Có Được Là Người

Lượt đọc: 137 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KA-BE

❊ ❊ ❊

Các ngày đều giống nhau, không dễ đếm. Từ bao nhiêu ngày rồi không biết chúng tôi phải làm việc theo từng nhóm hai người từ đường ray đến kho: khoảng ba mươi mét trên mặt đất phủ tuyết đang tan. Đi vào kho oằn mình dưới gánh nặng, đi trở ra với hai cánh tay buông thõng hai bên sườn, không nói năng gì.

Xung quanh mọi thứ đều là kẻ thù. Phía trên là những quầng mấy hắc ám chạy đuổi theo nhau để ngăn chúng tôi khỏi những ánh mặt trời sưởi ấm; công trường sắt bẩn thỉu vấy lấy chúng tôi từ mọi phía. Chưa bao giờ chúng tôi trông thấy đường biên nhưng cảm nhận được sự tồn tại ác nghiệt của dấy kẽm gai đang ở khắp xung quanh, chia cách chúng tôi với thế giới bên ngoài. Ở trên giàn giáo, trên những con tàu chạy qua, trên đường, trong mỏ, trong văn phòng, người với người, chủ và tớ, những tên chủ tự biến mình thành nô lệ; người thì sợ hãi, kẻ thì căm ghét còn mọi sức mạnh khác đều câm lặng. Tất cả đều là kẻ thù, là đối thủ.

Không, thật ra thì tôi không cảm thấy cái người cùng cặp làm việc với mình hôm nay, vất vả cùng tôi dưới cùng một sức nặng này, là kẻ thù hay đối thủ.

Cậu ta là Null Achtzehn. Cậu ta không có cái tên nào ngoài tên ấy, Không Mười Tám, ba con số cuối cùng trên số trại: tưởng như ai ai cũng hiểu rằng chỉ một con người mới được có tên, còn Null Achtzehn đâu phải là người nữa. Tôi tin chính cậu ta cũng đã quên tên mình rồi, cậu ta xư sự y như thể không nhớ gì nữa. Khi cậu ta nói, hay nhìn, có cảm giác như bên trong cậu ta hoàn toàn trống rỗng, chẳng có gì hơn là một cái xác. Cái vỏ mà bọn côn trùng lột xác vẫn để lại ven bờ ao đầm, đính hờ hững bằng một sợi tơ để gió lay.

Null Achtzehn còn rất trẻ, và đó là mối nguy lớn. Không chỉ vì bọn thanh niên chịu đựng sự vất vả đói khát kém hơn người lớn mà nhất là vì ở  đây để sống sót mỗi người cần phải luyện tập chiến đấu bền bỉ chống lại tất cả, nhưng điều ấy đám thanh niên trẻ thường không có. Null Achtzehn không đặc biệt ốm yếu, nhưng tất cả đều trốn không làm việc cùng cậu ta. Cậu ta hoàn toàn dửng dưng với mọi sự đến mức không còn cố tránh việc nặng hay các cú đòn, cũng chẳng cố tìm thức ăn mà chỉ tuân theo mọi mệnh lệnh nhận được.

Có thể tưởng tượng ra khi bị người ta đưa đi giết cậu ta cũng sẽ đi với cái vẻ hoàn toàn dửng dung ấy.

       Cậu ta không có nổi cái khôn ranh sơ đẳng của bọn ngựa thồ để biết cách dừng kéo trước khi kiệt sức, thay vì thế cậu ta kéo, vác hay đẩy chừng nào sức lực còn cho phép rồi gục xuống đột ngột không báo trước một tiếng, không ngước cả cặp mắt buồn bä mờ đục lên khỏi mặt đất. Cậu ta làm tôi nhớ đến bọ chó kéo xe trong truyện của London, vất vả cho đến hơi thở cuối cùng rồi chết trên đường kéo. 

Bây giờ vì chúng tôi đều tìm mọi cách tránh phải làm việc vất vả thành ra Null Achtzehn là người làm nhiều hơn tất cả. Và bởi thế cậu ta trở thành người cùng cặp nguy hiểm, không ai muốn làm cùng cả. Mặt khác vì cũng không ai muốn làm với tôi vì tôi yếu và vụng về nên hai chúng tôi thường hay bị vào cùng một đôi.

Lại một lần từ kho lê bước quay về, hai tay không mang gì. Đúng lúc ấy một đầu tàu kéo còi nhanh rồi cắt ngang đường chúng tôi. Null Achtzehn và tôi dừng bước, hài lòng vì khoảng nghỉ bắt buộc. Chúng tôi còng người tả tơi đợi các toa tàu từ từ diễu qua trước mặt cho đến hết.

