Biên Niên Ký Sao Hỏa

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24
Tháng Mười hai năm 2036 Những thị trấn yên lặng

❊ ❊ ❊

Có một thị trấn nhỏ màu trắng, lặng lẽ nằm bên bờ biển cạn trên Sao Hỏa. Thị trấn giờ đây trống không. Không ai đi lại trong thị trấn đó cả. Những ngọn đèn cô đơn cứ thắp sáng cả ngày trong các cửa hàng. Những cánh cửa của các cửa hàng mở rộng, như thể mọi người đã vội vàng bỏ đi mà không kịp khóa. Tạp chí, được mang từ Trái Đất lên bằng các phi thuyền màu bạc cách đây một tháng, giờ bay loạt soạt, không được ai sờ đến, ngả màu ố vàng trên kệ sắt bên ngoài hiệu thuốc im lìm.

Thị trấn đã chết. Những chiếc giường trống trải và lạnh lẽo. Âm thanh duy nhất nghe được là tiếng ro ro của dây cáp điện và máy phát điện, vẫn tự động chạy. Vòi nước chưa tắt vẫn đang chảy vào bồn tắm, tràn vào phòng khách, ra hiên nhà, và chảy xuống mảnh vườn nhỏ, tưới tắm cho những bông hoa bị bỏ mặc. Trong những rạp hát tối tăm, kẹo cao su dưới các ghế ngồi bắt đầu cứng lại, vẫn còn in hằn những vết răng.

Phía bên kia thị trấn là một cảng phi thuyền. Ta vẫn có thể ngửi thấy mùi cháy khét mà chuyến phi thuyền cuối cùng về Trái Đất để lại. Nếu thả một đồng xu vào kính viễn vọng và hướng về Trái Đất, có lẽ ta sẽ thấy cuộc Đại Chiến vẫn đang diễn ra. Có lẽ ta sẽ nhìn thấy New York nổ tung. Có lẽ còn thấy cả London bị bao phủ bởi một loại sương mù mới. Có lẽ đến lúc đó ta mới có thể hiểu được vì sao thị trấn nhỏ trên Sao Hỏa này bị bỏ hoang. Chuyến di tản diễn ra nhanh đến mức nào? Cứ bước vào bất kỳ cửa hàng nào, đập tay lên phím KHÔNG BÁN để mở két tiền thì biết. Những ngăn kéo đựng tiền xổ ra, tiền xu loang loáng và xủng xoảng. Cuộc chiến trên Trái Đất hẳn phải cực kỳ tồi tệ...

Dọc trên những đại lộ vắng vẻ, một người đàn ông cao, gầy đang khẽ huýt sáo, đá chiếc vỏ hộp trước mặt anh với sự tập trung cao độ. Mắt anh ánh lên vẻ cô độc u tối và thầm lặng. Hai bàn tay xương xẩu chuyển động trong túi quần xủng xoảng những đồng xu mới. Chốc chốc, anh lại tung một đồng xu xuống đất. Anh cười hiền lành, vừa đi vừa vung những đồng xu lấp lánh ra khắp nơi.

Tên anh là Walter Gripp. Anh có một mỏ đãi vàng và sống trong một túp lều hẻo lánh trên rặng đồi Sao Hỏa màu xanh lam. Cứ hai tuần một lần, anh lại xuống thị trấn để tìm xem có cô nào thông minh và ít nói để cưới làm vợ. Trong suốt những năm qua, anh vẫn luôn trở về túp lều của mình trong cô đơn và thất vọng. Một tuần trước, khi vào thị trấn như thường lệ thì anh thấy nó như thế này!

Hôm đó, anh đã ngạc nhiên đến mức vội lao đến một cửa hàng chuyên bán đồ ăn sẵn, mở tung một ngăn và đặt một chiếc sandwich bò ba lớp.

“Tới đây!” anh thốt lên, vắt một chiếc khăn lau trên tay.

