Giáo Dục Cyrus

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quyển I

❊ ❊ ❊

(C.1) Từ trước đến nay, chúng ta đã có dịp ngẫm nghĩ về việc các nền dân chủ thường bị lật đổ bởi khát vọng thiết lập một hình thức chính quyền khác biết nhường nào, các chế độ quân chủ và thiểu số bị quét sạch bởi những phong trào quần chúng ra sao, và những kẻ nuôi mộng độc tài nối tiếp nhau ngã ngựa thế nào — kẻ thì gục ngã ngay từ phút ban đầu chỉ sau một nhát, kẻ dẫu duy trì được vương quyền dẫu chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi cũng khiến người ta kinh ngạc như những kỳ quan của sự khôn ngoan và thành đạt.

Chúng ta ít nhiều đều đinh ninh rằng bài học ấy cũng hiện hữu ngay trong gia đình: một hộ gia đình dẫu lớn hay nhỏ — thậm chí ngay cả người gia trưởng có trong tay ít bề tôi — cũng khó lòng trông đợi sự tuân phục từ đàn gia sủng bé nhỏ của mình. (2) Cứ thế, ý này nối tiếp ý kia, chúng ta bắt đầu định hình những suy ngẫm của mình thế này: Những kẻ lùa gia súc chắc chắn được gọi là chủ nhân của đàn bò và ngựa, những nhà gây giống ngựa là chúa tể của bầy ngựa giống — tóm lại, mọi người chăn dắt đều có thể đường hoàng xem là nhà cai trị lũ súc vật mà họ gìn giữ. Thế thì, nếu chúng ta tin vào minh chứng từ các giác quan của mình, há chẳng phải rõ mồn một là các bầy đàn tỏ ra sẵn sàng tuân lệnh người chăn giữ hơn là con người tuân phục các nhà cai trị của họ sao? Hãy quan sát đàn gia súc thong thả bước đi bất cứ nơi nào kẻ chăn dắt dẫn dắt, hãy nhìn chúng gặm cỏ trên những đồng cỏ được sai phó và tránh xa những vùng đất bị cấm đoán, chúng dâng hiến hoa trái từ chính thân mình cho người chủ tùy nghi sử dụng; và chúng ta chưa từng thấy dù chỉ một bầy đàn nào liên kết lại chống lại người bảo vệ chúng, hoặc để cãi lệnh hay từ chối trao quyền kiểm soát tuyệt đối hoa lợi của chúng cho ông ta. Ngược lại, chúng có xu hướng tỏ ra thù địch với các loài động vật khác nhiều hơn là với người chủ kẻ thu lợi từ chúng. Nhưng với con người thì quy luật lại hoàn toàn trái ngược: chẳng có ai mà con người lại đồng lòng chống đối hăng hái bằng những kẻ mà họ thấy đang mưu toan cai trị mình. (3) Do đó, chừng nào chúng ta còn đi theo những suy ngẫm này, chúng ta buộc phải kết luận rằng con người sinh ra vốn thích hợp để cai trị mọi loài sinh vật, ngoại trừ đồng loại của chính mình. Nhưng khi chúng ta nhận thức được bản tính của Cyrus người Ba Tư, chúng ta đã thay đổi góc nhìn: đây là một con người, chúng ta tự nhủ, đã chiếm được sự tuân phục từ hàng vạn đồng loại, từ vô số thành bang và bộ tộc; chúng ta buộc phải tự hỏi bản thân liệu việc cai trị con người rốt cuộc có phải là một nhiệm vụ bất khả thi, hay thậm chí là một nhiệm vụ khó khăn, miễn là người ta tiếp cận nó theo đúng phương cách. Cyrus, như chúng ta đã biết, tìm thấy sự tuân phục sẵn sàng nhất ở thần dân của mình, dẫu cho một số người trong số họ sống ở những nơi xa xôi mà phải mất hàng ngày trời, hàng tháng trời mới đi tới nơi, và trong số đó có những kẻ chưa từng đặt mắt nhìn thấy ông, và trên thực tế chẳng bao giờ có thể hy vọng làm được điều đó, thế mà họ vẫn sẵn lòng vâng phục ông.

(4) Cyrus quả thực đã lu mờ mọi vị quân chủ khác, dù là trước đây hay tận bây giờ, và ta không chỉ gom vào đây những kẻ thừa kế vương quyền mà cả những người đã giành lấy đế nghiệp bằng chính nỗ lực của bản thân. Mức độ ông vượt qua tất cả bọn họ lớn nhường nào có thể cảm nhận được nếu ta nhớ rằng chưa từng có người Scythian nào, dẫu cho dân số người Scythian đông đến muôn vàn, thành công trong việc thống trị một quốc gia ngoại tộc; quả thực, một người Scythian hẳn sẽ vô cùng mãn nguyện nếu chỉ giữ cho chính quyền của mình không bị phân liệt ngay trong chính bộ tộc và thần dân của họ. Điều tương tự cũng đúng với người Thracian và người Illyrian, và quả thực với tất cả các quốc gia khác trong tầm hiểu biết của chúng ta; chí ít là ở châu Âu, tình trạng của họ cho đến nay vẫn là sự độc lập, và là sự ly khai mang vẻ vĩnh viễn. Và đây chính là trạng thái mà Cyrus đã bắt gặp ở các bộ tộc và dân tộc châu Á khi, dẫn đầu một lực lượng nhỏ người Ba Tư, ông bắt đầu sự nghiệp của mình. Người Mede và người Hyrcanian sẵn sàng chấp thuận sự lãnh đạo của ông, nhưng chính nhờ chinh phạt mà ông đã giành được Syria, Assyria, Arabia, Cappadocia, hai xứ Phrygia, Lydia, Caria, Phoenicia, và Babylonia. Sau đó, ông thiết lập ách thống trị của mình trên xứ Bactria, Ấn Độ và Cilicia, trên người Sakian, Paphlagonian và Magadidian, trên một loạt các bộ tộc khác mà tên tuổi của họ thách thức trí nhớ của các nhà chép sử; và cuối cùng, ông thu phục người Hellen ở châu Á dưới quyền cai trị của mình, cùng với Cyprus và cả Ai Cập nhờ một cuộc đột kích vào vùng ven biển.

(5) Hiển nhiên là trong tập hợp các quốc gia hỗn độn này, rất ít người, nếu có đi chăng nữa, nói cùng một ngôn ngữ với ông hoặc hiểu được lẫn nhau, nhưng dẫu vậy Cyrus vẫn có thể thấu nhập vào vùng đất rộng lớn bao la ấy bằng chính uy thế đáng sợ của nhân cách mình khiến cư dân ở đó phải rạp mình quy phục: chẳng một ai dám giơ tay chống lại ông. Thế mà đồng thời ông cũng có thể truyền cho tất cả bọn họ một khao khát mãnh liệt muốn làm đẹp lòng ông và giành lấy ân huệ của ông đến mức tất cả những gì họ yêu cầu chỉ là được dẫn dắt bởi phán quyết của một mình ông mà thôi. Bằng cách đó, ông đã kết dính lại với mình một khối phức hợp các dân tộc rộng lớn đến mức sẽ là một thử thách cho sức chịu đựng của bất kỳ ai nếu chỉ đi băng qua đế quốc của ông theo bất kỳ hướng nào, đông hay tây, nam hay bắc, xuất phát từ cung điện vốn là trung tâm của nó. Về phần mình, khi xem xét danh hiệu đáng được ngưỡng mộ của ông đã được chứng minh, chúng ta bắt đầu tìm hiểu xem nguồn gốc gia thế và phần bản năng tự nhiên của ông ra sao, và ông đã được rèn luyện, giáo dục như thế nào để vươn tới đỉnh cao xuất chúng nhường ấy trong nghệ thuật cai trị con người. Và tất cả những gì chúng ta có thể tìm hiểu từ người khác về ông hoặc cảm thấy có thể suy luận ra cho chính mình, chúng ta sẽ nỗ lực trình bày ở đây.

(C.1) Cha của Cyrus, theo câu chuyện kể lại, là Cambyses, một vị vua người Ba Tư, thuộc dòng dõi Perseidae, những người tôn kính Perseus là thủy tổ của tộc mình. Thân mẫu của ông, theo sự đồng thuận chung, là Mandane, con gái của Astyages, vua xứ Media. Về bản thân Cyrus, cho đến tận ngày nay trong những khúc ca và câu chuyện kể của phương Đông vẫn lưu truyền ký ức rằng tạo hóa đã ban cho diện mạo khôi ngô tuấn tú nhất, và gieo vào lòng ông tình yêu tam diện: tình yêu dành cho con người, cho tri thức, và cho danh dự. Ông sẵn sàng chịu đựng mọi nhọc nhằn, sẵn sàng trải qua mọi hiểm nguy, tất cả vì vinh quang.

(2) Được thiên phú những ân sủng như vậy về cả tâm hồn lẫn thể xác, tên tuổi của ông vẫn sống mãi cho đến ngày nay trong trái tim hoài niệm của muôn đời. Đúng là ông được nuôi dưỡng theo luật lệ và phong tục của người Ba Tư, và về những điều luật ấy, cần phải lưu ý rằng mặc dù chúng hướng đến lợi ích chung giống như luật pháp ở bất cứ đâu, nhưng nguyên tắc chỉ đạo của chúng lại hoàn toàn khác biệt với phần lớn các quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều cho phép công dân của mình tự nuôi dạy con cái theo ý muốn riêng, và để cho những người trưởng thành tự định đoạt cuộc sống của chính họ theo ý thích, rồi sau đó họ mới đặt ra một số điều cấm đoán — ví dụ như không được trộm cắp vặt, không được đột nhập nhà người khác, không được đánh người vô cớ, không được phạm tội ngoại tình, không được cãi lời quan chức, v.v. — và giáng hình phạt lên kẻ vi phạm.

(3) Nhưng luật pháp Ba Tư lại tìm cách, có thể nói như vậy, đi trước thời gian, khiến cho công dân của họ ngay từ khởi đầu đã không có khả năng khao khát bất kỳ sự gian ác hay hạnh kiểm đồi bại nào. Và đây là cách họ thực hiện mục tiêu đó. Trong các thành phố của họ có một khoảng đất trống hoặc quảng trường được cung hiến cho Tự do (họ gọi đó là Quảng trường Tự do), nơi tọa lạc cung điện cùng các tòa nhà công cộng khác. Mọi mặt hàng buôn bán đều bị cấm tuyệt đối khỏi nơi này, cũng như tất cả những kẻ bán rong và tiểu thương với tiếng hò hét, la lối và những thói tục tằn của họ. Họ buộc phải đi đến nơi khác, để tiếng hò la của họ không hòa lẫn vào và làm tổn hại đến sự tao nhã cùng trật tự ngăn nắp của tầng lớp có học thức.

(4) Quảng trường này, nơi tọa lạc các công trình công cộng, được chia thành bốn khu vực dành riêng cho các đối tượng sau: một cho các thiếu niên, một cho giới thanh niên, thứ ba cho những người đàn ông trưởng thành, và cuối cùng là cho những ai đã qua độ tuổi phục vụ trong quân ngũ. Luật pháp đòi hỏi mọi công dân phải có mặt vào những thời điểm và mùa nhất định tại các khu vực được chỉ định của họ. Lũ trẻ và những người đàn ông trưởng thành phải có mặt ở đó vào lúc rạng đông; các bậc bô lão nhìn chung có thể tự chọn thời gian cho mình, ngoại trừ vào một số ngày cố định, khi mà họ cũng được kỳ vọng phải trình diện giống như những người khác. Hơn nữa, giới thanh niên buộc phải ngủ vào ban ban đêm xung quanh các tòa nhà công cộng, mang theo vũ khí bên mình; chỉ những người đã kết hôn trong số họ mới được miễn trừ và không phải túc trực ban đêm trừ khi có thông báo trước, mặc dù ngay cả trong trường hợp của họ, việc vắng mặt thường xuyên cũng bị coi là kém trang nhã.

(5) Đứng đầu mỗi phân khu này là mười hai vị quan cai quản, mười hai cũng chính là số lượng các bộ tộc Ba Tư. Các quan cai quản của đám trẻ được chọn từ các bậc bô lão, và những người được bổ nhiệm là những ai được cho là phù hợp nhất để nhào nặn những đứa trẻ nên người tốt nhất; các quan cai quản của giới thanh niên được tuyển lựa từ những người đàn ông trưởng thành, theo cùng nguyên tắc đó; và đối với chính những người đàn ông trưởng thành cùng các quan cai quản của họ, sự lựa chọn rơi vào những người mà người ta hy vọng sẽ thúc đẩy họ nhanh chóng nhất trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, và hoàn thành các mệnh lệnh do quyền lực tối cao áp đặt. Cuối cùng, bản thân các bô lão cũng có những vị chủ tọa riêng, được chọn để đảm bảo rằng chính họ cũng hoàn thành trọn vẹn bổn phận của mình.

(6) Giờ đây chúng ta sẽ mô tả các nghĩa vụ được yêu cầu từ các tầng lớp khác nhau, và qua đó sẽ thấy được cách người Ba Tư nỗ lực cải thiện công dân của mình như thế nào. Lũ trẻ đến trường và dành thời gian để học hỏi sự công chính và ngay thẳng: chúng sẽ nói với bạn rằng chúng đến vì mục đích đó, và cụm từ này đối với chúng cũng tự nhiên như việc chúng ta nói về những đứa trẻ học bảng chữ cái. Các thầy giáo dành phần lớn thời gian trong ngày để phân xử các vụ kiện tụng cho học trò của mình: bởi vì trong thế giới trẻ thơ này, cũng như trong thế giới người lớn bên ngoài, những cớ sự để kiện tụng chẳng bao giờ là thiếu. Chúng ta đều biết sẽ có những cáo buộc về tội trộm cắp vặt, bạo lực, gian lận, vu khống, v.v. Vụ việc được đem ra xét xử và kẻ phạm tội, nếu bị chứng minh là có tội, sẽ phải chịu hình phạt.

(7) Kẻ nào bị phát hiện là cáo buộc oan cho đồng bạn của mình cũng không thoát tội. Và có một tội trạng mà các thẩm phán không hề do dự xử lý, một tội trạng vốn là nguồn cơn gây nên biết bao thù hận trong giới người lớn nhưng lại hiếm khi được họ thúc đẩy tại các tòa án, đó là tội vong ân phụ nghĩa. Kẻ phạm tội bị kết án là từ chối đền đáp một món nợ ân nghĩa khi hoàn toàn có khả năng làm điều đó sẽ vấp phải sự trừng phạt nghiêm khắc. Họ lập luận rằng kẻ vô ơn là kẻ dễ quên đi bổn phận đối với thần linh, đối với cha mẹ, đối với tổ quốc và bạn bè nhất. Sự trơ trẽn, theo quan điểm của họ, bám sát gót chân của sự vô ơn, và do đó sự vô ơn chính là kẻ cầm đầu và thủ ác chính dẫn đến mọi thứ đê tiện.

(8) Hơn nữa, lũ trẻ còn được dạy dỗ về sự tiết độ và tính tự chế, và chúng tìm thấy sự hỗ trợ lớn nhất trong việc đạt được đức tính này nhờ vào hành vi đáng kính trọng của các bậc bô lão được thể hiện trước mắt chúng ngày qua ngày. Sau đó, chúng được dạy phải vâng lời các bậc cai trị, và ở đây một lần nữa, chẳng có gì có giá trị hơn sự tuân thủ quyền lực một cách có ý thức được thể hiện bởi các bậc bô lão ở khắp mọi nơi. Sự tiết chế trong ăn uống là một nhánh giáo điều khác, và chúng chẳng có sự trợ giúp nào tốt hơn thế này: thứ nhất, là tấm gương của các bậc bô lão, những người không bao giờ lui đi để thỏa mãn ham muốn xác thịt cho đến khi những người có thẩm quyền giải nhiệm cho họ; và thứ hai, là quy định bắt buộc lũ trẻ phải dùng bữa không phải với mẹ mà với thầy giáo của mình, và chỉ được ăn khi vị quan cai quản ra hiệu. Chúng mang từ nhà phần lương thực chính của bữa ăn, đó là bánh mì khô kèm rau cải xoong để làm món ăn kèm, và để giải khát, chúng mang theo một chiếc cốc uống nước để múc từ dòng suối chảy róc rách. Thêm vào đó, chúng còn được dạy cách bắn cung và phóng lao.

(9) Lũ trẻ theo đuổi việc học cho đến mười sáu hoặc mười bảy tuổi, rồi sau đó chúng bước lên hàng ngũ thanh niên. Sau đó, chúng dành thời gian theo cách thức như sau. Trong mười năm, chúng buộc phải ngủ vào ban đêm xung quanh các tòa nhà công cộng, như chúng ta đã nói trước đó, và điều này vì hai lý do: để canh giữ cộng đồng và để rèn luyện tính tự chế; bởi vì giai đoạn cuộc đời đó, theo quan niệm của người Ba Tư, là giai đoạn cần được chăm sóc nhiều nhất. Ban ngày, chúng có mặt trước các nhà cai quản để làm các công việc phục vụ nhà nước, và bất cứ khi nào cần thiết, chúng tập hợp lại thành một khối quanh các công trình công cộng. Hơn nữa, khi nhà vua đi săn — việc mà ngài làm vài lần một tháng — ngài mang theo một nửa số người của đội quân, và mỗi người phải mang theo cung tên, một con dao găm có bao hoặc dao "sagaris" được đeo bên ống đựng tên, một chiếc khiên nhẹ, và hai cây lao: một để ném và một để dùng, nếu cần thiết, trong tầm đánh giáp lá cà.

