Có Được Là Người

Lượt đọc: 136 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CÔNG VIỆC

❊ ❊ ❊

Trước Resnyk ngủ cùng giường với tôi là một tay người Ba Lan chẳng ai biết tên là gì, anh ta là người ôn hòa, lặng lẽ, với hai vết thương cũ ở xương ống chân và buổi tối thì bốc lên một thứ mùi dơ dáy của bệnh tật; anh ta lại còn yếu thận nên đêm nào cũng dậy và làm tôi dậy theo từ tám đến mười lần.

Một tôi anh ta để lại cho tôi đôi găng rồi vào trạm xá. Tôi đã hy vọng trong nửa giờ rằng tổ trưởng sẽ quên mất là chỉ có mình tôi chiếm cả giường, nhưng rồi sau đó, khi chuông báo im lặng đã kêu, cái giường rung lên và một tay cao lớn tóc đỏ mang số của nhóm người Pháp Drancy trèo lên nằm cạnh tôi.

Có bạn cùng giường cao lớn là một bất hạnh, điều đó có nghĩa là thời gian ngủ mất bớt đi. Mà tôi thì toàn vớ được bạn cùng giường cao lớn bởi vì tôi thấp bé và vì hai người cao lớn thì không thể ngủ cùng một giường. Tuy nhiên có thể thấy ngay Resnyk dù cao lớn nhưng không đến nỗi tệ. Anh ta ít nói, lịch sự, sạch sẽ và không ngáy, đêm chỉ dậy có hai ba lần và lần nào cũng rất nhẹ nhàng. Buổi sáng anh ta nhận dọn giường (một việc phức tạp và khó khăn, hơn nữa lại mang trách nhiệm nặng vì những ai dọn giường không tử tế - những “schlechte Bettenbauer” sẽ bị trừng phạt rất kỹ), anh ta dọn nhanh và khéo đến độ sau đó khi thấy anh ta được phân vào cùng Kommando với mình, tôi đã cảm thấy một thoáng vui vẻ lướt qua trong lòng.

Trên đường đi làm vừa khập khiễng trongnhững đôi giày gỗ trên nền tuyết đóng băng chúng tôi vừa trao đổi vài lời. Tôi được biết Resnyk là người Ba Lan; anh ta đã sống hai mươi năm ở Paris nhưng nói một thứ tiếng Pháp kinh khủng. Anh ta ba mươi tuổi nhưng cũng như tất cả bọn tôi, người ta có thể đoán anh ta trong vòng từ mười bảy đến năm mươi tuổi. Anh ta kể cho tôi nghe chuyện của mình, giờ thì tôi đã quên nhưng chắc chắn đó là một câu chuyện đau thương, nghiệt ngã và cảm động, như câu chuyện của mỗi chúng tôi, cả trăm nghìn câu chuyện, mỗi chuyện đều khác nhưng tất cả đều chứa  đầy những hoàn cảnh bi thảm đến ngạc nhiên. Chúng tôi kể cho nhau nghe vào buổi tối, những  câu chuyện xảy ra ở Na Uy, ở Ý, ở Algeria, ởUkraine, những chuyện đơn giản và không hiểu nổi như chuyện trong Kinh Thánh. Nhưng những chuyện này chẳng phải chuyện của một Kinh Thánh mới hay sao?

Khi tới xưởng, chúng tôi được đưa đến Eisenrohreplatz, là cái bãi để dỡ các ống sắt xuống, rồi những việc thường lệ lại diễn ra. Kapo điểm danh lại, xem vắn tắt khoản thu mới rồi thỏa thuận với viên Meister thuộc nhóm thường dân về công việc ngày hôm nay. Sau đó hắn giao cho Vorarbeiter rồi đi ngủ trong lán đựng đồ chỗ gần lò sưởi. Tay này không phải loại Kapo hay gây chuyện vì hắn ta không phải người Do Thái và không lo bị mất chỗ làm. Vorarbeiter chia các đòn bẩy bằng sắt cho chúng tôi còn kích thì chia cho hội bạn của hắn. Thế là lại xảy ra cuộc chiến thường lệ để tranh lấy cái đòn bẩy nào nhẹ nhất. Hôm nay thật xấu ngày cho tôi, đòn bẩy của tôi cong và nặng dễ đến mười lăm cân; tôi biết chỉ nâng nó lên không thôi thì chỉ sau nửa tiếng tôi cũng đã chết vì mệt.

