không mong thấy được sự cứu rỗi từ các quốc gia Đông Âu, nơi mà mọi tư duy tình cảm của người dân đều gắn bó chặt chẽ với chủ quyền địa phương – thứ được xem là biểu tượng của một quá khứ vàng son. Xã hội chúng ta chờ đợi việc khám phá ra hình thức liên kết quốc tế nào đó để đặt chủ quyền địa phương vào những luật lệ nhất định, và nhờ đó có thể ngăn chặn tai ương của sự hủy diệt. Nếu khám phá ra, thì thử nghiệm chính trị đó hẳn sẽ là một hình thức đại loại như khối thịnh vượng chung, trong đó kết hợp truyền thống của một nước châu Âu cổ kính với tính mềm dẻo của một số quốc gia hiện đại. Hoặc sẽ là một chính thể như Liên bang Xô Viết cũ, tìm cách tổ chức một số dân tộc không phải phương Tây thành một kiểu cộng đồng mới toanh dựa trên ý tưởng cách mạng phương Tây. Ở Liên Xô cũ, chúng ta thấy nhiều nét tương đồng với Đế quốc Seleucia, hay sự tương đồng của Đế chế Anh với Liên bang La Mã. Liệu các phe nhóm chính trị bên ngoài thế giới phương Tây cận đại có sản sinh ra những hình thức chính trị mới khả dĩ có thể giúp ích cho chúng ta trong việc tái thiết lập Hội Quốc Liên sau Thế chiến thứ nhất hay không, trước khi mọi việc đã quá trễ? Thật khó biết được; nhưng chúng ta có thể tin chắc rằng, nếu người đi tiên phong thất bại, thì những người tôn sùng chủ quyền quốc gia đang sợ chết khiếp kia sẽ chẳng bao giờ tiếp tục công việc ấy.

Đế quốc La Mã phương Đông

Một trường hợp điển hình về sự sùng bái thể chế đã đưa xã hội đến con đường diệt vong là sự tôn sùng một cách định mệnh Cơ Đốc Chính thống trong “hồn ma” của Đế quốc La Mã – thể chế cổ đại đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử và cống hiến cuộc sống của mình cho vai trò là chính quyền trung ương của xã hội Hy Lạp.

Bề ngoài, Đế quốc La Mã phương Đông dường như tồn tại liên tục như là một thể chế đơn nhất, kể từ lúc Costantine thành lập Constantinople cho đến khi bị quân Thổ Ottoman chiếm lại vào năm 1453 (tức hơn 11 thế kỷ sau) – hoặc đến khi quân thập tự chinh tạm thời trục xuất chính quyền Đế quốc La Mã phương Đông ra khỏi Costantinople năm 1204. Nhưng trên thực tế, hai thể chế này có thời gian cách biệt nhau do có sự đan xen của một thời kỳ không có người trị vì. Đế quốc La Mã đầu tiên đóng vai trò là chính quyền trung ương của Hy Lạp cho đến thời điểm chấm dứt ở phương Tây vào thời kỳ Trung cổ. Song sự thực là, tại bước ngoặt của thế kỷ 4 và 5, chính thức là vào năm 476, Hoàng đế bù nhìn cuối cùng ở Ý bị hạ bệ bởi kẻ nhân danh Đế chế thao túng quyền lực ở Constantinople. Chúng ta dễ dàng thấy số phận tương tự đã xảy đến cho Hoàng đế La Mã đầu tiên ở phương Đông trước khi đêm trường Trung cổ trôi qua. Sự tan rã này có lẽ giống với thời điểm kết thúc triều đại Justinian năm 565. Tiếp theo sau ở phương Đông là 150 năm không có người trị vì, tuy vẫn có sự cai trị của các Hoàng đế La Mã hoặc nỗ lực thống trị của xứ Constantinople vào thời kỳ này, nhưng đó là giai đoạn tan rã và tiềm phục, giai đoạn mà tàn tích của xã hội đã chết bị quét sạch và đặt nền móng hậu duệ tiếp theo. Tuy nhiên, trong nửa đầu thế kỷ 8, triều đại của thiên tài Leo Syrus gợi lên bóng dáng của Đế chế La Mã đã chết. Trong chương đầu của lịch sử đạo Cơ Đốc Chính thống, Leo Syrus là Charlemagne thành công; hoặc ngược lại, Charlemagne là Leo Syrus chiến bại do mệnh trời. Thất bại của Charlemagne tạo cơ hội cho giáo hội Cơ Đốc phương Tây và những chính quyền quốc gia độc lập phát triển trong thời kỳ Trung cổ. Thành công của Leo là khống chế được chính quyền trung ương của xã hội Cơ Đốc Chính thống trước khi xã hội non trẻ đó kịp học được cách xoay xở. Tuy nhiên, sự trái ngược trong kết quả không có sự khác biệt về mục đích, Charlemagne và Leo đều cùng tôn thờ thể chế lỗi thời và yểu mệnh.

Làm thế nào giải thích ưu thế trong việc xây dựng thể chế chính trị của những nước theo đạo Cơ Đốc Chính thống so với các nước phương Tây? Một yếu tố quan trọng là sự khác biệt về mức độ áp lực của cuộc xâm lăng mà người Ả Rập theo đạo Hồi đã tiến hành đồng thời ở cả hai nước theo đạo Cơ Đốc này. Khi tấn công các nước phương Tây xa xôi, người Ả Rập cố gắng đoạt lại thuộc địa bị mất ở Bắc Phi và Tây Ban Nha cho xã hội Syria cổ. Đến khi đánh vào lòng xã hội phương Tây non trẻ, họ đã dùng đến lực lượng tấn công; và khi rìa nam và rìa tây Địa Trung Hải đưa họ tiến gần đến tường thành của quân Áo, trận công phá đã đi trật mục tiêu. Ngay cả chiến thắng thụ động trước kẻ tấn công đã mỏi mệt cũng đủ tạo nên vận may của triều đại Áo. Đó là chiến thắng vang dội vào năm 732, đưa Áo vượt lên hàng đầu trong số các cường quốc non trẻ theo đạo Cơ Đốc. Nếu gươm đao của quân Ả Rập đã chạm vào triều đại Frank do Charlemagne tìm thấy, cấu trúc vững bền của Đế quốc La Mã phương Đông hẳn đã sinh ra ở nước theo đạo Cơ Đốc Chính thống để chống lại cuộc tấn công tàn bạo và dai dẳng hơn từ kẻ chinh phục.

Vì lý do này và những lý do khác,[9] Leo Syrus và những người kế vị đạt được mục tiêu mà Charlemagne, Otto I, hay Henry III không bao giờ vươn tới được, cho dù Giáo hoàng ưng thuận. Các hoàng đế phương Đông, bằng quyền lực của mình, đã biến Giáo hội thành bộ Ngoại giao và các giáo hoàng thành người phụ trách vấn đề Giáo hội, nhờ vậy khôi phục mối quan hệ giữa Giáo hội và Nhà nước được Constantine thành lập và duy trì cho tới thời Justinian. Tác động của thành quả này được biểu thị theo hai cách: chung và riêng.

Tác động chung là kiểm tra và triệt hạ khuynh hướng tiến tới tính đa dạng, mềm dẻo, thử nghiệm, và sáng tạo trong đời sống đạo Cơ Đốc Chính thống. Chúng ta có thể tiên đoán tác hại của việc này qua những thành tựu nổi bật của các nền văn minh anh em không theo đạo Cơ Đốc Chính thống ở phương Tây. Trong lịch sử đạo Cơ Đốc Chính thống, chúng ta chẳng thấy gì tương ứng với chế độ Giáo hoàng, loại trừ sự lớn mạnh của các trường đại học và thành phố độc lập có chủ quyền tự trị.

Tác động riêng là chính quyền đế quốc không chịu công nhận sự tồn tại của các nhà nước “man rợ” độc lập trong khu vực mà họ đã mở rộng khai hóa. Sự không công nhận về mặt chính trị đã dẫn đến chiến tranh giữa người La Mã và người Bungaria vào thế kỷ 10. Đế quốc La Mã phương Đông tuy thắng trận nhưng bị thiệt hại không gì bù đắp được; và như đã đề cập trong mục khác, những cuộc chiến tranh này gây ra sự sụp đổ của xã hội Cơ Đốc Chính thống.

Vua, quốc hội, và chế độ quan liêu

Nhà nước thuộc kiểu này hay kiểu kia không phải là thể chế chính trị duy nhất được tôn sùng. Niềm vinh dự tương tự cũng dành cho vị vua thần thánh, cho quốc hội với quyền lực tối cao, hay cho tầng lớp nắm giữ vận mệnh của đất nước.

Xã hội Ai Cập cổ đại là một ví dụ điển hình về sự tôn sùng đặc quyền chính trị hiện thân qua con người. Sự đòi hỏi phong thần của các vị vua Ai Cập là dấu hiệu “khước từ” để đòi hỏi một sứ mệnh cao cả hơn, nó không đáp lại thách thức thứ hai trong lịch sử Ai Cập, và khiến nền văn minh Ai Cập sớm sụp đổ. Gánh nặng của sự áp đặt sùng bái vua chúa lên đời sống người Ai Cập được được minh chứng ở các kim tự tháp, mà đã được xây dựng bằng mồ hôi nước mắt của bao người dân, những người thợ kỳ diệu và bất tử. Tiền tài, trí tuệ, và công sức lẽ ra dành cho việc chế ngự tự nhiên vốn đã vô cùng khắc nghiệt vì lợi ích của toàn xã hội, cuối cùng lại phung phí sự tôn sùng này.

Sai lầm của sự sùng bái đặc quyền chính trị thể hiện qua con người còn có một ví dụ khác. Nếu xem xét trường hợp tương tự trong lịch sử phương Tây cận đại, chúng ta dễ dàng nhận thấy một phiên bản tầm thường qua một thiên tử trong hoàng tộc Pháp, vua Louis XIV. Cung điện của vị vua này ở Versailles có ảnh hưởng mạnh hơn cả nước Pháp, cũng giống như kim tự tháp Gizeh có bảnh hưởng mạnh hơn cả xứ Ai Cập. Nhưng có lẽ ví dụ thú vị nhất là thế giới phương Tây chúng ta cũng có sự sùng bái đặc quyền chính trị qua những phán xét bất công khó nhận thấy.

Khi sùng bái “Cha đẻ của nghị viện” ở Westminster, đối tượng tôn sùng không phải là con người, mà là một tổ chức chính trị xã hội. Sự ảm đạm như một căn bệnh nan y của nghị viện đã góp phần vào sự nghèo nàn và bướng bỉnh của truyền thống xã hội Anh cận đại luôn cố gắng giữ sự tôn sùng nghị viện trong giới hạn hợp lý. Người Anh lưu tâm đến thế giới năm 1938 tự cho là đang được đền ơn hậu hĩ vì tạm thời sùng bái thần tượng chính trị của mình. Liệu có quốc gia nào trung thành với “Cha đẻ của nghị viện” lại ở trong hoàn cảnh vui vẻ hơn người hàng xóm tìm kiếm thần tượng khác hay không? Mười bộ lạc của lục địa châu Âu đã tìm thấy thái bình thịnh vượng trong lời nịnh nọt của mấy vị lãnh tụ hay chưa? Tuy nhiên, cùng lúc đó ông ta sẽ thú nhận rằng con cháu của thể chế chính quyền nghị viện thiển cận là một lũ bệnh hoạn, không đủ khả năng đưa ra bảo vệ chính trị cho thế hệ loài người, và không thể chống lại tai họa chiến tranh của chế độ độc tài.

Những đặc trưng cố hữu của nghị viện Anh tại Westminster có lẽ là chướng ngại vật trên con đường biến thể chế Anh đáng tôn kính thành phương thuốc trị bách bệnh chính trị cho thế giới. Theo định luật đã nêu – người đối phó thành công với thách thức thứ nhất khó lòng đối phó thành công với thách thức thứ hai – thành công của nghị viện Anh tại Westminster vào thời Trung cổ để thích ứng với nhu cầu cấp bách của thời cận đại chưa chắc khiến nó có được biến hóa sáng tạo khác để đáp lại thách thức của thời hậu cận đại.

Nếu nhìn vào cơ cấu nghị viện Anh, chúng ta sẽ thấy, về cơ bản nó là một hội đồng bao gồm đại biểu của các khu vực bầu cử địa phương. Các vương quốc trong thế giới phương Tây thời Trung cổ là khối cộng đồng nông thôn với các thị trấn nhỏ nằm rải rác. Trong xã hội có tổ chức như thế, tầng lớp xem trọng mục đích kinh tế xã hội là tầng lớp xem trọng tình hàng xóm; và trong xã hội được thành lập, một đơn vị được thành lập do tương đồng địa lý cũng là đơn vị tự nhiên của tổ chức chính trị. Tuy nhiên, tác động của chủ nghĩa công nghiệp đã làm suy yếu dần nền tảng của nghị viện thời Trung cổ. Mối liên kết địa phương ngày nay đã mất đi ý nghĩa chính trị, cũng như hầu hết những ý nghĩa liên kết khác. Nếu hỏi cử tri Anh thuộc thế hệ chúng ta xem hàng xóm của anh ta là ai, anh ta chắc chắn sẽ trả lời: “À, đó là đồng nghiệp đường sắt hay thợ mỏ của tôi, mà tôi cũng chả biết anh ta sinh sống ở đâu”. Khu vực bầu cử không còn mang tính địa phương nữa mà dựa trên tiêu chí nghề nghiệp. Cơ sở nghề nghiệp tương đồng của các nghị viên là lĩnh vực mà “Cha đẻ của nghị viện” Anh già cỗi chưa hề biết đến.

Hơn hết, rõ ràng là những người ủng hộ nghị viện Anh thế kỷ 20 có thể đã phản ánh đúng. Về mặt lý thuyết, anh ta thú nhận hệ thống đại biểu thế kỷ 13 không thích hợp cho cộng đồng thế kỷ 20, nhưng sẽ chỉ rõ rằng sự không thích hợp trên lý thuyết này dường như được giải quyết khá ổn thỏa trên thực tế. Anh ta giải thích: “Người Anh chúng ta quá quen với thể chế đã thiết lập trên đất nước mình tới mức áp dụng chúng trong bất cứ điều kiện nào. Tất nhiên, người nước ngoài…” và anh ta nhún vai mà không nói tiếp.