(10) Lý do của sự chuẩn y công khai này đối với các cuộc săn bắn chẳng có gì là khó hiểu: nhà vua dẫn dắt giống hệt như khi ra trận, trực tiếp săn bắn ở tuyến đầu của trận địa và bắt binh lính của mình phải theo sau, bởi vì người ta cảm nhận rằng bản thân bài tập này chính là sự huấn luyện tốt nhất có thể cho những nhu cầu của chiến tranh. Nó rèn cho một người thói quen thức dậy sớm; nó tôi luyện người đó chịu đựng cái nóng và cái lạnh; nó dạy người đó cách hành quân và chạy hết tốc lực; người đó buộc phải học cách phóng cung và lao đi ngay thời khắc con thú cắt ngang đường đi của mình; và trên hết, sự sắc bén trong tinh thần của con người ấy buộc phải được mài giũa bằng cách đối đầu với những mãnh thú hùng mạnh nhất: hắn phải tung ra đòn đánh khi con vật áp sát, và đứng vững thủ thế khi nó lao vào lao tới; quả thực, sẽ thật khó để tìm thấy một trường hợp nào trong chiến tranh mà lại không có điểm tương đồng trong những cuộc săn bắn.

(11) Nhưng để tiếp tục: giới thanh niên lên đường với các phần lương thực dồi dào hơn một cách tự nhiên so với khẩu phần của lũ trẻ, nhưng ngoài ra thì vẫn giống nhau. Trong suốt cuộc săn, họ sẽ không màng đến việc phá vỡ sự nhịn ăn của mình, nhưng nếu có lệnh dừng chân để lùng sục thú rừng, hoặc vì bất kỳ lý do nào của thợ săn, thì họ sẽ biến bữa điểm tâm của mình thành một bữa ăn trưa, và tiếp tục săn bắn vào ngày hôm sau cho đến giờ ăn trưa, họ sẽ gộp hai ngày làm một, bởi vì họ chỉ ăn lượng thức ăn của một ngày. Họ làm điều này cốt để nếu tình huống tương tự xảy ra trong chiến tranh, họ có thể tỏ ra đủ sức đương đầu. Để ăn kèm với bánh mì, những thanh niên này có bất cứ thứ gì họ săn được trong cuộc săn, hoặc nếu không có thì dùng rau cải xoong giống như lũ trẻ. Và nếu có ai hỏi làm sao họ có thể thưởng thức bữa ăn chỉ với rau cải xoong làm gia vị duy nhất và nước lọc làm thức uống duy nhất, hãy để kẻ đó tự ngẫm xem bánh mì lúa mạch và bánh mì lúa mì có thể ngon ngọt đến nhường nào đối với người đang đói và nước róc rách đối với người đang khát.

(12) Đối với những thanh niên ở lại nhà, họ dành thời gian vào việc bắn cung và phóng lao, luyện tập tất cả những gì họ đã học khi còn nhỏ trong một chuỗi thử thách kỹ năng dài dẵng. Bên cạnh đó, các trò chơi công cộng được mở ra cho họ và các giải thưởng được trao; và bộ tộc nào có thể tuyên bố sở hữu số lượng thiếu niên nổi trội nhất về kỹ năng, lòng dũng cảm và sự trung thành sẽ nhận được lời ca ngợi từ toàn thể công dân, những người vinh danh không chỉ vị quan cai quản hiện tại của họ mà cả người thầy đã huấn luyện họ khi họ còn nhỏ. Hơn nữa, những thanh niên này cũng được các quan tòa sử dụng nếu cần thực hiện công việc đồn trú, hoặc nếu phải truy lùng kẻ gian ác hay săn đuổi cướp bóc, hoặc bất kỳ sai phó nào đòi hỏi sức mạnh của chân tay và sự nhanh nhẹn của đôi chân. Cuộc sống của giới thanh niên là thế đó. Nhưng khi mười năm trôi qua, họ được xếp vào hàng ngũ những người đàn ông trưởng thành.

(13) Và từ thời điểm này trở đi trong suốt hai mươi lăm năm, họ sống theo cách sau. Đầu tiên, họ trình diện, giống như thời thanh xuân, trước các nhà quan tòa để phục vụ nhà nước bất cứ nơi nào cần sự kết hợp giữa sức mạnh và sự nhạy bén. Nếu một cuộc viễn chinh được tiến hành, những người thuộc cấp bậc này sẽ xuất quân, không còn mang theo cung hay khiên nhẹ nữa, mà được trang bị thứ gọi là vũ khí cận chiến: một chiếc áo giáp che đến cổ, một tấm mộc trên cánh tay trái (giống như chiến binh Ba Tư xuất hiện trong các bức họa), và tay phải cầm dao găm hoặc gươm. Cuối cùng, chính từ cấp bậc này mà tất cả các quan tòa được bổ nhiệm, ngoại trừ các giáo viên cho lũ trẻ. Nhưng khi thời hạn hai mươi lăm năm kết thúc và những người đàn ông đã đạt đến độ tuổi từ năm mươi trở lên, thì họ vươn lên hàng ngũ bô lão, và danh hiệu ấy là hoàn toàn xứng đáng.

(14) Những vị bô lão này không còn tham gia các chiến dịch quân sự vượt ra ngoài biên giới; họ ở lại nhà và phân xử mọi vụ kiện tụng, cả công lẫn tư. Thậm chí cả các tội án tử hình cũng được giao cho họ phán quyết, và chính họ là những người bầu chọn tất cả các quan tòa. Nếu một thiếu niên hoặc một người đàn ông trưởng thành vi phạm pháp luật, hắn sẽ được các quan cai quản trong bộ tộc đưa ra tòa, những người đóng vai trò là nguyên đơn trong vụ kiện, được hỗ trợ bởi bất kỳ công dân nào khác tùy thích. Vụ án được xét xử trước các bô lão và họ tuyên án; và kẻ bị kết án sẽ bị tước quyền công dân trong phần đời còn lại của mình.

(15) Và giờ đây, để hoàn thiện bức tranh về toàn bộ chính sách của người Ba Tư, ta sẽ quay lại một chút. Với sự trợ giúp của những gì đã được nói trước đó, lời tường thuật giờ đây có thể ngắn gọn hơn: người ta nói rằng người Ba Tư có số lượng khoảng một trăm hai mươi nghìn người; và trong số này không một ai bị luật pháp tước mất quyền danh dự hay chức vị. Ngược lại, mọi người Ba Tư đều có quyền gửi con cái mình đến các trường công lập dạy sự chính trực và công lý. Trên thực tế, tất cả những ai có đủ khả năng nuôi dạy con cái mà không phải lao động đều gửi chúng đến đó: những ai không thể thì phải từ bỏ đặc quyền này. Một thiếu niên đã trải qua quá trình học tập tại trường công có quyền đến và chiếm lấy vị trí của mình trong hàng ngũ thanh niên, nhưng những ai chưa từng trải qua khóa học đầu tiên thì không được phép gia nhập cùng họ. Tương tự như vậy, những thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ của tầng lớp mình cuối cùng có quyền đứng vào hàng ngũ những người đàn ông, và được chia sẻ chức vụ và danh dự; nhưng trước tiên họ phải trải qua trọn vẹn thời gian của mình trong hàng ngũ thanh niên; nếu không, họ không được tiến xa hơn. Cuối cùng, những người khi đã trưởng thành mà sống không tì vết cuối cùng có thể đứng vào hàng ngũ các bô lão. Do đó, các bô lão này tạo thành một hội đồng, mà mỗi thành viên đều đã trải qua trọn vẹn vòng tròn học thức cao quý; và đây chính là hệ thống chính trị Ba Tư và nền giáo dục Ba Tư, theo niềm tin của họ, có thể mang lại cho họ đóa hoa của sự xuất chúng.

(16) Và ngay cho đến ngày nay vẫn còn lại những dấu hiệu làm chứng cho sự tiết độ cổ xưa ấy và kỷ luật cổ xưa đã duy trì nó. Đến tận ngày nay, việc một người Ba Tư khạc nhổ nơi công cộng, hỉ mũi, phát ra tiếng động ở bụng, hay bị bắt gặp tách ra để giải quyết nhu cầu tự nhiên vẫn bị coi là điều đáng hổ thẹn. Và họ không thể tuân thủ tiêu chuẩn này trừ khi họ quen với một chế độ ăn uống tiết độ, và được rèn luyện để tập luyện cũng như lao động, sao cho các dịch chất trong cơ thể được giải phóng theo những cách khác. Cho đến nay chúng ta đã nói về người Ba Tư nói chung: giờ đây chúng ta sẽ quay trở lại điểm xuất phát ban đầu và kể lại những chiến công của Cyrus từ thời thơ ấu.

(C.3) Cho đến khi được mười hai tuổi hoặc hơn thế, Cyrus được nuôi dưỡng theo phương thức mà chúng ta đã mô tả, và tỏ ra vượt trội hơn tất cả các đồng bạn về năng khiếu học tập cũng như trong việc thực hiện một cách cao quý và nam tính mọi bổn phận. Nhưng vào khoảng thời gian này, Astyages đã sai người đến đón con gái và cháu ngoại của mình, vì vô cùng khao khát được gặp mặt cậu bé sau khi nghe kể về dáng vẻ cao quý và khôi ngô của cậu. Thế là Mandane đã đến yết kiến Astyages, mang theo con trai Cyrus của mình.

(2) Ngay khi họ gặp nhau, cậu bé, khi nghe tin Astyages chính là cha của mẹ mình, liền ôm chầm lấy cổ ông và hôn ông không chút ngần ngại, giống như cái tính tình đáng yêu mà tạo hóa đã ban cho, cứ như thể cậu đã được nuôi dưỡng bên cạnh ông ngoại ngay từ thuở đầu và cả hai vốn là những người bạn chơi đùa từ thủa nhỏ. Rồi cậu nhìn kỹ hơn và thấy mắt của vị vua được điểm phấn vẽ mày và má được tô son, đồng thời ngài đang đội tóc giả theo mốt của người Mede vào những ngày đó (bởi vì những món đồ trang trí này, cùng với áo choàng tía, áo dài chẽn, vòng cổ, và vòng tay, tất cả đều mang phong cách của người Mede từ đầu đến cuối, chứ không phải của người Ba Tư; người Ba Tư, như bạn có thể bắt gặp ngay tại quê nhà của họ cho đến tận ngày nay, vẫn giữ nguyên trang phục giản dị và lối sống giản dị của mình). Cậu bé, khi nhìn thấy sự lóa mắt của ông ngoại, cứ dán mắt vào ông và kêu lên: "Ôi, mẹ ơi, ông ngoại mới đẹp làm sao!" Sau đó mẹ cậu hỏi cậu rằng cậu nghĩ ai đẹp hơn, cha cậu hay ông ngoại, và cậu đáp ngay lập tức: "Cha con là người đẹp trai nhất trong số những người Ba Tư, nhưng ông ngoại lại là người đẹp trai nhất trong số tất cả những người Mede mà con từng đặt mắt nhìn thấy, dù là ở trong nước hay xứ người."

(3) Nghe vậy, Astyages ôm trọn đứa trẻ vào lòng, và tặng cậu một chiếc áo choàng đẹp tuyệt cùng vòng tay và vòng cổ như một dấu hiệu của sự tôn vinh; và khi ngài cưỡi ngựa ra ngoài, cậu bé buộc phải cưỡi ngựa bên cạnh ngài trên một con ngựa mang dây cương bằng vàng, y hệt như nhà vua Astyages vậy. Và Cyrus, người có một tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp cũng như với danh dự, cảm thấy hài lòng với chiếc áo choàng lóa mắt, và vô cùng vui sướng khi học cưỡi ngựa, bởi vì ngựa là một loài hiếm thấy ở Ba Tư, một xứ sở núi non và ít thích hợp cho việc chăn nuôi giống vật này.

(4) Lúc bấy giờ Cyrus và mẹ cậu cùng dùng bữa với nhà vua, và Astyages, vì muốn cậu bé tận hưởng bữa tiệc và không phải nuối tiếc quê nhà, đã liên tục gắp cho cậu đủ mọi món ăn ngon lành. Ngay lúc đó, câu chuyện kể lại rằng, Cyrus thốt lên: "Ôi, ông ngoại ơi, chắc hẳn ông phải nhọc công lắm mới với tới tất cả những món ăn này và nếm thử tất cả những thực phẩm tuyệt vời nhường ấy!" "À, nhưng mà," Astyages nói, "đây chẳng phải là một bữa ăn ngon hơn nhiều so với bất kỳ bữa ăn nào con từng có ở Ba Tư sao?" Nhân đó, theo lời đồn, Cyrus đáp rằng: "Cách của chúng con, thưa ông ngoại, ngắn hơn nhiều và đơn giản hơn nhiều. Chúng con đói và muốn được ăn, và bánh mì cùng thịt đưa chúng con đến nơi chúng con muốn ngay lập tức; nhưng còn ông, hỡi những người Mede, bất chấp sự vội vã của các ông, lại rẽ qua quá nhiều ngã rẽ và vòng vèo rắc rối đến mức thật kỳ lạ nếu các ông tìm được đường đến đích mà chúng con đã đạt được từ lâu lắm rồi."

(5) "Này chú bé," ông ngoại cậu nói, "chúng ta hoàn toàn không ngại con đường dài đâu: hãy tự mình nếm thử các món ăn và xem chúng ngon thế nào đi." "Có một điều con thực sự thấy," cậu bé nói, "đó là bản thân ông cũng không mấy thích chúng cho lắm." Và khi Astyages hỏi tại sao cậu lại chắc chắn đến vậy, Cyrus đáp: "Bởi vì khi ông chạm tay vào một mẩu bánh mì chân chính, ông không bao giờ lau tay cả, nhưng nếu ông cầm một trong những món ăn cầu kỳ tinh vi này, ông liền quay sang chiếc khăn ăn ngay lập tức, cứ như thể ông đang tức giận vì thấy ngón tay mình bị bẩn vậy."

(6) "Hay lắm, hỡi chú bé của ta, hay lắm," nhà vua nói, "cứ thoải mái dự tiệc và vui vẻ đi, rồi chúng ta sẽ đưa con trở lại Ba Tư như một chàng trai cường tráng tuyệt vời." Và dứt lời, ngài cho bày những đĩa thịt và thú săn trước mặt đứa cháu trai. Cậu bé tỏ ra ngỡ ngàng trước sự phong phú của chúng và thốt lên: "Ông ngoại ơi, ông cho con tất cả những thứ này cho riêng con, để con muốn làm gì với chúng thì làm sao?" "Tất nhiên là ta cho rồi," nhà vua đáp.

(7) Ngay lập tức, không chút chần chừ, cậu bé Cyrus cầm lấy đĩa này rồi đến đĩa khác và trao chúng cho các hầu cận đứng xung quanh ông ngoại mình, kèm theo mỗi món quà là một lời phát biểu nhỏ: "Cái này là cho anh, vì đã tận tình dạy tôi cưỡi ngựa"; "Còn cái này là cho anh, để đáp lại cây lao anh tặng tôi, tôi vẫn còn giữ nó đây"; "Và cái này là cho anh, vì anh phục vụ ông ngoại tôi thật đẹp mắt"; "Và cái này cho ngài, thưa ngài, vì ngài tôn kính mẹ tôi." Cứ thế cho đến khi cậu tống khứ hết số thịt đã được ban cho.

(8) "Nhưng con chẳng cho miếng nào ra hồn đối với Sacas, người quản tử của ta cả," người ông phàn nàn, "trong khi ta tôn trọng hắn hơn tất cả những kẻ khác." Giờ thì Sacas này, như ai cũng có thể đoán được, là một anh chàng khôi ngô, và hắn có quyền đưa vào diện kiến nhà vua bất kỳ ai muốn yết kiến, hay ngăn cản họ lại nếu hắn thấy thời điểm không thích hợp. Nhưng Cyrus, đáp lại câu hỏi của ông ngoại mình, liền trả lời một cách hăng hái hệt như một đứa bé chẳng biết sợ hãi là gì: "Và tại sao ông lại phải kính trọng hắn nhiều đến thế cơ chứ, thưa ông ngoại?" Lúc đó Astyages phì cười và nói: "Con không thấy hắn pha chế chén rượu khéo léo thế nào và rót rượu duyên dáng ra sao hay sao?" Và quả thật, những người dâng rượu hoàng gia này có đôi tay khéo léo trong nhiệm vụ của họ, pha chế bình rượu với vẻ lịch thiệp vô hạn, và rót rượu vào các chiếc cốc không rơi một giọt, và khi họ trao chiếc cốc, họ khéo léo giữ nó cân bằng giữa ngón cái và ngón trỏ để người dự tiệc cầm lấy.

(9) "Bây giờ, thưa ông ngoại," cậu bé nói, "xin hãy bảo Sacas đưa cho con chiếc cốc, và để con rót rượu đẹp mắt không kém gì hắn nếu con có thể, và giành lấy ân huệ của ông." Thế là nhà vua bảo viên quản tử trao cho cậu chiếc cốc, và Cyrus cầm lấy nó, pha chế rượu hệt như cách cậu đã thấy Sacas làm, rồi với vẻ mặt vô cùng nghiêm nghị cùng sự khéo léo và duyên dáng tối đa, cậu mang chiếc cốc đến cho ông ngoại mình và dâng nó với một phong thái khiến mẹ cậu và cả Astyages bật cười thành tiếng, rồi Cyrus cũng phì cười theo, quàng tay ôm lấy ông ngoại và hôn ông, miệng kêu lên: "Sacas, thời của ông đã hết rồi! Chắc chắn tôi sẽ hất cẳng ông khỏi chức vụ đó cho xem. Tôi sẽ làm một kẻ dâng rượu đẹp mắt chẳng kém gì ông — và không tự mình nướng sạch rượu đâu!" Bởi vì thực tế là viên quản tử của nhà vua khi dâng rượu buộc phải nhúng một chiếc muôi vào cốc trước, rót một ít vào lòng bàn tay rồi nhấm nháp một ngụm, để nếu hắn có pha thuốc độc vào bình thì chính hắn cũng chẳng được lợi lộc gì.

