Biên Niên Ký Sao Hỏa

Lượt đọc: 145 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22
Tháng Mười một năm 2036 Mùa nhàn rỗi

❊ ❊ ❊

Sam Parkhill cầm cây chổi đưa đẩy, quét đi lớp cát màu lam của Sao Hỏa.

“Đây rồi!” gã nói. “Phải, thưa ông, hãy nhìn xem!” Gã chỉ. “Nhìn tấm biển kia xem. BÁNH KẸP XÚC XÍCH SAM! Trông đẹp nhỉ, Elma?”

“Rất đẹp, Sam,” vợ gã đáp.

“Chà, thật là một sự thay đổi ngoạn mục đối với anh. Nếu mấy gã ở đoàn thám hiểm thứ tư có thể thấy anh của bây giờ. Thật mừng vì anh đã có cửa hàng kinh doanh của riêng mình trong khi tất cả bọn họ vẫn còn đi lính. Chúng ta sẽ kiếm được hàng ngàn đô, Elma a, hàng ngàn đô!”

Vợ gã nhìn gã một lúc lâu, không nói gì. “Chuyện gì đã xảy ra với cơ trưởng Wilder vậy?” cuối cùng cô ta hỏi. “Tay cơ trưởng đã giết chết cái gã định giết hết người Trái Đất ấy, hắn tên là gì nhỉ?”

“Spender, thằng khùng. Hắn kỳ cục lắm. Ồ, cơ trưởng Wilder à? Ông ta đang trên phi thuyền đi tới Sao Mộc, anh nghe nói thế. Họ hất ông ta lên tầng cao hơn. Anh nghĩ ông ta cũng hơi gàn gàn về chuyện Sao Hỏa. Nhạy cảm, em biết đấy. Ông ta sẽ quay về từ Sao Mộc và Sao Diêm Vương sau khoảng hai mươi năm nữa, nếu ông ta may mắn. Đó là thứ ông ta phải chấp nhận vì tội ăn nói bất cẩn. Và trong khi ông ta đang chết rét ở trên kia thì nhìn anh xem, nhìn nơi này xem!”

Đó là một giao lộ nơi hai đường cao tốc chết giao nhau và dẫn vào bóng tối. Ở đây, Sam Parkhill đã dựng cái khung nhà bằng nhôm và đinh tán này, chóe màu sơn trắng và rung bần bật vì âm thanh của máy hát tự động.

Gã khom lưng chỉnh lại cạnh của một tấm kính vỡ đặt ở lối đi. Gã đã đập vỡ kính từ các tòa nhà cũ của người Sao Hỏa trên đồi. “Bánh mì xúc xích ngon nhất trên cả hai thế giới! Người đầu tiên trên Sao Hỏa có một quầy bán bánh mì xúc xích! Hành, ớt và mù tạt ngon hảo hạng! Không thể nói là tôi không tỉnh táo được. Đây là hai cao tốc chính, đằng kia là thành phố chết và mỏ khoáng sản. Xe tải từ Khu Định cư Trái Đất 101 sẽ phải đi qua đây hai tư giờ một ngày! Tôi có biết chọn vị trí không nào?”

Vợ gã nhìn xuống móng tay.

“Anh nghĩ rằng mười ngàn chiếc phi thuyền thế hệ mới chở người lao động sẽ lên đến Sao Hỏa sao?” cuối cùng cô ta nói.

“Chỉ trong vòng một tháng tới!” gã nói lớn. “Sao trông em lạ thế?”

“Em không tin người Trái Đất,” cô ta nói. “Em sẽ chỉ tin khi nào tận mắt thấy mười nghìn chiếc phi thuyền lên tới đây cùng một trăm ngàn người Mexico và người Trung Quốc.”

“Khách hàng.” Gã ngân nga. “Một trăm ngàn người đói.”

“Đấy là nếu,” vợ gã chậm rãi, vừa nói vừa quan sát bầu trời, “không có chiến tranh nguyên tử. Em không tin là không có bom nguyên tử. Giờ Trái Đất nhiều bom nguyên tử lắm, anh sẽ chẳng bao giờ biết được.”

“A,” Sam nói, tiếp tục quét bụi.

Từ khóe mắt mình, gã thấy một ánh lửa xanh. Có thứ gì bay nhẹ nhàng trong không trung phía sau gã. Gã nghe tiếng vợ nói, “Sam. Anh có bạn đến thăm.”

Sam xoay người lại và thấy chiếc mặt nạ đang lướt đi trong gió.

“Vậy là anh lại đến!” Sam cầm chiếc chổi như cầm một loại vũ khí.

