Những gì mà chúng tôi đã và đang kể là cuộc sống không mấv rõ nét ở Lager. Rất nhiều người cùng thời chúng tôi đã sống trong cái cuộc sống nghiệt ngã, bị ép xuống đáy sâu đó. Nhưng mọi người chỉ sống một thời gian khá ngắn và vì thế người ta có thể đặt câu hỏi liệu có đáng và có nên ghi lại ít ký ức về cái hoàn cảnh ngoại lệ ấy của con người hay không.
Để trả lời câu hỏi đó, chúng tôi cảm thấy mình phải khẳng định là có. Chúng tôi thực sự tin rằng không một kinh nghiệm sống nào của con người là vô nghĩa và không đáng để phân tích. Không chỉ thế, từ cái cuộc sống đặc biệt mà chúng tôi đang kể người ta còn có thể rút ra những giá trị căn bản, cho dù không phải bao giờ những giá trị ấy cũng tích cực. Lager nổi tiếng còn vì nó là một thí nghiệm sinh học và xã hội vĩ đại, và chúng tôi muốn xem xét thí nghiệm ấy vĩ đại đến thế nào.
Hàng nghìn cá thể khác nhau về độ tuổi, hoàn cảnh, gốc gác, ngôn ngữ, văn hóa và thói quen bị nhốt chung với nhau sau những lớp rào dây kẽm gai, chịu một chế độ sống theo quy định, bị kiểm soát, tất cả đều chịu y như nhau, đều có mọi nhu cầu không được đáp ứng đủ. Cái chế độ ấy khắc nghiệt hơn bất cứ môi trường mà người muốn thử nghiệm có thể dựng lên nhằm tìm hiểu cái gì là cốt yếu và cái gì có thể học được trong cách xử sự của con thú-người khi phải vật lộn để sống.
Chúng tôi không tin vào suy luận hiển nhiên và dễ dàng cho rằng con người về cơ bản là xấu xa, ích kỷ, ngu ngốc và một khi các thể chế văn minh không còn nữa thì anh ta sẽ xử sự như vậy, còn "Häftling" không là gì khác ngoài một con người không có rào cản gì. Chúng tôi thì nghĩ, về chuyện đó không thể rút ra điều gì ngoài kết luận rằng khi đứng trước những nhu cầu và khó khăn vật chất dai dẳng, rất nhiều thói quen và bản năng xã hội sẽ giảm thành câm lặng.
Ngược lại chúng tôi thấy cần quan tâm đên chuyện này: con người có thể được chia thành hai dạng hoàn toàn khác biệt: những kẻ sống sót va những kẻ chết chìm. Những cặp đối nghịch khác (người tốt kẻ xấu, người khôn kẻ dại, kẻ hèn nhát người dũng cảm, người may người không may) đều không phân biệt được rõ nét, đều không thiết thực và có quá nhiều mức độ phức tạp ở giữa hai thái cực.
Phân biệt theo kiểu sống sót và chết chìm không được thấy rõ trong cuộc sống bình thường, vì bình thường con người không chỉ có một mình, khi cuộc đời chìm nổi số phận anh ta vẫn luôn gắn chặt với những người xung quanh và vì thế chuyện ai đó mạnh mãi lên không giới hạn chỉ là ngoại lệ, cũng như chẳng có ai cứ rơi mãi từ thất bại này đến thất bại khác cho đến khi sụp hoàn toàn. Hơn thế nữa mỗi con người thường có những nguồn lực tình thân, thể chất và tài chính, nên khả năng mắc vào một vụ chìm tàu hay một cảnh đói khát nào đó là khá thấp. Bên cạnh đó còn có những động thái giúp cân bằng từ phía luật pháp và từ ý thức đạo đức - vốn là luật pháp trong lòng mỗi người. Chính vì thế một xã hội càng được coi là văn minh nếu luật pháp ở đó càng hiệu quả sáng suốt và không để những người khốn khổ trở nên quá khốn khổ cũng như không cho những kẻ quyền thế trở nên quá quyền thế.
Nhưng ở Lager thì không như vậy: ở đây cuộc đấu tranh sinh tồn không nhân nhượng vì tất cả đêu hoàn toàn cô độc. Nếu một tay Null Achtzehn bất kỳ chao đảo, anh ta sẽ không thấy bàn tay nào chìa ra với mình mà chỉ có những kè gạt anh sang vệ đường, vì không ai quan tâm đến việc lại một "mussulman nữa hằng ngày lê bước đến chỗ làm. Nếu ai đó có được phép màu nhờ vào kiên nhẫn hay xảo quyệt, tìm được một cách để trốn khỏi những công việc nặng nhọc nhất hay có một nghệ thuật kiếm ra vài gam bánh thì sẽ cố mà giấu biệt. Anh ta sẽ được coi trọng, được nể trọng vì chuyện đó và bản thân anh ta sẽ thu lợi khi được nể trọng. Anh ta sẽ trở nên mạnh hơn, và vì thế sẽ được người khác sợ hãi, mà ai được người khác sợ hãi thì sẽ ngay lập tức trở thành ứng cử viên cho loại sống sót.
