Biên Niên Ký Sao Hỏa

Lượt đọc: 135 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Tháng Hai năm 2030 Ylla

❊ ❊ ❊

Trên hành tinh Sao Hỏa, bên bờ một biển cạn, họ có một ngôi nhà với những cột nhà bằng pha lê, và mỗi sáng ta lại thấy chị K ăn những trái cây màu vàng mọc ra từ những bức tường pha lê, hoặc đang lau nhà bằng những nắm bụi nam châm cuốn đi theo làn gió nóng, mang đi hết thảy bụi bẩn. Chiều chiều, khi biển hóa thạch thì ấm và bất động, và những cây rượu vang đứng phăng phắc trong sân, và đằng xa thị trấn xương nhỏ bé của Sao Hỏa đã đóng cửa hết, và không còn ai ló mặt ra khỏi cửa, ta lại thấy anh K ngồi trong phòng, đọc một cuốn sách kim loại in nổi một thứ chữ tượng hình mà anh dùng ngón tay lướt bên trên như chơi đàn hạc. Và khi các ngón tay anh chạm vào, từ cuốn sách cất lên một giọng hát, một giọng hát xưa, thì thầm kể những câu chuyện từ thời biển còn là làn hơi màu đỏ giăng trên bờ và người xưa còn mang hàng đàn côn trùng kim loại nhện điện đi gây chiến.

Vợ chồng anh chị K đã sống bên bờ biển chết này được hai mươi năm, tổ tiên của họ cũng đã sống trong căn nhà luôn xoay theo hướng mặt trời như hoa hướng dương này suốt mười thế kỷ.

Anh chị K chưa già. Họ có nước da nâu sáng của người gốc Sao Hỏa, đôi mắt màu vàng kim và giọng nói nhỏ nhẹ du dương. Đã có lúc họ thích vẽ tranh hỏa biến, bơi dưới kênh vào những mùa mà cây rượu vang rót đầy kênh thứ rượu màu xanh lá, và cùng trò chuyện đến sáng trong phòng nói chuyện bên những bức chân dung dạ quang xanh lơ.

Nhưng bây giờ thì họ không hạnh phúc.

Sáng nay, chị K đứng giữa những cột nhà, lắng nghe cát trên sa mạc nóng chảy thành chất sáp màu vàng và lan xa đến tận chân trời.

Có điều gì đó sắp xảy ra.

Chị chờ đợi.

Chị ngắm nhìn bầu trời Sao Hỏa xanh lam, dường như bất cứ lúc nào nó cũng có thể tự nén lại, co rút và phóng xuống nền cát một điều kỳ diệu tỏa sáng.

Không có gì xảy ra.

Mệt mỏi vì chờ đợi, chị bước đi giữa những cột nhà bảng lảng sương khói. Những hạt mưa tí tách bắn tung ra từ đỉnh những cây cột khía rãnh, làm dịu đi bầu không khí bỏng rát và chạm khẽ lên người chị. Vào những ngày nóng, cảm giác sẽ giống như đi dưới con lạch vậy. Sàn nhà loang loáng những dòng nước mát. Từ đằng xa chị nghe thấy tiếng chồng vẫn bình thản gảy cuốn sách của anh, những ngón tay không bao giờ chán những bài hát cũ. Chị thầm mong một ngày nào đó anh lại có thể dành nhiều thời gian để ôm ấp và âu yếm chị tựa âu yếm cây đàn hạc nhỏ, giống như anh đang làm với những cuốn sách kỳ diệu của anh.

Nhưng không. Chị lắc đầu, một cơn rùng mình thoáng qua, như để tha thứ. Chị khép nhẹ đôi mắt màu vàng của mình. Hôn nhân làm cho người ta cũ kỹ và quá tỏ tường về nhau, dù họ vẫn còn trẻ.

Chị tựa lưng vào một chiếc ghế, nó tự động ôm khít cơ thể kể cả khi chị chuyển động. Chị nhắm chặt mắt lại và cảm thấy bồn chồn.

Giấc mơ đến.

Những ngón tay màu nâu của chị run run, huơ lên và tóm vào không khí. Một lúc sau chị ngồi dậy, bàng hoàng, thở hổn hển.

Chị liếc thật nhanh xung quanh, như thể đang trông chờ có ai đó đứng trước mặt. Chị tỏ ra thất vọng; giữa những cột nhà vẫn là khoảng trống.

Chồng chị xuất hiện ở một cánh cửa tam giác. “Em gọi à?” anh cáu kỉnh hỏi.

“Không!” chị thốt lên.