Rồi bọn tôi tỏa đi, mỗi người cầm đòn bẩy của mình, khập khiễng trong tuyết đang tan. Mỗi bước tuyết và bùn lại dính thêm một ít vào đế giày gỗ, cho đến khi chúng tôi phải bước loạng choạng trên hai cái cục nặng nề không ra hình thù gì và không làm sao rũ ra được, cho đến lúc đột nhiên một cục bung ra và thế là chân này thành ra ngắn hơn chân kia đến cả găng tay.

Hôm nay phải chuyển một trụ bằng gang khổng lồ từ toa xe vào: tôi chắc đó là một trụ chính, nặng phải mấy tấn. Với chúng tôi thì thế lại hơn, ai cũng biết chuvển vật càng nặng thì càng đỡ mệt hơn là chuyển vật nhỏ, vì công việc được chia ra và chúng tôi đợc giao công cụ thích hợp. Nhưng mà nguv hiểm, không bao giờ được sơ suất, chỉ cần lơ đãng một nháy mắt là có thể bị đè nghiến xuống.

Meister Nogalla - tay giám sát người Ba Lan cứng nhắc, nghiêm khắc và lầm lì - thân chinh chỉ đạo việc chuyển trụ. Giờ thì ống trụ đã nằm trên mặt đất và Meister Nogalla nói: "Bohlen holen".

Tim chúng tôi thắt lại. Thế có nghĩa là "chuyển tà vẹt" để làm thành một con đường giữa đống bùn nhầy nhụa này rồi dùng đòn bẩy đẩy cái ống trụ vào ến trong xưởng. Tà vẹt thì bám chặt vào đất, nặng đến tám mươi cân; ngang ngưỡng chịu đựng của sức chúng tôi. Những tay cao to nhất trong chúng tôi nếu làm việc hai người một có thể vác tà vẹt trong vài tiếng, còn với tôi thì đó là cả một sự tra tấn. Sức nặng của nó nghiến vào xương vai tôi, chỉ sau một lần vác tôi đã thành vừa mù vừa điếc vì cố quá sức và sẵn sàng làm bất cứ chuyên gì để tránh không phải đi chuyến thứ hai.

Tôi thử tìm cách để được ghép đôi với Resnyk, anh ta có vẻ giỏi làm, hơn nữa vì cao hơn tôi nên anh ta sẽ gánh phần lớn sức nặng. Theo nguyên tắc thì Resnyk sẽ khinh bỉ từ chối tôi và sẽ ghép cặp với tay nào khác cũng cao lớn; lúc ấv tôi sẽ xin đi vệ sinh và sẽ ở lại đó càng lâu càng tốt, rồi tôi sẽ tìm cách trốn vào đâu đấy dù biết rõ mình sẽ bị tìm thấy ngay lập tức, bị nhạo báng và bị đánh; nhưng dù là thứ gì thì cũng còn hơn cái công việc này.

Nhưng không phải vậy, Resnvk chấp thuận, không những thế anh ta còn tự nâng thanh tà vẹt lên và cẩn thận đặt xuống vai phải của tôi; rồi anh ta nâng nốt đầu kia lên, khom người đặt lên vai trái và chúng tôi vác đi.

Thanh tà vẹt bám đầy tuyết và bùn, mỗi bước đi nó lại đập vào tai tôi, tuyết rơi vào cổ tôi. Sau khoảng năm mươi mét tôi đã đến cái ngưỡng mà con người ta có thể chịu được, theo lý thuyết: đầu gối khuỵu xuống, vai đau như thể bị kìm kẹp chặt, mất cân bằng một cách nguy hiểm. Mỗi bước chân tôi lại cảm thấy giày sục vào lớp bùn tham lam, cái lớp bùn Ba Lan hiện hữu khắp nơi thành nỗi rùng rợn đơn điệu úng ngập tháng ngày của chúng tôi.

Tôi cắn chặt môi: chúng tôi đều biết một cơn đau do tác động từ bên ngoài, dù nhỏ cũng có thể kích thích huy động năng lượng dự trữ cuối cùng. Những tên Kapo cũng biết điều đó: nhiều tên đánh chúng tôi vì bản tính thú vật hung tợn, nhưng cũng có những tên đánh chúng tôi khi thấy đồ nặng quá rồi, gần như đánh yêu, vừa đánh vừa hô hào cổ vũ, giống như lái xe đánh để thúc ngựa.

Đến chỗ cái trụ, chúng tôi đặt thanh tà vẹt xuống, tôi đứng chết đơ ở đó, mắt mờ, miệng há hốc, tay buông thõng, ngập chìm trong trạng thái mê đi phù du và khổ sở khi hết cơn đau. Trong cơn choáng váng kiệt sức tôi chờ một cú đẩy bắt tôi quay lại làm việc, cố tận dụng từng giây còn lại để hồi sức.

