“Tiếp tục đi, Pole, thể hiện bản lĩnh của cậu đi nào.” Scrubb thì thầm. Jill cảm thấy cổ họng khô khốc, đến một câu cũng không thốt nổi. Con bé liều mạng gật đầu với Scrubb.
Scrubb thầm nghĩ cậu sẽ không bao giờ tha thứ cho cô bé (và cũng không tha thứ cho Puddleglum), liếm môi một cái, rồi lớn tiếng nói với vị vua người khổng lồ:
“Xin bệ hạ cho phép tôi được nói, Phu nhân Áo Lục phái chúng tôi thay mặt bà ấy đến bày tỏ sự kính trọng với ngài, bà ấy nói rằng các ngài sẽ rất hoan nghênh chúng tôi tham gia bữa tiệc mùa thu của các ngài.”
Vua người khổng lồ và hoàng hậu nhìn nhau, khẽ gật đầu rồi mỉm cười. Jill không thích nụ cười của bọn họ cho lắm. Con bé thích nhà vua hơn. Ngài có một bộ râu xoăn tít đẹp mắt, một chiếc mũi khoằm thẳng tắp, nếu xét theo tiêu chuẩn người khổng lồ thì coi như là khá tuấn tú rồi. Hoàng hậu thì béo đến phát sợ, cằm ngấn mỡ, một khuôn mặt tròn phấn son dày cộm — ngay cả trong hoàn cảnh tốt nhất thì đây cũng chẳng phải là chuyện gì hay ho, mà khuôn mặt này lại to gấp mười lần, đương nhiên trông càng tệ hơn nữa. Lúc này nhà vua lè lưỡi, liếm liếm đôi môi. Mặc dù ai mà chẳng lè lưỡi, nhưng chiếc lưỡi của ngài vừa to vừa đỏ, lại còn thò ra một cách đột ngột, quả thực làm Jill giật mình.
“Ồ, một đứa trẻ ngoan làm sao!” Hoàng hậu nói. (“Nói không chừng cuối cùng bà ta lại là người tốt cũng nên!” Jill nghĩ.)
“Đúng vậy, không sai chút nào,” nhà vua nói, “ngoan không chê vào đâu được. Chúng ta hoan nghênh các ngươi đến cung điện của chúng ta. Đưa tay đây cho trẫm.”
Ngài ta giơ bàn tay phải khổng lồ của mình ra — rất sạch sẽ, trên ngón tay còn đeo không biết bao nhiêu là nhẫn, chỉ có điều móng tay thì nhọn hoắt trông rất đáng sợ. Bàn tay của ngài thực sự quá lớn, không tài nào bắt tay nổi với bàn tay mà hai đứa trẻ giơ ra, ngài đành phải nắm lấy cánh tay của chúng.
“Đó là cái gì?” Nhà vua hỏi, vừa chỉ vào Puddleglum.
“Dạ thưa bệ hạ, bầy tôi là một gã đầm lầy ạ.” Puddleglum nói.
“Ồ!” Hoàng hậu thét lên một tiếng, vừa túm lấy váy vây quanh cổ chân, “Quái vật! Lại còn sống nguyên nữa chứ.”
“Nó khá lắm đấy, thưa bệ hạ, thực sự rất khá đấy,” Scrubb vội vàng nói, “đến khi ngài quen với nó rồi, ngài sẽ còn thích nó hơn nữa. Đảm bảo các ngài sẽ thích.”