Trong lịch sử và trong cuộc sống đôi khi xuất hiện một quy định tàn bạo, được gọi là "ai có sẽ được thêm, ai không có sẽ mất hết". Ở Lager, nơi mà con người cô độc và cuộc chiến sinh tồn trở lại cái dạng nguyên thủy của nó thì cái quy định ấy hoàn toàn phát huy tác dụng và được tất cả mọi người biết đến. Với những người thích nghi được, các cá nhân mạnh mẽ và tàn bạo, bọn cầm đầu sẽ giữ quan hệ tốt, gần như thân mật vì chúng hy vọng sau này sẽ có thể có ích. Nhưng với mussulman - bọn đang suy sụp thì không đáng để nói chuyẹn, mà ai cũng biết bọn ấy chỉ biết than vãn, kể lể ở nhà được ăn những món gì. Bọn ấy cũng không đáng kết bạn, vì không có hiểu biết đặc biệt gì, không kiếm được thêm suất bánh nào, không làm việc trong các Kommando có lợi và không biết cách thức xoay xở bí mật nào. Ngoài ra, ai cũng biết bọn ấy chỉ ở đây lạm thời, vài tuần nữa bọn chúng sẽ chẳng lưu lại gì ngoài một nắm tro ở một trại nào đó cách đấy không xa với một con số bị gạch chéo trong sổ. Và dù có bị nhận chìm, bị cuốn đi không kịp thở trong cái đám vô số những đứa giống hệt nhau như thế, bọn chúng cũng chỉ biết chịu đựng và buông trôi mình trong một sự cô độc riêng đen tối, rồi cô độc chết, cô độc biến mất mà không để lại dấu ấn gì trong ký ức của bất cứ ai.
Có thể đọc được kết quả của quy trình chọn lọc tự nhiên dã man ấy trong con số thống kê về dân số các Lager. Ở Auschwitz năm 1944 chỉ có vài trăm người sống sót trong số toàn bộ tù binh Do Thái cũ (về những người khác chúng tôi không nói ở đây vì điều kiện của họ khác) - các "kleine Nummer", những số nhỏ hơn một trăm năm mươi nghìn. Không một ai trong số sống sót là Haftling bình thường, chỉ làm việc trong những Kommando phổ thông và hưởng suất ăn bình thường mà chỉ toàn là bác sĩ, thợ may, thợ giày, nghệ sĩ, nấu bếp, những kẻ đồng tính hấp dẫn, những người là bạn hay đồng hương của chỉ huy nào đó trong trại. Thêm vào số đó là những kẻ đặc biệt tàn bạo, mạnh mẽ dã man được đưa vào những vị trí như Kapo, Blockaltester vv... (chức: do bọn chỉ huy SS phong, cái bọn khi chọn lựa việc ấy đã chứng tỏ bọn chúng có một sự hiểu biết ma quỷ về con người). Cuối cùng là những người dù không nắm chức gì trong tay nhưng với sự tinh ranh và năng lực của mình luôn xoay xở thành công và nhờ thế kiếm được vừa đồ dùng vừa uy tín lại vừa được các thế lực trong trại nể vì, buông lỏng. Ai không biết cách trở thành một tay xoay xở Kombinator, Prominent (thật là những từ độc địa) sẽ sớm trở thành mussulman. Trong đời thường có thể tồn tại một lối thứ ba, quy định vốn là như thế; nhưng trong trại tập trung thì không.
Chết chìm là việc đơn giản nhất: chỉ cần tuân theo tất cả những mệnh lệnh nhận được, không ăn gì khác ngoài suất ăn, tuân thủ kỷ luật công việc và của trại. Kinh nghiệm cho thấy làm thế thì chỉ có những trường hợp cá biệt mới trụ được quá ba tháng. Tất cả các mussulman đến phòng hơi ngạt đều có cùng câu chuyện ấy, hay đúng hơn là họ chẳng có chuyện gì, họ theo con dốc trượt xuống tận đáy, tự nhiên như những con sông chảy ra biển. Bị đưa vào trại, trước khi kịp thích nghi họ bị vượt do không có khả năng, do đen đủi, do tai nạn ngớ ngẩn nào đó, họ bị đánh bại về thời gian, họ không học tiếng Đức, không rút ra được gì trong mớ bòng bong quỷ quái các luật lệ và điều cấm trước khi thân xác họ đã bắt đầu suy sụp. Đến lúc ấy thì chẳng cái gì cứu được họ khỏi bị chọn lọc hoặc chết vì kiệt sức. Cuộc đời của họ ngắn ngủi nhưng những con số của họ thì bất tận. Họ, những mussulman, những kẻ chết chìm, phần chính của trại; họ, đám đông vô danh, liên tục đổi nhưng luôn giống hệt nhau, những kẻ không còn là người, đi đều và làm việc trong câm lặng, tia sáng trong họ đã tắt còn họ đã quá rỗng không thể thổi bùng nó lên. Người ta khó mà gọi họ là người sống nhưng cũng khó mà gọi cái chết của họ là cái chết, đứng trước cái chết bọn họ không sợ nữa, vì đã quá kiệt sức không còn hiểu chết nghĩa là gì.