(10) Do đó, Astyages, để tiếp tục trò đùa, đã hỏi cậu bé tại sao cậu lại quên nếm thử rượu mặc dù đã bắt chước Sacas trong mọi chuyện khác. Và đứa trẻ đáp: "Quả thực, con sợ rằng có thuốc độc trong cốc. Bởi vì khi ông tổ chức tiệc sinh nhật cho các bạn bè của mình, con thấy rất rõ rằng Sacas đã bỏ thuốc độc vào cho tất cả các ông." "Và làm thế nào con lại phát hiện ra điều đó, hỡi con trai của ta?" nhà vua hỏi. "Bởi vì con thấy đầu óc các ông quay cuồng thế nào và các ông loạng choạng ra sao; và tất cả các ông bắt đầu làm những điều mà các ông không cho phép bọn trẻ chúng con làm — các ông nói chuyện to hết cỡ, và chẳng ai trong số các ông hiểu nổi một từ người khác nói, rồi các ông bắt đầu hát hò theo cách khiến bọn con phải cười, và dẫu các ông chẳng thèm nghe ca sĩ hát nhưng các ông lại thề rằng bài hát đó hay một cách vô cùng cao quý, rồi sau đó mỗi người trong số các ông tự khoe khoang về sức mạnh của chính mình, thế mà ngay khi đứng dậy để khiêu vũ, cách xa nhịp điệu một trời một vực, các ông едва giữ nổi đôi chân của mình. Và ông dường như hoàn toàn quên mất, thưa ông ngoại, rằng ông là vua, và các thần dân của ông quên mất rằng ông là vị tối cao của họ. Thế rồi cuối cùng con hiểu ra rằng các ông hẳn đang cử hành cái gọi là 'tự do ngôn luận' mà chúng ta vẫn hay nghe nói đến; chí ít thì các ông cũng chẳng chịu im lặng lấy một giây."

(11) "Ừ thì, này cậu bé," Astyages nói, "chẳng lẽ cha của con không bao giờ mất kiểm soát khi uống rượu sao?" "Chắc chắn là không rồi," đứa trẻ đáp. "Vậy chuyện gì xảy ra thế?" nhà vua hỏi. "Cha con làm dịu cơn khát của mình," Cyrus đáp, "và chỉ có thế thôi. Chẳng có tai hại nào theo sau cả. Ông thấy đấy, ngài không có một tên Sacas nào để pha rượu cho mình cả." "Nhưng này Cyrus," mẹ cậu xen vào, "tại sao con lại quá cay nghiệt với Sacas vậy?" "Bởi vì con ghét hắn quá cơ," cậu bé đáp. "Hết lần này đến lần khác khi con muốn đến gặp ông ngoại, cái tên ác ôn già này lại ngăn con lại. Xin ông, thưa ông ngoại, hãy để con trừng trị hắn trong ba ngày đi." "Và con sẽ xử lý hắn thế nào?" Astyages hỏi. "Thì," cậu bé nói, "con sẽ đứng ì ra ở ngưỡng cửa y hệt như hắn vẫn làm, và rồi khi hắn muốn đi vào ăn sáng con sẽ bảo 'Ông chưa được ăn sáng đâu: NGÀY ẤY đang bận với vài người', và khi hắn đến ăn tối con sẽ bảo 'Chưa có bữa tối nào hết: NGÀY ẤY đang tắm', và khi hắn đói cồn cào con sẽ bảo 'Chờ một lát: NGÀY ẤY đang ở với các phi tần trong triều', cho đến khi con quấy rầy và hành hạ hắn hệt như hắn hành hạ con, ngăn cản con đến với ông, thưa ông ngoại, khi con muốn đến."

(12) Bằng cách đó, cậu bé đã làm cho các bậc bề trên vui thích vào buổi tối, và ban ngày nếu thấy ông ngoại hoặc cậu ruột muốn thứ gì, chẳng ai có thể nhanh chân hơn cậu trong việc mang nó đến; quả thực, chẳng có gì khiến cậu vui sướng hơn là được làm đẹp lòng họ.

(13) Giờ thì khi Mandane bắt đầu nghĩ đến chuyện quay về với chồng mình, Astyages nài nỉ cô hãy để lại đứa bé. Cô đáp rằng dẫu cô muốn làm vừa lòng cha trong mọi việc, nhưng sẽ thật khó khăn nếu phải để đứa bé ở lại trái với ý nguyện của nó.

(14) Vị lão vương liền quay sang Cyrus: "Này con trai, nếu con ở lại với chúng ta, Sacas sẽ không bao giờ ngăn cản con đến gặp ta nữa: con sẽ được tự do đến bất cứ khi nào con chọn, và con đến càng thường xuyên thì ta càng vui bấy nhiêu. Con sẽ có ngựa để cưỡi, ngựa của chính ta và bao nhiêu con tùy thích, và khi con rời bỏ chúng ta, con sẽ mang chúng theo cùng. Và lúc ăn tối, con sẽ đi theo con đường của riêng mình và tuân theo lối riêng để đạt tới mục tiêu tiết độ tùy theo cách con cho là đúng. Và ta sẽ tặng con toàn bộ thú săn trong các khu rừng và khu vườn thượng uyển của ta, đồng thời gom thêm cho con, và ngay khi con học xong cách cưỡi ngựa, con sẽ được đi săn, bắn cung và phóng lao hệt như một người đàn ông trưởng thành. Và con sẽ có những đứa trẻ để chơi cùng và bất cứ thứ gì khác con mong muốn: con chỉ cần đòi hỏi ta và nó sẽ thuộc về con."

(15) Khi ấy người mẹ bèn gặng hỏi đứa con trai xem nó thích ở lại với ông ngoại ở Media hơn, hay muốn về nhà cùng cô: và cậu đáp ngay lập tức rằng cậu thích ở lại hơn. Và khi cô tiếp tục hỏi lý do, cậu đáp, theo câu chuyện kể lại rằng: "Bởi vì ở nhà con được xem là người giỏi nhất trong đám thiếu niên về khoản bắn cung và phóng lao, và con nghĩ mình thực sự như vậy; nhưng ở đây con biết mình là kẻ tồi tệ nhất về khoản cưỡi ngựa, và điều đó, mẹ có thể chắc chắn, làm con vô cùng bực bội. Giờ thì nếu mẹ để con ở lại đây và con học được cách cưỡi ngựa, khi con trở về Ba Tư, con hứa với mẹ, con sẽ vượt trội hơn tất cả những chàng trai tuấn tú đi bộ của chúng ta, và khi con quay lại Media một lần nữa, con sẽ cố gắng cho ông ngoại thấy rằng, bất chấp đội kỵ binh lừng lẫy của ông, ông sẽ chẳng có một tay kỵ binh nào cừ khôi hơn người cháu ngoại của mình để chiến đấu cho các trận chiến của ngài đâu."

(16) Lúc đó người mẹ liền nói: "Nhưng còn sự công chính và ngay thẳng, con trai ta, làm sao con có thể học được những điều đó ở đây khi các thầy giáo của con ở tận nhà?" "Ồ," Cyrus nói, "con biết tuốt về những thứ đó rồi." "Làm sao con biết chắc là mình biết?" Mandane hỏi. "Bởi vì," đứa trẻ đáp, "trước khi con rời nhà, thầy giáo của con nghĩ rằng con đã học đủ để phân xử các vụ kiện, và thầy đã giao cho con xét xử các tranh chấp. Vâng! và con nhớ có lần," cậu nói, "con đã bị ăn roi vì phán xử sai."

(17) "Con sẽ kể cho mẹ nghe về vụ án đó. Có hai đứa bé, một đứa to xác và một đứa nhỏ con, và chiếc áo khoàng của đứa to xác thì chật còn chiếc áo của đứa nhỏ con thì rộng thùng thình. Thế là đứa to xác lột áo đứa nhỏ ra và mặc chiếc áo chật của nó vào, đồng thời tròng chiếc áo rộng thùng thình lên người mình. Lúc đó khi đưa ra phán quyết, con đã quyết định rằng sẽ tốt hơn cho cả hai bên nếu mỗi đứa sở hữu chiếc áo vừa vặn nhất với mình. Nhưng con chưa kịp nói thêm câu nào trong phán quyết của mình, thì thầy giáo đã đánh tơi bời ở đây, và bảo rằng phán quyết đó sẽ là tuyệt vời nếu con được bổ nhiệm để nói cái nào vừa và cái nào không vừa, nhưng con được triệu tập để phán quyết xem chiếc áo thuộc về ai, và điểm cần xem xét là ai mới có quyền sở hữu nó: Kẻ dùng bạo lực chiếm đoạt một món đồ có được quyền giữ nó không, hay là kẻ đã tự tay làm ra nó và mua nó cho riêng mình? Và thầy giáo đã dạy con rằng điều gì hợp pháp thì là công chính và điều gì đi ngược lại luật pháp thì dựa trên bạo lực, và do đó, thầy bảo, vị thẩm phán phải luôn luôn đảm bảo rằng phán quyết của mình phải khớp với luật pháp. Thế nên mẹ thấy đấy, con đã nắm toàn bộ sự công chính trong lòng bàn tay từ lâu rồi. Và nếu có bất cứ điều gì nữa con cần biết, ừ thì, con có ông ngoại ở bên cạnh, và ngài sẽ luôn dạy dỗ con."

(18) "Nhưng," người mẹ vặn lại, "những gì mà mọi người coi là công chính và ngay thẳng tại triều đình của ông ngoại con lại không hề được nhìn nhận như thế ở Ba Tư. Chẳng hạn, chính ông ngoại con đã tự xưng là chúa tể trên mọi người mọi vật ở xứ Media, nhưng tại Ba Tư, sự bình đẳng được xem là một phần thiết yếu của sự công chính: và trước hết và trên hết, chính cha con cũng phải thực hiện các nghĩa vụ được phân công đối với nhà nước và nhận những bổng lộc được chỉ định; và thước đo cho những điều này không phải là sự tùy hứng của cá nhân ngài mà là luật pháp. Vậy hãy cẩn thận đấy, kẻo con có thể bị đánh roi đến chết khi quay về Ba Tư, nếu con học được từ ngôi trường của ông ngoại mình thói quen yêu quý sự bạo ngược chứ không phải vương quyền, và ôm giữ niềm tin của kẻ bạo chúa rằng chỉ có hắn và một mình hắn mới được hưởng nhiều hơn tất cả những kẻ khác." "Ôi nhưng mà, thưa mẹ," cậu bé đáp, "ông ngoại con lại giỏi hơn trong việc dạy người ta có ít phần hơn, chứ không phải nhiều hơn. Mẹ không thấy sao," cậu kêu lên, "ông đã dạy tất cả người Mede có ít phần hơn chính ông thế nào cơ chứ? Cho nên mẹ cứ yên tâm đi, ông ngoại sẽ chẳng bao giờ biến con, hay bất kỳ ai khác, thành một kẻ thành thạo trong nghệ thuật vơ vét quá mức đâu."

(C.4) Cái lưỡi thoăn thoắt của cậu bé cứ thế tuôn trào. Nhưng cuối cùng người mẹ cũng về nhà, còn Cyrus ở lại phía sau và được nuôi dưỡng tại Media. Cậu nhanh chóng kết bạn với những người đồng trang lứa và đi thẳng vào trái tim họ, rồi chẳng mấy chốc chiếm được cảm tình của các bậc phụ huynh nhờ sự duyên dáng trong cách ứng xử cùng tình cảm chân thành mà cậu dành cho con cái họ, đến mức khi muốn xin xỏ điều gì từ nhà vua, họ đều bảo con cái mình hãy nhờ Cyrus sắp xếp giúp. Và dù đó là gì đi chăng nữa, lòng nhân hậu trong tim cậu bé cùng tham vọng hăng hái đã khiến cậu đặt việc hoàn thành nó lên hàng ưu tiên cao nhất.

(2) Về phần mình, Astyages không cách nào nỡ từ chối ngay cả ước nguyện nhỏ nhặt nhất của đứa cháu ngoại. Có lần, khi ngài lâm bệnh, chẳng thứ gì có thể dụ dỗ cậu bé rời khỏi bên cạnh ngài; cậu không kìm được nước mắt, và sự kinh hãi của cậu khi nghĩ rằng ông ngoại có thể qua đời hiện lên rõ mồn một để ai nấy đều thấy rõ. Nếu vị lão vương cần bất cứ thứ gì trong đêm, Cyrus là người đầu tiên nhận ra, chính cậu là người bật dậy đầu tiên để hầu hạ ngài, mang đến cho ngài những gì cậu nghĩ sẽ làm ngài hài lòng. Bằng cách đó, trái tim của vị vua già đã hoàn toàn thuộc về cậu.

(3) Trong những ngày đầu tiên này, phải thừa nhận rằng cậu bé hơi lắm điều quá mức, một phần có lẽ là do sự nuôi dạy của cậu. Cậu đã được thầy giáo huấn luyện, mỗi khi ngồi phán xử, phải đưa ra lý do cho những việc mình làm, và tìm kiếm lý do tương tự từ những người khác. Hơn nữa, sự tò mò và cơn khát tri thức của cậu lớn đến mức cậu buộc phải gặng hỏi bất kỳ ai mình gặp lời giải thích cho điều này, điều nọ và điều kia; và sự lanh lợi của cậu sắc bén đến mức cậu luôn sẵn sàng đưa ra câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi nào đặt ra cho mình, khiến cho tính hay nói đã trở thành, có thể nói như vậy, bản tính thứ hai của cậu. Nhưng, giống như ở cơ thể khi một đứa trẻ lớn vượt tuổi, một chút nét ngây thơ trẻ con chắc chắn sẽ lộ diện và tiết lộ bí mật về độ tuổi của nó, dẫu cho cậu bé có ba hoa đến mức nào đi nữa, ấn tượng để lại trong lòng người nghe không phải là sự kiêu ngạo, mà là sự giản dị và ấm áp, và người ta thà vui vẻ lắng nghe những lời ba hoa của cậu cho đến tận cùng còn hơn là ngồi cạnh cậu mà thấy cậu câm nặc.

(4) Tuy nhiên, khi vóc dáng cao lớn hơn và năm tháng đưa cậu đến thời điểm thời thơ bấy chuyển giao sang tuổi thanh niên, cậu trở nên kiệm lời hơn và giọng điệu trầm tĩnh hơn: đôi khi, thực sự là cậu rụt rè đến mức đỏ mặt khi đứng trước các bậc bô lão, và chẳng còn mấy dấu hiệu của sự bạo dạn ngày xưa, cái sự bồng bột của một chú cún con chồm lên bất cứ ai, dù là chủ nhân hay người lạ. Cứ thế cậu trở nên điềm đạm hơn, nhưng sự hiện diện của cậu vẫn vô cùng cuốn hút, và cũng chẳng có gì lạ: bởi vì bất cứ khi nào diễn ra một cuộc thi tài kỹ năng giữa cậu và các đồng bạn, cậu không bao giờ thách thức bạn bè ở những môn mà bản thân cậu xuất sắc nhất; cậu sẽ bắt đầu chính xác ở nơi mà cậu cảm thấy sự kém cỏi của mình, quả quyết rằng cậu sẽ vượt qua tất cả — quả thực, cậu sẽ phóng lên lưng ngựa để bắn cung hoặc phóng lao trước khi kịp ngồi vững trên yên — và rồi, khi bị đánh bại, cậu sẽ là kẻ đầu tiên bật cười trước sự lúng túng của chính mình.

(5) Cậu không có chút mong muốn nào trốn tránh thất bại bằng cách bỏ cuộc, mà lấy sự quyết tâm làm cho tốt hơn vào lần sau làm vinh quang cho mình, và nhờ thế chẳng mấy chốc cậu thấy mình trở thành một kỵ binh cừ khôi chẳng kém gì các bạn đồng trang lứa, rồi chẳng bao lâu sau, với ngọn lửa nhiệt huyết ấy, cậu vượt qua tất cả bọn họ, và cuối cùng sự thưa thớt của thú rừng trong các khu rừng cấm của nhà vua bắt đầu cho thấy những gì cậu có thể làm được. Với các hoạt động truy đuổi, bắn cung và đâm lao, số lượng thú vật giảm sút trầm trọng đến mức Astyages gặp vô vàn khó khăn để thu gom đủ cho cậu. Thế rồi Cyrus, thấy rằng ông ngoại dẫu có thiện chí đến đâu cũng không bao giờ có thể cung cấp đủ cho mình, liền đến gặp ông một ngày nọ và nói: "Ông ngoại ơi, sao ông lại phải nhọc công tìm kiếm thú săn cho con làm gì? Chỉ cần ông cho phép con đi săn cùng cậu ruột, con có thể tưởng tượng rằng mọi con thú chúng ta tình cờ bắt gặp đều được nuôi dưỡng chỉ để mang lại niềm vui riêng cho con!"

(6) Nhưng dẫu cậu bé có khao khát đi săn đến đâu đi nữa, cậu dường như đã đánh mất cái nghệ thuật làm nũng thuở bé để đạt được điều mình muốn: và cậu đã chần chừ rất lâu trước khi tiếp cận nhà vua một lần nữa. Nếu như trong những ngày xưa cũ, cậu từng cãi nhau với Sacas vì không cho cậu vào, thì giờ đây cậu bắt đầu đóng vai Sacas với chính mình, và không thể tụ tập đủ dũng khí để xông vào cho đến khi cậu nghĩ thời điểm thích hợp đã đến; quả thực, cậu đã nài nỉ chính Sacas thật hãy cho cậu biết khi nào cậu có thể mạo hiểm. Để rồi trái tim của viên quản tử già đã bị chinh phục, và ông ta, giống như phần còn lại của thế giới, hoàn toàn say đắm hoàng tử trẻ tuổi.