Có lẽ sự tự tin về vốn kiến thức chính trị sẽ khiến anh ta tự thỏa mãn với giải thích của chính mình. Kể cũng lạ, người từng một thời háo hức nuốt lấy những điều tưởng là thuốc chữa bách bệnh, giờ lại bác bỏ thẳng thừng sau khi bị bội thực cấp tính. Tuy nhiên, vì lẽ ấy, nước Anh dường như sẽ có thể một lần nữa lặp lại kỳ công của thế kỷ 17 bằng việc sáng tạo thể chế chính trị lần thứ hai theo yêu cầu của thời đại mới. Khi phải tìm kiếm những điều mới mẻ, chỉ có hai cách thực hiện, ấy là sáng tạo hay mô phỏng, và không thể mô phỏng khi chưa có người thực hiện hành động sáng tạo để người khác theo. Trong chương bốn của lịch sử phương Tây đã mở ra là thời đại chúng ta, ai sẽ trở thành người sáng tạo chính trị mới đây? Hiện tại, chúng ta chưa thấy ứng viên cụ thể nào cho ước vọng này; song có thể tiên đoán chắc chắn rằng người sáng tạo chính trị mới sẽ không tôn thờ “Cha đẻ của nghị viện”.

Qua nghiên cứu các nền văn minh, chúng ta bắt gặp hai xã hội sùng bái giai cấp – người Sparta và người Osmanli – trong đó tầng lớp hưởng đặc quyền đặc lợi trong xã hội là kẻ được tôn sùng. Sự tai hại của sùng bái giai cấp hưởng đặc quyền trong xã hội không chỉ kìm hãm đà phát triển của nền văn minh, mà còn có thể khiến nền văn minh ấy sụp đổ. Và nếu xem xét lại sự sụp đổ của xã hội Ai Cập với góc độ này, chúng ta sẽ hiểu, vương quyền “thiêng liêng” không phải là gánh nặng duy nhất đè nặng lên lưng tầng lớp nông dân Ai Cập. Họ còn phải chịu thêm gánh nặng quan liêu của giới tri thức sĩ phu.

Sự thật là tầng lớp quan lại trí thức nắm vương quyền trong tay. Nếu thiếu sự hỗ trợ của tầng lớp này, nhà vua sẽ khó duy trì vị thế oai nghiêm và ách cai trị của mình. Do đó, giới trí thức quan lại Ai cập là thế lực đứng thứ hai sau vua, thậm chí tại những thời điểm nhất định, còn lấn cả vua nữa. Họ là vây cánh tối cần thiết cho vua. Họ biết điều đó và tận dụng sự hiểu biết này để “trút gánh nặng lên vai dân chúng”, trong khi các bộ lạc Ai Cập không thể tự mình nhận lấy gánh nặng đó. Đặc quyền được miễn lao động nặng nhọc của tầng lớp quan lại trí thức là một trong những tính chất của chế độ quan liêu trong lịch sử Ai Cập. Điều này đã được ghi rõ trong Hướng dẫn của Duauf – một tác phẩm được sáng tác trong thời kỳ loạn lạc của xã hội Ai Cập – được truyền lại cho chúng ta trong các bản sao chép từ hàng nghìn năm trước, như một bài tập viết của các cậu bé thời “tân đế chế”. Đó là “những lời nhắn nhủ của một người tên Duauf, con trai của Khety, nhằm động viên con trai của ông là Pepi, khi cậu chuẩn bị lên đường đến thủ đô để vào trường học cùng với con của các quan toà”, và lời động viên đầu tiên của người cha nhiều tham vọng dành cho đứa con thân yêu của ông là:

“Ta đã thấy nhiều người nản chí: nhưng con phải dồn hết nhiệt huyết trái tim cho sách vở. Ta muốn con được giải phóng khỏi xiềng xích lao động cưỡng bức: hãy nghe ta, không gì có thể vượt trên sách vở. … Mọi người thợ thủ công đều biết dùng búa, đục; nhưng anh ta phải kiệt sức vì công việc nặng nhọc… Người thợ nề biết cách xử lý mọi loại đá dù cứng hay mềm, nhưng khi làm xong công việc, đôi tay anh ta đau đớn và anh ta than vãn. … Người nông dân suốt ngày quần quật ngoài đồng …; cả anh ta cũng than van vì bất hạnh. … Người thợ dệt trong công xưởng bị ốm đau bệnh tật nhiều hơn cả đàn bà. Bắp đùi anh ta đặt cao hơn bụng và anh ta thở chẳng ra hơi. … Ta còn kể cho con biết sự gian khổ của người đánh cá. Chẳng lẽ không phải anh ta phải lao động trên sông nước, nơi có đàn cá sấu lượn lờ quanh? … Hãy nghe ta, chẳng có gì so sánh được với người chỉ huy ngoài những kẻ có học, người có học sẽ có tất cả, và đó chính là mục tiêu phấn đấu của con”.

Tầng lớp quan lại trong xã hội Viễn Đông cũng là những vị thần ác mộng tương tự như vậy, đó là thứ mà xã hội Viễn Đông thừa kế được từ tổ tiên của mình. Các nho sĩ không quen lao động nặng, họ để móng tay mọc dài tới mức chỉ còn sử dụng bàn tay vào việc cầm bút nghiên mà thôi. Trải qua nhiều biến động trong lịch sử xã hội Viễn Đông, các nho sĩ phương Đông cũng bắt chước quan lại Ai Cập trong việc khư khư giữ lấy địa vị và quyền lực của mình. Ngay cả tác động mạnh mẽ của cơn gió văn hóa phương Tây cũng không hất được anh ta ra khỏi chiếc ghế vững chãi ấy. Mặc dù giờ đây không còn những kỳ thi cử trong tầng lớp nho sĩ để chọn ra người làm quan nữa, nhưng giới trí thức vẫn bắt người nhà quê phải kính nể mình như trước chỉ vì họ cho rằng mình có học.

Trong tiến trình lịch sử Ai Cập, người dân dần học được sự kiên nhẫn để chịu đựng gánh nặng giai cấp luôn gia tăng liên tiếp bởi sự cộng hưởng của nhiều giai tầng áp bức. Như thể gánh nặng của chế độ quan liêu vẫn còn chưa đủ, người dân còn chịu gánh nặng của “đế chế mới”, với giới giáo sĩ được tổ chức thành hội đồng Liên Ai Cập đầy quyền lực do linh mục trưởng Amon-Re xứ Thebes làm chủ tịch (khoảng 1480-1450 trước CN) trong Đế chế Thothmes III. Kể từ đó, tầng lớp quan lại ở Ai Cập có thêm bạn đồng hành là các giáo sĩ Bà La Môn. Và thế là, con ngựa chiến Ai Cập vốn đã sức cùng lực kiệt giờ đây buộc phải loạng choạng đi tiếp đường đua vô tận của mình, trong khi số người ngồi sau yên từ hai đã tăng lên ba, bên cạnh vua và tầng lớp trí thức sĩ phu.

Xã hội Ai Cập đã thoát khỏi chủ nghĩa quân phiệt trong suốt giai đoạn tồn tại của mình, nhưng bị sự thống trị của triều đại Semit thúc đi theo hướng quân phiệt, cũng tương tự như xã hội Cơ Đốc Chính thống trong lần va chạm với Bulgaria. Không bằng lòng với vương triều Semit chỉ giới hạn trong thế giới Ai Cập, các vị hoàng đế của triều đại thứ 18 này có tham vọng chuyển từ tự vệ sang xâm lược bằng cách tạo dựng Đế quốc Ai Cập ở châu Á. Việc làm mạo hiểm này dễ ra tay hơn là rút lại; và khi xu thế chuyển sang hướng bất lợi, các vị hoàng đế của triều đại thứ 19 buộc phải huy động sức mạnh toàn xã hội để bảo vệ Ai Cập. Dưới triều đại thứ 20, cơ cấu xã hội đã già nua này bị tác động sâu sắc bởi đòn tê liệt đó, như là cái giá của thành tích cuối cùng trong việc lao vào những đạo quân phối hợp của người rợ châu Âu, châu Phi, và châu Á trong thời kỳ Völkerwanderung hậu Minoan. Khi Ai Cập sụp đổ, giới trí thức và tu sĩ vẫn giữ vững ngôi vị và kết giao với con cháu của kẻ xâm lược người Libi, những người mà tổ tiên đã từng bị người Ai Cập bản địa xâm lược, giờ đây đi vào thế giới Ai Cập với tư cách lính đánh thuê. Tầng lớp võ biền xuất thân từ lính đánh thuê người Libi thế kỷ 17 này tiếp tục đè đầu cưỡi cổ người Ai Cập suốt cả ngàn năm sau, trên chiến trường họ chẳng mấy oanh liệt hơn người Janissarie hay người Spartiate, nhưng ở nhà lại hùng hổ đè đầu cưỡi cổ tầng lớp nhân dân.

(5) TÀI MÔ PHỎNG SÁNG TẠO: TÔN SÙNG KỸ THUẬT SỚM LỤI TÀN

Các loài cá, bò sát và động vật hữu nhũ

Giờ đây, khi chuyển sang khảo sát sự sùng bái kỹ thuật, chúng ta hãy nhớ lại những ví dụ đã được nhắc đến ở phần đáp trả thách thức cực độ phía trước. Trong xã hội Ottoman và Sparta, các kỹ thuật chìa khóa để chăn dắt gia súc hay săn bắn thú hoang được sùng bái vì những xã hội này sống nhờ vào những hoạt động trên. Và khi chuyển từ nền văn minh bị giam hãm bởi thách thức con người sang nền văn minh bị giam hãm bởi thách thức thiên nhiên, chúng ta thấy tấn thảm kịch của sự tôn sùng kỹ thuật đã diễn ra. Người du mục và người Eskimo đã rơi vào thế bị kìm hãm vì tập trung hết tài năng vào các kỹ thuật chăn dắt và săn bắn. Cuộc sống thiển cận đã ép buộc họ trở về tính cầm thú vốn không có trong tài tháo vát của con người; và nếu nhìn lại các chương trước khi chưa có loài người trong lịch sử sự sống trên hành tinh này, chúng ta sẽ gặp những ví dụ khác về quy luật tương tự.

Sau khi nghiên cứu so sánh hoạt động trong vùng đất có người và không có người, một học giả phương Tây cận đại đã phát biểu quy luật này:

“Sự sống bắt nguồn từ biển cả. Chẳng nơi đâu sự sống lại kỳ diệu và mãnh liệt như ở biển cả. Các loài cá vốn sinh ra đã thành công (chẳng hạn như cá mập) tới mức chúng vẫn không thay đổi cho đến ngày nay. Tuy nhiên, con đường tiến hóa đi lên không nằm theo hướng đó. Trong quá trình tiến hóa, câu ngạn ngữ của tiến sĩ Inge luôn đúng: “Chẳng có gì đem lại thất bại nhiều như thành công”. Những sinh vật hoàn toàn thích nghi với môi trường sống, hay những con giờ đây đã cạn kiệt hết năng lực và sức mạnh để đấu tranh sinh tồn, sẽ chẳng thể để lại gì đối phó với những thay đổi to lớn tiếp theo. Theo tuổi tác, nó ngày càng tiết kiệm nguồn sinh lực đáp ứng những thời cơ hiện tại. Cuối cùng, nó có thể làm mọi thứ cần thiết để tồn tại mà không cần vận động đấu tranh có ý thức. Nó có thể đánh bại mọi địch thủ trong môi trường sống; nhưng lỡ như môi trường sống thay đổi, nó ắt bị tuyệt chủng. Điều này giải thích sự tuyệt chủng của vô số loài. Điều kiện thời tiết thay đổi. Chúng đã tiêu thụ hết nguồn sinh lực để thích nghi với điều kiện sống trước đây. Chúng không chừa lại sinh lực cho lần thích nghi tiếp theo. Chúng không thể thích nghi lại một lần nữa, và thế là diệt vong”.[10]

Cũng chính người học giả đó đã bàn luận sâu về thành công của loài cá trong thích nghi với môi trường tiến hóa từ đất liền xuống biển và từ biển trở lại đất liền:

“Khi môi trường sống bó hẹp nơi biển cả và các loài cá thi nhau phát triển, chúng từ bỏ hình thức tiến hóa cột sống, và thế là hình dạng cột sống hiện nay là hình thức tiến hóa cao nhất có thể của chúng. Từ cột sống, tỏa ra ở mỗi bên là một cái cánh xúc tu dần phát triển thành vây trước. Ở cá mập, những xúc tu này không còn là xúc tu nữa, mà biến thành mái chèo: các thùy đuôi giúp sinh vật tiến về phía trước con mồi. Điều quan trọng nhất là phản ứng nhanh nhạy và thùy đuôi ngày càng trở nên hiệu quả cho chuyển động trong nước. Sinh vật tiền thân của loài cá hẳn đã sinh sống trong những vũng nước cạn ấm áp, và có lẽ luôn tiếp xúc với đáy, vì cá chào mào ngày nay có xúc tu cứ quét xuống đáy. Tuy nhiên, một khi chuyển động mau lẹ tự phát trở thành điều quan trọng nhất để sinh tồn, sự chuyên hóa đã khiến loài cá bơi trong nước, nơi chúng mất tiếp xúc với đáy, và nước trở thành môi trường sống duy nhất của chúng. Thế có nghĩa là khả năng bị tác động bởi môi trường của chúng có giới hạn đáng kể, vì chúng luôn có thể tiến hóa tùy theo môi trường đó…”

“Loài cá sau này sẽ tiến hóa thành động vật bậc cao hơn đó hẳn là sinh vật không thể thích nghi với sự chuyên hóa cực độ của vây. Thứ nhất, nó vẫn là sinh vật tiếp xúc với đáy, và vì vậy vẫn còn bị kích thích nhiều hơn loài cá mất tiếp xúc với môi trường rắn. Thứ hai, nó là sinh vật tiếp xúc với những chỗ cạn nhờ chi trước, do đó chi trước không thể biến đổi hoàn toàn thành thùy đuôi, và thế là chi trước nửa tiến hóa nửa không. Người ta đã tìm thấy bộ xương của sinh vật như thế – sinh vật có chi trước là bàn chân trước vụng về hơn cả vây. Và những chi này trông như thể là bước chuyển tiếp từ vũng nước cạn sang bờ hồ tràn nước, biển sâu lùi lại phía sau, đất liền bị xâm lấn, và thế là động vật lưỡng cư ra đời”.[11]

Chiến thắng của động vật lưỡng cư vụng về trước loài cá nhanh nhẹn và khéo léo cũng là vở kịch mà chúng ta được xem đi xem lại nhiều lần với nhiều thay đổi khác nhau trong bảng phân vai. Trong lần diễn tiếp theo, chúng ta thấy con cháu nhóm bò sát của động vật lưỡng cư đóng vai loài cá, còn vai của động vật bò sát trong lần diễn trước rơi vào tổ tiên của động vật hữu nhũ. Động vật hữu nhũ nguyên thủy là những sinh vật yếu ớt và kém phát triển, nhưng thật bất ngờ lại là kẻ thừa kế địa cầu, vì loài bò sát vốn trước đây là chúa tể của tạo hóa đã đánh rơi quà tặng thừa kế này; và loài bò sát thuộc kỷ đại trung sinh là những kẻ xâm chiếm sa vào con đường biến đổi để sinh tồn một cách mù quáng.