Anh lấy rất nhiều thịt và bánh mì nướng từ hôm trước, lau bàn ăn, tự mời mình ngồi xuống, và ăn đến khi phải chạy đi tìm một máy bán soda và mua một liều men tiêu hóa. Người bán thuốc, là một Walter Gripp, lịch sự khác thường, pha ngay cho anh một viên sủi!

Anh nhét đầy tiền vào túi quần bò, tất cả tiền mà anh thấy. Anh chất những tờ mười đô lên chiếc xe goòng đồ chơi và chạy thật nhanh xuyên qua thị trấn. Ra đến rìa thị trấn, anh chợt nhận ra mình thật ngớ ngẩn đến mức đáng xấu hổ. Anh cần tiền mà làm gì. Anh mang những tờ mười đô trở lại chỗ cũ, móc thêm cả tờ một đô la từ trong ví ra để trả tiền sandwich, thả nó vào ngăn kéo để tiền ở cửa hàng bán đồ ăn, kèm theo 25 xu tiền boa.

Đêm đó, anh tắm nước nóng kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, ăn một miếng phi lê mọng nước phủ nấm ngon ngọt, uống rượu sherry nguyên chất nhập khẩu, và còn thả dâu tây vào rượu. Anh mặc bộ com lê mới bằng vải dạ xanh, đội mũ phớt màu xám thẫm, được đặt thăng bằng một cách kỳ lạ trên cái đầu móp của anh. Anh nhét tiền vào một máy hát, bật bài “Bè lũ của tôi ngày xưa”[1]. Anh bỏ xu vào tất cả hai mươi máy hát khắp thị trấn. Trên những con phố cô đơn trong màn đêm tràn ngập giai điệu buồn bã của bản nhạc “Bè lũ của tôi ngày xưa”, anh bước đi, dáng cao gầy và lẻ loi, đôi giày mới gõ nhẹ, bàn tay lạnh lẽo đút túi quần.

Nhưng đó là tuần trước. Anh ngủ trong một căn nhà đẹp trên đại lộ Mars, thức dậy lúc chín giờ sáng, tắm rửa, và lững thững đi vào thị trấn tìm thịt xông khói và trứng. Không sáng nào mà anh không đem trữ đông hàng tấn thịt, rau và bánh kem vị chanh, đủ cho mười năm, chờ đợi một phi thuyền trở lại từ Trái Đất, nếu có.

Đêm nay, anh lang thang ngắm nhìn những cô người mẫu bằng sáp hồng hào và xinh đẹp trong các ô cửa kính đầy màu sắc. Bây giờ anh mới thấy thành phố này đã thực sự chết. Anh uống một cốc bia và ngồi khóc.

“Chao ôi,” anh nói, “mình hoàn toàn đơn độc.”

Anh bước vào rạp Elite để tự chiếu cho mình một bộ phim, để không còn nghĩ đến sự cô đơn nữa. Rạp chiếu bóng trống hoác, như một hầm mộ với những bóng ma màu xám và đen bò trên màn ảnh lớn. Rùng mình, anh chạy ra khỏi nơi bị ma ám đó.

Quyết định về nhà, anh sải bước đến giữa một con phố nhỏ, gần như chạy, rồi anh nghe thấy tiếng điện thoại reo.

Anh lắng nghe.

“Tiếng chuông điện thoại trong nhà một ai đó.”

Anh tiếp tục bước đi hối hả.

“Phải có ai đó nghe máy đi chứ,” anh trầm ngâm.

Anh ngồi xuống lề đường để nhặt một viên đá ra khỏi giày, thong thả.

“Ai đó!” anh hét và nhảy dựng dậy. “Là mình! Chúa ơi, mình làm sao thế!” anh rú lên. Anh xoay tròn. Nhà nào nhỉ? Kia!

Anh chạy băng qua bãi cỏ, lên bậc tam cấp vào nhà, chạy vào một sảnh tối.