Bọn họ tràn ngập ký ức của tôi, hiện diện nhưng không rõ mặt, để có một hình ảnh bao hàm được tất cả nỗi đau đớn của thời kỳ ấy của chúng tôi, tôi sẽ chọn hình ảnh mà tôi quá quen: người đàn ông hốc hác, đầu rũ xuống, vai gồ lên, gương mặt và đôi mắt trống rỗng không một vệt suy nghĩ.
Trong khi những kẻ chết chìm không có câu chuyện riêng của mình, con đường diệt vong rất rộng nhưng chỉ có một, thì để sống sót lại rất nhiều đường, khó khăn và bất ngờ.
Như chúng tôi đã nói, con đường chủ đạo chính là Prominenz. Prominenz là tên gọi những kẻ có chức quyền, bắt đầu từ quản lý Haftling(Lageraltester) đến Kapo, rồi đầu bếp, y tá, gác đêm, cho tới cả những người quét dọn lán và các Scheissminister và Bademeister (phụ trách nhà xí và nhà tắm). Những Prominent Do Thái là trường hợp đặc biệt đáng quan tâm, vì trong khi những người khác khi vào trại sẽ tự động có được chức nhờ vào gốc gác hay uy thế tự nhiên thì dân Do Thái phải mưu đồ và đấu tranh khốc liệt mới hòng có được.
Những Prominent Do Thái họp thành một hiện tượng nhân cách nổi bật và đáng buồn. Trong họ có nỗi chịu đựng trong hiện tại, trong quá khứ và được truyền lại từ ngàn xưa. Có sự thù nghịch trước đối phương vốn tồn tại sẵn trong truyền thống và được dạy từ tấm bé. Hai thứ đó quy tụ lại biến họ thành những con quái vật phi xã hội và vô cảm.
Bọn họ là sản phẩm đặc trưng của cỗ máy Lager Đức: những kẻ đang phải sống trong cảnh nô lệ thấy có một vị trí ưu tiên, nhẹ nhàng hơn, một cơ bội để sống sót đổi được bằng việc phản bội lại tình bằng hữu với bạn bè mình, tất nhiên sẽ có kẻ can tâm đổi. Những kẻ đó sẽ không còn chịu các luật lệ bình thường, không thể đụng đến hắn được nữa, và Scheissminister càng nắm nhiều quyền lực hắn sẽ trở nên càng căm ghét mọi người và bản thân m nh thì đáng căm ghét hơn. Khi được trao quyền điều khiển một nhóm những người bất hạnh, nắm trong tay sự sống của họ, hắn sẽ dã man và bạo ngược vì hắn hiểu nếu không đủ dã man và bạo ngược thì sẽ có kẻ thích hợp hơn chiếm chỗ của mình. Ngoài ra, khi khả năng căm ghét của hắn không được những kẻ đàn áp thưởng công thì nỗi căm ghét ấy sẽ quay lại trút một cách vô lý lên những người bị đàn áp: hắn chỉ thỏa mãn được khi đổ lên đầu những người trong tay mình những bất công mà hắn phải chịu.
Chúng tôi hiểu rằng tất cả những điều này khác xa với cách bình thường vẫn có là những người bị đàn áp sẽ xích lại với nhau, nếu không phải để chống chọi thì cũng là để đồng cam cộng khổ. Chuyện ấy chúng tôi cho rằng có thể xảy ra khi sự đàn áp ở dưới một mức nào đó, hay khi kẻ bị đàn áp chịu đựng hay cho phép chuyện đó vì khoan dung, vì thiếu kinh nghiệm. Nhưng chúng tôi thấy rằng ở thời của mình tại tất cả các nước bị một dân tộc ngoại lai tiến quân xâm lược đều hình thành một tình trạng ganh đua thù ghét tương tự giữa những người bị xâm lược. Điều ấy, cũng như nhiều đặc tinh khác của con người đều có thể thấy ở Lager, thông qua những ví dụ đặc biệt tàn nhẫn.
Không có nhiều thứ để nói về các Prominent không phải Do Thái, vì bọn họ chiếm số đông (không có Haftling "Ariăng" nào không có chức, dù chỉ nhỏ mọn). Đương nhiên chúng cũng là một lũ vô cảm và thú vật, phần đông vốn là những tội phạm được chọn từ các nhà tù Đức để thực hiện công việc giám thị ở trại tập trung. Chúng tôi tin chăc bọn chúng đã được lựa chọn kỹ, vì không thể nào những con người kinh khủng sa đọa chúng tôi gặp phải ở trại lại có thể là ví dụ chung về người Đức, thậm chí cũng không thể là ví dụ chung về những tù nhân Đức. Khó mà giải thích được ờ Auschwitz bọn Prominent chính trị người Đức người Ba Lan và người Nga tranh giành với tù thường một cách xấu xa như thế nào, nhưng người ta đều biết rằng loại hình tù chính trị ở Đức được áp dụng cho cả những trường hợp như vận chuyển lậu, quan hệ bất họp pháp với phụ nữ Do Thái, ăn trộm của quan chức trong Đảng. Nhũng tù "chính trị" thực sự bị giam và chết ở các trại mà tên tuổi cũng đã quá nổi tiếng, trong những điều kiện đặc biệt khắc nghiệt, nhưng khác xa những chuyện đang tả ở đây về nhiều mặt.
