Có Được Là Người

Lượt đọc: 142 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
DƯỚI ĐÁY SÂU

❊ ❊ ❊

Chuyến đi dài không quá hai mươi phút, rồi chiếc xe tải dừng lại. Chúng tôi thấy một cánh cửa lớn với dòng chữ sáng chói bên trên (ký ức về nó vẫn còn ám ảnh tôi trong những giấc mơ): ARBEIT MACHT FREI, công việc mang đến tự do.

    Chúng tôi xuống và được đưa vào một căn phòng lớn trống trơn chỉ được sưởi ấm qua loa. Sao mà khát thế! Dòng nước yếu ớt chảy trong bộ tản nhiệt khiến chúng tôi như phát cuồng: đã bốn ngày chúng tôi không được uống. Ở đây thì lại có vòi nước: phía trên là một tấm biển ghi cấm uống vì nước bẩn. Vớ vẩn, vái tôi thì cái biển ấy rõ chỉ là trò đùa, "bọn họ" biết chúng tối đang chết khát, thế mà Wassertrinken Verboten. Tôi rủ những người khác cùng uống, nhưng rồi phải nhổ ra, nước lạnh và lợ, có vị bùn. Đây thật là địa ngục. Thời đại bây giờ địa ngục chắc thế này đây, một căn phòng lớn, trống trơn còn chúng tôi phải đứng mệt mỏi, vòi nước nhỏ giọt những nước thì không thể uống. Chúng tôi chờ một cái gì khủng khiếp nhưng chẳng có gì xảy ra, mäi vẫn không xảy ra gì hết. Biết nghĩ thế nào đây? Không thể nghĩ nổi nữa, chúng tôi như thể dä chết rồi. Vài người ngồi xuống đất. Thời gian trồi qua nhỏ giọt.

Chúng tôi chưa chết; cánh cửa mở ra và một tên SS phì phèo thuốc lá bước vào. Hắn ta chậm räi nhìn chúng tôi, hỏi: "Wer kann Deutsch?" Một người tôi chưa nhìn thấy bao giờ tiến lên, tên anh ta là Flesch; anh ta sẽ là phiên dịch của chúng tôi. Tên SS làm một bài diễn thuyết dài và lạnh lùng: phiên dịch dịch lại. Phải xếp thành hàng năm người một, người nọ cách người kia hai mét; sau đó phải cởi đồ và gói quần áo lại theo đúng quy định, đồ len một bên và những đồ còn lại bên kia, cởi giày nhưng phải cẩn thận đừng để bị lấy mất.

Ai lấy mới được chứ? Sao lại có ai muốn lấy giày của chúng tôi? Còn giấy tờ của chúng tôi, ít giấy tờ mà chúng tôi có trong túi, còn đồng hồ? Tất cả nhìn phiên dịch, phiên dịch hỏi tên Đức, tên Đức chỉ hút thuốc rồi nhìn quanh quất như thể chúng tôi vô hình, như thể chẳng ai hỏi gì cả. 

Trước đây tôi chưa nhìn thấy người già trần truồng bao giờ. Ông Bergmann có cái tä người già, ông hỏi người phiên dịch xem có phải tháo ra không, người phiên dịch ngần ngại. Nhưng tên Đức hiểu, hắn vừa nghiêm nghị nói với phiên dịch vừa đưa tay chỉ vài người; chúng tôi thấy người phiên dịch miễn cưỡng nói: "Ngài sĩ quan bảo phải bỏ tã ra, rồi cụ sẽ được tä của ông Coen." Có thể thấy những lời Flesch thốt ra đầy cay đắng, đó là cách cười của tên Đức.

Rồi một tên Đức khác đến bảo để giày vào một góc, và chúng tôi để giày vào đó. Vì giờ thì tất cả đã hết rồi, chúng tôi thấy mình ở ngoài rìa cuộc sống, điều duy nhất còn lại là tuân lệnh. Một người cầm chổi đến và quét tát cả giày đi, dồn thành một đống to ngoài cửa. Anh ta điên rồi, trộn lẫn tất cả giày vào với nhau, chín mươi sáu đôi, rồi sẽ lẫn hết mất. Cánh cửa bên ngoài mở ra, gió lạnh tràn vào, chúng tôi thì đang ở trần nên đành cố vòng tay che bụng. Gió thổi mạnh và đóng sập cửa vào, nhưng tên Đức lại mở ra và đứng đó chăm chú nhìn chúng tôi co ro tránh gió, người này cố nấp sau người kia. Rồi hắn đi ra và đóng cửa lại.

Bây giờ sang hồi hai. Bốn người mang dao cạo râu, bàn chải và dao cạo tóc ập vào, họ mặc quần áo kẻ sọc, có số khâu trên ngực; có thể họ thuộc bọn người đêm qua (đêm qua hay đêm kia nhỉ?) nhưng cao to khỏe mạnh hơn. Chúng tôi xúm vào hỏi rất nhiều, nhưng họ chỉ tóm chặt lấy chúng tôi và trong chốc lát chúng tôi thấy mình đã bị cạo sạch râu và tóc. Không râu tóc nhìn mặt chúng tôi mới tức cười làm sao. Bốn người nói một thứ tiếng dường như không thuộc thế giới này, chắc chắc không phải tiếng Đức, vì tiếng Đức tôi hiểu được một ít.