Nhưng cú đẩy không đến: Resnyk chạm nhẹ vào khuỷu tay tôi, chúng tôi quay về chỗ những thanh tà vẹt, cố đi chậm hết mức. Những người khác đang lượn lờ xung quanh thành từng cặp, ai cũng cố trì hoãn càng lâu càng tốt trước khi phải vác tiếp. “Allons, petit, attrape." Thanh tà vẹt này khô và nhẹ hơn một chút, nhưng hết chặng thứ hai tôi vẫn đến chỗ Vorarbeiter xin đi vệ sinh.

Chúng tôi may mắn vì nhà vệ sinh ở khá xa; điều đó cho phép chúng tôi mỗi  lần một ngày được vắng mặt dài hơn một chút so với thông thường. Hơn nữa, vì không được phép đi đến đó một mình, Wachsmann, người yếu nhất và vụng về nhất của Kommando, sẽ được giao trọng trách ScheiSSbegleiter, "tháp tùng đi vệ sinh".  Với bổn phận ấy Wachsmann phải chịu trách nhiệm nếu giả định có người bỏ trốn, nhưng giả định đó thật nực cười nên thực ra anh ta chịu trách nhiệm nếu có người đi quá lâu.

Đề nghị của tôi được chấp thuận, thế là tôi bước trong bùn, trong đám tuyết xám, giữa đám phê liệu kim loại, được anh chàng Wachsmann bé nhỏ giám sát. Tôi không hiểu anh ta vì chúng tôi chẳng nói chung thứ tiếng nào. Nhưng những người bạn của anh ta kể với tôi anh ta là giáo sĩ, thậm chí là một Melamed, một học giả về Torah, không những thế ở quê mình - Galicia - anh ta có tiếng là người chữa bệnh và có phép. Tôi cũng không thấy khó tin điều đó lắm vì chỉ cần suy từ việc một người mảnh dẻ, mong manh và yếu ớt như anh ta đã làm việc ở đây được hai năm mà không ốm, không chết, lại còn đầy sức sống với ngôn từ và cái nhìn linh động đáng ngạc nhiên, bỏ ra trọn nhiều đêm dài thảo luận về những  vấn đề Talmud khó hiểu, bằng tiếng Yiddish và tiếng Hebrew  với Mendi - một giáo sĩ tân thời.

Nhà vệ sinh là một ốc đảo thanh bình. Đây là một nhà vệ sinh tạm, nơi bọn Đức chưa dựng lên những tấm ngăn bằng gỗ thường có để chia ra các phần: "Nur fur Englander", "Nur fur Polen", "Nur fur Ukrainische Frauen", vv... và, cách đó một chút: "Nur fur Haftlinge". Bên trong là bốn Haftling ốm đói ngồi, vai kè vai, một công nhân người Nga già râu ria  với dòng chữ màu xanh OST trên cánh tay trái; một thanh niên Ba Lan mang một chữ P lớn màu trắng trên lưng và ngực; một tù binh người Anh, gương mặt bị cạo trọc râu tóc và bộ đồng phục ka ki ngay ngắn, phẳng phiu sạch sẽ, ngoại trừ cái dấu to tướng KG (Kriegsgafangener) trên lưng. Một Haftling đứng cạnh cửa, kiên nhẫn đều đều hỏi tất cả những người đang vừa vào vừa cởi thắt lưng: "Êtes-vous francais?

Khi tôi quay lại chỗ làm thi thấy xe chở đồ ăn chạy ngang qua, điều đó nghĩa là đã mười giờ, một mốc giờ chấp nhận được vì giờ nghỉ buổi trưa đã lộ dần ra từ đám sương mù tương lai, và chúng tôi bắt đầu tìm được thêm ít sức lực từ sự mong chờ. Tôi vác thêm hai hay ba chuyến gì đó cùng Resnyk, cố sức tìm những thanh tà vẹt nhẹ hơn thậm chí đến cả những đống nằm ở xa để tìm, nhưng giờ này những thanh tốt nhất đã bị lấy hết rồi, chỉ còn lại những thanh khó chịu với các cạnh sắc nhọn, nặng trịch tuyết với bùn, gắn những miếng kim loại để lắp vào đường ray.

 Khi Franz đến gọi Wachsmann để đi lấy suất ăn thì đã là mười một giờ, buổi sáng đã gần qua buổi chiều thì ai cần nghĩ đến. Sau đó là khi bọn kia quay lại vào mười một rưỡi, và thế là lại những câu hỏi rập khuôn, hôm nay được bao nhiêu xúp ngon không, chúng tôi được từ trên hay từ dưới nồi. Tôi cố để không hỏi những câu ấy, nhưng không thể không dỏng tai lên nghe ngóng xem thế nào, hỉnh mũi đón mùi thơm gió đưa từ bếp đến.

