Có Được Là Người

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MƯỜI NGÀY CUỐI

❊ ❊ ❊

Từ nhiều tháng nay chúng tôi nghe thấy tiếng pháo quân Nga đã vẳng đến từng hồi. Đến ngày 11 tháng Giêng nam 1945 tôi bị tinh hồng nhiệt và lại được đưa vào chữa ở Ka-Be. “Infektionsabteilung”: một căn phòng thật ra cũng khá sạch sẽ với mười cái giường hai tầng, một cái tủ, ba cái ghế và một ngăn nhỏ có cái xô để giải quyết nhu cầu cá nhân. Tất cả trong ba nhân năm mét vuông.

Trèo lên giường tầng trên rất khó vì không có thang, nên khi bệnh nhân ốm nặng thì sẽ được chuyển xuống tầng dưới.

Khi vào đó tôi là người thứ mười ba, mười hai người kia thì bốn người bị tinh hồng nhiệt - hai người tù chính trị Pháp và hai thanh niên Do Thái Hung, ba người bị bạch hầu, hai người bị thương hàn và một người bị viêm quầng nặng trên mặt trông rất kinh. Hai người còn lại thì bị không chỉ một bệnh và kiệt quệ không thể tưởng tượng được.

Tôi bị sốt cao. May mắn được một cái giường cho riêng mình, tôi nhẹ nhõm co người lại, yên tâm vì biết mình có quyền nghỉ bốn mươi ngày cách ly, nghĩa là bốn mươi ngày nghỉ ngơi. Tôi tự thấy mình cũng còn sức để không lo ngại nếu bị biến chứng từ tinh hồng nhiệt và cũng không phải lo sẽ bị chọn lọc.

Nhờ vào kinh nghiệm giờ đã khá nhiều về những việc ở trại, tôi mang được theo mình các thứ đồ cá nhân: một cái thắt lưng bằng dây điện xoắn lại, một cái thìa kiêm dao, một cái kim với ba đoạn chỉ, năm cái cúc và cuối cùng là mười tám viên đá lửa ăn trộm được ở phòng thí nghiệm. Mỗi viên ấy nếu mài bằng dao thật kỹ thì sẽ được ba viên nhỏ hơn, kích cỡ vừa cho một bật lửa bình thường. Chúng có giá bằng sáu đến bảy suất bánh mì.

Tôi ở đó bốn ngày yên tĩnh. Ngoài trời có tuyết và rất lạnh, nhưng lán được sưởi ấm. Tôi được phát thuốc sunpha liều cao, buồn nôn kinh khủng và không ăn được, cũng không muốn nói chuyên.

Hai người Pháp mắc tinh hồng nhiệt rất dễ mến, đó là hai anh tỉnh lẻ vùng Vosges ới vào trại được mấy ngày theo một chuyến chở thường dân bị bọn Đức càn quét khi chúng rút khỏi Lorraine. Người già hơn tên là Arthur, anh ta là nông dân, thấp và gầy. Người kia nằm cùng giường với anh ta tên là Charles, anh ta ba hai tuổi, làm giáo viên. Charles khoog có sơ mi mà chỉ là một cái áo ngủ mùa hè ngắn cũn cỡn.

Đến ngày thứ năm tay thợ cạo đến. Hắn là một người Hy Lạp vùng Salonica: hắn chỉ nói được thứ tiếng Tây Ban Nha hay ho ở vùng đó, nhưng thứ tiếng nào cũng biết vài từ. Tên hắn là Askenaxi, ở trại đưọc ba năm rồi. Không hiểu làm sao mà hắn kiếm được cái chân "Frisor" này ở Ka-Be, hắn không nói được cả tiếng Đức lẫn tiếng Ba Lan và cũng không phải loại cực kỳ xấu xa. Trước khi vào bên trong tôi nghe thấy hắn nói chuyện sôi nổi rất lâu với bác sĩ vốn là đồng hương của hắn. Hắn có vẻ khác bình thường, nhưng vì cách diễn đạt của bọn Levantine này khác với chúng tôi nên tôi không hiểu hắn đang sợ hãi hay mừng rỡ, hay xúc động. Hắn cũng biết tôi, hoặc ít nhất cũng biết rằng tôi là dân Ý.

Khi đến lượt mình, tôi cẩn thận leo từ giường mình xuống. Tôi hỏi hắn bằng tiếng Ý xem có chuyện gì không: hắn dừng tay cạo, nheo mắt nghiêm nghị đầy ngụ ý, hất cằm ra phía cửa sổ rồi vung mạnh tay về phía Tây:

- Morgen, alle Kamarad weg.

Hắn trợn mắt nhìn tôi như chờ tôi sẽ sững sờ, rồi thêm: "Todos todos", rồi lại tiếp tục công việc của mình. Hắn biết tôi có mấy viên đá lửa nên cạo cho tôi khá nhẹ nhàng. 

Cái tin ấy không hề gợi lên trong tôi một cảm xúc cụ thể nào. Từ nhiều tháng nay tôi đã không còn biết đau đớn, biết vui hay sợ hãi ngoại trừ mấy cái cảm giác xa cách đặc thù của Lager này, nhữnng cảm xúc mà ta có thể gọi là bị chi phối.

Tôi hoàn toàn tình táo. Alberto và tôi đã thấy trước từ lâu rồi những nguy hiểm sẽ đến khi trại bị sơ tán hay được giải phóng. Với cả điều Askenazi báo mang đến cũng chỉ là khẳng định thêm cái tin đã lan ra nhiều ngày nay rồi: quân Nga đã ở Censtochowa, cách đây một trăm cây số về phía Bắc, đã ở Zakopaxe, cách đây một trăm cây số về phía Nam, rằng ở Buna bọn Đức đã chuẩn bị bom để đánh sập nhà máy.

Tôi nhìn gương mặt những người cùng phòng mình, rõ ràng la không cần phải nói chuyện này với họ, vì họ sẽ trả lời tôi “ Ừ thì sao?", và câu chuyện sẽ chấm dứt ở đó. Nhưng mấy người Pháp thì không, họ chỉ mới vừa đến đây.

   - Các anh biết chưa? tôi nói vói bọn họ, ngày mai sơ tán trại đấy.

Họ trút vào tôi một đống câu hỏi: "Sơ tán đi đâu? Đi bộ à?... Cả người ốm nữa à? Thế những người không đi nổi thì sao?" Bọn họ biết tôi là tù cũ và hiểu tiếng Đức, và đoán chắc là tôi biết nhiều hơn nhiều những gì tôi chịu nói ra.

Tôi không biết gì nữa cả: tôi bảo với họ thế nhưng bọn họ cứ tiếp tục hỏi. Thật là khó xử. Nhưng cũng phải thôi, họ mới chỉ đến Lager có mấy tuần, vẫn chưa học được là ở đây người ta không hỏi han gì.

Buổi chiều tay bác sĩ ngưòi Hy Lạp đến. Hắn thông báo trong số những người ốm thì tất cả những người còn đi lại được sẽ được cấp giày và quần áo rồi lên đường ngày hôm sau cùng với những ngưòi khỏe mạnh, chặng đi khoảng hai mươi cây số. Những người khác sẽ ở lại Ka-Be với những hộ lý chọn ra từ số bệnh nhẹ hơn.

Tay bác sĩ trông vui vẻ một cách bất thường, hình như hắn say. Tôi biết hắn, một người có học, thông minh, ích kỷ và tính toán. Hắn còn bảo tất cả mọi người sẽ được nhận gấp ba suất bánh bình thường không phân biệt người đi hay ở lại, và điều đó khiến các bệnh nhân vui lên thấy rõ. Chúng tôi hỏi hắn rồi mình sẽ thế nào, hắn bảo có thể bọn Đức sẽ bỏ mặc chúng tôi cho số phận. Không, hắn không nghĩ chúng tôi sẽ bị chúng giết. Hắn chẳng thèm cố che đậy điều ngược lại, sự vui vẻ của hắn có ý riêng của nó.

