Nhận nhiệm vụ
Chiếc xe Jeep phóng như bay trên bãi Gobi.
Ánh nắng chói chang, mặt trời gay gắt như lửa đốt, bãi Gobi tháng Chín tựa hồ như muốn bốc cháy.
Đây là mùa hè năm 1951, một ngày vô cùng bình thường. Hai tiếng trước, La Chính Hùng bất ngờ nhận được mệnh lệnh, yêu cầu anh hỏa tốc đến sở chỉ huy sư đoàn để nhận nhiệm vụ.
Nhận nhiệm vụ ư? La Chính Hùng, người đang bầu bạn cùng Giang Uyển Âm trong căn nhà cấp bốn thấp tè ở Trung đoàn 14, mang một vẻ mặt khó hiểu. Hiện tại, anh không còn là một chiến sĩ sắt thép của đại quân đoàn, càng không phải là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 14. Anh đã cởi bỏ bộ quân phục, chẳng mấy chốc sẽ cùng Giang Uyển Âm – người đến đón anh – rời khỏi vùng đại mạc mênh mông này, rời khỏi vùng đất biên tái mà người nội địa chỉ nghe thôi đã dựng tóc gáy, để đến một huyện gọi là Vượng Thủy nhậm chức Huyện trưởng. Vượng Thủy ở đó thực sự rất đẹp, non xanh nước biếc, đất màu mỡ bò khỏe, quan trọng hơn, Vượng Thủy chính là quê hương của Giang Uyển Âm. Nhân sĩ dân chủ Giang Mặc Hàm vừa nghe tin này liền dẫn con gái Giang Uyển Âm vội vã chạy đến, còn thuê năm con lạc đà, bốn con ngựa, nói là muốn dùng cách đặc biệt này để đón người anh hùng là anh về Vượng Thủy.
"Cha con phụ lão Vượng Thủy mong cậu lắm đấy, Tiểu đoàn trưởng La." Giang Mặc Hàm run run chòm râu, dùng chất giọng nam trung vang dội của mình nói. So với sáu năm trước, Giang Mặc Hàm có phần già đi đôi chút, nhưng sắc diện của ông ta tốt hơn nhiều so với thời điểm Vượng Thủy được giải phóng sáu năm trước. Vị phu tử đem toàn bộ tâm huyết đời mình cất vào sự nghiệp giáo dục ở quê nhà Vượng Thủy này, lúc này trông hoàn toàn không có chút vẻ gì là nhà nho. Ông ta nắm chặt tay La Chính Hùng, kể cho anh nghe một loạt thay đổi diễn ra ở đó sau khi tiểu đoàn mũi nhọn rời đi, bao gồm cả việc xây dựng trường học nhân dân.
"Được, bây giờ là nhân dân làm chủ, cậu đi rồi nhất định sẽ làm nên sự nghiệp lớn."
Lúc hai người đang nói chuyện, Giang Uyển Âm mười tám tuổi đứng e dè sang một bên, đôi mắt phượng thỉnh thoảng lại lén lút liếc sang, nhìn một cái rồi lại vội vã lướt đi, trên đôi má trắng ngần chốc chốc lại ửng lên một đám mây đỏ thẹn thùng. Quả thật con gái mười tám tuổi thay đổi lớn, càng đổi càng xinh đẹp. Trong tâm trí La Chính Hùng, Giang Uyển Âm vẫn dừng lại ở hình ảnh cô bé sáu năm trước để tóc mái ngố, thắt hai bím tóc nhỏ, ban đêm cứ nũng nịu bên khuỷu tay anh, bắt anh kể chuyện cho nghe. Không ngờ, thấm thoắt sáu năm, cô lại trổ mã rực rỡ đến thế, chỉ nhìn một cái cũng khiến tim đập thình thịch. La Chính Hùng – người từng trải qua vô số trận mưa bom bão đạn, được ngọn lửa cách mạng tôi luyện đến mức đao thương không sợ, gió mưa chẳng màng – đứng trước Giang Uyển Âm mười tám tuổi lại lần đầu tiên tỏ ra chột dạ. Hai người nói chuyện không nhiều, nhưng trong từng câu nói hình như đều vương vấn một thứ vị kỳ lạ. Cũng phải thôi, chuyến đi này của Giang Mặc Hàm có mục đích là gả con gái Giang Uyển Âm cho La Chính Hùng, theo cách nói của ông ta, đây gọi là anh hùng xứng giai nhân, vô cùng xứng đôi vừa lứa.
"Huyện trưởng La à, không, tôi gọi cậu là Tiểu đoàn trưởng La vẫn thuận miệng hơn. Năm xưa trách tôi có mắt như mù, không coi anh hùng ra gì. Lần này khác rồi, tôi nhất định phải dùng kiệu hoa lớn khiêng cậu đến Vượng Thủy, để những kẻ hay góp ý với tôi ở Vượng Thủy xem xem, Giang Mặc Hàm tôi kính trọng anh hùng hơn bất kỳ ai."
Những gì Giang Mặc Hàm nói là sự thật. Năm xưa, La Chính Hùng đến nhà ông ta trong bộ dạng giả trang thành thầy bói. Ban đầu, Giang Mặc Hàm rất phản cảm với người thanh niên này, làm gì không làm, lại cứ mang chuyện quỷ thần ra để lừa người. Trong cơn giận dữ, ông ta đã đuổi La Chính Hùng ra ngoài. Nếu không có lão Hoàng – phụ trách tổ chức ngầm – đứng ra lo liệu, tám phần là duyên phận giữa La Chính Hùng và ông ta đã chấm dứt ở đó rồi. Sau này tuy không còn phản cảm đến thế, nhưng trong thâm tâm ông ta vẫn coi thường gã tú tài nghèo suốt ngày đeo cái bị cóc thần bí ra ra vào vào này. Theo nguyên tắc của Giang Mặc Hàm, người nghèo thì chí không được ngắn, một người đọc sách mày thanh mục tú thì nên làm việc đàng hoàng, dẫu có đến trường học do ông ta mở để dạy học cũng được. Thế mà La Chính Hùng lại từ chối ông ta, còn lớn tiếng tuyên bố rằng bát cơm này của mình ăn rất tự do tự tại, những kẻ tìm anh để giải hạn hay bói toán toàn là người giàu có hoặc quan chức cao cấp của Quốc Dân Đảng. Một câu nói khiến Giang Mặc Hàm mấy ngày liền không thèm đếm xỉa đến anh, cũng không cho con gái Giang Uyển Âm bước vào phòng anh, vì sợ tên lừa đảo giang hồ này dạy hư con gái. Nào ngờ sau đó Giải phóng quân đánh thành, La Chính Hùng một bước hóa rồng, trở thành Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn mũi nhọn. Những ngày tháng ở nhà họ Giang của anh vốn dĩ không phải để bói toán hay giải hạn, mà là phụng mệnh thâm nhập vào nội bộ kẻ địch để tiến hành làm công tác ly giội. Dưới sự nỗ lực không ngừng nghỉ của anh, Trung đoàn 27 và Trung đoàn 28 – những đội quân ô hợp trấn thủ thành trì huyện Vượng Thủy – lần lượt quay giáo, chủ động bỏ thành đầu hàng, chỉ còn lại Trung đoàn 22 cứng đầu ngoan cố. Trung đoàn này là hệ chủ lực của Tưởng Giới Thạch, tự xưng là chuyến hành trình tử thần. La Chính Hùng đã áp dụng chiến thuật nhử địch ra khỏi thành, nhử Trung đoàn 22 đến Hắc Phong Cốc cách thành Vượng Thủy hai mươi dặm về phía bên ngoài, hai bên triển khai một trận chiến đẫm máu. Trận chiến đánh suốt bảy ngày bảy đêm, dựa vào sự giúp đỡ của vũ trang ngầm và sự ủng hộ ngầm của tầng lớp tiến bộ, tiểu đoàn mũi nhọn với binh lực một tiểu đoàn đã tiêu diệt thành công một trung đoàn chủ lực của địch, bắt sống Trung đoàn trưởng Hồ Đại Cán Tử. Trong điều kiện trong thành không vang một tiếng súng tiếng pháo nào, Vượng Thủy được giải phóng. Từ đó, La Chính Hùng trở thành người hùng ai ai cũng biết, một số nhân sĩ tiến bộ ở Vượng Thủy sau khi lập quốc đã chủ động dâng thư lên các cơ quan hữu quan, thỉnh cầu để một người văn võ song toàn, gan dạ hơn người như La Chính Hùng trở lại Vượng Thủy để đảm nhiệm chức vụ hành chính của Vượng Thủy. Đáng tiếc là lúc đó tiểu đoàn mũi nhọn phải đi về phía tây trước cùng đại quân, đánh một mạch đến Tân Cương, Giang Mặc Hàm còn chưa kịp xin lỗi La Chính Hùng thì bước chân của La Chính Hùng đã đặt lên chặng đường chinh chiến hướng Tây.
Bản thân La Chính Hùng từ trước đến nay chưa từng nói hai lời với sự sắp xếp của tổ chức, anh đã quen với sự phục tùng, cũng quen với việc tìm lại chính mình từ trong sự phục tùng. Đi đến đâu cũng là làm việc, huống chi trong thâm tâm anh vẫn thích nơi Vượng Thủy đó hơn. Thế nên anh rất vui vẻ đồng ý. Không ngờ, ngay lúc anh đang chuẩn bị hành trang rời khỏi đại mạc thì bất ngờ lại nhận được một mệnh lệnh kỳ lạ thế này.
Lẽ nào không muốn cho tôi đi nữa ư? La Chính Hùng ngồi trong xe thầm nghĩ.
Bãi Gobi tháng Chín là thời điểm oi bức nhất trong năm, tính cách của nó mãnh liệt hơn tính khí bốc lửa của đàn ông gấp mấy chục, gấp mấy trăm lần. Xe vừa lên đường liền bị hơi nóng bốc lên khiến người ta không tài nào ngồi yên được. La Chính Hùng bảo tài xế dừng xe, tháo tấm bạt che đi, gió thì lùa vào được đấy, nhưng ánh nắng ác độc nhanh chóng thiêu đốt khiến da trên người như muốn rách ra. La Chính Hùng chửi thề một câu khó nghe, hối thúc tài xế lái nhanh lên. Khi xe ra khỏi bãi Bạch Bản, vọt lên tuyến đường số 2, La Chính Hùng nhìn thấy một đàn cừu vàng, ước chừng năm sáu mươi con, tụm lại một cục, đầu cúi sát vào hạ bộ của đồng bạn, đi về hướng Thiên Sơn. Bãi Bạch Bản từng là nơi cừu vàng hoành hành, khi La Chính Hùng và những người khác mới tiến vào bãi Gobi, thường xuyên bị những đàn cừu vàng vây kín. Cừu vàng tuy không cắn người, nhưng nếu bạn làm tổn thương chúng, chúng cũng sẽ tìm cơ hội trả thù. La Chính Hùng và những người khác từng có trải nghiệm bị cả ngàn con cừu vàng vây hãm suốt một đêm, đó là trên đường truy lùng phản tặc Ô Lạp Tư Bái bốn năm trước, họ bị Ô Lạp Tư Bái xảo quyệt dẫn vào sào huyệt của cừu vàng, suýt chút nữa đã thành vật tế thần cho cừu vàng. Sau lần đó, La Chính Hùng hiểu ra rằng, chiến đấu ở bãi Gobi không một bóng người, điều đầu tiên phải học chính là cách chung sống với những loài động vật hoang dã này.
Đến chạng vạng tối, La Chính Hùng và những người khác tiến vào bồn địa Yên Kỳ. Yên Kỳ dưới màn đêm hiện lên vẻ đẹp tựa trinh nữ, ở đằng xa, hồ Bác Đằng Hồng mông nước biếc phát ra ánh sáng long lanh. Nếu là lúc bình thường, La Chính Hùng nhất định sẽ bảo tài xế giảm tốc độ, anh thích nhất là đứng dưới màn đêm, ngẩn ngơ ngắm nhìn hồ Bác Đằng Hồng thần bí. Nhưng lúc này, lòng anh còn nôn nóng hơn những ngôi sao đang chực trồi lên bầu trời. Cha con Giang Mặc Hàm vẫn đang đợi ở căn nhà cấp bốn thấp lè tè tại Đại Sa Hồ, còn ở sở chỉ huy sư đoàn, vẫn chưa biết có thay đổi quan trọng gì xảy ra hay không.
Quả nhiên, vừa bước chân vào sở chỉ huy sư đoàn, La Chính Hùng đã nghe được một tin tức, lệnh chuyển ngành của anh đã bị thu hồi, chờ đợi anh sắp tới sẽ là một nhiệm vụ vô cùng gian khổ và vinh quang.
Chính ủy sư đoàn Đồng Thiết Sơn nói: "Cân nhắc tới lui, cậu vẫn là người thích hợp nhất."
Sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải vì cân nhắc tính phức tạp của nhiệm vụ lần này nên đã bảo chính ủy âm thầm làm công tác tư tưởng với La Chính Hùng trước, gỡ bỏ trước những khúc mắc có thể xuất hiện trong tư tưởng của anh.
Nghe xong lời của chính ủy, La Chính Hùng cúi đầu không nói. Quyết định này quá bất ngờ, nếu đổi lại là nửa tháng trước, có lẽ anh đã có thể vui vẻ tiếp nhận, nhưng hiện tại anh đã làm tốt công tác chuẩn bị để đi Vượng Thủy, bỗng nhiên lại bị gọi giật ngược về, hơn nữa việc đầu tiên gánh vác chính là yêu cầu anh đảm nhiệm chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đặc 2. Đây quả là một vai trò còn khó khăn hơn cả việc xung phong liều chết trong thời kỳ chiến tranh—
La Chính Hùng ấp úng mãi mới nói: "Chính ủy, có thể...?"
Chính ủy Đồng Thiết Sơn lớn hơn La Chính Hùng không mấy tuổi, hai người lại là đồng hương Cam Túc, nói chuyện tự nhiên có thêm vài phần bình hòa: "Sao thế, sợ rồi à? La Chính Hùng cậu chính là người gan dạ nhất toàn sư đoàn đấy, năm xưa lão sư đoàn trưởng còn khen cậu mãi mãi là thanh dao nhọn cắm vào tim địch cơ mà. Sẽ không phải bị ngọn gió ở bãi Gobi này thổi cho dao động tâm can luôn rồi chứ?"
"Ý tôi là..." La Chính Hùng vẫn chần chừ, không biết nên giải thích với Đồng Thiết Sơn thế nào.
"Nghĩ cái gì mà nghĩ, chắc không phải thực sự không nỡ Giang Uyển Âm đó chứ? Tôi nói cho cậu biết, đã là quân nhân thì tuyệt đối không được để đồng chí nữ vương vấn tâm trí. Giang Uyển Âm kia tuy trẻ trung xinh đẹp, nhưng cậu là quân nhân, mệnh lệnh đầu tiên phải tuân theo trước tiên chính là quân lệnh. Nếu thực sự để mắt đến cô ta, tổ chức có thể ra mặt để cô ta ở lại. Nhưng nếu vì cô ta mà làm lỡ dở công việc, tôi tuyệt đối không tha cho cậu đâu."
"Không, không," La Chính Hùng vội vàng lắc đầu, sự do dự của anh không liên quan gì đến Giang Uyển Âm cả, "Người ta mới bao nhiêu tuổi chứ, cậu đừng có nghĩ lệch đi thế."
"Không phải tôi muốn nghĩ, La Chính Hùng cậu có khi nào do dự đâu, sao tự nhiên xuất hiện một Giang Uyển Âm mà cậu lại trở nên dài dòng văn tự thế hả. Tôi chỉ hỏi cậu một câu, tuân thủ hay không tuân thủ?"
Bị chính ủy ép đến mức này, La Chính Hùng đành chịu chết, thẳng người lên, vô cùng kiên định trả lời: "Tuân thủ!"
Chính ủy Đồng Thiết Sơn mỉm cười, trong ánh mắt lộ ra vài phần tán thưởng: "Tôi biết ngay mà, La Chính Hùng cậu sẽ không làm sở chỉ huy sư đoàn thất vọng đâu. Đi, theo tôi đi gặp sư đoàn trưởng."
Mệnh lệnh khẩn cấp phụng mệnh thành lập Trung đoàn Đặc 2 được sở chỉ huy sư đoàn tiếp nhận vào ba ngày trước. Tối ngày 20 tháng 8, Trung đoàn Đặc 1 gánh vác nhiệm vụ đo đạc tuyến đầu của binh đoàn đã đụng độ trận cuồng phong cát dữ dội tại đại sa mạc Taklamakan. Trận cuồng phong này là trận cuồng phong cát lớn nhất mà Tân Cương gặp phải trong suốt ba mươi năm qua, cơn bão kéo dài suốt ba ngày ba đêm, phá hủy vô số ruộng tốt, các ngôi làng dọc theo sa mạc cũng như đồn trú của quân đội đều chịu những mức độ đe dọa khác nhau. Bão qua đã gần hai mươi ngày, sống chết của các quan binh Trung đoàn Đặc 1 đến nay vẫn chưa rõ. Bộ tư lệnh ước tính khả năng sống sót của các tướng sĩ đã không còn lớn, mặc dù toàn thể binh đoàn vẫn đang nỗ lực cứu viện, nhưng giữa đại sa mạc mênh mông, việc nuốt chửng hàng trăm sinh mạng con người là chuyện quá đỗi dễ dàng. Một trận cuồng phong cuốn lên, từng đàn lạc đà còn có thể bị thổi bay, huống chi là con người. Từ tình huống ba chiếc xe Jeep bị gió xé nát tơi tả, chắp vá lại cũng không thành hình cho thấy, nơi Trung đoàn Đặc 1 hạ trại ngủ đêm nằm ngay ở trung tâm cơn bão. Mà đội ngũ hậu cần của họ lại vừa khéo hành quân đến bên bờ sông Tarim. Nếu sông Tarim nuốt chửng người thì tuyệt đối không phải dùng mấy trăm người là có thể lấp đầy, e rằng ném cả binh đoàn xuống đó cũng không lấp đầy nổi cái bụng của nó.
Thế nhưng nhiệm vụ xây dựng binh đoàn đã được ấn định từ đầu năm, đội ngũ khai hoang quy mô lớn sắp tiến vào sa mạc Gobi, công việc đo đạc tuyến đầu không thể dừng lại dù chỉ một khắc, Bộ tư lệnh lúc này mới hạ lệnh khẩn trương thành lập Trung đoàn Đặc 2, tiếp quản sứ mệnh mà Trung đoàn Đặc 1 gánh vác.
Chính ủy Đồng Thiết Sơn thoát khỏi cái bóng bi kịch của Trung đoàn 1, đầy nhiệt huyết nói: "Lúc thành lập Trung đoàn 1, chúng ta tranh không lại Sư đoàn 1, lần này Bộ tư lệnh giao sứ mệnh thiêng liêng thành lập Trung đoàn 2 cho sư đoàn chúng ta, chính là sự tín nhiệm cao độ đối với sư đoàn chúng ta đấy."
Lòng La Chính Hùng bỗng chốc trở nên nặng trịch. Thành lập Trung đoàn Đặc 2, đi đến nơi tuyến đầu tiên, thứ bị thử thách sẽ không còn chỉ là trí tuệ và sự gan dạ của một con người nữa, mà là liệu trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt tàn khốc, có thể biến giấc mơ vĩ đại khai hoang giữ gìn biên ải của toàn binh đoàn thành hiện thực hay không.
Năm ngày sau, một đội ngũ khác cũng xuất phát từ Địch Hóa. Ngồi trên bướu lạc đà đi ở vị trí tiên phong là Chính ủy Vu Hải.
Theo mệnh lệnh của sở chỉ huy sư đoàn, Vu Hải và La Chính Hùng chia làm hai ngả, xuất phát từ Địch Hóa và Hồng Sa Oa, một tuần sau sẽ hội quân tại nơi tử địa Hồng Hải Tử. Sở chỉ huy sư đoàn sở dĩ quyết định chọn trạm dừng chân đầu tiên ở Hồng Hải Tử là muốn thử thách xem đội ngũ mới thành lập này liệu có thực sự kiên trì nổi trong sa mạc khắc nghiệt hay không. Hiện tại không giống trước kia, thời kỳ chiến tranh, bất kể gặp phải khó khăn trở ngại lớn đến đâu, chỉ cần có tình hình địch là mỗi chiến sĩ đều có thể xông lên tuyến đầu. Hiện tại ánh sáng hòa bình rọi sáng khắp đại địa, lòng ai nấy đều ít nhiều buông lỏng, việc có thể chịu đựng được thử thách thứ hai hay không đã trở thành tiêu chuẩn duy nhất để sở chỉ huy sư đoàn đo lường đội ngũ đặc biệt này. Huống chi, thành phần của đội ngũ này rất phức tạp, có người thậm chí còn chưa từng mặc quân phục, càng không biết mùi vị gian khổ là gì. Cùng với công việc của binh đoàn ngày càng đi vào chiều sâu, sắp tới sẽ có một lượng lớn máu tươi mới được bổ sung vào, liệu có thể dẫn dắt tốt đội ngũ đặc biệt này hay không chính là thử thách lớn nhất đối với hai người La và Vu.