Chiếc mặt nạ gật. Chiếc mặt nạ làm từ thủy tinh xanh mờ gắn trên một chiếc cổ gầy; bên dưới là chiếc áo choàng rộng thùng thình bằng lụa vàng mỏng. Từ chiếc áo lụa lộ ra hai bàn tay đi găng lưới màu bạc. Miệng của chiếc mặt nạ là một cái khe mà từ đó những âm thanh du dương như âm nhạc phát ra, trong khi chiếc áo choàng, chiếc mặt nạ và hai bàn tay vươn ra, hạ xuống.

“Anh Parkhill, tôi lại đến để nói với anh,” giọng nói cất lên từ phía sau lớp mặt nạ.

“Tôi tưởng đã nói với anh là tôi không muốn anh đến gần chỗ này!” Sam kêu lên. “Đi đi, nếu không tôi sẽ truyền Bệnh cho anh đấy!”

“Tôi đã từng nhiễm Bệnh rồi,” tiếng giọng nói. “Tôi là một trong số ít người sống sót. Tôi đã bị Bệnh trong một thời gian dài.”

“Đi đi và trốn trên núi ấy, đó là nơi của anh, nơi anh vẫn sống. Tại sao xuống đây làm phiền tôi? Hả, tự dưng lại đến. Hai lần một ngày!”

“Chúng tôi không định làm hại ai.”

“Nhưng tôi thì sẽ làm hại anh đấy!” Sam nói và lùi lại. “Tôi không thích người lạ. Tôi không thích người Sao Hỏa. Tôi chưa bao giờ thấy một người Sao Hỏa. Thật không bình thường. Bao năm qua các anh vẫn lẩn tránh, thế rồi tự dưng lại xuất hiện trước mặt tôi. Để tôi yên.”

“Chúng tôi đến vì một lý do quan trọng” người mang mặt nạ xanh nói.

“Nếu là vì mảnh đất này, thì nó là của tôi. Tôi đã tự tay dựng lên quầy bán bánh mì xúc xích này.”

“Theo một cách nào đó thì đúng là vì chuyện liên quan đến đất đai.”

“Nhìn đây,” Sam nói. “Tôi đến từ thành phố New York. Ở đó có mười triệu người giống như tôi. Người Sao Hỏa các anh chỉ còn lại vài chục người, không có thành phố, các anh đi lang thang trên núi, không có thủ lĩnh, không có luật lệ, và giờ thì anh xuống đây nói chuyện với tôi về đất đai. Chà, người cũ phải nhường chỗ cho người mới. Đó là quy luật được mất. Tôi có súng ở đây. Sáng nay sau khi anh đi khỏi, tôi đã lấy nó ra và nạp đạn.”

“Người Sao Hỏa chúng tôi có khả năng viễn cảm,” người mặt nạ xanh lạnh lùng nói. “Chúng tôi có liên lạc với một trong những thị trấn của các anh ở bên kia biển cạn. Anh đã nghe đài chưa?”

“Đài của tôi hỏng rồi.”

“Vậy là anh chưa biết. Có tin quan trọng. Liên quan đến Trái Đất...”

Một bàn tay bạc giơ ra. Một ống đồng xuất hiện trên bàn tay đó.

“Để tôi chỉ cho anh cái này.”

“Súng,” Sam Parkhill kêu lên.

Trong chớp mắt, gã rút súng trong bao bên sườn ra và bắn vào màn sương, chiếc áo choàng, chiếc mặt nạ xanh.

Chiếc mặt nạ đứng yên một lúc. Rồi, như một lều vải nhỏ sau khi tháo khung và dây sụp xuống thành từng nếp mềm mại, chiếc áo choàng bằng lụa kêu sột soạt, chiếc mặt nạ rơi xuống, những ngón tay bạc rơi keng xuống nền đá. Chiếc mặt nạ nằm trên mớ lộn xộn im lặng của xương trắng và vải lụa.

Sam đứng thở hổn hển.

Vợ gã đến gần cái đống hỗn độn.

“Không phải vũ khí,” cô ta nói, cúi xuống xem. Cô ta nhặt chiếc ống bằng đồng lên. “Anh ta định cho anh xem một thông điệp. Nó được viết bằng thứ chữ trông như rắn, toàn là rắn màu xanh lam. Em không đọc được. Anh thì sao?”

“Không, loại chữ như tranh vẽ của người Sao Hỏa ấy à, chẳng có nghĩa gì đâu. Bỏ đi!” Sam vội liếc xung quanh. “Có thể chúng còn đồng bọn! Chúng ta phải đưa anh ta ra khỏi đây. Lấy xẻng đi!”