Nếu tôi nói với các bạn rằng ngay lúc này Jill đã bật khóc, hy vọng các bạn đọc đoạn sau sẽ không mất đi thiện cảm với con bé. Lý do con bé khóc thì có rất nhiều. Tay, chân, tai, mũi của con bé chỉ vừa mới bắt đầu mềm trở lại; tuyết tan đang từ từ chảy ròng ròng trên quần áo con bé; hôm nay hình như con bé chưa được ăn hay uống bất cứ thứ gì; đôi chân đau đớn đến mức không đứng vững nổi nữa. Dù thế nào đi nữa, lúc này con bé khóc còn hơn là làm bất cứ hành động nào khác, bởi vì hoàng hậu đã nói:
“Á chà, đứa trẻ đáng thương! Bệ hạ, chúng ta cứ để cho khách khứa đứng mãi thế này là không phải phép rồi. Nhanh lên, người đâu! Dưỡng người đưa bọn chúng xuống dưới. Cho chúng ăn chút gì, uống ngụm rượu, rồi đi tắm rửa sạch sẽ. An ủi cô bé nhỏ nhắn kia đi. Cho nó kẹo mút, cho nó búp bê, cho nó uống thuốc, bất cứ thứ gì các người nghĩ ra được thì cứ gom hết cho nó — rượu ngọt sữa, mứt quả, khúc hát ru cùng đồ chơi. Đừng khóc nữa nhé tiểu thư bé nhỏ, nếu không lát nữa vào tiệc con sẽ chẳng còn chút tác dụng nào đâu.”
Jill cũng giống như bạn và tôi, hễ nghe nhắc đến đồ chơi với búp bê nào đó là cảm thấy giận sôi máu; mặc dù theo quy củ của bọn chúng thì kẹo bánh và mứt quả có lẽ cũng ngon đấy, nhưng con bé lại cực kỳ hy vọng được ăn cái gì đó thiết thực hơn. Thế nhưng lời nói ngốc nghếch của hoàng hậu lại mang đến kết quả cực kỳ tốt đẹp, bởi vì Puddleglum và Scrubb ngay lập tức bị mấy tên nam hầu người khổng lồ bổng lên, còn Jill cũng được một nữ hầu bế đi, đưa về phòng riêng của mỗi người.
Phòng của Jill rộng bằng cả một nhà thờ, nếu trong lò sưởi không có ngọn lửa bập bùng cháy, trên sàn không trải tấm thảm đỏ dày dặn thì trông căn phòng sẽ vô cùng âm u đáng sợ. Ở nơi này, con bé bắt đầu gặp phải một số chuyện vui vẻ. Jill được giao cho nhũ mẫu già của hoàng hậu. Nếu nhìn từ góc độ của người khổng lồ thì bà là một lão thái bà lớn tuổi, lưng còng gối quắp; còn nếu nhìn từ góc độ loài người thì bà vẫn được coi là một nữ người khổng lồ, chỉ có điều vóc dáng thấp lùn đến mức có thể bước vào một căn phòng bình thường mà cái đầu không bị chạm đến trần nhà mà thôi. Nhũ mẫu già vô cùng tháo vát, thế nhưng Jill thực sự hy vọng bà đừng có lải nhải mãi không thôi, nào là “Ôi là la, ôm một cái là khỏe ngay”, nào là “Đúng là bảo bối nhỏ của tôi”, nào là “Nào, chúng ta sẽ khỏe lại ngay thôi, cục cưng ngoan ngoãn”. Bà đổ nước nóng vào một chiếc chậu rửa chân của người khổng lồ rồi giúp Jill trèo vào. Nếu bạn biết bơi (và Jill thì biết bơi), thì việc tắm một trận trong cái chậu của người khổng lồ mới thú vị làm sao. Còn có cả khăn tắm của người khổng lồ nữa, mặc dù hơi thô ráp một chút nhưng cũng rất đáng yêu, bởi vì chiếc khăn tắm đó rộng đến mấy mẫu đất, thực ra bạn hoàn toàn không cần lau khô người, chỉ cần lăn qua lăn lại trên khăn, lăn đến trước lò sưởi, tha hồ mà chơi đùa thỏa thích. Tắm xong, Jill khoác lên mình bộ quần áo sạch sẽ, rực rỡ và ấm áp. Trang phục vô cùng lộng lẫy, chỉ có điều hơi rộng một chút, nhưng có thể thấy bộ đồ này được may cho con người chứ không phải cho nữ người khổng lồ mặc. “Mình đoán nếu người phụ nữ áo lục kia đến đây, những bộ quần áo này sẽ được dùng cho những vị khách có vóc dáng như chúng ta mặc.” Jill thầm nghĩ.