Dưới ánh nắng gay gắt, sắc mặt Chính ủy Vu Hải có chút u ám, thậm chí mang theo vài phần chán nản. Anh ta hơn ba mươi tuổi, người không cao nhưng săn chắc, khuôn mặt rám nắng hiếm khi nở nụ cười, đôi mắt luôn trầm ngâm lúc nào cũng ẩn chứa một tia sáng khó dò. Mười sáu tuổi tòng quân, đánh qua vô số trận chiến đẹp, lập không ít chiến công, trong thời kỳ kháng chiến lại từng học một năm tại Đại học Quân chính kháng Nhật. Trong số các quan binh tiến vào Tân Cương, anh ta được coi là một người có học thức. Lần này chọn anh ta đến Trung đoàn Đặc 2, Lưu Chấn Hải và Đồng Thiết Sơn cũng đã tốn không ít tâm sức. La Chính Hùng cái gì cũng tốt, chỉ có tính khí quá nóng nảy, hở một chút là phạt thể thậm chí thích độc đoán chuyên quyền. Trung đoàn Đặc 2 suy cho cùng không phải là binh đoàn thời chiến, sứ mệnh gánh vác quan trọng hơn nhiều so với sứ mệnh của một tiểu đoàn mũi nhọn trong thời chiến, nhất cử nhất động đều sẽ liên quan đến đại cục sự nghiệp của binh đoàn. Lưu Chấn Hải và Đồng Thiết Sơn thương lượng tới thương lượng lui, quyết định gác lại báo cáo đề bạt Vu Hải làm Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 2, phái anh ta đến bên cạnh La Chính Hùng để gây dựng nên binh chủng đặc biệt thời kỳ mới này.
Đối với sự bổ nhiệm lần này, bản thân Vu Hải lại mang tâm lý đề phòng, tuy nhiên anh ta sẽ không nói ra suy nghĩ thật của mình. Hán tử vùng Thiểm Bắc hơn ba mươi tuổi này trước mặt sư đoàn trưởng và chính ủy sư đoàn vẫn thể hiện ra vẻ lạc quan và kiên định, nhưng vừa bước ra khỏi cửa sở chỉ huy sư đoàn là sắc mặt anh ta liền trầm xuống. Lúc này, vẻ u ám đó mang theo màu sắc cảm xúc rõ rệt, đặc biệt là khi nhìn thấy lô tinh binh đầu tiên mà sở chỉ huy phái cho mình, hai hàng mày cau lại càng chặt hơn.
Trên đại mạc bị ánh nắng mặt trời nung đốt, ba mươi con lạc đà xếp thành một hàng dài. Đây là ba mươi con lạc đà đực mà bộ phận hậu cần mua từ tay một đội lạc đà rất có tiếng ở địa phương, sức bền và tốc độ di chuyển đều thuộc hàng đỉnh cao. Thế nhưng những người ngồi trên lưng lạc đà lại khiến Vu Hải chỉ biết thở dài ngao ngán. Ngoại trừ hai hướng dẫn viên cùng bốn binh sĩ hậu cần, những người còn lại nếu để tự tay Vu Hải chọn, e rằng một người cũng không chọn nổi. Đặc biệt là người ngồi trên con lạc đà lùn ở chính giữa kia, trông đơn giản chính là một chiếc gối thêu hoa thêu thùa!*
Người này tên là Vạn Nguyệt, hai mươi lăm tuổi, được tuyển vào quân đội từ Địch Hóa sau khi Tân Cương được giải phóng, nghe nói toán học rất giỏi, biết mày mò rất nhiều dụng cụ. Sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải coi cô ta như bảo vật giới thiệu cho Vu Hải, còn nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rằng bất kể gặp phải tình huống gì, ưu tiên hàng đầu chính là bảo đảm an toàn cho Vạn Nguyệt. Vu Hải lúc ấy thầm cười mỉm, một người phụ nữ yếu đuối như vậy, khi đến bãi mạc Gobi thì còn an toàn cái nỗi gì? Chờ đến khi Vạn Nguyệt về dưới tay mình, chỉ mấy ngày ngắn ngủi, anh ta đã phát hiện ra người phụ nữ này không chỉ sống trong nhung lụa mà tính cách còn kiêu ngạo, lạnh lùng ít nói, cực kỳ khó chung sống. Các nữ binh khác trên bướu lạc đà lúc này đang nói cười vui vẻ, thấy cái gì cũng thấy lạ lẫm, duy chỉ có cô ta là mặt lạnh tanh, chân mày nhíu chặt, ra điều tiểu thư đài các, một vẻ kiêu ngạo lạnh lùng từ chối người ngàn dặm. Vu Hải làm chính ủy nhiều năm, sợ nhất là giao thiệp với nữ binh, đặc biệt sợ những nữ binh có cá tính. Anh ta thực sự không hiểu sở chỉ huy sư đoàn phái cho mình nhiều nữ binh như vậy để làm gì, lại còn phái tới một mỹ nhân lạnh lùng như thế!
Đội lạc đà chậm chạp đi về phía tây, mặt trời đứng bóng nướng người đến mức không dám ngẩng đầu lên, nhưng lại không dám dừng lại. Đi trong sa mạc, dù là người hay lạc đà đều phải dồn hết một hơi, nếu bước chân hơi lơi lỏng một chút thì sức nóng ấy lập tức có thể hóa lỏng bạn. Trong tiếng chuông lạc đà đinh đang, đại sa mạc Taklamakan tựa như một tấm lưới ma giăng kín trời đất, chớp mắt đã nuốt chửng đội ngũ này.
Tranh thủ đào hầm trú ẩn
La Chính Hùng và những người khác đến sớm hơn Vu Hải mấy ngày.
Gió chiều hiu hắt, đại mạc ồn ào suốt một ngày dần trở nên yên tĩnh, bầu trời trút bỏ ánh rạng đông cuối cùng, những cồn cát được ráng chiều nhuộm qua hiện lên một vẻ tĩnh lặng hiếm có.
Đây là sự khởi đầu của màn đêm, giữa ban ngày và ban đêm, sa mạc có khoảng thời gian ngắn ngủi để thở dốc.
La Chính Hùng không dám để mọi người nghỉ ngơi, bắt buộc phải tranh thủ trước khi sa mạc nổi oai phong để đào xong hầm trú ẩn. Hơn bốn mươi chiến sĩ chia thành ba tổ, một tổ do anh dẫn đầu đi nhặt củi trong các bụi gai cát gần đó. Một tổ do Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên dẫn dắt, tranh thủ đào hầm trú ẩn. Tổ còn lại là ban quân nhu, đang tất bật dựng lều, nhóm lò bắc bếp ở khu vực đóng quân. Trải qua chặng đường dài vượt suối băng ngàn suốt bốn ngày ba đêm, bữa ăn đầu tiên trong sa mạc này nên được ăn một cách có ý nghĩa. Nào ngờ lò vừa bắc lên, ngọn củi đầu tiên vừa được châm lửa thì ngọn gió tây bắc gầm rú đã kéo đến. Cơn gió này đến không hề có một điềm báo trước, ban nãy bốn bề hãy còn tĩnh mịch, cát tung lên có thể rơi thẳng đứng xuống, chớp mắt một cái, gió tây bắc đã cuộn theo bụi cát cuồn cuộn gầm thét kéo đến. Các chiến sĩ đã vào sa mạc được bốn ngày ba đêm không hề tỏ ra hoảng loạn, mà theo thói quen dựng cao cổ áo, rụt cổ lại, khom người cúi mình cướp chỗ khuất gió để cất đồ đạc. La Chính Hùng tổng cộng dẫn theo mười ba con lạc đà, ba con ngựa. Trên lưng ngựa chở tài liệu cùng dụng cụ do sở chỉ huy cấp. Trước khi bước vào đại sa mạc, Sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải lại một lần nữa gọi anh đến, dặn dò anh nhiệm vụ và tầm quan trọng của cuộc xuất chinh lần này. Đại sa mạc Taklamakan được mệnh danh là biển chết, năm xưa Trung đoàn 15 Sư đoàn 5 đi bộ băng qua đại sa mạc, bằng ý chí kiên cường phi thường và tốc độ không thể tưởng tượng nổi, đã tranh thủ trước khi bọn phản động Quốc Dân Đảng nổi loạn để đến Hòa Điền sớm nhất, một mưu đồ tiêu diệt âm mưu phản loạn của kẻ địch, hoàn thành một tráng cử vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Lần này họ tiến vào đại sa mạc chính là để đo đạc và vẽ bản đồ địa hình quan trọng của đại sa mạc, bao gồm cả những hồ nước đã cạn, di tích thành cổ, cùng mỏ dầu mỏ khoáng. Chinh phục hoàn toàn đại sa mạc Taklamakan là mục tiêu chiến lược đầu tiên do Bộ tư lệnh binh đoàn thiết lập, hiện tại mười vạn đại quân sắp sửa toàn bộ tiến vào hoang mạc Gobi, việc nắm vững tư liệu địa chất địa hình thủ đô trở nên vô cùng quan trọng.
"Các cậu nhất định phải kiên định niềm tin, phải giống như lạc đà sắt dẫm ra một con đường giữa bãi Gobi mênh mông này, có lòng tin không?" Lưu Chấn Hải đột nhiên nhìn chằm chằm vào anh, hỏi.
"Có!" La Chính Hùng đứng nghiêm một tiếng 'bốp': "Xin thủ trưởng cứ yên tâm!" Một cái tát nặng nề của Lưu Chấn Hải vỗ lên vai anh: "Chính Hùng, trông cậy cả vào cậu đấy."
Ở riêng tư, họ giống anh em hơn.
Gió vẫn đang gầm rú, đợt này chồng lên đợt khác, đây là một loại gió gọi là "chổi sắt", không thường gặp nhưng cũng chẳng có gì đáng sợ lắm. Thổi lên giống như có người cầm một chiếc chổi sắt khổng lồ quét mạnh thế giới này. Gió quất lên người có cảm giác giống như dùng bàn chải sắt chà xát bạn vậy, La Chính Hùng đã nếm mùi không chỉ một lần. Không ngờ vừa đến Hồng Hải Tử, "chổi sắt" đã nghênh đón họ, cũng tốt, để mọi người cảm nhận trước sự tàn khốc của cuộc xuất chinh lần này. La Chính Hùng thu lại tâm trí, từ bụi gai cát chạy về khu đóng quân. Người của Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên đang chống chọi với cuồng phong, sức lực bạt mạng tranh thủ đào hầm trú ẩn. La Chính Hùng nhảy xuống, cảm thấy hầm trú ẩn hơi nhỏ, liền nói: "Đào dịch sang trái thêm ba bước nữa, chỗ chật thế này thì một trận cát là lấp đầy ngay." Trương Tiếu Thiên dùng hai tay cuộn thành hình cái loa, hét vào tai anh: "Đây là chỗ nữ binh ở, họ không thích rộng." "Nữ binh nam binh gì chứ, đến đây rồi thì đều là sói cát cả!" Vừa hét, anh vừa cướp lấy xẻng, đào sang bên trái. Lúc này, có chiến sĩ chạy tới nói Đỗ Lệ Lệ đang khóc nhè, họ khuyên không nổi. La Chính Hùng chửi thề một câu tục tĩu: "Mấy giờ rồi mà còn rảnh rỗi khóc nhè, lôi cô ta lại đây cho tôi." Chiến sĩ nhận lệnh rời đi, La Chính Hùng đang suy nghĩ phải trị Đỗ Lệ Lệ thế nào thì Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên hét vào tai anh: "Đỗ Lệ Lệ là tân binh, đừng dọa người ta sợ."
Lúc này La Chính Hùng mới nhận ra bản thân vừa phạm sai lầm rồi. Lần này số người được phân cho anh một nửa là tân binh, đều chưa từng được huấn luyện, vừa đến bộ đội đã được phân về Trung đoàn Đặc 2, Sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải đã nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rằng nhất định phải chú ý tác phong công tác, tuyệt đối không được giở cái tính cục cằn ra nữa. "Được rồi, cậu đi làm công tác tư tưởng đi, nếu cô ta còn dám khóc nhè, lập tức bảo hướng dẫn viên đưa về." Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên trèo ra khỏi hầm trú ẩn, chạy về phía nam, nhưng La Chính Hùng lại đột ngột vứt xẻng đi, cuộn mình trong căn hầm trú ẩn sâu bằng một người mà bắt đầu thấy phiền muộn.
Nói thật, đối với cuộc xuất chinh lần này, trong lòng La Chính Hùng hoàn toàn không có chút đáy nào, đặc biệt là sau khi nhìn thấy đám tân binh trứng ngỗng mà sư đoàn phân cho, anh lại càng ít lòng tin hơn. Thế này mà cũng có thể coi là binh ư? Binh trong lòng La Chính Hùng tuy không nói là mỗi người đều cao lớn vạm vỡ, nhưng ít nhất cũng phải đứng thẳng như một cái cây, hợp lại thì chính là một ngọn núi. Nước đến đất chặn, binh tới tướng ngăn, La Chính Hùng chưa bao giờ cảm thấy có con sông nào không qua nổi, lý do là vì anh đánh giận chọn lính trước, chẻ củi chọn rìu trước. Nhưng lần này, sở chỉ huy sư đoàn lại chơi bài này với anh, không cho anh chọn người, không cho anh điểm tướng, cứ như chơi trò mới mẻ mà nhét cho anh một đống công tử bột tiểu thư, lại còn nói toàn là trí thức. Trí thức thì đánh trận thế nào, chịu khổ thế nào? Nực cười! Lấy Đỗ Lệ Lệ này mà nói, cái nhìn đầu tiên La Chính Hùng nhìn thấy cô ta là anh đã không có chút thiện cảm nào rồi. Khoảnh khắc cô ta nhảy từ trên lưng lạc đà xuống, La Chính Hùng còn tưởng cô ta là chiến sĩ văn nghệ chạy đến bộ đội để súy uý* [thăm hỏi], nhìn lại thì không phải, chiến sĩ văn nghệ đi đứng có dáng dấp của chiến sĩ văn nghệ, không giống cô ta, nhìn trái ngó phải, ba bước đổi một điệu bộ, giống như con dâu mới về nhà chồng, cái gì cũng thấy mới mẻ. Mãi mới đi đến trước mặt La Chính Hùng, chào không thèm chào, lễ phép cũng không thèm kính, ngốc nghếch hỏi: "Các anh ở đây làm cách mạng đấy à?" La Chính Hùng 'bốp' một tiếng giơ tay chào cô ta: "Đúng vậy!"
Dọa cô ta lùi lại mấy bước, bất ngờ lại đầy mặt tươi cười: "Anh là người gác cổng à, hi hi, tôi nghe nói người gác cổng trong quân đội đều thế này cả." Cười xong, không đợi La Chính Hùng phê bình, 'vù' một tiếng chạy ra sân ngắm hoa.
Sân nhỏ của trung đoàn được trồng đầy các loại hoa đủ màu sắc. Đây là ý kiến của Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên, La Chính Hùng ghét nhất mấy thứ hoa hoét cỏ cây này, Trương Tiếu Thiên nói như vậy có thể làm phong phú đời sống của mọi người, cổ vũ sĩ khí. La Chính Hùng thầm chửi trong lòng: "Cổ vũ cái rắm! Dựa vào hoa với cỏ mà cổ vũ lên được thì gọi là sĩ khí chắc?" Miệng lại nói: "Được, vậy giao nhiệm vụ này cho cậu đấy, mà trồng ra chuyện gì thì tôi không tha cho cậu đâu." Chuyện thì đúng là không trồng ra chuyện gì, nhưng vườn hoa đầy sân này nở rộ, trong lòng La Chính Hùng cũng sinh ra một trận ngứa ngáy, nhịn không được muốn đi sờ một cái, hoặc ngửi một chút, nhưng anh cắn răng nhịn lại, chưa từng đặt bước chân nào hướng về vườn hoa dù chỉ một lần.
Dưới ánh nắng chói chang của mùa hè, La Chính Hùng nhìn chằm chằm vào bóng lưng của Đỗ Lệ Lệ ngẩn ngơ một lát, như chợt bừng tỉnh hét lớn: "Đoàn trưởng Trương!" Trương đoàn trưởng đang huấn luyện tân binh vừa báo cáo đến vào ngày đầu tiên ở nửa cái sân bên kia nghe tiếng liền vội vã chạy tới, thỉnh thị có mệnh lệnh gì. La Chính Hùng đột nhiên dùng một giọng điệu vô cùng bất thường nói: "Con nhóc đó tên là gì?"
Trương đoàn trưởng quay người nhìn thoáng qua Đỗ Lệ Lệ. Đỗ Lệ Lệ đã hòa gần hết cơ thể vào cụm hoa, không biết là cô ta điểm xuyết cho cụm hoa, hay cụm hoa làm nổi bật cô ta, trong mắt Trương đoàn trưởng phát ra một thứ ánh sáng hiếm thấy, ánh sáng khi giống đực bị kích thích bởi vật thể bất ngờ. "Báo cáo đoàn trưởng, cô ấy tên là Đỗ Lệ Lệ, là binh tình báo mới được phân về từ sở chỉ huy sư đoàn."
“Binh tình báo?” La Chính Hùng vô cùng khó hiểu, sở chỉ huy sư đoàn phân cho anh binh tình báo để làm gì, bây giờ không phải là dẹp loạn, cũng không phải đánh thành. Hơn nữa, một tiểu nha đầu kiều diễm hơn hoa thế này, làm sao làm binh tình báo được?
Trương đoàn trưởng nói nhỏ: "Cô ấy bị chính ủy nổi giận đuổi tới đây đấy."
"Ồ?" La Chính Hùng cảnh giác trừng mắt nhìn Trương đoàn trưởng, lời Trương đoàn trưởng nói rõ ràng là có ẩn ý, gần đây những chuyện thế này liên tiếp xảy ra, khiến các cán bộ cấp trung đoàn tiểu đoàn ở tuyến dưới vừa ngạc nhiên vừa hoảng sợ. Ai cũng mong ngóng sở chỉ huy sư đoàn đột nhiên phái tới vài nữ binh xinh đẹp, nhưng khi thực sự đến rồi thì lại không nắm bắt được nông sâu. Lẽ nào nha đầu này? La Chính Hùng không nhịn được suy diễn lung tung, nhưng con nha đầu này cũng không giống một tiểu binh bị sở chỉ huy đuổi cổ xuống đây. La Chính Hùng nảy ra một ý, ra lệnh: "Lập tức dẫn cô ấy đi huấn luyện, khối lượng huấn luyện tăng gấp đôi so với người khác."
"Rõ!" Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên không ngờ La Chính Hùng lại hạ cái mệnh lệnh thế này, chào xong liền bước về phía Đỗ Lệ Lệ: "Tân binh Đỗ Lệ Lệ nghe lệnh, trong vòng ba phút quay về đội hình."
Đỗ Lệ Lệ đang đứng chăm chú trước một loại hoa chưa từng thấy bao giờ. Loài hoa này mọc uyển chuyển thướt tha, cành hoa rung rinh, độc đáo mang một cốt cách của mỹ nhân, nhưng hoa lại trắng tinh như tuyết, tinh khiết đến mức khiến người ta nghẹt thở. Đặc biệt là hương thơm mà nó tỏa ra, thoang thoảng mang theo một sức mạnh xuyên tim thấu phổi, hít một hơi là thư thái toàn thân, khiến người ta say sưa ngây ngất.
Đỗ Lệ Lệ nghe thấy tiếng động, ngẩn ngơ quay người lại, quên mình hỏi: "Đây là hoa gì thế?"
Trương Tiếu Thiên đỏ mặt: "Đây gọi là Thiên Sơn tuyết."
"Thiên Sơn tuyết?" Giọng Đỗ Lệ Lệ mang theo một chút vị thấu tận xương tủy, khiến màng nhĩ của Trương Tiếu Thiên trẻ tuổi khẽ rung lên, gợn sóng lăn tăn. Ở bên kia, mặt La Chính Hùng sớm đã tối sầm lại vì giận, anh ghét nhất là cái vẻ mất hồn này của Trương Tiếu Thiên trước mặt phụ nữ.