     Cuối cùng thì một cánh cửa khác cũng mở ra: chúng tôi bị nhốt vào trong một phòng tắm, tất cả ở trần, đầu trọc, chân nhúng trong nước. Chỉ có chúng tôi ở đấy. Dần dần khi bớt ngỡ ngàng chúng tôi bắt đầu nói chuyện, tất cả đều cố hỏi, chẳng có ai trả lời. Chúng tôi đang ở trần trong buồng tắm, thế nghĩa là chúng tôi sẽ tắm. Chúng tôi sẽ tắm, nghĩa là bọn họ sẽ chưa giết chúng tôi ngay. Thế nhưng sao lại để chúng tôi đứng thế này làm gì, sao họ không cho chúng tôi uống, sao không ai giải thích gì cho chúng tôi cả, sao chúng tôi không có giày, không có quần áo mà lại trần truồng ngâm chân trong nước thế này. Trời thì lạnh, chúng tôi đi suốt năm ngày nay rồi mà bây giờ còn chưa được ngồi xuống.

      Thế còn vợ chúng tôi?

      Kỹ sư Levi hỏi tôi xem có nghĩ trong lúc này đấy vợ chúng tôi cũng đang như thế này không, họ đang ở đâu, liệu chúng tôi còn gặp họ nữa không.

Tôi đáp là có, vì ông ấy có vợ và một đứa con gái; chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại họ rồi. Nhưng thâm tâm tôi nghĩ tất cả chuyện này chỉ là một trò cười để chế nhạo chung tôi, rõ ràng là rồi chúng tôi sẽ bị giết, ai tin mình được sống chỉ là đồ điên, mắc mồi bọn chúng. Tôi thì không, tôi hiểu rằng sớm muộn rồi sẽ hết, có khi là ngay trong cái phòng này, khi mà họ chán nhìn chúng tôi trần truồng, nhảy lò cò từ chân nọ sang chân kia hay thỉnh thoảng thử ngồi xuống sàn, nhưng dưới sàn ngập đến những ba đốt ngón tay nước lạnh nên đâu có thể ngồi được.

  Chúng tôi vừa đi lại lung tung ngang dọc trong phòng phòng vừa nói chuyện, mỗi người đều nói với tất cả những người khác, ầm ĩ cả lên. Một cánh cửa mở ra, một tên Đức vào, chính là tên sĩ quan lúc näy. Hắn nói ngắn gọn và người phiên dịch dịch lại. "Ông sĩ quan nói các anh phải im lặng, đây không phải trường giáo sĩ Do Thái mà nói nhiều thế." Những từ ngữ rõ là người phiên dịch không quen, những từ độc ác làm miệng anh ta nhăn nhó, khi những từ ấy chui ra trông anh ta tựa như đang nhổ ra một miếng thức ăn hỏng. Chúng tôi xin anh ta hỏi xem chúng tôi phải chờ cái gì, còn phải ở  đây bao lâu nữa, vợ chúng tôi, mọi chuyện: nhưng anh ta chỉ nói không, anh ta không muốn hỏi. Cái anh Flesch này phải miễn cưỡng mà dịch ra tiếng Ý những câu tiếng Đức lạnh lùng, và từ chối không dịch những câu hỏi của chúng tôi vì anh ta biêt chỉ vô ích. Anh ta là một người Đức Do Thái khoảng năm mươi tuổi, trên mặt có một vết sẹo lớn lưu lại từ một vết thương trong trận đánh với người Ý trên sông Piave. Anh ta lầm lì, ít nói nhưng theo bản năng tôi thấy kính trọng anh ta, vì tôi cảm nhận được rằng anh đã bắt đầu đau khổ trước cả chúng tôi.

Tên Đức đi ra, chúng tôi vẫn im lặng, mặc dù hơi hổ thẹn vì sự im lặng của minh. Trời vẫn đang đêm, chúng tôi tự hỏi liệu có bao giờ trời sáng không. Rồi cửa lại mở ra, một người mặc quần áo sọc vào. Anh ta trông khác những người kia, già hơn, đeo kính, khuôn mặt trông có học và nhỏ con hơn nhiều. Anh ta nói với chúng tôi bằng tiếng Ý.

Giờ thì chúng tôi đã quá mệt không thể ngạc nhiên nổi nữa. Có vẻ như chúng tôi đang chứng kiến một vở kịch điên rồ, loại kịch nơi những mụ phù thủy, Chúa thánh thần và quỷ dữ hiện lên trên sân khấu. Anh ta nói tiếng Ý khá tệ, đặc giọng nước ngoài. Anh ta nói dài, lịch sự và có gắng trả lời hết các câu hỏi của chúng tôi.

Chúng tôi đang ở Monowitz, gần Auschwitz, vùng thượng Silesia: một vùng có cả dân Đức và Ba Lan. Trại này là một trại lao động, tiếng Đức gọi là Arbeitslager; tất cả tù binh (có khoảng một vạn) làm việc cho một nhà máy cao su tên là Buna, thế nên trại này cũng tên là Buna.

Chúng tôi có được nhận lại quần áo và giày không, không, không nhận lại đồ của mình; giày khác, quần áo khác, giống như của anh ta. Giờ chúng tôi phải ở trần vì phải đợi tắm và tẩy trùng, sẽ làm ngay sau còi báo thức, vì không được vào trại khi chưa tẩy trùng.

Tất nhiên là sẽ có nhiều việc để làm, ở đây tất cả đều phải làm việc. Nhưng có việc này việc kia: chẳng hạn như anh ta thì làm bác sĩ, anh ta là một bác sĩ người Hung, đã từng học ở Ý; anh ta là nha sĩ của Lager. Anh ta ở Lager từ bốn năm rồi (không phải chỉ ở trại này: Buna mới có từ một năm rưỡi nay), thế mà như chúng tôi thấy đây, anh ta vẫn khỏe, không gầy lắm. Sao lại phải vào Lager ư? Anh cũng là người Do Thái à? "Không, tôi là một tội phạm", anh ta nói một cách đơn giản.