Anh giật lấy ống nghe.

“A lô!” anh thốt lên.

Tút, tút...

“A lô, a lô!”

Họ đã gác máy.

“A lô!” anh quát, và dập mạnh chiếc điện thoại. “Đúng là đồ ngu!” anh tự trách mình. “Cứ ngồi ở lề đường, đồ ngốc! Ôi, đồ ngu đến khiếp đảm!” Anh ôm chặt chiếc điện thoại. “Nào, đổ chuông tiếp đi! Nào!”

Anh chưa bao giờ nghĩ còn có người nào khác ở lại trên Sao Hỏa. Trong suốt một tuần qua, anh không nhìn thấy ai. Anh đã nghĩ rằng các thị trấn khác cũng vắng tanh như thị trấn này.

Giờ, nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại nhỏ màu đen khủng khiếp này, anh run rẩy. Mạng lưới liên lạc trên Sao Hỏa cho phép kết nối tất cả các thị trấn với nhau. Cuộc gọi vừa rồi là từ thị trấn nào trong ba mươi thị trấn?

Anh không biết.

Anh đợi. Anh đi thơ thẩn trong căn bếp lạ, rã đông một ít trái việt quất, và ăn trong chán nản tuyệt vọng.

“Chẳng có ai ở đầu dây bên kia,” anh lẩm bẩm. “Biết đâu chỉ là một cột điện bị đổ và điện thoại tự nó kêu.”

Nhưng chẳng phải là anh đã nghe thấy một tiếng cạch, nghĩa là phải có ai đó ở đầu dây bên kia đặt máy xuống ư?

Anh đứng trong sảnh suốt cả đêm. “Không phải vì cái điện thoại,” anh tự nhủ. “Chẳng qua là do mình không có việc gì khác để làm thôi.”

Anh lắng nghe tiếng đồng hồ đeo tay kêu tích tắc.

“Cô ta sẽ không gọi lại,” anh nói. “Cô ta sẽ không bao giờ gọi đến một số mà biết chắc sẽ không có người bắt máy. Có khi cô ta đang gọi cho các nhà khác ngay lúc này! Còn mình thì ngồi đây... Chờ đã!” Anh cười. “Sao mình lại biết đó là ‘cô ta’?”

Anh chớp mắt. “Hoàn toàn có thể là một ‘anh ta, đúng không?”

Tim anh đập chậm lại. Anh thấy rất lạnh lẽo và trống rỗng.

Anh mong muốn biết bao nhiêu rằng đó là một “cô ta”.

Anh bước ra khỏi ngôi nhà và đứng giữa phố trong buổi sáng sớm u ám.

Anh lắng nghe. Không một âm thanh nào. Không một con chim nào. Không một chiếc ô tô nào. Chỉ có trái tim anh đang đập. Đập rồi nghỉ, rồi lại đập. Mặt anh đau đớn vì căng ra. Gió thổi nhẹ, ôi rất nhẹ, vạt áo khoác của anh bay lất phất.

“Suỵt,” anh thì thầm. “Nghe xem nào.

Anh chậm rãi xoay một vòng, ngó vào từng căn nhà im lặng.

Cô ta sẽ gọi thêm nhiều số nữa, anh nghĩ. Chắc chắn đó là một phụ nữ. Tại sao? Chỉ có phụ nữ mới gọi và tiếp tục gọi. Đàn ông sẽ không làm thế. Đàn ông thường độc lập. Mình có gọi cho ai không nào? Không! Chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đó. Chắc chắn đó là một phụ nữ. Phải là phụ nữ, thề có Chúa!

Lắng nghe.

Ở rất xa, dưới những ngôi sao, một tiếng chuông điện thoại kêu.