… Deutsche Reichsbahn. Deutsche Reichsbahn. SNCF. Hai toa tàu to đùng của Nga, hình búa liềm xóa một cách cẩu thả. Deutsche Reichsbahn. Và rồi Cavalli[22] 8, Uomini40, Tara, Portata: một toa tàu  Ý... Leo lên đó, vào một góc, trốn kỹ dưới lớp than, nằm yên im lặng, trong bóng tối, lắng nghe nhịp bánh xe bất tận, mạnh hơn cả cái đói cái mệt; cho đến lúc, sau một quäng thời gian, tàu dừng lại, tôi sẽ thấy không khí ấm áp và mùi cỏ, tôi có thể chui ra, dưới ánh mặt hời: rồi tôi sẽ quỳ xuống ôm hôn mặt đất, như vẫn đọc thấy trong sách vả mặt vùi trong cỏ. Rồi sẽ có một người phụ nữ đi ngang qua, cô ấy sẽ hỏi tôi "Anh là ai" bằng tiếng Ý, và tôi sẽ kể cho cô ấy nghe, bằng tiếng Ý, cô ấy sẽ hiểu, rồi cô ấy sẽ cho tôi ăn, cho tôi ngủ. Cô ấy sẽ không tin những điều tôi kể, tôi sẽ cho cô ấy xem cái số tôi có trên cánh tay và rồi cô ấy tin...

... Kết thúc rồi. Toa tàu cuối cùng đã băng qua, và như khi tấm màn kéo lên, trước mắt chúng tôi là đống thanh đỡ bằng gang, Kapo đứng trên đó với cái roi trong tay còn những người bạn tù xanh xao đang từng cặp đi đi về về.

Mơ mộng thật khốn: cái khoảnh khắc sáng suốt đi cùng với lúc thức tỉnh là sự  đau đớn cùng cực nhất. Nhưng điều đó không hay xảy ra với chúng tôi, và chúng không phải là những giấc mơ dài: chúng tôi chỉ là những con thú kiệt quệ.

Chúng tôi lại đang đứng dưới chân đống sắt. Mischa và Faliziano người Galicia nâng một thanh gang thô bạo đặt lên vai chúng tôi. Chỗ làm việc này là đỡ mệt nhất thế nên hai người đó cố sống cố chết để giữ: họ nhắc những người chậm chạp, giục giä, rầy la họ, tạo ra một nhịp độ công việc không thể chịu đựng nổi. Điều đó làm tôi tức điên mặc dù bây giờ tôi cũng hiểu chuyện những kẻ được ưu tiên đi ức hiếp những kẻ không được như vậy là bình thường: cấu trúc xä hội của trại dựa trên chính cái quy luật ấy của con người.

Lần này đến lượt tôi đi trước. Thanh đỡ nặng mà lại rất ngắn, vì thế cứ mỗi bước tôi lại cảm thấy bước chân của Null Achtzehn ngay đằng sau giẫm vào chân mình, cậu ta đã không biết cách lại còn chẳng quan tâm đến việc đi theo nhịp của tôi.

Hai mươi bước, chúng tôi đã đến đường ray, có một đoạn cáp phải bước qua. Thanh đỡ đặt lệch, có cái gì không ổn làm nó cứ trượt xuống vai. Năm mươi bước, sáu mươi. Cánh cửa nhà kho; còn chừng ấy đường nữa thôi rồi chúng tôi có thể đặt xuống. Thôi, không thể nào đi thêm được nữa, sức nặng bây giờ đã trượt xuống tì hết lên một bên tay tôi; không thể chịu được đau và mệt thèm tí nào nùa tôi hét lên, cố gắng quav lại, vừa đúng lúc thấy Null Achtzehn vấp và vứt tất cả xuống.

Nếu có được cái nhanh nhẹn ngày trước tôi đã có thể nhảy ra đằng sau, nhưng thay vì thế tôi lại ngä sóng soài trẽn mặt đất, toàn bộ cơ thắt lại, bàn chân bị thương kẹp chặt giữa hai tay, đau mờ mắt. Cái mấu nhọn bằng gang đã cắt ngang mu bàn chân trái của tôi.

Trong vòng một phút mọi thứ biến mất trong cái đau choáng váng. Khi tôi ngước được mắt lên nhìn xung quanh, Null Achtzehn vẫn đang đứng bất  động, bàn tay rụt vào trong ống tay áo nhìn tôi vô cảm, không nói lời nào. Mischa và Faliziano chạy đến, nói  với nhau bằng tiếng Yiddish, họ khuyên tôi cái gì không biết nữa. Rồi Templer David và tất cả những người khác cũng đến, tận dụng hoàn cảnh để ngừng tay. Kapo tới nơi, đấm đá chửi rủa, và những người bạn tù tản ra như trấu bị väi tung. Null Achtzehn đưa một tay lên mũi rồi ngấy ra nhìn vào bàn tay lấm máu. Tôi thì chẳng được gì ngoài hai cái tát của Kapo, cái kiểu tát không đau vì nó làm ta choáng luôn.

Tai nạn kết thúc. Đau hay không thì tôi cũng đứng lên được chứng tỏ xương không bị gäy. Tôi không dám bỏ giày ra vì sợ sẽ lại đau, và cũng vì tôi biêt chân sẽ sưng không xỏ vào giày được nữa.

Kapo cho tôi ra thay Faliziano ở chân đống sắt, tay này nhìn tôi giận dữ rồi đến chỗ của hắn làm cạnh Null Achtzehn; nhưng lúc đó bọn tù Anh đã bắt đầu đi qua, chẳng mấy chốc nữa là đến giờ về trại.