Ngoài những chức cụ thể đã nói đến, còn có một loại tù nữa mặc dù không được ưu ái từ đầu nhưng biết vật lộn để sống sót bằng sức mạnh của mình. Họ phải lội ngược dòng, chiến đấu từng ngày với sự vất vả, cái đói, cái lạnh và sự buông xuôi bắt nguồn từ những thứ kia. Họ phải kháng cự lại kẻ thù, không thương xót địch thủ; phải mài sắc trí khôn, dùi mài lòng kiên nhẫn, tăng cường ý chí. Ngoài ra, phải đạp lên nhân phẩm và chôn vùi lương tâm, phải xông ra tàn bạo với những kẻ tàn bạo, phải buông theo những sức mạnh bản năng không ngờ trỗi dậy đã từng cứu sống tổ tiên mình trong những thời kỳ dã man xa xưa. Những con đường mà chúng tôi nghĩ ra và thực hiện để không phải chết cũng nhiều như muôn hình vạn dạng bản tính con người. Tất cả đều tạo nên một cuộc chiến kiệt lực của một người chống lại tất cả và là một đống sai lầm, thỏa hiệp. Trừ những kẻ có quyền hoặc được may mắn phù hộ, chỉ một số rất ít những cá nhân nổi trội, có tính cách của những vị thánh hay những kẻ tử vì đạo mới có thể sống mà không từ bỏ đạo đức của mình.
Trong nhiều cách để vươn lên sống sót, chúng tôi muốn kể câu chuyện của Schepschel, Alfred L., Elias và Henri. Schepschel sống ở Lager từ bốn năm nay, anh ta đã chứng kiến hàng chục nghìn người giống mình chết, bắt đầu từ cuộc tàn sát khiến anh ta phải trốn khỏi ngôi làng ở Galicia. Anh ta đã từng có vợ và năm con, một cửa hàng bán yên ngựa rất ăn nên làm ra, nhưng anh ta đã quen không còn nghĩ về những chuyện ấy từ lâu lắm rồi mà chỉ còn coi mình là một cái vỏ cần tuần tự nhồi đầy. Schepschel không to khỏe cho lắm, không quá dũng cảm và cũng không quá xấu xa, cũng không cực kỳ ranh ma. Anh ta chưa bao giờ tìm được một cách xoay xở nào đõ được nhiều cho mình, mà chỉ có những vụ lẻ tẻ nhỏ mọn - những "kombinaqe" như ở đây vẫn gọi.
Thỉnh thoảng anh ta ăn trộm một cái chổi ở Buna và bán lại cho Blockältester, khi dành dụm được ít vốn – tức bánh mì - anh ta thuê mấy dụng cụ của tay đồng hương làm thợ giày ở Block, và chế ra dây đeo quần từ những sợi dây thép xoắn vào nhau; Sigi kể với tôi là trong giờ nghỉ trưa còn thấy anh ta hát và nhảy múa trước lán của bọn công nhân Ba Lan để bọn nó thỉnh thoảng trả công cho ít xúp thừa.
Nghe kể thế người ta có thể cảm thấy thương Schepschel như thương một kẻ khốn khổ chẳng còn gì trong tâm hồn ngoài sự khúm núm và lòng ham sống sơ đẳng, dai dẳng theo đuổi cuộc chiến nhỏ nhoi của mình để không chết chìm. Nhưng Schepschel củng chẳng phải ngoại lệ gì, khi có cơ hội anh ta không hề ngần ngại bán đứng Moischl, đồng phạm của mình trong vụ trộm cắp ở nhà bếp, hòng lọt vào mắt Blockaltester và xin một chân cọ nồi.
Còn câu chuyện về kỹ sư Afred L. lại chỉ ra cái chuyện hoang đường về gốc gác bình đẳng giữa người và người vô nghĩa đến thế nào.
Ở quê mình, L. quản lý một nhà máy sản xuất sản phẩm hóa học cực kỳ lớn, có tên tuổi trong giới công nghiệp trên toàn châu Âu. Anh ta khoảng năm mươi tuổi, khỏe mạnh. Không biết làm sao mà anh ta lại bị bắt vào trại, nhưng khi vào anh ta cũng chịu số phận như những người khác: trần trụi, vô danh, cô độc. Vào cái lúc chúng tôi mới quen thì anh ta đã khá suy sụp, nhưng vẫn giữ được trên gương mặt những dấu ấn của một tính cách đàng hoàng ngăn nắp. Thời ấy anh ta chỉ có ưu thế là được cọ rửa thùng xúp của đám công nhân Ba Lan; cái công việc không hiểu xoay xở bằng cách nào có được ấy giúp anh ta kiếm thêm nửa bát xúp mỗi ngày. Từng ấy tất nhiên không đủ để thỏa mãn cơn đói, nhưng chưa ai nghe thay anh ta than thở bao giờ. Những lời thốt ra chỉ là những điều khiến người ta tưởng anh ta có thế lực bí mật nào ghê gớm lắm, một cách "xoay xở" vững chắc và rất hời.