Anh chạy. Anh dừng lại để lắng nghe. Tiếng chuông kêu khe khẽ. Anh chạy thêm một vài bước nữa. To hơn. Anh chạy vào một con hẻm. To hơn nữa. Anh chạy qua sáu ngôi nhà, sáu ngôi nhà nữa. To hơn nhiều! Anh chọn một ngôi nhà và cửa của ngôi nhà này bị khóa.

Tiếng chuông reo ở bên trong.

“Chết tiệt!” Anh giật tay nắm cửa.

Chiếc điện thoại kêu thét lên.

Anh nhấc chiếc ghế đặt ở hiên, phang vỡ cửa sổ phòng khách, rồi nhảy vào.

Trước khi anh kịp chạm vào chiếc điện thoại, chuông đã tắt.

Anh mò mẫm khắp nhà, đập vỡ gương, giằng xé rèm và đạp vào bếp lò.

Cuối cùng, mệt bã, anh cầm cuốn danh bạ mỏng liệt kê danh sách các số điện thoại trên Sao Hỏa. Năm mươi ngàn cái tên.

Anh bắt đầu với số đầu tiên.

Amelia Ames. Anh quay số cô gái ở New Chicago, cách đó một trăm dặm bên kia biển cạn.

Không có người nhấc máy.

Số thứ hai sống ở Tân New York, cách đó năm nghìn dặm bên kia rặng núi xanh lam.

Không có người nhấc máy.

Anh gọi số thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, ngón tay anh giật giật, không thể nắm được ống nghe.

Một giọng phụ nữ bắt máy, “A lô?”

Walter gào lên. “A lô, Chúa ơi, a lô!”

“Đây là lời ghi âm,” một giọng phụ nữ phát ra đều đều. “Helen Arasumian hiện không có nhà. Xin để lại lời nhắn, cô ấy sẽ gọi lại cho bạn sau? A lô? Đây là lời ghi âm. Helen Arasumian hiện không có nhà. Xin để lại lời nhắn...”

Anh gác máy.

Anh ngồi, miệng giật giật.

Nghĩ lại, anh quay lại số vừa rồi.

“Khi nào cô Helen Arasumian về nhà,” anh nói, “hãy bảo cô ta cút xuống địa ngục đi.”

Anh gọi cho các tổng đài ở Mars Junction, Tân Boston, Arcadia và Roosevelt City, vì cho rằng theo logic, đó là những nơi có thể có người gọi đi; sau đó anh gọi cho hội đồng thành phố và các cơ quan công cộng ở từng thị trấn. Anh gọi đến những khách sạn xịn nhất. Một người phụ nữ nào đó có thể đang tận hưởng sự xa xỉ chăng.

Bỗng nhiên anh dừng lại, vỗ tay đánh đốp, rồi cười. Đúng rồi! Anh kiểm tra lại danh bạ và quay số đường dài đến một trong những tiệm làm đẹp lớn nhất Tân Texas City. Nếu có nơi nào mà phụ nữ có thể lảng vảng đến, để giặm phấn lên mặt và ngồi dưới máy sấy tóc, thì đó chỉ có thể là một tiệm làm đẹp êm mượt, sang trọng!

Điện thoại đổ chuông. Ai đó ở đầu dây bên kia nhấc ống nghe.

Giọng một phụ nữ, “A lô?”

“Nếu đây là hộp thư thoại,” Walter Gripp thông báo, “tôi sẽ đến tận nơi phá tung chỗ đó lên.”

“Đây không phải là hộp thư thoại,” người phụ nữ nói. “Chào anh! Ôi, chào anh, có ai đó còn sống! Anh đang ở đâu?” Cô sung sướng thốt lên.

Walter suýt nữa khuỵu xuống. “!” anh đứng bật dậy, mắt sáng lên. “Trời ơi, thật may mắn làm sao, cô tên là gì?”

“Genevieve Selsor!” Cô khóc trong điện thoại. “Ôi, tôi mừng làm sao khi nghe tiếng anh nói, cho dù anh là ai!”

"Walter Gripp!”

“Walter, xin chào, Walter!”