(7) Cuối cùng, khi Astyages thấy rằng lòng dạ đứa cháu trai đã thực sự hướng về những cuộc săn bắn nơi hoang dã, ngài đã cho phép cậu đi cùng cậu ruột, đồng thời cẩn thận cử một đội hộ vệ gồm các cựu binh kỵ mã bám sát gót cậu, những người có nhiệm vụ canh chừng và bảo vệ cậu ở bất kỳ nơi hiểm trở nào hoặc trước bất kỳ mãnh thú nào. Cyrus liên tục hỏi đoàn tùy tùng về những sinh vật mà họ tình cờ gặp: loài nào cậu phải tránh và loài nào cậu được phép săn? Họ bảo cậu phải cảnh giác với gấu, lợn rừng, sư tử và báo: rất nhiều kẻ đã tự đặt mình vào khoảng cách quá gần với những sinh vật nguy hiểm này và bị xé xác thành từng mảnh; nhưng linh dương, hươu, cừu núi và lừa hoang, họ nói, thì vô hại. Và thợ săn, họ nói thêm, phải cẩn trọng với những nơi hiểm trở cũng giống như với chính lũ thú dữ: không ít lần cả ngựa và người đã lao đầu xuống vực thẳm đến chết.

(8) Cậu bé dường như ghi tạc mọi bài học của họ vào lúc đó; nhưng rồi cậu nhìn thấy một con hươu nhảy vọt lên, và quên sạch mọi lời cảnh báo khôn ngoan mà cậu vừa nghe, lập tức đuổi theo, chẳng để ý gì ngoài con thú ở phía trước. Con ngựa của cậu, trong cú lao bổ về phía trước đầy cuồng nộ, đã trượt chân và ngã khuỵu xuống đầu gối, suýt nữa thì hất văng người kỵ mã qua đầu nó. May mắn sao cậu bé đã xoay sở giữ được yên ngựa và con ngựa lấy lại được thăng bằng. Khi họ đến vùng đất bằng phẳng bên dưới, Cyrus phóng lao ra, và con hươu lăn đùng ra chết, một con vật to lớn và đẹp tuyệt. Cậu bé vẫn đang rạng rỡ niềm vui thì đội hộ vệ phi ngựa tới và nghiêm khắc quở trách cậu. Bộ cậu không thấy hiểm nguy mình vừa trải qua sao? Chắc chắn họ sẽ mách ông ngoại cho mà xem. Cyrus, người vừa xuống ngựa, đứng ngây người ra và lắng nghe với vẻ mặt hối hận, cúi gằm đầu trong lúc họ mắng mỏ cậu. Nhưng giữa lúc đó, cậu lại nghe thấy tiếng hò reo săn bắn vang lên lần nữa: cậu phóng vút lên lưng ngựa như thể bị điên cuồng — một con lợn rừng đang lao sầm tới họ, và cậu phi ngựa lao ra đối đầu với nó, giương cung với độ chính xác tuyệt đối, bắn trúng trán con quái vật và hạ gục nó tại chỗ.

(9) Nhưng lúc này người cậu ruột cho rằng đã đến lúc thích hợp để tự mình mắng mỏ đứa cháu; sự táo bạo của cậu bé đã vượt quá giới hạn. Chỉ có điều, cậu càng mắng thì Cyrus càng nài nỉ ông cho phép cậu mang chiến lợi phẩm về làm quà tặng ông ngoại. Đối với lời khẩn nài ấy, câu chuyện kể lại rằng người cậu đã đáp rằng: "Nhưng nếu ông ngoại con phát hiện ra rằng con tự ý đi săn, ngài sẽ không chỉ mắng con vì tội đi săn mà còn mắng ta vì tội cho phép con đi." "Thế thì cứ để ông đánh roi con nếu ông thích," cậu bé nói, "khi con đã dâng tặng ông những con thú của con; và cả cậu nữa, thưa cậu," cậu tiếp tục, "hãy trừng phạt con thế nào tùy ý, chỉ xin đừng từ chối con điều này." Thế là Cyaxares đành phải chịu thua: — "Muốn sao thì tùy con vậy, con chẳng kém gì vua của chúng ta là mấy."

(10) Đó là cách mà Cyrus được phép mang các chiến lợi phẩm về nhà, và đúng thời điểm, dâng tặng chúng cho ông ngoại mình. "Này ông ngoại, đây là một số con thú con bắn được cho ông." Nhưng cậu không khoe khoang vũ khí của mình một cách đắc thắng; cậu chỉ đặt chúng xuống với vết máu vẫn còn đính trên đó ở nơi cậu hy vọng ông ngoại sẽ nhìn thấy. Thật dễ dàng để đoán trước câu trả lời mà Astyages đưa ra: — "Ta buộc phải vui vẻ chấp nhận mọi món quà con mang đến, chỉ có điều ta chẳng muốn món nào trong số đó phải đánh đổi bằng chính mạng sống của con." Và Cyrus nói: "Nếu ông thực sự không muốn chúng, thưa ông ngoại, ông có thể cho con được không? Và con sẽ chia chúng cho lũ trẻ." "Cứ tự nhiên đi con," cụ già nói, "cứ lấy chúng, hoặc bất cứ thứ gì khác con thích; muốn phân phát đi đâu thì tùy, và rất hoan nghênh."

(11) Thế là Cyrus ôm chiến lợi phẩm đi, chia sẻ nó với các đồng bạn của mình, miệng không ngớt lẩm bẩm: "Thật là một trò hề ngớ ngẩn khi chúng ta cứ đi săn trong khu rừng cấm! Chẳng khác gì săn những con vật bị cột dây vào cọc cả. Trước hết, đó chỉ là một mảnh đất bé tí tẹo, rồi thì những con thú tội nghiệp trông mới thảm hại làm sao, con thì què quặt, con thì tàn tật! Nhưng những con thú thực sự trên núi non và đồng bằng kia — mới tuyệt vời làm sao, to lớn làm sao, mập mạp và bóng bẩy làm sao! Chà, những con hươu nhảy vọt lên tận trời xanh cứ như thể chúng có cánh vậy, và những con lợn rừng lao bổ vào đánh cận chiến như những dũng sĩ trong trận trận! Và nhờ vào vóc dáng bề thế của chúng, người ta không thể nào bắn trượt được. Chà, ngay cả khi chúng nằm chết ở đó," cậu kêu lên, "trông chúng còn đẹp hơn cả những sinh vật bị nhốt trong chuồng khi còn sống! Còn các cậu," cậu nói thêm, "chẳng lẽ các ông bố của các cậu không thể cho phép các cậu đi săn được sao?" "Họ sẵn lòng lắm chứ," bọn chúng đáp, "nếu như nhà vua chịu ra lệnh."

(12) "Thế thì," Cyrus nói, "ai sẽ là người nói với Astyages hộ chúng ta đây?" "Chà," bọn chúng đáp, "còn ai thích hợp để thuyết phục ngài hơn chính cậu?" "Không đời nào, thề có chúa, không phải ta!" Cyrus kêu lên. "Ta không hiểu nổi chuyện gì đã xảy ra với mình nữa: ta không thể nói chuyện với ông ngoại được nữa; ta không dám nhìn thẳng vào mặt ngài nữa. Nếu cái cơn này cứ lớn dần lên, ta sợ mình sẽ chẳng khác gì một kẻ đần độn. Thế mà, khi ta còn là một cậu bé, người ta bảo ta ăn nói sắc bén lắm cơ mà." Đáp lại, đám trẻ kêu lên: "Ừ thì, đây là một rắc rối tồi tệ đấy: và nếu cậu không chịu nhúc nhích vì bạn bè, nếu cậu chẳng thể làm gì cho chúng ta trong lúc hoạn nạn, chúng ta đành phải tìm người khác vậy."

(13) Khi Cyrus nghe thấy vậy, cậu bị chạm nọc đến tận tâm can: cậu lủi thủi bỏ đi trong im lặng và tự thúc giục mình phải lấy lại vẻ mặt bạo dạn, rồi bước vào gặp ông ngoại, tuy nhiên không quên lên kế hoạch trước xem làm thế nào để dẫn dắt vấn đề một cách khéo léo nhất. Thế là cậu mở lời thế này: "Xin hỏi ông, thưa ông ngoại, nếu một trong số các nô lệ của ông bỏ trốn, và ông bắt được hắn, ông sẽ làm gì hắn?" "Còn làm gì khác ngoài việc cùm xiềng hắn và bắt hắn lao động trong gông xiềng chứ?" cụ già đáp. "Nhưng nếu hắn tự nguyện quay về, ông sẽ đối xử với hắn ra sao?" "Thì, ta sẽ cho hắn một trận đòn roi, như một lời cảnh cáo không được tái phạm, rồi đối xử với hắn như thể chẳng có chuyện gì xảy ra." "Đã đến lúc ông chuẩn bị sẵn một cây chổi lông gà cho đứa cháu ngoại của mình rồi đấy," cậu bé nói: "vì con đang lên kế hoạch gom đám bạn bè lại và bỏ trốn trong một chuyến thám hiểm săn bắn đấy." "Thật tử tế khi con báo trước cho ta biết đấy," Astyages nói. "Và giờ hãy nghe đây, ta cấm con bén mảng bước chân ra khỏi khuôn viên cung điện. Thật là một ý tưởng hay ho," ngài nói thêm, "nếu vì một ngày đi săn mà ta để mất đi chú cừu non của con gái ta."

(14) Thế là Cyrus làm theo mệnh lệnh và ở yên trong nhà, nhưng cậu trải qua những ngày tháng trong im lặng với vầng trán u ám. Cuối cùng Astyages thấy được đứa cháu trai cảm thấy cay đắng nhường nào, và ngài quyết định làm vui lòng nó bằng cách tự mình dẫn đầu một cuộc săn bắn. Ngài tổ chức một buổi tập hợp lớn gồm cả kỵ binh và bộ binh, và đám trẻ khác cũng không bị bỏ quên: ngài cho lùa lũ thú xuống vùng đất bằng phẳng nơi có thể dễ dàng cưỡi ngựa đuổi theo, và rồi cuộc săn bắt đầu với phong cách láng lẩy tuyệt vời. Theo phong cách hoàng gia — vì bản thân ngài có mặt trực tiếp — ngài ra lệnh không ai được phép bắn cho đến khi Cyrus đã thỏa mãn chí hướng săn bắn của mình. Nhưng Cyrus không đời nào nghe về bất kỳ sự cản trở nào dành cho những người khác: "Ông ngoại ơi," cậu kêu lên, "nếu ông muốn con tận hưởng niềm vui, hãy để bạn bè con săn cùng con và mỗi chúng ta hãy cố gắng hết sức mình."

(15) Ngay lập tức Astyages để tất cả bọn họ đi, trong khi ngài đứng yên quan sát cảnh tượng, nhìn thấy cách họ tranh nhau tấn công con mồi và cách tham vọng bùng cháy trong lồng ngực họ khi họ theo sát cuộc săn và phóng những cây lao. Nhưng trên hết ngài vô cùng vui sướng khi thấy đứa cháu ngoại không tài nào giữ được im lặng vì quá đỗi phấn khích, gọi tên từng người đồng bạn mỗi khi tiếp cận được con mồi, hệt như một chú chó săn tơ cao quý, tru lên vì phấn khích thuần túy. Trái tim người ông già tràn ngập niềm vui sướng khi nghe tiếng cậu bé cười vang đầy hoan hỉ trước một người bạn và hào hứng cổ vũ cho người khác mà không hề có chút ghen tị nào. Cuối cùng đã đến lúc quay về, và họ lên đường trở về nhà, chất đầy những chiến lợi phẩm vĩ đại. Và kể từ đó trở đi, nhà vua vô cùng hài lòng với chuyến đi săn trong ngày đến mức bất cứ khi nào có thể, ngài lại lao ra ngoài cùng đứa cháu trai, toàn bộ đoàn tùy tùng theo sau, và ngài không bao giờ quên mang theo cả lũ trẻ nữa, "để làm vui lòng Cyrus." Cứ thế Cyrus trải qua thời niên thiếu của mình, chia sẻ và góp phần mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người, mà không mang lại nỗi buồn cho bất kỳ ai.

(16) Nhưng khi cậu khoảng mười lăm tuổi, tình cờ là Hoàng tử trẻ tuổi xứ Assyria, người sắp sửa cưới vợ, đã lên kế hoạch cho một cuộc săn bắn của riêng mình để vinh danh ngày cưới. Và, hay tin rằng ở vùng biên giới giữa Assyria và Media có rất nhiều thú săn có thể kiếm được, chưa hề bị chạm đến hay quấy rầy vì chiến tranh, vị hoàng tử đã chọn những vùng đất biên viễn này làm bãi săn của mình. Nhưng để đảm bảo an toàn, ngài mang theo một hộ tống lớn gồm kỵ binh và quân mang khiên nhẹ, những kẻ có nhiệm vụ lùa thú từ hang ổ của chúng xuống các vùng đất bằng phẳng canh tác bên dưới nơi dễ dàng cưỡi ngựa. Ngài khởi hành đến nơi các tiền đồn của người Assyria được bố trí và có đồn trú đang túc trực, và ở đó ngài cùng đội quân của mình chuẩn bị ăn tối, với ý định bắt đầu cuộc săn vào lúc rạng đông ngày hôm sau.

(17) Và khi màn đêm buông xuống, tình cờ là đội tuần tra ban đêm, một lực lượng kỵ binh và bộ binh đáng kể, đã đến từ thành phố để thay thế đội đồn trú đang canh gác. Nhờ đó vị hoàng tử nhận ra rằng ngài có trong tay một lực lượng giống như một đội quân lớn: cả hai đồn trú cùng đội kỵ binh và bộ binh cho chuyến đi săn. Và rồi ngài tự hỏi liệu có nên cướp phá tài sản từ vùng đất của người Mede hay không? Bằng cách này, cuộc săn sẽ thêm phần lừng lẫy, và sẽ có một kho dự trữ lớn các loài thú để tế thần. Với ý định đó, ngài thức dậy từ sáng sớm và dẫn quân xuất phát: bộ binh ngài tập trung lại ở biên giới, trong khi bản thân ngài, dẫn đầu đội kỵ binh, phi ngựa tiến thẳng đến các pháo đài biên giới của người Mede. Tại đây ngài dừng chân với phần lớn lực lượng hùng mạnh nhất của mình, để ngăn chặn các đồn trú xuất kích, và trong lúc đó ngài cử những binh lính ưu tú tiến lên theo từng nhóm nhỏ với lệnh cướp phá khắp mọi ngả đường, phục kích bất cứ thứ gì họ tình cờ bắt gặp và lùa chiến lợi phẩm về cho ngài.

(18) Trong lúc việc này đang diễn ra, tin tức được đưa đến tai Astyages rằng kẻ thù đã vượt qua biên giới, và ngài lập tức vội vã chạy đến ứng cứu, bản thân dẫn đầu đội vệ binh của chính mình cùng con trai ngài với những kỵ sĩ đã sẵn sàng ứng chiến, để lại lời nhắn cho những người khác đi theo với tốc độ nhanh nhất có thể. Nhưng khi họ lọt vào tầm mắt của người Assyria, và nhìn thấy hàng ngũ sát cánh của họ, cả kỵ binh lẫn bộ binh, được xếp theo thứ tự, gọn gàng và bất động, chính họ cũng phải dừng chân lại.

(19) Giờ thì Cyrus, thấy rằng tất cả mọi người đều đã lao ra ứng cứu với đầy đủ trang thiết bị, cũng cảm thấy buộc phải phi ngựa ra trận, và thế là lần đầu tiên mặc chiếc áo giáp lên người, cậu suýt không tin đó là sự thật vì đã khao khát được mặc nó từ rất lâu và vô cùng tha thiết. Và nó mới đẹp làm sao, bộ giáp mà ông nội đã làm cho cậu mới vừa vặn làm sao. Thế là cậu mặc toàn bộ trang bị lên người, trèo lên lưng ngựa chiến và phi nước đại lên tuyến đầu. Và Astyages, dẫu ngài tự hỏi ai đã cử đứa bé đến, vẫn bảo cậu ở lại bên cạnh mình bây giờ khi cậu đã đến nơi. Cyrus, khi nhìn vào đám kỵ binh đối diện, quay sang ông ngoại với câu hỏi: "Những kẻ đằng kia có phải là kẻ thù của chúng ta không thưa ông ngoại, những kẻ đang đứng rất yên lặng bên cạnh ngựa của họ kìa?" "Kẻ thù thì vẫn cứ là kẻ thù thôi," nhà vua đáp. "Và những kẻ kia cũng là kẻ thù phải không thưa ông, những kẻ đang cưỡi ngựa đằng kia kìa?" "Ừ, đúng thế." "Chà, thưa ông ngoại, trông chúng thật thảm hại làm sao, và đám ngựa của chúng cưỡi trông cũng chả khá hơn để đi cướp phá đất đai của chúng ta! Sẽ thật tuyệt nếu một số người trong chúng ta lao vào tấn công chúng đấy!" "Chưa đâu con trai," ông ngoại cậu đáp, "hãy nhìn khối kỵ binh đông đảo đằng kia kìa. Nếu chúng ta tấn công những kẻ kia lúc này, những người bạn của chúng sẽ xông vào đánh chúng ta, vì lực lượng toàn bộ của chúng ta chưa tập trung đủ trên chiến trường." "Vâng, nhưng mà," cậu bé gợi ý, "nếu ông tự mình ở lại đây, sẵn sàng đón tiếp lực lượng tiếp viện của chúng ta, mấy tên kia sẽ sợ hãi chẳng dám nhúc nhích đâu, và đám chuyên đi trộm bò sẽ thả chiến lợi phẩm nhanh chóng thôi, ngay khi chúng nhận ra mình bị tấn công."

(20) Astyages cảm thấy những gì đứa cháu nói có rất nhiều điểm hợp lý, và trong đầu nghĩ mãi về việc cậu bé thể hiện sự khôn ngoan tuyệt vời thế nào cùng độ nhạy bén ra sao, liền ra lệnh cho con trai mình dẫn một đội kỵ binh xông lên tấn công đám cướp bóc. "Nếu lực lượng chủ lực di động đến tấn công," ngài nói thêm, "ta sẽ tự mình xung trận và cho chúng đủ việc để làm ở đây." Theo đó Cyaxares dẫn một phân đội kỵ binh phi nước đại ra chiến trường. Cyrus nhìn thấy cuộc tấn công, tự mình lao vút lên, phóng lên tuyến đầu, dẫn dắt đội hình với Cyaxares bám sát gót và phần còn lại theo sát phía sau họ. Ngay khi bọn cướp nhìn thấy họ, chúng bỏ lại chiến lợi phẩm và tháo chạy.