“Anh tưởng em vừa gọi.”

“Thật sao? Em vừa chợp mắt và nằm mơ!”

“Giữa ban ngày? Bình thường em đâu như vậy.”

Chị ngồi như thể vẫn còn ngỡ ngàng bởi giấc mơ. “Lạ thật, rất lạ,” chị lẩm bẩm. “Giấc mơ ấy.”

“Ồ?” rõ ràng anh muốn quay lại với cuốn sách của mình.

“Em mơ thấy một người đàn ông”

“Một người đàn ông?”

“Một người trẻ, cao mét tám lăm.”

“Kỳ cục; một người khổng lồ, một người khổng lồ dị dạng.”

“Nhưng không hiểu sao” – chị lựa tìm từ – “trông anh ta không có gì là bất thường. Mặc dù cao. Và anh ta có – ôi, em biết là anh sẽ thấy kỳ quặc – anh ta có đôi mắt màu lam!”

“Mắt màu lam! Thánh thần ơi!” anh K thốt lên. “Em còn mơ gì nữa? Anh ta có mái tóc đen chắc?”

“Sao anh biết?” Chị phấn khích.

“Anh đã chọn màu kỳ quặc nhất,” anh đáp lạnh lùng.

“Ấy thế mà, đúng là màu đen!” chị thốt lên. “Và da anh ta rất trắng; ôi, anh ta cực kỳ khác thường! Anh ta mặc một bộ đồng phục kỳ lạ và anh ta từ trên trời xuống, và anh ta nói chuyện với em rất lịch sự.” Chị mỉm cười.

“Từ trên trời xuống; đúng là hoang đường!”

“Anh ta đến đây bằng một phương tiện kim loại lấp lóa trong nắng,” chị nhớ lại. Chị nhắm mắt để hình dung lại lần nữa. “Em đã mơ thấy bầu trời và thứ gì đó lấp lóe như một đồng xu tung lên không trung, rồi đột nhiên nó lớn lên và nhẹ nhàng đáp xuống, một con tàu tròn thuôn dài màu bạc kỳ lạ. Từ sườn của nó, một cánh cửa mở và người đàn ông cao lớn đó bước ra.”

“Giá như em làm việc chăm chỉ hơn thì đã chẳng mơ mộng vớ vẩn như thế.”

“Em thích giấc mơ này,” chị đáp và lại nằm xuống. “Em chưa bao giờ nghĩ mình lại có khả năng tưởng tượng đến vậy. Tóc đen, mắt xanh và da trắng! Thật là một người đàn ông kỳ lạ, tuy nhiên... lại khá đẹp trai.”

“Mơ tưởng hão huyền!”

“Anh thật xấu tính. Em không cố tình nghĩ ra mà chỉ là anh ta xuất hiện trong tâm trí em lúc em vừa chợp mắt. Nó không giống một giấc mơ. Nó thật kỳ lạ và khác biệt. Anh ta nhìn em và nói, ‘Tôi đến từ hành tinh thứ ba bằng phi thuyền. Tên tôi là Nathaniel York...”

“Một cái tên ngớ ngẩn; thế mà cũng gọi là tên,” người chồng phản đối.

“Đương nhiên là ngớ ngẩn rồi, vì đó chỉ là một giấc mơ” chị nhẹ nhàng giải thích. “Và anh ta nói, Chúng tôi là đoàn thám hiểm đầu tiên du hành vào không gian. Tàu chúng tôi chỉ có hai người, tôi và bạn tôi, Bert.”

“Một cái tên ngớ ngẩn nữa.”

“Và anh ta nói, ‘Chúng tôi đến từ Trái Đất; đó là tên hành tinh của chúng tôi,” chị kể tiếp. “Đó là những gì anh ta nói. “Trái Đất’ là cái tên mà anh ta nói. Và anh ta dùng một ngôn ngữ khác. Nhưng không biết sao em lại hiểu. Trong đầu mình. Đó là do viễn cảm, em nghĩ vậy.”

Anh K quay đi. Chị ngăn anh lại. “Ylla?” chị khẽ gọi. “Anh có bao giờ tự hỏi liệu... ừm, liệu có người sống trên hành tinh thứ ba thật hay không?”

“Hành tinh thứ ba không có khả năng hỗ trợ sự sống,” người chồng kiên nhẫn giảng giải. “Các nhà khoa học của chúng ta đã nói rằng bầu khí quyển của họ có quá nhiều oxy.”

“Nhưng chẳng thú vị hay sao nếu quả thực ở đó có người? Và họ du hành qua không gian bằng một loại tàu nào đó?”