Con bé nhanh chóng nhận ra mình đoán không sai, bởi vì một bộ bàn ghế dành cho người lớn bình thường đã được chuẩn bị sẵn sàng cho nó, cả dao, dĩa, thìa cũng đều là kích cỡ tiêu chuẩn. Cuối cùng cũng được ngồi xuống trong không gian ấm áp, sạch sẽ, thật khiến người ta vui mừng khôn xiết. Con bé vẫn đang đi chân trần, bước lên tấm thảm của người khổng lồ thật là thoải mái. Bàn chân của con bé lún sâu đến mắt cá chân, đây chính là thứ mà đôi chân đang đau nhức vô cùng cần đến. Bữa ăn đó — tôi nghĩ chúng ta phải gọi nó là bữa trưa, mặc dù lúc đó đã gần đến giờ dùng trà — gồm có súp gà nấu tỏi tây, gà tây quay nóng hổi, cùng với một món bánh pudding hấp, hạt dẻ nướng và trái cây ăn thỏa thích.
Điều phiền toái duy nhất là nhũ mẫu già cứ ra ra vào vào, mỗi lần bước vào là lại mang theo một món đồ chơi khổng lồ — một con búp bê lớn, to hơn cả bản thân Jill, một con ngựa gỗ có bốn bánh xe to bằng cả con voi, một chiếc trống to như cái bình gas mini, cùng với một chú cừu non lông lá xồm xoàm. Những món đồ này đều được làm thô sơ, sơn những màu sắc vô cùng rực rỡ, Jill nhìn thấy là không thích rồi. Con bé liên tục nói với nhũ mẫu rằng mình không cần những thứ này, nhưng nhũ mẫu lại nói:
“Chậc, chậc, chậc. Lát nữa nghỉ ngơi xong cháu nhất định sẽ muốn thôi, ta biết thừa mà! Hì, hì, hì, ngoan nào, lên giường đi ngủ thôi, cục cưng đáng yêu của ta!”
Chiếc giường đó không phải là giường của người khổng lồ, mà chỉ là một chiếc giường lớn có bốn cột trụ, giống như loại thường thấy ở các nhà nghỉ kiểu cũ, trông rất nhỏ bé trong căn phòng rộng lớn vô biên này. Con bé vô cùng vui mừng trèo lên giường.
“Bên ngoài trời vẫn đang rơi tuyết hả vú nuôi?” Con bé ngái ngủ hỏi.
“Không. Bây giờ trời đang đổ mưa rồi cục cưng ạ!” Nhũ mẫu già nói, “Mưa sẽ cuốn trôi sạch sành sanh đợt tuyết lớn đáng ghét kia thôi. Ngày mai tiểu bảo bối lại có thể ra ngoài chơi rồi!” Bà đắp chăn cho Jill và chúc ngủ ngon.
Tôi không biết còn có điều gì đáng ghét hơn việc được một nữ người khổng lồ hôn nữa không, Jill cũng có chung suy nghĩ đó, nhưng chưa đầy năm phút sau con bé đã chìm vào giấc ngủ.