"Toàn quân chú ý, tập hợp khẩn cấp." Bản thân La Chính Hùng cũng không biết tại sao ngày hôm đó lại hạ cái mệnh lệnh ấy, sau này anh nghĩ, có lẽ từ cái nhìn đầu tiên, anh đã muốn đuổi thẳng cổ Đỗ Lệ Lệ về rồi.
Dẫn theo cô ta đúng là một phiền toái mà. La Chính Hùng trong hầm trú ẩn phát ra một tiếng thở dài trầm đục.
Gió không biết từ lúc nào đã nhỏ lại, màn đêm đen kịt đè nặng xuống, trên người La Chính Hùng, trong cổ áo, phủ một lớp cát dày cộp. Đứng dậy, phủi sạch bụi cát trên người, La Chính Hùng hướng ra ngoài ngóng trông, Trương Tiếu Thiên đang dẫn Đỗ Lệ Lệ và mấy người khác chuyển đồ đạc vào hầm trú ẩn đã đào xong. Tổ nhặt củi đầu tiên cũng lần lượt quay về, đống củi chất thành một ngọn núi nhỏ, hướng dẫn viên đại thúc Thừa Mộc Nhĩ đang chỉ huy một tổ khác đốt lửa trại khắp nơi. Đốt lửa trại trong sa mạc là có quy tắc đấy, không phải bạn muốn châm ở đâu là châm ở đâu đâu, theo lời của đại thúc Thừa Mộc Nhĩ Hãn, một là phải bày ra điềm lành, hai là phải bày ra sự vui mừng, như vậy mới có thể thắp lên hy vọng của một đoàn người. Con gái của ông ta là A Cáp Nhĩ Cổ Lệ đang cùng ban quân nhu nấu thịt cừu thơm phức.
A Cáp Nhĩ Cổ Lệ là một thiếu nữ đẹp đến mức có phần quá đáng. Vẻ đẹp này là thứ mà những nam nhi tộc Hán như La Chính Hùng và Trương Tiếu Thiên không thể tưởng tượng nổi, nếu không tiến vào Tân Cương, dù trí tưởng tượng có hoang dã đến đâu đi chăng nữa, họ cũng không thể tưởng tượng một thiếu nữ lại có thể xinh đẹp nhường này. Chỉ tiếc là vẻ đẹp này đã bị A Cáp Nhĩ Cổ Lệ giấu kín trong chiếc khăn voan. Từ ngày đầu tiên gặp mặt cho đến nay, nụ cười của cô đều ẩn sau chiếc khăn voan, chỉ lộ ra cho La Chính Hùng một đôi mắt đen láy như quả nho. Thêm vào đó là kỷ luật nghiêm minh của quân đội cũng như sự tôn trọng đối với đồng bào Duy Ngô Nhĩ, La Chính Hùng cũng không dám nhìn thẳng vào cô. Nhưng trong lòng, anh lại cảm thấy A Cáp Nhĩ Cổ Lệ xinh đẹp là một người lương thiện, đa tình, có cô làm hướng dẫn viên, sự khắc nghiệt của cuộc xuất chinh lần này sẽ vơi đi một nửa.
Thấy cuồng phong không làm cho đội ngũ mới thành lập này rối loạn phương hướng, trong lòng La Chính Hùng vớt vát được chút an ủi. Anh nhảy ra khỏi hầm trú ẩn, hét về phía gác cổng đang đứng gác đằng xa: "Có nhìn thấy bọn họ không?"
Từ trong màn đêm truyền đến giọng của người gác cổng: "Không thấy ạ, đoàn trưởng."
Đêm sau trận cuồng phong vào mùa hè năm 1951 này, bữa ăn đầu tiên ở Hồng Hải Tử có ý nghĩa quan trọng đối với cả cuộc đời La Chính Hùng. Khi A Cáp Nhĩ Cổ Lệ tận tay đưa cho anh một bát thịt cừu, anh nhìn thấy những ngôi sao lóe lên ở đằng xa, đó là điểm sáng đầu tiên lộ ra trên bầu trời sau khi cuồng phong tạnh hẳn, nhưng La Chính Hùng lại cảm thấy mình nhìn thấy hy vọng. A Cáp Nhĩ Cổ Lệ nói tiếng Hán cực kỳ trôi chảy, nhưng La Chính Hùng lại thích dùng tiếng Duy Ngô Nhĩ bập bõm để bày tỏ lòng biết ơn với cô. Đại thúc Thừa Mộc Nhĩ ở bên cạnh cười nói: "Khi nhìn thấy ngôi sao đầu tiên, ánh sáng đang vẫy gọi cậu rồi đấy, ăn đi, để các chiến sĩ của cậu ăn cho no vào."
La Chính Hùng đang định lên tiếng, Đỗ Lệ Lệ đang ngồi xổm phía sau Trương Tiếu Thiên đột nhiên hét lên một tiếng: "Trời ơi, cát." Tiếp theo đó là tiếng ném bát xuống bãi cát. Trong màn đêm, La Chính Hùng phân minh cảm nhận được có vài đôi mắt đen láy chuyển động mấy cái, đó là sự bất mãn phát ra từ đại thúc Thừa Mộc Nhĩ và A Cáp Nhĩ Cổ Lệ, cũng là sự bất mãn phát ra từ cả sa mạc.
"Nhặt lên." La Chính Hùng bước qua, trừng mắt nhìn Đỗ Lệ Lệ. Đỗ Lệ Lệ dường như vẫn chưa cảm nhận được sự uy nghiêm của anh, lầm bầm nói: "Trong bát toàn là cát, ăn thế nào được?"
"Nhặt lên!" Trong màn đêm đột nhiên bùng nổ âm thanh tựa như tiếng sư tử gầm của anh. Âm thanh này đối với Trương Tiếu Thiên và những người khác vô cùng quen thuộc, đối với mỗi chiến sĩ tiểu đoàn mũi nhọn trước kia, có sức chấn động như sấm bên tai, nhưng đối với Đỗ Lệ Lệ, lại xa lạ và đáng sợ đến thế.
"Tôi không nhặt đấy, cái mặt đen của anh rước cho ai xem." Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên vừa định đưa mắt ra hiệu cho cô ta, La Chính Hùng đã tóm lấy Đỗ Lệ Lệ, ném cô ta ra ngoài đám đông giống như ném một con gà con. Dựa vào ánh sáng phát ra từ đống lửa trại, các chiến sĩ Trung đoàn Đặc 2 nhìn thấy La Chính Hùng khom lưng xuống, bưng bát lên, nhặt chỗ thịt cừu bị vãi xuống đất lên, rồi nói với các chiến sĩ: "Đây là bữa ăn đầu tiên của chúng ta trong sa mạc, đại thúc Thừa Mộc Nhĩ lặn lội đường xa mang cả lạc đà chở theo cừu nhà mình tới, chính là để cổ vũ sĩ khí cho Trung đoàn Đặc 2 chúng ta. Hiện tại chúng ta chỉ có 46 người, Chính ủy Vu và những người khác vẫn đang trên đường, tôi tin tưởng đội ngũ chúng ta sẽ còn lớn mạnh, sẽ trở thành một con lạc đà sắt trong sa mạc. Ăn xong bữa thịt cừu này, chúng ta đã gắn kết chặt chẽ với sa mạc rồi, những khó khăn trắc trở ở phía trước khỏi phải nói nữa, tôi chỉ mong rằng khi nhiệm vụ kết thúc trong tương lai, 46 con người chúng ta vẫn còn đầy đủ." Nói xong, nhận lấy ly rượu từ tay lớp trưởng quân nhu, nhẹ nhàng tưới lên bãi cát. Trong hương rượu lan tỏa, La Chính Hùng chộp lấy miếng thịt cừu mà Đỗ Lệ Lệ làm rơi vãi xuống đất, gặm ăn.
Bữa ăn này ăn có chút nặng nề.
Đỗ Lệ Lệ bị tước đoạt quyền ăn cơm một cách vô thanh vô tức.
Hồng Hải Tử là một vùng biển chết, nghe nói vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, nơi đây vẫn sóng nước dập dờn, cỏ cây xanh mướt. Không xa Hồng Hải cho lắm từng là dinh thự của một vị vương gia, hiện nay hậu duệ của ông ta vẫn đang nắm quyền ở Tân Cương. Khi La Chính Hùng và những người khác dẹp loạn, vị hậu duệ này còn giúp đỡ rất nhiều. Biển cát kéo dài, thế sự đổi thay, đại sa mạc bao la vô tận rốt cuộc đã chôn vùi bao nhiêu câu chuyện? Hồng Hải Tử cỏ tươi nước mát năm xưa, nay đã trở nên dữ tợn đáng sợ, trong sự bình yên ẩn giấu sát cơ. Nửa đêm, La Chính Hùng đang ngủ say thì bị tiếng ồn ào đánh thức, trở mình hỏi người gác cổng, có phải Vu Hải và những người khác đến rồi không? Người gác cổng rụt rè đáp: "Không phải ạ, là Đỗ Lệ Lệ."
Tiếng ồn ào đúng là do Đỗ Lệ Lệ gây ra. Đỗ Lệ Lệ chịu trận ném đó, trong lòng ấm ức vô cùng nhưng lại không dám làm càn loạn xạ. Cô ta bây giờ coi như đã nếm mùi lợi hại của La Chính Hùng rồi, cái tên ma vương mặt đen này, bộ dáng đúng là ăn thịt người mà. Đỗ Lệ Lệ ôm một bụng tâm sự, cuộn tròn trong hầm trú ẩn. Đây là lần đầu tiên cô ta nhìn thấy hầm trú ẩn, cũng là lần đầu tiên "tận hưởng" hầm trú ẩn. Thật không thể ngờ, con người ta lại có thể sống giống như loài chuột, chui rúc trong cái huyệt động vừa tối vừa ẩm ướt này. Lòng Đỗ Lệ Lệ tối đen vô tận, chỗ dơ dáy thế này thì ngủ thế nào chứ? Biết trước thế này thì có đánh chết cô ta cũng không đi làm lính. Tiếc là đã muộn rồi, Đỗ Lệ Lệ chợt nhớ đến cha, vẫn là cha nói đúng: "Đi làm lính, con tưởng bộ quân phục đó dễ mặc lắm chắc, e rằng trước vừa mặc vào thì sau liền khóc ra máu mắt cho con xem." Đỗ Lệ Lệ cắn răng nhịn, không để nước mắt trào ra, nhưng cô ta thực sự rất muốn khóc một trận cho thỏa thích.
Giấc mơ đôi khi sẽ lừa gạt con người ta, giấc mơ dù đẹp đến đâu, hễ chạm vào hiện thực là hoàn toàn thay đổi dạng thức.
Đỗ Lệ Lệ cảm thấy giấc mơ đầu đời của cuộc đời mình đã bị sa mạc này phá nát rồi.
Bụng đói cồn cào, cô ta đã hai ngày không ăn gì rồi, ăn không nổi, làm sao cô ta có thể nuốt trôi thứ thức ăn thô ráp nhường ấy, lại làm sao có thể chịu nổi đầy miệng toàn là cát chứ? Trong mắt cô ta có cái gì đó đang ngọ nguậy, không phải là uất ức, mà là đói, đói đến mức hoa mắt chóng mặt. Lúc này, trong hầm trú ẩn phát ra một thứ âm thanh kỳ lạ, giống như chuột đang ăn vụng, lại giống như hai vật cứng đang nghiến vào nhau, vô cùng chói tai. Đỗ Lệ Lệ lắng tai nghe thử, hóa ra là tên béo ở bên cạnh đang nghiến răng. Đỗ Lệ Lệ bỗng nổi giận, trong số năm nữ binh đi cùng, cô ta ghét nhất tên béo này, tên này dáng người lùn tịt thì chớ, tâm can cũng cực kỳ hẹp hòi, duy chỉ có đống mỡ trên người là điểm mạnh của cô ta. Đỗ Lệ Lệ giáng cho tên béo một cú đấm: "Này, tỉnh dậy, quản cái hàm răng của cậu lại xem nào." Tên béo trở mình, ném cho Đỗ Lệ Lệ một cái lưng rộng hơn cả lưng đàn ông, đôi chân mập múp quặp lại, cả người giống như một con ốc sên lớn. Đỗ Lệ Lệ thấy cô ta không phản ứng gì, lại đẩy một cái: "Thế nào thế hả, ngay trong giấc mơ mà cũng ăn uống được cơ à." Tên béo đột nhiên duỗi chân, xì ra một tiếng đánh rắm. Đỗ Lệ Lệ sao chịu nổi cú này, lập tức tóm lấy tên béo kéo dựng dậy: "Cậu là người hay là lợn thế hả, cút ra ngoài cho tôi!" Tên béo quá nặng, Đỗ Lệ Lệ muốn kéo cô ta đứng dậy lại bị cô ta kéo ngược lại ngã nhào vào hầm trú ẩn. Tên béo trở mình tiếp tục ngủ say, một cái đùi thô kệch đè lên người Đỗ Lệ Lệ, Đỗ Lệ Lệ muốn đứng dậy cũng không đứng lên nổi.
Tiếng gào thét của Đỗ Lệ Lệ cứ thế phát ra. Khi Trương Tiếu Thiên nghe tiếng chạy tới thì khu nhà ở của nữ binh sớm đã náo loạn thành một cục, Đỗ Lệ Lệ đánh nhau với tên béo rồi. Tên béo tên là Trương Song Dương, đến từ Mân Huyện, Cam Túc. Cô ta vốn dĩ chạy vào quân đội để tìm anh trai, ngặt một nỗi anh trai cô ta đã hy sinh trong lúc dẹp loạn. Trương Song Dương khóc một trận, nói với thủ trưởng rằng cô ta muốn làm lính, không muốn về Mân Huyện nữa. Vốn dĩ cô ta không được phân về Trung đoàn Đặc 2, các nữ binh vào Trung đoàn Đặc 2 đều đã qua tuyển chọn nghiêm ngặt, thoạt nhìn tuy có vẻ yếu ớt không chịu nổi gió thổi, nhưng ai nấy đều mang trong mình tuyệt kỹ. Ngặt nỗi trước lúc xuất phát có một nữ binh đột nhiên bị cấp trên "tuyển" đi mất, đây cũng là một nhu cầu đặc biệt của quân đội, không ai dám giữ lại, Trương Song Dương mới được bổ sung vào phút chót.
"Trương Song Dương, ra đây cho tôi!" Trương Tiếu Thiên vừa nhìn thấy cái mông phì nhiêu béo tròn của Trương Song Dương đang ngồi lên người Đỗ Lệ Lệ, đè cho Đỗ Lệ Lệ la oai oái gọi cha gọi mẹ liền lập tức phạt Trương Song Dương ra ngoài hầm trú ẩn đứng. Đỗ Lệ Lệ mắt sưng đỏ, rõ ràng là vừa khóc xong, lúc này lại ra điều anh hùng, định lao vào tấn công Trương Song Dương. Trương Tiếu Thiên quát dừng cô ta lại: "Muốn làm gì hả, có muốn bị phạt ra ngoài đứng cùng không hả?!" Đỗ Lệ Lệ lườm Trương Tiếu Thiên một cái: "Tôi yêu cầu đổi phòng ở ngay lập tức, ở cùng loại người thế này, tôi phát điên mất."
Trương Tiếu Thiên không thèm để ý đến Đỗ Lệ Lệ, anh ta nhìn thấy trong màn đêm La Chính Hùng đang đi về phía này liền vội vã bước tới, chặn La Chính Hùng lại: "Nữ binh xảy ra chút xíu ma sát nhỏ thôi, không sao đâu, tôi xử lý xong rồi, đoàn trưởng xin cứ về nghỉ ngơi đi."
La Chính Hùng vừa định nổi giận thì chợt phát hiện trong màn đêm có bóng người đang chuyển động, ngay cách khu đóng quân chừng mấy chục mét. "Ai?" Anh hét lên một tiếng, rút súng lao thẳng về hướng bóng đen. Trương Tiếu Thiên cũng cảm thấy trong mắt có thứ gì đó chuyển động, phản xạ có điều kiện lao theo. Khi hai người chạy qua dải cát thì bóng đen đã biến mất tăm. Bốn bề tĩnh mịch, ngoài gió đêm ra thì không còn âm thanh nào khác.
Lạ thật đấy? Ánh mắt hai người chạm vào nhau, rồi lại nhanh chóng tách ra. "Lùng sục!" La Chính Hùng nói một tiếng, người đã lao vút vào màn đêm.
Khu vực Hồng Hải Tử địa hình vô cùng phức tạp, không chỉ có di tích thành cổ, mà còn có giếng cạn hang sâu. Đáng sợ hơn là vào những năm cuối nhà Thanh, nơi đây từng xảy ra một trận huyết chiến giữa các tông tộc, mấy trăm người bị tàn sát sạch sạch chỉ sau một đêm, hài cốt được chôn vùi dưới chân tường thành bỏ hoang. Kể từ đó Hồng Hải Tử trở thành biển máu, quanh năm vương vất một cỗ oán khí. Màn đêm mịt mờ, đại mạc phơi bày mặt u ám hiểm ác của nó. La Chính Hùng và Trương Tiếu Thiên chia đường lùng sục, mỗi bước chân đều cảm thấy khí lạnh bốc lên từ đỉnh đầu. Tân Cương tuy đã được giải phóng, nhưng thế lực tàn dư phản động của Quốc Dân Đảng cùng bọn phản loạn vẫn luôn rình rập chờ cơ hội phản công bất cứ lúc nào. Sở dĩ chia làm hai đường hành tiến là để không cho kẻ địch nắm bắt được ý đồ thực sự của Trung đoàn Đặc 2, càng không để kẻ địch làm rõ Trung đoàn Đặc 2 có bao nhiêu người. Trứ danh mà Trung đoàn Đặc 2 gánh vác không chỉ là khảo sát hoang mạc Gobi, mà còn có một nhiệm vụ thầm kín hơn, La Chính Hùng không dám kể với các đồng chí, kể cả Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trương Tiếu Thiên, La Chính Hùng cũng giấu giếm. Hễ nghĩ đến tầng lớp này, La Chính Hùng lại không nhịn được muốn rùng mình, anh bắt buộc phải luôn duy trì sự cảnh giác, nhất định phải nghĩ cho sự an toàn của toàn trung đoàn. Đây cũng là lý do thực sự khiến anh nói ra những lời đó trước bữa ăn.
Cho đến khi trời hửng sáng, vẫn chẳng tìm thấy gì cả. Hai người hội quân ở một cái giếng cạn, Trương Tiếu Thiên định nói gì đó thì La Chính Hùng dùng ánh mắt ngăn anh ta lại. Đây là thói quen của La Chính Hùng, đối với những chuyện còn hoài nghi, anh chưa bao giờ nói ra, cũng không cho phép các đồng chí nói ra. Đôi khi sự hoài nghi đặt trong lòng còn ít nguy hại hơn là nói ra.
Cuộc chinh chiến còn chưa bắt đầu, tuyệt đối không được làm rối lòng người trước!
Trở về khu đóng quân, nữ binh Trương Song Dương vẫn đứng ở bên ngoài. Hai người bị cái bóng đen quấy rối nên ngược lại đã quên xừ mất chuyện này. Cũng thật hiếm cho nữ con nhà này, vậy mà lại vô cùng phục tùng đứng nghiêm trong gió nửa đêm, dáng người vẫn đứng thẳng tắp. La Chính Hùng liếc nhìn một cái, không nói gì, lúc này nói gì cũng không thích hợp, chi bằng để cho tiểu đoàn trưởng đi xử lý. Tuy nhiên, đối với con nhóc đến từ huyện nhỏ này, trong lòng anh đã có thêm một cái nhìn khác.
Ngày mới nhanh chóng bắt đầu, điều nằm ngoài dự liệu là La Chính Hùng hạ một mệnh lệnh: Toàn trung đoàn tập hợp, chia làm hai đường, chạy bộ trong sa mạc.
La Chính Hùng cố ý phân Đỗ Lệ Lệ về phía mình, còn phân Trương Song Dương cho Trương Tiếu Thiên. Quả nhiên, chưa chạy được nửa tiếng, Đỗ Lệ Lệ đã rớt lại phía sau. La Chính Hùng không thèm để ý đến vị tiểu thư vùng biên viễn này, tiếp tục dẫn đội ngũ chạy về phía trước. Đến giữa trưa, anh nhìn thấy hướng dẫn viên A Cáp Nhĩ Cổ Lệ đang dìu Đỗ Lệ Lệ mồ hôi đầm đìa, khập khiễng đi về phía đội ngũ. Ánh mắt La Chính Hùng dừng lại trên người A Cáp Nhĩ Cổ Lệ rất lâu, mới chậm rãi dời đi, sau đó ra lệnh một tiếng: "Toàn quân chú ý, mục tiêu phía trước, dải gai cát, xung phong nào."