“Thực tình, Ylla ạ, em biết anh ghét kiểu nỉ non ủy mị này đến mức nào mà. Thôi tiếp tục công việc của chúng ta đi.”

Tối đến, chị bắt đầu vừa hát bài hát đó vừa đi quanh những cột mưa đang thì thầm. Chị hát đi hát lại mãi.

“Bài gì thế?” Cuối cùng, chồng chị khó chịu hỏi. Anh bước đến ngồi cạnh chiếc bàn lửa.

“Em không biết.” Chị ngạc nhiên ngước lên. Chị đưa tay lên che miệng, không thể tin nổi. Mặt trời đang lặn. Căn nhà đang khép lại giống như một bông hoa khổng lồ khép khi ánh sáng dần tắt. Một luồng gió vờn quanh những cột nhà; chiếc bàn lửa đun một bể dung nham màu bạc sôi lục bục. Gió thổi làm mái tóc màu nâu đỏ của chị bay lất phất, gió khẽ hát thầm bên tai chị. Chị đứng lặng yên nhìn ra xa xăm nơi đáy biển tái xám mênh mông, tựa như để cố nhớ lại điều gì, đôi mắt vàng của chị dịu dàng và ươn ướt, “Hãy nâng ly chỉ bằng đôi mắt ấy, và em cũng sẽ làm như vậy,”” chị hát nhẹ nhàng, khe khẽ và chầm chậm. “Hãy để lại trong ly một nụ hôn, và em sẽ không cần rượu cồn.”[1]” Chị ngân nga và khẽ lướt nhẹ đôi bàn tay theo làn gió, mắt nhắm nghiền. Chị hát hết cả bài.

Bài hát rất hay.

“Anh chưa bao giờ nghe bài đó. Em tự nghĩ ra à?” anh hỏi với ánh mắt nghiêm nghị.

“Không. Vâng. Không, thực sự là em không biết!” Chị bối rối. “Em còn không biết lời hát ấy có nghĩa là gì đó là một thứ ngôn ngữ khác!”

“Ngôn ngữ gì?”

Chị lặng người thả một miếng thịt lớn xuống dung nham đang sôi sục. “Em không biết.” Một lúc sau chị gắp miếng thịt đã chín, bày lên đĩa cho anh. “Chỉ là một thứ vớ vẩn mà em bịa ra thôi, chắc vậy. Em không biết tại sao.”

Anh không nói gì. Anh nhìn những miếng thịt dưới bể dung nham lục bục. Mặt trời đã lặn hẳn. Từ từ, chầm chậm, màn đêm ùa vào lấp đầy căn phòng, nuốt chửng các cột nhà và cả hai người, như một chai rượu vang sẫm màu rót đầy lên tới trần nhà. Chỉ còn ánh dung nham màu bạc chiếu sáng khuôn mặt họ.

Chị lại ngân nga bài hát lạ đó.

Anh liền đứng bật dậy và giận dữ bỏ ra khỏi phòng.

Lát sau, một mình, anh ăn nốt bữa tối.

Khi đứng lên, anh vươn vai, liếc nhìn chị, vừa ngáp vừa gợi ý. “Tối nay mình đi chim lửa vào thị trấn chơi nhé.”

“Anh nói đùa phải không?” chị hỏi. “Anh không sao đấy chứ?”

“Có gì lạ đâu nào?”

“Nhưng đã sáu tháng nay mình không đi chơi rồi.”

“Anh nghĩ đó là một ý hay.”

“Tự nhiên anh lại tỏ ra ân cần thế” chị nói.

“Đừng có nói năng kiểu đó,” anh gắt. “Em có muốn đi hay không?”

Chị nhìn ra sa mạc ảm đạm. Mặt trăng đôi đang lên cao. Nước mát khẽ luồn qua các kẽ ngón chân chị. Chị bắt đầu thấy hơi run rẩy. Chị tha thiết muốn được ngồi yên lặng ở đây, không âm thanh, không cử động cho đến khi chuyện đó lại xảy ra, chị đã mong đợi nó cả ngày, một chuyện không lẽ nào lại có thật nhưng có thể xảy ra. Một bài hát lại thoáng hiện về trong tâm trí chị.

"Em...”

“Tốt cho em đấy,” anh thúc giục. “Đi thôi.”

“Em mệt,” chị nói. “Để hôm khác đi.”

“Khăn choàng của em đây.” Anh đưa chị một cái ống thủy tinh. “Đã hàng tháng rồi mình không đi đâu cả.”

“Anh thì có, tuần hai lần đến thành phố Xi.” Chị không nhìn anh.