Cơn mưa chiều hôm đó cứ rả rích suốt cả đêm không dứt, những hạt mưa đập vào cửa sổ lâu đài, nhưng Jill hoàn toàn chẳng nghe thấy gì cả, chỉ chìm trong giấc ngủ say nồng, ngủ qua cả giờ ăn tối, ngủ qua cả nửa đêm. Đến thời điểm đêm khuya thanh vắng, trong căn phòng của người khổng lồ này, ngoại trừ lũ chuột ra thì chẳng có lấy một tiếng động nào. Ngay lúc đó, Jill đã mơ một giấc mơ. Trong mơ, hình như con bé thức dậy ngay trong căn phòng này, nhìn thấy đống lửa đã nhỏ dần và chuyển sang màu đỏ rực, ẩn hiện trong ánh lửa là con ngựa gỗ lớn. Bánh xe của ngựa gỗ tự động quay tròn, lăn qua tấm thảm rồi dừng lại ở đầu giường con bé. Lúc này, nó không còn là con ngựa nữa, mà đã biến thành một con sư tử to như con ngựa. Tiếp theo, nó lại không phải là con sư tử đồ chơi, mà là một con sư tử thật sự. Vị sư tử vương chân chính, giống y như con bé từng nhìn thấy trên ngọn núi cao ngoài tận cùng thế giới. Căn phòng ngập tràn đủ thứ mùi hương thơm ngát. Nhưng trong đầu Jill lại xuất hiện chút rắc rối, mặc dù con bé không nghĩ ra rốt cuộc là chuyện gì, nhưng nước mắt vẫn cứ ào ào chảy đầm đìa trên má, làm ướt sũng cả gối. Sư tử vương bảo con bé đọc lại chỉ dẫn, thế nhưng con bé lại phát hiện ra mình đã quên sạch sành sanh mọi chỉ dẫn rồi. Vì thế, con bé sợ đến chết khiếp. Sau đó Aslan ngậm lấy con bé (con bé cảm nhận được đôi môi và hơi thở của ngài, nhưng không hề cảm nhận thấy răng), đưa con bé đến bên cửa sổ và bảo nhìn ra ngoài. Bên ngoài ánh trăng sáng tỏ, lơ lửng trên trời hay trên mặt đất (con bé không biết là ở đâu) là mấy chữ cái lớn: "Ở DƯỚI TÔI". Sau đó, giấc mơ tan biến, sáng hôm sau con bé tỉnh dậy rất muộn, lúc này con bé đã hoàn toàn không còn nhớ gì về giấc mơ nữa.
Con bé thức dậy, mặc quần áo rồi ăn sáng trước lò sưởi, đúng lúc này nhũ mẫu đẩy cửa bước vào nói:
“Bạn nhỏ của tiểu bảo bối xinh đẹp đến chơi với nó kìa.”
Scrubb và quái vật đầm lầy bước vào.
“Chào buổi sáng,” Jill nói, “thật là thú vị phải không? Mình tin là mình đã ngủ liền mười lăm tiếng đồng hồ rồi đấy. Mình cảm thấy khỏe hơn nhiều rồi, còn các cậu thì sao?”
“Mình cũng khỏe hơn rồi,” Scrubb nói, “nhưng Puddleglum bảo nó bị đau đầu. Này, cửa sổ phòng cậu có bệ cửa kìa. Nếu chúng ta đứng lên đó thì có thể ngắm cảnh bên ngoài đấy.” Ngay lập tức cả ba trèo lên bệ cửa. Jill vừa liếc nhìn ra ngoài là thốt lên “Ôi, tiêu đời rồi!”
Bên ngoài nắng chiếu rực rỡ, ngoại trừ mấy bãi tuyết đọng sót lại thì hầu như đã bị mưa cuốn trôi sạch. Phía dưới bọn họ, trải rộng ra giống như một tấm bản đồ chính là cái đỉnh núi bằng phẳng mà chiều hôm qua họ đã cố gắng hết sức để trèo lên; nhìn từ lâu đài ra, nơi đó rõ mồn một chính là một đống đổ nát của thành phố người khổng lồ, tuyệt đối không thể nhìn nhầm thành bất cứ thứ gì khác được. Lúc này Jill mới nhận ra, sở dĩ người ta nói đỉnh núi bằng phẳng là vì nơi đó cơ bản vẫn được lát đá mặt đường, mặc dù có rất nhiều chỗ mặt đường đã bị nứt toác. Những bờ đất đan xen chéo nhau hóa ra chính là những bức tường đổ vách nát do các kiến trúc khổng lồ để lại, nơi này có lẽ từng là cung điện và đền miếu của người khổng lồ. Có một bức tường cao chừng năm trăm foot, vẫn sừng sững đứng vững, con bé đã từng nhầm tưởng bức tường này là vách đá dựng đứng. Những thứ trông giống như ống khói nhà máy hóa ra là những trụ cột khổng lồ, đã gãy vụn thành những đoạn cao thấp khác nhau; những mảnh vỡ nằm chất đống ngay bên cạnh chân cột, trông giống như những khúc gỗ bằng đá đã đổ rạp xuống. Những tảng đá nhô ra mà họ đã dùng để trèo xuống sườn núi phía bắc — và không còn nghi ngờ gì nữa, cả những tảng đá khác mà họ đã bám vào để trèo lên từ sườn phía nam — hóa ra chính là những bậc thang còn sót lại của chiếc cầu thang khổng lồ. Tệ hơn nữa, ở ngay giữa lòng đường, có những chữ cái màu đen lớn được khắc dòng chữ: Ở DƯỚI TÔI.