Tôi cố hết sức để đi nhanh trên chặng về nhưng vẫn không theo được nhịp. Kapo cử Null Achtzehn và Finder đỡ tôi cho đến đoạn đi qua trước bọn SS. Rồi cuối cùng tôi cũng về được đến lán (may mà tối nay không có điểm danh) và có thể ngä vật xuống giường nằm thở.

Có thể là hơi nóng hoặc do chặng đi về vất vả nên chân tôi lại thấy đau, cộng thêm một cảm giác ẩm ướt lạ lùng ở bàn chân bị thương. Tôi cởi giày ra: đầy máu đã đông, lẫn  với bùn và với mớ giẻ rách tôi tìm được tháng trước để cuốn chân, một ngày chân phải, một ngày chân trái.

Tối nay, ngay sau khi ăn xúp, tôi sẽ đến Ka-Be.

Ka-Be là tên tắt của Krankenbau, trạm xá. Khu này gồm tám lán, giống hệt mọi lán khác trong trại, nhưng được ngăn cách bởi một hàng rào dấy kẽm.

Trong đó có khoáng một phần mười dân số của trại, nhưng ít người ở  đây quá hai tuần và hầu như không ai ở quá hai tháng. Trong thời hạn ấy tất cả sẽ phải chết hoặc khỏi bệnh: ai có chiều hướng khỏi thì sẽ được chữa lành ở Ka-Be, ai nặng lên thì từ Ka- Be sẽ được chuyển đến phòng hơi ngạt.

Tất cả chỉ vì chúng tôi được may mắn liệt vào loại "Do Thái có ích về kinh tế".

Tôi chưa bao giờ đến Ka-Be cũng như đến bên phòng khám, vì thế với tôi mọi thứ đều lạ lẫm.

Có hai trạm xá, Khám và Phẫu thuật. Đằng trước mỗi cánh cửa là hai hàng dài những cái bóng đứng trong đêm trước gió. Một vài người chỉ cần băng bó hoặc xin vài viên thuốc, vài người khác cần khám, một số người thì vẻ chết chóc đã hiện rõ trên mặt. Hai người đứng đầu mỗi hàng đã cởi giày và sẵn sàng vào; những người khác thì lần lượt tiến lại gần, xoay xở trong hàng người để cố gắng cởi dấy giày và những sợi dấy thếp gá giày, gỡ những lớp lót chân quý giá sao cho không bị mất chúng; không sớm quá đe khỏi phải đứng chân trần trên bùn một cách vô ích, không muộn quá để lỡ mất lượt của mình vì đi giày vào trong Ka-Be bị cấm tuyệt đối. Người giám sát việc ấy là một Häftling khổng lồ người Pháp ngồi trong cánh cổng nằm giữa hai cánh cửa của hai khu. Anh ta là một trong những nhân viên người Pháp của trại. Cùng đừng nghĩ việc cả ngày chỉ ngồi nhìn những đôi giàv đầy bùn và rách nát thế này là một ân sủng, thử nghĩ xem bao nhiêu người đã mang giày vào trong Ka-Be nhưng khi trở ra thì không cần đến nữa...

Khi đến lượt mình, tôi làm được điều phi thướng là cởi giày và các tấm lót mà không làm mất thứ gì cả, cũng không để ai lấy cắp mất đôi găng và cái bát, giữ được thăng bằng dù phải ôm khư khư trong tay cái mũ mà theo quy định thì không được đội khi vào lán với bất cứ lý do nào.

Để giày ở chỗ giữ và lấy phiếu xong tôi được cho vào bên trong. Chân trần khập khễnh với hai tay vướng víu đủ các thứ đồ khốn khổ không dám để lại ở góc nào, tôi xếp tiếp vào một hàng mới dẫn đến phòng khám.

Trong hàng mọi người tuần tự cởi đồ, khi đến gần đầu àng sẽ phải cởi hét vì sẽ có một y tá nhét cặp nhiệt độ vào nách, ai vẫn còn mặc đồ sẽ mắt lượt và phải quay lại xếp hàng từ đầu. Ai cũng phải đo nhiệt độ, kể cả khi chỉ bị bệnh ngoài da hoặc đau răng. Bằng cách này trại chắc chắn nếu ai chưa ốm nặng thì sẽ không vì một cơn đồng bóng mà đi thực hiện tất cả cái trình tự phức tạp này.

Cuối cùng cũng đến lượt tôi: tôi được cho đến trước bác sĩ, y tá lấy cặp nhiệt độ ra rồi báo: "Số 174517, kein Fieber . Không cần phải khám kỹ cho tôi: ngay lập tức tôi được tuyên bố là Arztvormelder, nghĩa là gì thì tôi không biết, nhưng đấy rõ ràng không phải chỗ để xin giải thích. Tôi thấy mình bị đẩy ra ngoài, lấy lại giày rồi về lán.