“Công việc mà,” anh nói.

“Ồ?” chị tự thì thầm với mình.

Từ cái ống thủy tinh đổ ra một thứ chất lỏng và thứ chất lỏng này hóa thành một dải sương màu lam uốn quanh cổ chị, rung rinh.

Đàn chim lửa chờ đợi, trông như một lớp than hồng rực trên nền cát mịn mát. Chiếc dù màu trắng phồng lên cùng cơn gió đêm, khẽ kêu phần phật. Nó được buộc vào những con chim bằng hàng ngàn dải ruy băng màu lục.

Ylla tựa lưng vào thành dù, và sau hiệu lệnh của chồng chị, lũ chim lao vút lên bầu trời đêm, cháy rực. Những dải ruy băng căng ra, nhấc chiếc dù lên. Cát lươn lướt rin rít bên dưới; những ngọn đồi xanh lam trôi qua, trôi qua, để lại phía sau ngôi nhà, những cột nước mưa, những bông hoa nhốt trong lồng, những cuốn sách hát, những lạch nước trên sàn nhà. Chị không nhìn chồng. Chị nghe tiếng anh hô lên điều khiển đàn chim bay lên cao hơn, như vạn tia lửa nóng, như bao bông pháo hoa màu đỏ-vàng trên thiên đường, nâng chiếc dù lên như nâng một cánh hoa, những ngọn lửa rừng rực lướt theo gió.

Chị không ngắm những thành phố chết cổ xưa trông như những quân cờ xương trắng vụt qua bên dưới, cũng chẳng nhìn những con kênh cũ tràn đầy sự trống rỗng và cả những giấc mơ. Băng qua những lòng sông khô và những lòng hồ cạn, họ bay, như bóng của mặt trăng, như một ngọn đuốc cháy.

Chị chỉ ngắm nhìn bầu trời.

Chồng chị nói.

Chị vẫn ngắm nhìn bầu trời.

“Em có nghe anh nói gì không?”

“Gì cơ?”

Anh thở dài. “Em phải để ý chứ.”

“Em đang suy nghĩ.”

“Chưa bao giờ anh nghĩ em là người yêu thiên nhiên, thế mà đêm nay rõ ràng em rất quan tâm đến bầu trời,” anh nói.

“Nó thật đẹp.”

“Anh đang nghĩ,” người chồng chậm rãi nói. “Anh nghĩ tối nay sẽ gọi cho Hulle. Anh muốn bàn với ông ta về việc chúng ta sẽ dành một lúc nào đó, ồ, chỉ khoảng một tuần thôi, ở Núi Lam. Mới chỉ là ý tưởng…”

“Núi Lam!” Chị đưa một tay lên níu chặt mép dù, quay ngoắt sang nhìn anh.

“Ồ, chỉ là gợi ý thôi.”

“Anh muốn đi lúc nào?” chị hỏi, giọng run run.

“Anh nghĩ ta có thể đi vào sáng mai. Em biết đấy, đi sớm, kiểu kiểu thế,” anh tỏ ra hết sức tự nhiên.

“Nhưng tầm này trong năm chúng ta có bao giờ đi chơi đâu!”

“Chỉ một lần này thôi, anh nghĩ thế...” Anh mỉm cười. “Một chuyến đi xa sẽ tốt cho chúng ta. Một chút bình an và yên tĩnh. Em biết đấy. Em không có kế hoạch nào khác đúng không? Chúng ta sẽ đi, phải không?”

Chị hít một hơi, chờ đợi, rồi chị đáp, “Không”

“Sao?” Tiếng kêu của anh làm đàn chim giật mình. Chiếc dù giật cục.

“Không” chị nói cương quyết. “Em quyết rồi. Em sẽ không đi.”

Anh nhìn chị. Sau đó họ không nói gì với nhau nữa. Chị quay đi.

Đàn chim vẫn tiếp tục bay, hàng vạn mẩu than cháy rơi xuống theo gió.

Bình minh lên, ánh nắng chiếu xuyên qua những cột pha lê làm tan lớp sương đang nâng đỡ Ylla ngủ. Suốt đêm, chị lơ lửng giữa phòng trên một tấm thảm mềm mại bằng sương phun ra từ các bức tường mỗi khi chị ngả lưng. Cả đêm chị đã ngủ trên dòng sông lặng lẽ này, giống như chiếc thuyền dập dềnh trên một con nước êm. Giờ thì lớp sương tan dần, hạ chị xuống rồi đặt chị lên bến bờ tỉnh thức.

Chị mở mắt.