Hắn đã trang bị đồ để lên đường. Khi hắn vừa ra khỏi, hai thanh niên người Hung bắt đầu trao đổi rộn lên với nhau. Bọn họ đã bắt đầu hồi phục nhưng vẫn còn rất yếu. Người ta thấy rõ họ sợ phải ở lại với những người ốm khác và quyết định sẽ lên đường cùng những người khỏe mạnh. Lúc ấy không còn lý trí nữa rồi, bản thân tôi nếu không cảm thấy mình quá ốm yếu thì chắc tôi cũng hành động theo bản năng số đông, nỗi sợ hãi là một thứ truyền nhiễm rất mạnh và con người sợ hãi sẽ nghĩ đến chuyện chạy trốn đầu tiên.

 Ở ngoài kia trại đang náo loạn bất thường. Một trong hai bệnh nhân Hung đứng lên, đi ra ngoài và lát sau quay lại với một ôm quần áo rách nát. Chắc anh ta lấy từ kho đồ chuẩn bị chuyển đi tẩy trùng. Anh ta và bạn vội vã mặc quần áo choàng vào người hết mảnh giẻ này đến mảnh giẻ khác. Người ta có thể hiểu họ đang cố đặt mình vào một sự đã rồi trước khi chính nỗi sợ lại khiến họ thay đổi quyết định. Yếu ớt như họ mà nghĩ đến chuyện đi bộ dù chỉ một giờ thôi cũng đủ ngu xuẩn lắm rồi, ngoài trời thì đang tuyết, mấy đôi giày nhặt được phút cuối cùng này thì rách nát. Tôi thử cố khuyên giải họ, nhưng họ chỉ nhìn tôi không đáp. Đôi mắt họ như mắt thú hoảng loạn

Trong giây lát tôi chợt nghĩ có khi họ có lý. Rồi họ vụng về trèo qua cửa sổ ra ngoài. Tôi nhìn theo hai cái bọc không ra hình thù gì  lảo đảo đi vào bóng tối. Họ không quay lại nữa. Rất lâu sau tôi mới biết họ đã không theo được và bị bọn SS bắn chết chỉ vài giờ sau khi chặng đi bộ bắt đầu.

  Tôi cũng cần phải có một đôi giày: rõ là như thế. Nhưng phải mất có lẽ đến một tiếng để chiến thắng cơn buồn nôn, cơn sốt và sự trì trệ. Tôi tìm được một đôi ở hành lang. Những người khỏe mạnh đã lục cả kho giày của bệnh nhân và mang đi những đôi tốt nhất: những đôi tệ nhất, đế nứt và cọc cạch vương vãi khắp kho. Chính ở đó tôi gặp Kosman, tay người Alsace. Trước đây khi tự do anh ta làm phóng viên thường trú cho Reuter ở Clermont-Ferrant. Anh ta cũng đang kích động đến mất trí, bảo tôi: "Nếu cậu về được trước thì nhớ viết thư cho thị trưởng Metz là tôi đang về nhé.”

Kosman khá nổi tiếng trong giới Prominent, vì thế sự lạc quan của anh ta khiến tôi thấy vững tin hơn và tôi dùng nó để tự biện minh cho sự trì trệ của mình. Tôi giấu giày đi và quay về giường.

Đến khuya tên bác sĩ Hy Lạp lại quay lại, đeo túi trên tay và một túi ngủ dùng khi đi núi. Hắn vứt lên giường tôi một cuốn tiểu thuyết Pháp: "Cầm lấy, đọc đi, anh chàng Ý. Cậu sẽ trả cho tôi khi nào gặp lại nhau nhé." Cho đến hôm nay tôi vẫn căm thù cái câu nói đó của hắn. Hắn biết rõ chúng tôi đã bị két án.

C uối cùng thì Alberto bất chấp điều cấm đến chào tôi qua cửa sổ. Cậu ấy đã là một phần không tách rời của tôi, chúng tôi được coi là "bọn hai tên Ý", thậm chí những bạn tù nước ngoài còn nhầm tên chúng tôi với nhau. Chúng tôi ngủ chung giường từ sáu tháng nay, và chia sẻ từng gam thức ăn xoay xở được thêm. Cậu ấy thì đã bị tinh hồng nhiệt từ nhỏ rồi nên bây giờ không bị lây từ tôi. Và thế nên cậu ấy sẽ đi, còn tôi ở lại. Chúng tôi chào nhau, không cần phải nói gì nhiều, chúng tôi đã nói cho nhau mọi chuyện của mình không biết bao nhiêu lần. Chúng tôi không tin sẽ phải xa nhau lâu. Alberto kiếm được một đôi giày da to, còn khá tốt. Cậu ấy thuộc cái loại bao giờ cũng kiếm ra được thứ mình cần.

Cậu ấy cũng vui vẻ và tin tưởng như tất cả như những người sẽ lên đường. Điều ấy hoàn toàn hiểu được: một chuyện mới mẻ, vĩ đại đang xảy ra: chúng tôi cảm nhận được quanh mình một sức mạnh mới không phải của bọn Đức, cảm nhận được cái thế giới đáng nguyền rủa quanh chúng tôi đang vỡ vụn thành từng mảnh. Hay ít nhất đó cũng là điều mà những người còn khỏe mạnh cảm thấy, vì dù mệt mỏi và đói khát đến đâu họ vẫn đang có thể đi lại được. Nhưng còn chúng tôi, những kẻ quá yếu, không quần áo, không giày thì lại suy nghĩ cảm nhận theo cách khác, rằng từ ngày mai trong tam trí chúng tôi sẽ chỉ còn cái cảm giác tê liệt rằng mình hoàn toàn bất lực trong bàn tay số phận.

Tất cả những người còn khỏe mạnh đã ra đi  vào cái đêm ngày 18 tháng Giêng năm 1945 ấy (chỉ trừ vài người được khuyên nhủ đến phút cuối cùng đa cởi đồ trốn vào một buồng trạm xá). Bọn họ có tất cả khoảng hai mươi nghìn người đến từ nhiều trại khác nhau. Hầu như tất cả đã bỏ mạng trong chuyến đi bộ sơ tán: Alberto cũng nằm trong số ấy. Ai đó sẽ viết lại câu chuyện của họ.

Còn lại chúng tôi trong cái ổ của mình, đơn độc với cơn bệnh, và sự trì trệ còn lớn hơn cả nỗi sợ hãi.

Toàn Ka-Be có khoảng tám trăm bệnh nhân. Trong phòng chúng tôi giờ còn lại mười một người, mỗi người một giường trừ Arthur và Charles nằm cùng nhau, cỗ máy khổng lồ của Lager đã tắt nhịp, và mười ngày sống bên lề thế giới và thời gian của chúng tôi bắt đầu.

18 tháng Giêng. Trong cái đêm đi sơ tán bếp của trại vẫn hoạt động, và sáng hôm sau trạm xá phát xúp lần cuối cùng. Trạm phát điện cho máy sưởi bị bỏ trống, trong các lán vẫn còn lưu lại chút hơi ấm nhưng mỗi giờ trôi qua nhiệt độ lại giảm thêm xuống và có thể thấy rằng chẳng mấy chốc chúng tôi sẽ bị lạnh. Ngoài trời dễ phải tới âm 20 độ trong khi phần lớn các bệnh nhân chẳng có quần áo gì ngoài cái sơ mi, nhiều người thậm chí sơ mi cũng không có.

Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra với chúng tôi. Một vài tên SS ở lại, vài tháp canh vẫn hoạt động.