Chúng tôi hỏi anh ta rất nhiều, thỉnh thoảng anh ta cười, câu thì đáp câu thì không, có thể thấy anh ta tránh không nói tới một số chuyện. Anh ta không nói về đám phụ nữ: chỉ bảo họ khỏe, chúng tôi sẽ sớm được gặp nhưng không nói ở đâu hay thế nào. Thay vào đó anh ta lảng sang chuyên khác, kể những chuyện kỳ cục điên rồ, có lẽ anh ta trêu chúng tôi. Có lẽ anh ta điên: ở Lager ngươi ta sẽ phát điên. Anh ta bảo Chủ nhật nào cũng có ca nhạc và bóng đá, rằng ai đấm bốc giỏi sẽ thành đầu bếp, ai làm việc tốt sẽ được nhận phiếu – phần thưởng có thể dùng để mua thuốc lá và xà phòng, rằng nước đúng là không uống được, nhưng ngày nào cũng sẽ được phát cà phê thế phẩm, mà thường thì cũng chẳng ai uống vì xúp khá là loäng đủ để giải khát. Chúng tôi xin anh ta tìm giúp cái gì để uống nhưng anh ta bảo không được, anh ta trốn đến đây gặp chúng tôi là chống lại luật của SS vì chúng tôi còn chưa được tẩy trùng, anh ta phải đi ngay, anh ta đến vì quý người Ý và vì, anh ta bảo, "vẫn còn có lương tâm". Chúng tôi lại hỏi anh ta xem có những người Ý khác ở trại không, anh ta bảo cũng có vài người, ít thôi, không rõ là bao nhiêu, rồi anh ta đổi chủ đề ngay. Đúng lúc đó một hồi chuông vang lên, và anh ta lẩn mất, bỏ lại chúng tôi lúng túng và sửng sốt. Một vài người cảm thấy nhẹ nhõm hơn, nhưng tôi thì không, tôi vẫn tiếp tục nghĩ rằng kể cả tay nha sĩ này, cái tay khó hiểu ấy, cũng chỉ muốn lấy chúng tôi làm trò mua vui, và không muốn tin một lời nào trong những điều anh ta nói.

Cùng với tiếng chuông chúng tôi cảm nhận được bóng tối trên trại dần tan đi. Đột nhiên vòi phọt ra luồng nước nóng bỏng, năm phút sung sướng. Nhưng ngay sau đó lại có bốn người (có thể là thợ cạo) la hét đẩy chúng tôi khi ấy vẫn còn ướt và bốc hơi sang căn phòng lạnh ngắt sát vách, ở đó một người khác cũng la hét ném vào người chúng tôi một đống giẻ và nhét vào tay chúng tôi một đôi giày vớ vẩn đế gỗ. Chưa kịp hiểu gì chúng tôi đã thấy mình đứng ngoài trời, trên nền tuyết xanh nhợt và lạnh giá của buổi mai. Vẫn còn trần truồng, đi chân đất và ôm đống đồ trên tay, chúng tôi phải chạy đến một cái lán khác cách đó khoảng ba mươi mét. Đến đó chúng tôi mới được phép mặc quần áo.

Khi mặc xong chúng tôi mỗi người đứng yên trong góc của mình, người này không dám ngước nhìn người khác. Không có gương soi, nhưng hình bóng chúng tôi ở ngay trước mắt, phản chiếu trên hàng trăm gương mặt xám ngoét, hàng trăm con rối khốn khổ nhớp nhúa. Chúng tôi đã biến thành những bóng ma thoáng thấy đêm hôm trước.

Và thế là lần đầu tiên chúng tôi hiểu rằng không có từ nào diễn đạt nổi sự xúc phạm này, sự hủy diệt một con người. Trong khoảnh khắc, trực giác gần như tiên tri vạch trần sự thật cho chúng tòi: chúng tôi đã xuống đáy sâu. Sâu hơn nữa là không thể: hoàn cảnh con người không thể khốn cùng hơn, không thể tưởng tượng ra. Chúng tôi chẳng còn gì nữa: bị lột mất quần áo, giày, thậm chí cả râu tóc; nói không ai nghe, mà có nghe cũng không ai thèm hiểu chúng tôi. Chúng tôi bị lột cả tên; và nếu có muốn giữ lại tên mình chúng tôi sẽ phải tìm ra sức mạnh trong mình, sao cho cùng với cái tên còn giữ được vài điều gì đó của mình, của chúng tôi một thời sót lại được.

Chúng tôi biét khó mà hiểu được điều đó, cảm giác đó của chúng tôi, mà không hiểu thế lại tốt. Nhưng häy thử nghĩ về giá trị, về ý nghĩa gói trong những thói quen hằng ngày nhỏ nhặt nhất, thậm chí là trong cả trăm vật dụng mà kể cả một tên ăn mày khốn khổ cũng có: một cái khăn tay, một lá thư cũ, một bức ảnh người thân. Những thứ đó là một phần của chúng ta, gần như một phần thân thể; thường nếu có cái gì cũ quá thì ta sẽ thay không khó khăn gì, nên không thể hình dung nổi lại có một lúc ta có thể mất hết chúng. Những đồ vật của mình, lưu giữ và gợi lại ký ức.

Hãy tưởng tượng một con người bị tước đoạt không chỉ những người thân yêu nhất mà cả căn nhà, các thói quen, quần áo của anh ta, tất cả, thực sự là sự là tất cả những gì anh ta có: anh ta sẽ thành một con người trống rỗng, chỉ còn biết đau đớn và cảm nhận những nhu cầu tầm thường nhất, quên läng phẩm giá và sự kiên cường, mà người đã mất tất thì rồi cũng sẽ dễ dàng đánh mất bản thân mình. Sẽ thành một người mà cuộc sống hay cái chết sẽ được quyết định một cách hời hợt, thiếu đi những quan hệ thân thuộc giữa con người với con người, trong trường hẹyp may mắn nhất cũng chỉ dựa vào sự phán xét thực dụng. Chính ở chỗ này người ta hiểu được nghĩa kép của từ "trại hủy diệt", và chúng tôi đã hiểu rõ ràng ý nghĩa của cái câu "rơi xuống đáy”.