Điều đó còn được khẳng định bởi vẻ ngoài của anh ta. L. có "tướng": khuôn mặt và bàn tay luôn sạch bong, cứ mười lăm ngày lại giặt áo chứ không đợi đến kỳ đổi hai tháng một lần- một sự tự giác hiếm hoi vì để giặt được ác cần phải kiếm ra xà phòng, thời gian, chỗ để phơi trong cái nhà tắm chật kín người; phải quen việc trông áo cẩn thận , không rời mắt một giây phút nào và mặc cái áo vẫn còn ướt vào người khi đến giờ trật tự và đèn đóm tắt hết. Anh ta có một đôi guốc gỗ để đi tắm, và thậm chí cái áo tù kẻ sọc cũng hợp với thân hình anh ta, cái áo duy nhất trong cả đám trông có vẻ mới và sạch sẽ. L. đã lo tạo cho mình vẻ ngoài của một Prominent khá sớm trước khi leo được lên mức đó. Rất lâu sau đó tôi mới biết rằng tất cả cái vẻ tươm tất trưng ra đó L. đã phải cố gắng bằng một sự ngoan cường khó tin để kiếm từng thứ một, từng ân huệ một bằng chính khẩu phần bánh của chính mình, ép mình vào một chế độ còn ngặt nghèo hơn nữa.
Chiến lược của anh ta là chiến lược dài hạn, và quả là đáng chú ý nếu xét đến việc phải thực hiện nó trong cái môi trường nơi chủ yếu người ta chỉ lo cái trước mắt. L. đã đi theo chiến lược của mình với một kỷ luật bản thân cực kỳ nghiêm khắc, anh ta không thương xót bản thân và càng không thương xót những bạn tù lỡ ngáng ngang đường. L. hiểu rằng khoảng cách giữa việc được nể nang và việc thực sự có quyền là rất ngắn, và bất cứ ở đâu, đặc biệt là giữa cái đám người ngang ngang nhau ở Lager này, một vẻ ngoài đáng nể là sự đảm bảo để được nể. Anh ta chăm chút để không bị lẫn vào đám đông, làm việc chăm chỉ, đôi khi còn quở trách những bạn tù lười bằng một thứ giọng vừa thuyết phục vừa khẩn khoản. Anh ta tránh không tham gia cuộc chiến hằng ngày để dành chỗ tốt nhất khi xép hàng lấy xúp, và tập cho mình nhận phần xúp đầu tiên, loãng nhất, nhằm mục đích khiến Blockaltester chú ý ến tính kỷ luật của mình. Anh ta còn luôn xử sự cực kỳ lịch sự với những bạn tù khac, điều nay thật hợp với bản tính ích kỷ cực độ của anh ta, và thế là hoàn chỉnh sự cách biệt anh ta muốn tạo cho mình.
Khi Kommando Hóa được thành lập, như tôi sẽ kể ở phần sau, L. hiểu rằng thời cơ của mình đã đến: bộ quần áo nghiêm chỉnh và khuôn mặt dù bị trọc đầu nhưng cạo râu đàng hoàng của anh ta giữa cái đám bạn tù bẩn thỉu nhếch nhác đã đủ để thuyết phục ngay lập tức cả Kapo lẫn Arbeitsdienst rằng anh ta chính là kẻ sống sót điển hình, là một Prominent tiềm năng, và nhờ đó được phong thành chuyên viên", phong chức kỹ sư trưởng của Kommando, và được Ban quản lý Buna nhận vào làm phân tích trong phòng thí nghiệm của Khoa Xtiren. Sau đó dần dần anh ta đưạc giao kiểm tra các nhân viên mới của Kommando Hóa xem khả năng chuyên môn của họ thế nào, việc mà anh ta thực hiện cực kỳ nghiêm ngặt, đặc biệt là với những người có khả năng trở thành đối thủ trong tương lai của mình.
Tôi không biết gì về phần sau câu chuyện của anh ta, nhưng rất có thể anh ta thoát chết, và đang sống cuộc đời lạnh lùng của một kẻ đứng trên quyết tâm và vô cảm.
Không hiểu tại sao Elias Lindzin, 141565, lại đột nhiên xuất hiện ở Kommando Hóa. Hắn ta là một tên lùn không cao quá mét rưỡi, nhưng có những cơ bắp tôi chưa từng thấy ở người nào. Khi hắn cởi trần người ta có thể thấy từng múi cơ chuyển động dưới lớp da, nhanh nhẹn mạnh mẽ như từng con thú riêng lẻ. Nếu phóng to thân thể hắn lên ta sẽ có một hình mẫu cho Hercules, nhưng đừng có nhìn vào mặt hắn.