      Chajim mừng cho tôi; tôi có vết thương tốt, không nguy hiểm mà lại đảm bảo cho tôi một kỳ nghỉ ngơi tử tế. Tôi vẫn ngủ ở lán với mọi người, nhưng ngày mai thay vì phải đi làm việc tôi sẽ đến chỗ các bác sĩ để khám kỹ: Arztvormelder nghĩa là như thế. Chajim thông thạo những chuyện này, anh ta nghĩ ngày mai có thể tôi có thể sẽ được đưa vào Ka-Be. Chajim làn bạn cùng giường với tôi và tôi tin tưởng anh ta tuyệt ddoosiv Anh ta người Ba Lan, dân Do Thái sùng đạo, học luật rabbi. Anh ta tầm tuổi tôi và có nghề sửa đồng hồ, còn ở Buna thì anh ta làm thợ cơ khí chính xác. Vì thế anh ta thuộc số rất ít vẫn còn long tự trọng và tự tin có được nhờ cái nghề đã luyện.

     Sự việc diễn ra đúng như vậy. Sau cò đánh thức và chai bánh, tôi được gọi ra cùng ba người nữa cùng lán với mình. Họ đưa chúng tôi đến một góc của sân Điểm danh, nơi có một hàng dài tất cả những Arctvormelder của ngày hôm nay; một tay đến lấy của tôi bát, thìa, mũ, găng. Tất cả cười rộ, tôi không biết là phải giấu những thứ đó đi sao, hoặc tốt nhất là bán hết đi, vì có được mang vào Ka-Be đâu? Rồi họ nhìn vào con số của tôi và lắc đầu: một tên mang số cao như thế thì có thể mắc phải đủ thứ trò ngu ngốc.

Rồi chúng tôi bị đếm, bị bắt cởi đồ ngoài trời lạnh, cởi giày, rồi lại bị đếm. Họ cạo râu tóc và lông chúng tôi, rồi lại đếm, và bắt chúng tôi tắm. Sau đó một tay SS đến, länh đạm nhìn chúng tôi. Hắn dừng lại trước một người bị tràn dịch tinh mạc nặng và sai đưa anh ta sang một chỗ. Sau đó chúng tôi lại bị đếm một lần nữa và tắm một lần nữa mặc dù chúng tôi vẫn còn ướt từ lần tắm trước và vài người thì sốt phát run.

Bây giờ chúng tôi đã sẵn sàng để khám kỹ. Bên ngoài cửa sổ bầu trời trắng sáng, đôi khi mặt trời ló ra; ở cái xứ này có thể nhìn thẳng vào mặt trời qua những tầng mấy, giống như nhìn qua một tấm kính mờ. Theo vị trí của mặt trời thì chắc phải quá hai giờ chiều rồi, đã qua giờ chia xúp. Chúng tôi đã phải đứng từ mười tiếng và cởi hết quần áo từ sáu tiếng nay.

Lần khám thứ hai này của tôi cũng rất nhanh: bác sĩ (anh ta cũng mặc đồ sọc như chúng tôi, nhưng phía trên khoác một cái blu trắng, anh ta có số thêu trên áo blu và béo tốt hơn chúng tôi nhiều) nhìn và đập đập vào bàn chân sung vù chảy máu của tôi cho đến khi tôi hét lên vì đau rồi bảo: “Arztvormelder, Block 23”. Tôi vẫn đứng nguyên mồm há to chờ thêm vài lời giải thích, nhưng ai đó đã thô bạo lôi tôi ra đằng sau, ném một tấm choàng lên cái lưng trần của tôi, đưa một đôi xăng đan rồi vứt tôi ra ngoài trời.

    Cách đó khoảng một trăm mét là Block 23; phía trên đề “Schonungsblock”: không hiểu thế nghĩa là gì? Bên trong họ lại lấy của tôi tấm choàng và xăng đan, thế là tôi một lần nữa ở trần đứng cuối một hàng dài những bộ xương trần trụi: những người được chữa trị hôm nay.

     Từ lâu lắm rồi tôi đã thôi không cố gắng hiểu nữa. Bản thân tôi lúc ấy đã mệt mỏi vì phải đứng trên bàn chân bị thương vẫn chưa được thuốc thang gì, đói và ngấm lạnh đến mức không còn quan tâm đến điều gì nữa. Đấy hoàn toàn có thể là ngày cuối cùng của tôi, phòng này có thể là phòng hơi ngạt mọi người nói tới, có như thế thì tôi cũng làm được gì cơ chứ? Gì thì cũng chỉ nên dựa mình vào tường nhắm mắt lại mà chờ đợi.

     Người đứng cạnh tôi không thể là dân Do Thái. Anh ta không cắt bao quy đầu, lại còn nước da vàng hoe, gương mặt và thân hình to lớn rõ là đặc điểm của dân Ba Lan không phải Do Thái (đấy là một trong những điều ít ỏi tôi học được cho đến lúc đó). Anh ta cao hơn tôi hẳn một cái đầu, nhưng có nét mặt khá thân thiện, nét mặt mà chỉ những người không phải chịu đói mới có được.