“Anh định làm gì?”

“Chôn anh ta, chứ còn gì nữa.”

“Lẽ ra anh không nên bắn anh ta.”

“Anh nhầm mà. Nhanh lên!”

Lặng lẽ, cô ta đi lấy xẻng cho gã.

Đến tám giờ tối, gã tiếp tục trở lại với việc quét bụi trước quầy bánh mì xúc xích, cảm thấy bứt rứt. Vợ gã đứng khoanh tay trên ngưỡng cửa sáng đèn.

“Anh rất tiếc vì chuyện đã xảy ra,” gã nói. Gã nhìn vợ, rồi quay đi. “Em biết đó chỉ là do hoàn cảnh thôi.”

“Phải,” vợ gã nói.

“Anh ghét khi thấy anh ta lôi thứ vũ khí đó ra.”

“Vũ khí nào?”

“À, anh tưởng đó là vũ khí! Anh rất tiếc, anh rất tiếc! Anh đã nói bao nhiêu lần rồi!”

“Suỵt!” Elma nói và đặt một ngón tay lên môi. "Suyt!”

“Anh chẳng quan tâm,” gã nói. “Anh có cả tập đoàn Khu Định cư Trái Đất đứng sau lưng!” Gã khịt mũi. “Bọn Sao Hỏa đó mà dám...”

“Nhìn kìa,” Elma nói.

Gã nhìn ra phía biển cạn. Gã đánh rơi chổi. Gã nhặt chổi lên, miệng há to, một giọt nước miếng văng ra không trung, và tự nhiên gã rùng mình.

“Elma, Elma, Elma!” gã gọi.

“Họ đến rồi đó!” Elma nói.

Từ hướng biển cạn, hàng chục con tàu cát buồm xanh của người Sao Hỏa đang lướt tới, như những bóng ma màu xanh, như một màn khói màu xanh.

“Tàu cát! Nhưng làm gì còn, Elma, làm gì còn tàu cát ở đâu nữa?”

“Đó có vẻ là tàu cát thật đấy,” cô ta nói.

“Nhưng các nhà chức trách đã tịch thu hết tàu cát rồi cơ mà! Họ đã phá dỡ và cho bán đấu giá một vài chiếc! Anh là người duy nhất trên toàn lãnh thổ chết tiệt này có một con tàu cát và biết sử dụng nó.”

“Nhưng bây giờ thì nó không còn là duy nhất nữa,” cô ta nói và hất hàm về phía biển.

“Đi thôi, chạy khỏi đây thôi!”

“Vì sao?” cô ta chậm rãi hỏi, không rời mắt khỏi những con tàu lớn của người Sao Hỏa.

“Họ sẽ giết anh! Lên xe tải đi, mau!”

Elma không nhúc nhích.

Gã phải kéo cô ta ra phía sau quầy hàng, nơi có hai cỗ máy đang đứng, một là chiếc xe tải của gã, thứ gã vẫn sử dụng đều cho đến cách đây một tháng, và hai là con tàu cát của Sao Hỏa mà gã đã mua về từ một buổi bán đấu giá, hết sức hài lòng và trong suốt ba tuần qua, gã đã dùng nó để chở hàng qua đáy biển phẳng lặng. Giờ thì gã nhìn chiếc xe tải và nhớ ra. Động cơ của nó ngổn ngang trên mặt đất; gã đã bận rộn sửa chữa suốt hai ngày qua.

“Xe tải có vẻ không ở trong trạng thái hoạt động” Elma nói.

“Tàu cát. Leo lên đi!”

“Và để anh chở ư? Ồ không.”

“Leo lên đi! Anh lái được!”

Gã đẩy cô ta vào, rồi nhảy lên theo, vỗ bánh lái, bật chiếc buồm màu xanh cô ban lên để đón luồng gió đêm.

Những ngôi sao đang sáng và những con tàu xanh của người Sao Hỏa đang lướt đi trên nền cát thì thầm. Ban đầu, con tàu của gã không chịu nhúc nhích, sau đó gã nhớ ra và giật mỏ neo lên.

“Được rồi!”

Gió kéo con tàu cát lướt đi trên nền biển cạn, trên những khối pha lê từ lâu đã bị chôn vùi, đi qua những cây cột ngổn ngang, qua những bến tàu cẩm thạch và đồng bỏ hoang, qua những thành phố chết màu trắng như bàn cờ, qua những chân đồi màu tía, về phía xa. Bóng dáng những con tàu của người Sao Hỏa tụt lại phía sau, rồi lại hối hả đuổi theo tàu của Sam.