Dưới lớp da đầu những gờ sọ của hắn nổi lên quá cao. Cái sọ to trông như làm bằng kim loại hay đá, trông rõ vệt tóc ăn xuống chỉ cách lông mày chừng đốt ngón tay. Cái mũi, cái cằm, cái trán và gò má đều thô và bẹt, cả khuôn mặt hắn như cái thớt, trông chỉ đáng đập vào. Từ thân hình hắn tỏa ra một kiểu sức lực của loài thú.
Nhìn Elias làm việc là một cảnh gây sững sờ. Những Meister người Ba Lan, thậm chí bọn Đức đôi khi cũng đứng lại để chiêm ngưỡng hắn. Hình như không việc gì là hắn không làm được cả. Trong khi chúng tôi khó nhọc mới vác được một bao xi măng thì Elias vác hai, rồi ba, rồi bốn, giữ thăng bằng tất cả các bao kiểu gì không biết. Trong khi bước rất nhanh trên đôi chân ngắn ngủn bè bè của mình hắn nháy mắt dưới cái đống đang phải đội, không ngừng cười, chửi, hét hay hát hò, tựa như lá phổi của hắn được làm bằng đồng vậy. Dù đi giày gỗ Elias vẫn leo lên giàn giáo thoăn thoắt như khỉ, chạy băng băng qua các cầu vượt trên cao, đội sáu viên gạch trên đầu mỗi lần. Hắn biết chế ra thìa từ một mẩu sắt hay mài một miếng thếp phế liệu thành con dao; chỗ nào cũng có thể kiếm được giấy, gỗ, than khô và nhóm lửa chỉ trong nháy mắt ngay cả dưới trời mưa. Hắn biết nghề may, nghề mộc, nghề giày, nghề thợ cạo, nhổ nước bọt cực xa; hát với một giọng trầm không đến nỗi tệ những bài hát Ba Lan và Yiddish chưa ai nghe thấy bao giờ. Hắn có thể ăn sáu, tám đến mười lít xúp mà không nôn hay bị ỉa chảy, và sau đó đi làm ngay lập tức. Hắn có thể làm phình lên một cục như cái bướu ở giữa hai vai và khập khiễng lượn quanh các lán giả giọng, hét và chửi bới những từ không hiểu nổi trong sự hoan hỉ của bọn cầm đầu. Tôi đã nhìn thấy hắn đánh nhau với một tay Ba Lan cao hơn hắn hẳn một cái đầu, hạ anh ta bằng một cú thúc sọ thẳng vào bụng chính xác và mạnh như viên đạn. Tôi chưa bao giờ trông thấy hắn nghỉ ngơi, im mồm hay ngồi yên, tôi cũng chưa nghe nói hắn ốm hay bị thương bao giờ.
Không ai biết gì về cuộc sống tự do trước đây của hắn. Hơn nữa tưởng tượng ra Elias như một người tự do đòi hỏi phải có trí tưởng tượng và suy diễn rất mạnh. Hắn không nói tiếng gì khác ngoài tiếng Ba Lan và một thứ tiếng Yiddish biến dạng hiếu chiến của vùng Vacsava. Không chỉ thế hắn còn không thể nói được một câu chuyện cho nghiêm chỉnh. Hắn ta tầm hai mươi mà cũng có thể là bốn mươi tuổi, thường thì hắn bảo hắn ba mươi ba và đã cho ra đời mười ba đứa con, điều không phải là không thể. Hắn nói luôn mồm, kể cả những chuyện vớ vẩn nhất, giọng lúc nào cũng vang rền và ngữ điệu hùng hồn, bắt chước loạn lên như thằng điên, như thể đang diễn trước một đám công chúng đông đúc. Mà tất nhiên hắn thì chả bao giờ thiếu người xem. Những tên hiểu được hắn nói gì thì nuốt từng lời của hắn rồi gập bụng vào mà cười, dập vào vai hắn phấn khích, cổ vũ cho hắn tiếp tục. Còn hắn thì kiêu hãnh làm trò giữa đám đông, lượn vòng quanh như một con ác thú trong vòng vây của khán giả, mắng hết người này đến người kia rồi đột nhiên vươn móng vuốt túm ngực áo ai đó, lôi người ta không cưỡng lại được gần hắn, phọt vào ặt anh ta một câu chửi không rõ nghĩa, rồi đẩy anh ta lại như đẩy một cọng rơm, hắn giơ hai tay lên trời như một con quái vật và tiếp tục cái vở diẽn điên rồ dữ dội của mình trong tiếng cười và vỗ tay tán thưởng.
Tiếng tăm về khả năng làm việc của hắn lan ra khá nhanh, và theo quy định điên rồ của Lager hắn không phải làm việc. Chỉ khi nào có việc gì đặc biệt cần khéo tay hay cần sức thì Meister mới trực tiếp gọi hắn.
Ngoài những điều đáng kinh ngạc mà hắn láo xược và thô bạo thể hiện trước sự mệt nhọc hằng ngày của chúng tôi, hắn còn chuyên môn lẩn đi đâu, thăm viếng hay mạo hiểm không hiểu ở xó nào trong xưởng, sau đó quay về với túi áo phồng lên và cái bụng căng tròn rõ rệt.