Häftling: tôi học được rằng mình là một Häftling. Tên của tôi là 174517; chúng tôi đã được đặt tên lại, và chừng nào còn sống thì chúng tôi sẽ còn mang trên cánh tay trái cái hình xăm đó.

Việc xăm số diễn ra cực kỳ nhanh và chỉ hơi đau: họ xép chúng tôi tất cả thành một hàng, theo thứ tự vần chữ cái. Lần lượt từng người đi qua chỗ một nhân viên thành thục dùng một cái kim chích mũi cực ngắn. Có vẻ như đây là sự bắt đầu theo đúng nghĩa: chỉ khi "trình số" mới được nhận bánh mì và xúp. Phải mất nhiều ngày và chịu không ít những cái tát và cú đấm chúng tôi mới làm quen được với việc chìa số của mình ra đủ nhanh để không làm lộn xộn việc phân phát thức ăn hằng ngày. Và phải mất hàng tuần, hàng tháng để học được cách nghe số ấy bằng tiếng Đức. Rất nhiều ngày sau đó, khi thói quen của thời tự do khiến tôi giơ cổ tay chỗ đeo đồng hồ lên để xem giờ thì mỉa mai chỉ thấy cái tên mới của mình, con số được xăm hằn màu chàm dưới da.

      Phải rất lâu sau, một vài người trong chúng tôi mới từ từ hiểu ra vài điều về thứ tự tang tóc trong những con số ở Auschwitz, mà bên trong chứa cả một hình ảnh thu nhỏ những chặng đường hủy diệt dân tộc Do Thái ở châu Âu. Với những người cũ ở trại, con số này nói lên tất cả: thời gian đến trại, thuộc khu nào, và sau đó là quốc tịch. Mọi người đều nể nang những con số từ 30.000 đến 80.000: chúng chỉ còn vài trăm và là đại diện cho số ít sống sót từ các ghetto Do Thái ở Ba Lan.

Cần thận trọng khi làm ăn với những người có số 116.000 đến 117.000: họ chỉ còn khoảng bốn mươi người, nhưng là bọn Hy Lạp ở Salonica, không được để bọn họ cho vào tròng. Còn những số lớn thì mang vẻ tức cười rõ rệt, như những kẻ ta vẫn gọi là “lính mới” hay “bị bắt nhập ngũ” ở ngoài đời. Điển hình của số lớn là một kẻ béo tốt, hiền lành và ngớ ngẩn, bạn có lừa cho hắn tin là ở trạm xá có phát giày da cho những người chân mềm, thuyết phục hắn chạy ra chỗ kia để để bát xúp lại bạn "trông cho"; bạn có thể bán cho hắn một cái thìa lấy ba suất bánh mì; có thể bảo hắn đến chỗ tên dữ nhất trong hội Kapo (như tôi đã từng bị lừa như thế) hỏi xem đội của hắn có phải là Kartoffelschalenkommando, Đội Gọt Khoai tấy không và có thể gia nhập đội đó được không.

Thật ra thì toàn bộ quy trình hòa nhập vào trật tự mới này đến với chúng tôi đầy vẻ chê nhạo kệch cỡm. Sau khi xăm số, chúng tôi bị nhốt vào một lán trống. Giường chiếu được dọn gọn, nhưng chúng tôi bị cấm ngặt không được động vào hay ngồi lên: thế là chúng tôi loanh quanh nửa ngày trong khoảng trống nhỏ hẹp có được, với cơn khát kinh khủng của cuộc hành trình vẫn đang hành hạ. Rồi cánh cửa mở ra, một thanh niên mặc đồ kẻ sọc bước vào, trông có vẻ tử tế, tóc vàng, nhỏ con và gầy. Anh ta nói tiếng Pháp, và chúng tôi đổ xô vào anh ta, trút lên anh ta tất cả những câu hỏi mà cho đến lúc đó chúng tôi chỉ biết đặt cho nhau một cách vô ích.

Nhưng anh ta không trả lời nhiệt tình cho lắm, ở  đây chẳng ai ăn nói cởi mở cả. Chúng tôi là người mới, chúng tôi chẳng có gì và chẳng biết gì; tại sao lại phải mất thời gian với chúng tôi cơ chứ? Anh ta miễn cưỡng giải thích rằng những người khác đang ở ngoài làm việc, tối sẽ về. Anh ta vừa xuất viện sang nay, hôm nay anh ta được nghỉ việc. Tôi hỏi anh ta (với một sự ngây thơ chỉ vài hôm sau đã trở thành không tưởng) rằng liệu chúng tôi có được trả lại bàn chài đánh răng không; anh ta không cười mà vứt vào mặt tôi một câu "Vous n'êtes pas à la mai-son" với một vè cực kỳ khinh miệt. Và đó là cái điệp khúc mà tất cả chúng tôi đều được nghe lặp đi lặp lại: các anh có còn ở nhà đâu, đây có phải viện điều dưỡng đâu, rời khỏi  đây thì chỉ để đến Lò thiêu thôi. (Thế nghĩa là gì? Rồi chúng tôi sẽ sớm hiểu được thôi).

Mà đúng thế thật: cơn khát đã khiến tôi nhìn ra một cục băng trong tầm với bên ngoài cửa sổ, tôi bèn mở cửa bẻ lấy nó, nhưng ngay lập tức một tên cao to đang đi lại phía ngoài tiến ngay đến trước chỗ tôi và thô bạo giật lấy. "Warum?", tôi hỏi hắn bằng thứ tiếng Đức nghèo nàn của mình. "Hier ist kein warum", (ở đây không có tại sao gì cả), hắn đáp, đẩy mạnh tống tôi lại vào trong.