“Cho chúng chống mắt lên, Chúa ơi!” Sam thốt lên. “Anh sẽ báo cáo lên Liên đoàn Phi thuyền. Họ sẽ cử người đến bảo vệ mình! Anh nhanh đấy chứ!”

“Nếu muốn thì họ đã có thể chặn anh rồi,” Elma mệt mỏi nói. “Họ không muốn thôi.”

Gã cười. “Thôi đi. Sao bọn chúng lại muốn tha cho anh? Không, bọn chúng không đuổi kịp, thế thôi.”

“Có đúng thế không?” Elma hất đầu về phía sau gã.

Gã không quay lại. Gã chỉ cảm thấy một cơn gió lạnh. Gã sợ phải quay lại. Gã cảm thấy thứ gì đó trên ghế sau, thứ gì đó mong manh như hơi thở vào một buổi sáng lạnh lẽo, thứ gì đó có màu xanh mờ ảo như làn khói củi bay trong bóng chiều chạng vạng, thứ gì đó như vải đăng ten trắng cũ, thứ gì đó như bông tuyết rơi, thứ gì đó như sương muối băng giá đọng trên cành lau lách khô giòn vào mùa đông.

Có một âm thanh nghe như tiếng vỡ của một chiếc đĩa thủy tinh mỏng – tiếng cười. Rồi im lặng. Gã quay lại.

Cô gái ngồi lặng lẽ trên ghế băng cạnh bánh lái. Cổ tay cô ta gầy guộc như trụ băng, mắt cô ta trong như hai mặt trăng, và cũng lớn, kiên định, sáng rỡ như vậy. Gió thổi vào người cô ta, và như một hình ảnh trên mặt nước lạnh, cô ta gợn lăn tăn, tấm áo khoác lụa che cho cơ thể mỏng manh của cô ta trước những hạt mưa màu xanh đang táp xuống.

“Quay lại đi,” cô ta nói.

“Không” Sam đang run rẩy, cái run rẩy sợ hãi tinh vi của con ong bắp cày lơ lửng giữa không trung, không thể biết nên sợ hãi hay nên căm ghét. “Ra khỏi tàu của tôi.”

“Đây không phải là tàu của anh,” ảo ảnh nói. “Nó cổ xưa như thế giới của chúng tôi. Nó đã giăng buồm đi trên biển cát cách đây mười ngàn năm, từ khi biển cạn nước và những bến tàu bị bỏ hoang, rồi các anh đến chiếm lấy nó, cướp lấy nó. Giờ thì hãy quay lại, đi về giao lộ. Chúng tôi có chuyện cần nói với anh. Một việc rất quan trọng đã xảy ra.”

“Biến khỏi tàu của tao!” Sam nói. Gã rút súng ra khỏi bao. Gã thận trọng chĩa súng. “Biến khỏi đây trước khi tao đếm đến ba, nếu không.”

“Đừng!” cô gái thốt lên. “Tôi sẽ không làm hại anh. Những người khác cũng thế. Chúng tôi đến trong hòa bình!”

“Một!” Sam đếm.

“Sam!” Elma gọi.

“Hãy nghe tôi,” cô gái nói.

“Hai,” Sam kiên quyết và lên cò súng.

“Sam!” Elma nói.

“Ba!” Sam đếm.

“Chúng tôi chỉ...” cô gái nói.

Súng nổ.

Dưới ánh mặt trời, tuyết tan, những viên pha lê bốc lên thành hơi nước, tan vào hư không. Trong ánh lửa, những hơi nước nhảy múa và biến mất. Trong lòng núi lửa, những thứ mỏng manh nổ tung và biến mất. Cô gái, sau phát đạn, trong cái nóng, trong sự chấn động, cuộn mình như một tấm khăn mềm mại, tan ra như một bức tượng pha lê. Cô ta chỉ còn là băng, là bông tuyết, là khói cuốn bay theo gió. Chiếc ghế cạnh bánh lái bây giờ trống không.

Sam cất súng vào bao, không nhìn vợ.

“Sam,” cô ta nói sau khi họ đi thêm được một phút trên biển cát màu ánh trăng, cô ta yếu ớt nói, “dừng tàu lại đi.”

Gã nhìn vợ, mặt tái lại. “Không, đừng thế. Đã đến nước này rồi, chúng ta không thể dừng lại được.”

Cô ta nhìn bàn tay đang cầm súng của gã. “Em tin là anh sẽ,” cô ta nói. “Anh thực sự sẽ dừng lại.”