“Không còn nghi ngờ gì nữa, sự diệt vong bất ngờ của loài bò sát là cuộc cách mạng đáng chú ý nhất trong toàn bộ lịch sử địa cầu trước khi loài người xuất hiện. Nó liên quan đến sự kết thúc của quãng thời gian dài thời tiết ấm áp không đổi, và mở ra thời kỳ mới khắc nghiệt hơn khi mùa đông càng thêm rét buốt, và mùa hè ngắn ngủi nhưng nóng nực. Động thực vật thuộc kỷ trung sinh chỉ thích nghi với điều kiện thời tiết ấm áp và ít chịu được lạnh. Trái lại, những sinh vật mới có khả năng chống chọi với những thay đổi lớn về nhiệt độ…”

“Động vật hữu nhũ cạnh tranh và thay thế loài bò sát kém thích nghi hơn… mặc dù ta không có chút bằng chứng nào về cuộc cạnh tranh trực tiếp đó … Vào cuối kỷ trung sinh, người ta tìm thấy một số xương hàm nhỏ của loài động vật hữu nhũ. Tuy nhiên, không có mảnh xương nào cho thấy động vật hữu nhũ thuộc kỷ đại trung sinh có khả năng nhìn thẳng vào mặt khủng long… Chúng dường như đều là thú vật có kích thước bằng con chuột”.[12]

Ý kiến trên của học giả Wells nhìn chung được chấp nhận. Loài bò sát bị động vật hữu nhũ thay thế vì những con vật to lớn này đã mất khả năng thích nghi với môi trường mới. Tuy nhiên, trong cuộc thử thách mà loài bò sát đã đầu hàng, điều gì cho phép động vật hữu nhũ sống sót? Câu hỏi cực kỳ lý thú này có hai lời giải thích bất đồng nhau. Theo Wells, động vật hữu nhũ sơ khai sống sót nhờ có bộ lông bảo vệ chúng khỏi cái lạnh. Nếu thế, bộ lông là áo giáp hiệu quả hơn lớp vảy trong điều kiện thời tiết nhất định. Tuy nhiên, Heard cho rằng cái “áo giáp” đã cứu sống động vật hữu nhũ chính là tinh thần, và sức mạnh tinh thần lại nằm trong sự không được bảo vệ về mặt tinh thần. Chúng ta hãy khảo sát một ví dụ về người tiền sử trong giai đoạn được gọi là thời kỳ mông muội:

“Loài bò sát khổng lồ đã tự suy thoái trước sự phát triển của động vật hữu nhũ… Chúng khởi đầu là những sinh vật nhỏ bé nhưng biến đổi nhanh và năng nổ. Chúng lớn nhanh tới mức bộ giáp gần như không nhúc nhích được nữa… song bộ não của chúng vẫn chưa có… Đầu của chúng chẳng qua là những kính viễn vọng, ống thở, và cái kìm”.

“Ngày càng trở nên cứng cỏi trước sự diệt vong, chúng đã vượt qua ranh giới và hạn định của sự sinh tồn, và bắt đầu giai đoạn mới có sinh lực và ý thức. Và chẳng có gì minh họa hùng hồn hơn nguyên tắc tiến hóa nhờ tính nhạy cảm và nhận thức bằng ví dụ về những sinh vật sinh tồn bằng cách tự chống chọi thay vì được bảo vệ, bằng sự nhỏ bé thay vì kích thước to lớn. Động vật hữu nhũ ban đầu là những sinh vật giống như chuột. Trong thế giới bị những loài động vật to lớn thống trị, tương lai thuộc về loài nào có khả năng nhận biết và hòa hợp với những sinh vật khác. Nó không được bảo vệ là do khoác bộ lông chứ không phải lớp vảy. Nó không biến đổi hoàn toàn vì chi trước nhạy cảm và râu – lông dài trên mặt và đầu – luôn được kích thích. Tai và mắt phát triển cao độ. Nó có máu nóng để có thể nhận biết cái lạnh, trong khi loài bò sát rơi vào trạng thái mông muội… Do đó, ý thức của nó đã phát triển. Nhân tố kích thích liên tục được phản ứng lại bằng hành động đáp trả của một sinh vật chưa từng thấy trên đời – loài sinh vật có khả năng đáp lại không chỉ một mà rất nhiều thách thức”.[13]

Nếu tổ tiên chúng ta giống như thế, có lẽ chúng ta đều đồng ý rằng thật đáng tự hào và không nên lúc nào cũng cho là mình xứng đáng với tổ tiên.

Hậu quả trong nền công nghiệp

Cách đây 100 năm, nước Anh không chỉ được coi như, mà thật sự là “phân xưởng của thế giới”. Ngày nay, nước Anh là một trong vài phân xưởng có năng lực cạnh tranh, và trong suốt thời gian dài, thị phần có chiều hướng ngày càng giảm. Câu hỏi: “ Liệu nước Anh hết thời chưa?” đã tiêu tốn không biết bao nhiêu giấy mực và nhận được nhiều ý kiến tranh luận. Trong vòng 70 năm qua, cuộc tranh luận này bao gồm đủ loại ý kiến, kể cả những đánh giá bi quan nhất và lời tiên tri đầy ảm đạm của thiên tài Samuel Butler.[14] Nhưng nếu ai đó chọn ra một lý do mà hầu hết chúng ta đều lơ mơ mà lại chính là lý do quan trọng nhất của sự suy giảm thị phần ấy, thì đó chính là chủ nghĩa bảo thủ của những nhà công nghiệp chuyên sùng bái thứ kỹ thuật đã lỗi thời.

Có thể lấy nước Mỹ làm ví dụ. Vào những năm giữa thế kỷ 19, người Mỹ vượt trội hơn mọi dân tộc khác trong tính đa dạng và khéo léo của các sáng chế công nghiệp, đồng thời trong sự mạnh dạn khai thác những sáng chế đó vào mục đích thực tiễn. Máy may, máy đánh chữ, ứng dụng máy móc vào đóng giày, và máy giặt là những hàng gia dụng nghĩ ra đầu tiên. Tuy nhiên có một sáng chế quan trọng sản xuất công nghiệp mà người Mỹ tỏ ra chậm tiến so với người Anh. Sẽ chẳng có gì đáng chú ý nếu sáng chế bị lãng quên này lại là một cải tiến trong máy móc được chính người Mỹ tìm ra vào đầu thế kỷ: đó là tàu thủy chạy bằng hơi nước. Tàu hơi nước chạy bằng guồng của người Mỹ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành giao thông vận tải ngang dọc hàng ngàn km đường thủy nội địa của vùng Bắc Mỹ. Người Mỹ đã chậm chạp hơn người Anh rất nhiều trong việc khai thác thiết bị chân vịt ưu việt hơn cho mục đích đi biển. Và lý do của sự việc kỳ lạ này là họ khó có thể cưỡng lại ý muốn tôn sùng kỹ thuật không bền.

Hậu quả trong chiến tranh

Trong lịch sử quân sự, cuộc cạnh tranh sinh học giữa động vật nhỏ long mềm và loài bò sát to lớn tương tự như trường thiên tiểu thuyết về cuộc đọ sức tay đôi giữa David và Goliath.

Trước cái ngày định mệnh thách đấu với quân Do Thái, Goliath đã giành được những chiến thắng vẻ vang nhờ vào cây thương có cán như trục cuốn chỉ và đầu nặng sáu trăm cân sắt. Hắn thấy những vũ khí trên bộ áo giáp của mình hoàn toàn đủ sức chống lại kẻ thù, và chủ quan tới mức không còn nghĩ tới vũ khí thay thế nào nữa. Goliath cho rằng, trong bộ quân trang này, mình là người bất khả chiến bại. Hắn tin chắc bất kỳ tên Do Thái nào cả gan nhận lời thách đấu với hắn cũng sẽ phải là một binh sĩ vũ trang đến tận răng. Khi thấy David không mặc giáp trên người và chẳng có gì bắt mắt trên tay ngoại trừ cây gậy, ngay lập tức Goliath cảm thấy mình bị xem thường. Và thay vì cảnh giác, hắn kêu lên: “Bộ ta là chó hay sao mà ngươi mang gậy ra đập ta?”. Goliath không thể ngờ, hành động xấc xược của chàng trai trẻ này là thủ đoạn đã được tính toán kỹ; David hiểu rõ mình khó có hy vọng là đối thủ của Goliath nên đã không mặc bộ áo giáp do Saul đưa cho. Goliath cũng không để ý đến cây ná có thể được giấu trong chiếc túi của người chăn cừu. Và gã khổng lồ người Philistine kém may mắn này đã tự đắc tiến thẳng đến ngày tận số của mình.

Nhưng trong thực tế lịch sử của thời kỳ Völkerwanderung hậu-Minoan, bộ binh trang – của Goliath xứ Gath hay Hector thành Troy – đã không bị xuyên thủng bởi cây ná của David hay cánh cung của Philoctetes mà là trước đội hình phalanx Myrmidons, một đội hình bộ binh trong đó các binh sĩ mặc áo giáp và các binh sĩ mang khiên đứng sát cạnh nhau.[15]

Kỹ thuật quân sự mới mà chúng ta đã thấy trong Iliad này chính là một bản sao của Hector hay Goliath trong bộ quân phục. Điểm cốt lõi của đội hình phalanx nằm trong kỹ thuật quân sự biến đám chiến binh lộn xộn thành đội hình có thể thay đổi thế trận hiệu quả gấp mười lần so với nỗ lực rời rạc của cùng một số lượng chiến sĩ được vũ trang đầy đủ.

Kỹ thuật quân sự mới này đi vào lịch sử dưới dạng đội hình phalanx, nó đưa đến chiến thắng tàn khốc trong cuộc chiến tranh lần thứ hai giữa người Sparta và người Messen. Tuy nhiên, chiến thắng này không phải là đoạn kết của câu chuyện. Sau khi đuổi hết đối phương ra khỏi chiến trường, đội hình phalanx “tạm dừng bước”, và trong thế kỷ 4 trước CN, nó đã bị đánh bại nhục nhã. Lần đầu tiên nó chịu thất bại trước những binh đoàn bộ binh peltast của Athens (binh sĩ mang khiên) – các chàng David mới mà gã khổng lồ Goliath người Sparta thấy mình không thể chống đỡ nổi; và sau đó là trước đội hình hàng dọc của người Theban. Tuy nhiên, đến lượt các kỹ thuật của người Athens và người Theban lại lỗi thời, và bị đội hình của người Macedonia – bao gồm các binh sĩ chuyên đánh đoản binh với kỹ năng chiến đấu xuất sắc kết hợp khéo léo với đội hình phalanx và kỵ binh trang bị vũ khí nặng trong một lực lượng duy nhất – đập tan.

Cuộc chinh phục Đế quốc Achaemeni của Alexander là một bằng chứng về hiệu quả chiến đấu của người Macedonia, và phiên bản đội hình phalanx của người Macedonia vẫn còn là thành tựu mới nhất trong kỹ thuật quân sự suốt 170 năm – từ trận chiến ở Chaeronea kết thúc uy quyền của những thành phố tự trị ở Hy Lạp đến trận đánh ở Pydna, khi ấy đến lượt đội hình phalanx của người Macedonia chịu thúc thủ trước quân đoàn La Mã. Nguyên nhân thất bại của người Macedonia chính là sự sùng bái kỹ thuật quân sự. Trong khi người Macedonia yên chí mình là chủ nhân của tất cả ngoại trừ rìa tây thế giới Hy Lạp, người La Mã đã cách mạng hóa nghệ thuật chiến tranh dưới ánh sáng của kinh nghiệm xương máu trong cuộc chiến với Hannibal.

Sở dĩ quân đoàn La Mã chiến thắng đội hình phalanx của người Macedonia là nhờ hợp nhất bộ binh trang bị nhẹ với đội hình phalanx. Trong thực tế, người La Mã đã phát minh ra kiểu đội hình và vũ trang mới, tạo điều kiện cho binh sĩ và những đơn vị tùy ý đóng vai là bộ binh trang bị vũ khí nhẹ hay vũ khí nặng, và thay đổi chiến thuật trong nháy mắt ngay trước mặt quân thù.

Nhưng sau cuộc chiến Pynda, hiệu quả chiến đấu của người La Mã kéo dài không hơn một thế hệ. Bên vùng thuộc Ý của thế giới Hy Lạp, người ta lại thấy đội hình phalanx tham chiến trong trận đánh ở Cannae vào năm 214 trước CN, khi bộ binh La Mã trang bị vũ khí hạng nặng và được bố trí lại theo đội hình phalanx có một không hai của người Sparta đã bị kỵ binh Pháp và Tây Ban Nha của Hannibal bao vây từ phía sau, còn bộ binh trang bị nặng người Phi tàn sát ở hai cánh. Thảm họa này bất ngờ xảy đến với các tướng lĩnh La Mã, khiến họ quyết định tránh các thử nghiệm mới và chọn cách đánh chắc chắn. Nhờ tôi luyện qua thất bại ở Cannae, người La Mã cuối cùng đã dốc sức cải tiến kỹ thuật đánh bộ binh, biến quân La Mã thành lực lượng thiện chiến trong thế giới Hy Lạp. Tiếp sau chiến thắng ở Zama, Cynoscephalae, và Pydna là một loạt cuộc chiến tranh của người La Mã chống lại người rợ; và người La Mã, trong đó quân đoàn La Mã đã đạt được hiệu quả đánh bộ binh cao nhất trước khi phát minh ra súng ống. Tuy nhiên, vào thời điểm mà họ đã trở nên thiện chiến, quân đoàn La Mã lại nhận lấy thất bại đầu tiên từ những kỵ binh áp dụng kỹ thuật chiến đấu khác hẳn, cũng là người cuối cùng đã loại quân đoàn La Mã ra khỏi chiến trường. Chiến thắng của kỵ binh bắn cung trước quân đoàn La Mã ở Carrhae vào năm 53 trước CN đã tiên đoán kết quả trận đánh kinh điển của quân lính La Mã chống lại quân lính La Mã ở Pharsalus, trong đó kỹ thuật đánh bộ binh của quân La Mã đã đạt đến đỉnh điểm. Điềm báo ở Carrhae được xác nhận tại Adrianople hơn 4 thế kỷ sau, vào năm 378, kỵ binh mặc giáp sử dụng thương tung đòn kết liễu quân đoàn La Mã. Trong trận chiến này, sử gia người La Mã đương thời – Ammianus Marcellinus – cam đoan số binh sĩ La Mã thương vong chiếm đến 2/3 quân số tham chiến, và đánh giá quân La Mã chưa bao giờ chịu tổn thất lớn như thế kể từ trận đánh ở Cannae.

