Viên Tướng Của Đạo Quân Chết

Lượt đọc: 289 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG V

❊ ❊ ❊

HAI người lại lên đường. Trời mưa phùn. Từ mấy tuần nay họ đã đi qua những vùng hiểm trở, làng mạc thưa thớt. Chiếc xe con đi đầu, chiếc xe tải chở công nhân và dụng cụ theo sau. Trên đường, xe cộ và người qua lại rất đông. Những người nhà quê bận quần áo chẽm may bằng vải len dày màu đen, qua lại liên tiếp, họ đi bộ, cưỡi ngựa hoặc ngồi bám đằng sau những chiếc xe tải. Viên tướng chăm chú quan sát địa hình. Ông cố hình dung chiến thuật của các đạo quân giao tranh chắc đã phải áp dụng trong những cuộc chiến tranh đã xảy ra trên đất nước này, và đặc biệt, chiến thuật riêng của nhân dân ở đây.

Tại một cái quán không xa trung tâm một thị trấn nhỏ bao nhiêu, thấy có bán báo. Rất đông người chen chúc nhau xung quanh cửa quầy. Một số người đứng lại đọc, một số người khác vừa đọc báo vừa đi ra.

- Người Albania ham đọc báo quá, thốt nhiên viên tướng nói.

Ông linh mục ngồi trong một góc xe chợt như tỉnh giấc.

- Cái đó rất dễ hiểu, ông đáp lại, vì họ bị cô lập quá. Xung quanh toàn là những cường quốc thù địch bao vây.

- Một nước nhỏ xíu mà lại bị phong tỏa… Kỳ quặc thật.

- Đúng thế, trong hoàn cảnh như vậy họ sẽ khó mà đứng vững được.

- Một dân tộc gớm thực, viên tướng nói. Rõ ràng là không thể khuất phục họ bằng sức mạnh được. Họa may trước cái đẹp họ có cúi đầu chăng.

Ông linh mục cười.

- Tại sao ông lại cười?

- Vì câu ông vừa nói không phải là của một vị tướng mà là của một triết gia.

Viên tướng ngắm nhìn cảnh vật u ám chìm trong sương mù, những sườn núi trơ trụi và vô số những tảng đá nhỏ đủ các cỡ, nằm rải rác đầy mặt đất. Ông cảm thấy một nỗi buồn tê tái tràn ngập trong lòng. Đã một tuần nay, họ chỉ trông thấy toàn những sườn núi đá lởm chởm như vậy. Ông tưởng như đằng sau cái vẻ trơ trụi hoang dã ấy, những sườn núi kia còn giấu kín một bí mật rùng rợn bi thảm.

- Một đất nước thật bi thảm, ông nói. Quần áo họ mặc cũng có một cái gì bi thảm. Ông hãy nhìn cái áo khoác đen và cái váy mà những người phụ nữ kia mà xem.

- Vâng.

- Ông thấy rõ có phải là bi thảm không?

- Ông mà nghe họ hát thì không biết ông sẽ nói thế nào. Còn thê thảm gấp bội. Cái đó là do số phận nước này vốn phải chịu. Trải qua bao thế kỷ, không có một dân tộc nào đã phải chịu một số phận buồn thảm hơn. Chính vì thế mà họ có cái tính thô bạo, dữ tợn ấy.

- Thế họ không có những bài hát vui à?

- Không. Rất ít.

Ô tô lao xuống theo một con đường núi. Trời lạnh. Thỉnh thoảng có những chiếc xe tải leo lên, máy rú rầm rầm. Trên một sườn núi, sừng sững một nhà máy lớn đang xây dở. Phong cảnh trơ trụi khiến cho toàn cảnh công trường quy mô đồ sộ nổi bật lên trên nền sương mù.

- Đây là một nhà máy đúc đồng, ông linh mục nói.

Ở các ngã tư, từng quãng một lại xuất hiện những lô cốt vuông, tròn hoặc lục giác, có trổ những lỗ châu mai nhìn xuống mặt đường. Cứ đến mỗi chỗ ngoặt, chiếc xe lại đi vào tầm bắn của những lô cốt ấy, và viên tướng lại nhìn chằm chằm vào những cái khe hẹp bỏ không đó, phía trước chỉ có nước chảy nhỏ giọt.