Lời giải thích đáng ghét nhưng đơn giản: ở chỗ này mọi thứ đều bị cấm, không vì những lý lẽ bí mật nào mà bởi vì trại được dựng lên chính vì lẽ đó. Nếu chúng tôi muốn sống thì phải sớm hiểu điều đó và hiểu rõ: 

... Không có tượng thánh thần nào ở chốn này

Tắm nơi đây đâu phải như ở Serchio!

Từng giờ trôi qua, cái ngày dài dằng dặc trước cửa địa ngục dần kết thúc. Khi mặt trời lặn xuống trong đám hỗn độn những đám mấy dữ tợn màu máu, cuôi cùng người ta cũng cho chúng tôi ra khỏi lán. Liệu chúng tôi có được uống không? Không, chúng tôi lại bị xếp vào hàng, đưa đến một bäi rộng chiếm hết khu trung tâm trại, và xếp chúng tôi kỹ càng theo từng khối. Rồi một giờ nữa lại trồi qua mà chẳng xảy ra chuyện gì: có vẻ như đang phải đợi ai đó.

Một ban nhạc bắt đầu chơi, ngay cạnh cánh cổng trại: chơi bài Rosamunda, một bài hát tình cảm nổi tiếng, điều này với chúng tôi quả là lạ khiến mọi người đều phải nhếch mép cười đưa mắt nhìn nhau; một nỗi nhẹ nhõm nảy nở trong lòng chúng tôi, có thể tất cả những nghi lễ này không là gì khác ngoài một tấn hài lớn theo kiểu Giéc manh. Nhưng kết thúc bài Rosamunda, ban nhạc lại tiếp tục chơi các bài khác, bài này nổi tiếp bài kia. Rồi đột nhiên xuất hiện các nhóm bạn tù của chúng tôi từ chỗ làm trở về.

Họ đi thành từng hàng năm người một: dáng đi lạ lùng, thiếu tự nhiên, nặng nề, như những con rối cứng nhắc làm bằng xương, nhưng lại tuyệt đối theo đúng nhịp.

Bọn họ cũng xếp hàng như chúng tôi theo một trật tự chính xác trên khoảng sân to. Khi đội cuối cùng vào đến nơi, chúng tôi bị đếm đi đếm lại trong hơn một tiếng, nhiều lần kiểm tra dài, có vẻ như đều để báo cáo cho một tay mặc đồ sọc, rồi tay đó báo lại cho một nhóm SS mặc đồ chiến đấu.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng nghe thấy hét lên "Absperre!" ( trời đã tối, nhưng trại được đèn pha chiếu sáng rực), sau câu đó các đội lập tức tỏa ra lộn xộn và hỗn loạn. Giờ thì bọn họ không đi thẳng tắp và cứng nhắc như lúc trước nữa: ai cũng lao đi với một sức mạnh rõ rệt. Tôi nhận thấy tất cả đều cầm trên tay hoặc đeo ở thắt lưng một cái bát sắt to như cái chậu.

  Bọn mới đến chúng tôi cũng loay hoay giữa đám đông, tìm kiếm một giọng nói, một gương mặt bạn bè, một lời chỉ bảo.

Có hai thanh niên ngồi bệt xuống đất tựa lưng vào vách lán bằng gỗ: hai đứa đều có vẻ rất trẻ, chỉ mười sáu tuổi là cùng, cả hai đều có gương mặt và hai tay dấy đầy nhọ nồi. Một trong hai đứa gọi tôi trong lúc chúng tôi đi ngang qua, hỏi tôi mấy câu tiếng Đức mà tôi không hiểu; rồi hỏi tôi người nước nào. “Người Ý", tôi đáp; tôi muốn hỏi bọn nó nhiều thứ, nhưng tiếng Đức của tôi kém quá.

- Em là dân Do Thái à?

- Vâng, Do Thái Ba Lan.

- Em ở Lager bao lâu rồi?

- Ba năm, và đưa ba ngón tay lên. Chắc nó vào trại từ khi còn trẻ con, tôi kinh hoàng nghĩ; nhưng mặt khác thì điều này nghĩa là có người sống sót

được ở đây.

- Em làm việc gì?

- Schlosser[11] , nó đáp. Tôi không hiểu. Eisen; Feuer , nó cố giải thích, rồi ra hiệu bằng tay miêu tả một người đang đập búa lên cái đe. Vậy ra nó làm thợ rèn.

- Ich Chemiker , tôi nói; và nó gật đầu đầy vẻ nghiêm túc. Chemiker gut. Nhưng tất cả những điều này còn lâu nữa mới cần; lúc này cái hành hạ tôi là con khát.

- Uống, nước. Chúng tôi không có nước, tôi bảo nó. Nó nhìn tôi vẻ nghiêm nghị, gần như là gay gắt, rồi tuyên bố: Đừng uống nước, anh bạn, rồi một loạt những lời mà tôi không hiểu.

- Warum?

- Geschvvollen , nó trả lời vẻ bí ẩn. Tôi lắc đầu không hiểu. Nó phồng má lên, lấy tay mô tả một cục sưng kinh khủng ở mặt và bụng để cho tôi hiểu. Warten bis heute abend. Chờ đến tối nay, tôi dịch từng từ một.

Rồi nó bảo tôi: Ich Schlome. Du? Tôi nói tên tôi, nó lại hỏi:

- Mẹ anh đâu?

-       Ở Ý.