Trong ít nhất bốn thế kỷ cuối của sáu thế kỷ giữa hai trận đánh này, người La Mã đã gác kiếm, bất chấp cảnh báo tại Carrhae và lặp lại trong những thất bại của Valerian (năm 260) và Julian (năm 363), kỵ binh mặc giáp sử dụng thương của người Ba Tư chính là hung thần của Valens và những quân đoàn La Mã của ông vào năm 378.

Sau trận chiến ở Adrianople, Hoàng đế Theodosius ban thưởng cho các kỵ sĩ người rợ vì thành tích tiêu diệt bộ binh La Mã bằng cách thuê họ lấp vào chỗ trống trong hàng ngũ quân La Mã. Và cho dù chính quyền đế quốc sau này phải trả giá cho chính sách thiển cận này khi chứng kiến kỵ binh người rợ hám lợi chia cắt các tỉnh miền Tây thành các tiểu vương quốc của họ, đội quân thổ dân mới đã cứu các tỉnh miền Đông vào phút chót khỏi con đường diệt vong đó vẫn được vũ trang theo mô hình của người rợ. Uy thế của kỵ binh sử dụng thương kéo dài hơn cả ngàn năm. Thật dễ nhận biết người lính kỵ binh với cây thương, bất kể trong bức bích họa từ thế kỷ 1; trên phù điêu được vua Sasanian khắc vào vách đá; trên tượng đất sét miêu tả kỵ binh Viễn Đông chiến đấu với đội quân của nhà Tống (618-907); hoặc trên thảm thêu thế kỷ 11 tại Bayeux nói về thất bại của bộ binh Anh thời đó trước các hiệp sĩ Norman của vua William.

Nếu ngạc nhiên về sự phổ biến và lâu dài của kỵ binh mặc giáp sử dụng thương, thì cũng xin lưu ý hình thức này chỉ phổ biến khi đã được cải tiến. Một chứng nhân đã kể câu chuyện về thất bại của anh ta.

“Tôi tham gia đội quân của phó đô đốc khi ông tới gặp người Tatar ở bờ tây Baghdad nhân trận đánh lớn vào năm 1258. Chúng tôi gặp nhau tại Nahr Bashir, một trong những thuộc quốc của Dujayl. Cưỡi ngựa về phía chúng tôi là một hiệp sĩ mặc nhung y đầy đủ và ngồi trên con ngựa giống Ai Cập, trông vững chãi tựa núi thái sơn. Sau đó, cưỡi ngựa từ phía quân Mông Cổ tới gặp anh ta là một kỵ sĩ ngồi trên con ngựa giống như con lừa, với cây thương giống như con suốt trên tay, không mặc nhung y hay áo giáp, khiến ai trông thấy anh ta cũng phải bật cười. Tuy nhiên, chiến thắng đã thuộc về những kẻ bị nhạo báng nọ, và họ đã khiến chúng tôi đại bại”.[16]

Cuộc chạm trán huyền thoại giữa Goliath và David vào buổi đầu lịch sử Syria đã lặp lại sau 23 thế kỷ; và cho dù lần này gã khổng lồ và chàng tí hon đều ngồi trên lưng ngựa, nhưng kết cục trận đấu vẫn không xoay chuyển.

Đội quân Tatar đã chiến thắng kỵ binh mặc giáp sử dụng thương Iraq và cướp phá Baghdad ấy là kỵ binh bắn cung theo kiểu Nomad (dân du mục) khét tiếng ở vùng Tây Nam Á vào giữa thế kỷ 8 và 7 trước CN. Nhưng nếu David là quân Tatar trên lưng ngựa làm Goliath cũng cưỡi ngựa chưng hửng lúc bắt đầu xâm nhập từ thảo nguyên Âu-Á, kết quả cuộc chạm trán trong lần lặp lại này cũng y như trước. Chúng ta thấy binh sĩ mặc áo giáp bị cây ná của David hạ gục sau này không được thay bằng chính David, mà là đội hình phalanx có kỷ luật của Goliath. Quân khinh kỵ Mông Cổ của đại hãn Hulagu – người chiến thắng các hiệp sĩ của ‘Abbasid Caliph dưới chân thành Baghdad – đã liên tiếp bị các Mamluk của Ai Cập đánh bại. Trong bộ binh trang của mình, các Mamluk trang bị chẳng thua gì hiệp sĩ Do Thái – những người đã đại bại bên ngoài Baghdad – nhưng về chiến thuật, họ tuân theo kỷ luật đã giúp họ chiếm ưu thế trước các nhà thiện xạ Mông Cổ và những hiệp sĩ thánh chiến người Frank. Các hiệp sĩ của thánh Louis đã thất bại ở Mansurah 10 năm trước khi người Mông Cổ nhận được bài học đầu tiên cũng từ bậc thầy đó.

Đến gần thế kỷ 13, sau khi đã thể hiện ưu thế trước người Pháp và người Mông Cổ, các Mamluk chiếm ưu thế quân sự ngang ngửa với quân La Mã. Cũng như quân La Mã ở vị thế nổi trội nhưng đã suy yếu, các Mamluk dần buông lỏng tay kiếm. Một sự trùng hợp kỳ lạ là trong suốt thời gian ỷ vào ưu thế quân sự, các Mamluk không hề biết rằng kẻ thù cũ đã trang bị kỹ thuật mới. Cũng như chiến thắng Pydna cách chiến thắng Adrianople 546 năm, 548 năm sau chiến thắng của Mamluk trước thánh Louis là thất bại của chính ông ta trước người kế vị thánh Louis – Napoleon. Trong suốt 5 thế kỷ rưỡi này, bộ binh đã chiếm ưu thế trở lại. Cung bắn tên gắn lông chim của người Anh đã cho phép bộ binh của David đánh bại kỵ binh cưỡi ngựa của Goliath tại Crécy, và chiến thắng càng rực rỡ bởi phát minh ra súng ống và hệ thống kỷ luật vay mượn của vệ binh Thổ Nhĩ Kỳ.

Tiếp theo sự diệt vong của Mamluk, những kẻ sống sót sau cuộc tấn công của Napoleon và Mehmed ‘Ali 13 năm sau đã lui về thượng sông Nile, truyền lại vũ khí và kỹ thuật cho kỵ sĩ phụng sự Khālifah ở Mahdi, người bị đánh bại dưới hỏa lực của bộ binh Anh ở Omdurman năm 1898.

Quân Pháp đánh bại Mamluk khác với phiên bản mô phỏng vệ binh Thổ Nhĩ Kỳ. Nó là sản phẩm mới của người Pháp, và được Frederick đại đế hoàn thiện. Tuy nhiên, quân Pháp đánh thắng quân Phổ tại Jena là nhờ sử dụng nhóm thiên tài quân sự và chính trị người Phổ trong thành tựu kết hợp số lượng mới với kỷ luật cũ. Kết quả báo trước vào năm 1813, và hé lộ vào năm 1870. Tuy nhiên, ở vòng tiếp theo, cỗ máy chiến tranh của quân Phổ đã lôi kéo Đức và đồng minh đi đến thất bại do khơi dậy phản ứng khó lường dưới hình thức vây hãm trên quy mô chưa từng thấy. Năm 1918, các phương pháp của năm 1870 trở thành phương pháp mới là phong tỏa kinh tế và đào hào quân sự. Đến năm 1945, nó tỏ ra là kỹ thuật thắng thế, nhưng Thế chiến thứ I không phải là mắt xích cuối cùng trong chuỗi mắt xích dài vô tận này. Mỗi mắt xích là một chu kỳ phát minh, chiến thắng, suy tàn, và thất bại; và dựa vào những tiền lệ trong hơn 3.000 năm lịch sử, từ cuộc chạm trán của Goliath với David đến khi chọc thủng phòng tuyến Maginot nhờ nhát đâm của kỵ binh cơ khí và tài thiện xạ của các cung thủ trên chiến mã có cánh, chúng ta có thêm nhiều minh họa để làm mới chủ đề đơn điệu này.

(6) SỰ TỰ SÁT CỦA CHỦ NGHĨA QUÂN PHIỆT

κόρος, ὕβρις, ἄτη

Sau khi kết thúc phần nghiên cứu về sự thụ động trong việc không chống nổi hậu quả của sự mô phỏng sáng tạo, chúng ta chuyển sang khảo sát sự sai lầm tích cực được mô tả trong ba từ Hy Lạp κόρος, ὕβρις, ἄτη. Những từ này có nghĩa khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, κόρος có nghĩa là “thừa mứa”, ὕβρις có nghĩa là “hành vi tàn bạo”, và ἄτη có nghĩa là “tai họa”.[17]

Về mặt chủ quan, κόρος có nghĩa là tâm lý trì trệ do thành công; ὕβρις có nghĩa là mất thăng bằng tâm lý và tinh thần; còn ἄτη là ngoan cố mù quáng không kiểm soát được dẫn đến mất thăng bằng tinh thần và những nỗ lực bất khả thi. Tai họa tâm lý tích cực này trong ba hành vi là chủ đề chung nhất – có thể khảo sát qua một lô kiệt tác hiện có – trong bi kịch Athens thế kỷ 5. Đây là câu chuyện về Agamemnon trong vở kịch cùng tên của Aeschylus, của Xerxes trong Persae; câu chuyện về Ajax trong vở kịch cùng tên của Sophocles, của Oedipus trong Bạo chúa Oedipus, và của Creon trong Antigone. Nói theo ngôn ngữ của Plato:

“Nếu ai đó đi ngược lại quy luật về tỷ lệ và cho vật quá nhỏ mang vật quá lớn – chẳng hạn cánh buồm quá lớn cho chiếc tàu quá nhỏ, bữa ăn quá nhiều cho người quá nhỏ bé, quyền lực quá lớn cho một tinh thần quá hẹp hòi – kết quả sẽ là sự xáo trộn hoàn toàn. Khi ὕβρις bột phát, người ăn quá nhiều sẽ sớm lâm bệnh, còn tay viên chức quèn ra dáng ta đây sẽ sớm đánh mất lương tâm”.[18]

Để nêu ra sự khác biệt giữa phương pháp phá hủy tích cực và tiêu cực, chúng ta hãy bắt đầu cuộc nghiên cứu về tương quan κόρος – ὕβρις – ἄτη trong lĩnh vực quân sự, mà chúng ta vừa “dừng chân tạm nghỉ” cách đây không lâu.

Cả hai mối quan hệ đều tình cờ được minh họa trong hành vi của Goliath. Một mặt, chúng ta thấy Goliath gánh chịu số phận bất hạnh qua việc ôm khư khư kỹ thuật đánh bộ binh cá nhân từng vô địch một thời mà không thấy trước kỹ thuật mới ưu việt hơn được David ứng dụng trong khi chiến đấu với hắn. Goliath lẽ ra đã tránh được sự diệt vong trong tay của David nếu sự nhút nhát chỉ đi với tính thụ động tương ứng. Nhưng không may cho Goliath, chủ nghĩa bảo thủ về kỹ thuật lừng lanh một thời đã không có chính sách điều chỉnh; thay vào đó, Goliath chuốc lấy họa khi bước ra thách đấu. Hắn chính là biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt. Những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt quá tự tin vào khả năng tự bảo vệ mình trong hệ thống xã hội – hoặc phản xã hội – trong đó, mọi cuộc tranh chấp đều được dàn xếp bằng gươm đao tới mức lấy sức mạnh làm luật pháp. Theo hắn, chiến thắng là bằng chứng cuối cùng về quyền năng vô hạn của gươm đao. Nhưng hóa ra trong chương tiếp theo của câu chuyện, hắn lại bị một người theo chủ nghĩa quân phiệt mạnh hơn mình đánh bại. Hắn đã chứng minh một luận điểm mà hắn chưa từng biết đến: “Kẻ nào sử dụng gươm đao sẽ chết dưới gươm đao”.

Với lời giới thiệu ngắn gọn trên đây, chúng ta có thể chuyển từ cuộc đối đầu huyền thoại trong thần thoại Syria cổ sang khảo sát một vài ví dụ thực tế trong lịch sử.

Assyria

Sự suy tàn của cường quốc quân sự Assyria vào năm 614-610 trước CN là một trong những sự kiện được biết đến trọn vẹn nhất trong lịch sử. Nó không chỉ liên quan đến sự tiêu vong của cỗ máy chiến tranh Assyria mà còn cả xã hội Assyria. Cộng đồng tồn tại hơn 2.000 năm và đóng vai trò thống trị mạnh hơn cả ở Tây Nam Á suốt 250 năm đã bị xóa sổ gần như hoàn toàn. 210 năm sau, khi 10.000 lính đánh thuê Hy Lạp của Cyrus em rút quân từ chiến trường Cunaxa đến bờ biển đen lên thung lũng Tigris, họ đã liên tiếp đi qua các địa điểm Calah và Nineveh, và lấy làm ngạc nhiên trước các công sự và pháo đài bỏ không. Tính chất huyền bí của những “vỏ kiếm rỗng” này đã được quân viễn chinh Hy Lạp kể lại sống động. Tuy nhiên, ngạc nhiên hơn là Xenophon không nghiên cứu được những điều cơ bản nhất về lịch sử đích thực của các thành phố pháo đài vô chủ này. Mặc dù toàn bộ vùng Tây Nam Á trải dài từ Jerusalem đến Ararat và từ Elam đến Lydia đã bị chủ nhân của những thành phố này thống trị hơn 2 thế kỷ trước khi Xenophon đi qua, nhưng nguyên nhân khả dĩ nhất mà ông đưa ra chẳng dính dáng gì đến lịch sử thật sự, và ông không biết đến cái tên Assyria.