A Cáp Nhĩ Cổ Lệ và Đỗ Lệ Lệ lại bị hất văng lại phía sau một đoạn xa.
Lúc này có một con đại bàng lao đến từ góc xiên, lượn lờ trên bầu trời đỉnh đầu La Chính Hùng và những người khác.
Trời xanh ngắt đặc biệt.
Ánh nắng gay gắt như lửa.
La Chính Hùng chạy ở vị trí đầu tiên của đội ngũ nhưng trong lòng lại đang nghĩ đến chuyện khác, Chính ủy Vu Hải và những người khác sao mãi vẫn chưa tới, chẳng lẽ...?
Bóng đen rốt cuộc là ai
La Chính Hùng lo lắng hoàn toàn không thừa, Vu Hải và những người khác quả nhiên đã xảy ra chuyện.
Đội lạc đà đi qua bãi Góa Phụ Hoàng lúc đi ngang qua Phong Hồ Lô thì đụng độ lốc xoáy, có người không may mất tích. Lúc đó đã gần chập tối, theo kế hoạch họ phải vượt qua bãi Góa Phụ Hoàng để đến thành cổ Loulan ở phía trước là Tử Đằng Hương Trại hạ trại. Quốc gia cổ đại Loulan tuy không còn nữa, nhưng di tích Tử Đằng Hương Trại lại được bảo tồn nguyên vẹn, nơi đó không chỉ tránh gió che mưa mà còn có thể khiến những người hạ trại gợi lên một niềm hoài niệm man mác về quốc gia cổ đại thuở xưa. Vu Hải từng đến đó, còn có suy nghĩ kỳ quặc rằng nếu có cơ hội nhất định phải làm một nhà khảo cổ học, giải mã bí ẩn về Loulan. Bây giờ xem ra chỉ có thể là giấc mơ mà thôi, tiếng lệnh của trung ương vừa vang lên, mười vạn đại quân liền biến thành chiến sĩ khai hoang, giữa bãi Gobi mênh mông này, đời này không biết còn có thể bước ra ngoài hay không?
Gió luôn đến rất đột ngột, đi trong sa mạc, gió chính là thứ phiền toái mà bạn không thể trốn tránh, bạn bắt buộc phải học cách đối phó, hơn nữa phải thật điềm tĩnh. May là Vu Hải sớm đã không còn sợ hãi. Khi đội lạc đà bước vào bãi Góa Phụ Hoàng, anh nhắc nhở mọi người rằng gió ở Phong Hồ Lô không giống những nơi khác, đến thì dữ dội, xoáy thì cũng nhanh, từ đất bằng nổi lên, vù vù một tiếng là có thể cuốn người ta xoáy bổng lên được. Anh yêu cầu mọi người đều cưỡi trên lưng lạc đà, dùng dây thừng cột chặt cơ thể với lạc đà, như vậy lạc đà còn người còn, gió có dữ dội thế nào thì lạc đà vẫn có cách ứng phó.
Nào ngờ, chỉ sau hai mươi phút ngắn ngủi quần thảo, đội lạc đà đã bị thổi cho tơi tả khắp nơi, con đầu đàn bị xoáy ra khỏi bãi Góa Phụ Hoàng, con chốt đuôi vẫn nằm ở đầu bên kia của bãi. Ba mươi con lạc đà giống như ba mươi hạt đậu phộng, bị cơn gió dữ rải khắp bãi Góa Phụ Hoàng rộng lớn. Địa hình bãi Góa Phụ Hoàng không hề phức tạp, đây là một vùng đất bằng phẳng hiếm có ở Taklamakan, có người còn đùa giỡn gọi nó là vùng bụng dưới của người phụ nữ hoang dã Takla, bằng phẳng và nhẵn nhụi, còn thoang thoảng phát ra một thứ hương thơm. Nhiều năm trước, nơi đây từng là một vùng đầm lầy.
Vu Hải quay người lại, bốn bề tìm kiếm đội lạc đà. May là hướng dẫn viên cách anh không xa, đây là một tay lão lạc đà có kinh nghiệm phong phú, trước giải phóng từng là khách đi lạc đà nổi tiếng ở Tân Cương, mọi người gọi là "Lạc đà ngũ gia", những con lạc đà này đều mua từ tay ông ta. Hai người dọc theo bãi đi về phía nam, đến lúc trời rạng sáng, họ lần lượt tìm thấy hai mươi bảy con lạc đà bị gió thổi tản mát.
Kiểm đếm tới kiểm đếm lui, duy chỉ không thấy bóng dáng của Vạn Nguyệt đâu.
Đúng là sợ cái gì thì cái đó đến, người mà Vu Hải lo lắng nhất chính là Vạn Nguyệt. Khi bước vào bãi Góa Phụ Hoàng, anh còn đặc biệt dặn dò Lưu Uy rằng phải đi theo Vạn Nguyệt, nhất định phải bảo đảm an toàn cho cô ta, ai mà ngờ...
"Lúc cuồng phong xoáy lên, tôi có nghe thấy tiếng thét của cô ấy, nhưng gió thực sự quá mạnh, tôi..." Phó đoàn trưởng Lưu Uy ấp úng. Trước khi Vu Hải và những người khác tìm tới, anh ta đã tìm khắp bốn vùng xung quanh rồi, Vạn Nguyệt mất tích, anh ta là người sốt ruột hơn bất kỳ ai.
"Năm người một tổ, chia làm sáu hướng tìm kiếm, nhất định phải tìm thấy cô ấy." Vu Hải không kịp hỏi nhiều, lập tức hạ lệnh. Đội lạc đà vừa mới tập hợp lại nhanh chóng tách ra, xếp thành sáu phương trận nhỏ, từ nam chí bắc chậm rãi di chuyển. Lúc này ở phương đông phun lên một vòm mặt trời khổng lồ, bãi Góa Phụ Hoàng bị gió quét qua bỗng chốc sáng bừng lên.
Vu Hải và những người khác đã chần chừ ở bãi Góa Phụ Hoàng suốt hai ngày, trong hai ngày đó đội lạc đà hầu như không nghỉ ngơi, họ đi lại ba chuyến trong bãi Góa Phụ Hoàng, hầu như tìm kiếm qua từng cái hố to hố nhỏ mà vẫn không thấy tăm tích của Vạn Nguyệt đâu. Lòng Vu Hải chùng xuống, anh không dám tưởng tượng kết quả sẽ ra sao, trong lòng thầm cầu nguyện liên tục, tuyệt đối đừng xảy ra chuyện gì, tuyệt đối đừng để cô ấy xảy ra chuyện gì cả. Đêm thứ ba, họ đến Tử Đằng Hương Trại, đây là chủ trương của hướng dẫn viên Lạc đà ngũ gia. Lạc đà ngũ gia kiên quyết không đồng ý để Vu Hải tiếp tục tìm kiếm nữa: "Nếu cô ta thực sự bị gió cuốn đi rồi thì có tìm đến mù mắt cũng vô ích thôi, một đôi thịt mắt thì làm sao nhìn thấu được sa mạc, sa mạc này mà nuốt chửng một người thì tính là cái thá gì?" Lạc đà ngũ gia thấy Vu Hải vẫn không muốn rời khỏi bãi Góa Phụ Hoàng liền nói thêm: "Biết tại sao bãi này gọi là bãi góa phụ không, năm xưa nó từng nuốt chửng hơn ba mươi con người đáng thương đấy, đó đều là những lễ vật thượng đẳng được vương gia tuyển chọn kỹ lưỡng đưa ra ngoài cương vực đấy. Tôi nói câu này cậu đừng thấy lạ, bãi này không dung nổi phụ nữ đâu, nếu cậu không muốn gây thêm phiền phức nữa thì mau mau rời đi thôi."
Vu Hải không tin những chuyện này, từ nhỏ đến lớn, anh chưa từng tin vào quỷ thần, nhưng thế này thì có ích gì chứ? Vạn Nguyệt sống không thấy người, chết không thấy thối, dẫu cho mọi người có mòn mỏi ngóng chờ, cũng không thể nhìn thấy cái bóng bị cuốn đi bởi gió nữa. Vu Hải không dám chần chừ thêm, trọng trách mang trên mình, anh sợ La Chính Hùng đợi đến sốt ruột, lại càng sợ vùng bãi hoang sa mạc này bất ngờ lại giáng xuống tai họa bất ngờ gì nữa. Tâm trạng của mọi người đều vô cùng nặng nề, chẳng ai còn tâm trí đâu để mà mơ mộng về Tử Đằng Hương Trại, sự im lặng bao trùm tất cả.
Tử Đằng Hương đáng thương, đã đón lấy một đội ngũ đầy đau thương.
Ngày hôm sau khi lên đường trở lại, Lạc ngũ gia bỗng nói: "Cứ yên tâm, lạc đà của tôi tôi biết, chỉ cần cô ấy không rời khỏi lạc đà, lạc đà sẽ đưa cô ấy trở về."
"Thật chứ?" Trong lòng Vu Hải bỗng dâng lên một tia hy vọng, ngạc nhiên chằm chằm nhìn Lạc ngũ gia.
Lạc ngũ gia tránh đi ánh mắt rực lửa của anh, hét lớn hai tiếng về phía sa mạc hoang vu, hát rằng: "Nơi nào mặt trời mọc là nơi đó có hy vọng, nơi nào tiếng chuông lạc đà vang lên là nơi đó có tiếng ca, cô nương A Lạp Y yêu quý của tôi, sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi mà đi đến phương xa."
Đây mới quen thuộc làm sao, mỗi một người chiến sĩ tiến vào Tân Cương, đều từng được bài hát này thấm đượm, say đắm, khích lệ. Lúc này được Lạc ngũ gia cất tiếng hát lên, lại càng mang một cảm giác khác lạ. Lạc ngũ gia là người Hán, quê ở vùng Nội Mông, ông hát bài hát này tuyệt đối không phải là để ca ngợi tình yêu, mà là đang dùng tiếng hát để mang lại niềm tin cho Vu Hải. Vu Hải xua đi những ý nghĩ bi quan đen tối ấy, xốc lại tinh thần, anh tìm được một chút an ủi từ sự điềm tĩnh của Lạc ngũ gia, đúng vậy, cô nương A Lạp Y yêu quý của tôi, sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi mà đi đến phương xa.
Thế nhưng đi mãi đi mãi, anh bỗng gào lên một tiếng, rống vào sa mạc rộng lớn nhìn không thấy điểm dừng: "Có bản lĩnh thì nuốt chửng hết chúng tôi đi, đồ không có lương tâm nhà ngươi, nuốt đi một cô nương thì tính là anh hùng nỗi gì?!"
Âm thanh này nghe hơi giống tiếng sói tru. Sa mạc chợt im bặt, tĩnh lặng đến cùng cực.
Chỉ còn lại tiếng chuông lạc đà vang lên không mệt mỏi.
Tâm trạng của ai nấy đều nặng trĩu, chẳng ai biết được, tiếp theo sẽ lại xảy ra chuyện gì.
Lại hai ngày sau, đoàn lạc đà cuối cùng cũng đến Hồng Hải Tử. Khoảnh khắc nhìn thấy doanh trại, trong lòng Vu Hải dâng lên một đợt sóng trào, đây là tâm trạng thường thấy của những người xuất chinh, mỗi khi hội quân cùng đồng đội, luôn có những cảm xúc đặc biệt nảy sinh. La Chính Hùng đã đợi sẵn trên dải cát từ lâu, nhìn thấy Vu Hải, anh phấn khích lao tới, hai người ôm chặt lấy nhau, dùng cơ thể để truyền tải những lời muốn nói trong lòng.
Hồng Hải Tử bùng lên một bầu không khí vui mừng.
"Tôi đánh mất Vạn Nguyệt rồi." Vu Hải nói, trong giọng nói mang theo sự tự trách sâu sắc. La Chính Hùng cười hì hì, bồi thêm một cú đấm vào người Vu Hải. Vu Hải cảm thấy có chút kì lạ, khó hiểu trừng mắt nhìn La Chính Hùng. La Chính Hùng chỉ về hướng đằng xa và nói: "Cậu nhìn kìa."
Nhìn một cái này, Vu Hải giật mình. Trên ngọn đồi cát phủ đầy gai quả quả, Vạn Nguyệt đang đứng quay lưng về phía họ, dáng người cô mềm mại, cao ráo, tựa như một bông hồng dại đang rung rinh trong gió, nở rộ giữa đám gai quả quả. Gai quả quả mùa hè thỏa sức bung nở một sườn đồi hoa vàng, nhuộm cho dải cát như muốn say. Gió thổi qua, cồn cát bắt đầu chao đảo.
"Cô ấy sao lại...?" Vu Hải kinh ngạc đến mức nói không nên lời.
"Cô ấy đến sớm hơn các cậu một ngày." La Chính Hùng vừa nói, vừa dắt lạc đà, dẫn Vu Hải đi về phía doanh trại. Trên mặt anh không có quá nhiều sự kinh ngạc, cứ như thể việc Vạn Nguyệt mất tích vốn chẳng phải là chuyện gì đáng ngạc nhiên cả, ngược lại là Vu Hải, trong đầu vẫn còn đang ngẩn ngơ, chuyện này quả thực quá mức bất ngờ, Vạn Nguyệt cô ấy ư? Anh vừa đi, vừa không kìm được mà ngoảnh đầu nhìn lại, cái bóng người đứng chênh vênh theo gió ấy dường như khơi gợi lên tâm sự gì trong lòng anh, nhưng quả thực anh lại chẳng phải là một kẻ có nhiều tâm sự. Trong sa mạc mùa hè, sự xuất hiện của Vạn Nguyệt lại một lần nữa thổi bùng lên bầu không khí hân hoan. Chỉ là trong lòng Vu Hải, lại vô cớ dấy lên thêm những điều khó tả.
Lúc dựng trại, đã xảy ra một chút sự cố nhỏ. Sau khi hai đội hội quân, La Chính Hùng đã phân chia lại các hầm trú ẩn, vì Vạn Nguyệt kiên quyết không chịu ngủ hầm trú ẩn, nên đành phải dựng cho cô một chiếc lều tạm bên cạnh ban nấu ăn, nào ngờ Đỗ Lệ Lệ cũng muốn chen chân vào đó, khiến La Chính Hùng mắng cho một trận tơi bời. Đỗ Lệ Lệ bĩu cái môi nhỏ, thầm mắng La Chính Hùng thiên vị, dựa vào đâu mà phải tạo đặc quyền cho nữ binh mới đến? Phía bên kia của ban nấu ăn là lều của đại súc hướng đạo Thiết Mộc Nhĩ và con gái A Cáp Nhĩ Cổ Lệ, những người hướng đạo vốn chưa từng ngủ hầm trú ẩn bao giờ, đi đến đâu họ cũng mang theo lều của riêng mình. La Chính Hùng vốn định dựng một chiếc lều nhỏ cho hướng đạo mới đến là Lạc ngũ gia ở bên cạnh hai cha con, nào ngờ Lạc ngũ gia vừa chạm mặt đại súc Thiết Mộc Nhĩ một cái là lập tức không thèm bước sang phía đó nữa. Hai con người cả đời bước đi trong sa mạc này dường như có hiềm khích gì với nhau. La Chính Hùng hỏi mấy câu, Lạc ngũ gia không nói, ông dắt theo con lạc đà của mình, đi ra cách doanh trại hai trăm bước chân, tháo chiếc ba lô lớn trên lưng lạc đà xuống, có phần cô độc dựng lều dưới chân cồn cát.
Lúc này, A Cáp Nhĩ Cổ Lệ vẫn luôn hoạt bát bỗng nhiên trở nên trầm mặc, dường như sự xuất hiện của Lạc ngũ gia đã làm phiền đến cô. Mặc dù La Chính Hùng chẳng nói gì cả, nhưng anh vẫn ghi nhớ thật kỹ ánh mắt đầy kinh ngạc ấy của Lạc ngũ gia trong khoảnh khắc đầu tiên nhìn thấy A Cáp Nhĩ Cổ Lệ.
Đại súc Thiết Mộc Nhĩ ngược lại tỏ ra rất phóng khoáng, cầm một chiếc bánh nướng từ trong lều ra, đi về phía cồn cát, nhưng chỉ chốc lát sau, bước chân ông lại quay trở lại, Lạc ngũ gia không thích ăn bánh nướng của ông.
La Chính Hùng lặng lẽ quan sát tất cả những chuyện này, trong lòng không kìm được mà dấy lên mấy dấu chấm hỏi.
Đội ngũ vừa hội quân, Đặc nhị đoàn coi như chính thức được thành lập, La Chính Hùng dùng trọn một ngày để làm công tác động viên trước chiến đấu cho toàn đoàn. Anh vẫn không thể bỏ được cái thói quen đã nuôi dưỡng từ nhiều năm nay, lúc nào cũng coi trọng công tác động viên trước chiến đấu. Dẫu đang là thời kỳ hòa bình, nhưng lần xuất chinh này lại đồng nghĩa với việc chiến đấu, đó là cuộc chiến giữa con người với tự nhiên, giữa con người với sa mạc. Việc có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến này hay không, thứ thử thách không chỉ là kỹ chiến thuật của toàn thể chiến sĩ đoàn, mà quan trọng hơn cả là sự kiên trì và niềm tin. Đúng vậy, là niềm tin. La Chính Hùng nói: "Thời kỳ chiến tranh, chúng ta vào sinh ra tử, lúc nào cũng sẵn sàng như một lưỡi dao nhọn đâm thẳng vào tim địch. Bây giờ là thời kỳ kiến thiết, chúng ta gánh vác sứ mệnh trên đôi vai sắt. Chúng ta sẽ là một bầy quái vật, một bầy sói hoang, băng qua biển cát, vượt qua Gobi, qua đầm lầy... Chúng ta không sợ hãi điều gì, mục đích chính là cắm lá cờ đỏ lên núi Thiên Sơn!"
Ngoài sức tưởng tượng, đội ngũ vốn có vẻ tản mạn mấy ngày nay bỗng chốc trở nên căng thẳng, nghiêm trang, kể cả Đỗ Lệ Lệ đã bị phê bình mấy lần nay cũng mang sắc mặt nghiêm nghị, trừng trừng đôi mắt mở lớn, nhìn chằm chằm về phía La Chính Hùng.
La Chính Hùng vừa dứt lời, Đỗ Lệ Lệ liền dẫn đầu vỗ tay, trong tiếng vỗ tay, La Chính Hùng liếc nhìn Vạn Nguyệt, đôi tay cô không hề vỗ vào nhau, mà theo thói quen đan mười ngón tay vào nhau đặt trên đầu gối. Ánh mắt đang xuyên qua Hồng Hải Tử, đăm đăm nhìn về phía xa.
Theo kế hoạch do bộ tư lệnh sư đoàn ban hành, nhiệm vụ đầu tiên của Đặc nhị đoàn chính là đo đạc bản đồ địa hình Hồng Hải Tử.
Đội ngũ được chia thành ba tổ, tổ thứ nhất do Vu Hải dẫn dắt, chịu trách nhiệm khảo sát và vẽ bản đồ địa hình Hồng Hải Tử. Tổ thứ hai do Phó đoàn khánh Lưu Uy và Trương Tiếu Thiên dẫn dắt, khảo sát dòng sông cổ từng chảy về phía Hồng Hải Tử. Đây là dòng sông cổ lớn nhất mà Binh đoàn phát hiện cho đến nay, tương truyền hơn hai trăm năm trước, dòng sông cổ tên là Hô Nhĩ Ma này còn có làn sóng biếc dập dờn, dòng nước róc rách, một đầu của nó thắt vào Thiên Sơn, một đầu đâm sâu vào sa mạc bao la. Việc làm rõ dòng sông cổ này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với bước khai khẩn đất nông nghiệp quy mô lớn tiếp theo của Binh đoàn, thế nên La Chính Hùng yêu cầu trong vòng một tháng nhất định phải đo ra được tất cả các nhánh của dòng sông cổ. Tổ thứ ba lại có chút kỳ lạ, gồm ba người, là La Chính Hùng và hai chiến sĩ trẻ tuổi do anh đưa tới. Còn để làm gì thì La Chính Hùng không nói với mọi người. Vu Hải và Lưu Uy cũng không hỏi nhiều.
Trong đội quân này, rất nhiều chuyện là không thể tùy tiện hỏi, khi Vu Hải và Lưu Uy nhận nhiệm vụ lần này, cấp trên đã nhiều lần nhấn mạnh, về mặt hành động phải tuyệt đối phục tùng chỉ huy, những gì dính líu đến một số cơ mật thì nếu có thể tránh né nhất định phải tránh né. "Tuyệt đối không được hoài nghi bất cứ ai, lại càng không được tạo ra ma sát lẫn nhau, hãy nhớ kỹ, nhiệm vụ duy nhất của các cậu chính là cung cấp tài liệu thủ bút đầu tiên cho đại binh đoàn."