(21) Đội kỵ binh, với Cyrus dẫn đầu, lao vào chặn đường tháo chạy của chúng và một số tên bị bắt kịp ngay tại chỗ rồi chém gãy cổ; những tên khác lọt qua được, và thế là họ đuổi theo sát nút, bắt sống thêm vài tên nữa. Và Cyrus luôn ở tuyến đầu, giống như một chú chó săn tơ, chưa được huấn luyện thuần thục nhưng mang trong mình dòng máu cao quý, lao vào một con lợn rừng một cách liều lĩnh; cậu lao vút về phía trước, không màng mắt hay ý nghĩ gì ngoài con mồi cần bắt và cú đánh cần tung ra. Nhưng khi quân đội Assyria nhìn thấy đồng bọn của họ gặp rắc rối, họ đẩy mạnh tiến lên, từng hàng từng lớp, tự nhủ rằng cuộc truy đuổi sẽ dừng lại khi chuyển động của chính họ được nhìn thấy.

(22) Nhưng Cyrus chưa bao giờ chậm lại dù chỉ một nhịp: trong cơn phấn khích tột độ, cậu gọi tên người cậu ruột khi lao về phía trước, bám sát gót chân những kẻ đang tháo chạy, trong khi Cyaxares vẫn bám chặt gót cậu, có lẽ đang nghĩ xem cha mình là Astyages sẽ nói gì nếu cậu chần chừ, và những người khác vẫn theo sát phía sau họ, thậm chí những kẻ nhút nhát cũng biến thành anh hùng trong khoảnh khắc đó.

(23) Giờ thì Astyages, quan sát cuộc tấn công cuồng nộ của họ, và nhìn thấy kẻ thù di chuyển đều đặn tiến lên trong đội hình khít khao để đối phó với họ, quyết định lập tức tiến lên không chần chừ, vì sợ rằng con trai mình và Cyrus có thể gặp nguy hiểm, đâm sầm vào các tiểu đoàn kiên cố của đối phương trong tình trạng hỗn loạn. Người Assyria nhìn thấy chuyển động của nhà vua và dừng chân lại, giáo nhọn giương cao và cung sẵn dây, chờ đợi rằng khi những kẻ tấn công bước vào tầm bắn, họ cũng sẽ dừng lại như thường làm trước đây. Bởi vì cho đến nay, bất cứ khi nào hai bên gặp nhau, họ chỉ lao đến một khoảng cách nhất định, bắn những phát súng từ xa rồi tiếp tục cuộc chiến quấy rối cho đến khi màn đêm buông xuống. Nhưng giờ đây người Assyria nhìn thấy chính quân của họ đang bị đánh bạt về phía họ trong tình trạng tháo chạy, với Cyrus và các đồng bạn bám sát gót với tốc độ toàn lực, trong khi Astyages và đội kỵ binh của ngài đã nằm trong tầm bắn của cung. Tình hình vượt quá sức chịu đựng của họ, và họ quay đầu tháo chạy. Đuổi theo sau họ là người Mede trong cuộc truy đuổi toàn lực, và những kẻ nào bắt được thì họ chém gặt cả người lẫn ngựa, và những kẻ ngã xuống thì họ tước đoạt sinh mạng. Không có sự dừng lại nào cho đến khi họ bắt kịp bộ binh Assyria.

(24) Đến đây cuối cùng họ cũng kìm cương vì sợ một cuộc phục kích ẩn giấu nào đó, và Astyages dẫn quân rút lui. Chiến công của đội kỵ binh khiến ngài vô cùng mãn nguyện, nhưng ngài không biết phải nói gì với Cyrus. Cậu chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc giao chiến và chiến thắng; nhưng sự táo bạo của đứa bé đã gần chạm ngưỡng điên rồ. Thậm chí trong suốt chặng đường về nhà, hành vi của cậu vẫn rất lạ lùng; cậu không kìm được việc một mình cưỡi ngựa đi vòng quanh để nhìn vào khuôn mặt của những kẻ đã ngã xuống, và những người có trách nhiệm suýt không thể lôi cậu đi để đưa về diện kiến Astyages: quả thực, chàng thanh niên vô cùng vui mừng khi giữ họ làm lá chắn giữa mình và nhà vua, vì cậu thấy nét mặt của ông ngoại trở nên nghiêm nghị khi nhìn thấy cậu.

(25) Mọi chuyện ở Media diễn ra như thế đó; và cái tên Cyrus ngày càng vang lên trên cửa miệng của mọi người, trong các khúc ca và câu chuyện kể ở khắp mọi nơi, và Astyages, người luôn yêu thương cậu, cảm thấy kinh ngạc vô bờ bến trước đứa cháu. Trong khi đó, cha cậu, Cambyses, vui mừng khôn xiết khi nghe những tin tức như vậy về con trai mình; nhưng khi nghe tin cậu đã bắt đầu hành động như một người đàn ông trưởng thành, ông cho rằng đã đến lúc gọi cậu trở về nhà để cậu có thể hoàn thành việc huấn luyện dưới kỷ luật của quê hương. Câu chuyện kể rằng Cyrus đáp lại lệnh triệu tập bằng cách nói rằng cậu thưa mong muốn quay về nhà ngay lập tức để cha không phải bực mình hay đất nước không trách cứ cậu. Và Astyages cũng cho rằng bổn phận rành rành của mình là phải trả đứa bé về, nhưng ngài nhất định phải tặng cậu những con ngựa để mang theo, bao nhiêu con tùy ý chọn, cùng những món quà khác bên cạnh đó, không chỉ vì tình yêu ngài dành cho cậu mà còn vì niềm hy vọng lớn lao rằng một ngày nào đó đứa bé sẽ trở thành một người nổi bật, là phúc đức cho bạn bè và là nỗi khiếp sợ cho kẻ thù. Và khi thời điểm Cyrus phải đi đến, toàn bộ người dân đổ xô ra để tiễn đưa cậu lên đường — trẻ em và những thiếu niên bằng tuổi cậu, cùng những người đàn ông trưởng thành và các bậc bô lão trên lưng ngựa, và cả nhà vua Astyages. Và, theo lời chép sử, chẳng đôi mắt nào khô lệ khi họ quay đầu trở về nhà.

(26) Bản thân Cyrus, người ta kể lại, đã lên đường trong những giọt nước mắt. Cậu ban phát quà cáp cho tất cả các đồng bạn, chia sẻ với họ những gì Astyages đã tặng cho chính mình; và cuối cùng cậu cởi chiếc áo choàng Median lộng lẫy đang mặc trên người ra trao cho một người trong số họ, để nói lên điều đó một cách rõ ràng hơn ngàn lời nói rằng trái tim cậu gắn bó với người ấy hơn tất cả những người khác. Và bạn bè cậu, người ta kể rằng, nhận lấy những món quà cậu trao, nhưng họ mang tất cả trả lại cho Astyages, và rồi ngài lại gửi chúng về cho Cyrus. Nhưng một lần nữa Cyrus lại gửi chúng trở lại Media kèm theo lời thỉnh cầu này gửi ông ngoại: — "Nếu ông muốn con có thể ngẩng cao đầu khi quay lại gặp ông một lần nữa, xin hãy để bạn bè con giữ lấy những món quà con đã tặng họ." Và Astyages đã làm theo điều đứa cháu yêu cầu.

(27) Và tại đây, nếu một câu chuyện về tình yêu thuở thiếu thời không phải là lạc lõng, chúng ta có thể kể cách mà khi Cyrus chuẩn bị lên đường và những lời từ biệt cuối cùng được cất lên, từng người trong số những người họ hàng của cậu theo phong tục Ba Tư — và cho đến tận ngày nay phong tục ấy vẫn được duy trì ở Ba Tư — đã hôn lên môi cậu khi chúc cậu lên đường bình an. Giờ thì có một người Mede nọ, một người khôi ngô và dũng cảm bậc nhất từng sinh ra, đã đem lòng say đắm Cyrus từ lâu lắm rồi, và khi nhìn thấy nụ hôn đó, anh ta nán lại phía sau, và sau khi những người khác đã rút đi, anh ta tiến đến chỗ Cyrus và nói: "Chỉ riêng tôi, và một mình tôi trong số tất cả họ hàng của ngài, hỡi Cyrus, là ngài từ chối nhận ra sao?" Và Cyrus đáp: "Sao cơ, anh cũng là họ hàng của tôi ư?" "Vâng, chắc chắn rồi," người kia đáp, và chàng thiếu niên tiếp lời: "Ồ, hóa ra đó là lý do anh nhìn tôi chăm chú thế; và tôi nghĩ mình đã thấy anh nhìn tôi như thế không chỉ một lần trước đây rồi." "Đúng vậy," người Mede đáp, "tôi đã thường xuyên khao khát được tiếp cận ngài, nhưng chúa mới biết, ngài cũng biết là trái tim tôi đã chùn bước từng ấy lần." "Nhưng tại sao lại thế nhỉ," Cyrus nói, "khi anh là họ hàng của tôi cơ chứ?" Và dứt lời, cậu rướn người tới và hôn lên môi anh ta.

(28) Lúc đó người Mede, được khích lệ bởi nụ hôn, lấy lại can đảm và nói: "Thế ở Ba Tư thực sự có phong tục họ hàng hôn nhau sao?" "Đúng thế thật," Cyrus đáp, "khi chúng ta gặp nhau sau một thời gian dài xa cách, hoặc khi chúng ta chia tay để lên đường." "Vậy thì thời điểm đã đến," người kia nói, "để ban cho tôi nụ hôn thứ hai, vì tôi phải rời xa ngài bây giờ đây." Nói rồi Cyrus lại hôn anh ta lần nữa và thế là họ chia tay. Nhưng đoàn người đi chưa được bao xa thì đột nhiên người Mede phi ngựa đuổi theo họ với tốc độ chóng mặt, con ngựa chiến phủ đầy bọt mép. Cyrus trông thấy anh ta: — "Anh quên mất điều gì à? Còn điều gì khác anh muốn nói nữa sao?" "Không," người Mede đáp, "chỉ vì đã quá lâu, quá lâu rồi chúng ta mới gặp lại nhau." "Ý anh là một khoảng thời gian rất ngắn, rất ngắn mới phải chứ, hỡi người họ hàng của tôi," Cyrus đáp. "Một khoảng thời gian ngắn!" người kia lặp lại. "Sao ngài lại có thể nói thế được chứ? Ngài không hiểu rằng thời gian để nháy một cái chớp mắt cũng là cả một cõi vĩnh hằng nếu nó chia cắt tôi khỏi vẻ đẹp khuôn mặt ngài hay sao?"

Bấy giờ Cyrus bật cười phá lên bất chấp những giọt nước mắt của chính mình, và bảo kẻ bất hạnh ấy hãy lấy lại can đảm rồi quay về đi. "Chẳng mấy chốc tôi sẽ trở lại với anh thôi, và khi đó anh có thể tha hồ ngắm nhìn tôi thỏa thích, mà chẳng cần chớp mắt chút nào đâu."

(C.5) Cứ thế Cyrus rời khỏi triều đình ông ngoại và trở về nhà ở Ba Tư, và ở đó, người ta kể lại rằng, cậu đã trải qua thêm một năm nữa với tư cách là một đứa trẻ sống giữa những đứa trẻ. Ban đầu đám thiếu niên có ý định chế nhạo cậu, nghĩ rằng cậu hẳn đã học được những thói quen xa hoa ở Media, nhưng khi họ thấy cậu có thể đón nhận những món ăn đơn giản của người Ba Tư một cách vui vẻ hệt như chính họ, và cách mà bất cứ khi nào họ tổ chức tiệc tùng vui vẻ trong một dịp lễ hội, thay vì đòi hỏi thêm phần cho mình, cậu sẵn sàng đem phần thức ăn ngon của mình cho người khác, khi họ nhìn thấy và cảm nhận được sự cao quý bẩm sinh cùng sự vượt trội của cậu so với chính họ trong điều này và những việc khác, thì tình thế xoay chiều và một lần nữa họ lại tâm phục khẩu phục quy phục dưới chân cậu.

Và khi giai đoạn huấn luyện này kết thúc, và thời điểm đã điểm để cậu gia nhập hàng ngũ những thanh niên trẻ tuổi, câu chuyện lại lặp lại một lần nữa. Một lần nữa cậu lại vượt qua tất cả các đồng bạn của mình, cả trong việc hoàn thành bổn phận, trong sức chịu đựng gian khổ, trong sự kính trọng dành cho người lớn tuổi, và sự vâng lời đối với quyền lực.

(2) Giờ thì vào lúc trọn vẹn thời gian, Astyages qua đời ở xứ Media, và Cyaxares con trai ngài, người cậu ruột của Cyrus, lên kế hoạch tiếp quản vương quốc thay cha. Lúc bấy giờ nhà vua xứ Assyria đã khuất phục toàn bộ các bộ tộc Syria, hạ gục vua xứ Arabia, thu phục người Hyrcanian dưới quyền cai trị của mình, và đang vây hãm xứ Bactria. Do đó ngài nghĩ rằng, nếu có thể làm suy yếu quyền lực của người Mede, sẽ rất dễ dàng để ngài mở rộng đế chế của mình ra toàn bộ các quốc gia xung quanh, bởi vì người Mede không còn nghi ngờ gì nữa chính là những kẻ mạnh nhất trong số đó.

(3) Theo đó ngài sai sứ giả đến mọi ngóc ngách lãnh thổ của mình: đến Croesus, vua xứ Lydia, đến vua xứ Cappadocia, đến cả hai xứ Phrygia, đến người Paphlagonian và người Ấn Độ, đến người Carian và người Cilician. Và ngài bảo họ tung ra những lời vu khống chống lại người Ba Tư và người Mede, đồng thời nói rằng đây là những vương quốc lớn lao và hùng mạnh đã liên kết lại và tạo liên minh thông qua hôn nhân với nhau, và trừ khi một kẻ ra tay trước và đánh sập quyền lực của họ, sẽ không đời nào tránh khỏi việc chúng sẽ lần lượt tấn công từng láng giềng một và khuất phục họ từng kẻ một. Thế là các quốc gia lắng nghe các sứ giả và kết minh với nhà vua Assyria: một số bị thuyết phục bởi những lời ngài nói và số khác bị chinh phục bởi quà cáp và vàng bạc, bởi vì sự giàu có của vua Assyria là rất lớn.

(4) Giờ thì Cyaxares, con trai của Astyages, nhận thức được những âm mưu và sự chuẩn bị này, và ngài cũng tự chuẩn bị cho phần mình trong khả năng có thể, gửi thông điệp đến nhà nước Ba Tư và vua Cambyses, người đã cưới em gái ngài làm vợ. Và ngài cũng sai sứ đến gặp Cyrus, nài nỉ cậu mau chóng đến nơi với bất kỳ lực lượng nào có thể được cung cấp, nếu như Hội đồng Ba Tư đồng ý trao cho cậu những chiến binh bộ binh. Bởi vì lúc này Cyrus đã hoàn thành mười năm trong hàng ngũ thanh niên và đã chính thức ghi danh vào hàng ngũ những người đàn ông trưởng thành.

(5) Cậu hoàn toàn sẵn sàng lên đường, và Hội đồng các Trưởng lão đã bổ nhiệm cậu làm chỉ huy lực lượng cho miền Media. Họ ra lệnh cho cậu chọn hai trăm người trong số hàng ngũ Các bậc Ngang hàng (Peers), mỗi người trong số họ sẽ chọn thêm bốn người khác từ các đồng bạn của mình. Bằng cách đó, một lực lượng gồm một nghìn Bậc Ngang hàng được hình thành; và mỗi người trong số một nghìn người ấy có lệnh tuyển mộ ba mươi người từ tầng lớp bình dân — mười lính mang khiên nhẹ, mười lính ném đá, và mười cung thủ — và nhờ vậy ba trung đoàn đã được huy động: 10.000 cung thủ, 10.000 lính ném đá, và 10.000 lính mang khiên nhẹ, vượt ngoài số một nghìn Bậc Ngang hàng. Toàn bộ lực lượng này sẽ được đặt dưới quyền chỉ huy của Cyrus.

(6) Ngay khi được bổ nhiệm, hành động đầu tiên của cậu là dâng lễ tế thần, và khi các điềm báo thuận lợi, cậu chọn ra hai trăm Bậc Ngang hàng của mình, và mỗi người trong số họ lại chọn ra bốn người bạn đồng hành của mình. Sau đó cậu triệu tập toàn bộ lực lượng lại và lần đầu tiên ngỏ lời với họ như sau: —

(7) "Các bạn của tôi, ta đã chọn các bạn cho công việc này, nhưng đây không phải là lần đầu tiên ta hình thành đánh giá của mình về giá trị của các bạn: kể từ thuở thiếu thời, ta đã quan sát sự nhiệt huyết của các bạn đối với mọi điều mà đất nước chúng ta coi là cao quý và sự căm ghét của các bạn đối với mọi điều mà quốc gia coi là đê tiện. Và ta muốn nói rõ cho các bạn biết lý do tại sao ta chấp nhận chức vụ này và tại sao ta cần sự giúp đỡ của các bạn.

(8) Từ lâu ta đã đinh ninh rằng các bậc tổ tiên của chúng ta thời xưa cũng là những con người ưu tú chẳng kém gì chúng ta bây giờ. Bởi vì cuộc đời của họ là một nỗ lực không ngừng nghỉ hướng tới chính những chiến công dũng cảm đang được tôn vinh lúc này; và tuy vậy, bất chấp giá trị của họ, ta vẫn không thấy họ thu được lợi ích gì cho nhà nước hay cho chính bản thân họ.