Gã quay sang phải rồi lại sang trái, tay bám chắc bánh lái. “Elma, chuyện này thật điên rồ. Một phút nữa thôi là chúng ta vào đến thị trấn, chúng ta sẽ ổn thôi!”

“Vâng” vợ gã nói, cô ta nằm lại lên sàn tàu, lạnh lẽo.

“Elma, nghe anh nói.”

“Chẳng có gì để nghe cả, Sam.”

"Elma!”

Họ đang bay qua một thành phố bàn cờ xinh xắn màu trắng, và như để trút sự thất vọng cùng cơn thịnh nộ của mình, gã xả một loạt sáu viên đạn vào các tòa tháp pha lê. Thành phố tan ra trong một trận mưa những mảnh thủy tinh và thạch anh cổ xưa. Nó rơi rụng như được khắc từ miếng xà bông, vỡ vụn. Thành phố đã tan biến. Gã cười rồi lại tiếp tục bắn. Rồi một tòa tháp cuối cùng, quân cờ cuối cùng, bắt lửa, bùng cháy, những mảnh vụn màu lam bay lên cao cùng các vì sao.

“Anh sẽ cho chúng thấy! Anh sẽ cho tất cả thấy!”

“Cứ làm đi, chỉ cho chúng tôi thấy đi, Sam.” Vợ gã nằm trong bóng tối.

“Một thành phố nữa đây rồi!” Sam nạp đạn. “Xem anh chỉnh đốn nó đây!”

Những con tàu ma màu xanh lam đã lừng lững ở đằng sau họ, từ từ tiến lại gần. Ban đầu gã không nhìn thấy chúng. Gã chỉ biết có một tiếng huýt sáo và một tiếng như gió rít của thép lướt trên nền cát, đó là âm thanh của những mũi tàu sắc nhọn đang rẽ cát tiến lên, những lá cờ nheo đỏ, cờ nheo xanh bay lất phất. Trên những con tàu hiện lên dưới ánh sáng màu xanh lam là những cái bóng màu xanh sẫm, những người mang mặt nạ, những người có khuôn mặt ánh bạc, mắt xanh như ánh sao, vành tai nạm vàng, gò má nhọn như thiếc và môi gắn ngọc đỏ, những người đang khoanh tay, những người đang đuổi theo gã, những người Sao Hỏa.

Một, hai, ba. Sam đếm. Những con tàu của người Sao Hỏa áp sát lại.

“Elma, Elma. Anh không chặn được hết bọn chúng!”

Elma không nói, cũng không ngồi dậy từ chỗ cô ta sụm xuống khi nãy.

Sam bắn tám phát súng. Một con tàu cát tan rã, cánh buồm, thân tàu màu ngọc lục bảo, những mũi nhọn bọc đồng, bánh lái màu bạc như ánh trăng, cùng tất cả những cái bóng trên tàu. Những người đàn ông mang mặt nạ, tất cả bọn họ, đều sụp xuống cát và bốc cháy thành ngọn lửa màu cam, rồi thành khói.

Nhưng các con tàu khác vẫn tiến sát lại.

“Bọn chúng đông quá, Elma!” gã kêu lên. “Chúng giết anh mất!”

Gã ném mỏ neo ra. Nhưng vô ích. Cánh buồm lật phật rơi xuống, xếp nếp, thở dài. Con tàu dừng lại. Gió ngừng thổi. Mọi chuyển động đều dừng lại. Sao Hỏa đứng yên, trong khi những con tàu oai nghiêm của người Sao Hỏa bao vây và ngập ngừng tiếp cận gã.

“Người Trái Đất,” một giọng nói cất lên từ đâu đó trên cao. Một mặt nạ bạc cử động. Đôi môi gắn ngọc đỏ lấp lánh theo từng lời nói.

“Tôi có làm gì đâu!” Sam nhìn lên một trăm khuôn mặt đang bao vây gã. Không còn nhiều người Sao Hỏa còn sống sót – một trăm, một trăm năm mươi là cùng. Và bây giờ hầu hết họ đang ở đây, trên biển chết, trên những con tàu tái sinh, bên những thành phố bàn cờ đã chết, mà một trong số đó vừa sụp đổ như một chiếc bình thủy tinh bị một viên sỏi đập vào. Những mặt nạ bạc loang loáng.