Đội ngũ ào ào tiến vào Hồng Hải Tử, lực lượng hướng đạo cũng được chia thành hai nhóm để giúp các chiến sĩ mang thiết bị. Trong mắt La Chính Hùng, những thiết bị này còn quan trọng hơn cả sinh mạng, mặc dù cho đến tận bây giờ, anh vẫn chưa biết cách sử dụng món đồ nào.
Từ đằng xa, La Chính Hùng nhìn thấy người đầu tiên dựng máy kinh vĩ lên hóa ra lại là Vạn Nguyệt. Người phụ nữ này quả thực tháo vát, dường như vừa chạm tay vào thiết bị là cô liền biến thành một con người khác, cái cảm giác liễu rủ phất phơ mang lại cho La Chính Hùng suốt hai ngày qua bỗng chốc tan biến sạch sành sành, anh không khỏi thán phục, sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải chọn người quả nhiên có con mắt tinh đời. Ở đầu bên kia, Trương Tiếu Thiên và những người khác cũng đã đứng ở vạch xuất phát, người vác thước đạc chạy về phía trước hóa ra lại là Trương Song Dương béo. Đừng nhìn cô nàng nặng hơn một trăm ba mươi cân mà tưởng, lúc chạy lại vô cùng linh hoạt, đây là một đứa trẻ có thể chịu khổ, La Chính Hùng rất đánh giá cao cô ấy. Anh trai cô trước kia từng là trinh sát dưới quyền La Chính Hùng, lần bình định bạo loạn đó, không may lọt vào ổ phục kích, bị bọn bạo loạn sống sờ sờ chôn sống.
Hồng Hải Tử mùa hè bỗng chốc trở nên sống động hẳn lên vì sự hiện diện của đội ngũ thần bí này. Một cơn gió nhẹ lướt qua, trái tim La Chính Hùng từ từ thả lỏng lại. Đợi đến khi cả hai tổ đều bắt đầu vào guồng công việc, La Chính Hùng quay người nói với các chiến sĩ trinh sát: "Từ bây giờ trở đi, nhiệm vụ của các cậu là giám sát toàn thời gian mọi thứ xung quanh Hồng Hải Tử, dù chỉ là một con chim bay vào cũng phải ghi lại hình dáng cho tôi. Nhớ kỹ cho tôi, Hồng Hải Tử chỉ là quả đạn khói mà chúng ta thả ra cho đối thủ, trước khi chính thức bước vào vùng cốt lõi, chúng ta buộc phải đảm bảo đội ngũ này không bị kẻ địch thâm nhập, lại càng không để bị kẻ địch phát hiện, không làm được điều này thì công việc bước tiếp theo sẽ không thể triển khai, chúng ta tuyệt đối không thể để bi kịch của Đặc nhất đoàn lặp lại."
Hai chiến sĩ trinh sát sau khi cải trang liền nhanh chóng rời đi, còn bản thân La Chính Hùng thì ngẩn ngơ ngồi ngẩn ra trên dải cát.
Trong lòng anh có tâm sự. Tại cuộc họp cơ mật do bộ tư lệnh sư đoàn triệu tập, sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải đã truyền đạt chỉ thị của bộ tư lệnh binh đoàn. Sau khi Đặc nhất đoàn xảy ra chuyện, bộ tư lệnh binh đoàn đã tiến hành điều tra, sơ bộ hoài nghi nội bộ Đặc nhất đoàn đã xuất hiện nội gian. Phần tử độc lập Tân Cương cùng tàn dư Quốc dân đảng đã ngầm cấu kết với nhau, mưu đồ lật đổ chính quyền mới của chúng ta, để ngăn chặn những hạt giống đỏ của cách mạng rải khắp vùng lãnh thổ rộng lớn, chúng đã phái gián điệp thâm nhập vào nội bộ Đặc nhất đoàn, thừa cơ hành động trả thù. Ngày Đặc nhất đoàn xảy ra chuyện, vừa khéo là ngày hoàn tất công tác thăm dò tài liệu địa hình địa chất mỏ dầu. Do nộp công với bộ tư lệnh quá vội vàng nên Đặc nhất đoàn đã lơi lỏng cảnh giác, tạo cơ hội cho các phần tử thù địch ẩn giấu thừa cơ thủ đoạn. Theo tình hình mà bộ tư lệnh tra cứu được, hai thành viên cốt cán cùng một hướng đạo của Đặc nhất đoàn đã mất tích một cách bí ẩn, đồng thời, toàn bộ tài liệu của mỏ dầu số 1 cũng đã không cánh mà bay. Nếu những tài liệu này rơi vào tay kẻ địch thì hậu quả sẽ không thể tưởng tượng nổi! Chính vì thế bộ tư lệnh yêu cầu, ngoài việc hoàn thành nhiệm vụ khảo sát do bộ tư lệnh giao phó, Đặc nhất đoàn còn phải tìm mọi cách tìm cho ra ba kẻ mất tích ấy. Đó cũng chính là lý do vì sao bộ tư lệnh lại gấp gáp bắt Đặc nhất đoàn khẩn trương xuất phát tiến vào sa mạc đến vậy. Hiện tại bộ tư lệnh đã phong tỏa nghiêm ngặt tất cả các con đường rời khỏi sa mạc, nếu những kẻ mất tích vẫn còn sống thì chắc chắn chúng đang ẩn náu trong sa mạc. Giữa sa mạc mênh mông thế này, muốn thực sự tìm ra ba người này quả thực rất khó. Nhưng bộ tư lệnh tin tưởng La Chính Hùng có thể làm được.
Trong số các quan quân tiến vào Tân Cương, chỉ có mỗi La Chính Hùng là từng trải qua huấn luyện đặc biệt, để đối phó với gián điệp cùng kẻ đào ngũ, La Chính Hùng chính là lá bài chủ chốt của bộ tư lệnh!
"Cậu là thép, vào thời điểm then chốt nhất buộc phải sử dụng ở lưỡi dao. Nếu ví sa mạc như bầu trời, thì cậu chính là con chim ưng, giờ phút này con chim ưng ấy chuẩn bị bay lên bầu trời, ngoài việc chăm sóc tốt cho các đồng chí ra, cậu còn phải sẵn sàng lao vào bầy chó sói xảo quyệt bất cứ lúc nào." Sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải tràn ngập kỳ vọng vô hạn đối với anh, và anh cũng hiểu rằng, việc bất ngờ giữ La Chính Hùng lại có chút tàn nhẫn, nhưng sự cố bất ngờ của Đặc nhất đoàn đã làm xáo trộn toàn bộ kế hoạch của bộ tư lệnh. Vào lúc này, ngoài việc triệu tập khẩn cấp những tinh binh mãnh tướng này ra, còn có cách nào tốt hơn nữa chứ?
Phó đoàn trưởng Lưu Uy cùng nhị doanh trưởng Trương Tiếu Thiên, đều là những người được chính tư lệnh viên tự tay gạch tên khỏi danh sách chuyển ngành.
Có thể thấy, bộ tư lệnh đã hạ quyết tâm lớn đến nhường nào trong việc thành lập Đặc nhị đoàn.
Thế nhưng, bước vào sa mạc đã mười ngày, trong đầu La Chính Hùng lại chẳng có lấy một chút manh mối nào. Bây giờ anh nhìn ai cũng thấy nghi ngờ, một chút gió thổi cỏ lay nhỏ nhặt thôi cũng có thể khiến cho thần kinh của anh trở nên nhạy cảm. Việc Vạn Nguyệt mất tích rồi bất ngờ quay trở lại, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì trong khoảng thời gian đó, anh không hỏi kỹ, mà có hỏi thì cô cũng chẳng nói. La Chính Hùng rất rõ tính cách của Vạn Nguyệt, trong số các nữ binh hiện có của Đặc nhị đoàn, cô là người khó nắm bắt nhất, cũng là người thần bí nhất. Thêm nữa, tại sao hướng đạo Lạc ngũ gia lại không chịu ở chung với đại súc Thiết Mộc Nhĩ, tại sao ánh mắt ông nhìn A Cáp Nhĩ Cổ Lệ lại kỳ lạ đến thế?
Cái bóng đen đêm hôm đó rốt cuộc là ai?
Những vấn đề này phải nhanh chóng làm cho rõ ràng, nếu không, chính La Chính Hùng cũng sẽ tự đánh mất phương hướng của mình.
Nổi gió rồi! Vừa nãy sa mạc còn rực rỡ ánh dương, chớp mắt đã bị một trận cuồng phong càn quét, bầu trời mây đen kéo ùn ùn, gió đen cuốn theo cát sỏi lao bổ về phía La Chính Hùng. Anh chống lại cơn gió dữ, mò vào trong doanh trại, lấy một món đồ từ trong hầm trú ẩn rồi thuận chiều gió lao đi như một con báo.
Đó mới chính là La Chính Hùng, cho dù gió có dữ dội đến đâu cũng không thể làm mờ đi đôi mắt của anh.
Trong sa mạc tuyệt đối không cho phép gội đầu
Một tuần sau vào một buổi sáng, trong doanh trại đã xảy ra một chuyện nhỏ. Trời vừa hửng sáng, La Chính Hùng từ bên ngoài doanh trại đi về, đang định chui vào hầm trú ẩn thì chợt nghe thấy chính ủy Vu Hải đang nổi giận ở phía bên kia. La Chính Hùng khựng bước chân lại, vểnh tai lên nghe, có vẻ như Vu Hải đang mắng mỏ Vạn Nguyệt. Sớm tinh mơ thế này mà lại có chuyện gì nữa đây? La Chính Hùng rón rén bước tới, dưới ánh bình minh, một bứckhung cảnh lọt vào tầm mắt anh. Mặt đất được ánh sáng ban mai trải rác tỏa ra một tầng sáng vàng rực, dải cát bị gió đêm vuốt ve trông giống hệt như một cặp đùi tròn trịa đầy đặn, cứ thế trần trụi phơi bày dưới bầu trời. Chất cảm mà sa mạc phát ra đôi khi có sức lay động lòng người rất lớn, nó có thể khiến người ta bất chợt liên tưởng đến tận cùng của cái đẹp. Dưới dải cát, một tấm bạt che chắn lấy một thế giới nhỏ bé, đó là khu vực riêng tư của các nữ binh, nơi mà bình thường La Chính Hùng không dám đường đột bước tới. Lúc này, Vạn Nguyệt đang quay lưng về phía anh, đem tấm lưng đẹp đẽ cùng đôi chân thon dài cân đối của mình phơi bày trước mặt anh. Ánh nắng ban mai hắt lên tấm lưng cô mờ ảo, đôi chân lại càng mông lung hơn, cô dường như bị đóng băng tại đó, biến thành một bức tranh. La Chính Hùng trân mình nhìn một lúc, mới phát hiện ra hóa ra Vạn Nguyệt vẫn để tóc dài, đây cũng là điều mà quân đội kiên quyết không cho phép. Trước khi bước vào sa mạc, bộ tư lệnh sư đoàn đã nhiều lần nhấn mạnh, nữ binh đều phải cắt tóc ngắn ngang tai, sao Vạn Nguyệt lại có thể đặc cách chứ?
La Chính Hùng vừa định bước tới thì Vạn Nguyệt bỗng xoay người lại, ánh mắt của hai người cứ thế chạm nhau trong khoảnh khắc ấy, chẳng hiểu sao trái tim La Chính Hùng lại chấn động một cái, thực sự là chấn động. Đây là lần đầu tiên trong đời anh phát ra sự rung động trước một người khác giới, đứng trước Giang Uyển Âm anh cũng chưa từng sinh ra cảm giác này, rất kỳ lạ, rất vi diệu, nhưng lại... La Chính Hùng đỏ mặt một chút, cảm giác nhịp tim đang đập nhanh hơn. Vạn Nguyệt lặng lẽ nhìn chằm chằm vào anh, chừng hơn một phút đồng hồ, ánh mắt cô dán chặt trên khuôn mặt anh mà không hề dời đi. La Chính Hùng cảm thấy bị ánh mắt ấy thiêu đốt, có chút hoảng loạn, lại có đôi phần ngơ ngác, ngay lúc anh đang luống cuống tay chân thì Vạn Nguyệt hất nhẹ mái tóc, bưng chậu nước bước vào trong hầm trú ẩn.
Tiếng mắng của chính ủy Vu Hải càng lúc càng to hơn. Anh ta có lẽ đã bị cô nàng coi trời bằng vung này làm cho tức điên lên rồi, đến mức thốt ra một câu nghe rất khó nghe: "Cô là chiến sĩ, không phải cô gái phong trần, để tóc dài cho ai xem hả?!" La Chính Hùng định ngăn Vu Hải lại, thì bên phía kia lại truyền đến tiếng của Lạc ngũ gia nói rằng chiếc la bàn của ông đã biến mất.
"Cái gì?" La Chính Hùng đuổi qua đó, hướng đạo Lạc ngũ gia đang nổi giận lôi đình, nói rằng chiếc la bàn của ông rõ ràng đang nằm dưới gối, tranh thủ lúc sáng sớm cho lạc đà ăn cỏ một chốc mà la bàn đã không cánh mà bay. "Đứa nào mọc thêm một cái tay thế hả, đó là bảo bối của tôi cơ mà." Giọng của Lạc ngũ gia nghe hơi giống như đang khóc.
Đến khi hỏi rõ mới biết đó không phải la bàn thông thường, mà là một bảo bối trân quý còn hơn cả tính mạng của Lạc ngũ gia, chuyên dùng để nhận diện phương hướng trong sa mạc, nghe nói còn lợi hại hơn cả la bàn quân dụng. Đoàn lạc đà của ông chính nhờ cậy vào món bảo vật này nên mới chưa từng đi nhầm hướng bao giờ. Hồi trước từng có người Mông Cổ ra giá rất cao để mua lại nhưng Lạc ngũ gia nỡ bán đâu, nào ngờ...
“Đừng vội, ông nghĩ lại cho kỹ xem, có phải để dưới gối không?”
“Cái này còn cần phải nghĩ nữa chắc, bảo bối của tôi lúc nào cũng kè kè bên người, hôm qua cho lạc đà ăn, suýt chút nữa rơi vào đống cỏ, hôm nay tôi cẩn thận hơn một chút, lén nhét xuống dưới gối, ai ngờ tên trộm mắt tinh này lại nhìn thấy rõ thế chứ.”
Giữa cơn phẫn nộ và tuyệt vọng của Lạc ngũ gia, La Chính Hùng tin rằng la bàn đã bị mất thật rồi, nhưng chỉ trong chớp nhoáng ngắn ngủi thế, ai có thể lẻn vào lều của Lạc ngũ gia để lấy trộm la bàn chứ? Hơn nữa, cũng đâu phải ai cũng biết Lạc ngũ gia có một món bảo bối như thế. Ánh mắt anh theo bản năng liếc sang phía đại súc Thiết Mộc Nhĩ, đại súc Thiết Mộc Nhĩ đang huấn luyện đại bàng, đó là một con đại bàng tên là Thiết Chủy, nghe nói đã đi theo đại súc Thiết Mộc Nhĩ gần suốt cả cuộc đời, con đại bàng có hơi già rồi, nhưng nếu thực sự tung cánh bay lên thì trông vẫn vô cùng hung dữ. Đại súc Thiết Mộc Nhĩ ngày nào sáng sớm cũng phải huấn luyện nó một lúc, có lúc bắt nó đậu lên vai cùng mình chạy, có lúc lại giống như quân đội huấn luyện chó, bắt nó lao vút lên mây xanh hết lần này đến lần khác.
Con đại bàng ngày hôm nay lại tỏ ra lười biếng, có vẻ chẳng buồn động đậy gì. Mặc cho đại súc Thiết Mộc Nhĩ dùng mọi cách thế nào, nó vẫn cứ nhắm một nửa con mắt làm bộ ngủ thiếp đi. La Chính Hùng nghe thấy tiếng thở dài đầy chán nản của đại súc Thiết Mộc Nhĩ: "Đồ lười biếng nhà mày, sớm muộn gì cũng bị thỏ ăn thịt cho xem."
La Chính Hùng dập tắt tiếng cãi vã, bảo Trương Tiếu Thiên và những người nghe tiếng chạy tới quay về vị trí của mình, còn bản thân anh thì gạt mọi người ra, đi về phía sau dải cát. Chẳng bao lâu sau, chiến sĩ trinh sát Tiểu Lâm đuổi theo, hạ thấp giọng nói: "Lúc sáng sớm, tôi nhìn thấy A Cáp Nhĩ Cổ Lệ đi về hướng này."
"Cậu đang hoài nghi cô ấy ư?"
“Không phải hoài nghi, tôi tận mắt nhìn thấy cô ấy mà.”
La Chính Hùng không hỏi thêm gì nữa, thực ra trong đầu anh cũng đã thoáng hiện lên bóng hình A Cáp Nhĩ Cổ Lệ, nhưng điều đó là không thể, một cô gái Duy Ngô Nhĩ thuần khiết nhường ấy sao có thể làm ra chuyện thế này chứ? Trộm cắp đối với người Duy Ngô Nhĩ mà nói là một chuyện vô cùng nhục nhã, La Chính Hùng không dám dễ dàng để cho cô gái người Duy Ngô Nhĩ này phải chịu đựng sự sỉ nhục, nhưng ngoài cô ra thì còn có thể là ai được nữa?
Bữa sáng ăn nhạt nhẽo vô vị, Lạc ngũ gia bưng bát cơm, vừa lúi húi vừa không ngừng nguyền rủa. Có thể thấy, la bàn đối với ông quả thực là một món bảo bối, có mấy lần ông liếc mắt nhìn về phía đại súc Thiết Mộc Nhĩ, nhưng đại súc Thiết Mộc Nhĩ hoàn toàn chẳng bận tâm đến những lời mắng mỏ của ông, có vẻ như lời nói của ông cũng giống như cơn gió nổi lên bất chợt trong sa mạc vậy, chẳng đáng để bận tâm suy xét. Xinh đẹp như A Cáp Nhĩ Cổ Lệ ngược lại có chút ngoại lệ, sáng nay cô ăn rất ít, một đôi tròng mắt đen láy chốc chốc lại hướng về phía Lạc ngũ gia, Lạc ngũ gia mắng càng dữ dội bao nhiêu thì ánh mắt cô lại dao động bấy nhiêu, không phải là tức giận, trông có vẻ hơi giống như đang ngạc nhiên. Nhìn qua ánh mắt ngơ ngác của cô, cô trông giống một đứa trẻ chưa sự đời nhiều hơn, dường như không thể hiểu nổi vì sao giữa người với người lại có thể nảy sinh thù hận. La Chính Hùng lặng lẽ quan sát tất cả những điều này, cho đến tận sau bữa ăn khi ra ngoài làm việc, anh vẫn không nói một lời nào.
Ngày hôm nay La Chính Hùng đi theo sau tổ thứ nhất, chẳng rõ vì sao, bỗng nhiên anh lại muốn đến gần Vạn Nguyệt. La Chính Hùng là một kẻ ngoại đạo trong chuyện đo đạc, nhưng những việc chịu khổ thì anh làm được. Anh nhận thước đo từ tay binh lính ngoại vụ, vác lên vai rồi bước đi. Lạc ngũ gia thấy vậy, vội vã lên tiếng: "Sao lại để đoàn trưởng vác cơ chứ, mau đặt lên lạc đà đi, hôm nay đồ đạc thồ nhẹ mà." La Chính Hùng mỉm cười, anh dùng một nụ cười mơ hồ để từ chối ý tốt của Lạc ngũ gia, Lạc ngũ gia có chút chạnh lòng, từ lúc vào doanh trại đến nay, Lạc ngũ gia vẫn luôn tìm mọi cách để kéo gần khoảng cách với La Chính Hùng. Tiếc là cho đến tận bây giờ La Chính Hùng vẫn giữ khoảng cách với ông, trong mắt ông thì quan hệ giữa đoàn trưởng La Chính Hùng với hai cha con Thiết Mộc Nhĩ ngược lại còn hữu hảo hơn. "Sớm muộn gì cũng phải hối hận cho xem, đừng thấy cậu là đoàn trưởng." Ông lầm bầm lẩm bẩm trong miệng, quát con lạc đà một tiếng rồi mang theo tâm sự nặng nề bước về phía trước.