Tôi thử hỏi anh ta xem bao giờ thì họ cho chúng tôi vào. Anh ta quay sang y tá, người giống anh ta như anh em sinh đôi đang đứng hút thuốc trong một góc; bọn họ nói chuyện và cùng cười nhưng không trả lời gì, như thể tôi không có  đây. Sau đó một người trong bọn họ cầm tay tôi, nhìn số của tôi rồi cả lũ càng cười to hơn. Tất cả đều biết rằng những tù số một trăm bảy tư nghìn là dân Do Thái Ý, bọn Do Thái Ý nổi tiếng, đến  đây hai tháng trước, toàn là luật sư, bác sĩ, đến khoảng hơn trăm người và giờ chỉ còn chưa đến bốn mươi, một bọn không biết làm việc, bị người ta cướp bánh mì và lĩnh đòn từ sáng đến tối; lính Đức gọi bọn này là "zwei linke Hände" (hai tay trái), thậm chí bọn Do Thái Ba Lan cũng còn coi thường bọn này vì không biết nói tiếng Yiddish.

Tên y tá chỉ cho tên kia xương sườn của tôi, như thể tôi là một cái xác trong phòng giải phẫu; chỉ mí mắt, hai má sưng lên và cái cổ gầy gò của tôi, hắn bấm ngón trỏ lên xương chày ở chân tôi rồi cho tên kia thất vết tay hắn lằn sâu trên làn da nhợt nhạt, như thể hằn lên một lớp tro.

Tôi ước giá như mình đã không mở lời với tên Ba Lan: tôi cảm tưởng như trong đời mình chưa bao giờ phải chịu một sự sỉ nhục tệ hại đến thế. Khi đó tên y tá có vẻ đã kết thúc tấn trò của hắn với cái ngôn ngữ tôi không hiểu và thấy nghe thật kinh khủng, hắn quay sang nhân từ nói với tôi câu kết bằng thứ tiếng gần như tiếng Đức: “Du Jude, kaput. Du schnell Krematorium fertig”. (Mày Do Thái chết toi, mày sẽ sớm lò thiêu, hết đời).

Vài giờ nữa trôi qua cho đến khi tất cả bệnh nhân được nhận vào, phát áo và điền bảng của mình. Tôi vẫn luôn là người cuối cùng; một tay mặc quần áo kẻ sọc mới toanh hỏi tôi sinh ở đâu, trước  đây khi "là thường dân" làm nghề gì, có con không, đã mắc những bệnh gì, một đống câu hỏi. Liệu những câu hỏi ấy có ích gì cơ chứ, hay  đây chỉ là một tấn kịch rườm rà để chế nhạo chúng tôi.  đây mà là bệnh viện ư? Chúng tôi phải đứng, ờ trần và trả lời câu hỏi.

Cuối cùng thì cánh cửa cũng mở ra cho tôi, và tôi được vào lán ngủ.

Ở  đây cũng như mọi nơi khác, toàn giường ba tầng, chạy ba hàng dọc theo lán, ngăn cách nhau bởi hai hành lang cực hẹpCó một trăm năm mươi giường ,còn số người ốm khoảng hai trăm rưởi: nghĩa là hầu hết các giường đều có hai người. Những người ốm ở tầng trên cùng áp sát với trần nhà hầu như không thể ngồi thẳng lên được; họ cúi người tò mò nhìn  những người mới đến hôm nay.  đây chính là thời khắc hay ho nhất của ngày, bao giờ cũng tìm được vài người quen biết. Tôi được phân vào giường 10; giường trống! Thật là một phép lạ. Tôi ngả người cẩn thận,  đây là lần đầu tiên kê từ khi vào trại tôi có được riêng một giường. Mặc dù đói nhưng chỉ không đến mười phút sau tôi đã thiếp đi.

Cuộc sống ở Ka-Be là một cuộc sống trong quên lãng. Ít thiếu thốn vật chất hơn, trừ cái đói và những cơn đau bệnh. Không rét, không phải làm việc và không bị đánh trừ phi phạm lỗi nghiêm trọng.

Chuông đánh thức reo vào lúc bốn giờ sáng, với người ốm cũng vẫn thế; phải dọn giường và rửa ráy, nhưng không vội và cũng không nghiêm ngặt lắm. Bánh mì phát vào lúc năm rưỡi, có thể thoải mái cắt bánh thành những miếng mỏng và nằm xuống ăn thong thả; sau đó có thể lại thiếp đi cho đến khi phát xúp lúc mười hai giờ. Đến khoảng mười sau giờ là Mittagasruhe, nghỉ ngơi buổi chiều; lúc đó thường có thăm khám và phát thuốc, phải tụt từ giường xuống, cởi áo ra và đứng xếp hàng trước bác sĩ. Suất ăn tối cũng được phát tại giường; sau đó đèn sẽ tắt hết vào hai mốt giờ, trừ ngọn đèn của gác đêm, và rồi là im lặng.

      ... Lần đầu tiên kể từ khi vào trại tôi ngủ được say khi chuông đánh thức vang lên, và việc thức dậy tựa như trở về từ hư vô. Vào giờ phát bánh, tiếng nhạc hiệu bắt đầu cất lên, văng vẳng xa xa bên ngoài cửa sổ trong không gian tối tăm:  đây là những người bạn tù không bị ốm đang ra khỏi trại đi làm việc theo từng đội.