(9) Thế nhưng ta không tài nào tin nổi rằng có một đức tính duy nhất nào đó được thực hành giữa loài người chỉ cốt để cho những kẻ dũng cảm và tốt đẹp chẳng có được cuộc sống nào khá hơn những kẻ đê tiện trên trái đất này. Con người không từ bỏ những hoan lạc trước mắt để rồi vĩnh viễn nói lời từ biệt với mọi niềm vui — không, sự tự chế này là một sự rèn luyện, để rồi chúng ta có thể gặt hái những trái ngọt của một niềm vui lớn lao hơn trong thời gian tới. Một người sẽ lao động ngày đêm để biến mình thành một nhà hùng biện, nhưng tài hùng biện không phải là mục đích duy nhất trong sự tồn tại của anh ta: hy vọng của anh ta là dùng sự uyên bác của mình tác động đến con người và từ đó đạt được một mục tiêu cao cả nào đó. Tương tự như vậy với chúng ta, và những ai giống như chúng ta, những kẻ được huấn luyện trong các nghệ thuật chiến tranh: chúng ta không dâng hiến những nhọc nhằn của mình để chiến đấu mãi mãi, một cách vô tận và vô vọng, chúng ta hy vọng rằng chính chúng ta một ngày nào đó, khi đã chứng minh được bản lĩnh của mình, sẽ giành lấy và mang lên mình cho bản thân cùng thành phố của chúng ta bộ ba trang sức gồm sự giàu có, sự hạnh phúc và danh dự.

(10) Và nếu có những kẻ đã làm việc vất vả suốt cuộc đời mình để rồi đột nhiên tuổi già ập đến lúc nào không hay, tước đi năng lực của họ trước khi họ kịp thu hoạch thành quả của mọi nhọc nhằn, những con người như thế đối với ta giống như những kẻ khao khát trở thành những người nông dân tiết kiệm, gieo trồng kỹ lưỡng và vun vén khôn ngoan, nhưng khi mùa gặt đến lại để cho trái ngọt rơi rụng trở lại vào lòng đất nơi nó sinh ra. Hoặc giả như một vận động viên tự rèn luyện bản thân vươn đến đỉnh cao nơi chiến thắng có thể đoạt được để rồi cuối cùng lại chùn bước không bước vào đấu trường — một kẻ như thế, theo ta, chỉ đáng nhận lấy sự trừng phạt khi mọi người kêu lên chê bai hắn là một kẻ ngốc.

(11) Đừng để số phận của chúng ta rơi vào cảnh đó, hỡi các bạn của tôi. Trái tim của chính chúng ta làm chứng cho chúng ta rằng chúng ta cũng vậy, kể từ thuở thiếu thời, đã được rèn luyện trong ngôi trường của cái đẹp, sự cao quý và danh dự, và giờ đây hãy tiến lên để đối mặt với kẻ thù của chúng ta. Bọn chúng, ta biết rất rõ, khi đọ sức với chúng ta, sẽ chỉ chứng tỏ mình là những kẻ mới học việc trong chiến tranh mà thôi. Hắn không phải là một chiến binh thực thụ, dẫu hắn có điêu luyện với cây lao và cây cung hay cưỡi ngựa giỏi nhất, mà khi lời kêu gọi về sức chịu đựng vang lên lại tỏ ra gục ngã: gian khổ biến hắn thành một kẻ nghiệp dư. Bọn chúng cũng chẳng phải là chiến binh khi, đến lúc cần thức tỉnh và canh gác lại chìm đắm vào giấc ngủ: giấc ngủ biến chúng thành những kẻ học việc. Thậm chí sức chịu đựng cũng sẽ chẳng ích gì, nếu một người không học được cách cư xử đúng đắn của một người đàn ông đối với bạn bè và kẻ thù: một kẻ như thế chưa hề được giáo dục trong phần cao quý nhất của sứ mệnh mình.

(12) Nhưng với các bạn thì không như vậy: đối với các bạn, ban đêm cũng sẽ giống như ban ngày; gian khổ, như ngôi trường đã dạy các bạn, chính là người dẫn đường tới hạnh phúc; cơn đói là gia vị hàng ngày của các bạn, và nước uống các bạn dùng để giải khát hệt như con sư tử liếm láp dòng suối. Và các bạn mang trong lồng ngực mình thứ kho quý hiếm bậc nhất và gần gũi nhất với chiến tranh: trong tất cả những âm thanh ngọt ngào, âm thanh ngọt ngào nhất đối với các bạn chính là tiếng vang của danh vọng. Các bạn là những kẻ cầu hôn nàng Danh Dự xinh đẹp, và các bạn buộc phải giành lấy danh hiệu để đến với sự sủng ái của nàng. Do đó các bạn vui vẻ gánh chịu nhọc nhằn và hiểm nguy.

(13) Giờ thì nếu ta nói tất cả những điều này về các bạn, mà lòng dạ ta không đặt vào những lời đó, ta sẽ chỉ tự lừa dối chính mình. Bởi vì chừng nào các bạn không làm tròn những hy vọng của ta về các bạn, thì sự hổ thẹn sẽ giáng xuống chính ta. Nhưng ta có niềm tin vào các bạn, được vun đắp từ kinh nghiệm; ta tin tưởng vào thiện chí của các bạn dành cho ta, và vào sự kém cỏi trí tuệ của kẻ thù; các bạn sẽ không làm phai mờ những kỳ vọng của ta. Hãy bước ra trận với một tâm hồn nhẹ nhõm; chúng ta chẳng có tai tiếng nào phải sợ hãi: chẳng ai có thể nói rằng chúng ta tham lam tài sản của người khác một cách trái phép. Kẻ thù của chúng ta là kẻ ra đòn trước trong một nghĩa vụ bất chính, và bạn bè của chúng ta gọi chúng ta ra để bảo vệ họ. Còn điều gì hợp pháp hơn sự tự vệ? Còn điều gì cao quý hơn việc cứu trợ những người chúng ta yêu thương?

(14) Và các bạn còn có một cơ sở tự tin khác — khi mở màn chiến dịch này, ta chưa từng quên lãng các vị thần: các bạn đã cùng ta ra vào và các bạn biết cách trong mọi việc, lớn hay nhỏ, ta vẫn nỗ lực giành lấy ân huệ của họ. Và giờ đây," ngài nói thêm, "còn cần gì những lời nói thừa thãi nữa? Ta sẽ để các bạn tự do chọn lựa người của mình, và khi mọi thứ đã sẵn sàng, các bạn sẽ hành quân vào miền Media dưới quyền chỉ huy của họ. Trong khi đó ta sẽ quay về với cha mình và khởi hành trước các bạn, để ta có thể tìm hiểu những gì có thể về kẻ thù ngay sớm nhất có thể, và từ đó thực hiện mọi sự chuẩn bị cần thiết, để với sự giúp đỡ của thần linh chúng ta có thể giành lấy vinh quang trên chiến trường."

(C.6) Đó là những chỉ thị của ngài và họ bắt tay vào thực hiện ngay lập tức. Nhưng bản thân Cyrus về nhà và cầu nguyện với các vị thần của gia tộc cha mình, với Hestia và Zeus, cùng tất cả những vị đã gìn giữ dòng dõi của ngài. Và khi đã làm xong điều đó, cậu lên đường tham chiến, và cha cậu đồng hành cùng cậu trên đường đi. Họ vừa rời khỏi thành phố, câu chuyện kể lại, thì bắt gặp những điềm lành sấm chớp, và sau đó họ tiến bước mà không cần thêm bất kỳ phép bói toán nào nữa, bởi vì họ cảm thấy rằng chẳng ai có thể nhầm lẫn những dấu hiệu từ Vị Chúa tể của các vị thần.

(2) Và khi họ đang trên đường đi, cha của Cyrus nói với cậu: "Con trai ta, các vị thần vô cùng nhân từ với chúng ta, và nhìn chuyến đi của con với sự sủng ái — họ đã thể hiện điều đó trong các nghi lễ tế thần, và qua những dấu hiệu từ thiên đàng. Con không cần phải nhờ người khác nói cho mình biết điều đó, vì ta đã cẩn thận dạy con nghệ thuật này, để con có thể tự mình thấu hiểu những lời khuyên nhủ của các vị thần và không cần đến kẻ thông dịch, tự mình nhìn bằng đôi mắt của chính mình và nghe bằng đôi tai của chính mình và tự lĩnh hội ý nghĩa thiên đàng. Do đó con sẽ không phải chịu sự chi phối của bất kỳ nhà chiêm tinh nào có ý định lừa dối con, nói trái ngược với những điềm báo được ban ơn từ thiên đàng, hay thậm chí, nếu con tình cờ thiếu vắng một nhà tiên tri, con cũng sẽ không rơi vào cảnh bối rối không biết làm sao để tận dụng các dấu hiệu thiên đàng: chính con nhờ vào học thức của mình có thể hiểu được những lời cảnh báo của các vị thần và tuân theo chúng."

(3) "Vâng, thưa cha," Cyrus đáp, "trong khả năng có thể, con ghi tạc lời cha trong lòng, và cầu nguyện các vị thần liên tục để họ ban ơn cho chúng ta và rộng lượng tư vấn cho chúng ta. Con nhớ," cậu tiếp lời, "có lần con nghe cha nói rằng, cũng giống như con người, đối với các vị thần, sẽ là điều hoàn toàn tự nhiên nếu lời cầu nguyện của kẻ nào không quay sang nịnh hót họ chỉ trong lúc khó khăn, mà luôn nhớ đến họ trên hết vào thời kỳ đỉnh cao của hạnh phúc. Quả thực, chính vì thế, cha từng nói, chúng ta nên đối xử với những người bạn trần thế của mình như vậy."

(4) "Đúng thế, con trai ta," cha cậu nói, "và nhờ tất cả những bài học của ta, giờ đây con có thể tiếp cận các vị thần trong lời cầu nguyện với một tâm hồn nhẹ nhõm hơn và một niềm hy vọng tự tin hơn rằng họ sẽ ban cho con những gì con cầu xin, bởi vì lương tâm làm chứng cho con rằng con chưa từng quên lãng họ." "Đúng vậy," Cyrus đáp, "và thực lòng con cảm nhận đối với họ cứ như thể họ là những người bạn của mình vậy."

(5) "Và con có nhớ," cha cậu hỏi, "một số kết luận khác mà chúng ta đã từng đồng thuận không? Cách chúng ta cảm thấy rằng có những điều nhất định mà các vị thần cho phép chúng ta đạt được thông qua học tập, nghiên cứu và rèn luyện? Sự hoàn thành của những điều này là phần thưởng của nỗ lực, chứ không phải của sự lười biếng; trong những thứ đó, chỉ khi chúng ta đã làm tất cả những gì thuộc về bổn phận của mình thì chúng ta mới có lý do chính đáng để cầu xin phước lành từ các vị thần."

(6) "Con nhớ rất rõ," Cyrus đáp, "rằng cha thường nói chuyện với con theo lối đó; và quả thực con không thể không đồng tình với những lý lẽ cha đưa ra. Cha từng nói rằng một người không có quyền cầu nguyện để mình chiến thắng trong một cuộc xung phong kỵ binh nếu anh ta chưa từng học cách cưỡi ngựa, hay chiến thắng những bậc thầy cung thủ nếu anh ta không thể giương nổi một cây cung, hay đưa một con tàu cập bến an toàn nếu anh ta không biết cách lái tàu, hay được đền đáp bằng một vụ mùa bội thu nếu anh ta thậm chí chưa từng gieo hạt giống xuống lòng đất, hay quay về an toàn từ trận chiến nếu anh ta không thực hiện bất kỳ sự phòng ngừa nào. Tất cả những lời cầu nguyện kiểu này, cha nói, đều trái ngược với chính các sắc lệnh của thiên đàng, và những kẻ cầu xin những điều bị cấm đoán không thể ngạc nhiên nếu chúng thất bại trong việc giành lấy chúng từ các vị thần. Giống như một lời thỉnh cầu đi ngược lại luật pháp trên trái đất sẽ chẳng đạt được thành công nào trước con người vậy."

(7) "Và con có nhớ," cha cậu nói, "cách chúng ta nghĩ rằng sẽ là một công việc đủ cao quý nếu một người có thể tự rèn luyện bản thân thực sự và đích thực để trở nên xinh đẹp, dũng cảm và kiếm được tất cả những gì cần thiết cho gia đình và bản thân mình không? Điều đó, chúng ta nói, là một công việc khiến một người có thể tự hào; nhưng nếu anh ta tiến xa hơn thế, nếu anh ta có kỹ năng và khoa học để làm người dẫn đường và cai trị những kẻ khác, cung cấp mọi nhu cầu của họ và làm cho họ trở thành tất cả những gì họ nên làm, điều đó, đối với chúng ta, quả thực sẽ là một điều kỳ diệu."

(8) "Vâng, thưa cha," Cyrus đáp, "con nhớ rất rõ điều đó. Con đã đồng tình với cha rằng cai trị tốt và cao quý chính là công việc vĩ đại nhất trong tất cả, và con vẫn giữ nguyên ý định đó," cậu tiếp lời, "bất cứ khi nào con suy ngẫm về chính quyền tự thân nó. Nhưng khi con nhìn vào thế giới nói chung, khi con thấy những kẻ kém cỏi nhường nào lại có thể duy trì quyền lực của mình và những đối thủ nào chúng ta có khả năng tìm thấy ở họ, khi đó con chỉ cảm thấy thật hổ thẹn làm sao nếu phải khép nép trước bọn họ thay vì trực tiếp đối mặt và thử tài với họ trên chiến trường. Tất cả bọn họ, con nhận ra," cậu nói thêm, "bắt đầu từ những người bạn của chính chúng ta ở đây, đều đinh ninh rằng nhà cai trị chỉ nên khác biệt với thần dân của mình bởi sự lộng lẫy của các bữa tiệc, sự giàu có bằng vàng trong các hòm tiền, thời gian ngủ nghỉ dài và sâu, cùng sự tự do khỏi phiền muộn và đau đớn. Nhưng quan điểm của con thì khác: con cho rằng nhà cai trị nên được phân biệt với những người khác, không phải bằng cách sống nhàn hạ, mà bằng sự chu đáo, sự khôn ngoan và sự hăng hái làm việc."

(9) "Đúng thế, con trai ta," người cha đáp, "nhưng con biết cuộc đấu tranh phần lớn phải được tiến hành không chỉ chống lại da thịt và máu huyết mà còn chống lại hoàn cảnh, và những thứ này không thể dễ dàng vượt qua như thế. Con biết đấy, ta tin là vậy, nếu không có nguồn tiếp tế được cung cấp, hãy nói lời tạm biệt với chính quyền này của con đi." "Vâng," Cyrus đáp, "và đó là lý do tại sao Cyaxares đang đảm nhận việc cung cấp cho tất cả chúng ta những ai gia nhập cùng ngài, bất kể con số của chúng ta là bao nhiêu." "Thế đấy," người cha nói, "và con thực sự có ý rằng, con trai ta, con đang chỉ dựa vào những nguồn tiếp tế của Cyaxares cho chiến dịch này của con thôi sao?" "Vâng," Cyrus đáp. "Và con có biết chúng trị giá bao nhiêu không?" "Không," cậu nói, "con không thể nói là mình biết." "Thế mà," người cha tiếp lời, "con lại chuẩn bị dựa vào những thứ mà con không biết sao? Con quên rằng nhu cầu của ngày mai hẳn sẽ rất cao, chưa kể đến các khoản chi tiêu cho ngày hôm nay chứ?" "Ồ không," Cyrus nói, "con ý thức rõ điều đó." "Tốt thôi," người cha nói, "giả sử chi phí lớn hơn mức Cyaxares có thể chịu đựng, hoặc giả sử ngài thực sự có ý định lừa dối con, binh lính của con sẽ ra sao?" "Chắc chắn là thảm hại rồi," cậu đáp. "Và giờ hãy nói cho con biết, thưa cha, khi chúng ta vẫn đang ở vùng đất thân thiện, nếu cha biết bất kỳ nguồn lực nào mà con có thể biến thành của riêng mình?"

(10) "Con muốn biết nơi con có thể tìm thấy nguồn lực của riêng mình ư?" người cha lặp lại. "Và ai là kẻ sẽ tìm ra điều đó, nếu không phải là kẻ nắm giữ chìa khóa quyền lực? Chúng ta đã trao cho con một lực lượng bộ binh mà ta chắc chắn con sẽ không đổi lấy một lực lượng lớn hơn gấp đôi kích thước đó; và con sẽ có kỵ binh của xứ Media để hỗ trợ, lực lượng tốt nhất trên thế giới. Ta hình dung rằng sẽ chẳng có quốc gia nào xung quanh không sẵn sàng phục vụ con, cho dù là để giành lấy ân huệ của con hay vì họ sợ thảm họa. Đây là những vấn đề con phải xem xét kỹ lưỡng, phối hợp cùng Cyaxares, sao cho con không bao giờ thiếu bất cứ thứ gì con cần, và, dẫu chỉ vì thói quen, con nên nghĩ ra một số phương tiện để cung cấp doanh thu cho mình. Hãy ghi tạc phương châm này vào tâm trí trước tất cả những điều khác — đừng bao giờ trì hoãn việc thu gom nguồn tiếp tế cho đến ngày cần thiết, hãy để mùa của sự dư dả chuẩn bị sẵn sàng cho thời điểm khan hiếm. Con sẽ giành được các điều kiện tốt hơn từ những kẻ mà con phải phụ thuộc nếu người ta không nghĩ rằng con đang rơi vào cảnh túng quẫn, và hơn thế nữa, con sẽ được tự do khỏi những lời trách cứ trong mắt binh lính của mình. Điều đó tự nó sẽ khiến con được tôn trọng hơn; bất cứ nơi nào con muốn giúp đỡ hay tổn hại, quân đội của con sẽ đi theo con với sự sẵn sàng lớn hơn, miễn là họ có mọi thứ họ cần, và lời nói của con, con có thể chắc chắn, sẽ mang trọng lượng lớn hơn bao nhiêu khi con trưng ra sức mạnh càng rõ ràng cho phúc lộc hay tai họa."