Thoạt tiên, có vẻ khó nhận thức thấu đáo số phận của Assyria. Không thể kết án những người theo chủ nghĩa quân phiệt Assyria là “buông lơi tay kiếm” như người La Mã, Macedonia và Mamluk. Khi lâm nạn, những cỗ máy chiến tranh khác đã cổ lỗ sĩ và vô phương cứu chữa. Trái lại, cỗ máy chiến tranh Assyria không ngừng được đại tu, nâng cấp, và gia cố cho đến ngày bị hủy diệt. Những thiên tài quân sự sản sinh ra bộ binh trang bị nặng vào thế kỷ 14 trước CN, trước khi người Assyria chiếm ưu thế ở Tây Nam Á, và kỵ binh bắn cung ở thế kỷ 7 trước CN, trước khi Assyria bị diệt vong, cũng đóng góp nhiều trong suốt 7 thế kỷ. Tài sáng chế mãnh liệt và ham cải tiến không ngừng nghỉ được chứng thực chắc chắn qua một loạt phù điêu, được tìm thấy đúng chỗ của nó trong hoàng cung, trong đó ghi lại chi tiết bằng hình ảnh các kỹ thuật và thiết bị quân sự trong suốt ba thế kỷ cuối của lịch sử Assyria. Ở đây, chúng ta còn tìm thấy các ghi chép về những thử nghiệm và cải tiến áo giáp, thiết kế chiến xa, phương tiện tấn công, và sự phân biệt của các đơn vị quân sự đặc nhiệm. Vậy nguyên nhân nào khiến Assyria diệt vong?

Thứ nhất, chính sách tấn công liên tục và việc sở hữu phương tiện thực thi chính sách này đã khiến cho các tướng lĩnh Assyria thuộc giai đoạn chủ nghĩa quân phiệt thứ tư táo bạo đưa quân đi đánh xa ngoài biên giới. Assyria cũng hưởng ứng theo lời kêu gọi huy động tiềm lực quân sự vào nhiệm vụ canh gác biên giới Babylon, chống lại người rợ vùng cao Zagros và Taurus ở bên này, và người Aramaea tiên phong của nền văn minh Syria ở bên kia. Trong ba đợt chủ nghĩa quân phiệt trước, Assyria đã thỏa ước nguyện chuyển từ thế phòng thủ sang thế tấn công trên hai mặt trận mà không uổng phí lực lượng theo các hướng khác nhau. Đợt thứ ba (khoảng giữa thế kỷ 9 trước CN) liên minh lâm thời Syria được thành lập ngăn bước tiến của quân Assyria ở Qarqar vào năm 853 trước CN, và quân Assyria vấp phải đòn phản công dữ dội hơn của vương quốc Urartu ở Armenia. Mặc cho những dấu hiệu cảnh báo này, khi phát động cuộc tấn công cuối cùng, Tiglath-Pileser III (746-727 trước CN) đã nuôi tham vọng chính trị và nhắm đến các mục tiêu quân sự đưa Assyria tới đối đầu với ba kẻ thù mới – Babylon, Elam và Ai Cập – vốn có tiềm lực quân sự mạnh chẳng kém gì Assyria.

Tiglath-Pileser gây mâu thuẫn với Ai Cập khi cố hoàn thành công cuộc chinh phục các tiểu vương quốc Syria bởi Ai Cập không thể khoanh tay đứng nhìn Đế quốc Assyria xâm lấn đất đai của mình. Họ buộc phải làm thất bại âm mưu xây dựng Đế quốc Assyria trừ phi quân Assyria thay đổi ý định dấn thân vào cuộc chiến chinh phục Ai Cập. Sự chiếm đóng đất Philistine của Tiglath-Pileser vào năm 734 trước CN có lẽ là nước bài mang tính chiến lược, đem lại sự quy phục tạm thời của Samaria vào năm 733 và sự sụp đổ của Damascus vào năm 732 trước CN. Tuy nhiên, việc này đã dẫn đến cuộc chạm trán chớp nhoáng của Sargon với quân Ai Cập năm 720 và quân Sennacherib năm 700, và những cuộc đụng độ không có kết quả này dẫn đến sự chinh phục và chiếm đóng Ai Cập của Esarhaddon trong các năm 675, 674 và 671 trước CN. Tuy quân Assyria đủ sức đánh tan tác binh lính và chiếm đóng Ai Cập, nhưng họ không đủ sức khuất phục người dân Ai Cập. Trong lúc dẫn quân tái xâm chiếm Ai Cập, Esarhaddon qua đời năm 669. Cho dù sau đó Asshurbanipal đã dập tắt cuộc khởi nghĩa của người Ai cập vào năm 667, ông vẫn phải chinh phục nó thêm một lần nữa vào năm 663. Khi Psammetichus kín đáo trục xuất các đơn vị đồn trú Assyria năm 658-651, Asshurbanipal vờ như không biết chuyện gì xảy ra. Qua việc hạn chế những tổn thất ở Ai Cập, vua Assyria rõ ràng rất sáng suốt. Thế nhưng, sự sáng suốt sau sự kiện đó là sự thất bại và uổng phí sức lực cho 5 chiến dịch ở Ai Cập. Hơn nữa, mất Ai Cập là khởi đầu cho việc mất Syria tiếp theo.

Hậu quả do Tiglath-Pileser can thiệp vào Babylon nghiêm trọng hơn nhiều so với chính sách tiến bộ của ông ta ở Syria, vì qua một chuỗi nhân quả, chúng đã dẫn đến kết cuộc bi thảm vào năm 614-610 trước CN.

Trong giai đoạn đầu quân Assyria xâm lược Babylon, có bằng chứng cho thấy đã có sự điều chỉnh chính trị. Cường quốc xâm lăng này thích thiết lập các nước được bảo hộ. Chỉ sau khi nổ ra cuộc khởi nghĩa lớn của người Chaldaea vào năm 694-698 trước CN, Sennacherib mới chính thức kết liễu nền độc lập của Babylon bằng cách đưa con trai của mình và người kế vị – Esarhaddon – lên làm phó vương Assyria. Tuy nhiên, chính sách tiết chế này không thu phục được người dân Chaldaea, trái lại khuyến khích họ trả đũa hiệu quả hơn những thách thức quân sự của Assyria. Trước những đòn chí mạng của chủ nghĩa quân phiệt Assyria, người Chaldaea tạo ra tình trạng hỗn loạn trong chính ngôi nhà của mình và siết chặt liên minh với vương quốc Elam láng giềng. Và trong giai đoạn tiếp theo, hành động từ bỏ chính sách tiết chế chính trị và cướp phá Babylon năm 689 đã dạy cho họ một bài học ngược lại. Trong hoàn cảnh sục sôi căm thù, hành động tàn bạo của quân Assyria đã khiến dân thành thị, dân du mục Chaldaea, thường dân, và bộ lạc quên đi mối ác cảm lẫn nhau và hợp lại trong một quốc gia Babylon mới không bao giờ ngơi nghỉ cho đến khi đánh đổ kẻ áp bức.

Tuy nhiên, trong phần lớn thế kỷ, cỗ máy quân sự Assyria chỉ có thể trì hoãn một thảm họa khó tránh. Ví dụ, trong năm 639, Elam bị giáng một đòn trí mạng tới mức lãnh thổ vô chủ rơi vào ách thống trị của dân vùng cao Ba Tư và trở thành bàn đạp cho Achaemenidae làm chủ toàn bộ Tây Nam Á một thế kỷ sau. Nhưng ngay sau khi Asshurbanipal băng hà vào năm 626, người Babylon lại nổi dậy lần nữa dưới sự lãnh đạo của Nabopolassar, người tìm thấy trong vương quốc Media mới một đồng minh tiềm năng hơn Elam; và trong 16 năm, Assyria bị xóa tên khỏi bản đồ.

Khi nhìn lại 150 năm chiến tranh, bắt đầu từ sự lên ngôi của Tiglath-Pileser năm 745 trước CN đến kết thúc bằng chiến thắng của người Babylon trước Pharaoh Necho tại Carchemish năm 605, các cột mốc lịch sử nổi bật ban đầu là những đòn đánh hủy diệt các cộng đồng của quân Assyria – san bằng các thành phố và bắt đem đi toàn bộ dân cư: Damascus năm 732, Samaria năm 722, Musasir năm 714, Babylon năm 689, Sidon năm 677, Memphis năm 671, Thebes năm 663, Susa vào khoảng năm 639. Trong hết thảy thủ phủ của tất cả quốc gia nằm trong tầm tay của quân Assyria, chỉ có Tyre và Jesusalem là không bị xâm phạm vào thời điểm cướp phá Nineveh năm 612. Assyria gây không biết bao nhiêu đau thương tan tóc cho các nước láng giềng; lời xoa dịu giả dối của thầy giáo phạt đánh học trò - “Con không đau bằng ta đau” – sẽ là lời phê bình thích đáng cho luận điệu ngang ngược tự mãn của các tướng lĩnh Assyria về những hành động quân sự của mình. Tất cả nạn nhân của quân Assyria đều gắng sức hồi sinh, một số có tương lai tươi sáng phía trước. Chỉ riêng Nineveh chẳng bao giờ đứng lên được nữa.

Không quá khó để tìm lý do cho sự trớ trêu của số phận. Đằng sau vẻ ngoài chiến thắng, Assyria đã dần tự sát. Tất cả những điều đã biết về lịch sử Assyria trong suốt giai đoạn đó đã cung cấp những bằng chứng về tính không ổn định của chính trị, thất bại kinh tế, văn hóa suy đồi, và giảm dân số lan rộng. Tiếng Syria bị thay bằng tiếng địa phương Akkadian ở quê hương Assyria trong 150 năm qua cho thấy, người Assyria đang bị những tù nhân của cung tên giáo mác thay thế trong thời kỳ tiềm lực quân sự Assyria hưng thịnh nhất. Chiến binh bất khuất bị dồn vào đường cùng tại Nineveh năm 612 là những “xác chết mặc giáp” chỉ đứng vững nhờ tính đồ sộ của bộ nhung y. Khi toán đột kích người Media và Babylon tiếp cận những thân hình cứng đờ đầy hăm dọa và quật ngã, họ không ngờ kẻ thù không còn sống vào giây phút nhận cú đánh quyết định.

Hoạt cảnh “Tử thi mặc giáp” gợi lên hình ảnh đội hình Sparta trên chiến trường Leuctra năm 371 trước CN, và lính Thổ Nhĩ Kỳ trên chiến hào trước thành Vienna năm 1683. Số phận trớ trêu của người theo chủ nghĩa quân phiệt quá hiếu chiến đến mức tự hủy hoại mình gợi nhớ lại sự tự diệt vong của người Carolingia hay người Timurid. Họ đã xây dựng đế chế hùng mạnh từ nỗi thống khổ của nạn nhân Saxon và Ba Tư, để rồi cung cấp chiến lợi phẩm cho kẻ gian hùng Scandinavia hay Usbeg, cho đến ngày những kẻ này chớp lấy thời cơ khi những nhà xây dựng đế chế trả giá cho chủ nghĩa đế quốc của mình. Một hình thức tự sát khác là sự tự hủy hoại của người theo chủ nghĩa quân phiệt, bất kể là người rợ hay dân tộc văn minh hơn, người chia cắt nhà nước chung hay đế quốc hùng mạnh khác đã gieo hòa bình cho các dân tộc được bảo hộ. Kẻ xâm lược đã xé không thương tiếc hoàng bào ra thành từng mảnh và để lộ hàng triệu chỗ nương náu cho nỗi kinh hoàng bóng tối và hình bóng cái chết; tuy nhiên, hình bóng cái chết đeo bám cả kẻ tội phạm lẫn nạn nhân. Tối mắt trước những chiến lợi phẩm, chủ nhân mới của thế giới bị cướp đoạt hay tổ chức “lễ truy điệu” cho nhau, cho đến khi không còn tên nào trong bọn có thể hưởng những gì đã cướp được.

Quân Macedonia sau khi giày xéo Đế quốc Achaemenid và mở rộng bờ cõi đến Ấn Độ đã quay sang tàn sát lẫn nhau trong suốt 42 năm, từ khi Alexander qua đời năm 323 trước CN cho đến lúc đánh bại Lysimachus tại Corupedium năm 281. Một ngàn năm sau, lịch sử lặp lại khi người Ả Rập gốc Do Thái cổ tràn qua những lãnh địa của người La Mã và người Sasania ở Tây Nam Á. Hành động cướp bóc của người Ả Rập đã kéo theo 24 năm huynh đệ tương tàn. Một lần nữa, những kẻ xâm lược đã gục ngã dưới lưỡi kiếm của nhau, công việc tái thiết nhà nước chung Syria nhường lại cho người Umayyad và người Abbasid thay vì rơi vào tay con cháu của Mohammed (người sáng lập ra đạo Hồi). Những người rợ tràn qua các tỉnh vô chủ của Đế quốc La Mã đã bộc lộ phong cách chủ nghĩa quân phiệt tự sát của người Assyria.

Ngoài ra, chúng ta còn tìm thấy bóng dáng chủ nghĩa quân phiệt của người Assyria khi hình dung Assyria trong bối cảnh là một bộ phận không thể thiếu của xã hội Babylon. Trong xã hội này, Assyria là đội quân đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ chính mình cũng như phần thế giới của dân vùng cao phương Bắc và phương Đông, và của những người tiên phong hung hãn trong xã hội Syria phương Nam và phương Tây. Khi đội quân này hòa hợp với cơ cấu xã hội chưa phân hóa trước kia, xã hội quan tâm đến lợi ích của mọi thành viên. Do đó quân đội được khuyến khích để đáp lại thành công thách thức đến từ thế lực bên ngoài, còn trong nước bớt đi áp lực và dồn vào việc đối phó với những thách thức và nhiệm vụ khác. Phân chia lao động bị phá vỡ khi dân vùng biên giới biến đội quân chống ngoại xâm thành phương tiện thỏa mãn tham vọng. Điều này tất yếu dẫn đến nội chiến, và lý giải những thất bại theo sau hành động cho quân Assyria chống lại người Babylon của Tiglath-Pileser III năm 745 trước CN. Hành động kém khôn ngoan nói trên đã gây họa cho xã hội nói chung, cũng như cho chính dân vùng biên giới nói riêng. Việc làm này giống như người tiều phu đốn cành cây mà mình đang đứng trên đó, và thế là rơi xuống đất cùng với nó trong khi thân cây bị đốn vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.