Từ Ka-Be tiếng nhạc nghe không rõ lắm: tiếng đập của trống và chũm chọe vẳng đến tai chúng tôi liên tục và buồn tẻ, trên cái nền ấy những câu nhạc chỉ còn đứt đoạn, tùy theo mức độ thất thường của gió. Chúng tôi nhìn nhau từ giường này sang giường khác, bởi tất cả đều cảm thấy điệu nhạc ấy như đến từ địa ngục.

Chỉ có khoảng một chục điệu nhạc, ngày nào cũng như ngày nào, sáng và tối: những bản hành khúc và dân ca vốn thân thuộc  với người Đức. Tất thảy in sâu vào tâm trí chúng tôi, trở thành điều cuối cùng mà chúng tôi có thể quên đi về Lager: chúng là giọng nói của Lager, là biểu hiện rõ rệt của sự điên rồ máy móc của Lager, là cái cách mà bọn chúng khiến chúng tôi không còn là người nữa để rồi chậm rãi giết chết chúng tôi.

Khi tiếng nhạc ấy vang lên, chúng tồi biết rằng những người bạn tù của mình đang đi đều như những người máy trong sương mù ngoài kia, linh hồn đã chết chỉ có tiếng nhạc thay cho ý chí, đẩy họ đi, như gió  đây những chiếc lá khô. Không còn ý chí nữa: mỗi nhịp trống trở thành một bước chân, một sự co kéo các cơ. Bọn Đức đã làm được việc đó. Cả mười nghìn tù, tất cả chỉ là một cỗ máy xám xịt; hoàn toàn bị chi phối, không nghĩ ngợi cũng không mong muốn gì, chỉ bước đi.

Bọn SS không bao giờ vắng mặt khi tù ra khỏi và quay về trại. Ai có thể ngăn bọn chúng theo dõi điệu múa mà chúng muốn, điệu nhảy của những con người đã chết, đội này nối tiếp đội kia, ra khỏi sương mù để lại chui vào sương mù? Liệu có cái gì thể hiện chiến thắng của bọn chúng rõ rệt hơn?

Những người ở Ka-Be cũng biết lúc ra khỏi và quay về trại, biết cái lực thôi miên của nhịp điệu bất tận bóp chết suy nghĩ và xoa nhẹ đau đớn ấy; họ đã thử và họ sẽ còn thử. Nhưng phải ra khỏi cái trạng thái đó, nghe tiếng nhạc ấy từ ngoài, như nghe nó từ Ka-Be hay như bây giờ chúng tôi nghĩ lại sau khi được giải phóng và hồi sinh, nghe mà không phải theo, không phải chịu đựng nó thì mới hiểu được nó là gì; để hiểu bọn Đức đã nghiền ngẫm thế nào để sinh ra cái nghi thức quái vật ấy và vì sao cho đến tận hôm nay, hễ ký ức đưa lại bản nào trong số những bản nhạc vô tội ấy là máu chúng tôi nghẽn lại trong huyết mạch, và chúng tôi hiểu rằng trở về được từ Auschwitz không phải là phúc nhỏ.

Tôi có hai bạn tù ở gần giường. Họ nằm sát sườn cả ngày lẫn đêm, da áp sát da, bắt chéo nhau như hai con cá trong hoàng đạo, chân người này sát với đầu người kia.

Một người là Walter Bonn, một thường dân Hà Lan khá có văn hóa. Khi thấy tôi không có gì cắt bánh mì anh ta đã cho mượn con dao, sau đó chào bán cho tỏi lấy nửa suất bánh mì. Tôi mặc cả, trả giá thấp hơn, nghĩ thể nào chả mượn được ai trong Ka- Be này trong khi ở bên ngoài dao chỉ đáng giá một phân ba suất bánh. Không vì thế mà Walter kém lịch sự, đến trưa khi ăn xúp anh ta nhiệt tình cho tôi mượn thìa sau khi dùng miệng chùi sạch (nguyên tắc quan trọng trước khi cho mượn nhằm làm sạch và không để phí các vệt xúp bám quanh).

- Anh bị bệnh gì thế Walter?

- Körperschwäche, suy nhược cơ thể. Căn bệnh tồi tệ nhất vì không chữa khỏi được. Vào Ka-Be với chứng ấy rất nguy hiểm, nếu không vì mắt cá chân bị phù nề  (anh ta chỉ cho tôi xem) khiến anh không đi làm được thì anh ta đã cố để không báo ốm.

Về các loại nguy hiểm ấy tôi mới chỉ có những ý tưởng khá mù mờ. Tất cả đều không nói thẳng về chuyện ấy mà chỉ bóng gió, và khi tôi hỏi thì họ chỉ nhìn tôi rồi câm bặt.

Thế đúng như vẫn nghe bảo à, chuyện chọn lọc, chuyện hơi ngạt, chuyên Lò thiêu?