“Chỉ là nhầm lẫn thôi,” gã cầu xin, gã bước ra khỏi tàu, vợ gã vẫn nằm phía sau gã trong lòng tàu, như một người chết. “Tôi đến Sao Hỏa như mọi doanh nhân trung thực khác. Tôi lấy vật liệu dư thừa từ một chiếc phi thuyền hỏng để tự xây cho mình một quầy bán hàng nhỏ và đẹp nhất mà các anh từng thấy, ngay ở kia trên mảnh đất gần giao lộ – các anh biết nó ở đâu rồi đấy. Các anh phải công nhận rằng tôi đã hoàn thành tốt việc xây dựng của mình.” Sam cười và nhìn ra xung quanh. “Thế rồi người Sao Hỏa kia tới – tôi biết anh ta là bạn của các anh. Cái chết của anh ta chỉ là một tai nạn, tôi cam đoan như vậy. Tôi chỉ muốn có một quầy bán bánh mì xúc xích, một cửa hàng duy nhất trên Sao Hỏa, cửa hàng đầu tiên và quan trọng nhất. Các anh hiểu thế nghĩa là thế nào không? Tôi sẽ bán loại bánh mì xúc xích ngon nhất ở đó, cùng với tương ớt, hành và nước cam.”

Những người mang mặt nạ không nhúc nhích. Họ bừng bừng dưới ánh trăng. Những đôi mắt vàng soi lên người Sam. Gã thấy bụng mình quặn lại, quắt lại, như một hòn đá. Gã ném khẩu súng xuống cát.

“Tôi đầu hàng.”

“Nhặt súng của anh lên,” những người Sao Hỏa đồng thanh.

“Sao?”

“Súng của anh.” Một bàn tay dát ngọc vẫy vẫy trên mũi một con tàu xanh. “Nhặt nó lên. Cất nó đi.”

Không thể tin vào tai mình, gã nhặt súng lên.

“Giờ,” giọng nói bảo, “quay thuyền lại và trở về cửa hàng của anh.”

“Bây giờ sao?”

“Bây giờ,” tiếng nói đáp. “Chúng tôi sẽ không làm hại anh. Anh đã bỏ chạy trước khi chúng tôi có thể giải thích. Đi thôi.”

Giờ thì những con tàu lớn quay đầu nhẹ nhàng như những bông cúc gai. Những cánh buồm vỗ phần phật trong không trung như tiếng vỗ tay khe khẽ. Những chiếc mặt nạ lấp lánh, quay đầu, rực sáng trong bóng đêm.

“Elma!” Sam loạng choạng trở lại tàu. “Dậy đi, Elma. Chúng ta sẽ quay lại.” Gã phấn khích. Gã gần như lắp bắp vì nhẹ nhõm. “Chúng không định làm hại anh, không giết anh, Elma. Dậy đi, cưng, dậy đi.”

“Sao... gì cơ?” Elma chớp mắt và chậm rãi nhìn xung quanh, khi con tàu lại được gió đưa đi, cô ta, như vẫn còn đang trong giấc mơ, nhấc mình lên một cái ghế và sụm xuống đó như một đống thịt, không nói gì thêm.

Cát rẽ ra dưới mũi tàu. Nửa giờ sau, họ đã về đến giao lộ, các con tàu cắm cọc đứng yên, tất cả xuống tàu.

Thủ lĩnh đứng trước mặt Sam và Elma, mặt nạ của ông ta được gò từ đồng bóng loáng, đôi mắt là hai đường kẻ màu xanh đen sâu thẳm, miệng là một khe hẹp mà từ đó, lời nói thoát ra trôi trong gió.

“Anh hãy chuẩn bị đi” giọng nói cất lên. Một bàn tay nạm kim cương chìa ra. “Chuẩn bị đồ ăn, thức uống, chuẩn bị những thứ rượu kỳ lạ, bởi đêm nay sẽ là một đêm hết sức thú vị!”

“Ý anh là,” Sam hỏi, “các anh cho phép tôi ở lại đây?”

“Phải.”

“Các anh không giận tôi?”

Chiếc mặt nạ cứng ngắc như tạc, lạnh lùng tựa như đui mù.

“Chuẩn bị thức ăn,” tiếng nói cất lên khe khẽ. “Và cầm lấy cái này.”

“Đây là cái gì?”

Sam chớp mắt nhìn cuộn giấy bạc vừa được trao vào tay mình, trên đó có những chữ tượng hình, những hình thù như con rắn nhảy múa.

“Đây là giấy giao đất, toàn bộ lãnh thổ từ những ngọn núi bạc này tới những ngọn đồi xanh, từ biển chết ở đây cho đến những thung lũng đá mặt trăng và ngọc lục bảo ở đằng kia,” thủ lĩnh nói.

“C-của tôi ư?” Sam hỏi, ngờ vực.