Cả ba người ngẩn người nhìn nhau đầy kinh ngạc, Scrubb huýt sáo một tiếng rồi nói ra điều mà tất cả bọn họ đang nghĩ trong lòng. “Chỉ dẫn thứ hai và thứ ba đã bị bỏ lỡ mất rồi.” Lúc này Jill mới nhớ lại giấc mơ của mình.
“Đều tại mình kém cỏi,” con bé nói, giọng tràn ngập tuyệt vọng, “mình — mình đã bỏ bê việc nhẩm lại những chỉ dẫn đó mỗi tối. Nếu mình vẫn luôn ghi nhớ những chỉ dẫn ấy, thì cho dù trong trận tuyết lớn thế nào đi nữa, lẽ ra mình cũng phải nhận ra đó là một thành phố rồi chứ.”
“Tôi còn tệ hơn,” Puddleglum nói, “tôi thực sự đã nhìn thấy nó, hoặc nói đúng hơn là gần như nhìn thấy. Tôi còn nghĩ nơi này trông rất giống một thành phố hoang phế nữa cơ.”
“Chỉ có cậu là không nên bị trách phạt,” Scrubb nói, “cậu đã thực sự cố gắng hết sức để kéo chúng tớ lại mà.”
“Nhưng vẫn chưa đủ cố gắng,” quái vật đầm lầy nói, “hơn nữa tôi cũng không cần phải cố gắng suy nghĩ, lẽ ra tôi phải hành động luôn mới phải. Tôi nắm tay mỗi người một bên, chẳng lẽ lại không kéo được hai người các cậu sao?”
“Tình hình thực tế là,” Scrubb nói, “tất cả chúng ta đều một lòng hướng về nơi này, nên những chuyện khác liền không buồn bận tâm nữa. Ít nhất thì tớ biết mình là người như vậy. Kể từ khi chúng ta gặp người phụ nữ đó và vị hiệp sĩ câm lặng, chúng ta vẫn luôn không nghĩ đến chuyện khác, suýt chút nữa thì quên bẵng cả hoàng tử Rilian rồi.”
“Nếu đó chính là mục đích của ả ta,” Puddleglum nói, “thì tôi cũng chẳng lấy làm lạ.”
“Điều mà tớ không hiểu lắm là,” Jill nói, “sao chúng ta lại không nhìn thấy những chữ đó chứ? Hay là, những chữ này mãi đến tối hôm qua mới xuất hiện? Có phải ngài ấy — Aslan — đã viết lên đó vào ban đêm không? Tớ đã có một giấc mơ kỳ lạ.” Con bé kể lại đầu đuôi giấc mơ đó cho hai người nghe.