Elias ăn trộm một cách bẩm sinh và vô tư: trong chuyện ấy hắn thể hiện một bản năng khôn ngoan của bọn thú hoang. Hắn không bao giờ bị bắt quả tang, vì hắn chỉ trộm khi nào thật an toàn. Nhưng khi có cơ hội, Elias sẽ trộm, không cưỡng lại được và hiển nhiên như một cộng một bằng hai. Khó mà bắt quả tang được hắn, và nếu có bắt được thi trừng phạt hắn cũng không ích gì, với hắn trộm cắp cũng là một hoạt động sống như là thở hay ngủ vậy.
Giờ ta có thể hỏi cái tay Elias này là ai. Hắn có phải một tên điên, một dị nhân không hiểu nổi tình cờ rơi vào Lager hay không. Hay hắn là một tên lộn giống, khác với người thường, thích hợp hơn với những điều kiện sống nguyên thủy của cái trại này. Hoặc có thể hắn chính là một sản phẩm của trại, thứ mà chúng tôi sẽ trở thành nếu chưa chết và nếu cái trại này không tan tành trước.
Có vài phần sự thật trong cả ba giả thuyết. Elias đã sống sót qua sự hủy diệt ở bên ngoài, vì cơ thể hắn đúng là không thể hủy diệt được. Hắn tồn tại được qua sự hủy diệt ở bên trong, vì hắn mất trí. Vì thế đầu tiên phải nói hắn là kẻ sống sót: hắn phù hợp nhất, mẫu người tương thích nhất với kiểu sống này.
Nếu Elias lại được tự do, với những khuôn khổ của xä hội con người hắn sẽ bị khống chế trong một nhà tù hoặc một nhà thương điên. Nhưng ở đây, tại Lager, không có tội phạm cũng không có người điên. Không có tội phạm vì không có quy tắc đạo đức nào để vi phạm, không có người điên vì trong cái không gian và hoàn cảnh này chúng tôi chỉ có nổi một kiểu hành động duy nhất.
Ở Lager, Elias phát triển và đắc thắng. Hắn làm việc giỏi, xoay xở giỏi, và nhờ cú đúp đó hắn chắc chắn không bị chọn lọc và được các tên cầm đầu, các bạn tù nể nang. Với những ai không có nguồn nội lực vững vàng, không biết tự trau dồi sức mạnh cần thiết để đeo đẳng sự sống, con đường duy nhất để được cứu thoát là trở thành Elias: trở nên bệnh hoạn và thú vật. Tất cả những con đường khác đều không đưa đến đâu.
Nói như thế sẽ có người thử đưa ra kết luận, hay thậm chí là quy luật cho cuộc sống thường ngày của chúng ta. Xung quanh chúng ta chẳng cũng có những tên Elias đã thành hình ít nhiều rồi sao? Chúng ta chẳng cũng thấy những người sống không mục đích, chối bỏ mọi sự chi phối và mọi lương tâm sao? Những tên đó chẳng đã sống chỉ cho bản thân mình đúng như Elias, bất chấp tất cả những khiếm khuyết của chúng.
Câu hỏi ấy rất nghiêm túc, nhưng sẽ không được bàn đến vì về những cá nhân sống ngoài Lager đã có rất nhiều người viết, còn chúng tôi muốn đây là những câu chuyện về Lager. Chúng tôi dù muốn nói thêm một điều, dù điều này có thể có ý nghĩa thế nào đi chăng nữa và dù từ bên ngoài chúng ta có thể phán xét hắn đến đâu: Elias rất có thể là một con người hạnh phúc
Henri thì lại lành mạnh và văn minh xuất chúng, anh ta có cả một lý thuyết hoàn chỉnh và hê thống về các cách sống sót ở Lager. Anh ta mói chỉ hai mươi hai tuổi, cực kỳ thông minh, biết nói tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Nga, với một tri thức khoa học và xã hội tuyệt hảo. Anh trai anh ta đã chết ở Buna mùa đông năm ngoái, và từ hôm ấy Henri chấm dứt mọi liên hệ tình cảm. Anh ta co mình lại trong một lớp vỏ bọc, tập trung đấu tranh để sống với tất cả sức mạnh chắt lọc được từ nền giáo dục tinh tế và trí tuệ nhạy bén cùa mình. Theo lý thuyết của Henri có ba cách thoát khỏi sự hủy diệt mà không hổ thẹn với việc làm người: xoay xở, tình thương và trộm cắp.
Bản thân anh ta thực hiện cả ba cách. Không một chiến lược gia nào qua mặt được Henri trong việc bịp (mà anh ta gọi là "gieo trồng") bọn tù người Anh. Trong tay anh ta bọn chúng thực sự trở thành những con gà đẻ trứng vàng, vì chỉ cần trao đổi một điếu thuốc Anh là đủ no bụng một ngàv. Đã có lần người ta trông thấy Henri được ăn hẳn một quả trứng luộc.
Việc trao đổi hàng hóa từ bọn Anh chịu sự độc quyền của Henri, và chính đó là chỗ để xoay xờ.