Đến khoảng giữa trưa một tên sĩ quan SS đi một vòng quanh các lán. Hắn chọn ra trong bọn không phải Do Thái một người phụ trách cho mỗi lán, và ra lệnh lập ngay một danh sách bệnh nhân, chia thành Do Thái và không Do Thái. Mọi việc thật quá rõ rằng. Không ai ngạc nhiên thấy đến tận phút cuối cùng bọn Đức vẫn giữ cái tình yêu của đất nước chúng với sự phân biệt chủng tộc, và không một người Do Thái nào nghĩ rằng mình sẽ sống được đến ngày hôm sau.

Hai người Pháp không hiểu gì và rất hoảng sợ. Tôi miễn cưỡng dịch cho họ nghe những câu của tên SS. Tôi khó chịu thấy họ sợ hãi, họ mới chỉ ở đây chưa đầy một tháng, vẫn chưa biết đói là gì, họ thậm chí còn không phải dân Do Thái, thế mà họ lại sợ được.

Được phát một lần bánh mì nữa. Cả buổi chiều tôi đọc cuốn truyện tay bác sĩ để lại, truyện rất hay và tôi vẫn còn nhớ được nó với một sự dụnh xác điên rồ. Tôi sang thăm khoa bên cạnh lần nữa để tìm chăn: rất nhiều bệnh nhân ở đó đã cố đi và chăn của họ bỏ lại đầy. Tôi lấy cho mình vài cái ấm nhất.

Khi biết tôi vừa sang Khoa kiết lỵ về Arthur nhăn mũi bảo: "Y avait point besoin de le dire" đúng là chúng bẩn thật. Nhưng tôi nghĩ với những gì đang chờ đợi thì ngủ ấm một chút vẫn hơn.

Chẳng mấy chốc đêm xuống, nhưng ánh đèn điện vẫn còn. Chúng tôi nhìn thấy một tên SS mang vũ khí đứng ngay ở góc lán với một nỗi sợ hãi bình thản. Tôi không muốn nói chuyện, không thấy sợ hãi gì trừ cái kiểu sợ xa xôi và bị chi phối mà tôi nói, tiếp tục đọc sách cho đến khuya.

Không có đồng hồ ở đây, nhưng lúc đèn tắt chắc khoảng mười một giờ, những ánh đèn pha trên tháp canh cũng tắt. Những ánh đèn pin của gác đêm thấp thoáng xa xa. Rồi một cụm ánh sáng cực mạnh nở tung ra trên bầu trời, đứng nguyên chiếu xuống mặt đất sáng rực. Tiếng máy bay bắt đầu gầm lên.

Rồi đợt ném bom bắt đầu. Cũng chẳng phải chuyện gì mới mẻ, tôi trèo xuống đất, xỏ đôi chân trần vào giày và chờ đợi.

Nghe có vẻ xa xa, có lẽ là ở Auschwitz.

Thế nhưng bắt đầu một tiếng nổ ở gần và trước khi tôi kịp suy nghĩ tử tế thì đã đến tiếng thứ hai rồi thứ ba giáng xuống váng tai. Tiếng kính vỡ, lán rung lên, cái thìa tôi gắn vào giữa hai khe trên bức tường gỗ rơi bộp xuống sàn.

Rồi có vẻ kết thúc. Cagnolati - một thanh niên vốn là nông dân, cũng người Vosges - trần truồng nhảy ra khỏi giường nấp vào một góc la hét, cậu ta chắc chưa thấy ném bom lần nào.

Sau đó vài phút chúng tôi hiểu trại đã trúng bom. Các lán cháy dữ dội, hai lán đã biến thành tro, nhưng đều là các lán không người. Khoảng chục bệnh nhân, trần truồng khốn khổ từ một cái lán đang bị lửa thiêu chạy lại cầu cứu. Nhưng không thể cho vào được. Đám người cố nài nỉ rồi đe dọa bằng đủ các thứ tiếng, chúng tôi phải chặn cửa lại. Bọn họ bỏ đi sang chỗ khác, ngọn lửa chiếu sáng bóng họ chạy chân trần trên tuyết đang tan. Sau lưng nhiều người còn bám những dải băng bị tung ra. Lán của chúng tôi thì có vẻ chưa có nguy cơ gì, trừ phi gió đổi chiều.

Bọn Đức không còn đấy nữa. Những tháp canh trống không.

Giờ thì tôi nghĩ nếu chưa từng có một trại tập trung như Auschwitz thì thời chúng tôi sẽ chẳng còn ai nghĩ đến chuyện được phù hộ: nhưng đúng là lúc ấy ký ức về sự cứu rỗi kịp thời trong Kinh Thánh vẫn thường xảy ra trong những nghịch cảnh khủng khiếp nhất đã lướt qua tâm trí chúng tôi.

Không ai ngủ được, một tấm kính đã bị vỡ nên trong phòng rất lạnh. Tôi nghĩ chắc chúng tôi phải tìm một cái lò sười để lắp trong phòng và đi kiếm than, gỗ, thức ăn. Tôi biết cần phải làm những việc ấy, nhưng nếu không ai giúp đỡ tôi sẽ không đủ sức làm được. Thế là tôi nói chuyện với hai người Pháp.

19 tháng Giêng. Mấy người Pháp đồng ý. Ba chúng tôi thức dậy từ lúc bình minh. Tôi ốm và lười, lạnh và sợ.

Những bệnh nhân khác nhìn chúng tôi với vẻ tò mò kính nể: chúng tôi không biết bệnh nhân thì không được quyền ra khỏi Ka-Be hay sao? Nhỡ bọn Đức chưa  đi hết thì sao? Nhưng họ không nói gì hết, họ mừng vì có người ra xem thử.

Hai người Pháp không có ý tưởng gì về thực địa ở Lager, nhưng Charles là một tay cao to, dũng cảm còn Arthur thì sắc sảo và tháo vát theo kiểu nhà nông. Chúng tôi quấn người sơ sài trong mấy cái chăn rồi bước ra ngoài trời giá lạnh, sương mù và gió.

Điều chúng tôi thấy không giống với bất cứ cảnh tượng nào tôi từng chứng kiến hay nghe tả.

Lager vừa mới ngừng hoạt động đã ngay lập tức tan hoang. Không còn điện, nước. Các cánh cửa và cửa sổ rời ra đu đưa trong gió, các miếng tôn tung khỏi mái nhà kêu rít lên, đám tro từ những đám cháy bay xa tít trên cao. Ngoài hậu quả của bom là cả sự giày xéo của con người: những bệnh nhân rách rưới, hom hem, gầy trơ xương vẫn còn lê bước được đã lê la khắp nơi trên mặt đất đóng băng cứng nhắc, như trận xâm lược của lũ sâu bọ. Bọn họ lục tung tất cả các lán để tìm thức ăn và củi, giận dữ thiếu suy nghĩ tràn vào những căn phòng trang trí  kệch cỡm của các Blockaltester mà cho đến hôm trước Haftlings vẫn còn bị cấm không được vào.  Không làm chủ được cơn đói của mình họ đã làm bẩn khắp nơi kể cả chỗ tuyết quý báu, nguồn nước duy nhất còn trong toàn trại.

  Xung quanh những đống đổ nát bốc khói của các lán bị cháy, từng nhóm bệnh nhân ngồi sát xuống đất cố hút lấy hơi nóng cuối cùng. Vài người tìm được khoai tây ở đâu đó đem nướng trên đống than đám cháy phóng tia mắt dữ tợn ra xung quanh. Chỉ ít người có đủ sức nhóm một bếp lửa thực sự, và đun chảy tuyết trong một thứ đồ làm tạm.

Chúng tôi hướng đến khu bếp càng nhanh càng tốt, nhưng chỗ khoai tây đã gần cạn. Chúng tôi nhét khoai vào đầy hai cái túi rồi để đấy cho Arthur trông. Cuối cùng Charles và tôi cũng thấy cái mình tìm giữa đống đổ nát của Prominenzblock: một cái lò sưởi bằng gang nặng với chỗ đường ống vẫn còn dùng được. Charles mang một cái xe cút kít chạy đến và chúng tôi chất lò sưởi lên, sau đó anh ta để tôi chở nó về lán còn mình thì chạy lại chỗ mấy cái túi. Arthur đã ngất đi vì lạnh, Charles giấu hai bao khoai tây vào chỗ án toàn rồi quay lại chăm sóc bạn.