Schlome kinh ngạc: Người Do Thái ở Ý á? Ừ, tôi cố hết sức giải thích, nấp, không ai biết cả, bỏ trốn, không nói, không ai thấy. Nó hiểu; giờ thì nó đứng dậy, đến gần tôi và rụt rè ôm lấy tôi. Chuyện đã hết, tôi cảm thấy trong lòng một nỗi buồn thanh thản gần như là một niềm vui. Tôi không còn gặp Schlome nữa nhưng không bao giờ quên được gưong mặt nghiêm nghị mà hiền dịu trẻ thơ của em đã đón chào tôi ở ngưỡng cửa cái chốn dành cho kẻ chết này.

Vẫn còn nhiều điều phải học, nhưng chúng tôi cũng đã học được nhiều điều. Chúng tôi đa có được hình dung về địa hình của Lager; Lager của chúng tôi hình vuông, dài khoảng sáu trăm thước mỗi chiều, bao quanh là hai vòng day thếp gai, vòng trong có điện cao thế. Trại gồm sáu chục căn lán gỗ, gọi là các Block trong đó khoảng chục cái vẫn chưa dựng xong; ngoài ra còn có khu bếp xấy bằng gạch, một trang trại thí điểm do một biệt đội Häftling được hưởng ưu tiên quản lý; các khu vệ sinh với nhà tắm và nhà xí, cứ khoảng sáu đến tám Block có một khu vệ sinh như thế. Ngoài ra, một số Block nhất định được dùng cho việc khác. Đầu tiên là một nhóm tám căn ở đầu phía Đông của trại được dùng làm trạm xá và khu khám bệnh; sau đó Block 24 là Krätzeblock, dành cho những người mắc các chứng bệnh ngoài da; Block 7, nơi chứa một Häftling bình thường nào vào, dành cho "Prominenz", tức là giới quý tộc, những tù nhân có chức vụ cao nhất; Block 47, dành cho Reichsdeutscher (ngưòi Đức Ariăng, tù chính trị hoặc tội phạm); Block 49, chỉ dành cho các Kapo; Block 12, một nửa dùng làm căng tin phân phối thuốc lá, thuốc diệt côn trùng và các đồ khác tùy dịp cho Reichsdeutscher và Kapo; Block 37 gồm Văn phòng Hậu cần và Văn phòng Phụ trách Lao động; và cuối cùng là Block 29, nơi cửa sổ lúc nào cũng đóng vì đó là Frauenblock, nhà thổ của trại, nơi có các Häftling nữ người Ba Lan, dành phục vụ cho các  Reichsdeuscher.

      Các Block bình thường để ở được chia thành hai phần; trưởng lán và bạn bè sống trong một phần (Tagesram): có một cái bàn dài, ghế, ghế băng; một loạt đồ lạ mắt màu sắc rực rỡ, ảnh, mẩu cắt từ tạp chí, các bức vẽ, hoa giả, đồ trang trí vung väi khắp nơi; trên tường là các dòng chữ lớn, tục ngữ, những câu thơ tán dương trật tự, kỷ luật và vệ sinh; còn trong góc là giá bày các dụng cụ của Blockfrisör (thợ cạo chính thức), muôi chia xúp, hai cái dùi cui cao su, một đặc và một rỗng để giữ kỷ luật khi lời lẽ là không đủ. Phần bên kia là khu ngủ; không có ngoài một tram bốn mươi tám giường ba tầng, được ngăn bở ba däy hành lang và được đặt sát sạt vào nhau như các ô của một tổ ong nhằm tận dụng tối đa khoảng không gian từ sàn lên đến nóc; đó là nơi sống của những Häftling bình thường, khoảng hai trăm đến hai trăm rưởi một lán, nghĩa là thường thì hai người phải chung một giường. Giường làm bằng tấm gỗ rời với một lớp đệm rơm mỏng và hai cái chăn. Hành lang giữa các däy giường hẹp đến nỗi khó lọt được hai người cùng một lúc. Sàn chật đến mức nếu có một nửa số người không lên giường nằm thì tất cả khó mà đứng lọt được hai người cùng một lúc. Chính vì thế mà có quy định không được đi sang Block không phải của mình.

Ở giữa Lager là sân Điểm danh, rất rộng, nơi chúng tôi tập họp buổi sáng để họp thành các đội lao động, và quay lại buổi tối để được đếm. Đối diện với sân là một bäi cỏ được xén tỉa cẩn thận, khi cần giá treo cổ sẽ được dựng lên ở đó.

Chúng tôi nhanh chóng học được rằng dân cư của Lager được chia thành ba nhóm: tù tội phạm, tù chính trị và dân Do Thái. Cả ba đều mặc quần áo kẻ sọc, tất cả đều là Häftling, nhưng tù tội phạm có một tam giác màu lục ở cạnh số may trên áo; tù chính trị có tam giác đỏ; còn dân Do Thái, loại tù chiếm số đông nhất, mang ngôi sao Do Thái đỏ và vàng. Có bọn SS nhưng ít và chỉ ở ngoài trại, chỉ thỉnh thoảng mới gặp bọn chúng. Hội tam giác lục mới chính là những tay chủ thực thụ, có toàn quyền với chúng tôi. Ngoài bọn chúng còn có cả những tên thuộc hai nhóm kia nhưng tiếp tay cho bọn này, mà những tên ấy thì không ít.

Một điều nữa chúng tôi cũng học được, nhanh hay chậm tùy theo tính cách từng người, là việc trả lời "Jawohl", không hỏi han gì và giả vờ là mình hiểu. Chúng tôi học được giá trị của thức ăn; giờ thì chúng tôi cũng cần mẫn cạo đáy bát sau khi ăn hết suất và chúng tôi cũng hứng bát dưới cằm khi ăn bánh mì để không rơi mất vụn bánh. Giờ chúng tôi cũng biết việc nhận được xúp mức trên mặt khác với xúp múc dưới đáy thùng, và chúng tôi đã biết tính, dựa trên dung tích các thùng xúp khác nhau, xem chỗ nào đứng xếp hàng là tốt nhất.