“Xin chào, Genevieve!”

“Walter. Thật là một cái tên đẹp. Walter, Walter!”

“Cảm ơn cô.”

“Walter, anh đang ở đâu?”

Giọng cô thật tử tế, ngọt ngào, duyên dáng. Anh đưa sát ống nghe lên tai để có thể nghe rõ hơn lời thì thầm ngọt ngào ấy. Anh thấy mình như bay lên. Má anh nóng rực.

“Tôi đang ở làng Marlin,” anh nói. “Tôi...”

Tút.

“Alô?” anh gọi.

Tút.

Anh lắc ống nghe. Không có tín hiệu.

Ở đâu đó một trận gió đã làm đổ một chiếc cột. Nhanh như khi cô xuất hiện, Genevieve Selsor biến mất.

Anh quay số, nhưng đường dây đã ngắt.

“Dù sao thì mình cũng biết cô ấy đang ở đâu.” Anh chạy ra khỏi nhà. Mặt trời đã lên cao khi anh lùi con xe hình bọ cánh cứng từ trong ga ra của một người lạ, chất đầy thức ăn lên ghế sau và bắt đầu khởi hành với tốc độ tám mươi dặm một giờ xuôi theo xa lộ, hướng về Tân Texas City.

Một nghìn dặm, anh nghĩ. Genevieve Selsor, hãy ngồi yên, cô sẽ được nghe giọng tôi nói!

Anh bấm còi ở mọi ngã rẽ bên ngoài thị trấn.

Lúc hoàng hôn, sau một ngày lái xe liên tục, anh dừng lại bên lề đường, văng đôi giày chật ra khỏi chân, nằm xuống ghế, và kéo chiếc mũ phớt màu xám để che lên đôi mắt mệt mỏi. Nhịp thở của anh dần chậm và bình thường trở lại. Gió thổi và những ngôi sao bắt đầu ló ra mờ mờ trong ráng chiều non. Những ngọn núi hàng triệu năm tuổi của Sao Hỏa nằm sừng sững xung quanh. Ánh sao lấp lánh trên các chóp nhọn của những tòa nhà ở một thị trấn Sao Hỏa nhỏ, nằm trên rặng đồi xanh, không lớn hơn một bàn cờ.

Anh nằm trong trạng thái nửa tỉnh nửa mơ. Anh thì thầm. Genevieve. Ôi, Genevieve, Genevieve ngọt ngào, anh hát khe khẽ, những năm tháng sẽ đến rồi đi. Nhưng Gevevieve, Genevieve ngọt ngào..[2] Trong lòng anh thấy ấm áp. Anh nghe thấy giọng thở dài mát dịu ngọt ngào của nàng. Xin chào, ôi xin chào Walter! Đây không phải là hộp thư thoại. Anh ở đâu, Walter, anh ở đâu?

Anh thở dài, đưa tay lên chạm vào nàng trong ánh trăng. Mái tóc đen dài khẽ lay động trong gió; ôi đẹp quá. Và đôi môi nàng đỏ như quả dâu chín mọng. Má nàng như đóa hoa hồng mới hái còn đẫm sương. Thân hình nàng mỏng manh và trong suốt như làn khói, còn giọng nói ngọt ngào dịu dàng lại một lần nữa ngân bên tai anh lời của bài hát buồn xưa kia, Ôi, Genevieve, Genevieve ngọt ngào, anh hát khe khẽ, những năm tháng sẽ đến rồi đi....

Anh thiếp đi.

Anh đến Tân Texas City vào lúc nửa đêm.

Anh dừng xe trước tiệm làm đẹp Deluxe Beauty và hét lên gọi.

Anh nghĩ cô sẽ chạy ra, thơm mùi nước hoa và cười khúc khích.

Không gì xảy ra cả.

“Cô ấy đang ngủ.” Anh bước đến cửa. “Tôi đây!” anh gọi. “Chào cô, Genevieve!”