Trong lúc ấy tôi cố gắng hết sức mình để đẩy cái cút kít nặng trĩu, nhiều khi tưởng không làm nổi. Có tiếng xe mô tô, và rồi một tên  SS cưỡi xe chạy vào trong trại. Như mỗi lần nhìn vào gương mặt nghiệt ngã của chúng tôi lại thấy trong mình tràn đầy sợ hãi và căm ghét. Giờ thì đã quá muộn để trốn với lại tôi cũng không muốn bỏ cái lò sưởi. Quy định của Lager ghi rõ phải đứng nghiêm và bỏ mũ ra, tôi thì không có mũ, người quấn trong tấm chăn, thế là tôi đành bước máy bước ra xa cái xe rồi hơi khuỵu chân khom người. Tên Đức đi qua mà không nhìn thấy tôi, hắn lượn quanh một cái lán rồi bỏ đi. Chỉ sau này tôi mới biết nỗi nguy hiểm mình vừa trải qua.

Cuối cùng tôi cũng về được đến bậc cửa lán chúng tôi, và trao cái lò sưởi vào tay Charles. Tôi không thở được nữa vì quá sức, những chấm đen to đùng tha hồ nhảy múa trước mắt.

Bây giờ thì cần lắp cho nó hoạt động. Tay cả ba chúng tôi đều tê liệt, lớp kim loại giá lạnh dính vào lớp da trên ngón tay, nhưng cái lò cần phải hoạt động sớm để còn sưởi cho chúng tôi và luộc khoai tây. Chúng tôi đã tìm thấy gỗ và than đá, cả chỗ than gỗ từ mấy cái lán bị cháy. 

Khi cái cửa sổ hỏng đã sửa xong và lò sưởi bắt đầu tỏa hơi ấm, có vẻ như trong mỗi chúng tôi có một điều gì nhẹ nhõm hẳn trong lòng. Và thế là Towarowski (một người Pháp-Ba Lan hai mươi ba tuổi bị thương hàn) đề nghị những người khác mỗi người cho ba người chúng tôi một mẩu bánh vì đã làm việc và đã được chấp nhận.

Chỉ mới hôm trước thôi một việc như thế là là không thể chấp nhận được. Luật của Lager nói “hãy ăn miếng bánh cảu bạn, và nếu có thể thì cả của người bên cạnh nữa”, không có chỗ cho sự biết ơn. Sự việc trên có nghĩa là Lager đã chết.

Đó là cử chỉ nhân văn đầu tiên xảy ra giữa chúng tôi. Tôi tin giây phút ấy có thể đánh dấu quy trình mà chúng tôi, những kẻ chưa chết, từ Haftling từ từ được trở lại làm người.

Arthur đã hồi phục khá ổn, nhưng từ lúc ấy anh tránh không phơi mình ra gió, anh nhận nhiệm vụ trong lò sưởi, nấu khoai tây, dọn sạch phòng và giúp đỡ người ốm. Charles và tôi chia nhau những công việc bên ngoài. Trời vẫn còn sáng khoảng một tiếng nữa, một lượt ra đã kiếm thêm cho chúng tôi nửa lít rượu mạnh và một hộp men bia không hiểu ai vứt ra trên tuyết. Chúng tôi phân phát khoai tây luộc và mỗi người một thìa men, tôi nhớ mang máng là nó có thể giúp chống lại chứng thiếu vitamin.

Bóng tối đến, chúng tôi tự hào vì phòng của mình là nơi duy nhất trong toàn bộ trại có lò sưởi. Rất nhiều bệnh nhân từ các khoa khác quây lấy cánh cửa, nhưng hình dáng to lớn của Charles đã giữ không cho họ dám lại gần. Họ cũng như chúng tôi không ai nghĩ việc lây những thứ bệnh của chúng tôi là không tránh được và vào phòng này là cực kỳ nguy hiểm, rằng bị bạch hầu trong cái điều kiện này thì còn chắc chết hơn là lao mình từ cửa sổ tầng ba xuống.

Bản thân tôi, dù biết, cũng không băn khoăn quá về chuyện ấy: từ lâu lắm rồi tôi  đã quen với việc nghĩ đến cái chết vì bị ốm là một chuyện hoàn toàn có thể, trong trường hợp này là không thể tránh khỏi và dù sao thì chúng tôi cũng không làm gì được cả. Tôi cũng hoàn toàn không nghĩ đến việc chuyển sang một khoa khác, một lán khác ít nguy cơ lây nhiễm hơn. Ở đây có cái lò sưởi, công trình của chúng tôi đang tỏa ra một làn hơi ấm áp tuyệt vời. Ở đây tôi có một cái giường, và nhất là giờ đây dã có một sự gắn bó giữa chúng tôi, mười một bệnh nhân của Infektionsabteilung.

Họa hoằn mới thấy một tiếng pháo gầm xa hoặc gần, còn tiếng súng máy nổ giòn giã cứ một chốc lại có. Trong bóng tối chỉ có ánh hồng của than. Charles, Arthur và tôi ngồi hút thuốc cuốn từ các loại cỏ hương liệu lấy từ phòng bếp, và chúng tôi nói rất nhiều chuyện về quá khứ và tương lai. Ở giữa vùng đồng bằng bất tận đầy băng giá và chiến tranh, trong căn phòng tối đầy vi trùng này. Chúng tôi cảm thấy thanh thản với lòng mình và với thời gian. Chúng tôi một rã rời, nhưng lâu lắm rồi chúng tôi mới cảm thấy cuối cùng mình cũng làm được một việc có ích, có lẽ cũng giống Chúa trời sau ngày đầu tiên tạo ra thế giới.

20 tháng Giêng. Bình minh đã tới, đến lượt tôi nhóm lò sưởi. Ngoài cái mệt, các khớp xương đau đớn nhắc nhở tôi từng giây phút rằng căn bệnh của tôi còn lâu mới khỏi. Ý nghĩ phải ném mình ra cái giá lạnh ngoài kia để kiếm lửa ở những lán khác khiến tôi rùng mình vì sợ.

Tôi chợt nhớ đến mấy viên đá lửa: tôi lấy một mẩu giấy thấm đầy rượu mạnh rồi kiên nhẫn mài một viên đá thành một ít bột màu đen, rồi mài mạnh viên đá vào con dao. Đây rồi: sau vài tia lửa đống bột bốc cháy, và từ mảnh giấy bốc lên một ngọn lửa cồn nhạt màu.

Arthur phấn khởi tụt từ giường xuống và hơ nóng ba củ khoai tây trong số khoai luộc từ hôm qua. Sau đó bụng đói và run rẩy, chúng tôi lại lên đường thăm dò khu trại đổ nát.

Chỉ còn thức ăn (tức là khoai tây) cho hai ngày. Nước thì chúng tôi phải đun tan tuyết, một việc khó nhọc vì không có cái đựng, tuyết thì tan thành một thứ nước đen và lợ phải lọc mới dùng được.

Trại yên ắng. Những bộ xương đói khát khác cũng đi vòng quanh như chúng tôi để tìm đồ, râu mọc dài, mắt hõm vào, thân thể giơ xương vàng vọt quấn trong mớ giẻ. Lảo đảo trên đôi chân ra vào những cái lán không người mang đi đủ thứ: rìu, xô, muôi, đinh. Tất cả đều có thể có ích, nhưng kè nhìn xa trông rộng đã kịp nghĩ tới chuyện đổi chác béo bở với bọn Ba Lan ở làng bên cạnh.