Lò thiêu. Người cùng giường với Walter giật mình thức giấc ngồi bật dậy: ai nói về lò thiêu  đây? Chuyện gì thế? Không thể để yên cho người ta ngủ sao? Đó là một người Do Thái Ba Lan, bạch tạng, gương mặt chất phác hốc hác và không còn trẻ nữa. Anh ta tên là Schmulek, thợ rèn. Walter thuật lại ngắn gọn mọi chuyện cho anh ta.

Tức là "der Italeyner" không tin chuyện chọn lọc? Schmulek muốn nói tiếng Đức nhưng lại nói tiếng Yiddisch; tôi chỉ hiểu láng máng. Nhưng Schmulek muốn là tôi phải hiểu anh ta. Ra hiệu cho Walter im để anh ta thuyết phục tôi:

- Đưa tôi xem số của anh: anh là số 174517. Cách đánh số này bắt đầu từ cách  đây mười tám tháng, dành cho Auschwitz và các trại con. Hiện giờ chúng ta có mười nghìn người ở Duna-Monowitz, có thể là ba mươi nghìn tính từ Auschwitz đến Birkenau. Wo sind die Andere? Thế thì những người kia đâu?

      - Chắc là chuyển sang các trại khác? tôi đoán.

        Schmulek lắc đầu, quay sang Walter:

       - Er will nix verstayen, cậu này không muốn hiểu.

Nhưng số phận đã định là tôi sẽ sớm hiểu và nhờ vào chính Schmulek. Tối đó cửa lán mở và một giọng thết lên: "Achtung! " Mọi tiếng động im bặt và sau đó là im như thóc.

Hai tên SS tiến vào (một trong hai tên mang quân hàm rất cao, có lẽ là một sĩ quan), tiếng bước chân của chúng vang lên trong lán như thể lán không có người, chúng nói chuyện với bác sĩ trưởng, tay này vừa đưa chúng xem một cuốn sổ vừa chỉ đây chỉ đó. Tên sĩ quan ghi lại vào một cuốn sổ nhỏ. Schmulek chạm vào đầu gối tôi: "Pass'auf, pass'auf", nhìn đi.

Tên sĩ quan im lặng, lãnh đạm lượn quanh các giường, theo sau là tên bác sĩ; hắn cầm trên tay một cây roi, vụt vào một góc chăn rủ xuống từ một giường trên cao, người ốm vội vàng thu chăn lại. Tên sĩ quan đi tiếp. 

        Một người khác có gương mặt vàng võ, tên sĩ quan giật tung chăn anh ta ra, người đó giật này mình, hắn vỗ vào bụng anh ta, bảo: "Gut, gut" rồi đi tiếp.

         Chết rồi, giờ thì hắn nhìn Schmulek: hắn rút sổ tay ra, kiểm tra số giường và số tù. Từ trên cao tôi nhìn rõ mọi việc: hắn ta gạch một chữ thập cạnh số của Schmulek. Rồi đi tiếp.

       Giờ thì tôi nhìn Schmulek, đằng sau anh ta tôi thấy đôi mắt của Walter, thế là tôi không hỏi gì nữa.

     Ngày hôm sau thay vì nhóm khỏi bệnh như bình thường thì có hai nhóm riêng rẽ chuẩn bị ra. Nhóm đầu tiên phải cạo râu tóc và tắm, nhóm thứ hai thì cứ thế mà ra, râu để nguyên và không được phát thuốc, không tắm. Không ai chào những người trong nhóm đó cả, không ai nói với họ những lời nhắn nhủ như với các bạn tù khỏi bệnh.

Schmulek nằm trong nhóm đó.

Mỗi ngày cuộc giết chóc lại diễn ra như thế ở tất cả các lán của Ka-Be, cẩn thận và điềm tĩnh, không ồn ào cũng không giận dữ, thộp lấy người này hoặc người kia. Khi ra đi Schmulek để lại cho tôi cái thìa và con dao, tôi và Walter tránh không nhìn nhau và chúng tôi im lặng rất lâu. Sau đó Walter hỏi làm sao tôi giữ được miếng bánh của ttdnh lâu thế, rồi anh ta kể thường thì anh ta cắt dọc bánh của mình để miếng bánh to hơn và phét mỡ dễ hơn.

      Walter giải thích nhiều thứ cho tôi: Schonungsblock nghĩa là lán nghỉ ngơi, ở đó chỉ có các bệnh nhân nhẹ hoặc đang dưỡng bệnh, hoặc không cần phải chữa. Trong số đó ít nhất là năm mươi người mắc bệnh ly nặng hoặc nhẹ. 

      Họ được kiểm tra ba ngày một lần. Tất cả đứng thành một hàng dài dọc hành lang; ở cuối là hai cái bô thiếc và y tá mang sổ, đồng hồ, bút chì. Hai người khám một lần và sẽ có đúng một phút để trình ra là mình vẫn bị tiêu chảy, ở chỗ đó và ngay lập tức. Họ trình kết quả  với y tá, y tá quan sát và đánh giá; rồi hai người rửa thật nhanh cái bô trong chậu rửa gần đó để hai người tiếp theo vào.