“Hừm, cậu đúng là đồ ngốc!” Scrubb nói, “Chúng ta đã nhìn thấy chúng rồi chứ bộ. Chúng ta đã đi vào bên trong chữ cái rồi, cậu còn không hiểu sao? Chúng ta đã bước vào chữ E ở tận cùng chữ ME, chính là cái rãnh mà cậu ngã xuống đó. Chúng ta đi ở nét dưới cùng của chữ E, hướng chính Bắc — rẽ sang bên phải của chúng ta, đi dọc theo nét thẳng đứng — rồi đến một khúc cua bên phải khác — đó là nét ở giữa — và sau đó tiếp tục tiến đến góc trên bên trái, hoặc là (có lẽ) góc Đông Bắc của chữ cái này, rồi quay trở lại. Tất cả chúng ta đều là những kẻ đần độn to xác.” Cậu ta thô bạo đá vào bệ cửa sổ một cái, rồi nói tiếp: “Cho nên chuyện này không ổn rồi, Pole, tớ biết cậu đang nghĩ gì, bởi vì tớ cũng có chung suy nghĩ với cậu. Cậu đang nghĩ, giá mà Aslan viết những chỉ dẫn đó lên đá sau khi chúng ta đi qua thành phố hoang phế này thì hay biết mấy. Đó là lỗi của ngài ấy, chứ không phải lỗi của chúng ta. Rất có khả năng đúng không? Không được! Chúng ta nhất định phải thành thật thừa nhận thôi. Chúng ta chỉ còn lại chỉ dẫn thứ tư để làm theo, còn ba điều phía trước đều đã bỏ lỡ mất rồi.”
“Ý cậu là tớ bỏ lỡ chứ gì,” Jill nói, “lời này không sai chút nào. Kể từ lúc cậu dẫn tớ lên đây, tớ đã làm hỏng bét mọi chuyện rồi. Dù sao thì cũng thế cả thôi — nói là tớ vô cùng xin lỗi hay gì gì đó — thì cũng vậy thôi. Chỉ dẫn đó là gì chứ? ‘Ở dưới tôi’ hình như chẳng có ý nghĩa gì sất.”
“Nhưng mà, nó thực sự có ý nghĩa đấy,” Puddleglum nói, “ý nghĩa là chúng ta phải xuống dưới thành phố đó để tìm kiếm hoàng tử.”
“Nhưng chúng ta phải đi bằng cách nào chứ?” Jill hỏi.
“Vấn đề nằm ở chỗ này đây,” Puddleglum vừa nói vừa xoa xoa đôi bàn tay to lớn giống như móng vuốt của loài ếch, “Bây giờ chúng ta có cách gì nào? Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu lúc ở thành phố hoang phế, chúng ta toàn tâm toàn ý đặt vào việc phải làm, thì từ lâu đã có người đến chỉ điểm cho chúng ta phải làm thế nào rồi — phát hiện ra một cánh cửa nhỏ này, hoặc một hang động này, hoặc một đường hầm này, gặp được ai đó giúp đỡ chúng ta này, có lẽ chính là bản thân Aslan (chuyện này rất khó nói). Kiểu gì chúng ta cũng có cách chui xuống dưới những phiến đá lát đường đó. Chỉ dẫn của Aslan xưa nay vẫn luôn có tác dụng, chưa có ngoại lệ nào cả. Nhưng bây giờ phải tính sao đây — đó lại là chuyện khác rồi.”
“Thôi được, tớ nghĩ chúng ta đành phải quay lại thôi.” Jill nói.
“Nói thì dễ lắm đấy nhỉ?” Puddleglum nói, “Đầu tiên chi bằng chúng ta nghĩ cách mở cánh cửa đó xem sao.” Thế là cả ba cùng nhìn chùm cửa, chỉ thấy chẳng ai với tới tay nắm cửa, mà cho dù có với tới thì hầu như cũng chắc chắn chẳng ai vặn nổi tay nắm cửa đó.
“Các cậu xem, nếu chúng ta yêu cầu được ra ngoài, liệu họ có không cho chúng ta đi không?” Jill nói. Tất cả đều không lên tiếng, nhưng trong đầu mỗi người đều đang nghĩ “Lỡ như bọn họ không chịu thì sao?”