Trong bếp có hai người đang tranh nhau mấy chục củ khoai tây thối. Họ nắm lấy mấy mảnh quần áo giẻ rách của nhau, đánh nhau bằng những cử chỉ kỳ lạ chậm chạp và do dự, đôi môi lạnh giá tuôn ra những lời nguyền rủa bằng tiếng Yiddish.

Trong sân kho có hai đống bắp cải và củ cải (cái thứ củ cải nhạt nhẽo, thức ăn chính của chúng tôi). Chúng đóng băng lại cứng đến nỗi phải dùng cuốc mới tách ra được. Charles và tôi bắt tay vào làm, dồn hết sức lực vào mỗi nhát cuốc, và chúng tôi lấy được khoảng năm mươi cân. Có cả thứ khác nữa: Charles tìm thây một túi muối và ("Une fameuse trou- vaille!") một thùng đựng khoảng năm mươi lít nước trong hình dạng một cục băng khổng lồ.

Chúng tôi chất mọi thứ lên cái xe (trước đây vẫn dùng để phát thức ăn cho các lán: vẫn còn cả đống xe như thế bỏ lại khắp nơi), và chúng tôi khó nhọc đẩy xe về trên nền tuyết.

Ngày hôm ấy chúng tôi đành bằng lòng với khoai tây luộc và củ cải cắt lát nướng trên lò, nhưng ngày mai, nhưng Arthur hứa, ngày mai sẽ cải thiện.

Buổi chiều tôi đến phòng thí nghiệm cũ để tìm xem có còn gì có ích. Tôi là người đến sau, tất cả đã bị những tên trộm không biết gì phá hỏng. Không còn cái chai nào nguyên vẹn, trên sàn là một đống giẻ, phân, vật liệu y tế, một cái xác trần truồng còng queo. Nhưng kia rồi, cái vật đã lọt qua mắt những kẻ đến trước tôi: một cục ắc quy xe tải. Tôi lấy con dao chạm vào các cực, một tia lửa lóe lên, ắc quy vẫn còn điện.

Đêm đó phòng chúng tôi có ánh sáng đèn.

Ngồi trên giường tôi nhìn thấy qua cửa sổ một đoạn đường dài. Từ ba ngày nay Wehrmacht chạy trốn thành một lớp sóng trùng điệp ngang qua. Đi xe bọc thép, xe "hổ" ngụy trang thành màu trắng, bọn Đức cưỡi ngựa, cưỡi xe đạp, đi bộ, mang vũ khí hoặc không. Trong đêm tiếng bánh xe ầm ầm vang đến rất lâu trước khi xe xuất hiện.

Charles hỏi: "Ca roule encore?"

- Ca roule toujours.

Có vẻ như sẽ không bao giờ kết thúc.

21 tháng Giêng. Thế nhưng nó đã kết thúc. Bình minh ngày 21 cả vùng đồng bằng trông hoang vắng lạnh lẽo, trắng xóa hút tầm mắt dưới bóng bầy quạ, buồn đến chết.

Tôi những muốn vẫn thấy có gì đang chuyển động. Các thường dân Ba Lan cũng biến mất, trốn đâu không biết. Đến gió cũng như đứng im. Tôi chỉ mong được nằm lại dưới lớp chăn, buông xuôi theo sự ốm yếu trên toàn cơ thể, các cơ bắp, thần kinh và cả ý chí, chỉ muốn chờ đợi như một người đã chết sự kết thúc, hoặc không kết thúc, cái gì cũng thế cả.

Nhưng Charles đã đốt lò sưởi, con người Charles năng động, tin tưởng và thân thiện gọi tôi đi làm:

- Vas-y, Primo, descends-toi de là-haut, il y a Jules à attraper par les oreilles...

“Jules" là cái xô trong nhà xí mà mỗi sáng phải cầm quai xách ra bên ngoài đổ vào cái hố đen: đó là việc đầu tiên phải làm trong ngày. Xét đến việc ở đây không rửa được tay trong khi có ba người trong chúng tôi bị tinh hồng nhiệt thì việc này không thích thú gì.

Chúng tôi phải bắt đầu với đống súp lơ và củ  cải. Trong khi tôi đi kiếm củi thì Charles nhặt tuyết nấu tan, Arthur giục những người ốm còn ngồi  dậy được để họ giúp một tay nhặt rau. Towarowski, Sertelet, Alcalai và Schenck chấp thuận.

Sertelet cũng là một nông dân vùng Yosges, hai mươi tuổi, anh ta dường như vẫn sung sức nhưng ngày qua ngày tiếng nói của anh ta  càng rõ ra giọng mũi, như nhắc nhở chúng tôi rằng bệnh bạch hầu hiếm khi biết tha thứ. Alcalai là một thợ thủy tinh Do Thái Toulouse, rất trầm tĩnh biết điều, bị viêm quầng ở mặt. Schenck là một thương nhân Do Thái người Slovak, anh ta đang khỏi dần bệnh thương hàn và ăn khỏe kinh khủng. Towarowski cũng thế, anh này là người Pháp-Ba Lan, ngốc nghếch và lắm mồm, nhưng rất có ích cho nhóm người trong phòng vì cái kiểu lạc quan dễ lây của mình.

Thế là trong khi những người ốm ngồi trên giường mình cầm dao gọt, Charles và tôi quyết đinh đi tìm một chỗ để kiếm chồ nấu ăn. Một sự bẩn thỉu không tả nổi tràn ngập khắp các khu vực của trại. Nhà xí nào cũng đầy tràn, không ai lo đến việc dọn hằng ngày nữa. Những người bị kiết lỵ (có đến hơn một trăm) đã làm bẩn mọi xó xỉnh của Ka-Be, trút đầy ra các xô, các bình thường dùng chứa suất ăn, những cái bát. Không thể bước đi mà không nhìn kỹ dưới chân, trong bóng tối thì không tài nào di chuyển được. Mặc dù phải chịu cái lạnh vẫn đang rất buốt giá, chúng tôi ghê sợ nghĩ đến chuyện sẽ xảy ra nếu chẳng may nhiệt độ ấm lên đến mức tan băng: sự nhiễm khuẩn sẽ tràn lan không cứu chữa được, mùi thối chắc sẽ ngạt thở và nhất là khi tuyết tan, chúng tôi sẽ hoàn toàn không  còn nuớc nữa.

Sau một hồi lâu tìm kiếm cuối cùng chúng tôi cũng tìm đuợc một khoảng trống vài gang tay không quá bẩn trong một chỗ trước là khu giặt giũ. Chúng tôi đốt một đống lửa to rồi tẩy trùng tay bằng cách xát Clo và tuyết vào tay để tiết kiệm thời gian và tránh biến chứng.

Tin tức về nồi xúp đang chín loan rất nhanh trong đám đông những kẻ dở sống dở chết. Sau cánh cửa xuât hiện một đám đông những gương mặt đói khát. Charles giơ cái muôi lên cho họ một bài diễn thuyết ngắn gọn mạnh mẽ khỏi cần dịch dù nói bằng tiếng Pháp. Hầu hết bọn họ lui ra nhưng còn một tiến lên, đó là một người Paris, làm thợ may cao câp (lời anh ta nói) đang bị viêm phổi.

Để  đổi lấy một lít xúp anh ta đề nghị sẽ may quần áo cho chúng tôi từ những cái chăn còn lại trong trại. Và Maxime đã tỏ ra thực sự có tài. Ngày hôm sau Charles và tôi đã có áo khoác, quần và găng làm từ một thứ vải sần sùi nhiều màu sắc

Buổi tối sau khi xúp được phấn khởi phát ra và ngấu nghiến một cách tham lam, sự yên tĩnh của đồng bằng bị phá vỡ. Từ giường của mình, quá mệt không thực sự lo lắng được nữa, chúng tôi lắng nghe tiếng pháo bí ẩn có vẻ được đặt ở tất cả các điểm phía chân trời và tiếng các mảnh đạn nổ đanh gọn trên đầu.