Chồng chị đang đứng ngay cạnh. Trông như thể anh đã đứng đó nhiều giờ, quan sát chị. Chị không biết vì sao, nhưng chị không thể nhìn thẳng vào mặt anh.

“Em lại nằm mơ!” anh nói. “Em nói to khiến anh không thể ngủ lại. Anh thực sự nghĩ rằng em cần đi khám.”

“Em sẽ ổn thôi.”

“Trong khi ngủ, em nói rất nhiều.”

“Thật sao?” chị giật mình nhìn lên.

Bình minh trong căn phòng thật lạnh. Một ánh sáng màu xám phủ lên người chị trong khi chị vẫn đang nằm.

“Em mơ gì thế?”

Chị phải nghĩ một lúc để nhớ lại. “Con tàu. Lần này nó cũng xuất hiện từ trên trời, nó đáp xuống, và người đàn ông cao lớn bước ra nói chuyện với em, đùa vui, cười nói, cảm giác thật thú vị.”

Anh K chạm tay vào một chiếc cột. Những tia nước ấm phun lên, bốc hơi; hơi lạnh trong phòng biến mất. Khuôn mặt anh K bình thản.

“Và sau đó,” chị nói, “người này, người có cái tên kỳ lạ Nathaniel York, bảo rằng em thật đẹp và... và anh ta hôn em.”

“Ha!” người chồng kêu lên giận dữ và nghiến răng quay phắt đi.

“Chỉ là giấc mơ thôi mà.” Chị cười.

“Đi mà giữ lấy giấc mơ ủy mị ngớ ngẩn của em!”

“Anh cư xử như trẻ con vậy.” Chị ngả lưng vào đám sương hóa chất còn lại. Một lúc sau, chị khẽ cười. “Em vừa nhớ ra thêm một chút về giấc mơ,” chị thú nhận.

“A, cái gì thế, cái gì thế?” anh quát lớn.

“Yll, sao anh phải cáu thế.”

“Em nói đi!” anh yêu cầu. “Em không được giữ bí mật với anh!” Mặt anh tối sầm và đanh lại nhìn xuống chị.

“Em chưa bao giờ thấy anh như thế này,” chị đáp, vừa ngạc nhiên vừa thích thú. “Chỉ là người đàn ông tên là Nathaniel York đó bảo rằng - ừm, anh ta bảo rằng sẽ đưa em lên tàu và mang em theo anh ta, lên trời và về hành tinh của anh ta. Điều đó quả thực rất nực cười.”

“Nực cười ấy à!” anh hầu như hét lên. “Em phải nghe cái kiểu em xoắn lấy nó, nói chuyện với nó, hát với nó, ôi trời, suốt đêm; em phải nghe em nói trong mơ ấy!”

"Yll!”

“Bao giờ thì thằng đó hạ cánh? Nó sẽ hạ cánh ở đâu cùng con tàu chết tiệt của nó?”

“Yll, anh nói nhỏ thôi.”

“Nhỏ cái con khỉ!” Anh cúi gập người xuống. “Và trong cái giấc mơ ấy” – anh siết chặt cổ tay chị – “chẳng phải con tàu đó đáp xuống ở Thung Xanh hay sao, đúng không? Nói đi!”

“Sao, vâng...”

“Và nó đáp xuống chiều nay đúng không?” anh tiếp tục ép chị.

“Đúng, đúng, em nghĩ vậy, đúng vậy, nhưng chỉ trong mơ thôi!”

“Ừm” – anh thô bạo hất bàn tay chị ra – “may là em nói thật! Anh đã nghe mọi lời em nói trong mơ. Em đã nhắc đến tên thung lũng và thời gian.” Anh thở dốc và loạng choạng bước giữa hai hàng cột như một người bị lóa mắt bởi ánh chớp. Dần dần, nhịp thở của anh trở lại bình thường. Chị nhìn anh như thể anh đã mất trí. Cuối cùng, chị đứng dậy và bước lại gần anh. “Yll,” chị thì thầm.

“Anh không sao.”

“Anh ốm rồi.”

“Không” Anh cố gượng cười mệt mỏi. “Anh đúng là trẻ con. Bỏ qua cho anh nhé, em yêu.” Anh vỗ mạnh vai chị. “Dạo này nhiều việc quá. Anh xin lỗi. Có lẽ anh nên nằm nghỉ một lát.”

“Anh kích động quá đấy.”

“Giờ anh không sao. Ổn rồi.” Anh thở ra. “Mình quên chuyện này đi. À, hôm qua anh có nghe một câu chuyện vui về Uel, định kể em nghe. Hay là bây giờ trong lúc em chuẩn bị bữa sáng, anh sẽ kể câu chuyện đó và mình đừng nói về chuyện này nữa.”