“Của anh.”

“Lãnh thổ một trăm nghìn dặm?”

“Của anh.”

“Em nghe thấy không, Elma?”

Elma đang ngồi dưới đất, tựa lưng vào quầy xúc xích dựng bằng khung nhôm, mắt nhắm lại.

“Nhưng tại sao, tại sao... tại sao các anh lại đưa cho tôi tất cả những thứ này?” Sam hỏi, cố gắng nhìn vào khe kim loại nơi có đôi mắt.

“Đó chưa phải là tất cả. Đây.” Thêm sáu cuộn giấy nữa xuất hiện. Những cái tên được tuyên bố, các lãnh thổ được thông báo.

“Trời, đó là một nửa Sao Hỏa! Tôi được sở hữu một nửa Sao Hỏa!” Sam lắc lắc các cuộn giấy trong tay. Gã dứ những cuộn giấy trước mặt Elma, cười như phát điên. “Elma, em có nghe thấy không?”

“Em có nghe,” Elma trả lời, nhìn lên trời.

Có vẻ cô ta đang theo dõi một thứ gì đó. Cô ta đang dần tỉnh táo lại.

“Cảm ơn, ôi, xin cảm ơn,” Sam nói với người mang mặt nạ đồng.

“Đêm nay đấy,” người mang mặt nạ nói. “Anh phải chuẩn bị sẵn sàng.”

“Tôi sẽ chuẩn bị. Đó là cái gì – một sự ngạc nhiên à? Có phải những chiếc phi thuyền sẽ lên đây sớm hơn dự định không, sớm hơn một tháng? Tất cả mười nghìn phi thuyền, mang lên đây những cư dân, những thợ mỏ, những công nhân và vợ con họ nữa, hàng trăm ngàn người? Chẳng phải như vậy thì rất tốt sao, Elma? Em thấy không, anh đã nói rồi. Anh đã bảo mà, thị trấn kia sẽ không mãi mãi chỉ có một ngàn người đâu. Sẽ có thêm năm mươi ngàn người nữa, và tháng sau lại thêm một trăm ngàn người nữa, và đến cuối năm, sẽ có năm triệu người Trái Đất đến đây. Và anh có cửa hàng bánh mì xúc xích duy nhất cắm chốt trên con đường cao tốc nhộn nhịp nhất dẫn đến các mỏ!”

Người mang mặt nạ lướt đi trong gió. “Chúng tôi đi đây. Hãy chuẩn bị. Mảnh đất này là của anh.”

Dưới ánh trăng sáng rỡ, như những cánh hoa ánh kim của một loài hoa cổ xưa, như một chùm lông vũ màu xanh lam, như một đàn bướm khổng lồ và trầm lặng màu cô ban, những con tàu cũ quay đầu và lướt đi trên nền cát dịch chuyển, cùng những chiếc mặt nạ loang loáng, cho đến khi ánh sáng cuối cùng, màu xanh lam cuối cùng, khuất sau những ngọn đồi.

“Elma, tại sao họ làm vậy? Sao họ không giết anh? Họ không biết gì sao? Họ bị sao vậy? Elma, em có hiểu không?” Gã lắc vai cô ta. “ Anh sở hữu một nửa Sao Hỏa!”

Cô ta nhìn lên bầu trời đêm, chờ đợi.

“Nào,” gã nói. “Chúng ta phải sửa soạn cho nơi này. Luộc xúc xích, hâm nóng bánh, chưng tương ớt, bóc thái hành, bày đồ gia vị, kẹp giấy ăn, lau chùi hàng quán! Hây!” Gã nhảy múa phấn khích, giậm gót chân. “Trời ơi, tôi hạnh phúc quá; vâng, thưa ông, tôi hạnh phúc quá,” gã hát, lệch tông. “Hôm nay là ngày may mắn của tôi!”

Gã luộc xúc xích, cắt bánh, thái hành trong trạng thái như phát cuồng.

“Xem nào, gã Sao Hỏa đó nói sẽ có một bất ngờ. Chỉ có thể là một điều thôi, Elma. Hàng trăm ngàn người đó sẽ đến đây trước thời hạn, đêm nay, trong tất cả mọi đêm! Chúng ta sẽ ngập việc! Chúng ta sẽ phải làm việc quần quật nhiều ngày để phục vụ khách du lịch đi ngắm nghía quanh đây, Elma. Nghĩ đến số tiền xem!”

Gã bước ra ngoài nhìn lên trời. Gã không nhìn thấy gì hết.