(11) "Vâng, thưa cha," Cyrus nói, "con cảm thấy tất cả những gì cha nói đều đúng, và hơn thế nữa vì tình hình hiện tại, chẳng có binh lính nào của con sẽ cảm ơn con vì khoản tiền lương đã hứa với họ cả. Họ nhận thức rõ các điều khoản mà Cyaxares đã đưa ra để đổi lấy sự giúp đỡ của họ: nhưng bất cứ thứ gì họ nhận được vượt lên trên số lượng đã giao ước, họ sẽ coi đó là một món quà miễn phí, và vì điều đó, rất có thể họ sẽ cảm thấy biết ơn người ban tặng nhất." "Đúng vậy," người cha nói, "và thực sự đối với một người khi sở hữu một lực lượng để có thể phục vụ bạn bè và trả thù kẻ thù, thế mà lại lơ là nguồn tiếp tế cho nó, chẳng phải sẽ là điều tồi tệ ngang ngửa với việc một người nông dân nắm giữ đất đai và nhân công nhưng lại để ruộng đồng hoang hóa vì thiếu cày cấy sao?" "Sẽ không có sự lơ đễnh nào như thế," người con đáp, "được quy cho con đâu. Dù qua vùng đất thân thiện hay thù địch, hãy tin con, trong việc cung cấp cho quân đội mọi thứ họ cần, con sẽ luôn hoàn thành vai trò của mình."

(12) "Tốt lắm, con trai ta," người cha tiếp lời, "và con có nhớ một số điểm khác mà chúng ta đã đồng thuận rằng không bao giờ được phép lãng quên không?" "Làm sao con có thể quên chúng được chứ?" Cyrus đáp. "Con nhớ cách con đến xin tiền cha để trả cho người thầy tuyên bố đã dạy con nghệ thuật làm tướng, và cha đã đưa cho con, nhưng cha hỏi con rất nhiều câu hỏi. 'Này con trai,' cha nói, 'người thầy mà con muốn trả tiền này có bao giờ đề cập đến việc quản lý kinh tế trong số những thứ mà một vị tướng cần phải hiểu không? Binh lính, cũng không khác gì những người hầu trong nhà, phụ thuộc vào nguồn tiếp tế.' Và con buộc phải nói sự thật và thừa nhận rằng chẳng có lấy một tiếng nào được đề cập đến khía cạnh đó. Sau đó cha hỏi con liệu có điều gì được dạy về sức khỏe và thể lực hay không, vì một vị tướng chân chính buộc phải nghĩ đến những vấn đề này không kém gì chiến thuật và chiến lược. Và khi con buộc phải nói không, cha hỏi con liệu thầy có dạy con bất kỳ nghệ thuật nào mang lại sự hỗ trợ tốt nhất trong chiến tranh hay không. Một lần nữa con phải nói không và rồi cha hỏi liệu thầy có từng dạy con cách nung nấu sự nhiệt tình trong quân lính của mình hay không. Bởi vì trong mọi nỗ lực, cha nói, có sự khác biệt một trời một vực giữa năng lượng và sự thiếu tinh thần. Con lắc đầu và cuộc khảo sát của cha vẫn tiếp tục: — Vị thầy này có nhấn mạnh vào nhu cầu vâng lời trong quân đội, hay về các phương pháp tốt nhất để đảm bảo kỷ luật hay không?"

(14) "Và cuối cùng, khi rõ như ban ngày rằng ngay cả điều này cũng hoàn toàn bị phớt lờ, cha thốt lên, 'Thế rốt cuộc, giáo sư của con tuyên bố đã dạy con cái quái gì dưới danh nghĩa nghệ thuật làm tướng thế?' Đến lúc đó con cuối cùng cũng có thể đưa ra một câu trả lời quả quyết: 'Thầy dạy con chiến thuật.' Và rồi cha cười nhẹ và điểm qua danh sách của con từng điểm một: — 'Và xin hỏi chiến thuật sẽ có ích lợi gì đối với một đội quân không có nguồn tiếp tế, không có sức khỏe, không có kỷ luật, không có kiến thức về những nghệ thuật và phát minh có ích trong chiến tranh?' Và qua đó cha làm cho con hiểu rõ rằng chiến thuật, thao diễn và rèn luyện chỉ là một phần nhỏ trong tất cả những gì được hàm chứa trong nghệ thuật làm tướng, và khi con hỏi cha liệu cha có thể dạy con phần còn lại hay không, cha bảo con hãy tự tìm đến những ai đứng hàng đầu với danh tiếng là những đại tướng, trò chuyện với họ và học hỏi từ môi miệng họ cách thức mọi thứ nên được thực hiện ra sao."

(15) "Thế là con đã giao du với tất cả những ai con nghĩ là có thẩm quyền trong những vấn đề này. Liên quan đến nguồn tiếp tế hiện tại của chúng ta, con tin chắc rằng những gì Cyaxares định cung cấp là đủ, và đối với sức khỏe của quân đội, con nhận thức rõ rằng các thành phố coi trọng sức khỏe đã bổ nhiệm các sĩ quan y tế, và các vị tướng quan tâm đến binh lính của mình đều mang theo một đội ngũ y tế; và thế là khi nhận chức vụ này, con đã dat tâm trí vào vấn đề đó ngay lập tức: và con tự mãn nguyện với bản thân, thưa cha," con nói thêm, "rằng con sẽ đi cùng một đội ngũ bác sĩ và thầy thuốc xuất sắc."

(16) Đáp lại, người cha nói: "Đúng vậy, con trai ta, nhưng những con người xuất sắc này suy cho cùng cũng chẳng khác gì những thợ may vá lại những mảnh vải rách. Khi người ta ngã bệnh, các bác sĩ của con có thể vá họ lại, nhưng sự quan tâm của chính con đối với sức khỏe của họ phải đi sâu hơn thế nhiều: mục tiêu tối thượng của con phải là cứu binh lính của mình khỏi việc ngã bệnh ngay từ đầu." "Và xin hỏi thưa cha," Cyrus hỏi, "làm thế nào con có thể thành công trong việc đó?" "Thì," Cambyses đáp, "ta cho rằng nếu con định ở lại một nơi nào đó trong thời gian dài, con sẽ làm hết sức mình để khám phá một địa điểm lành mạnh cho trại của mình, và nếu con dặt tâm trí vào vấn đề đó, con khó lòng mà không tìm thấy nó. Con người, chúng ta biết, luôn thảo luận về những nơi nào lành mạnh và nơi nào không, và màu da cùng tình trạng cơ thể của chính họ là bằng chứng rõ ràng nhất. Nhưng con sẽ không tự mãn với việc chọn một vị trí, con sẽ ghi nhớ sự quan tâm mà chính con dành cho sức khỏe của mình."

(17) "Vâng," Cyrus nói, "quy tắc đầu tiên của con là tránh ăn uống quá độ vì nó rất áp bức hệ thống, và quy tắc tiếp theo là vận động để tiêu hao tất cả những gì đi vào cơ thể: đó có vẻ là cách tốt nhất để duy trì sức khỏe và đạt được sức mạnh." "Con trai ta," Cambyses đáp, "đó là những nguyên tắc con phải áp dụng cho những người khác." "Sao!" Cyrus nói; "cha nghĩ rằng sẽ có thể cho binh lính tự ăn kiêng và rèn luyện sao?" "Không chỉ có thể," người cha đáp, "mà còn thiết yếu. Bởi vì chắc chắn một đội quân, nếu nó muốn hoàn thành chức năng của mình, phải luôn luôn bận rộn trong việc tổn hại kẻ thù hoặc giúp đỡ chính mình. Một con người đơn lẻ đã khó nuôi trong sự lười biếng, một hộ gia đình còn khó khăn hơn nữa, một đội quân là khó khăn nhất trong tất cả. Có nhiều miệng ăn hơn, ít sự giàu có để khởi đầu hơn, và sự lãng phí lớn hơn; và do đó một đội quân không bao giờ được phép thất nghiệp."

(18) "Nếu con hiểu đúng ý cha," Cyrus đáp, "cha nghĩ một vị tướng nhàn rỗi cũng vô dụng như một người nông dân nhàn rỗi. Và ngay tại đây và lúc này con xin chịu trách nhiệm về vị tướng hành động, và hứa hẹn thay mặt cho ông ta rằng với sự giúp đỡ của thần linh, ông ta sẽ cho cha thấy quân đội của mình có mọi thứ họ cần và cơ thể họ đúng là những gì họ nên có. Và con nghĩ," cậu nói thêm, "con biết một cách mà một sĩ quan có thể làm rất nhiều điều để huấn luyện binh lính của mình trong các nhánh khác nhau của chiến tranh. Hãy để ông ấy đề xuất các cuộc thi đấu đủ loại và trao các giải thưởng; tiêu chuẩn kỹ năng sẽ dâng cao, và ông ấy sẽ sớm có trong tay một đội quân sẵn sàng cho bất kỳ dịch vụ nào ông yêu cầu." "Không gì có thể tốt hơn thế," người cha đáp. "Hãy làm điều này, và con có thể chắc chắn con sẽ quan sát các trung đoàn của mình thực hiện các thao diễn với niềm vui sướng hệt như thể chúng là một đội hợp xướng trong vũ điệu vậy."

(19) "Và rồi," Cyrus tiếp tục, "để nung nấu sự nhiệt tình trong quân lính, không gì có thể sánh được với sức mạnh của việc thắp lên hy vọng phải không thưa cha?" "Đúng thế," người cha đáp, "nhưng điều đó một mình sẽ giống như việc một thợ săn cứ mãi mãi kích động bầy chó săn của mình bằng tiếng hò reo. Ban đầu, tất nhiên, bầy chó sẽ hưởng ứng vô cùng hăng hái, nhưng sau khi chúng bị lừa gạt một hoặc hai lần, chúng sẽ kết thúc bằng việc từ chối tiếng gọi ngay cả khi con mồi thực sự nằm trong tầm mắt. Và hy vọng cũng vậy. Hãy để một người khơi gợi những kỳ vọng sai lầm đủ nhiều, và cuối cùng, ngay cả khi hy vọng đã đứng ở ngưỡng cửa, anh ta có thể hô hào tin vui một cách vô ích. Thay vào đó, anh ta nên kiềm chế không nói một cách quả quyết khi không thể biết chính xác; các đại diện của anh ta có thể bước vào và làm điều đó thay cho anh ta; nhưng anh ta nên dành riêng lời kêu gọi của mình cho những cuộc khủng hoảng tối cao của hiểm nguy tối cao, và đừng làm suy suyển uy tín của mình."

"Thề có chúa, một gợi ý tuyệt vời nhất!" Cyrus kêu lên, "và phù hợp với tâm trí con hơn nhiều!"

(20) "Đối với việc thi hành kỷ luật vâng lời, con hy vọng mình đã có một số sự rèn luyện trong việc đó rồi; cha đã bắt đầu giáo dục con từ khi con còn là một đứa trẻ bằng cách dạy con vâng lời cha, và rồi cha giao con cho những người thầy đã làm những gì cha đã làm, và sau đó, khi chúng ta còn là những thiếu niên, ta và các đồng bạn, chẳng có gì mà các quan cai quản nhấn mạnh nhiều hơn thế. Bản thân luật pháp của chúng ta, con nghĩ, thực thi bài học kép này: — 'Hãy cai trị và hãy bị trị.' Và khi con đi sâu nghiên cứu bí mật của tất cả những điều đó, con dường như thấy rằng động lực thực sự dẫn đến sự vâng lời nằm ở sự ca ngợi và vinh danh mà nó giành được đối với sự mất uy tín và sự trừng phạt giáng xuống những kẻ bất tuân."

(21) "Đó, con trai ta," người cha nói, "là con đường dẫn đến sự vâng lời của sự ép buộc. Nhưng có một con đường ngắn hơn dẫn đến một mục tiêu cao quý hơn, đó là sự vâng lời của ý chí. Khi lợi ích của nhân loại bị đem ra đặt cược, họ sẽ vui vẻ tuân theo kẻ mà họ tin là khôn ngoan hơn chính họ. Con có thể chứng minh điều này ở mọi phía: con có thể thấy người bệnh sẽ nài nỉ bác sĩ bảo anh ta phải làm gì, cách toàn bộ thủy thủ đoàn lắng nghe người lái tàu, cách khách du lịch bám lấy người biết đường rõ hơn, theo niềm tin của họ, so với chính họ. Nhưng nếu con người nghĩ rằng sự vâng lời sẽ dẫn họ đến thảm họa, thì chẳng có gì, dù là hình phạt, sự thuyết phục hay quà cáp, có thể lay chuyển họ. Bởi vì chẳng ai nhận hối lộ để tự hủy hoại bản thân cả."

(22) "Cha muốn con hiểu rằng," Cyrus nói, "cách tốt nhất để đảm bảo sự vâng lời là được coi là khôn ngoan hơn những kẻ chúng ta cai trị sao?" "Đúng thế," Cambyses nói, "đó là niềm tin của ta."

"Và cách nhanh nhất," Cyrus hỏi, "để giành lấy danh tiếng đó là gì?"

"Không có cách nào nhanh hơn đâu con, bất cứ nơi nào con muốn tỏ ra khôn ngoan, hãy khôn ngoan. Hãy kiểm tra bao nhiêu trường hợp tùy thích, và con sẽ thấy những gì ta nói là sự thật. Nếu con muốn được coi là một nông dân giỏi, một kỵ binh giỏi, một bác sĩ giỏi, một người thổi sáo giỏi, hay bất cứ thứ gì khác trên đời, mà không thực sự là thế, hãy thử tưởng tượng con sẽ cần phải phát minh ra biết bao nhiêu mưu kế, chỉ để duy trì lớp vỏ bọc bên ngoài! Và giả sử con có được một lượng tín đồ ca ngợi con và tung hô con, giả sử con có gánh nặng với đủ loại trang thiết bị cho nghề nghiệp của mình, điều gì sẽ đến từ tất cả những thứ đó chứ? Con thành công lúc đầu trong một trò lừa bịp rất đẹp mắt, và rồi dần dần bài kiểm tra đến, và kẻ mạo danh lộ nguyên hình."

(23) "Nhưng," Cyrus nói, "làm sao một người có thể thực sự và đích thực vươn tới sự khôn ngoan sẽ phục vụ cho mục đích của mình đây?"

"Thì, con trai ta, rõ ràng là nơi nào học tập là con đường dẫn đến sự khôn ngoan, con bắt buộc phải học, giống như con đã học bài tập chiến thuật tiểu đoàn của mình, nhưng khi nói đến những vấn đề không phải do người phàm học được, cũng không phải do tâm trí phàm trần tiên đoán được, ở đó con chỉ có thể trở nên khôn ngoan hơn những người khác bằng cách giao tiếp với các vị thần thông qua nghệ thuật bói toán. Nhưng, luôn luôn, bất cứ nơi nào con biết một việc nên được làm, hãy đảm bảo rằng nó được thực hiện, và được thực hiện một cách cẩn trọng; bởi vì sự cẩn trọng, chứ không phải sự bất cẩn, mới là dấu hiệu của người khôn ngoan."

(24) "Và giờ," Cyrus nói, "để giành lấy tình cảm của những kẻ chúng ta cai trị — và chẳng có gì, con nghĩ, quan trọng hơn điều đó — chắc chắn con đường phải theo mở ra cho tất cả những ai khao khát tình yêu của bạn bè mình. Ý con là, chúng ta phải chứng tỏ rằng chúng ta mang lại điều tốt lành cho họ." "Đúng vậy, con ta, nhưng để thực hiện điều tốt lành thực sự vào mọi thời điểm cho những người chúng ta muốn giúp đỡ không phải lúc nào cũng khả thi: chỉ có một con đường luôn mở rộng, và đó là con đường của sự đồng cảm; vui cùng niềm vui của người hạnh phúc trong ngày tươi đẹp, chia sẻ nỗi buồn của họ khi tai họa giáng xuống, chìa tay giúp đỡ trong mọi khó khăn, sợ hãi thảm họa thay cho họ và canh phòng chống lại nó bằng sự chu đáo — những điều này, hơn là những lợi ích thực tế, mới là những dấu hiệu đích thực của tình đồng chí."

(25) "Và thế là trong chiến tranh; nếu chiến dịch diễn ra vào mùa hè, vị tướng phải chứng tỏ mình ham muốn phần chia sẻ của mình dưới ánh nắng mặt trời và cái nóng, và vào mùa đông là cái lạnh và sương giá, và trong mọi nhọc nhằn là lao động và mệt mỏi. Điều này sẽ giúp làm cho ông ta được yêu mến bởi những người đi theo mình." "Ý con là, thưa cha," Cyrus nói, "một người chỉ huy phải luôn luôn có trái tim kiên định trong mọi thứ hơn những kẻ dưới quyền chỉ huy của ông ta sao?" "Đúng vậy, con trai ta, đó là ý của ta," ngài nói; "chỉ cần hãy tin chắc điều này: vị lãnh đạo vương giả và người lính bình thường có thể giống nhau về thể xác, nhưng nỗi đau khổ của họ không giống nhau: những đau đớn của người lãnh đạo luôn được làm nhẹ bớt bởi vinh quang thuộc về ông ta và bởi chính ý thức rằng mọi hành động của ông đều diễn ra dưới con mắt công chúng."

(26) "Nhưng giờ đây, thưa cha, giả sử thời điểm đã đến, và cha hài lòng rằng quân lính của mình được cung cấp đầy đủ, khỏe mạnh về phổi và chân tay, có khả năng chịu đựng mệt mỏi, thành thạo các nghệ thuật chiến tranh, thèm khát danh dự, hăng hái thể hiện bản lĩnh, khao khát đi theo, chẳng lẽ cha không nghĩ rằng sẽ rất đáng thử cơ hội chiến trận mà không chần chừ sao?" "Bằng mọi giá," người cha đáp, "nếu con có khả năng đạt được lợi ích từ bước đi đó; nhưng nếu không, về phần ta, càng cảm thấy bị thuyết phục về sự vượt trội của chính mình và sức mạnh của quân đội mình bao nhiêu, ta lại càng có xu hướng đứng canh chừng bấy nhiêu, hệt như cách chúng ta đặt những báu vật lớn nhất của mình vào nơi an toàn nhất mà chúng ta có."