Sa mạc không phải lúc nào cũng chìm trong vẻ hống hách, đôi khi, sự tĩnh lặng và bao dung của nó lại khiến người ta có cảm giác nó giống như một ông lão trầm ngâm hơn. Mang theo chút dư vị triết lý. La Chính Hùng là người ít đọc sách nhưng vừa mới tiếp xúc với chủ nghĩa Mác cách đây không lâu, đây là môn học bắt buộc đối với cán bộ từ cấp đoàn trở lên, lúc này anh lại bất chợt liên tưởng sa mạc với triết học, lại còn cảm thấy mối liên tưởng này vô cùng hay ho. La Chính Hùng không phải là một người sâu sắc, thậm chí anh còn ghét sự sâu sắc, nhưng cuộc sống đôi khi thực sự không thể nào thả lỏng nổi, nó ép buộc bạn phải sâu sắc, thế nên tư duy của bạn buộc phải có sự khác biệt. Tỷ như lúc này, những người khác đều đang nghĩ về chiếc la bàn của Lạc ngũ gia, rốt cuộc nó đã đi đâu mất rồi? La Chính Hùng thì không, anh đang nghĩ về Vạn Nguyệt. Thực ra Vạn Nguyệt đang ở ngay trước mắt anh, cách nhau có vài bước chân, nếu La Chính Hùng muốn, chỉ cần bước thêm vài bước là có thể đi song song với cô, nhưng anh lại cứ cố tình bước chậm lại, cố ý tạo khoảng cách với Vạn Nguyệt để mọi hành động của cô thu trọn vào tầm mắt. Cô đeo máy kinh vĩ trên lưng, dù cho gió thổi hay cát bay, thiết bị vẫn luôn ở trên vai cô, đi xa đến đâu cũng không chịu giao nó cho người khác. Điều này có hơi giống tác phong của quân nhân, nhưng Vạn Nguyệt vốn không phải là quân nhân. Trong tài liệu do bộ tư lệnh cung cấp, trước đây Vạn Nguyệt làm việc ở viện địa chất, sớm hơn nữa thì cô từng là sinh viên của một trường đại học nào đó, giữa chừng vì phát biểu những ý kiến bất đồng với chính phủ Quốc dân đảng nên từng bị giam giữ, nghe nói suýt chút nữa bị bắt giữ như một phần tử cộng sản ngầm. Nhưng Vạn Nguyệt quả thực không phải là người cộng sản, người đi theo cũng không tính là phải. Cô là một người không có tín ngưỡng, hoặc là cô tôn sùng chính bản thân mình. Đây là nhận định của La Chính Hùng, một người phụ nữ nếu quá mức trân quý bản thân thì cũng đồng nghĩa với việc đó là tín ngưỡng của cô ta. Vạn Nguyệt thà nhịn khát hai ngày chứ nhất định phải dùng lượng nước tiết kiệm được để gội đầu, điều này không khỏi khiến La Chính Hùng phải suy nghĩ nhiều. La Chính Hùng từng dẫn dắt rất nhiều nữ binh, theo cảm giác của anh, phụ nữ một khi đã trở thành quân nhân thì dần dần sẽ chẳng khác gì nam giới cả. Chiến tranh vốn không phân biệt nam nữ, kẻ địch không thể vì cậu là phụ nữ mà tha cho viên đạn bay qua đầu cậu được. Thế nên nguyên tắc dẫn binh của anh là không phân biệt nam nữ, coi nữ binh như nam giới mà huấn luyện, đây chính là phong cách của La Chính Hùng. Những đóa hoa vốn dĩ từng vô cùng kiều diễm dưới tay anh, sau vài năm hoặc vài tháng, đều bị anh "tàn phá" cho trở nên kiên cường cứng rắn như băng tuyết. Vì điều này mà anh giành được một biệt danh trong binh đoàn: Sư tử sắt. Ý muốn nói anh lúc nào cũng trưng ra cái mặt sắt, cho dù có là giai nhân tuyệt sắc đi chăng nữa cũng khó lòng đổi lấy được nụ cười của anh. Lời này nghe hơi lạnh lùng, La Chính Hùng không thích nghe. Nhưng sự thật là anh còn lạnh lùng hơn thế, kể cả Giang Uyển Âm đã lâu không gặp, cũng đầy rẫy sự oán giận mà trách cứ anh: "Cứ căng cái mặt ra làm gì cơ chứ, người ta có thiếu nợ anh đâu."
Lạ thật, sao lại đột nhiên nhớ đến cô ta cơ chứ? Trong lòng La Chính Hùng cười thầm, nhưng khuôn mặt vẫn giữ nguyên vẻ cũ, căng cứng. Nói theo lẽ thường thì lúc này anh không nên nhớ đến Giang Uyển Âm mới phải, thực ra lúc nào cũng chẳng có cái sự cần thiết ấy cả. Cô ta có quan hệ gì với anh cơ chứ, không có, thực sự không có. Mặc dù ông cụ Giang Mặc Hàm cứ mở miệng ra là nói muốn gả con gái út cho anh, nhưng đó là tâm nguyện của Giang Mặc Hàm, chẳng liên quan gì đến La Chính Hùng này cả. Không phải là anh chê bai gì người ta, mà là anh vốn chẳng hề nghĩ ngợi gì đến chuyện này. Con nhóc ngốc nghếch, mới bao nhiêu tuổi chứ mà đã dám nghĩ đến chuyện gả chồng rồi. La Chính Hùng lại mỉm cười, ánh mắt vô tình dán chặt vào tấm lưng của Vạn Nguyệt. Dưới ánh nắng có chút ấm áp, tấm lưng ấy giống như một cánh cửa, đang từ từ hé mở, La Chính Hùng không kìm được mà muốn bước vào trong. Kỳ lạ thật, sao cứ nhìn thấy cái bóng lưng này là lại không kìm được mà suy nghĩ lung tung, cứ muốn ngắm nhìn nhiều hơn, chẳng lẽ...?
La Chính Hùng lắc đầu, xua đi những suy nghĩ chết tiệt này, rảo bước đuổi theo, tưởng chừng sắp đi song song với Vạn Nguyệt rồi thì bỗng lại giảm tốc độ. Lúc này anh nghe thấy có giọng nói vang lên từ phía sau: "Chỉ là một cái Hồng Hải Tử thôi chứ có cái quái gì mà phải đo đạc cơ chứ?" Người nói là Ngô Nhất Bằng, người từ bộ tư lệnh phái xuống, là một tú tài, có một bộ kỹ chiến thuật riêng, thích nghiên cứu chút học vấn, lại còn biết viết lách hội họa, người đời gọi là tiểu quân sư, là hồng nhân của sư đoàn trưởng Lưu Chấn Hải. La Chính Hùng lại chẳng thích cậu ta chút nào, mặt thì trắng bệch, nói năng cũng điệu bộ kiểu cách, nghe ngứa cả tai. Đương nhiên đó là cách nhìn trước đây, bây giờ thì khác rồi. Bộ tư lệnh phái cậu ta đến đây chính là muốn gắn thêm cho La Chính Hùng một cái bộ não nữa.
La Chính Hùng không quay đầu lại, anh sợ nhìn thấy cái gã mặt trắng ấy, cứ nhìn thấy là lại nổi đóa lên, nổi giận một cách vô cớ, không thể kiểm soát được. Nhưng rất nhanh sau đó, anh lại nghe thấy một giọng nói khác: "Cậu mới là người sai rồi đấy, cái Hồng Hải Tử này quỷ dị lắm." Người lên tiếng lần này là Lạc ngũ gia, rõ ràng ông tỏ ra bất mãn với lời nói của tên tú tài, muốn dùng khẩu khí của một kẻ từng trải giang hồ để cho tên tú tài được mở rộng tầm mắt. La Chính Hùng hắng giọng một tiếng, Lạc ngũ gia theo bản năng nuốt ngược lời nói vào trong, ông lão này quả thực là một con yêu tinh sống thành tinh, thấy tên tú tài đang kỳ lạ nhìn mình, ông bèn cất giọng khô khan nói: "Cậu nhìn thời tiết xem, hôm nay thuận lợi biết bao."
Vạn Nguyệt đột ngột quay đầu lại, cô đã đổ mồ hôi, chiếc thiết bị nặng mấy chục cân đeo trên đôi vai gầy guộc, không đổ mồ hôi mới là lạ. Lạc ngũ gia định lấy lòng nhưng lại bị Vạn Nguyệt trừng mắt liếc xéo một cái, đành vội vàng nuốt lại lời nói. Giữa muôn vàn tiếng nói cười, ánh mắt Vạn Nguyệt và La Chính Hùng chạm nhau rồi nhanh chóng tách rời. La Chính Hùng phát hiện ra, trong đôi mắt ấy có chứa thứ gì đó.
Đến điểm đo, binh lính ngoại vụ chuẩn bị cắm mốc, La Chính Hùng liền nói để tôi. Vạn Nguyệt liếc nhìn anh một cái, không lên tiếng, mở giá ba chân ra bắt đầu căn chỉnh thăng bằng. La Chính Hùng ôm lấy cây thước, bắt đầu tìm điểm theo phương pháp mà Vu Hải đã dạy. Binh lính ngoại vụ trẻ tuổi có chút lúng túng, cắm mốc là một công việc vô cùng vất vả, nếu không cẩn thận còn có thể bị người vận hành thiết bị mắng cho tơi bời, bởi vì cắm mốc lệch vị trí thì bản đồ vẽ ra sẽ không thể gọi là bản đồ được nữa. May là La Chính Hùng không quá ngốc nghếch, việc cắm mốc này anh vẫn có thể đối phó được.
Ngay khi công việc vừa bắt đầu, bầu không khí bỗng chốc trở nên trang nghiêm như thể toàn bộ sa mạc đang bước vào trạng thái chuẩn bị chiến đấu. Chính ủy Vu Hải tay cầm lá cờ đỏ nhỏ, chỉ huy toàn bộ nhân viên trong tổ, xuất thân là binh trinh sát đo đạc nên anh ta làm công việc này vô cùng thuần thục. Liên tiếp cắm liền ba điểm, La Chính Hùng phát hiện ra không phải người vận hành thiết bị nào cũng có thể nhanh chóng bắt nhịp được. Toàn tổ có mười hai chiếc máy kinh vĩ, lúc này số người cắm xong một điểm chưa được một nửa, thậm chí có một người vận hành thiết bị còn chưa chỉnh thăng bằng được cho máy, cái bong bóng nước nhỏ xinh xắn ấy cứ nhất quyết không chịu dịch chuyển vào giữa, khiến anh ta vã mồ hôi hột hai bàn tay. Sa mạc mềm xốp, chỉ cần nhúc nhích nhẹ một cái là điểm cân bằng của thiết bị sẽ biến mất. Muốn tìm lại được lại phải tốn rất nhiều công sức. Xem ra làm cái nghề này không chỉ dựa vào kỹ thuật mà còn phải dựa vào tâm lý, tâm có tịnh thì mới tìm được cảm giác, cảm giác trên đôi tay. La Chính Hùng phát hiện ra Vạn Nguyệt cứ như thể đang chìm đắm trong thế giới của riêng mình, vô cùng thong thả mà điềm tĩnh, hầu như chẳng nhìn thấy bất cứ thứ gì khác trong mắt.
Có lẽ bị cô ảnh hưởng nên cảm giác cắm mốc của La Chính Hùng càng lúc càng chuẩn xác, điểm này vừa đo xong thì điểm tiếp theo đã lọt vào tầm mắt, thế là tốc độ của bọn họ nhanh hơn rất nhiều, một tiếng sau, họ đã bỏ xa các tay máy khác ở phía sau. Mặt trời từ từ nóng lên, sa mạc bốc lên những đợt sóng hầm hập, dẫm chân lên cát cứ như đang dẫm lên vạc lửa, thế mà thời tiết lại kỳ lạ không có lấy một ngọn gió, muốn hít thở một chút không khí cũng là điều không thể. La Chính Hùng cởi cúc áo sơ mi, để lộ một nửa lồng ngực trần nhưng vẫn cảm thấy nóng. Anh vứt cây thước xuống, đi về phía Vạn Nguyệt. Vạn Nguyệt cũng đầy mồ hôi trên trán.
"Đưa đây, uống ngụm nước đi." La Chính Hùng đưa bình nước qua, đây là quy định của Đặc nhị đoàn, mỗi người mỗi ngày một bình nước. "Tôi có." Vạn Nguyệt tháo bình nước bên hông xuống nhưng không uống. Đôi môi cô khô nẻ, đã tróc da. La Chính Hùng có chút hoài nghi, nhân lúc Vạn Nguyệt lau mồ hôi liền vội vàng giật lấy bình nước, bình nước này là đồ rỗng.
Hóa ra sau khi bị Vu Hải phê bình, Vạn Nguyệt liên tục mấy ngày không đến ban nấu ăn để lĩnh nước.
"Thế này sao được, vào sa mạc mà không mang nước, cô muốn chết khát trong này à."
Vạn Nguyệt không lên tiếng, tránh đi ánh mắt của La Chính Hùng, nhìn chằm chằm về phía đằng xa. Đây là một người phụ nữ có tâm sự, mặc dù La Chính Hùng không biết cô đang nghĩ gì trong đầu, nhưng chắc chắn cô có một nỗi tâm sự rất sâu kín.
"Về chuyện chiếc la bàn, cô nghĩ thế nào?" La Chính Hùng đột ngột hỏi.
"La bàn nào cơ, tôi không biết." Vạn Nguyệt không quay đầu lại, dường như không quen nhìn thẳng vào mắt La Chính Hùng khi nói chuyện.
"Tôi biết cô cũng có một chiếc la bàn, là hàng do Đức sản xuất."
"..." Vạn Nguyệt hơi ngạc nhiên, đây là bí mật của cô, chiếc la bàn đó là một món quà rất trân quý, chẳng có mấy người biết.
"Đương nhiên, lần này cô không mang theo, có cơ hội tôi muốn được mở rộng tầm mắt."
Vạn Nguyệt quay người lại, lần này cô không muốn né tránh anh nữa. "Cậu đi theo suốt là vì chuyện này đấy à?"
"Không, tôi muốn nói chuyện với cô."
"Nói gì?"
"Nói gì cũng được."
"Những chuyện anh muốn nói tôi không hiểu, cũng không có hứng thú."
"Tôi muốn nói về cha cô."
"Anh—" Vạn Nguyệt tức giận trừng mắt lườm La Chính Hùng mấy cái, sà xuống ngồi phịch bệch xuống bãi cát, không chịu đứng dậy nữa.
Cha của Vạn Nguyệt tên là Vạn Hải Ba, là một chuyên gia cao cấp dưới quyền Quốc dân đảng, vũ khí, tàu thuyền, thậm chí cả chiến hạm, mấy lĩnh vực này ông đều tinh thông sâu sắc, từng đi du học, từng đến Đức, Mỹ, Anh, có quan hệ mật thiết với giới quân sự phương Tây, là một nhân tài cấp bảo vật quốc gia. Đáng tiếc là một năm trước khi toàn quốc giải phóng, ông đã qua đời. Về cái chết của vị chuyên gia vũ khí và công cụ tác chiến trên biển này, bên ngoài lưu truyền rất nhiều lời đồn đại, La Chính Hùng cũng từng nghe qua vài phiên bản, nhưng sự thật thế nào thì chẳng một ai hay biết.
“Tôi từng gặp ông ấy.” La Chính Hùng giống như cố tình muốn cạy mở miệng Vạn Nguyệt, từng quả bom một ném về phía Vạn Nguyệt.
Vạn Nguyệt cắn chặt đôi môi, đây là một người phụ nữ ngoan cố lại quật cường.
La Chính Hùng có chút nản lòng, rõ ràng Vạn Nguyệt không muốn đếm xỉa đến anh, phải làm sao đây? Đang lúc cụt hứng anh bỗng ngẩng phắt đầu lên, nhìn chằm chằm vào bầu trời xanh thẳm, bầu trời xanh quá, xanh đến mức chẳng giống bầu trời chút nào. Thoáng chốc, một tầng mây từ hàng mày anh trượt xuống, từ từ bao trùm lấy toàn bộ khuôn mặt anh. Vạn Nguyệt lại một lần nữa nghe thấy một âm thanh đáng sợ, âm thanh đó không giống như phát ra từ La Chính Hùng, mà trông giống như...
"Tôi cũng từng gặp mẹ cô, đó là sai lầm mà cả đời tôi không thể tha thứ."
Vạn Nguyệt không thể ngồi yên được nữa, bật tung người đứng dậy, dường như gầm lên một tiếng, lao thẳng vào sâu trong sa mạc giống như một con sói cái.
Sa mạc phát ra một trận gầm rú, vô cùng u ám nhưng lại chấn động lòng người.
Đó quả thực là một câu chuyện cũ không nỡ nhắc lại, trong suốt một khoảng thời gian dài đằng đẵng, nó tựa như một khối đá ngầm, đè nặng trĩu trong lòng La Chính Hùng. La Chính Hùng không dám chạm vào nó một cách dễ dàng, đó là lần thất bại duy nhất trong sự nghiệp quân ngũ của anh, nhưng cũng là lần chí mạng nhất. Anh không thể tha thứ, một sinh mạng đã vì anh mà mất đi, một thiên tài đã vì anh mà tàn lụi.
Mẹ của Vạn Nguyệt tên là Tạ Vũ Đình, một người phụ nữ có ngoại hình còn đẹp hơn cả cái tên của mình. Lúc cô quen biết Vạn Hải Ba thì Vạn Hải Ba đã hơn bốn mươi tuổi, và đã có tới ba đời vợ. Nhưng điều này không thể ngăn cản họ yêu nhau, giống như một bông hoa nhất định phải nở trong khu vườn, Tạ Vũ Đình chưa đầy hai tuổi đã dùng lòng dũng cảm và mưu lược kinh ngạc chen chân vào khu vườn quý tộc mang tên nhà họ Vạn này, hơn nữa còn nhanh chóng xuất nhập các giới với thân phận là bà tư. Tạ Vũ Đình lúc bấy giờ khi còn trẻ đã là một đào kép nổi danh trong giới nghệ thuật kịch Trùng Khánh, cô từng đóng vai những nhân vật khiến người ta nhìn một lần là nhớ mãi không quên trong không ít vở kịch, đặc biệt nổi tiếng với vai Bạch Nương Tử. Sau khi gả vào nhà họ Vạn, cô biến mất khỏi giới sân khấu như một cơn gió, từ đó kề cận bên chồng, trải qua một cuộc sống hoàn toàn khác.
Mùa xuân năm 1947, La Chính Hùng đột ngột nhận được mệnh lệnh, yêu cầu anh dẫn một doanh đặc công bí mật đột nhập vào Trùng Khánh, mục đích chính là tìm mọi cách tiếp cận vợ chồng Vạn Hải Ba, tranh thủ lôi kéo họ để họ có thể cống hiến cho công cuộc kiến thiết Tân Trung Quốc trong tương lai. Đó là một khoảng thời gian vô cùng tàn khốc, trước khi sụp đổ, Quốc dân đảng đã thi hành một loạt chính sách đẫm máu, khủng bố trắng bao trùm lấy thành phố núi, đi một bước là đối mặt với nguy hiểm ngã xuống bước đó. Doanh đặc công do La Chính Hùng dẫn dắt cũng giống như Đặc nhị đoàn hiện tại, đến từ muôn phương tám hướng, tuy mỗi người đều mang trong mình tuyệt kỹ nhưng lại chẳng hiểu mấy về nhau, tình hình lúc bấy giờ cũng không cho phép họ tiếp xúc quá nhiều với nhau. Công việc còn chưa kịp triển khai thì đã có người ngã xuống, tiếp đó lại có thêm lực lượng bổ sung vào. Từ xuân sang thu, trải qua trăm ngàn cay đắng trắc trở, thế mà vẫn không thể dính dáng gì đến Vạn Hải Ba. Phía Trùng Khánh đã bỏ ra khoản vốn lớn cho Vạn Hải Ba, quả thực có thể gọi là xây nên bức tường đồng vách sắt, muốn đột nhập vào bên trong thực sự quá khó khăn. Không còn cách nào khác, La Chính Hùng đành thay đổi chiến lược, quyết định ra tay từ Tạ Vũ Đình. Cứ như vậy, anh xin bộ tư lệnh một nữ đặc công từng được huấn luyện đặc biệt cùng anh, muốn thông qua cô ta để bước vào vòng tròn sinh hoạt của Tạ Vũ Đình. Trời không phụ lòng người, ba tháng sau, nữ đặc công ấy đã có liên lạc với Tạ Vũ Đình, cô ta quen biết Tạ Vũ Đình với tư cách là một người bạn hát sành sỏi, mặc dù Tạ Vũ Đình đã rời xa cái vòng tròn đó từ lâu, nhưng dẫu sao cô cũng từng là một đại danh đào, cộng thêm việc cô được công nhận là đại mỹ nhân đệ nhất trong số các phu nhân quan chức cấp cao của Quốc dân đảng ở Trùng Khánh, nên thỉnh thoảng vẫn phải ra vào những dịp đó. Lại hai tháng nữa trôi qua, La Chính Hùng nhận được cơ hội gặp riêng Vạn Hải Ba, thân phận lúc đó của anh là đại diện công nhân nhà máy đóng tàu, muốn nói chuyện với Vạn Hải Ba về việc nâng cao hiệu suất công tác. Kết quả là, hai người còn chưa kịp nói chuyện với nhau được năm phút thì anh đã bị bại lộ, hóa ra ở cái nơi mà họ hẹn gặp, người của Quân thống đã dán sẵn bức họa truy nã anh từ lâu, tiểu nhị bưng trà vừa nhìn thoáng qua đã nhận ra anh ngay.