Charlemagne

Có lẽ chính mối nghi ngại về việc sử dụng sai mục đích các nguồn lực đã khiến người Frank gốc Áo kịch liệt phản đối quyết định hưởng ứng của Pepin trước lời kêu gọi của Giáo hoàng Stephen chống lại đồng hữu Lombard năm 754 trước CN. Giáo hoàng để mắt tới đất nước bên kia núi Alpes này, và khuấy động những tham vọng của Pepin bằng cách tôn ông ta lên làm vua, nhờ vậy hợp thức hóa quyền lực của ông ta trên thực tế. Lý do là người Áo ở Pepin nổi lên nhờ phục vụ trên hai mặt trận: chống lại người Saxon ngoại giáo ở bên kia Rhine, và chống lại kẻ xâm lược Ả Rập gốc Do Thái trên bán đảo Iberia. Năm 754 trước CN, người Áo chuyển hướng sang tiêu diệt người Lombard đang cản trở những tham vọng chính trị của Giáo hoàng. Nỗi e sợ của binh lính Áo về việc làm khó khăn này thể hiện trong một sự kiện đầy sức thuyết phục: không thèm đếm xỉa đến nỗi bất bình của nhân dân và binh lính, Pepin rèn mắt xích đầu tiên trong chuỗi mắt xích chính trị và quân sự ràng buộc Áo chặt hơn với Ý. Chiến dịch của người Ý năm 755-756 dẫn đến chiến dịch năm 773-774 trước CN của Charlemagne, làm gián đoạn cuộc chinh phục Saxon mà Charlemagne vừa dấn thân vào. Sau đó, trong suốt 30 năm, những hành động của Charlemagne ở Saxon bị gián đoạn không ít hơn 4 lần do các cuộc khủng hoảng ở Ý đòi hỏi ông phải có mặt kịp thời. Những tham vọng đầy mâu thuẫn của Charlemagne đã đặt gánh nặng lên thần dân Áo của ông ta.

Timur Lenk

Thay vì dồn sức mạnh ít ỏi vào sứ mệnh đem lại hòa bình cho dân du mục lai Âu Á, Timur lại hao tiền tốn của cho các cuộc viễn chinh không mục đích đến Iran, Irắc, Ấn Độ, Anatolia và Syria. Transoxania là đội quân của xã hội Iran chống lại thế giới dân du mục lai Âu Á, và trong suốt 19 năm đầu trị vì (1362-1380), Timur đã tham gia vào công việc canh phòng. Ông đẩy lùi và sau đó tấn công dân du mục lai Âu Á, xây dựng lãnh địa riêng bằng cách giải phóng các ốc đảo Khwarizm ở Hạ Oxus khỏi dân du mục. Khi hoàn thành nhiệm vụ vĩ đại này vào năm 1380, Timur có chiến lợi phẩm lớn hơn trong tầm tay – không ít hơn sự thừa kế Đế quốc Âu Á của Khan Chingis. Vào thời của Timur, dân du mục rút lui trên mọi lĩnh vực, và chương tiếp theo trong lịch sử Âu Á là cuộc chạy đua giữa các dân tộc hồi sinh. Trong cuộc cạnh tranh này, người Moldavia và người Lithuania quá tách biệt tới mức không tham gia vào cuộc chạy đua; người Nga hợp với rừng núi, còn người Trung Hoa thì hợp với ruộng đồng. Người Cossack và người Transoxania chỉ là những kẻ cạnh tranh thành công trong việc chiếm cứ trên thảo nguyên, không chịu từ bỏ tận gốc lối sống tĩnh tại. Dường như người Transoxania sở hữu cơ hội tốt hơn vì có những người ủng hộ tiềm năng trong các cộng đồng Hồi giáo là tiền đồn của đạo Hồi trên các bờ biển trước mặt thảo nguyên.

Timur có vẻ quyết tâm nắm bắt cơ hội của mình, nhưng sau vài nước cờ sơ bộ táo bạo và sáng suốt, ông đã hướng sức mạnh của mình vào bên trong thế giới Iran, và dành gần 24 năm cuối đời vào một loạt chiến dịch phá hoại không đem lại kết quả. Những chiến thắng tuy kinh thiên động địa nhưng kết quả là một sự tự sát.

Sự tự mâu thuẫn với chính mình của Timur là một điển hình về tự sát. Đế chế của ông chẳng những yểu mệnh mà còn không đem lại kết quả khả quan nào. Kết quả được biết chỉ toàn tiêu cực. Quét sạch mọi thứ trên đường đi để lao đầu tới sự tự hủy diệt, chủ nghĩa đế quốc của Timur tạo ra khoảng không chính trị và xã hội ở Tây Nam Á. Khoảng không này đã hút người Osmanli và người Safawī vào cuộc xung đột làm sụp đổ hoàn toàn xã hội Iran.

Xã hội Iran mất quyền thừa kế thế giới du mục thể hiện trước tiên trên lĩnh vực tôn giáo. Xuyên suốt 4 thế kỷ và kết thúc ở thế hệ của Timur, đạo Hồi đã có ảnh hưởng lên các dân tộc quanh bờ biển thuộc thảo nguyên Âu Á và dân du mục. Đến thế kỷ 14, dường như chẳng có gì ngăn cản đạo Hồi trở thành tôn giáo của tất cả người lai Âu Á. Nhưng sau khi Timur khởi nghiệp, đạo Hồi ở Âu Á đi đến hồi thoái trào, và hai thế kỷ sau, dân Mông Cổ và dân Calmuck đổi sang hình thức Lạt ma giáo của phái Đại thừa Phật giáo. Chiến thắng đáng kinh ngạc của đời sống tôn giáo lỗi thời trong nền văn minh Ấn Độ mai một từ lâu cho thấy mức độ thanh thế của đạo Hồi trong lòng dân du mục lai Âu Á trong hai thế kỷ trôi qua kể từ thời của Timur.

Nếu Timur không quay lưng lại với dân lai Âu Á và đánh Iran năm 1381, mối quan hệ hiện tại giữa người Transoxania và người Nga có lẽ đã khác. Nước Nga ngày nay có lẽ đã thuộc đế quốc rộng lớn chẳng kém gì Liên Xô cũ nhưng có trọng tâm khác hẳn – Đế quốc Iran trong đó Samarqand sẽ cai trị Matxcova, chứ không phải Matxcova cai trị Samarqand. Hình ảnh tưởng tượng này có vẽ lạ lẫm vì tiến trình sự kiện trong 550 năm qua đã đi theo hướng khác, song ít nhất bức tranh sẽ thay đổi nếu chúng ta thay thế tiến trình lịch sử phương Tây trên giả thuyết là sức mạnh quân sự của Charlemagne không gây tác hại lên nền văn minh phương Tây cũng giống như Timur đã làm cho Iran. Tương tự, chúng ta phải hình dung người Magyar nhận chìm người Áo, và người Viking nhận chìm người Neustria trong bóng tối của thế kỷ 10. Về sau, Đế quốc Carolingian vẫn còn dưới ách cai trị của người rợ mãi cho đến khi người ‘Osmanli nhảy vào áp đặt sự thống trị xa lạ ít hà khắc hơn vào thế kỷ 14.

Tuy nhiên, hành động hủy hoại lớn nhất của Timur là những việc làm chống lại chính y. Tên tuổi Timur trở nên bất tử với những việc làm rùng rợn của y trong tâm trí hậu thế. Đối với bao nhiêu người theo đạo Cơ Đốc hay đạo Hồi, tên tuổi của Timur có gợi lên hình ảnh người chiến sĩ chống lại sự man rợ, người đã đưa dân tộc đến chiến thắng gian nan vào cuối cuộc đấu tranh giành độc lập kéo dài suốt 19 năm hay không? Câu trả lời là không. Với đại đa số dân chúng, nếu cái tên Timur Lenk hay Tamerlane có gợi nhớ điều gì, thì đó là hình ảnh của một kẻ cầm quyền theo chủ nghĩa quân phiệt hiếu chiến, kẻ trong vòng 24 năm đã gây ra những nỗi kinh hoàng ngang bằng với năm vị vua Assyria cuối cùng gây ra trong 120 năm. Người ta nghĩ tới con quái vật đã san bằng Isfarain vào năm 1381; đắp 2.000 tù nhân thành một gò cao rồi xây gạch bít lại tại Sabzawar năm 1383; xếp 5.000 đầu người thành tháp ở Zirih trong cùng năm đó; ném các tù nhân Luri còn sống lên các vách đá năm 1386; tàn sát 70.000 người và xếp đầu người chết thành tháp ở Isfahan năm 1387; tàn sát 100.000 tù nhân tại Delhi năm 1398; chôn sống 4.000 binh sĩ Cơ Đốc giáo đóng quân tại Sivas sau khi họ đầu hàng năm 1400; và xây 20 tháp sọ người tại Syria năm 1400 và 1401. Trong thâm tâm, những người biết Timur qua những hành vi như vậy chắc chắn sẽ coi y là ác quỷ của thảo nguyên – một Chingis hoặc một Attila và những nhân vật tương tự. Chứng hoang tưởng tự đại trầm trọng của tên sát nhân điên loạn luôn muốn gây ấn tượng với nhân loại bằng sức mạnh quân sự đã bị vạch trần bởi những lời mà nhà thơ người Anh Marlowe đã đặt vào miệng nhân vật Tamburlaine của ông:

Thần chiến tranh trao cho ta ngọn giáo,

Biến ta thành thống soái thế giới này;

Jupiter, khi thấy ta trong bộ binh trang,

Cũng trở nên xanh xao, vàng vọt,

Vì e sợ rằng sức mạnh của ta

Sẽ lôi y xuống khỏi ngai vàng.

Chân ta đi đến đâu là hoang tàn chết chóc,

Được rắc gieo khắp chốn cùng nơi,

Còn gì đứng vững trước lưỡi gươm hùng mạnh. …

Hàng triệu linh hồn ngồi trên bờ sông Styx,

Mòn mỏi ngóng chờ thuyền Charon quay trở lại,

Địa ngục kia chật cứng những hồn ma,

Tác phẩm của ta trên chiến trường vĩ đại,

Để đưa danh tiếng ta lan truyền từ hỏa ngục

Mang vinh quang tới thẳng thiên đàng.[19]

Bá tước hóa thành thổ phỉ

Khi phân tích sự nghiệp của Timur, Charlemagne, và các vị vua Assyria sau này, chúng ta thấy sự giống nhau trong cả ba trường hợp. Tài nghệ quân sự được xã hội trao cho dân vùng biên giới để chống ngoại xâm đã biến thành căn bệnh của chủ nghĩa quân phiệt khi nó đi quá giới hạn cho phép và xoay sang chống lại đồng bào mình. Sau đây là một số ví dụ khác về căn bệnh xã hội này.

Người Mercia được nước Anh giao phó nhiệm vụ chống lại xứ Wales đã xoay sang chống lại các thành phố Anh khác thuộc Đế quốc La Mã; vương quốc Plantagenet thuộc Anh tìm cách chinh phục vương quốc Pháp anh em thay vì tham gia vào công cuộc mở rộng bờ cõi của mẫu quốc. Vua Roger ở Sicily đưa quân đi mở rộng lãnh địa của mình ở Ý thay vì thực hiện di nguyện của tổ tiên là mở rộng biên giới quốc gia theo đạo Cơ Đốc phương Tây ở Địa Trung Hải. Tương tự, các đơn vị tiền đồn người Mycenaea thuộc nền văn minh Mino ở lục địa châu Âu đã lợi dụng chiến thắng chống quân rợ để quay sang xâu xé mẫu quốc Crete.

Trong thế giới Ai Cập, quân miền Nam ở lưu vực sông Nile tự thao luyện binh mã để thi hành nhiệm vụ ngăn rợ Nubian ở thượng lưu, nhưng rồi trở mặt chống lại các cộng đồng trong nước và thành lập vương quốc liên hiệp hai vua bằng vũ lực. Hành động quân sự này đã được chính thủ phạm miêu tả với đầy vẻ tự mãn trong văn thư cổ về nền văn minh Ai Cập. Narmer bước sau hàng người cầm cờ hiệu, giữa hai dãy xác kẻ thù bị chặt đầu, một chân đẫm lên chúng và một chân đạp đổ tường thành. Chữ viết đi kèm liệt kê chiến lợi phẩm gồm 120 nghìn người bị bắt, 400 nghìn con bò, và 1.422.000 dê cừu.

Toàn bộ bi kịch về chủ nghĩa quân phiệt cứ lặp đi lặp lại kể từ thời Narmer. Có lẽ chua xót nhất là lúc Athens chuyển mình từ “người giải thoát của thần Hellas” sang “thành phố bạo ngược”. Sự lầm lạc này đã mang lại thảm họa chiến tranh cho chính người dân Athens. Lĩnh vực quân sự làm sáng tỏ quy luật về chuỗi κόρος – ὕβρις – ἄτη vì tài thao lược là công cụ dễ gây thương tích cho người lạm dụng chúng. Tuy nhiên, điều gì đúng với hành động quân sự thì cũng đúng với những hoạt động khác của con người. Dù con người có tài cán như thế nào đi chăng nữa, khả năng đó chỉ đủ để hoàn thành những nhiệm vụ nhất định, trông mong nó đem lại hiệu quả vượt bậc sẽ chuốc lấy lầm lạc và tai họa mà thôi. Bây giờ chúng ta chuyển sang chuỗi nhân quả tương tự trong lĩnh vực phi quân sự.

(7) SAY MEN CHIẾN THẮNG

Tòa thánh Vatican

Một trong những hình thức chung hơn trong bi kịch κόρος – ὕβρις – ἄτη là say sưa chiến thắng – bất kể là chiến thắng trong chiến tranh vũ trang hay đấu tranh tinh thần. Có thể minh họa hai biến thể của sự việc này qua lịch sử La Mã: say sưa chiến thắng quân sự sau sự sụp đổ của nền cộng hòa vào thế kỷ 2 trước CN, và say sưa chiến thắng tinh thần sau sự sụp đổ của chế độ Giáo hoàng vào thế kỷ 13. Nhưng do đã đề cập sự sụp đổ của nền cộng hòa La Mã trong mối liên hệ khác, chúng ta sẽ tự hạn chế trong phạm vi chủ đề về sự sụp đổ của chế độ Giáo hoàng. Chương lịch sử tòa thánh Vatican (thể chế vĩ đại nhất trong tất cả thể chế ở phương Tây) mở đầu vào ngày 20/12/1046, hoàng đế Henry III mở hội nghị tôn giáo ở Sutri, và khép lại vào ngày 20/9/1870, đội quân của vua Victor Emmanuel chiếm đóng La Mã.

Nền cộng hòa Cơ Đốc giáo (Respublica Christiana) là một thể chế có tình người độc nhất vô nhị. Nỗ lực làm cho nó mang nét giống với các thể chế trong xã hội khác đã bộc lộ những khác biệt quá cơ bản tới mức các nét giống nhau hóa ra chẳng mang lại lợi ích gì. Nó là phản ứng xã hội và phản kháng tinh thần trước chế độ Giáo hoàng chuyên chế.