Thị trấn yên lặng dưới ánh sáng của hai vầng trăng. Đâu đó, gió thổi phần phật vào một tấm vải bạt.

Anh đẩy cửa kính và bước vào.

“Này!” Anh cười lo lắng. “Đừng trốn! Tôi biết cô đang ở đây!”

Anh tìm khắp các buồng.

Anh thấy một chiếc khăn tay nhỏ dưới sàn. Nó thật thơm khiến anh gần như mất thăng bằng. “Genevieve,” anh gọi.

Anh lái xe đi qua những con phố vắng vẻ, nhưng không thấy cô. “Nếu đây là một trò đùa...”

Anh cho xe đi chậm lại. “Đợi đã. Mình bị ngắt kết nối. Có lẽ cô ấy cũng đi đến làng Marlin trong khi mình đi tới đây! Có thể cô ấy đi đường cũ, Sea Road. Mình và cô ấy đã không thấy nhau trên đường đi. Làm sao cô ấy biết được là mình sẽ đến? Mình có nói là sẽ đến đâu. Còn cô ấy thì đã quá sợ hãi khi điện thoại bị cắt và vội vàng đi đến làng Marlin để tìm mình! Thế mà mình lại ở đây, Chúa ơi, mình mới ngốc làm sao!”

Anh bấm còi, và lao ra khỏi thị trấn.

Anh lái suốt đêm. Anh nghĩ. Nếu cô ấy không còn ở làng Marlin khi mình về đến nơi thì sao?

Anh không cho là vậy. Chắc chắn cô ấy sẽ ở đó. Và anh sẽ chạy đến ôm lấy cô và có lẽ còn hôn cô, một lần, lên môi.

Genevieve, Genevieve ngọt ngào, anh huýt sáo và nhấn ga lên một trăm dặm một giờ.

Làng Marlin yên lặng vào lúc bình minh. Những ánh đèn vàng vẫn sáng trong một số cửa hàng, và một chiếc máy hát sau khi đã chơi liên tục một trăm giờ đã ngừng chơi vì chập điện, khiến nơi đây trở nên hoàn toàn yên lặng. Mặt trời sưởi ấm các con phố và sưởi ấm bầu trời trống trải lạnh lẽo.

Walter rẽ vào phố chính, đèn xe vẫn bật, bấm còi bíp bíp, sáu lần ở góc phố này, sáu lần ở góc phố khác. Anh ngó nhìn tên các cửa hàng. Mặt anh trắng bệch và mệt mỏi, tay anh đẫm mồ hôi, trượt trên bánh lái.

“Genevieve!” anh gọi trên đường phố vắng.

Cửa một tiệm làm đẹp mở ra.

“Genevieve!” Anh dừng xe.

Genevieve Selsor đứng ở cửa tiệm làm đẹp trong lúc anh chạy sang đường. Trên tay cô ôm một hộp sô cô la sữa đang mở. Cô nâng niu cái hộp với những ngón tay bụ bẫm và xanh xao. Khuôn mặt cô, khi cô bước ra ánh sáng, tròn và mập, hai mắt cô giống như hai quả trứng gà khổng lồ ấn vào một cục bột mì trắng. Chân cô to tròn như gốc cây và cô bước đi nặng nề, lóng ngóng. Tóc cô màu nâu nhem nhuốc do nhuộm đi nhuộm lại, trông như một cái tổ chim. Môi cô mỏng dính nên để bù lại, cô đã tô rộng ra thành một cái miệng đỏ, bóng nhẫy mà lúc này đây đang há ra vì vui sướng, nhưng chợt mím lại ngay. Cô còn tỉa lông mày thành hai đường kẻ mỏng dính.

Walter dừng lại. Nụ cười của anh tan biến. Anh đứng nhìn cô.

Cô đánh rơi hộp kẹo xuống vỉa hè.

“Cô có phải là... Genevieve Selsor?” Tai anh ù lên.