(27) "Nhưng làm thế nào một người có thể chắc chắn rằng mình sẽ giành được lợi ích?" "À, đến đây con chạm đến," người cha nói, "một vấn đề trọng đại nhất. Đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng đâu, ta có thể nói cho con biết. Nếu vị tướng của con muốn thành công, ông ta phải chứng tỏ mình là một bậc thầy âm mưu, một vua mưu mẹo, đầy rẫy những trò lừa đảo và mưu lược, một kẻ lừa bịp, một tên trộm và một kẻ cướp, lừa gạt và vượt mặt đối phương ở mọi ngã rẽ."

"Chúa ơi!" Cyrus nói và bật cười phá lên, "đây có phải là kiểu người mà cha muốn con trai mình trở thành không!" "Ta muốn nó trở thành," người cha đáp, "một kẻ công chính, ngay thẳng và tuân thủ luật pháp như bất kỳ ai từng sống."

(28) "Nhưng làm thế nào," người con nói, "những bài học cha dạy chúng con thời thơ ấu và thanh thiếu niên lại hoàn toàn trái ngược với những gì cha dạy con bây giờ?" "À," người cha nói, "những bài học đó dành cho bạn bè và đồng bào, và đối với họ chúng vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng đối với kẻ thù của con — con không nhớ rằng mình cũng được dạy phải gây ra rất nhiều tổn hại sao?"

"Không, thưa cha," cậu đáp, "con chắc chắn sẽ nói là không."

"Vậy tại sao con lại được dạy bắn cung? Hay phóng lao? Hay bẫy lợn rừng? Hay giăng bẫy hươu bằng dây thừng và chông sắt? Và tại sao con chưa bao giờ đối đầu với sư tử, gấu hay báo trong một cuộc chiến công bằng với các điều kiện ngang nhau, mà luôn cố gắng đánh cắp một lợi thế nào đó trước chúng? Con có thể phủ nhận rằng tất cả những điều đó đều là mưu mẹo, lừa đảo, gian lận và tham lam không?"

(29) "Chà, tất nhiên rồi," chàng thanh niên đáp, "khi đối phó với động vật, nhưng với con người thì khác; nếu con từng bị nghi ngờ có ý muốn lừa gạt người khác, con biết mình sẽ bị trừng phạt bằng vô số đòn roi."

"Đúng thế," người cha nói, "và vì lý do đó chúng ta không cho phép con giương cung hay phóng lao chống lại con người; chúng ta chỉ dạy con ngắm vào mục tiêu mà thôi. Nhưng tại sao chúng ta lại dạy con điều đó? Không phải để con có thể làm tổn hại bạn bè mình, dù là lúc đó hay bây giờ, mà để trong chiến tranh con có thể có kỹ năng biến cơ thể của những con người sống thành các mục tiêu của mình. Tương tự như vậy, chúng ta đã dạy con các nghệ thuật lừa đảo, mưu mẹo, tham lam và ham muốn, không phải giữa con người với nhau, đúng vậy, mà giữa các loài thú; chúng ta không hề có ý định bắt con quay những thành tựu này chống lại bạn bè mình, nhưng trong chiến tranh chúng ta muốn con trở nên tốt hơn những tân binh thô kệch."

(30) "Nhưng, thưa cha," Cyrus đáp, "nếu việc làm điều tốt cho con người và làm điều hại cho con người đều là những thứ chúng ta nên học, chắc chắn sẽ tốt hơn nếu dạy chúng trong thực tế thực tế phải không ạ?"

(31) Bấy giờ người cha nói: "Con trai ta, người ta kể lại rằng vào thời của các bậc tổ tiên chúng ta đã từng có một người thầy như thế. Người này thực sự đã dạy lũ trẻ sự công chính theo cách con gợi ý: cách nói dối và cách không nói dối, cách lừa gạt và cách không lừa gạt, cách vu khống và cách không vu khống, cách tham lam và cách không tham lam. Ông vạch ra ranh giới giữa bổn phận của chúng ta đối với bạn bè và bổn phận đối với kẻ thù; và ông đi xa hơn nữa; ông dạy con người rằng thật công chính và ngay thẳng khi lừa gạt ngay cả một người bạn vì lợi ích của chính họ, hoặc đánh cắp tài sản của họ.

(32) Và cùng với điều đó, ông bắt buộc phải dạy học trò của mình thực hành lên nhau những gì ông đã dạy họ, giống như người dân xứ Hellen, chúng ta được kể lại, dạy lũ thiếu niên trong trường đấu vật cách ra đòn và cách nhử đòn, rèn luyện chúng qua việc thực hành với nhau. Giờ thì một số học trò của ông đã thể hiện năng khiếu xuất sắc đối với sự lừa đảo và vượt mặt người khác, và có lẽ chẳng thiếu chút gu thẩm mỹ nào đối với việc kiếm tiền tầm thường, đến mức họ không tha cả bạn bè của mình, mà sử dụng nghệ thuật của họ lên chính những người đó.

(33) Và thế là một bộ luật bất thành văn đã được hình thành mà chúng ta vẫn tuân theo cho đến ngày nay, ra lệnh cho chúng ta dạy dỗ con cái mình như chúng ta dạy những người hầu, một cách đơn giản và thuần túy là không được nói dối, không được lừa gạt, không được tham lam, và nếu chúng làm khác đi thì trừng phạt chúng, với hy vọng biến chúng thành những công dân nhân đạo và tuân thủ luật pháp.

(34) Nhưng khi chúng bước vào tuổi trưởng thành, như con đã bước vào, khi đó, người ta thấy rằng, rủi ro đã chấm dứt, và đã đến lúc dạy chúng những gì hợp pháp để chống lại kẻ thù của chúng ta. Bởi vì ở độ tuổi của con, chúng ta không tin rằng con sẽ bùng nổ thành sự dã man chống lại đồng loại của mình, những kẻ mà con đã gắn kết cùng từ thuở thơ ấu trong các mối liên kết tình bạn và sự tôn trọng. Theo cách tương tự, chúng ta không nói chuyện với giới trẻ về những bí ẩn của tình yêu, bởi vì nếu sự phù phiếm được thêm vào ham muốn, đam mê của họ có thể quét sạch họ vượt qua mọi giới hạn."

(35) "Vậy thì nhân danh thần linh, thưa cha," Cyrus nói, "xin hãy nhớ rằng con trai của người chỉ là một kẻ học trò chậm tiến và là một kẻ học muộn trong kiến thức về sự ích kỷ này, và hãy dạy con tất cả những gì có thể giúp con vượt mặt kẻ thù."

"Được rồi," người cha nói, "con phải âm mưu và con phải lên kế hoạch, bất kể quy mô lực lượng của hắn và của con thế nào, để tóm gọn quân hắn trong tình trạng hỗn loạn khi quân của con đã được xếp trận hoàn chỉnh, không vũ khí khi của con đã có trang bị, đang ngủ khi của con đang thức, hoặc con phải chờ cho đến khi hắn hiển hiện trước mắt con và con vô hình trước hắn, hoặc cho đến khi hắn đang vật lộn trên vùng đất gồ ghề và con ở trong pháo đài của mình và có thể chào đón hắn ở đó."

(36) "Nhưng làm thế nào," Cyrus hỏi, "con có thể tóm hắn trong tất cả những sự lơ đễnh đó?"

"Đơn giản bởi vì cả con và hắn đều buộc phải thường xuyên rơi vào một số tình huống như vậy; cả hai phải dùng bữa vào lúc nào đó; cả hai phải ngủ; quân lính của con phải tản ra vào buổi sáng để giải quyết nhu cầu tự nhiên của cơ thể, và, dù thích hay không, bất kể đường sá thế nào, con sẽ bị buộc phải sử dụng chúng. Tất cả những nhu cầu này con phải khắc ghi vào tâm trí, và bất cứ nơi nào con yếu hơn, ở đó con phải cẩn trọng nhất, và bất cứ nơi nào kẻ thù dễ bị tấn công nhất, ở đó con phải thúc đẩy cuộc tấn công."

(37) Sau đó Cyrus hỏi: "Và đây có phải là những trường hợp duy nhất mà người ta có thể áp dụng nguyên tắc vĩ đại của sự tham lam, hay còn có những trường hợp khác nữa?"

"Ồ vâng, còn rất nhiều nữa; quả thực trong những trường hợp đơn giản này bất kỳ vị tướng nào cũng sẽ chắc chắn canh chừng cẩn thận, vì biết rõ nó cần thiết thế nào. Nhưng kẻ lừa đảo đích thực và vua bịp bợm là kẻ có thể dụ dỗ kẻ thù tiến lên và ném hắn ra khỏi thế phòng thủ, chịu đựng để bị truy đuổi và đưa những kẻ truy đuổi vào tình trạng hỗn loạn, dẫn dụ kẻ thù vào vùng đất hiểm trở và rồi tấn công hắn ở đó."

(38) "Quả thực, với tư cách là một học viên hăng hái, con không được giới hạn bản thân trong những bài học con đã học; con phải thể hiện mình là một kẻ sáng tạo và phát hiện, con phải phát minh ra các mưu lược chống lại kẻ thù; giống như một nhạc sĩ thực thụ không bằng lòng với các yếu tố cơ bản của nghệ thuật mình, mà tự đặt mình vào việc soạn thảo các giai điệu mới. Và nếu trong âm nhạc chính giai điệu mới lạ, sự tươi mát tựa đóa hoa mới là thứ giành được sự phổ biến, thì thậm chí còn hơn thế nữa trong các vấn đề quân sự, chính phát minh mới mẻ nhất mới đứng ở vị trí cao nhất, đơn giản vì lý do đó sẽ mang lại cho con cơ hội tốt nhất để vượt mặt đối phương."

(39) "Và thế nhưng, con trai ta, ta phải nói rằng nếu con không làm gì nhiều hơn ngoài việc áp dụng chống lại loài người những mưu kế con đã học để sử dụng chống lại lũ thú nhỏ, con cũng đã đạt được sự tiến bộ đáng kể trong nghệ thuật vượt mặt này rồi. Con không tự nghĩ thế sao? Chà, để giẫm bẫy loài chim con sẽ dậy từ ban đêm giữa mùa đông giá rét và đi bộ trong cái giá lạnh; lưới của con được giăng ra trước khi các sinh vật nhúc nhích và các dấu chân của con hoàn toàn bị che phủ và con thực sự có sẵn những con chim của chính mình, được huấn luyện để phục vụ con và dụ dỗ bà con thân thuộc của chúng, trong khi bản thân con nằm ẩn nấp ở một nơi nào đó, nhìn thấy nhưng không bị nhìn thấy, và con đã học qua thực hành lâu năm cách quăng chiếc lưới trước khi những con chim có thể bay đi."

(40) "Hoặc con có thể đi săn thỏ, và đối với thỏ con có hai giống chó, một để dò dấu vết nó bằng mùi hương, bởi vì nó đi kiếm ăn lúc chập tối và tìm chỗ nằm ban ngày, và một để cắt đứt đường trốn chạy và truy đuổi nó, bởi vì nó rất nhanh nhẹn. Và thậm chí nếu nó trốn thoát khỏi những con này, nó cũng không thoát khỏi con; con thuộc làu mọi đường chạy của nó và biết tất cả các nơi ẩn nấp của nó, và ở đó con sẽ giăng lưới của mình, sao cho chúng hầu như không thể nhìn thấy được, và chính sự vội vã trong lúc trốn chạy của nó sẽ ném nó vào chiếc bẫy. Và để chắc chắn tóm được nó con có những người được bố trí tại chỗ để canh chừng, và chộp lấy nó ngay lập tức. Và có con ở ngay sát gót nó, la hét và làm nó hoảng sợ mất hồn, sao cho nó bị bắt vì nỗi sợ hãi thuần túy, và ở đó có quân lính của con, như con đã dạy họ, im lặng và bất động trong chỗ phục kích của họ."

(41) "Ta nói, do đó, nếu con chọn hành động như thế này chống lại con người, con sẽ sớm chẳng còn kẻ thù nào để chiến đấu nữa, hoặc ta đoán sai bét nhợ. Và ngay cả khi, điều hoàn toàn có thể xảy ra, sự cần thiết nảy sinh để con chiến đấu trên các điều kiện ngang nhau trong một chiến trường rộng mở, thậm chí khi đó, con trai ta, vẫn sẽ có sức mạnh trong những nghệ thuật mà con đã nghiên cứu quá lâu và dạy con vượt mặt sự bất lương. Và trong số đó ta bao gồm tất cả những gì đã phục vụ để rèn luyện cơ thể và nung nấu lòng dũng cảm của quân lính con, tất cả những gì đã biến họ thành những bậc thầy trong mọi mưu mẹo chiến tranh. Có một điều con phải luôn ghi nhớ: nếu con muốn quân lính đi theo mình, hãy nhớ rằng họ kỳ vọng con phải lên kế hoạch cho họ."

(42) "Do đó con không bao giờ được phép tỏ ra lơ đễnh; nếu là ban đêm, con phải cân nhắc quân đội của mình nên làm gì khi trời sáng; nếu là ban ngày, đêm nên trải qua thế nào là tốt nhất."

(43) "Về phần còn lại, con không cần ta phải nói cho con biết lúc này cách con nên sắp xếp quân đội của mình hay tiến hành hành quân bằng ngày hay đêm, dọc theo những con đường rộng hay ngõ hẹp, qua đồi núi hay vùng đất bằng phẳng, hoặc cách con nên đóng trại và bố trí các trạm gác, hoặc tiến vào chiến trận hay rút lui trước kẻ thù, hoặc hành quân ngang qua một thành phố thù địch, hay tấn công một pháo đài hoặc rút lui khỏi nó, hoặc băng qua một con sông hoặc vượt qua một khe núi, hoặc canh phòng chống lại một cuộc xung phong của kỵ binh hoặc một cuộc tấn công từ lính giáo hay cung thủ, hoặc con nên làm gì nếu kẻ thù lọt vào tầm mắt khi con đang hành quân theo đội hình cột và cách con phải chiếm lĩnh vị trí chống lại hắn, hoặc cách triển khai vào hành động nếu con đang ở trong đội hình hàng ngang và hắn đánh vào sườn hoặc hậu phương của con, và cách con phải tìm hiểu mọi thứ có thể về các chuyển động của hắn, trong khi vẫn giữ kín các chuyển động của chính mình ở mức độ có thể; đây là những vấn đề con không cần thêm bất kỳ lời nào từ ta; tất cả những gì ta biết về chúng con đã nghe hàng trăm lần, và ta chắc chắn con không bỏ qua bất kỳ thẩm quyền nào khác mà con nghĩ mình có thể dựa vào. Con biết tất cả các lý thuyết của chúng, và con phải áp dụng chúng lúc này, ta cho rằng, tùy theo hoàn cảnh và nhu cầu của con."

(44) "Nhưng," ngài nói thêm, "có một bài học mà ta tha thiết muốn khắc ghi vào con, và đó là bài học lớn nhất trong tất cả. Hãy quan sát các nghi lễ tế thần và chú ý đến các điềm báo; khi chúng chống lại con, đừng bao giờ mạo hiểm quân đội hay chính bản thân con, vì con phải nhớ rằng con người thực hiện các doanh nghiệp chỉ dựa trên sức mạnh của xác suất đơn thuần và không có bất kỳ kiến thức thực sự nào về những gì sẽ mang lại hạnh phúc cho họ."

(45) "Con có thể học điều này từ toàn bộ cuộc sống và toàn bộ lịch sử. Đã bao nhiêu lần các thành phố cho phép mình bị thuyết phục bước vào chiến tranh, và điều đó bởi những cố vấn được coi là khôn ngoan nhất trong số loài người, để rồi bị tàn phá hoàn toàn bởi chính những kẻ mà họ tấn công! Đã bao nhiêu lần các nhà chính trị giúp nâng một thành phố hay một nhà lãnh đạo lên nắm quyền, và rồi phải chịu đựng điều tồi tệ nhất dưới tay của chính những kẻ mà họ tôn sùng! Và rất nhiều kẻ có thể đối xử với người khác như bạn bè và người bình đẳng, cho đi và nhận lại sự tử tế, lại chọn sử dụng họ như những nô lệ, và rồi trả giá dưới bàn tay của họ; và rất nhiều kẻ, không bằng lòng tận hưởng phần tốt đẹp của chính mình, lại bị cuốn đi bởi khát khao làm chủ tất cả, và nhờ đó đánh mất mọi thứ mà họ từng sở hữu; và rất nhiều kẻ đã giành được chính sự giàu có mà họ cầu xin để rồi qua đó tìm thấy sự hủy diệt."

(46) "Sự khôn ngoan của con người mới ít ỏi làm sao trong việc biết cách chọn lựa điều tốt nhất, bất lực hệt như một kẻ chỉ có thể rút thăm để xem mình nên làm gì. Nhưng các vị thần, hỡi con trai ta, những đấng sống đời đời, họ biết tất cả mọi thứ, những thứ đã xảy ra và những thứ đang diễn ra và những thứ sẽ xảy ra, và tất cả những gì sẽ sinh ra từ những điều đó; và đối với chúng ta những kẻ phàm trần cầu xin lời khuyên của họ và những kẻ được họ yêu thương, họ sẽ hiển thị các dấu hiệu, để bảo cho chúng ta biết chúng ta nên làm gì và nên để lại điều gì chưa làm. Cũng đừng lấy làm lạ nếu các vị thần không ban phát sự khôn ngoan của mình cho tất cả mọi người một cách bình đẳng; không có sự ép buộc nào đặt lên họ trong việc quan tâm đến con người, trừ khi đó là ý muốn của họ."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Xenophon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.