“Đó chỉ là một giấc mơ thôi mà.”

“Tất nhiên rồi,” Anh máy móc hôn lên má chị theo thói quen. “Chỉ là một giấc mơ thôi.”

Buổi trưa, mặt trời lên cao, nóng rực, những ngọn đồi lung linh dưới nắng.

“Anh không định vào thị trấn sao?” Ylla hỏi.

“Thị trấn ấy à?” Anh hơi nhướng mày.

“Anh luôn vào thị trấn hôm nay mà.” Chị chỉnh lại một lồng hoa đặt trên bệ. Những bông hoa lay động, những chiếc miệng háu đói màu vàng mở ra.

Anh gập sách lại. “Không. Trời nóng quá, vả lại cũng muộn rồi.”

“Ồ.” Chị làm nốt việc đang làm rồi bước về phía cửa. “Ừm, em sẽ về sớm.”

“Đợi đã! Em định đi đâu?”

Mới đó chị đã ở cửa. “Đến nhà Pao. Cô ấy mời em!”

“Hôm nay sao?

“Lâu lắm rồi em không gặp cô ấy. Chỉ đi một lúc là đến thôi.”

“Ở Thung Xanh phải không?”

“Vâng, chỉ cần cuốc bộ là tới, không xa đâu. Em nghĩ em sẽ...” Chị bước nhanh.

“Anh xin lỗi, thực sự xin lỗi,” anh nói và chạy theo níu chị lại, anh tỏ ra rất lo lắng vì tính đãng trí của mình. “Anh suýt quên mất. Anh đã mời bác sĩ Nlle tới chiều nay.”

“Bác sĩ Nlle!” Chị lùi về phía cửa.

Anh túm lấy khuỷu tay chị và cương quyết kéo chị trở lại. “Phải.”

“Nhưng Pao...”

“Pao có thể đợi được, Ylla. Chúng ta phải tiếp đón bác sĩ Nlle.”

“Chỉ mấy phút thôi nhé.”

“Không được, Ylla.”

“Không được sao?”

Anh lắc đầu. “Không được. Hơn nữa, đi bộ đến nhà Pao xa lắm. Đi hết Thung Xanh rồi qua kênh lớn và còn đi dọc kênh tiếp nữa, đúng không? Mà trời thì lại rất rất nóng, còn bác sĩ Nlle thì rất mong được gặp em. Sao giờ?”

Chị không trả lời. Chị muốn bỏ chạy. Chị muốn hét lên thật to. Nhưng chị chỉ ngồi xuống ghế, chầm chậm xoay ngón tay và nhìn chúng như vô hồn, chị bị mắc kẹt.

“Ylla?” anh khẽ hỏi. “Em sẽ ở nhà, được không?”

“Vâng” một lúc lâu sau chị đáp. “Em sẽ ở đây.”

“Cả buổi chiều chứ?”

Giọng chị không cảm xúc. “Cả buổi chiều.”

Đến tận chiều muộn hôm đó bác sĩ Nlle vẫn không xuất hiện. Chồng Ylla có vẻ không quá ngạc nhiên. Khi đã rất muộn rồi, anh mới lẩm bẩm gì đó rồi đi đến chỗ tủ kho và lấy ra một món vũ khí nguy hiểm, một ống tuýp dài màu vàng nhạt, một đầu có ống thổi và cần gạt. Anh xoay người lại, khuôn mặt đã đeo mặt nạ đe từ một thứ kim loại ánh bạc, không để lộ biểu cảm. Anh thường đeo mặt nạ này khi muốn che giấu cảm xúc, nó uốn sát vào gò má xương xương, cằm và trán anh. Mặt nạ lóe sáng, anh cầm món vũ khí hiểm ác trong tay và cân nhắc. Nó liên tục kêu ù ù, tiếng ù ù của côn trùng. Từ cái ống này, hàng đàn, hàng đàn ong vàng sẽ túa ra với một tiếng rít chói tai. Những con ong vàng dễ sợ có thể đốt, truyền chất độc rồi chết đi và rơi xuống cát như vỏ đỗ.

“Anh định đi đâu?” chị hỏi.

“Gì cơ?” Anh lắng nghe đầu ống thổi, lắng nghe tiếng ù ù tai ương. “Nếu bác sĩ Nlle đến muộn, sao phải ngồi đây mà chờ. Anh định ra ngoài đi săn một chút. Anh sẽ về. Em cứ ở đây nhé, được không?” Chiếc mặt nạ sáng lóe lên.