Ý kiến này không ổn chút nào. Puddleglum kiên quyết phản đối ý định đem nhiệm vụ thực sự của họ kể cho người khổng lồ nghe và đường hoàng đòi ra ngoài. Đương nhiên hai đứa trẻ cũng không thể nói nếu không có sự cho phép của nó, bởi vì bọn chúng đã hứa danh dự rồi. Cả ba người bọn họ đều biết rõ việc trốn khỏi lâu đài vào ban đêm là điều hoàn toàn bất khả thi. Một khi đã ở trong phòng riêng, cửa phòng đóng lại, bọn chúng bắt buộc phải bị nhốt trong đó cho đến tận sáng hôm sau. Đương nhiên bọn chúng có thể xin mở hé cửa phòng, nhưng làm vậy sẽ gây hoài nghi.
“Cơ hội duy nhất của chúng ta là,” Scrubb nói, “nghĩ cách lén chuồn đi vào ban ngày. Liệu buổi chiều có chừng một hai tiếng đồng hồ mà đại đa số người khổng lồ đều ngủ say không nhỉ? — Nếu chúng ta có thể lẻn xuống nhà bếp, liệu có cánh cửa hậu nào đang mở không?”
“Cái này cũng không hẳn được gọi là một cơ hội,” quái vật đầm lầy nói, “nhưng rất có thể chúng ta chỉ có duy nhất cơ hội này mà thôi.” Trên thực tế, kế hoạch của Scrubb không hề vô vọng như các bạn tưởng. Nếu bạn muốn đi ra khỏi một ngôi nhà mà không để ai nhìn thấy, xét từ một số khía cạnh nào đó, việc thử vào khoảng thời gian buổi chiều còn tốt hơn là vào lúc nửa đêm, vì cửa ra vào và cửa sổ rất có thể đều đang mở, lỡ như bị bắt gặp, bạn luôn có thể giả vờ như mình không có ý định đi xa, hơn nữa cũng chẳng có mưu tính đặc biệt gì cả. (Nếu vào lúc một giờ đêm mà bị phát hiện đang trèo ra từ cửa sổ phòng ngủ, thì rất khó để khiến người khổng lồ hoặc người lớn tin vào điều đó.)
“Nhưng mà, chúng ta nhất định phải chớp lấy lúc bọn họ lơ đễnh,” Scrubb nói, “chúng ta phải giả vờ như rất thích ở lại đây, một lòng mong chờ bữa tiệc mùa thu này.”
“Vậy thì vào tối mai đi,” Puddleglum nói, “tớ nghe có kẻ trong số bọn chúng nói thế.”
“Đã hiểu,” Jill nói, “chúng ta phải giả vờ như cực kỳ hào hứng với bữa tiệc mùa thu, hỏi cái này hỏi cái nọ, hỏi mãi không thôi. Dù sao thì bọn chúng cũng coi chúng ta hoàn toàn như những đứa trẻ tò mò, làm vậy mọi chuyện cũng sẽ dễ giải quyết hơn phần nào.”
“Vui vẻ hớn hở vào,” Puddleglum vừa nói vừa thở dài sườn sượt, “chúng ta nhất định phải làm thế, phải thật vui vẻ hớn hở vào. Cứ như thể chúng ta chẳng có chút tâm sự nào cả, chỉ thích đùa nghịch thôi. Tớ để ý thấy hai đứa trẻ các cậu không hay giữ được vẻ hớn hở cho lắm. Các cậu phải nhìn tớ mà làm theo. Tớ sẽ rất vui vẻ. Giống như thế này này —” Nó nhe nanh múa mép, làm ra vẻ mặt cười cợt trông rất đáng sợ, “— lại còn thích đùa nghịch nữa —” Nói đến đây nó lại gượng cười nhảy cẫng lên mấy cái, “— nếu các cậu cứ nhìn tớ, chẳng mấy chốc sẽ học được thôi. Các cậu xem kìa, bọn chúng đã coi tớ là một tên thú vị lắm rồi đấy. Tớ dám cá là cả hai cậu đều tưởng tối qua tớ hơi say xỉn đúng không, nhưng tớ xin cam đoan với các cậu, đó là — ừm, phần lớn là — giả vờ đấy. Tớ có một linh cảm, làm thế kiểu gì cũng có lúc hữu dụng.”