Tôi nghĩ cuộc đời thật đẹp, và sẽ còn đẹp, và thật phí nếu chết chìm bây giờ. Thế là tôi đánh thức các bệnh nhân dậy, và khi tin chắc là họ đang lắng nghe, tôi nói vói họ trước tiên là bằng tiếng Pháp và sau đó dịch sang thứ tiếng Đức tốt nhất mà tôi có, rằng bây giờ tất cả phải nghĩ đến chuyện về nhà, về phía chúng tôi sẽ có một vài việc cần làm và một vài việc cần tránh. Mỗi người sẽ phải giữ cẩn thận cà mèn và thìa của mình và nếu thừa xúp cũng không ai được cho người khác. Không ai xuống khỏi giường nếu không phải là để đi vệ sinh, ai cần bất cứ việc gì thì chỉ được hỏi ba chúng tôi. Arthur có nhiệm vụ giữ kỷ luật và vệ sinh, và cần nhớ là thà để bát và thìa bẩn còn hơn là rửa với nguy cơ sẽ bị lẫn đồ của người bị bạch hầu với người bị thương hàn.

Tôi có cảm giác là những bệnh nhân đã quá thờ ơ với bất cứ điều gì, không tự chăm sóc cho mình được như tôi vừa bảo, nhưng tôi tin tưởng vào sự cần cù của Arthur.

22 tháng Giêng. Nếu can đảm có nghĩa là đối mặt nguy hiểm với trái tim nhẹ nhõm thì sáng hôm ấy Charles và tôi đã là những người dũng cảm.

Chúng tôi mở rộng sự thăm dò của mình sang trại của bọn SS ngay đằng sau hàng rào dây điện.

Bọn gác trại chắc đã rất vội khi rời khỏi đây. Chúng tôi tìm thấy trên bàn những đĩa cháo vẫn còn đầy một nửa giờ đã đông cứng mà chúng tôi ăn một cách sung sướng, những cốc vẫn còn đầy bia đã chuyển thành những khối đá màu vàng, một bàn cờ đang chơi dở. Còn trong phòng là cả một đống những thứ quý giá.

Chúng tôi lấy một chai vodka, các loại thuốc, sách báo và bốn cái chăn nhồi bông tuyệt hảo, một trong số đó giờ vẫn nằm ở nhà tôi ở Turin. Vui mừng và không suy nghĩ gì, chúng tôi mang thành quả của cuộc phá vây về nhà giao cho Arthur quản lý. Và chỉ đến tối chúng tôi mới biết chuyện xảy ra nửa tiếng sau đó.

Một vài tên SS, có thể đang bị lạc nhưng có vũ khí đi vào trong khu trại bỏ hoang đó, chúng tìm thấy mười tám người Pháp trong phòng ăn của SS- Waffe. Bọn chúng giết tất cả cùng một kiểu, bắn một phát sau gáy rồi đặt những cái xác còng queo thành một hàng trên mặt tuyết ngoài đường, sau đó bỏ đi. Mười tám cái xác phơi ra ở đó cho đến tận khi quân Nga tới, không ai còn sức để chôn họ cả.

Hơn nữa, lúc ấy lán náo cũng có những giường nằm có xác chết, cứng đờ như gỗ và không a còn nghĩ đến chuyện dịch chuyển chúng. Đất quá cứng không đào lên được. Rất nhiều xác chết được xếp vào một cái hào, nhưng ngay mấy hôm đầu cái đống ấy đã trồi lên khỏi chỗ đào, từ cừa sổ của chúng tôi có thể trông thấy rõ một cách tồi tệ.

Khoa kiết lỵ chỉ cách chúng tôii một lớp ván gỗ. Rất nhiều người ngắc ngoải và nhiều người đã chết. Sàn nhà phủ đầy một lớp phân đóng băng. Không ai còn đủ sức chui ra khỏi chăn để kiếm thức ăn còn ai đã ra được thì cũng không quay lại chăm sóc bạn. Có hai người  Ýnằm sát với nhau cho đỡ lạnh ngay cạnh bức ván ngăn, tôi vẫn thường nghe thấy họ nói chuyện nhưng họ thì không nhận ra sự có mặt của tôi trong suốt một thời gian dài vì tôi chỉ nói tiếng Pháp. Tình cờ một ngày họ nghe thấy Charles gọi tên tôi theo đúng giọng Ý và thế là từ lúc đó họ không ngừng rên ri van xin.

Có phương tiện và sức lực nén dĩ nhiên tôi cũng muốn giúp, mà nếu không thì cũng là để chấm dứt những tiếng kêu ám ảnh của họ. Buổi tối, khi mọi công việc đã xong, tôi vượt qua sự một mỏi và ghê sợ để mang theo một bát nước và ít xúp ban ngày chúng tôi để lại đi qua cái hành lang tối tăm kinh tởm. Kết quả là từ lúc ấy cả khoa kiết lỵ ngày đêm réo tên tôi qua tấm ván mỏng, với các trọng âm của tất cả các ngôn ngữ châu Âu, kèm theo đó là những lời van xin không hiểu nổi khi tôi không thể làm được gì cho họ. Tôi cảm thấy phát khóc lên được và chỉ muốn nguyền rủa họ.

Buổi tối chứa những bất ngờ đáng ghét. Lakmaker nằm giường phía dưới tôi là một người kiệt quệ bất hạnh. Cậu ta là (hay đúng hơn đã từng là) một người Do Thái Hà Lan mời bảy tuổi, cao, gầy và hiền lành, nằm viện từ ba tháng nay. Tôi không hiểu làm sao cậu ta thoát khỏi bị chọn lọc. Lakmaker bị thương hàn rồi sau đó là tinh hồng nhiệt, cùng lúc đó lại xuất hiện thêm chứng tim khá nặng. Phần thịt nằm áp vào đệm lâu bị thối khá nặng nên giờ đây cậu ta chỉ có thể nằm sấp. Bị tất cả những thứ ấy nhưng Lakmaker lại ăn rất khỏe, cậu ta không nói tiếng gì khác ngoài tiếng Hà Lan nên không ai trong số chúng tôi hiểu được.

Nguyên nhân có thể do cái món cháo bắp cải và củ cải mà Lakmaker đòi ăn những hai suất. Nửa đêm cậu ta rên rỉ và nhảy xuống khỏi giường, cố gắng đi vào nhà vệ sinh, nhưng quá yếu nên ngã lăn ra đất, gào khóc ầm ĩ.

Charles bật đèn (thật may mà có cái ắc quy) và  chúng tôi có thể chứng kiến mức độ nghiêm trọng của tai nạn. Giường của Lakmaker và sàn nhà đều bẩn, mùi căn phòng nhỏ nhanh chóng trở nên không thể chịu đựng được. Chúng tôi không có tí nước dự trữ nào, không chăn đệm khác để thay. Cái thằng bé khốn khổ bị thương hàn này là cả một ổ vi khuẩn lây nhiễm khủng khiếp, nhưng cũng đâu có thể để nó nằm trên sàn suốt đêm rên rỉ và run rẩy trong cái đống bẩn thỉu ấy.

Charles trèo từ giường xuống và nhanh chóng mặc quần áo. Trong khi tôi giữ cái đèn anh lùa con dao vao chỗ đệm và chăn cắt đi hết những chỗ bẩn đỡ Lakmaker lên với sự nhẹ nhàng của một người mẹ, anh lau nó thật kỹ bằng mảnh rơm rút ra từ đệm rồi nâng nó lên giường đặt vào đúng tư thế duy nhất mà nó nằm được. Rồi anh lấy một mảnh thiếc cạo chỗ sàn nhà, vẩy một ít clo và cuối cùng là tẩy trùng mọi thứ và người mình.