“Anh có phải là Walter Griff?” cô hỏi.

"Gripp.”

“Gripp,” cô sửa lại.

“Chào cô,” anh nói bằng giọng kìm lại.

“Chào anh.” Cô bắt tay anh.

Ngón tay cô dính sô cô la nhớp nháp.

“Ừm,” Walter Gripp nói.

“Gì cơ?” Genevieve Selsor hỏi.

“Tôi chỉ nói, Ừm,” Walter nói.

"Ồ.”

Lúc đó là chín giờ tối. Họ đã dành cả ngày đi picnic, và ăn một bữa tối mà anh chuẩn bị, với bít tết thăn chuột bò nhưng cô chê vì nó tái quá, nên anh lại nướng thêm một lúc nữa và nó thành ra chín quá hoặc thậm chí còn hơi cháy hay gì đấy. Anh cười và nói, “Chúng ta xem phim nhé!” Cô bảo được thôi rồi vịn những ngón tay dính sô cô la lên khuỷu tay anh. Nhưng cô chỉ muốn xem một bộ phim của Clark Gable từ tám mươi năm trước. “Chẳng phải chính ông ta giết cô ư?” Cô cười khúc khích. “Nào, chẳng phải chính ông ta giết chết cô ư?” Bộ phim kết thúc. “Xem lại đi,” cô yêu cầu. “Lần nữa á?” anh hỏi. “Lần nữa.” cô đáp. Và khi anh quay lại thì cô bắt đầu rúc vào người anh và mân mê khắp người anh. “Anh không hoàn toàn như tôi đã tưởng tượng, nhưng cũng tốt,” cô thừa nhận. “Cảm ơn cô,” anh đáp, nuốt khan. “Ôi, anh chàng Gable,” cô nói, và véo vào đùi anh. “Au!” anh kêu.

Sau khi xem phim xong, họ đi mua sắm trên những con phố yên lặng. Cô đập vỡ một cửa sổ và diện chiếc váy màu chóe nhất có thể tìm được. Dốc một chai nước hoa lên tóc, trông cô như một con chó chăn cừu bị ngã xuống nước. “Cô bao nhiêu tuổi?” anh hỏi. “Anh đoán xem.” Để nước chảy tong tỏng, cô dẫn anh xuống phố. “À, ba mươi,” anh nói. “Chà,” cô nghiêm giọng thông báo. “Tôi mới hai mươi bảy tuổi thôi, lại đằng kia đi!”

“Lại một cửa hàng bánh kẹo nữa!” cô nói. “Thú thực, tôi đã sống cuộc đời vô tư lự kể từ khi mọi thứ nổ tung. Tôi chưa bao giờ thích ông bố bà bộ, họ rất ngốc nghếch. Họ bỏ về Trái Đất cách đây hai tháng. Lẽ ra tôi cũng đi theo họ trên chuyến phi thuyền cuối cùng, nhưng tôi đã ở lại; anh biết vì sao không?”

“Vì sao?”

“Bởi vì ai cũng chỉ trích tôi. Nên tôi ở lại nơi mà tôi có thể xức nước hoa cả ngày, uống sữa bột thả cửa và ăn kẹo xả láng mà không có ai bảo ‘Ôi, ăn thế nhiều năng lượng lắm đấy!′ Thế là tôi ở lại đây!

“Cô ở đây.” Walter nhắm mắt lại.

“Muộn rồi,” cô nói và nhìn anh.

“Phải.”

“Tôi thấy mệt.” cô nói.

“Lạ nhỉ. Tôi lại rất tỉnh táo.”

“Ồ,” cô nói.

“Tôi thấy mình có thể thức suốt đêm,” anh nói. “Này, ở cửa hàng Mike có một đĩa hát rất hay. Đi nào, tôi sẽ bật cho cô nghe.”

“Tôi mệt lắm.” Cô ngước nhìn anh với ánh mắt sáng, ranh mãnh.