      Trong những người ở đó một số thì vặn vẹo đau đớn cố giữ bằng chứng quý báu của mình thêm hai mươi, thêm mười phút nữa; số khác chưa có gì để đưa ra lúc ấy thì ngược lại cố mà rặn. Y tá dửng dưng theo dõi, nhai bút chì, liếc một cái vào đồng hồ, liếc một cái nữa vào vật chứng lần lượt được đưa ra, và nếu nghi ngờ gì thì mang cái bô đi hỏi bác sĩ.

… Tôi có người đến thăm: đó là Piero Sonnino, anh chàng quê Roma. “Cậu biết mình thu xếp thế nào không?” Anh chàng bị viêm ruột nhẹ, đã ở đây hai mươi ngày, khỏe, nghỉ ngơi và béo lên, chẳng lo lắng gì về vụ chọn lọc và quyết định bằng mọi giá ở lại Ka-Be đến hết mùa đông. Bí quyết của anh chàng là xếp hàng ngay sau một ai đó bị tiêu chảy thật để đảm bảo thành công; khi đến lượt anh chàng nhờ cậu kia hợp tác (trả bằng xúp hoặc bánh mì), nếu cậu kia chịu và y tá nhãng đi một chút, hai người đổi bô và thế là xong. Piero biết mình đang mạo hiểm thế nào, nhưng cho đến lúc ấy mọi thứ vẫn trót lọt.

Nhưng cuộc sống ở Ka-Be không phải vậy. Không phải những giây phút man rợ của việc chọn lọc, không phải những cảnh kỳ cục của việc kiểm tra tiêu chảy hay kiểm tra chấy, cũng không phải bệnh tật.

Ka-Be chỉ là Lager thiếu đi sự hành hạ thể xác. Vì vậy nếu ai vẫn còn vài mẩu nhận thức, nhận thức sẽ hồi lại. Thế là trong những ngày dài trống rỗng chuyện không chỉ còn về cái đói và công việc, người ta chạnh lòng nghĩ xem mình đã bị biến thành cái thứ gì, đã bị lột mất những gì, cuộc đời này là sao. Ở Ka-Be, trong những khoảnh khắc hiếm hoi tạm gọi là bình yên ấy, chúng tôi học được rằng nhân cách con người thật là mong manh, dễ bị đe dọa hơn nhiều so với mạng sống. Những nhà thông thái cổ thay vì cảnh báo chúng tôi "hãy nhớ rằng anh sẽ chết” lẽ ra nên nhắc nhở chúng tôi còn có cả cái mối nguy lớn ấy. Nếu từ trong Lager có thể gửi một thông điệp cho những người tự do thì thông điệp ấy sẽ là: làm sao để không phải chịu những điều chúng tôi đang chịu ở đây[26] .

Khi phải làm việc thì người ta phải chịu đựng và không còn thời gian để nghĩ: mái nhà xưa cũng không còn trong tâm trí. Nhưng ở đây chúng tôi có thời gian: từ giường này sang giường khác mặc dù bị cấm chúng tôi vẫn sang thăm nhau và nói chuyện, nói và nói. Cái lán gỗ đầy những tình người khổ đau, tràn ngập lời nói, ký ức và một nỗi đau khác. Tiếng Đức gọi nỗi đau đó là "Heimweh"; một từ đẹp, nghĩa là "nỗi nhớ nhà".

Chúng tôi biết mình từ đâu đến: kỷ niệm về thế giới bên ngoài chiếm lấy những giấc mơ và cả những lúc chúng tôi tỉnh táo, chúng tôi ngỡ ngàng nhận ra mình chẳng quên gì cả, tất cả đều hiện lên trước mắt chúng tôi rõ ràng đến đau đớn.

Nhưng chúng tôi không biết mình sẽ đi về đi đâu. Có thể chúng tôi sẽ vượt qua bệnh tật và thoát được các cuộc chọn lọc. Có thể chúng tôi cũng chịu được cả công việc và cái đói gặm nhấm chúng tôi: rồi sau thì sao? Ở đây, tạm thời xa được những lời chửi rủa và đánh đập, chúng tôi có thể quay lại với mình, suy ngẫm, và hiểu rằng chúng tôi không thể quay lại được nữa. Chúng tôi đã đến đây trong các khoang xe bịt kín, đã thấy vợ con đi mất vào chốn hư vô, chúng tôi bị biến thành nô lệ, đi đều cả trăm lần tiến lên rồi quay lại trong sự cực nhọc câm lặng, linh hồn đã tắt ngấm trước khi chết vô danh. Chúng tôi sẽ không được trở lại. Không ai được rời khỏi  đây, để có thể mang ra ngoài không chỉ dấu ấn trên da thịt mà cả câu chuyện buồn về người đã nhẫn tâm làm gì  với người ở Auschwitz.

Người dịch: NGUYỄN TRỌNG ĐỊNH và ĐOÀN NGỌC THANH, Dịch theo bản Tiếng Pháp LE DE UXIEME SEXE, Nhà xuất bản Gallimard Paris, 1976
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Primo Levi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.