Chúng tôi học được rằng mọi thứ đều có ích: dấy thếp để buộc giày, giẻ rách để quấn quanh chân, giấy để nhồi (phải giấu giếm) vào trong áo khoác để chống lạnh. Rằng mọi thứ đều có thể bị lấy cắp, không chỉ thế mà đồ vật sẽ tự động mất ngay khi ta sơ sểnh một chút. Để tránh bị mất thì phải học được nghệ thuật ngủ gối đầu lên cái bọc làm bằng áo khoác chứa toàn bộ những gì mình có, từ bát đến giày.

Chúng tôi đã biết phần lớn quy định ở trại, một thứ phức tạp kinh khủng. Những điều cấm nhiều vô kể: cấm đến gần hàng rào kẽm gai quá nửa mét, khi ngủ cấm mặc áo khoác hay không mặc quần đùi hay đội mũ, cấm dùng những phòng tắm hay nhà xí đặc biệt "nur fur Kapos" hay "nur fiir Reichsdeutsche"; cấm không đến nhà tắm vào những ngay đã ghi, cấm đến nhà tắm vào những ngay không ghi, rời khỏi lán cấm mặc áo không cài cúc, hay cổ áo dựng lên, không mang giấy hay rơm dưới áo khoác để chống lạnh, không được rửa ráy trừ phi để ngực trần.

Những nghi thức phải thực hiện thì nhiều vô số và đều vô nghĩa: hằng sáng phải "dọn giường", giường phải hoàn toàn phẳng và trơn, chải những đôi giày gỗ  đây bùn kinh tởm bằng loại mỡ máy phù hợp, chùi sạch các vết bùn khỏi quần áo (các vết sơn, vết dầu mỡ hay vết gỉ thì được phép để lại); buổi tối phải kiểm tra chấy và kiểm tra việc rửa chân; thứ Bảy cạo râu cắt tóc, sửa hoặc gửi sửa quần áo rách; Chủ nhật kiểm tra chung bệnh ngoài da và kiểm tra cúc trên áo khoác cho đủ năm cái.

Ngoài ra còn có vô số những việc thường thì chẳng có gì nhưng ở  đây lại là cả một vấn đề. Khi móng tay mọc dài thì cần phải cắt ngắn, mà chẳng có cách nào cắt ngoài việc dùng răng cắn (móng chân thì mài vào giày là đủ mòn); nếu đứt cúc phải biết cách đính lại bằng một sợi dấy thếp; nếu đi tắm hay vào nhà xí phải mang theo tất cả, đi đâu và bao giờ cũng thế, còn khi lau mặt thì phải kẹp chặt gói đồ vào giữa hai đầu gối: bất cứ cách nào khác đồ sẽ mất ngay lập tức. Nếu bị một cái giày làm đau chân thì cần có mặt ở chỗ đổi giày vào buổi tối: cả một cuộc thử thách kỹ năng cá nhân  đây, làm sao chỉ nhìn thoáng qua trong số đám hỗn độn mà thấy được cái giày (không phải một đôi mà một cái) vừa chân mình, vì đã chơn rồi là không được phép đổi lần thứ hai nữa.

  Đừng nghĩ rằng giày chỉ đóng vai trò thứ yếu trong cuộc sống ở Lager. Cái chết bắt đầu từ chính những đôi giày: với hầu hết chúng tôi giày chính là công cụ tra tấn, chỉ vài giờ đi đã gấy ra những vét loét đau đớn rồi nhiễm trùng một cách chết người. Ai bị như vậy sẽ buộc phải bước đi hệt như đeo tạ dưới chân (hóa ra đó là lý do cho nhịp đi lạ lùng của đoàn quân khi diễu hành về buổi tối); đã bị thế thì lúc nào cũng đén cuối, ăn đấm, không thể chạy thoát nếu bị đuổi theo; chân sẽ sưng tấy lên, mà càng sưng thì phần gỗ và vải của giày chạm vào càng trở nên không thể chịu đựng được. Không còn cách nào khác là vào viện: nhưng vào viện với triệu chứng "dicke Füsse" (chân sưng) thì nguy hiểm lắm, bởi ai cũng biết, đặc biệt là bọn SS, rằng không có cách nào chữa khỏi bệnh này.

  Đây là còn chưa nhắc đến công việc, riêng bản thân nó đã là một sự rối bời của những quy định những cấm kỵ và những vấn đề.

Tất cả chúng tôi đều làm việc, trừ người ốm (để được công nhận là ốm đòi hỏi phải có một hành trang trí khôn và kinh nghiệm đáng kể). Hằng sáng chúng tôi đi theo đội từ trại đến Buna; hằng tối chúng tôi trở về, xếp theo đội hình 6 vuông. Chúng tôi được chia thành khoảng hai tram Kommando để làm việc, mỗi Kommando có từ mười lắm đến một trăm năm mươi người do một Kapo điều hành.

Có Kommando tốt và có Kommando kinh khủng: phàn  nàn là làm vận chuyển, công việc khá nặng, nhất là vào mùa đông, chưa cần tính lý do đặc biệt nào mà đơn thuần là vì luôn phải ở ngoài trời. Có cả những Kommando chuyên môn (thợ điện, thợ xấy, thợ nề, thợ hàn, thợ cơ khí, vv...), mỏi loại gắn với một xưởng hay một phòng của Buna và trực thuộc đốc công là dân thường nhiều hơn, thường là dân Đức hoặc Ba Lan. Chuyện này cũng chỉ trong giờ làm việc còn trong thời gian còn lại thì thợ chuyên môn (tổng cộng chỉ có không đến ba bốn trăm người) không được đối xử gì khác so với những người làm việc bình thường. Việc phân từng người vào mỗi Kommando do một văn phòng đặc biệt của Lager thực hiện - Arbeitsdienst, phòng này thường xuyên liên lạc với ban giám đốc Buna. Arbeitsdienst quyết định việc đó theo những tiêu chí không ai biết được, thường là dựa trên sự nâng đỡ và đút lót, theo cách mà nếu anh biết cách kiếm miếng ăn thì coi như cũng chắc kiếm được một chỗ tốt ở Buna.