Tôi thầm đo sự hy sinh của anh bằng cái mệt mỏi mà tôi sẽ phải vượt qua để làm được như anh

23 tháng Giêng. Khoai tây của chúng tôi đã hết. Có tin đồn quanh các lán là một thùng khoai tây cực to nằm ở đâu đó bên ngoài hàng rào kẽm gai, cách trại không xa lắm.

Một vài tên thám hiểm chắc đã kiên nhẫn dò xét hoặc ai đó đã biết chính xác chỗ để nên đến sáng ngày 23 một đoạn dây kẽm gai đã bị kéo xuống và hai dòng người khốn khổ đi ra đi vào trại.

Charles và tôi lên đường trong cơn gió của đồng bằng tím tái, bước qua cái rào cản đã bị dìm xuống.

- Dis donc, Primo, on est dehors!

Đúng là như thế: đây là ngày đầu tiên tôi thấy mình tự do kể từ khi bị bắt, không bị lính gác mang vũ khí, không có hàng rào ngăn cách giữa tôi và gia đình.

Khoai tây nằm cách trại khoảng bốn trăm mét: cả một kho báu. Hai cái hào cực dài tràn đầy khoai được phủ bằng đất và rơm xếp cách lớp để chống giá lạnh. Sẽ không ai chết vì đói nữa.

Nhưng cậy được khoai ra không phải chuyện đơn giản. Vì lạnh nên mặt đất phía trên cứng như đá. Cuốc vất vả mãi mới mở được lớp đất ở trên và để lộ ra kho báu bên dưới, số đông chọn cách chui qua những cái lỗ người khác bỏ lại, chui vào thật sâu và chuyển khoai tây cho người đứng bên ngoài.

Một tù lớn tuổi người Hung đã chết đúng ở đây. Anh ta nằm xuống đúng trong tư thế đói ăn: đầu và vai chui xuống dưới đống đất, bụng áp xuống tuyết, tay vươn ra chỗ những củ khoai tây. Người đến sau dịch xác anh ta ra khoảng một mét, rồi tiếp tục công việc qua lỗ thông đã được giải phóng.

Từ lúc ấy thực đơn của chúng tôi khá khẩm hơn. Ngoài khoai tây luộc và xúp khoai tây chúng tôi còn cho những người ốm ăn khoai tây rán theo công thức nấu của Arthur: trộn lẫn khoai tây sống và khoai luộc rồi nướng hỗn hợp ấy trên một mảnh sắt nóng, món đó có vị bồ hóng.

Nhưng Sertelet thì không hưởng được những thứ đó, bệnh anh ta ngày càng nặng. Ngoài tiếng rít trong mũi hôm ấy anh tạ còn không nuốt trôi được chút thức ăn nào, có cái gì đó trong cổ anh ta, miếng nào cũng khiến anh ta nghẹn.

Tôi đi tìm tay bác sĩ người Rumani ốm nên ở lại lán đối diện. Ngay khi nghe tôi nói về hầu hắn ta lùi đến ba bước và bắt tôi đi ngay.

Tôi cho tất cả nhỏ mũi bằng dầu long não, cốt cho yên lòng. Tôi cam đoan vói Sertelet là nó sẽ giúp anh ta khỏe lên, và cố thuyết phục cả bản thân mình như thế.

24 tháng Giêng. Tự do. Cái lỗ trên hàng rào dây thép gai là một hình ảnh cụ thể, để nhắc nhở tâm trí chú ý rằng không còn bọn Đức, không còn chọn lọc, không bị đánh, không điểm danh và có thể sau nữa sẽ được trở về.

Nhưng vẫn cần tốn sức để thuyết phục chuyện đó và không ai có thời gian để thưởng thức cảnh ấy cả. Khắp xung quanh là cái chết và cảnh tàn phá.

Đống xác chết ngay trước cửa sổ chúng tôi giờ đã trồi lên khỏi cái hào. Mặc dù có khoai tây nhưng tất cả đều rất yếu, trong trại không bệnh nhân nào khỏi ốm mà rất nhiều người còn mắc bệnh viêm phổi và kiết lỵ. Những người không di chuyển được hay không có sức để di chuyển nằm lịm đi trên giường, người lạnh cóng cứng đờ lại, và khi họ chết cũng không ai nhận ra.

Những người khác đều mệt mỏi đến phát sợ: sau hàng năm hàng tháng ở Lager, chỉ khoai tây không đâu có đủ để một con người tìm lại được sức mạnh. Khi xúp chín, Charles và tôi đẩy hai mươi lăm lít xúp hằng ngày từ khu giặt giũ về phòng là phải nằm vật ra giường thở dốc. Trong khi đó Arthur cẩn thận và đảm đang chia xúp, chú ý giữ ba suất "rabiot pour les travailleurs" và một ít dưới đáy "pour les italiens d'à côté".

Trong căn phòng bệnh truyền nhiễm thứ hai, cũng kế sát phòng chúng tôi và chủ yếu là bệnh nhân lao phổi thì tình cảnh lại khác. Tất cả những người có thể thì đã chuyển đến trú ở những lán khác. Những người tù bệnh nặng hơn hoặc yếu hơn thì lần lượt ra đi trong sự cô độc.

Một buổi sáng tôi vào đó để mượn một cái kim. Một bệnh nhân hấp hối ở giường trên nghe thấy tiếng tôi, anh ta cố ngồi dậy rồi đâm đầu bổ nhào qua thành giường xuống phía tôi, ngực và cánh tay cứng nhắc còn đôi mắt trắng dã. Người nằm giường dưới theo phản xạ giơ tay lên đỡ thì mới nhận ra anh ta đã chết, đành dần dần buông tay xuống vì nặng. Người kia lăn xuống đất và nằm yên ở đó. Không ai biết tên anh ta cả.

Trong lán 14 thì lại đang có chuyện mới. Ở đó là bệnh nhân nằm dưỡng bệnh sau phẫu thuật, một vài người trong số đó ở trong tình trạng khá tốt. Bọn họ tổ chức một chuyến sang trại tù chiến tranh người Anh mà mọi ngưòi đoán chắc đã đi sơ tán, thu về được một chuyến thành công. Họ quay về mặc toàn đồ kaki và một xe chất đầy những thứ trước đây chưa từng thấy: bơ thực vật, bột kem trứng, mỡ muối, bột đậu, rượu.

Tối hôm ấy những người ở lán 14 ca hát.

Không ai trong số chúng tôi cảm thấy đủ sức đi hai cây số sang trại của bọn Anh rồi đẩy xe về. Nhưng chuyến đi may mắn ấy cũng mang lợi cho chúng tôi một cách gián tiếp. Sự phân chia của cải không cân bằng đã khiến sản xuất thương mại hưng thịnh lại. Trong cái căn phòng mang mùi chết chóc của chúng tôi đã ra đời một nhà máy sản xuất nến có lõi tẩm axit boric dính với nhau bằng giấy bồi. Những kẻ giàu có ở lán 14 tiêu thụ hết hàng của chúng tôi, trả bằng mỡ lợn và bột.

Chính tôi là người tìm thấy cái khối sáp ong trong Elektromngazin. Tôi vẫn nhớ vẻ nghi ngờ của những người nhìn tôi mang nó đi và những câu hỏi lúc ấy:

- Cậu làm gì với cái đó?

Không phải lúc để tiết lộ một bí mật sản xuất, tôi nghe thấy tiếng mình tự trả lời bằng cái câu tôi vẫn thường nghe được từ những ma cũ của trại, câu chứa đựng phẩm chất được yêu thích nhất' "tù giỏi", người biết thích ứng, lúc nào cũng xoay xở được: "Ich verstehe verschiedene Sachen" (Tớ đây biết nhiều thứ lắm).

25 tháng Giêng. Lần này đến lượt Sómogyi. Anh ta là một nhà hóa học người Hung khoảng năm mươi tuổi, gầy, cao và ít nói, cũng bị cả thương hàn lẫn tinh hồng nhiệt như cậu Hà Lan. Anh ta  bị một cơn sốt nặng, sau khoảng năm ngày không một lời nào, đến một hôm anh ta mở miệng và nói bằng một giọng bình tĩnh:

- Tôi có một suất bánh mì dưới cái xắc. Ba anh chia nhau đi. Tôi không ăn nữa.