Khi Hildebrand đến La Mã cư trú vào giữa thế kỷ 11, ông thấy mình ở nơi định cư vô thừa nhận của Đế quốc La Mã phương Đông. Người La Mã hiện đại đáng khinh về mặt quân sự, bất ổn về mặt xã hội, và thiếu thốn về mặt tài chính và tinh thần. Họ không thể đối đầu với người láng giềng Lombard; họ mất hết đẳng cấp Giáo hoàng trong nước cũng như nước ngoài; và khi đụng vấn đề nâng cao mức sống trong tu viện, họ phải nhờ các thầy tu ở Cluny chỉ vẽ. Nỗ lực đầu tiên khôi phục chế độ Giáo hoàng mang hình thức bổ nhiệm người sống bên kia núi Alps. Ở Đế quốc La Mã bị khinh miệt và xa lạ này, Hilderband và những người nối nghiệp đã thiết lập thành công thể chế chính của dân theo đạo Cơ Đốc phương Tây. Họ lôi kéo về cho Giáo hoàng La Mã một đế quốc có chỗ đứng trong lòng người hơn đế quốc của người Antonine, và trên mặt bằng vật chất đã bao trùm vùng đất Tây Âu rộng lớn, vượt ra khỏi Rhine và Danube, nơi các quân đoàn của Augustus và Marcus Aurelius chưa hề đặt chân tới.

Những cuộc chinh phục này một phần do thể chế cộng hòa Cơ Đốc giáo có biên giới được các Giáo hoàng mở rộng; nó là thể chế gây sự tin tưởng thay vì khơi dậy thái độ thù địch. Nó dựa trên sự kết hợp tính chất giống nhau và chế độ tập trung giáo hội với tính đa dạng và phân quyền chính trị; và do tinh thần cao hơn quyền thế tục là luận điểm chính trong học thuyết lập hiến, kết hợp này ghi nhận tính thống nhất nổi bật mà không lấy khỏi xã hội phương Tây non trẻ các yếu tố tự do và linh hoạt vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình phát triển. Thậm chí ở biên giới Trung Ý, các Giáo hoàng đã cổ vũ phong trào tiến tới quyền tự trị của thành phố độc lập có chủ quyền. Tại bước ngoặc của thế kỷ 12 và 13, khi phong trào dâng cao ở Ý và Giáo hoàng có quyền lực tột đỉnh đối với dân theo đạo Cơ Đốc phương Tây, một nhà thơ xứ Wales đã “chỉ ra rằng … kỳ lạ thay khi lời phê bình của Giáo hoàng, vốn bị coi nhẹ ở Rome, lại làm run rẩy vương trượng của các vị vua của những xứ sở khác”.[20] Giraldus Cambrensis cảm thấy mình đang phơi bày ý kiến ngược đời làm chủ đề cho châm biếm. Tuy nhiên, vào thời kỳ này, sở dĩ phần lớn nhà quý tộc và thành phố độc lập có chủ quyền không ngần ngại thuận theo uy quyền tối cao của Giáo hoàng là vì Giáo hoàng không còn bị nghi ngờ đang tìm cách xâm phạm lãnh địa quyền lực.

Thái độ xa lánh những tham vọng muôn thuở đã kết hợp với việc mạnh dạn khai thác tài quản lý. Tuy ở các nước theo đạo Cơ Đốc Chính thống, tài này áp dụng vào việc làm hồi sinh bóng ma của Đế quốc La Mã, và do đó đè bẹp xã hội Cơ Đốc giáo Chính thống non trẻ dưới sức nặng của thể chế, nhưng các kiến trúc sư của nền cộng hòa Cơ Đốc giáo đã tận dụng hiệu quả tài quản lý của mình nhờ xây dựng cấu trúc nhẹ hơn trên nền móng lớn hơn. Những sợi tơ trong lưới nhện của Giáo hoàng đã kéo những người theo đạo Cơ Đốc phương Tây vào một thể thống nhất không bị ngăn trở. Sau này, khi cứng lại dưới sức ép của sự xung đột, những sợi tơ biến thành xích sắt và đè nặng lên vai các nhà quý tộc địa phương và người dân tới mức họ giận dữ phá bung mọi xiềng xích. Họ đang phá bỏ thể thống nhất toàn thế giới mà Giáo hoàng đã dày công gìn giữ.

Trong công việc sáng tạo của Giáo hoàng, dĩ nhiên không phải là năng lực quản lý hay né tránh những tham vọng vốn là động lực sáng tạo; Giáo hoàng có thể sáng tạo vì không ngại dấn thân vào nhiệm vụ đưa người ta đến những ước muốn một cuộc sống tốt đẹp và phồn thịnh hơn trong xã hội non trẻ. Khát vọng từ giấc mộng hão huyền của thiểu số hay cá nhân cô lập chuyển thành sự nghiệp chung mang tính thuyết phục và khiến mọi người hưởng ứng khi nghe Giáo hoàng đặt cược chúng bằng cơ đồ của tòa thánh Vatican. Nền cộng hòa Cơ Đốc giáo giành thắng lợi nhờ Giáo hoàng tung ra các chiến dịch rửa tội hoang dâm và tham nhũng trong giới tăng lữ, giải phóng đời sống của giáo hội khỏi sự can thiệp của quyền lực, và giải thoát các thánh địa khỏi nanh vuốt của người Thổ đấu tranh cho đạo Hồi. Tuy nhiên, đây không phải là toàn bộ công việc của Giáo hoàng thời Hildebrand; vào những thời điểm căng thẳng quyết liệt nhất, các Giáo hoàng dành tâm trí cho công tác hòa bình.

Giáo phái Hildebrand sụp đổ cũng khác thường như khi ra đời; mọi ưu điểm đưa nó lên cực thịnh dường như đã thay đổi, nó bị dìm xuống bùn đen. Thể chế một thời đấu tranh và chiến thắng trong trận chiến tự do tôn giáo chống lại sức mạnh vật chất giờ bị nhiễm thói xấu. Tòa thánh Vatican từng đi đầu trong cuộc đấu tranh chống lại việc buôn thần bán thánh giờ đây yêu cầu giới tăng lữ phải trả phí thu nhận để được thăng chức tu sĩ. Xưa kia đi đầu trong tiến bộ về luân lý và tri thức, triều chính tòa thánh giáo hội Cơ Đốc giáo La Mã giờ biến mình thành pháo đài của chủ nghĩa bảo thủ tôn giáo. Quyền lực tối cao của giáo hội bị tước đoạt bởi chính công cụ mà Giáo hoàng đã tự nghĩ ra để làm cho nó hiệu quả. Cuối cùng, Giáo hoàng phải bằng lòng với quyền lực khiêm tốn trên một trong những lãnh địa nhỏ bé nhất thuộc đế quốc bị mất của mình. Có thể chế nào trao cơ hội ngàn vàng như thế này cho kẻ thù hay chưa? Đây là ví dụ về sự báo ứng của sáng tạo. Làm sao chuyện này xảy ra và tại sao?

Diễn biến được báo trước tại bước đi đầu tiên trong sự nghiệp của Hildebrand

Những linh hồn sáng tạo của Giáo hội La Mã đã tự đặt cho mình nhiệm vụ giải thoát xã hội phương Tây khỏi tình trạng hỗn loạn thời phong kiến thông qua thiết lập nền Cộng hòa Cơ Đốc giáo đã tự nhận thấy mình lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan giống như những người kế tục họ trong thời đại chúng ta đang cố sức thay tình trạng hỗn loạn quốc tế bằng một trật tự thế giới. Mục tiêu thực chất của những người này là thay sức mạnh vật chất bằng quyền lực tôn giáo, và uy quyền tôn giáo là vũ khí giúp họ giành chiến thắng tuyệt đối. Tuy nhiên, sức mạnh vật chất có vẻ như ở vị thế thách thức uy quyền tôn giáo mà không bị sao cả; và trong những tình huống như thế, Giáo hội La Mã đứng trước thách thức giải đáp câu đố. Liệu người lính của Chúa có chịu sử dụng gì ngoài vũ khí tôn giáo khi đứng trước nguy cơ bế tắc? Anh ta có chống lại kẻ thù bằng chính vũ khí của chúng hay không? Khi được Gregory VI bổ nhiệm làm người bảo vệ tài sản của Giáo hoàng, Hildebrand thấy tài sản không ngừng bị cướp phá nên đã xây dựng lực lượng vũ trang và đánh tan bọn cướp.

Vào thời điểm Hildebrand thực hiện hành động này, rất khó tiên đoán chí khí sâu kín của ông. Bốn mươi năm sau, lời giải đố đã sáng tỏ hơn vào phút chót; năm 1085, trong khi ông đang hấp hối tại Salerno, thành La Mã sụp đổ trước tai ương do chính sách của đức giám mục đem lại. Năm 1085, thành La Mã bị người Norman cướp phá và thiêu hủy. Giáo hoàng đã cầu viện người Norman trong cuộc đấu tranh quân sự lan ra từ bậc thềm bàn thờ thánh Peter – tài sản của Giáo hoàng – cho đến khi nhận chìm toàn bộ nước theo đạo Cơ Đốc phương Tây. Đỉnh cao của cuộc xung đột giữa Hildebrand và hoàng đế Henry IV là điềm báo trước cuộc đấu tranh sống mái hơn. Bản thân Hildebrand đã thành lập giáo phái Hildebrand trong một quá trình kết thúc với chiến thắng của các địch thủ của ông – thế giới, người phàm và quỷ dữ – ngay trên thiên đàng mà ông tìm kiếm để đưa xuống trần gian.

Không nhà chính trị nào từng thừa nhận

Lời của bậc thầy, kể cả Giáo hội,

Trong hội nghị của các Giáo hoàng

Để thánh Peter ngồi vào ngai của Caesar,

Và qua đó giành lại cho loài người

Những niềm hy vọng, nguyên nhân họ yêu quý và thờ phụng Chúa,

Tạm dừng uy quyền thiên đàng để kéo dài quy luật của trần gian.[21]

Nếu giải thích được chế độ Giáo hoàng bị vũ lực lấn áp như thế nào là chúng ta đã tìm xong lời giải cho những biến chất khác của Giáo hoàng; thay uy quyền tôn giáo bằng vật chất là thay đổi cơ bản trong tất cả. Ví dụ, tòa thánh Vatican chủ yếu quan tâm đến tài chính của giới tăng lữ thì làm sao xóa bỏ tận gốc nạn mua bán địa vị trong giáo hội?

Đại chiến giữa các Giáo hoàng và Hohenstaufen vào thế kỷ 13 đem lại hậu quả như bao cuộc chiến khác. Kẻ chiến thắng trên danh nghĩa tuy hạ gục được nạn nhân nhưng gánh chịu những tổn thất nặng nề, còn người chiến thắng thật sự đạt được tất cả. Năm mươi năm sau cái chết của Frederick II, Giáo hoàng Boniface VIII dọa làm mất danh dự vua Pháp, kết quả cho thấy trong cuộc đấu tranh một mất một còn năm 1227-1268, Giáo hoàng đã rơi vào thế yếu, còn nước Pháp mạnh ngang hàng với chế độ Giáo hoàng. Vua Phillippe le Bel đốt sắc lệnh của Giáo hoàng trước khi Notre-Dame được sự chấp thuận chung của giới tăng lữ và nhân dân đã sắp đặt vụ bắt cóc Giáo hoàng, và sau khi giết Giáo hoàng xong đã chuyển quyền cai quản của Giáo hoàng từ La Mã sang Avignon. Tiếp theo sau là giai đoạn giam cầm (1305-1378) và ly giáo (1379-1415).

Giờ sớm muộn gì những nhà quý tộc địa phương cũng sẽ thừa hưởng toàn bộ quyền lực mà Giáo hoàng đã dày công xây đắp. Quá trình chuyển giao quyền lực chỉ là vấn đề thời gian. Chúng ta có thể nhận thấy những cột mốc trên chặng đường này, đạo luật Anh về giáo sĩ do Giáo hoàng chọn trực tiếp (năm 1351 Công nguyên) và tội xúc phạm vương quyền (năm 1353); những nhượng bộ của triều chính tòa thánh giáo hội trước các thế lực trần tục ở Pháp và Đức; giao ước giữa chính phủ Pháp – Giáo hoàng năm 1516; và đạo luật Anh về quyền lực tối cao được thông qua năm 1534. Việc chuyển đặc quyền của Giáo hoàng sang chính phủ thế tục đã bắt đầu 200 năm trước khi nổ ra phong trào cải cách, và nó diễn ra ở các nước theo đạo Thiên Chúa và Tin Lành. Quá trình này kết thúc vào thế kỷ 16, và đặt nền móng xây dựng nhà nước “chuyên chế” trong thế giới phương Tây cận đại. Yếu tố có ý nghĩa lớn nhất trong quá trình này là chuyển sự sùng bái giáo hội toàn thế giới sang nhà nước thế tục địa phương.

Lòng người là chiến lợi phẩm quý giá nhất mà những nhà nước này giành được từ thể chế cao quý hơn vừa bị lật đổ, bởi chính lòng trung thành đã giữ cho các nhà nước tồn tại, có tăng bao nhiêu ngân khố và quân đội đi chăng nữa cũng không bằng. Vì lẽ ấy, chính di sản tinh thần của giáo phái Hildebrand đã biến thể chế nhà nước địa phương từng một thời vô hại và có ích thành mối đe dọa đối với nền văn minh. Tinh thần tận tụy (sức mạnh sáng tạo khi hướng tới Chúa) đã suy thoái thành sức mạnh phá hoại khi đi trệch khỏi mục tiêu ban đầu và được trao cho những thần tượng do chính bàn tay con người nhào nặn nên. Nhà nước địa phương là thể chế do con người tạo ra, hữu ích và cần thiết, đáng cho chúng ta tận tâm thực hiện bổn phận xã hội dẫu không nhiệt tình lắm. Thần tượng hóa cỗ máy xã hội này là đùa với tai họa.

Giờ chúng ta đã tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi Giáo hoàng bị phế truất như thế nào; song vẫn chưa lý giải được nguyên do. Tại sao Giáo hoàng thời Trung cổ lại trở thành nô lệ của chính công cụ của mình và để cho đi trệch khỏi những mục tiêu tôn giáo? Lời giải thích dường như nằm trong tác động không hay của chiến thắng ban đầu. Trò chơi lấy quyền lực chống lại quyền lực (chính đáng trong giới hạn tiên đoán được bằng trực giác nhưng khó phân định rõ) mang lại kết quả tai hại do ngay từ đầu đã thành công quá mỹ mãn. Say sưa với chiến thắng trong giai đoạn đầu đấu tranh với Đế quốc La Mã thần thánh, Gregory III (Hildebrand) và những người kế vị cứ sử dụng quyền lực cho đến khi kết thúc chiến thắng trên bình diện phi tôn giáo. Trong lúc Gregory III đấu tranh với Đế quốc La Mã thần thánh với mục tiêu dọn đường cải cách giáo hội, thì Innocent III phá hoại quyền lực thế tục của đế quốc.