Giờ làm việc thay đổi theo mùa. Mọi lúc trời sáng đều là giờ làm việc: vì thế phải làm ít giờ nhất vào mùa đông (8-12 và 12.30-16) và nhiều nhất vào mùa hè (6.30-12 và 13-18). Các Häftling sẽ không làm việc lúc trời tối hay khi có sương mù dày vì bất cứ lý do nào, nhưng công việc sẽ vẫn diễn ra bình thương khi trời mưa, tuyết hay (chuyện xảy ra khá thường xuyên) có gió dữ từ Các pát thổi sang, lý do là vì bóng tối hay sưong mù có thể tạo cơ hội thử cố trốn trại.

Cứ hai ngày Chủ nhật thì có một ngày phải đi làm như bình thường; còn trong những ngày Chủ nhật được coi là ngày nghỉ thì không phải làm việc ở Buna mà làm ở các xưởng bảo dưỡng của Lager, thế nên những ngày thực sự được nghỉ trở nên cực kỳ hiếm hoi.

Đó là cuộc sống của chúng tôi. Ngày ngày chúng tôi theo cái nhịp đã định trước, Ausrücken và Einrücken, đi làm và quay về; làm việc, ngủ và ăn; ốm, khỏi hoặc là chết.

... Rồi đến bao giờ  đây? Những tù củ cười vào câu hỏi đó, ai đặt câu hỏi này rõ là bọn mới đến, những người cũ chỉ cười mà không trả lời: với họ từ hàng tháng, hàng năm nay vấn đề về tương lai xa xôi đã trở nên nhạt nhòa bên cạnh những vấn đề trước mắt cấp thiết và cụ thể hơn: hôm nay được ăn lúc nào, bao giờ có tuyết, liệu có phải chuyển than không.

Nếu sáng suốt hơn, chắc hẳn chúng tôi đã phải chấp nhận cái sự thật hiển nhiên là sẽ không thể hiểu được số phận mình nữa, rằng mỗi điều phỏng đoán chỉ đều tùy tiện và hoàn toàn không có cơ sở thực tế.

Nhưng con người hiếm khi sáng suốt trong những chuyện dính đến số phận của chính mình: thường thì họ chọn một thái cực. Vì thế mà tùy vào từng tính cách mà có những người trong chúng tôi lập tức cho rằng đã mất hết, rằng ở  đây không thể sống nổi và kết cục đã kề cận lắm rồi; và với những người khác thì dù cho cuộc đời còn lại dài ngắn thế nào họ vẫn nghĩ có thể sẽ được giải thoát và điều đó sẽ xảy đến sớm thôi, rằng nếu như có đức tin và sức mạnh thì rồi chúng tôi sẽ được thấy lại nhà cửa và người thân. Hai kiểu người, cực kỳ bi quan và cực kỳ lạc quan, thật ra cũng không phân biệt rõ nét: không chỉ vì có nhiều người không thể biết trước được họ sẽ thế nào mà bởi phần đông mọi người khi không kiên định và không còn ký ức sẽ chuyển từ thái cực này sang thái cực kia tùy từng lúc và tùy tâm trạng người mình gặp phải.

Vậy là tôi ở dưới đáy sâu này. Nếu bị bắt buộc con người ta sẽ nhanh chóng học được cách xóa đi quá khứ hoặc tương lai. Mưòi lăm ngày sau khi vào trại, tôi đã thường xuyên thấy đói, cái đói kinh niên mà người tự do không biết đến, làm cho ta buổi tối phải mơ thấy, ngự trị trong mọi phần cơ thể ta; tôi đã kịp học không để bị ăn cắp, không những thế khi thấy quanh mình cái thìa, mẩu dấy, cái cúc nào lấy được mà không lo bị trừng trị, tôi đã biết bỏ túi và coi chúng hoàn toàn là của mình. Lòng bàn chân tôi đã có những vết cọ xát không thể lành được. Tôi đẩy xe, xúc đồ, dầm mình trong mưa, run người trong gió; cơ thể tôi không còn là của tôi: bụng tôi trướng lên, da thịt gầy mòn; mặt tôi buổi sang thì dày lên, buổi tuối thì hõm vào; vài người trong chúng tôi da vàng đi, vài người khác thì lại xám ngoét; chỉ vài ngày không gặp là chúng tôi khó lòng nhận ra nhau nữa.

Những người Ý chúng tôi định họp mặt nhau vào cuối mỗi tối Chủ nhật tại một góc của Lager; nhưng rồi chúng tôi ngừng ngay lập tức. Vì mỗi lần gặp nhau đếm người lại thấy ít đi, ai cũng tiều tụy hơn, nhợt nhạt hơn, thật quá buồn thảm. Và vì bước mấy bước đó sao mà nặng nhọc: gặp nhau để mà làm gì, chỉ khiến chúng tôi nhớ nhung, suy nghĩ, thà không gặp còn hơn.

Người dịch: NGUYỄN TRỌNG ĐỊNH và ĐOÀN NGỌC THANH, Dịch theo bản Tiếng Pháp LE DE UXIEME SEXE, Nhà xuất bản Gallimard Paris, 1976
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Primo Levi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.