“Tôi thì lại rất tỉnh,” anh nói. “Lạ thật.”

“Quay lại tiệm làm đẹp đi,” cô nói. “Tôi muốn chỉ cho anh xem cái này. ”

Cô dẫn anh đi qua cửa kính và tới chỗ một chiếc hộp lớn màu trắng. “Khi tôi lái xe từ Texas City đến đây,” cô nói, “tôi đã mang theo cái này.” Cô tháo dây nơ màu hồng ra. “Tôi nghĩ: Mình, người phụ nữ duy nhất trên Sao Hỏa, còn đây, người đàn ông duy nhất, chà...” Cô nhấc nắp hộp lên và gạt lớp giấy lụa màu hồng loạt soạt mới tinh bên trên ra. Cô vỗ vỗ nó. “Đấy!”

Walter Gripp nhìn chằm chằm.

“Cái gì vậy?” anh hỏi, bắt đầu run.

“Anh không biết sao, đồ ngốc? Những diềm đăng ten này, tất cả đều màu trắng và tinh tế và các thứ.”

“Không, tôi không biết nó là cái gì.”

“Là váy cưới, đồ ngốc ạ!”

“Thật sao?” Giọng anh khô khốc.

Anh nhắm mắt lại. Giọng cô vẫn nhẹ nhàng, mát dịu, ngọt ngào như anh đã nghe trên điện thoại. Nhưng khi anh mở mắt ra và nhìn cô thì...

Anh lùi lại. “Đẹp quá,” anh nói.

“Đẹp nhỉ?”

“Genevieve.” Anh liếc ra cửa.

“Vâng?”

“Genevieve, tôi có điều này muốn nói với cô.”

“Vâng?” Cô lướt gần đến bên anh, mùi nước hoa đậm đặc trên khuôn mặt trắng tròn trịa.

“Điều tôi muốn nói với cô là...” anh nói.

“Vâng?”

“Tạm biệt!”

Rồi anh chạy vọt ra cửa, nhảy lên xe trước khi cô kịp hét lên.

Cô chạy theo, đứng bên lề đường trong khi chiếc xe văng từ đường bên này sang đường bên kia.

“Walter Griff, quay lại đây!” cô kêu khóc, tay vùng vằng.

“Gripp,” anh sửa lại.

“Gripp!” cô la lớn.

Chiếc xe vọt đi trên con phố im lặng, mặc kệ cô bước theo lặc lè và rú rít. Khói xe phả vào bộ váy trắng mà cô túm chặt trong đôi bàn tay mũm mĩm, những ngôi sao chiếu sáng rạng rỡ, và chiếc xe biến mất trong sa mạc và bóng tối.

Anh lái suốt ba ngày ba đêm. Có lúc anh tưởng như một chiếc xe đang đuổi theo mình và anh rùng mình túa mồ hôi, rẽ sang một cao tốc khác, cắt ngang thế giới Sao Hỏa cô đơn, đi qua những thành phố chết, và anh cứ thế lái suốt một tuần và một ngày, cho đến khi đã cách xa làng Marlin mười ngàn dặm. Anh rẽ vào một thị trấn nhỏ tên là Holtville Springs, nơi có một vài cửa hàng nhỏ xíu mà anh có thể bật đèn lên vào buổi đêm, những quán ăn để vào ngồi và gọi món. Anh sống ở thị trấn này kể từ đó, với hai tủ trữ đông đủ dùng cho một trăm năm, và xì gà đủ để hút trong mười ngàn ngày, và một chiếc giường xinh đẹp trải đệm mềm mại.

Trong suốt những năm tháng đó, nếu thỉnh thoảng điện thoại có đổ chuông, anh cũng không bao giờ nghe.

❀ ❀ ❀

[1] "That Old Gang of Mine".

[2] Lời bài hát “Sweet Genevieve" của Henry Tucker.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.