Cuối cùng thì, như một làn sao băng xanh lam siêu phàm và vô cảm như một dấu hiệu thần thánh, tiếng còi báo mười hai giờ vỡ òa ra để tạm yên sự mệt mỏi, những cơn đói vô danh mà tương đồng của chúng tôi. Và những việc thường lệ lại bắt đầu: tất cả chạy về phía lán, xếp vào hàng với cái bát cầm sẵn, tất cả chúng tôi đều sốt ruột như bầy thú chờ được bơm đầy cái chất nước hầm ấm nóng ấy vào bụng, nhưng không ai muốn là người đầu tiên vì người đầu tiên sẽ nhận phải phần xúp loãng nhất.

Như thường lệ, Kapo nhạo bang, sỉ nhục tính tham ăn của chsung tôi, cẩn thận tránh khuấy nồi súp lên vì phần dưới đáy là thuộc về hắn ta. Sau đó là niềm vui sướng (thực sự từ dạ dày) có cái bụng căng, có hơi ấm phát ra từ trong bụng và từ cái lò sưởi ồn ào kêu dưới mái lán. Những người hút thuốc cuốn một điếu mảnh với cử chỉ cung kính hà tiện, trong khi đó dưới sức nóng của cái lò, một làn hơi đặc bay ra từ lớp quần áo ẩm đầy tuyết và bùn của tất cả mọ người, mang theo mùi cống rãnh, mùi chuồng cừu.

Có một thỏa thuận ngầm là không ai nói cả: trong vòng một phút tất cả thiếp đi, lèn chặt khuỷu tay chèn vào trong khuỷu tay, đột nhiên ngật ngưỡng đổ ra trước rồi lại thẳng lưng lên. Sau những mí mắt vừa khép, các giấc mơ lại bùng ra, vẫn ra những giấc mơ như thường lệ. Mơ ở nhà mình, trong một bồn tắm ấm áp tuyệt vời. Ở nhà quây quần quanh bàn ăn. Ở nhà kể lại về cái công việc vô vọng này, về cách ngủ nô lệ này của chúng tôi.

Sau đó, theo hư ảo cả cơn tiêu háo uể oải, một mầm nhỏ đau đớn cô lại, đâm vào chúng tôi rồi lớn dần lên cho đến khi đẩy sang được ngưỡng của trạng thái tỉnh táo và lấp đi sự sung sướng của giấc ngủ. “Es wird bald ein Uhr sein”: gần đến một giờ rồi đó. Nó như một căn ung thư cấp tính phàm ăn, bóp chết cơn buồn ngủ của chúng tôi và siết chặt chúng tôi như một điềm gở được báo trước: chúng tôi dỏng tai lên nghe gió rít bên ngoài và tiếng sột soạt của tuyết ghì lại trước gió, “es wird schnell ein Uhr sein”. Mỗi người đều cố bám lấy giấc ngủ của mình, các giác quan đều căng lên sợ hãi chờ đợi dấu hiệu sắp tới, đang ở ngoài cửa kia rồi, ở đây rồi…

Nó đây. Một tiếng uỵch vang lên trên kính, Meister Nogalla ném một hòn tuyết vào cửa sổ, và giờ đang đứng nghiêm bên ngoài, quay mặt đồng hồ về phía chúng tôi. Kapo dứng dậy, duỗi người rồi nhẹ nhàng nói như một người biết rõ mình sẽ được tuân theo: "Alles heraus", tất cả ra ngoài.

Giá như khóc được! Giá như có thể đối mặt với gió như ta vẫn quen trước đây, bình đẳng, chứ không phải như chúng tôi bây giờ, chỉ là một lũ sâu bọ vô tri! Chúng tôi ra ngoài, mỗi người cầm cái đòn bẩy của mình. Resnyk rụt đầu vào hai vai, kéo cái mũ sâu xuống hai tai, ngẩng mặt lên nhìn bầu trời thấp và xám xịt đang nhẫn tâm vãi đầy những bông tuyết xoay tít: "Si j'avey une chien, je ne le chasse pas dehors."

Người dịch: NGUYỄN TRỌNG ĐỊNH và ĐOÀN NGỌC THANH, Dịch theo bản Tiếng Pháp LE DE UXIEME SEXE, Nhà xuất bản Gallimard Paris, 1976
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Primo Levi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.