“Vâng.”

“Và nói với bác sĩ Nlle là anh sẽ về. Chỉ đi săn một lát thôi.”

Cánh cửa hình tam giác khép lại. Tiếng bước chân anh nhỏ dần dưới chân đồi.

Chị nhìn anh bước đi trong nắng cho đến khi khuất bóng. Rồi chị trở lại công việc của mình, hút bụi bằng nam châm và hái hoa quả từ trên những bức tường pha lê. Chị làm việc say sưa gấp gáp, nhưng đôi lúc chị thấy mình đờ ra và lại đang hát bài hát đáng nhớ kỳ quặc kia, và ngước lên nhìn trời qua những cột pha lê.

Chị nín thở và đứng lặng người, chờ đợi. .

Nó đang đến gần.

Nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Giống như vào những ngày ta nghe thấy một con dông bão đang kéo tới, có một khoảng lặng chờ đợi, và rồi bầu thinh không như nén lại mơ hồ trong lúc không khí thổi qua vùng đất thành những đợt luân chuyển, những bóng mây, những làn hơi nước. Rồi sự thay đổi ấy ép vào tai ta và ta như đóng băng trong quãng thời gian chờ đợi trước con dông. Ta bắt đầu run rẩy. Trời tối sầm lại; máy dày lên; những ngọn núi bắt đầu ngả sang màu ánh thép. Những bông hoa trong lồng thổi những hơi thở nhè nhẹ như cảnh báo. Ta thấy tóc mình hơi lay động. Đâu đó trong ngôi nhà cất lên tiếng hát của chiếc đồng hồ, “Thời gian, thời gian, thời gian, thời gian...” rất mực nhẹ nhàng, tựa như những giọt nước rơi trên một tấm thảm nhung.

Và rồi cơn dông ập đến. Chớp nháng lên, màn nước u tối và bóng đen sầm sập giội xuống nhận chìm mọi thứ, bao vây, mãi mãi.

Cảm giác lúc này chính là như thế. Dông tố đang dồn góp, nhưng bầu trời thì vẫn quang đãng. Người ta chờ đợi ánh chớp, dù trước mắt không hề có mây.

Ylla đi lại trong căn nhà ngột ngạt của mùa hè. Chớp có thể giật bất cứ lúc nào; sẽ có một tiếng sấm, một cột khói, một sự im lặng, những bước chân trên lối đi, một tiếng gõ lên cánh cửa pha lê, và chị vội chạy đến xem đó là ai...

Ylla điên rồi! chị chế nhạo mình. Đúng là chị rảnh rỗi quá sinh hoang tưởng mất rồi.

Và rồi chuyện đó xảy ra.

Một luồng hơi nóng như thể một luồng lửa lớn lướt qua bầu không khí. Một âm thanh xoáy cuộn ồ ạt. Một tia sáng lóe lên trên bầu trời, ánh kim.

Ylla kêu lên.

Chạy qua các cột pha lê, chị mở tung cánh cửa. Trước mặt chị là những ngọn đồi. Nhưng lần này không có gì cả.

Chị đang định chạy xuống đồi thì chợt dừng lại. Chị phải ở lại đây, không được đi đâu cả. Bác sĩ sắp đến rồi và chồng chị sẽ tức giận nếu chị chạy ra ngoài.

Chị đợi ở cửa, thở dồn dập, và đưa tay ra.

Chị rướn người nhìn về phía Thung Xanh nhưng không trông thấy gì cả.

Mình ngốc thật. Chị đi vào bên trong. Mình và trí tưởng tượng của mình, chị nghĩ. Đó chẳng qua chỉ là một con chim, một chiếc lá, một ngọn gió hoặc một con cá dưới kênh. Ngồi xuống đi. Nghỉ ngơi nào.

Một tiếng nổ.

Rất rõ ràng, sắc nét, âm thanh của loại vũ khí côn trùng hiểm ác.

Chị giật nẩy mình vì âm thanh đó.

Âm thanh đó từ xa vọng tới. Chỉ một tiếng nổ. Tiếng đàn ong bay vù vù ở xa xôi. Một tiếng nổ. Rồi một tiếng nữa, chính xác và lạnh lẽo, và ở rất xa.

Chị lại co rúm và không hiểu vì sao, chị bắt đầu la hét hoài la hét mãi, không ngừng la hét. Chị kích động chạy khắp nhà và lại mở tung cửa.

Tiếng vọng từ xa nhỏ dần, nhỏ dần.

Nó tắt hẳn.