Có thể nhận thấy chính sách của Hildebrand đã trở nên điên rồ rồi chứ? Nào chúng ta hãy tìm hiểu bước ngoặt sai lầm này nằm ở đâu.

Đến năm 1075, cuộc vận động chống lại tình trạng trác táng và tham nhũng trong giới tăng lữ được phát động trên khắp thế giới phương Tây, và giành được chiến thắng vang dội nhờ phẩm hạnh của tòa thánh Vatican, mà mới cách đây nửa thế kỷ thôi có tình trạng hoang phí đứng đầu trong mọi tai tiếng của giáo hội. Chiến thắng này là việc làm cá nhân của Hildebrand. Ông đấu tranh bên kia núi Alps và sau lưng Giáo hoàng cho đến ngày bước lên ngôi vị đó; và ông đấu tranh bằng mọi vũ khí trong tay, vật chất và tinh thần. Chính vào giây phút chiến thắng, Hildebrand đã thực hiện những biện pháp mà những người phê bình mô tả là khó tránh mang họa. Trong năm đó, Hildebrand mở rộng phạm vi đấu tranh từ chống tệ nạn lấy vợ lẽ và buôn thần bán thánh sang chống phong chức.

Về mặt lôgic, cuộc đấu tranh chống phong chức được biện hộ là hệ quả tất yếu của đấu tranh chống lấy lấy vợ lẽ và buôn thần bán thánh nếu xem cả ba như là một cuộc đấu tranh giải phóng của giáo hội. Vào thời điểm nguy cấp này, bao công sức giải thoát giáo hội khỏi nô lệ của tiền tài gái đẹp dường như đổ sông đổ biển nếu Hildebrand cứ để giáo hội bị khuất phục về mặt chính trị trước sức mạnh trần tục. Chỉ cần xiềng xích thứ ba còn đặt nặng lên giáo hội, giáo hội sẽ mặc sức làm công việc cải tạo loài người chứ? Tuy nhiên lý lẽ này chẳng cần thảo luận làm gì. Năm 1075, liệu có chuyện người giữ ngôi vị Giáo hoàng cứ cho rằng không còn khả năng hợp tác chân thành và có kết quả giữa phe cải cách trong giáo hội, đại diện là triều chính tòa thánh giáo hội La Mã, và phe cầm quyền, đại diện là Đế quốc La Mã thần thánh, hay không? Ở câu hỏi này, trách nhiệm chứng minh nằm trong tối thiểu hai nguyên do.

Đầu tiên, cả Hildebrand lẫn người ủng hộ đều không tìm cách – trước hoặc sau sắc lệnh cấm phong chức năm 1075 – phủ nhận quyền lực thế tục đóng vai trò hợp pháp trong thủ tục phong chức từ Giáo hoàng trở xuống. Thứ hai, trong vòng 30 năm, tòa thánh Vatican đã bắt tay với Đế quốc La Mã thần thánh trong xung đột cũ về vấn đề lấy vợ lẽ và buôn thần bán thánh. Sự hợp tác với đế quốc trong những nhiệm vụ này đã chựng lại sau cái chết của Henry III, lúc ấy con trai ông còn quá nhỏ. Lớn lên, Henry VI không đủ tài cai trị. Chính trong hoàn cảnh này, Giáo hoàng dấn thân vào chính sách hạn chế hoặc ngăn cấm quyền lực thế tục can thiệp vào việc phong chức tu sĩ. Điều này tuy có thể chính đáng, song phải thừa nhận rằng nó là bước đi mang tính cách mạng; và mặc cho mọi khiêu khích, nếu Hildebrand đừng thách đấu vào năm 1075, thì có lẽ đã phục hồi mối quan hệ tốt đẹp rồi. Hildebrand đã đi đến hành động thiếu kiên nhẫn, và động cơ tốt đẹp của ông ta bị mất đi giá trị trước sức báo thù của vương quyền vì sự làm nhục mà nó đã gánh chịu. Lúc đội mũ Giáo hoàng, Hildebrand đã lấy tên Gre-gory, cũng là tên vị Giáo hoàng bị phế truất vào dịp đó.

Đặt ra vấn đế mới về phong chức là một việc làm gây bất hòa giữa Giáo hoàng và đế quốc vì vấn đề thứ ba này nhập nhằng hơn những vấn đề khác được hai thế lực này nhất trí với nhau chưa lâu.

Nguồn gốc sự việc phát sinh từ thông lệ phong chức giám mục đòi hỏi sự tán thành của nhiều bên khác nhau. Đây là một trong những nguyên tắc sơ khai trong kỷ luật của giáo hội: giám mục phải được giới tăng lữ và người của tòa giám mục chọn ra, sau đó phải được số đại biểu quy định trong giáo khu tôn phong. Và quyền lực thế tục chưa bao giờ tìm cách chiếm đoạt đặc quyền của giám mục hay thách thức quyền bầu chọn của giới tăng lữ và nhân dân. Trên thực tế, quyền lực thế tục đóng vai trò đề cử ứng cử viên và thực thi quyền phủ quyết cuộc bầu chọn. Đã nhiều dịp, Hildebrand công khai thừa nhận quyền này.

Hơn nữa, đến thế kỷ 11, những cân nhắc mang tính thiết thực đã củng cố thông lệ thực thi mức độ quyền lực thế tục nhất định lên phong chức mục sư. Suốt thời gian dài, mục sư đảm nhận việc đạo lẫn việc đời. Đến năm 1075, phần lớn công việc dân chính nằm trong tay mục sư nắm quyền thế tục qua nắm giữ chức vụ phong kiến, nên việc bãi miễn giới tăng lữ khỏi phong chức thế tục sẽ kéo theo sự bãi bỏ quyền hạn của thế lực trần tục và biến giáo hội thành thế lực nắm quyền tuyệt đối về dân sự lẫn tôn giáo. Lẽ ra nên chuyển việc đời cho người cầm quyền thế tục. Cả hai bên xung đột đều nhận thức rõ là không có người trần tục nào có khả năng quán xuyến nổi những bổn phận như thế.

Năm 1075, trọng tâm hành động của Hildebrand bộc lộ qua mức độ tai họa. Về vấn đề phong chức, Hildebrand đặt cược toàn bộ uy tín giành được trong 30 năm trước; chỗ đứng vững chắc trong lòng bình dân La Mã theo đạo Cơ Đốc ở những lãnh địa của vua Henry IV cộng với sức mạnh của quân Saxon đã đưa ông lên ngôi Giáo hoàng. Nhưng cho dù Giáo hoàng giáng đòn chí mạng vào lòng tự trọng của đế quốc, kết quả không phải là hồi kết, mà là châm ngòi cho xung đột. Năm mươi năm xung đột đã tạo ra mối bất hòa sâu sắc giữa Giáo hoàng và đế quốc tới mức không thể hàn gắn bằng thỏa hiệp chính trị về vấn đề sinh ra mâu thuẫn. Tranh cãi về vấn đề phong chức có lẽ chìm vào quên lãng sau giao ước năm 1122, nhưng tính thù địch mà nó gây ra do vẫn còn những tham vọng trái khoáy và sự nhẫn tâm của con người.

Chúng ta vừa xem xét khá chi tiết về quyết định của Hildebrand vào năm 1075. Trong niềm say sưa chiến thắng, Hildebrand đã phạm sai lầm trên con đường đưa thể chế từ vực sâu ô nhục lên tầm cao quyền lực, và những người kế vị không tìm lại được con đường đúng đắn. Nhiệm kỳ Giáo hoàng của Innocent III (1198-1216) là thời kỳ Antonine, tức những năm cuối cùng nhàn hạ của chế độ Giáo hoàng Hildebrand; tuy nhiên, Giáo hoàng có được ngôi vị xuất chúng là nhờ những hoàn cảnh ngẫu nhiên, chẳng hạn như dòng họ Hohenstaufen chiếm thiểu số quá lâu, và sự nghiệp của Giáo hoàng chỉ làm sáng tỏ việc người cầm quyền xuất sắc có thể là một chính khách ngù ngờ. Tiếp theo là cuộc chiến không cân sức giữa Giáo hoàng với Frederick II và con cháu của ông ta; bi kịch của Anagni; giam cầm và ly giáo; chế độ đại nghị sớm sụp đổ trong phong trào do hội đồng giám mục phát động; tòa thánh Vatican cho theo ngoại giáo thời kỳ Phục hưng ở Ý; Giáo hội Thiên chúa xâu xé lẫn nhau trong phong trào cải cách; cuộc đấu tranh bất phân thắng bại của phe chống cải cách; sự bất tài vô dụng của Giáo hoàng vào thế kỷ 18 và thuyết chống chủ nghĩa tự do vào thế kỷ 19.

Nhưng thể chế độc nhất vô nhị đó vẫn tồn tại[22] và mọi người dân phương Tây bất kể có đạo hay không đều yêu cầu Giáo hoàng xác nhận tước vị cao quý của mình. Ông tổ truyền đạo ở La Mã đã ủy thác số phận của những người theo đạo Cơ Đốc; khi bầy tôi trung thành hiểu ý Chúa nhưng chẳng làm theo ý Chúa và bị đánh đòn trong sự báo thù công bằng, những đòn đánh đó cũng giáng xuống người “đầy tớ” có linh hồn bị giao phó. Sự trừng phạt lòng hiếu thắng của kẻ đầy tớ đã giáng xuống chúng ta; anh ta mang điều này đến cho chúng ta bất kể chúng ta là ai: tín đồ Công giáo hay tín đồ Tin Lành, người có tín ngưỡng hay người vô tín ngưỡng. Nếu vào giây phút quyết định này Hildebrand thứ hai xuất hiện, liệu ngài có say men chiến thắng như Giáo hoàng Gregory VII?

❀ ❀ ❀

[1] Matt. IX. 16-7.

[2] Theo P.A Sorokin, trong bằng chứng thỏa mãn sự thống soái của anh, tìm những phạm vi chiến tranh ở thế giới phương Tây là tươi sáng ở thế kỷ 19 hơn là thế kỷ 18 (Động lực xã hội và văn hóa, tập III (New York 1937, American Book Co.), trang 342,345-6).

[3] Gibbon, E.: Lịch sử suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã, ch. XXXVIII.

[4] Thực ra còn có một ví dụ cổ xưa hơn: sự trục xuất những người Pháp Acadian ra khỏi Nova Scotia vào thời điểm đầu “cuộc chiến bảy năm”; nhưng đây là một sự kiện ở quy mô nhỏ, rất tồi tệ mặc dù nó theo tiêu chuẩn của thế kỷ 18, và có lẽ nó có thể được giải thích bằng những lý do chiến lược.

[5] Trích dẫn bởi Woodward, W.E: Lịch sử nước Mỹ mới, tr. 260.

[6] Đạo đức kinh, ch. 24 (bản dịch của Waley, A., trong tập Ngã rẽ và quyền lực).

[7] Tennyson: Ký ức.

[8] “Văn hóa Attic” có lẽ là khái niệm chính xác hơn so với “văn hóa Hy Lạp” để chỉ khoảng thời gian ba thế kỷ xen giữa sự lật đổ Đế chế Achaemenid của Alexander Đại đế và sự thành lập Đế chế La Mã của Augustus. Như Edwyn Bevan đã nói, tính ngữ “văn hóa Hy Lạp” có thể gây hiểu lầm khi được áp dụng để chỉ, không phải một chương nào trong lịch sử nền văn minh Hy Lạp, mà là toàn bộ đặc tính của hai nền văn minh thừa kế xã hội Hy Lạp. Trong nghiên cứu này, nó được dùng để chỉ các nền văn minh Cơ Đốc Tây phương và Cơ Đốc Chính thống.

[9] Trong công trình gốc của tác giả Toynbee, Đế chế La Mã phương Đông được nghiên cứu công phu và kỹ lưỡng hơn bất kỳ minh họa lịch sử nào trước đó. Xem tập IV, trang 320-408. – người biên tập (là biên tập viên của bảng tiếng Anh).

[10] Heard, Gerald: Nguồn gốc nền văn minh, tr. 66-7.

[11] Heard, Gerald: Nguồn gốc nền văn minh, tr. 67-9.

[12] Wells. H.G: Đề cương Lịch sử, tr. 22-4.

[13] Heard, Gerald: Nguồn gốc nền văn minh, tr. 71-2.

[14] Đất nước không ngoài vinh dự cứu nguy bởi nhà tiên tri.

[15] Iliad, xvi, II. 211-7.

[16] Browne, E.G: Lịch sử thành văn của Ba Tư, tập II, tr. 462.

[17] Mối quan hệ nhân quả giữa sự thừa mứa và hành vi tàn bạo được thể hiện rõ nét bởi một nhà thơ Do Thái qua câu “Jeshurun mập ra, và bị đá” (Deut. xxxii. 15). Anh ta bị đá (hành vi tàn bạo) vì anh ta đã mập ra (do sự thừa mứa), và hệ luận tất yếu là “tai họa” đã được dành sẵn cho anh ta trong tương lai. Jeshurun ở đây chính là hiện thân của dân tộc Israel, trong những ngày tháng thịnh vượng nhất dưới thời Jeroboam II đã từ bỏ Yahweh. Tình trạng giam cầm dẫn tới sự tuyệt diệt của “mười bộ lạc” này xảy ra chỉ nửa thế kỷ sau đó.

[18] Plato, Luật pháp: 691 C.

[19] Marlowe, Christopher: Tamburlaine Đại đế, ll. 2232-8, 2245-9.

[20] Mann, Monsignor H.K: Đời sống của các Giáo hoàng thời Trung cổ, tập XI, trang 72.

[21] Bridges, Robert: Chúc thư của cái đẹp, iv, ll. 259-64.

[22] Một thư ký của Giáo hội Cơ Đốc La Mã có lần đã nhấn mạnh trong một cuộc trò chuyện cá nhân (và do đó không thể nêu tên ông ta): “Tôi tin rằng Giáo hội Cơ Đốc đang chia rẽ, và bằng chứng của sự chia rẽ mà tôi nhận thấy là chưa từng có một cơ cấu nhân tạo nào dưới sự lãnh đạo yếu đuối và bịp bợm như vậy lại có thể tồn tại quá một tuần trăng”. (Người biên tập)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.