La Chính Hùng may mắn trốn thoát được, nhưng hàng loạt tai họa phát sinh từ đó lại khiến anh vô cùng đau đớn hối hận.
Đầu tiên là việc Vạn Hải Ba nổi trận lôi đình với người vợ nhỏ Tạ Vũ Đình, bạn tuyệt đối không thể ngờ được rằng, một Vạn Hải Ba có thiên tài kinh ngạc và tài năng trác việt về mặt chuyên môn, khi xử lý các sự vụ khác lại vô cùng ngoan cố. Ông mắng tơi bời Tạ Vũ Đình kết giao không cẩn thận, loại người nào cũng dám giới thiệu cho ông. "Họ là cái thá gì, hả, là cái thá gì chứ? Trong mắt tôi Vạn Hải Ba này không có chính trị, tôi là một chuyên gia, không phải là công cụ của bất kỳ thế lực nào, lại càng không phải là bạn hát của cô." Đây là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm Vạn Hải Ba nổi giận với Tạ Vũ Đình, hơn nữa khí thế còn vô cùng dữ dội, hoàn toàn không cho phép Tạ Vũ Đình ngụy biện. Tạ Vũ Đình sợ chết khiếp, cô chưa từng phát hiện ra chồng mình lại có một mặt tức giận đến mức phát điên như thế, ông tagiản trực phát điên rồi, còn phát điên hơn cả việc hủy hoại đi một kết quả nghiên cứu của ông ta vậy.
Phía Quốc dân đảng nhanh chóng tìm đến Tạ Vũ Đình, bảo cô khai thật ra mối quan hệ rắc rối với La Chính Hùng. "La Chính Hùng là ai?" Tạ Vũ Đình ngạc nhiên hỏi, cô thực sự không biết trên đời này lại có một người đàn ông như thế. Đến khi đối phương nói rõ thân phận thực sự của La Chính Hùng, lại thêm việc tổng bộ Quốc dân đảng ở Trùng Khánh đang treo thưởng năm mươi vạn đại dương để lấy cái đầu của hắn ta, Tạ Vũ Đình lúc này không chỉ còn là ngạc nhiên nữa, mà vô cùng hoảng sợ thốt lên: "Tôi hoàn toàn không quen biết cái tên họ La này, tôi chỉ quen..."
Cô ta đã nói ra cái tên của nữ đặc công kia. Cô ta không nói cũng chẳng còn cách nào khác, sau khi Vạn Hải Ba mắng xong, tự tay gọi đám người này tới, chỉ thẳng vào mũi cô ta mà nói: "Đều do cô ta làm cả đấy, các người muốn biết cái gì thì bắt cô ta kể ra, tôi không có thời gian rảnh rỗi để bận tâm đến mấy chuyện vô vị này." Trong mắt Vạn Hải Ba, những chuyện này quả thực rất vô vị, vô vị tột cùng. Tạ Vũ Đình cũng cảm thấy vô vị, vô cùng vô vị. Thế nên cô ta không chút do dự đem tất cả những chuyện mình biết kể ra sạch trơn.
Nữ đặc công kia lập tức bị bắt giam, cô ta vốn tưởng rằng Vạn Hải Ba là một tri thức ái quốc, chắc hẳn phải thấu hiểu đại nghĩa, đứng trước đại nghĩa rạch ròi thì ông ta không nên hồ đồ mới phải. Cô ta đã sai rồi, cô ta quên mất rằng chính trị chỉ là chuyện của một nhóm người, đối với đại đa số mọi người mà nói, nó là một thứ vô cùng xa vời lại nguy hiểm, đặc biệt là cái kiểu mọt sách như Vạn Hải Ba, trong mắt ông ta làm gì có cái gọi là chính trị của các người? Ngoài chuyên môn ra, số sở thích còn lại ông ta đều dồn hết cho phụ nữ, thế nên việc đám người La Chính Hùng muốn dùng phương thức quen thuộc để đánh thức sự giác ngộ của ông ta chẳng khác nào là cầm cái đầu của mình ra mà đâm đầu vào chỗ chết.
Tình hình ở Trùng Khánh chuyển biến đột ngột, gió tanh mưa máu lại một lần nữa bao trùm, các con ngõ lớn nhỏ đều bố trí đầy ám tiễu, cứ mười phút lại có người bị bắt vào trong, doanh đặc công của La Chính Hùng đã vấp phải đả kích mang tính hủy diệt, nữ đặc công kia cuối cùng cũng không chống đỡ nổi những cực hình vô cùng trưởng thành của Quốc dân đảng, khai ra từng chút một những gì mình biết.
Lúc này La Chính Hùng mới hiểu ra, con người ta không phải cứ trải qua một số huấn luyện nào đó là xương cốt sẽ trở nên cứng cỏi được đâu. Cái thứ gọi là xương cốt ấy, muốn thực sự cứng cỏi trên người con người, quả thực không phải là chuyện dễ dàng gì.
Sự phản bội của nữ đặc công đã đẩy Trùng Khánh chìm sâu hơn vào bóng tối và sự đẫm máu, rất nhanh chóng, tổng bộ Quốc dân đảng ở Trùng Khánh đã tách Tạ Vũ Đình và Vạn Hải Ba ra, Vạn Hải Ba bị bí mật đưa rời khỏi Trùng Khánh, tung tích không rõ. Là kẻ thất bại trong nhiệm vụ lần này, La Chính Hùng bị ép phải rút lui khỏi Trùng Khánh. Một tháng sau, tin dữ truyền tới, Vạn Hải Ba tử vong bất ngờ.
Sau những bàng hoàng và bi thương, cấp trên lại một lần nữa đưa ra quyết định, yêu cầu La Chính Hùng lần thứ hai đột nhập vào Trùng Khánh, tìm mọi cách giải cứu Tạ Vũ Đình, bởi vì có tin tức đáng tin cậy cho biết, trước khi chết Vạn Hải Ba đã giao rất nhiều tài liệu nghiên cứu quan trọng cùng mấy thành quả cơ mật cho Tạ Vũ Đình, bất luận phía Quốc dân đảng có áp dụng biện pháp gì đi chăng nữa, Tạ Vũ Đình nhất quyết không chịu giao chúng ra, khiến cho phía Quốc dân đảng vô cùng tức giận. Tạ Vũ Đình đã mất đi người chồng đã hiểu rằng cái gọi là Quốc dân đảng cung cấp sự bảo vệ đặc biệt vốn dĩ chẳng thể dựa dẫm vào được, những tài liệu và thành quả này mới chính là thứ có thể bảo đảm sinh mạng cho cô ta. Cấp trên muốn nhân lúc Tạ Vũ Đình mất đi niềm tin vào Quốc dân đảng để lôi kéo cô ta về phe mình, tuyệt đối không thể để cho tâm huyết cả đời của Vạn Hải Ba rơi vào tay bọn phản động.
La Chính Hùng rút kinh nghiệm xương máu từ lần trước, chỉ dẫn theo hai người gồm một nam một nữ bí mật đột nhập vào Trùng Khánh, họ đã vạch ra một "Hành động săn sắc đẹp" vô cùng cơ mật, tiếp cận mục tiêu theo phương thức bất ngờ nhất. Kế hoạch ban đầu được thực hiện vô cùng thuận lợi, dưới sự hoàn toàn không hay biết của phía Quốc dân đảng, họ đã thành công đột nhập vào nơi giam giữ bí mật của Tạ Vũ Đình, đồng thời lôi kéo thành công hai nội ứng, đều là những người có thể trực tiếp nói chuyện với Tạ Vũ Đình. Nào ngờ ngay vào thời điểm họ quyết định tiến hành bước thứ hai của hành động, tai họa đã bất ngờ giáng xuống...
Chuyện cũ quả thực không nỡ nhìn lại! La Chính Hùng lắc đầu, xua đi đoạn ký ức đau đớn ấy, đồng thời thề rằng sẽ không bao giờ nhớ lại nó nữa. Lúc này mặt trời càng lúc càng oi bức, hơi nóng bốc lên từ sa mạc khiến người ta muốn phát cuồng. Các tay máy khác lần lượt đuổi theo, phóng tầm mắt nhìn ra xa, Hồng Hải Tử giống như một miếng bọt biển khổng lồ, muốn hút cạn tất cả sinh vật trên bề mặt nó. Mà những người lính đang vác thiết bị chạy dưới cái nắng gay gắt ấy lại giống như những linh hồn nhảy múa trên vạc lửa.
Ngày hôm nay La Chính Hùng không thể phối hợp với Vạn Nguyệt được nữa, ngay lúc anh đang rảo bước muốn tìm lại Vạn Nguyệt thì trinh sát viên Tiểu Lâm nhanh chân bước tới, hạ thấp giọng nói: "Đoàn trưởng, giếng Dã Trư phát hiện bất thường, có người từng hoạt động ở đó."
"Cái gì?!"
Giếng Dã Trư phát hiện bất thường
Giếng Dã Trư nằm ở vùng lõi Hồng Hải Tử, cách doanh trại khoảng mười cây số, nơi đây từng là một khu rừng rậm rạp, gai quả quả, liễu đỏ, củi lông vàng mọc lan tràn khắp nơi, giữa các bụi cây rải rác một lớp hành sa mạc dày bịch, người ta đứng cách đó năm dặm là đã ngửi thấy mùi thơm hoang dã của hành sa mạc rồi. Lũ lợn rừng năm đó chính nhờ có bảo vật này trong sa mạc nên mới ăn uống khỏe mạnh cường tráng, chiếm cứ khu rừng này làm thế giới riêng của mình, các loài động vật khác hoàn toàn không dám đến gần. Vật đổi sao dời, rừng rậm nay đã thành một đống củi khô, dưới sự phơi sương giãi nắng của gió trời, nó cùng năm tháng hóa thành hư vô, bóng dáng lợn rừng chẳng còn nữa, chỉ để lại mỗi cái tên gợi thương gợi nhớ này.
Khi La Chính Hùng theo Tiểu Lâm vội vã chạy đến giếng Dã Trư thì đã là ba giờ chiều, gió nhẹ thổi hiu hiu, mây trắng lững lờ trôi, sa mạc hiện lên một phong vị khác lạ. Tiểu Lâm mang sắc mặt ngưng trọng, suốt dọc đường anh ta nói rất ít, đây là một chiến sĩ trẻ tuổi rất dễ ghi nhớ tâm sự trong lòng, làm trinh sát được năm năm, lập ra không ít thành tích, điều khiến La Chính Hùng đánh giá cao nhất chính là việc năm xưa đã thành công chặn bắt tình báo do đặc vụ Quốc dân đảng lên kế hoạch bạo loạn ở Hòa Tiên tại Hòa Tiên, giành giật thời gian cho trung đoàn độc lập của La Chính Hùng. La Chính Hùng dẫn dắt trung đoàn độc lập, kiên quyết cưỡi ngựa xuất phát từ trị sở huyện A Vật A Phàm Đề ngang qua sông Hòa Tiên băng qua sa mạc lớn Taklamakan để thẳng tiến tới Hòa Tiên. Họ băng qua khu rừng hồ dương, vượt qua những hồ nước khô cạn, tiến vào biển cát mênh mông, trải qua muôn vàn gian khổ nguy hiểm, vượt qua những khó khăn trắc trở không thể tưởng tượng nổi, bước ra một con đường sinh mệnh trên dòng cát chảy cuồn cuộn. Khi bộ đội hành quân đến Sĩ Nhĩ Khố Lặc cách Hòa Tiên 200 km thì lại nhận được tình báo, các phần tử bạo loạn chuẩn bị hành động trước thời hạn, tàn sát đẫm máu Hòa Tiên. La Chính Hùng thay đổi chiến lược hành quân, ra lệnh cho toàn đội tập trung cưỡi ngựa, thành lập phân đội kỵ binh, phi nước đại tiến về Hòa Tiên. Cuối cùng đã đến Hòa Tiên trước một ngày, một mẻ hốt gọn âm mưu bạo loạn của kẻ địch. Hành động này sau đó được Vương Chấn, Tập Trọng Huân hết lời khen ngợi, ca tụng rằng họ đã sáng tạo nên kỳ tích của loài người.
Tiểu Lâm nhảy xuống lưng lạc đà, chỉ tay về phía hố cát cách đó không ngoa và nói: "Chính là ở đó." La Chính Hùng cảnh giác nhìn xung quanh một lượt, sa mạc tĩnh lặng, chẳng có chút khác thường nào. Rảo bước đi tới, quả nhiên phát hiện trong hố cát có không ít dấu chân, hơn nữa nhìn từ dấu vết để lại thì nơi này hai ngày trước vẫn có người!
Cái gọi là hố cát thực chất chỉ là một cái hầm trú ẩn bị bỏ hoang, cái hầm này cũng có tuổi đời mấy năm rồi, chắc là do những thợ săn tiến vào sa mạc thời kỳ đầu đào nên. La Chính Hùng khom lưng bước vào trong, liền nhìn thấy một đống tro tàn. Anh nhặt một cành củi chưa cháy hết lên, tỉ mỉ quan sát nửa ngày, phán định ngọn lửa này đã được đốt từ ba ngày trước. Xung quanh đống tro tàn, có dấu vết bị người ta cố ý dùng gai cây quét qua. Dùng tay khẽ gạt sang một bên, La Chính Hùng nhìn thấy một vũng máu. Trong hầm trú ẩn ngoài việc tìm thấy một dải băng gạc dính máu ra thì còn có một miếng bánh nướng to bằng lòng bàn tay, ngoài ra chẳng còn thứ gì khác.
"Cậu phát hiện ra thế nào vậy?" La Chính Hùng quay đầu hỏi Tiểu Lâm. Tiểu Lâm đang đứng ngay cửa hầm trú ẩn, cảnh giác nhìn tứ phía, nghe thấy La Chính Hùng hỏi bèn quay đầu lại đáp: "Tôi được một con lợn rừng dẫn đường tới đây."
"Lợn rừng?" Nơi này mà còn có lợn rừng xuất hiện sao, La Chính Hùng không mấy tin lắm.
"Là một con lợn rất to, chân hình như bị thương."
"Lợn đâu?" La Chính Hùng có chút căng thẳng.
"Chạy về hướng sa mạc phía bắc rồi, tôi đuổi theo không kịp."
Đây quả thực là một tình hình mới, nó nhắc nhở La Chính Hùng rằng nhất định phải hết sức cẩn trọng, sức tấn công của lợn rừng rất mạnh, nếu con người bị nó tập kích thì hầu như không có sức phản kháng. La Chính Hùng bước ra khỏi hầm trú ẩn, tỉ mỉ quan sát xung quanh nửa ngày, không phát hiện thêm điểm nghi vấn nào mới liền nói với Tiểu Lâm: "Chúng ta về trước đã, tất cả những gì nhìn thấy ở đây, quay về không được nói với bất kỳ ai."
Lúc quay về đến doanh trại thì trời đã tối hẳn, La Chính Hùng bỗng thay đổi ý định, chui vào hầm trú ẩn, nhanh chóng viết một bức thư rồi giao cho Tiểu Lâm: "Cậu xuất phát xuyên đêm rời khỏi sa mạc, giao bức thư này cho sư đoàn trưởng."
"Rõ!" Tiểu Lâm giơ tay chào một cái, bóng dáng hòa vào màn đêm.
Ban đêm, khô khan, oi bức, mọi người ở trong hầm đất không thở nổi, chỉ có thể từng tốp ba tốp năm ngồi trên sống cát, khao khát ông trời đột nhiên thổi tới một cơn gió mát. La Chính Hùng ngồi trong đêm tối, tâm sự nặng nề. Cơm tối anh không ăn, ăn không nổi, cái ý nghĩ kỳ quái ban ngày cứ chui bật ra hết lần này đến lần khác, dằn vặt trong lòng anh nóng như lửa đốt. Nếu sự việc đúng như anh dự đoán, hành động của Đoàn Đặc 2 đành phải hủy bỏ, đội ngũ vừa mới thành lập này buộc phải giải tán. Đây là chuyện đáng sợ biết bao, nếu truyền ra ngoài, toàn bộ Binh đoàn đều sẽ bị bôi nhọ, La Chính Hùng không nhịn được thay mình và Bộ tư lệnh Sư đoàn vã mồ hôi hột.
Chính ủy Vu Hải bước tới, đứng nhẹ bên cạnh anh, hồi lâu, La Chính Hùng động đậy, hỏi: "Có việc gì thế?"
Vu Hải thở dài một tiếng: "Nước không còn nhiều nữa, tôi đang cân nhắc để ai quay về lấy nước."
Vấn đề này La Chính Hùng cũng từng nghĩ qua, sau khi ban nuôi quân báo với anh nước sắp dùng hết, anh đã cân nhắc nhân sự rồi. Tuy đây là một việc đơn giản, dường như phái ai đi cũng không thành vấn đề, nhưng sự việc thường là như vậy, càng đơn giản thì lúc quyết định lại càng tốn tâm sức rườm rà. Dù sao thì nước chính là mạng sống của cả một đoàn người, nếu nước xảy ra vấn đề, hậu quả sẽ vô cùng khủng khiếp.
"Có nhân sự chín muồi chưa?" La Chính Hùng hỏi Vu Hải.
"Tôi muốn để Lạc ngũ gia và các chiến sĩ tiểu đội ba đi, đương nhiên, đây là ý kiến cá nhân của tôi."
La Chính Hùng không nói đồng ý cũng không nói không đồng ý, thực ra anh cũng muốn để Lạc ngũ gia đi. Dù sao thì ông ta rất quen thuộc sa mạc, hơn nữa, La Chính Hùng muốn kéo dài thời gian để Lạc ngũ gia rời đi một đoạn. Dạo này Lạc ngũ gia cằn nhằn rất nhiều, đã gây sự bực bội với mấy người liền rồi.
"Thế này đi, anh bàn bạc lại với phó đoàn trưởng xem sao, việc này phải quyết định thật nhanh, không thể trì hoãn nữa."
Công tác hậu phương do Phó đoàn trưởng Lưu Uy phụ trách, La Chính Hùng không muốn việc gì mình cũng tự quyết định lấy. Vu Hải nhận lệnh rồi đi, La Chính Hùng lại ngẩn người trong đêm tối một lúc lâu. Định xoay người, bỗng thấy hai bóng đen đi về phía sống cát. La Chính Hùng quát lên một tiếng: "Ai?" Tiếng quát làm lính gác giật mình, lính gác xách súng chạy về phía bóng đen, một lúc sau, trên bãi cát vang lên tiếng bước chân lạo xạo, mượn ánh sáng phát ra từ đống lửa trại, La Chính Hùng nhìn rõ, người bị lính gác gọi về chính là "tú tài" Ngô Nhất Bằng và hướng dẫn viên A Cáp Nhĩ Cổ Lệ.
Hai người này sao lại dính lấy nhau thế nhỉ? Tâm trí La Chính Hùng vừa lóe lên mối nghi ngờ này, liền nghe tú tài nói: "Ban đêm đi dạo một chút, cũng không cho phép sao, kỷ luật này nghiêm ngặt quá nhỉ?" A Cáp Nhĩ Cổ Lệ thì không nói gì, một đôi mắt đen láy chằm chằm nhìn La Chính Hùng, không nhìn ra cô ta có gì bất an.
"Đi dạo thì được, nhưng không được đi quá xa." La Chính Hùng nói.
"Chúng tôi cũng đâu đi quá xa, đoàn trưởng, tôi đang học tiếng Duy Nhĩ với cô A Cáp Nhĩ mà, học tiếng Duy Nhĩ cũng là nhiệm vụ sư trưởng giao cho tôi đấy."