“Được rồi, cứ vui vẻ hớn hở đi,” Scrubb nói, “thôi nào, miễn là chúng ta có thể tìm cách khiến ai đó mở cánh cửa này ra là được. Trong lúc chúng ta đi lang thang bốn bề, ra điều vui vẻ hớn hở, thì cũng phải tranh thủ dò la cho rõ tình hình của lâu đài này.”
May mắn thay, đúng vào lúc này, cửa mở ra, nữ nhũ mẫu người khổng lồ hớt hải chạy vào nói: “Nào, các cục cưng của ta. Có muốn ra xem nhà vua cùng triều đình xuất phát đi săn không nào? Cảnh tượng hoành tráng lắm đấy nhé!”
Bọn chúng lập tức chạy vụt qua người bà ta, leo xuống bậc thang đầu tiên mà họ bước tới. Tiếng chó săn, tiếng tù và và tiếng reo hò của người khổng lồ đã dẫn đường cho họ, thế nên chưa đầy vài phút sau họ đã ra đến sân viện. Người khổng lồ đều đi bộ cả, bởi vì ở bên kia thế giới không có ngựa khổng lồ, thế nên người khổng lồ đi săn là đi bằng chân, giống như cách người ta săn thỏ ở Anh vậy.
Hơn nữa chó săn cũng là loài chó có kích thước bình thường. Nhìn thấy không có ngựa, ban đầu Jill cảm thấy vô cùng thất vọng, bởi vì con bé đinh ninh rằng vị hoàng hậu béo ú kia tuyệt đối sẽ không đi theo sau bấy nhiêu là chó săn, mà bắt hoàng hậu ở lỳ trong cung điện suốt cả ngày thì lại càng tuyệt đối không thể nào. Không ngờ sau đó con bé lại nhìn thấy hoàng hậu ngồi trên một chiếc kiệu nào đó, do sáu tên người khổng lồ trẻ tuổi khiêng. Lão mập ngốc nghếch đó mặc một bộ đồ màu xanh lục, bên người còn đặt một chiếc tù và. Hai ba mươi tên người khổng lồ, bao gồm cả nhà vua, tập hợp lại sẵn sàng đi săn, mọi người nói nói cười cười, tiếng động ầm ĩ muốn điếc cả tai. Ở phía dưới, cao xấp xỉ Jill, toàn là những chiếc đuôi ngoe nguẩy, những cái mõm và mũi chó ướt sũng kêu ẳng ẳng cọ sát vào tay bạn. Puddleglum đang bắt đầu ra vẻ một thái độ mà nó cho là vui vẻ, hớn hở (lỡ như có ai chú ý đến nó, có lẽ sẽ hỏng bét hết mọi chuyện), thì Jill liền nở nụ cười ngây thơ đáng yêu nhất của mình, lao vụt đến bên kiệu hoàng hậu, lớn tiếng kêu lên với bà ta:
“Ôi, xin ngài đấy! Ngài không đi hả. Lát nữa ngài có về không?”
“Có chứ, cục cưng,” hoàng hậu nói, “tối nay ta sẽ về.”
“Ôi, tuyệt quá! Thích ghê cơ!” Jill nói, “Chúng cháu được tham gia bữa tiệc ngày mai chứ ạ? Bọn cháu đang mong ngóng tối mai lắm đấy! Bọn cháu thích ở đây lắm. Lúc các ngài ra ngoài, bọn cháu có được chạy lung tung trong lâu đài để ngắm nghía không ạ? Xin ngài hãy nói được đi mà.”
Hoàng hậu quả nhiên đã thốt lên một tiếng được, nhưng tất cả các quan đại thần đều cười lớn, tiếng cười vang dội suýt chút nữa đã át cả tiếng của bà ta.