Nhưng cái vũ khí chính để Henri làm ăn được với bọn Anh và với những người khác lại chính là tình thương. Henri có thân hình và khuôn mặt thanh thoát, trông tựa như Thánh Sebastian xứ Sodoma: đôi mắt anh ta đen và sâu, cằm chưa có râu và anh ta cử động với một vẻ trang nhã từ tốn bẩm sinh (nhưng lúc nào cần thì cũng biết chạy nhảy nhanh như sóc, còn kả năng ăn uống của anh ta thì chỉ thua có Elias), Henri biết rất rõ những lợi thế tự nhiên ấy của mình, và anh ta tận dụng chúng với sự lạnh lùng của người thao tác máy móc khoa học.
Kết quả thật đáng kinh ngạc. Thực ra nó là một khám phá: Henri hiểu ra rằng tình thương - một tình cảm bản năng và không suy xét - sẽ lớn lên rất nhanh nếu được gieo trồng khéo léo chính ở tâm hồn của những kẻ cục súc chỉ huy chúng tôi, những kẻ không ngần ngại đấm gục chúng tôi chẳng vì lý do gì hay đạp chúng tôi xuống đất. Anh ta đã không bỏ lỡ cái phát hiện đó và xây dựng một chiến thuật riêng của mình dựa vào đó.
Như con tò vò làm tê liệt những con sâu lông lá báng cách tiêm trúng vào yếu huyệt duy nhất của chúng, Henri chỉ cần đưa mắt qua là đánh giá được đối tượng, "son type"; anh ta bắt chuyện ngắn gọn, nói với ai thì bằng chính ngôn ngữ của người ấy, và "type" đó bị chinh phục: càng nghe càng thấy có cảm tình với anh ta, xúc động trước số phận của chàng trai trẻ bất hạnh, và Henri không mất nhiều thời gian để có thể khai thác chuyện đó.
Không có tâm hồn chai sạn nào mà Henri không thể làm mềm nếu như anh ta thực sự muốn. Ở Lager, và cả ở Buna, số người bảo trợ cho anh ta nhiều không đếm xuể: bọn lính Anh, những công nhân thường dân người Pháp, Ukraine, Ba Lan, “tù chính trị" Đức; ít nhất là bốn Blockaltester, một đầu bếp, thậm chí là cả một tay SS. Nhưng chỗ yêu thích nhất của anh ta là Ka-Be. Henri tự do ra vào ở Ka- Be, bác sĩ Citron và bác sĩ Weiss không chỉ bảo trợ mà còn là bạn của anh ta, họ chữa cho anh ta bất cứ lúc nào và với bất kỳ chẩn đoán nào mà anh ta muốn, điều này thường xuyên xảy ra trước các kỳ chọn lọc hay trong những giai đoạn làm việc cực nhọc hơn, để "ngủ đông", như lời anh ta nói.
Có nhiều tình bạn đáng giá như thế, rõ ràng là Henri rất ít khi phải vận đến cách thứ ba, trộm cắp. Hơn nữa về chuyện này có thể thấy là anh ta không sẵn lòng tâm sự.
Nói chuyện với Henri trong những giờ giải lao rất dễ chịu. Và có ích nữa: không có chuyện gì trong trại mà anh ta không biết, không suy luận theo cái cách mạch lạc và rõ ràng của mình. Henri nói về những chiến công của mình một cách khiêm tốn có học, như nói về những con mồi ít giá trị, nhưng anh ta sẵn sàng lái sang chuyện các tính toán của mình khi đến gần Hans hỏi thăm cậu con trai đang ả ngoài mặt trận, hay chỉ cho Otto xem những vết sẹo trên cẳng chân.
Nói chuyện với Henri thú vị và có ích, đôi khi ta còn cảm thấy anh ta thật gần gũi và nhiệt tình, có thể trao đổi, thậm chí có cảm tình với anh ta. Ta tưởng như cảm nhận được một tâm khảm nhân văn, đau đớn và có ý thức trong nhân cách khác biệt của anh ta. Nhưng chỉ khoảnh khắc sau, khi nụ cười buồn bã của anh ta đông lại thành một cái nhăn nhó lạnh lẽo, như thể anh ta đã soi gương để chuẩn bị trước đó và Henri lễ phép xin lỗi: "... j'ai quelque chose à faire", "... j'ai quelqu'un à voir", để lại tung mình vào một cuộc săn và cuộc chiến mới. Tàn khốc, xa cách, đóng kín trong cái vỏ bọc của anh ta, kẻ thù của tất cả, xảo quyệt lạ lùng và không thể hiểu nổi, giống như con rắn trong Sáng Thế ký.
Sau tất cả những cuộc trò chuyện với Henri, kể cả những lần thân mật nhất, tôi luôn vương vất cảm giác của kẻ thua cuộc, hoang mang ngờ vực rằng mình đã sơ suất trở thành một công cụ trong đôi tay anh ta chứ không phải một người bạn trò chuyện.
Tôi biết bây giờ Henri vẫn còn sống. Tôi sẵn sàng đổi nhiều thứ để biết là người tự do anh ta sống thế nào, nhưng không hề muốn gặp lại anh ta.