“Chỉ một phút thôi, có lẽ,” gã nói, đưa mũi hít làn hơi mát lạnh, lòng ngập tràn biết ơn. Gã đưa tay lên vỗ ngực. “A!”

Elma không nói gì. Cô ta lặng lẽ gọt vỏ khoai tây để làm món khoai chiên, mắt vẫn luôn dán lên nhìn trời.

“Sam,” nửa tiếng sau cô ta mới nói. “Kìa kìa. Nhìn xem.”

Gã nhìn và trông thấy nó.

Trái Đất.

Trái Đất tròn màu xanh như viên đá được mài nhẵn, lửng lơ trên đỉnh đồi.

“Trái Đất thân thương” gã thì thầm âu yếm. “Trái Đất thân thương tuyệt vời. Hãy gửi lên đây những người đang đói và sắp chết đói. Gì nữa, gì nữa – câu thơ tiếp theo như thế nào nhỉ?[1] Hãy gửi lên đây những người đang đói, hỡi Trái Đất thân thương. Đây là Sam Parkhill, xúc xích của hắn đã luộc xong cả rồi, ớt hắn đang chưng, mọi thứ đã sẵn sàng. Nào, hỡi Trái Đất, hãy gửi đến đây những chiếc phi thuyền của mi!”

Gã bước ra ngoài và chiêm ngưỡng cửa hàng của mình. Trông nó hoàn hảo như một quả trứng mới đẻ trong lòng biển cạn, hạt nhân duy nhất của ánh sáng và hơi ấm trong bán kính hàng trăm dặm đất hoang khô cằn. Nó như trái tim đập lẻ loi trong một cơ thể lớn của bóng tối. Gã gần như đau khổ vì tự hào, đăm đăm nhìn nó bằng đôi mắt ướt.

“Chắc chắn nó sẽ khiến mi phải khiêm tốn đấy” gã nói trong mùi xúc xích luộc, mùi bánh nướng, mùi bơ béo ngậy. “Bước tới đi,” gã mời vô vàn ngôi sao trên trời. “Ai mua trước nào?”

“Sam,” Elma gọi.

Trái Đất biến đổi trên nền trời đen.

Nó bốc cháy.

Một phần của Trái Đất dường như tan thành hàng triệu mảnh, tựa như các mảnh ghép của một bức tranh khổng lồ phát nổ. Nó cháy bùng lên trong chốc lát, lớn gấp ba lần kích thước của nó, rồi thu nhỏ lại.

“Cái gì vậy?” Sam nhìn lên ngọn lửa xanh lục trên trời.

“Trái Đất,” Elma đáp, hai tay chắp vào nhau.

“Đó không thể là Trái Đất được, không phải là Trái Đất! Không, đó không phải là Trái Đất! Không thể nào.”

“Anh muốn nói đó không thể là Trái Đất,” Elma hỏi, và nhìn gã. “Đó không thể là Trái Đất. Không, đó không phải là Trái Đất; ý anh là thế phải không?”

“Không phải Trái Đất – ôi không, không thể là nó được,” gã rên lên.

Gã đứng đó, tay chống hai bên sườn, há miệng, mắt đờ ra, không nhúc nhích.

“Sam.” Cô ta gọi tên gã. Lần đầu tiên trong nhiều ngày nay, mắt cô ta mới tỉnh táo linh lợi. “Sam?”

Gã nhìn lên trời.

“Ồ,” cô ta nói. Cô ta lặng nhìn xung quanh một lúc. Rồi, với vẻ mạnh mẽ và quyết đoán, cô ta vắt chiếc khăn ẩm ngang cánh tay. “Bật thêm đèn lên, bật nhạc lên, mở cửa ra. Một triệu năm nữa sẽ có một đoàn khách khác. Tôi sẵn sàng phục vụ, vâng, thưa ông.”

Sam không nhúc nhích.

“Thật là một địa điểm lý tưởng để mở quầy bánh mà xúc xích” có là nói. Cô là với lấy một cái làm trong lọ ra cắm giữa răng cửa. “Cho anh biết một bí mật nhỏ nhỏ, Sam,” cô ta thì thầm, ghé sát vào ga. “Có vẻ sắp tới sẽ là một mùa nhìn rồi đây.”

❀ ❀ ❀

[1] Bài thơ “Tượng khổng lồ mới" khắc trên tượng Nữ thần Tự do ở New York, Mỹ, do Emma Lazarus chấp bút. "Gửi cho tôi những người mệt mỏi, những người nghèo/ Những đám đông túm tụm khao khát thở tự do/ Những kẻ khốn cùng từ chối bờ lúc nhúc.”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.