La Chính Hùng "ồ" lên một tiếng. Đối với người đàn ông mặt trắng đến từ Bộ tư lệnh Sư đoàn này, có rất nhiều phương diện La Chính Hùng đều dành sự chăm sóc đặc biệt, ví dụ như ban đầu cậu ta được phân vào tổ thước đo, chạy hai ngày liền kêu mệt, không kiên trì nổi, La Chính Hùng bèn điều cậu ta sang tổ đời sống, chuyên phụ trách lấy nước hoặc tài liệu cho các đồng chí, vì chuyện này mà tú tài còn bị cô nha đầu béo Trương Song Dương chế giễu, bảo rằng đàn ông ai lại đi làm hậu dịch bao giờ. Qua mấy ngày cậu ta lại không muốn làm ở tổ đời sống nữa, nói làm đời sống chán ngắt, cậu ta muốn làm tuyên truyền, làm phong phú thêm đời sống văn hóa của đội ngũ này. La Chính Hùng thầm nghĩ thế này cũng không tệ, vừa có thể phát huy sở trường của tú tài, vừa có thể làm cho bầu không khí trong đoàn thêm sôi động, liền bảo cậu ta thành lập tổ tuyên truyền, tận dụng thời gian rảnh rỗi biên soạn vài tiết mục để biểu diễn cho mọi người xem.
Tú tài đến bây giờ vẫn chưa biên soạn nổi một tiết mục nào, lúc này lại nói muốn học tiếng Duy Nhĩ, La Chính Hùng không kìm được mà thở dài một hơi, anh không hiểu sao Bộ tư lệnh Sư đoàn lại phải phái một người đàn ông như thế này đến Đoàn Đặc 2.
Tú tài vẫn đang lầm bầm, La Chính Hùng thiếu kiên nhẫn phẩy tay một cái, ra hiệu cho lính gác đưa bọn họ về. Anh hối hận vì đã không thêm một câu vào bức thư viết cho sư trưởng, đó là gọi cái tên tú tài này về đi.
Sáng sớm hôm sau, hướng dẫn viên Lạc ngũ gia cùng hai chiến sĩ tiểu đội ba dắt theo lạc đà, quay về lấy nước. Lắng nghe tiếng lục lạc lạc đà đinh đang xa dần, La Chính Hùng thầm cầu nguyện trong lòng, mong sao nước có thể được vận chuyển về đúng hạn.
Đến trưa, một trinh sát khác tên là Kỳ Thuận cưỡi ngựa phi nhanh tới báo cáo, nói rằng ở cách doanh trại hơn ba mươi cây số, phát hiện ra một đội lạc đà bí ẩn, có cần tra xét không?
Đội lạc đà ư? La Chính Hùng thoạt đầu giật mình, tiếp theo anh liền nghĩ đến, Hồng Hải Tử là một trạm dịch nổi tiếng trên con đường tạc sa mạc cổ xưa, rất nhiều thương hồ cưỡi lạc đà đều phải dừng chân ở đây, hiện nay tuy nói thương hồ đã ít đi, nhưng thỉnh thoảng có một hai đội lạc đà đi qua, cũng là chuyện bình thường. Nghĩ vậy, anh tung người lên ngựa, dặn Kỳ Thuận: "Dẫn đường phía trước, đi xem thế nào."
Hai con ngựa phi nhanh vượt qua hoang mạc, chẳng mấy chốc đã bắt kịp đội lạc đà. Đây là một đội lạc đà đi từ bắc xuống nam băng qua sa mạc, lớn nhỏ hai mươi hai con lạc đà, một nửa số lạc đà chở theo đồ đạc. Nhìn thoáng qua, cứ như một đám người sống sót vứt giáp vứt vũ khí đang cắm cổ chạy trốn vào vùng nội địa biên cương. La Chính Hùng quát dừng vật cưỡi, tung người xuống ngựa, cúi chào đơn giản với cụ ông ngồi trên con lạc đà đầu đàn, sau đó dùng tiếng Duy Nhĩ đơn giản hỏi bọn họ từ đâu tới, đi về đâu? Không ngờ cụ ông không hiểu tiếng Duy Nhĩ, Kỳ Thuận liền lập tức dùng tiếng Kazakh giao tiếp với họ, mới biết đây là một đội lạc đà di cư về phía nam, người ngồi trên con lạc đà đầu đàn là tộc trưởng A Tắc Bái Y, ông ta dẫn theo gia đình già trẻ mười hai miệng ăn đi về hướng Quế Đồn. "Cỏ ở Bắc Cương hạn hán tàn lụi hết rồi, con người không sống nổi nữa," tộc trưởng nói bằng tiếng Kazakh.
La Chính Hùng chăm chú quan sát đội lạc đà một lúc, trên lưng lạc đà có phụ nữ, có trẻ con, còn có hai người đàn ông lớn tuổi trông giống như gia đinh, ở giữa một con lạc đà có một người phụ nữ bụng to, cái bụng của cô ta thực sự rất lớn, có lẽ sắp sinh đến nơi, một chiếc áo choàng bằng nỉ quấn lấy phần lớn cơ thể cô ta, thấy La Chính Hùng nhìn mình, cô ta thẹn thùng cúi gằm mặt xuống. Những con lạc đà còn lại, toàn chở chăn nỉ, cùng với xoong nồi và các vật dụng sinh hoạt hàng ngày khác. Xem ra, đây quả thực là một đội lạc đà di cư. Vướng phải chính sách dân tộc, La Chính Hùng không dám có hành động gì, chỉ đành dùng cử chỉ khách sáo và nụ cười lất phất làm lơ một lát, nhân cơ hội phán đoán thật kỹ từng người trên lưng lạc đà, những người này đều cách rất xa mục tiêu mà anh nghi ngờ. La Chính Hùng liếc nhìn Kỳ Thuận, dùng ánh mắt trao đổi suy nghĩ với anh ấy, Kỳ Thuận cũng mang vẻ mặt đầy cảnh giác, nhưng rõ ràng, đội lạc đà này không khiến người ta nghi ngờ ra được điều gì. Hai người lại nhìn từ đầu đến cuối một lần nữa, xác định không có gì bất thường, mới phẩy tay, nói lời tạm biệt với đội lạc đà.
Dường như là một phen kinh hãi hụt, dường như lại không phải, nói chung, trong lòng hai người cứ thấy kỳ lạ thế nào ấy, cảm giác như đã nắm bắt được thứ gì, vươn hai tay ra, nhưng lại trống trơn. Mang theo một tầng nuối tiếc chưa thỏa mãn, hai người cưỡi ngựa đi trên vùng cát hoang, không nói gì, cũng không hỏi han lẫn nhau, đều đang nghĩ, liệu đội lạc đà này, có che giấu điều gì không?
Đi chưa được nửa canh giờ, hai con ngựa gần như đồng thời dừng bước, hai đôi mắt nhìn đối diện vào nhau, dường như trong khoảnh khắc, hai người nhớ ra điều gì đó, không hẹn mà cùng quay đầu ngựa, đuổi theo đội lạc đà. Đội lạc đà sau khi giáp mặt với bọn họ, tốc độ bỗng chốc trở nên nhanh hơn, tựa như đây là một đội lạc đà được huấn luyện bài bản, nhanh chậm tự như, tung hoành trong sa mạc vô cùng thuần thục. Đợi La Chính Hùng bọn họ đuổi tới nơi, ánh chiều tà đã nhuộm đỏ cả sa mạc. Nghe thấy tiếng móng ngựa, tộc trưởng A Tắc Bái Y nhảy phốc khỏi lạc đà, khom người cung kính đón chào. Động tác này khiến La Chính Hùng đang sục sôi tâm can bỗng chốc do dự. Sau khi vào Tân Cương, điều mà bộ đội nhấn mạnh nhiều nhất, chính là chính sách dân tộc. Miền biên ải rộng lớn, phân bố vô số dân tộc, tín ngưỡng khác nhau của mỗi dân tộc, cùng với môi trường chính trị phức tạp, đã quyết định sự phức tạp của tình hình cách mạng Tân Cương. Những cuộc xung đột đẫm máu xảy ra liên tiếp trong những năm qua, càng chứng minh rằng, chỉ cần không chú ý một chút thôi, sẽ châm ngòi cho những cuộc xung đột lớn. La Chính Hùng kìm nén cảm xúc trên lưng ngựa một lát, nhảy xuống ngựa, khom người đáp lễ A Tắc Bái Y. Nụ cười của tộc trưởng A Tắc Bái Y tựa như ánh mặt trời nở rộ trên thảo luận, lễ tiết của ông ta đối với bộ đội thực sự rất chu đáo, miệng thì gọi "đồng chí Giải phóng quân", trái gọi "đồng chí Giải phóng quân", gọi đến mức Kỳ Thuận hoàn toàn không thể ra oai nổi. Nhân lúc Kỳ Thuận trò chuyện với A Tắc Bái Y, La Chính Hùng lại một lần nữa dò xét đội lạc đà từ đầu đến cuối. Vẫn là hai mươi hai con lạc đà, vẫn là mười hai miệng ăn già trẻ, một người không hơn, một người không kém, ngay cả biểu cảm trên khuôn mặt, cũng y hệt như lúc gặp lúc trước, hòa ái, giống như một cơn gió dịu nhẹ, thổi cho những mối nghi ngờ trong lòng La Chính Hùng dần tản đi. Anh quả thực không nhìn ra có điểm nào khác biệt so với lúc nãy, dù chỉ là một sự thay đổi nhỏ nhặt nhất cũng không tìm ra được. Thật là quái lạ, La Chính Hùng rõ ràng cảm thấy đội lạc đà này đã thay đổi, thay đổi ở một bộ phận then chốt nào đó, hình như thiếu mất thứ gì, nhưng thực sự không tìm ra.
Cảm giác của trinh sát viên Kỳ Thuận cũng y như vậy, anh ta nhìn từ đầu đến cuối hai lần, ngay cả móng lạc đà cũng không bỏ sót, rõ ràng biết đội lạc đà này đã lộ sơ hở, nhưng lại cứ tìm không ra sơ hở nằm ở đâu. Hai người không hẹn mà cùng dán chặt ánh mắt vào người phụ nữ bụng to đó, người phụ nữ nọ cười mỉm, trong mắt là vẻ trấn định và thong dong hiếm thấy, thấy La Chính Hùng bọn họ nhìn chằm chằm mình không buông, cô ta liền chậm rãi đẩy tấm thảm lông xuống một chút, để lộ chiếc bụng cao vượt lên được quấn trong váy áo. La Chính Hùng và Kỳ Thuận đành phải thu hồi ánh mắt, không có lý do gì để cứ nhìn chằm chằm vào một người phụ nữ nhà người ta mãi được.
Sau đó, hai người trao đổi ánh mắt cho nhau, có chút chán nản, có chút không cam lòng, nhưng quả thực lại không có cách nào tốt hơn, cho dù lúc này có phá vỡ nguyên tắc mà lục soát, thì tuyệt đối cũng chẳng lục soát ra được thứ gì.
Nụ cười của tộc trưởng vẫn vô cùng rạng rỡ, ánh chiều tà nhuộm lên khuôn mặt ông ta, khuôn mặt ấy lại càng thêm có độ bóng, trong khi những người khác rõ ràng đã thiếu kiên nhẫn, La Chính Hùng không dám giằng co tiếp nữa, đành chắp tay nói quấy rầy rồi, thượng lộ bình an nhé.
Tộc trưởng thở phào một hơi dài, nhảy lên lưng lạc đà, lắc lư đi khuất xa.
Đại mạc không tiếng động. Ngay cả tiếng lục lạc lạc đà, cũng bất chợt không còn nghe thấy nữa.
Cứng đờ một lúc lâu, La Chính Hùng mới nói: "Cậu phải đi theo bọn họ."
Kỳ Thuận gật đầu thật mạnh, trong lòng anh ta cũng nghĩ thế. La Chính Hùng nhanh chóng dặn dò Kỳ Thuận một phen, bảo cậu ta nhất định phải bám sát đội lạc đà này, tra rõ sau khi ra khỏi sa mạc họ đi về hướng nào, hơn nữa, La Chính Hùng còn yêu cầu Kỳ Thuận, nếu phát hiện tình huống bất ngờ, có thể đến cácbộ đội khác của Binh đoàn ở gần đó để xin chi viện. Nói xong, anh cởi chiếc nước mang trên người xuống, đong đầy kỳ vọng nhìn Kỳ Thuận: "Đường đi trắc trở hiểm trở, cậu nhất định phải bảo vệ tốt cho mình."
Kỳ Thuận không nói gì, anh ta dùng ánh mắt trả lời La Chính Hùng, đây là một đồng chí đáng tin cậy, tin rằng anh ta sẽ có cách vượt qua những ngày tháng trong sa mạc.
Dắt theo hai con ngựa, quay về doanh trại, La Chính Hùng không nói một lời, mối nghi ngờ do đội lạc đà bí ẩn kia mang lại vẫn luôn kẹt cứng trong đầu anh, mãi không xua đi được. Chính ủy Vu Hải bước vào, báo cáo với anh công việc trong ngày, La Chính Hùng bỗng hỏi: "Người Kazakh có mang theo người vợ sắp sinh chạy loạn khắp nơi không, bao gồm cả việc di cư?" Vu Hải lắc đầu, tỏ ý không biết, cuối cùng, với vẻ cảnh giác, anh ta hỏi: "Sao tự nhiên cậu lại hỏi chuyện này?"
Này không có gì, tôi chỉ tò mò, muốn tìm hiểu nhiều hơn về phong tục dân tộc thôi."
Hai người tiếp tục bàn chuyện công việc, Vu Hải báo cáo rằng hôm nay anh ta đã phê bình tú tài Ngô Nhất Bằng.
"Vì chuyện gì thế?"
"Tôi nghi ngờ mục đích của cậu ta đối với A Cáp Nhĩ Cổ Lệ không thuần chất."
"Ồ?" La Chính Hùng ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt đầy vẻ kinh ngạc đặt lên khuôn mặt Vu Hải.
Lúc này Vu Hải mới kể, buổi sáng tổ thứ hai đo được nửa chừng, có một cỗ máy hỏng, thợ sửa máy hì hục sửa nửa buổi trời vẫn không sửa được, trong tổ lại không có ai khác am hiểu về máy móc nữa, thế là bèn để Ngô Nhất Bằng mang máy móc chạy sang phía tổ thứ nhất, muốn để kỹ sư máy móc của tổ thứ nhất sửa chữa cho nhanh chóng. Nào ngờ cậu ta vừa đi là mất hút cả buổi trời, mãi cho đến tận lúc tối mịt thu công, cậu ta mới chậm chạp lê lết quay về. Hỏi máy móc đâu, cậu ta bảo giao cho tổ thứ nhất rồi, chốc lát chưa sửa xong đâu. Hỏi cậu ta quãng thời gian dài thế này đã đi đâu, cậu ta không trả lời, sau đó cứ gặng hỏi mãi, mới biết cậu ta ở cùng hướng dẫn viên A Cáp Nhĩ Cổ Lệ, hai người còn vi phạm kỷ luật, chạy đến bụi cây ở sâu trong Hồng Hải Tử.
"Cậu ta chạy tới đó làm gì?" La Chính Hùng bỗng chốc cảnh giác, chẳng phải đó chính là nơi Tiểu Lâm phát hiện ra tình huống khả nghi sao.
"Cậu ta không nói, tôi từng hỏi A Cáp Nhĩ Cổ Lệ, cô ấy bảo hai người cứ đi thế nào lại đi đến chỗ đó."
"Quá thể đáng!" La Chính Hùng bỗng đứng phắt dậy, định đi tìm Ngô Nhất Bằng hỏi cho ra ngô ra khoai, Vu Hải cản anh lại: "Thôi đi, tôi đã phê bình rồi, dù sao cậu ta cũng đến từ Bộ tư lệnh Sư đoàn, tôi thấy lần này cứ thế đi, bắt cậu ta viết một bản kiểm điểm, kiểm điểm trong hội nghị cán bộ một lần là được."
Vu Hải đi đã lâu, La Chính Hùng vẫn đang ngẩn ngơ suy tư, rốt cuộc cái tên Ngô Nhất Bằng này là người thế nào, cậu ta cùng A Cáp Nhĩ Cổ Lệ đến Giếng Heo Rừng, là vô tình, hay là? Một tiếng bước chân khe khẽ vang lên bước vào, La Chính Hùng hoàn hồn khỏi cơn ngẩn ngơ, bất ngờ phát hiện Vạn Nguyệt đang đứng trước mặt mình. "Ngồi đi." Trên mặt La Chính Hùng ánh lên một tầng ngạc nhiên, giọng nói khách khí cất lên.
"Cảm ơn." Vạn Nguyệt vừa nói vừa ngồi xuống bệ đất nhỏ đối diện, La Chính Hùng vặn sáng đèn bão, dưới ánh đèn chập chờn, khuôn mặt Vạn Nguyệt đầy vẻ trầm ngâm, hình như cũng đang bị tâm sự gì đó làm cho phiền muộn.
"Em muốn đưa ra một kiến nghị với anh." Vạn Nguyệt vuốt vuốt mái tóc, điềm đạm nói.
"Nói đi, mau nói đi, có ý kiến gì hay, cứ việc đưa ra." Đây là lần đầu tiên kể từ khi đến Hồng Hải Tử có chiến sĩ chủ động chạy tới đưa ra kiến nghị, trong lòng La Chính Hùng đương nhiên là rất vui mừng.
"Em kiến nghị tách biệt thích hợp giữa doanh trại và nơi làm việc, các điểm đo đạc ngày càng xa, cứ chạy đi chạy lại thế này không chỉ lãng phí thời gian, mà trên đường đi cũng rất dễ xảy ra chuyện."
"Ồ?" La Chính Hùng đầy hứng thú liếc nhìn Vạn Nguyệt một cái, vấn đề này tuy anh cũng từng nghĩ tới, nhưng vẫn mãi không quyết định được. Theo quy định, đội ngũ đến một địa điểm cố định, bắt buộc phải dựng doanh trại, như vậy sẽ thuận tiện cho việc quản lý tập trung, đồng thời, nước, lương thực, cũng như lạc đà đều có thể được trông nom tập trung, điểm bất lợi chính là những điều mà Vạn Nguyệt vừa nói. Đây là lần đầu tiên La Chính Hùng dẫn lính trắc địa, rất nhiều vấn đề anh đều là lần đầu tiên đối mặt, anh sợ sau khi thiết lập doanh trại tạm thời tại các điểm đo, đội ngũ sẽ mất đi sự quản lý, một khi gặp phải tình huống bất ngờ, ngược lại càng thêm bất lợi cho việc giải quyết.
"Ý kiến của em là tùy theo tình hình điểm đo, linh hoạt lựa chọn, điểm nào cần đo vài ngày, thì dựng doanh trại tạm thời ngay ở đó, như vậy có thể bớt đi rất nhiều rườm rà."
"Được, ý kiến này rất hay, chúng ta sẽ nghiên cứu ngay, nếu khả thi, cứ làm theo lời em nói." Trong giọng nói của La Chính Hùng tràn ngập sự tán thưởng đối với Vạn Nguyệt, đây là từ đáy lòng, không hề che giấu.
"Còn nữa," Vạn Nguyệt khựng lại, như thể đã hạ quyết tâm nào đó mà nói tiếp, "Sự phân công của đội ngũ không khoa học, sự phối hợp nhân sự không hợp lý, cứ tiếp tục thế này, ngày tháng lâu dần, sẽ làm tổn hại đến tính tích cực của toàn bộ tập thể."
Đây quả là một vấn đề mới, La Chính Hùng vẫn chưa nhận thức được điểm này, qua lời nhắc nhở của Vạn Nguyệt, anh chợt hiểu ra, sự phân công lúc ban đầu quả thực tồn tại tính tùy tiện, thông qua sự mài giũa trong khoảng thời gian này, mâu thuẫn trong việc phối hợp nhân sự đã bộc lộ ra rồi.
"Em nói tiếp đi." La Chính Hùng dùng giọng điệu khích lệ để khẳng định Vạn Nguyệt, anh thực sự rất muốn nghe thêm nhiều ý kiến của cô.
"Còn nữa, chính là không thể quá buông lỏng tự do đối với một số cá nhân."
Câu nói này vừa thốt ra, La Chính Hùng lập tức hiểu ra, Vạn Nguyệt cũng đã có ý kiến với Ngô Nhất Bằng rồi.
"Ý em là Ngô Nhất Bằng ư?"
"Em không chỉ cụ thể ai, nhưng trong đoàn quả thực có hiện tượng này, anh là đoàn trưởng, phải nghĩ cho toàn bộ tập thể chứ." Vạn Nguyệt nói xong liền đứng dậy cáo từ, La Chính Hùng muốn giữ cô lại thêm chốc lát, nhưng Vạn Nguyệt rõ ràng không có ý định ở lại lâu. La Chính Hùng dâng lên một chút tiếc nuối, lắng nghe tiếng bước chân của Vạn Nguyệt xa dần, trong lòng anh lại một lần nữa nảy sinh một thứ kỳ lạ.
Mãi sau này anh mới hiểu ra, thứ này gọi là tình yêu.