Chúng tôi không biết nói gì, và không động đến bánh lúc ấy. Một nửa mặt anh ta sưng phồng. Còn tỉnh thì anh ta còn im như thóc, nhưng đến đêm hôm ấy và suốt cả hai ngày sau thì sự im lặng bị thay thế bằng cơn mê sảng không dứt. Theo cái giấc mơ bất tận của sự chịu đựng và cảnh nô lệ, anh ta lầm rầm "Jawohl" sau mỗi nhịp thở, đều đặn liên tục như một cái máy, "Jawohl" mỗi khi cái rẻo xương sườn tội nghiệp hạ xuống, hàng nghìn lần như thế, đến mức người ta chỉ muốn lắc mạnh anh ta, bóp cổ anh ta hay làm gì để ít nhất cũng nói một câu khác đi.

Tôi chưa bao giờ ngộ ra cái chết của một con người khổ sở thế nào như lúc ấy.

Ngoài kia vẫn là sự tĩnh lặng mênh mông, số quạ đã tăng lên nhiều, ai cũng hiểu tại sao. Chỉ thỉnh thoảng sau một lúc lâu tiếng pháo mới lại gầm lên.

Tất cả đều bảo nhau quân Nga sẽ đến ngay bay giờ đây, sẽ đến sớm. Tất cả đều tuyên bố thế không ai có thể tin tưởng thực sự vào điều đó. Vì ở Lager người ta đã mất đi thói quen hy vọng, mất cả sự tin tưởng vào lẽ phải, ơ Lager nghĩ chỉ vô ích, vì mọi sự đều xảy ra theo hướng khó lường nhất. Nghĩ chỉ có hại vì nghĩ là giữ cái cảm giác cội nguồn đau khổ, còn những cảm giác khác khi vượt quá một mức độ nào đó sẽ khắc có môt quy luật tự nhiên phù hộ khiến chúng dịu đi.

Sự chờ đợi, cũng như niềm vui, như nỗi sợ hãi và cả nỗi đau khổ nữa đều có thể khiến người ta mệt mỏi. Đến ngày 25 tháng Giêng, đúng tám ngày cắt đứt mối quan hệ với cái thế giới hung tàn mà dù sao cũng vẫn là một thế giới, số đông trong chúng tôi đã quá kiệt sức để chờ đợi.

Buổi tối quây quanh lò sưởi, Charles, Arthur và tôi lại một lần nữa cảm thấy mình trở lại làm người. Tôi say mê câu chuyện của Arthur về những gì người ta làm mỗi Chủ nhật ở Provenchères, vùng Vosges, còn Charles bật khóc khi tôi kể cho anh ấy về thời kỳ ngừng chiến ở Ý, về sự khởi đầu lộn xộn và tuyệt vọng của đội du kích kháng chiến, về người đã phản bội chúng tôi và lúc chúng tôi bị bắt trên núi.

Trong bóng tối, đằng sau và phía trên chúng tôi tám người ốm không bỏ sót một lời, cả những  lời bằng tiếng Pháp mà họ không hiểu. Chỉ Sómogyi vẫn kiên quyết tỏ ra dâng mình cho cái chết.

26 tháng Giêng. Chúng tôi nằm trong một thế giới của người chết và kiệt sức. Dấu hiệu văn minh cuối cùng đã biến mất xung quanh và cả bên trong chúng tôi. Công trình biến con người thành thú vật mà bọn Đức đã đắc thắng dựng lên giờ đây đang được bọn Đức bại trận hoàn thành nốt.

  Chính con người ra tay giết, con người gây ra hoặc phải chịu đựng những bất công. Nhưng ai chờ đợi kẻ bên cạnh mình chết để lấy nốt một phần tư miếng bánh thì dù không phải lỗi tại anh ta cũng chỉ là một kẻ gần với dạng man rợ nhất trong bọn man rợ, tàn bạo nhất trong bọn tàn bạo hơn là với hình mẫu của một con ngưòi biết suy nghĩ.

Một phần sự tồn tại của chúng ta nằm trong tâm hồn của những người bên cạnh: vì thế những tháng ngày sống trong hoàn cảnh con người bị coi là đồ vật trong mắt của những con người khác sẽ không được coi là thời gian sống không phải là người. Ba chúng tôi phần lớn thời gian đã thoát được chuyện ấy, và chúng tôi biết ơn lẫn nhau. Cũng vì thế mà tình bạn của tôi và Charles bền mãi theo thời gian.

Nhưng một nghìn mét trên đầu chúng tôi, giữa những đám mây xám cuộc đọ sức bằng máy bay đang đe dọa. Phía trên bọn người trần trụi, bất lực và không thể tự vệ những con người cùng thời của chúng tôi đang tìm đến cái chết song phương bằng những phưong tiện hiện đại nhất. Một cử chỉ ấn ngón tay có thể phá hủy cả một trại, giết chết hàng nghìn con người, trong khi sức lực và ý chí của tất cả chúng tôi gộp lại cũng không đủ để kéo dài thêm sự sống dù của chỉ một người và chỉ trong một phút.

Sự hỗn loạn chấm dứt khi đêm xuống, và căn phòng lại tràn ngập câu độc thoại của Sómogyi.

Trong bóng tối mịt mùng tôi bỗng chợt tỉnh. "L’pauv’vieux" đã im tiếng: anh ấy đã đi rồi. Với sức lực cuối cùng anh ấy ném mình từ trên giường xuống đất, tôi nghe thấy tiếng đầu gối, hông, vai rồi đến đầu anh ta đập xuống.

- La mort Ta chassé de son lit, Arthur kết luận.

Chúng tôi không thể đưa anh ấy ra ngoài trong đêm, nên chỉ còn biết ngủ lại.

27 tháng Giêng. Bình minh. Trên sàn, nghịch cảnh đáng buồn của thân hình gây trơ xương, cái cảnh Sómogyi.

Có những việc cấp thiết hơn: không tắm rửa được nên chúng tôi không thể động đến anh ấy trước khi nấu nướng và ăn. Hơn nữa, Charles nói rất đúng: “…rien de si desgoutant que les dessborde-ments”.

Cần dọn nhà vệ sinh. Người sống quan trọng hơn, người chết có thể đợi. Chúng tôi lại bắt tay vào việc như mọi ngày.

Quân Nga đến trong khi Charles và tôi đang đưa Sómogyi ra xa một chút. Anh ấy rất nhẹ. Chúng tôi trút cái cáng lên mặt tuyết. Charles bỏ mũ xuống, tôi thì rất buồn vì mình không có mũ.

Trong số mười một người của Infektionsabteilung chỉ có Sómogyi chết trong mười ngày đó. Sertelet Cagnolati, Towarowski, Lakmaker và Dorger (người cuối cùng này tôi chưa bao giờ nhắc đến, anh ta là một nhà công nghiệp người Pháp bị bạch hầu ở mũi sau khi được phẫu thuật viêm màng bụng) qua đời vài tuần sau đó trong trạm xá tạm thời của Nga ở Auschwitz. Tôi gặp lại Schenck và Alcalai tại Katowice vào tháng Tư, họ cũng khỏe Arthur hạnh phúc về với gia đình, còn Charles quay lại nghề dạy học của mình. Chúng tôi viết cho nhau những lá thư dài và tôi hy vọng sẽ gặp lại anh ấy một ngày nào đó.

Người dịch: NGUYỄN TRỌNG ĐỊNH và ĐOÀN NGỌC THANH, Dịch theo bản Tiếng Pháp LE DE UXIEME SEXE, Nhà xuất bản Gallimard Paris, 1976
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của Primo Levi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.