Chị đợi ở sân trong năm phút, gương mặt xanh xao.

Cuối cùng, bước đi chầm chậm, đầu cúi gằm, chị quanh quẩn khắp những căn phòng đầy cột, chạm tay lên các đồ vật, môi chị run run, cho đến khi, cuối cùng chị ngồi xuống một mình trong phòng rượu vang đang dần tối, và chờ đợi. Chị bắt đầu lau một chiếc ly hổ phách bằng vạt khăn.

Và rồi, từ xa, tiếng chân giẫm lạo xạo trên lớp đá dăm.

Chị đứng dậy giữa căn phòng im phăng phắc. Chiếc ly rơi xuống đất, vỡ tan.

Tiếng bước chân lưỡng lự ngoài cửa.

Chị có nên mở lời không? Chị có nên thốt lên “Mời vào, ôi, mời vào”?

Chị tiến lên một vài bước.

Tiếng chân bước lên dốc. Một bàn tay xoay nắm cửa.

Chị mỉm cười với cánh cửa.

Cửa mở. Nụ cười vụt tắt.

Đó là chồng chị. Chiếc mặt nạ màu bạc của anh ánh lên mờ đục.

Anh bước vào phòng và nhìn chị một lúc. Rồi anh mở chốt cái ống thổi, hai con ong chết bật ra, anh nghe tiếng chúng đập xuống sàn, anh giẫm lên chúng và cất khẩu súng rỗng vào góc phòng. Ylla cúi người xuống cố nhặt những mảnh thủy tinh vỡ, nhặt rồi lại nhặt, nhưng không thành. “Anh đã làm gì vậy?” chị hỏi.

“Không gì cả,” anh trả lời mà không quay lại. Anh tháo mặt nạ xuống.

“Nhưng còn tiếng súng – em đã nghe anh bắn. Hai lần.”

“Chỉ là đi săn thôi. Thỉnh thoảng đi săn cũng thú vị mà. Bác sĩ Nlle có đến không?”

“Không.

“Đợi đã.” Anh bật ngón tay tỏ vẻ chán ghét. “Trời ạ, giờ anh mới nhớ. Chiều mai ông ấy mới đến. Chán anh quá.”

Họ ngồi xuống ăn. Chị chỉ nhìn thức ăn mà không động lấy một miếng. “Có chuyện gì vậy?” anh hỏi trong khi nhúng miếng thịt vào nồi dung nham đang sôi lục bục mà không nhìn lên.

“Em không biết. Em không đói,” chị nói.

“Sao thế?”

“Em không biết; chỉ không đói, thế thôi.”

Một luồng gió thổi qua; mặt trời đang lặn xuống. Căn phòng thì nhỏ và bỗng trở nên lạnh lẽo.

“Em đang cố nhớ,” chị nói trong căn phòng im ắng, đối diện với người chồng có đôi mắt vàng đang ngồi thẳng đơ, lạnh lùng.

“Nhớ cái gì?” Anh nhấp một ngụm rượu vang.

“Bài hát đó. Bài hát tuyệt đẹp đó.” Chị nhắm mắt lại và ngân nga, nhưng không đúng bài hát đó. “Em đã quên mất rồi. Nhưng không hiểu sao em lại không muốn quên. Đó là thứ mà em muốn nhớ mãi.” Chị vung tay như thể nhịp điệu ấy có thể giúp chị nhớ lại bài hát. Rồi chị tựa lưng vào ghế. “Em không nhớ nổi.” Chị bắt đầu khóc.

“Sao em lại khóc?” anh hỏi.

“Em không biết, em không biết, nhưng em không dừng được. Em thấy buồn và không hiểu vì sao, em khóc và cũng không hiểu vì sao, nhưng đúng là em đang khóc.”

Chị vục đầu vào hai tay; bờ vai chị nhấp nhô.

“Ngày mai em sẽ ổn thôi,” anh nói.

Chị không ngước lên nhìn anh; chị chỉ nhìn ra sa mạc trống trải và những ngôi sao sáng rỡ giờ đây đã ló ra trên bầu trời đen thẳm, và thoảng từ xa là tiếng gió nổi cùng tiếng nước khuấy lạnh lẽo dưới những con kênh dài. Chị nhắm mắt, người run lên.

“Vâng” chị nói. “Ngày mai em sẽ ổn.”

❀ ❀ ❀

[1] Bài hát “Drink to Me Only with Thine Eyes" của ca sĩ Jonny Cash, phổ nhạc từ bài thơ “To Celia" (Tặng Celia) của nhà soạn kịch người Anh Ben Jonson.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.