«Thế là thoát!» ông nghĩ bụng mỗi khi chiếc xe đi ra khỏi tầm bắn, nhưng đến chỗ rẽ sau, một lô cốt khác lại như từ dưới đất đột ngột mọc lên, và chiếc xe lại như nằm trong tầm hỏa lực của nó. Viên tướng ngắm nhìn nước chảy ròng ròng trên mặt kính xe và đôi khi vừa chợt thiu thiu ngủ, ông lại có cảm giác kính xe bị đạn bắn vỡ vụn, và giật mình thức giấc. Nhưng cái lô cốt vẫn im lìm, hoang vắng. Nếu nhìn kỹ những lô cốt ấy từ đằng xa, ta sẽ nghĩ đến những công trình điêu khắc của Ai Cập, bề ngoài nom lúc thì lạnh lùng đầy vẻ khinh thị, lúc thì bí hiểm khó hiểu, theo cách sắp đặt các lỗ châu mai. Nếu lỗ châu mai đục thẳng đứng, các lô cốt nom có vẻ hung dữ nạt nộ, khiến người ta nhớ tới một con quỷ nào đó, trái lại, khi các lỗ đục nằm ngang thì bề ngoài kỳ quặc của chúng lại có vẻ lạnh lùng, khinh thị.

Khoảng giữa trưa, họ xuống tới đồng bằng và cuối cùng, đến một làng có nhà cửa rải rác hai bên vệ đường. Mưa đã tạnh. Theo thói quen, lũ trẻ bâu lại xung quanh chiếc ô tô. Chúng gọi nhau từ đường cái. Chiếc xe tải đỗ sau chiếc xe con, cách vài thước. Mấy người thợ lần lượt nhảy xuống đất và vung chân, vung tay tại chỗ cho đỡ tê cóng.

Dân làng đi qua đều dừng lại nhìn đám người lạ. Hình như không phải họ không biết mục đích của những người này đến đây để làm gì. Điều đó có thể thấy rõ trên gương mặt họ, nhất là những phụ nữ. Cái vẻ bí hiểm khó hiểu trong con mắt người dân Albania, giờ đây, viên tướng đã biết rõ.

«Chúng ta làm cho họ nhớ lại cuộc xâm lược trước đây», ông nghĩ bụng, «và từ vùng này qua vùng khác cuộc chiến đấu trước kia càng ác liệt bao nhiêu thì gương mặt người dân ở đây càng bí hiểm khó hiểu bấy nhiêu.»

Đến chỗ ranh giới địa phận làng này, trên một mảnh đất bỏ hoang, có rất nhiều ngôi mộ xếp thành hàng. Khu nghĩa địa có một bức tường nhỏ, bị đổ vỡ mấy chỗ bao quanh. «Tất cả những người yên nghỉ ở đây đều là người của ta cả», viên tướng nghĩ thầm. Ông co ro khép kín chiếc áo đi mưa dài. Cách xa đấy một chút, ông linh mục đứng im bất động, trông như một cây thánh giá đen sì kiểu Mexico. «Rất dễ hiểu họ đã bị bao vây như thế nào», viên tướng ngẫm nghĩ. «Hẳn họ đã định tháo chạy qua chiếc cầu bắc qua con sông và chính ở nơi đó họ đã bị quét gục hết. Không biết thằng sĩ quan ngu ngốc nào đã đem nhét cả bọn vào trong tổ ong vò vẽ này? Trên các tấm bảng con không thấy ghi gì về chuyện này cả».

Anh cán bộ chuyên môn Albania bắt đầu làm những thủ tục thường lệ. Đằng xa còn thấy có những ngôi mộ khác. Những ngôi này ở sát ngay bên cạnh làng, cái nào cũng có một ngôi sao đỏ cắm trên đầu. Viên tướng nhận ra ngay đâu là «nghĩa trang liệt sĩ», như người dân ở đây vẫn quen gọi những nơi chôn các chiến sĩ du kích của họ. Nơi đây, có bảy đồng bào của ông được chôn cất bên cạnh những chiến sĩ Albania. Trên những tấm bảng nhỏ bằng tôn, cái nào cũng có một ngôi sao đỏ, người ta có thể đọc thấy mấy dòng chữ viết đầy lỗi chính tả, ghi tên các quân nhân đó, quốc tịch của họ và ngày tháng họ chết, tất cả mấy người này đều chết cùng một ngày. Trên một phiến đá có ghi mấy câu sau đây: «Những người lính nước ngoài này đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu bên cạnh du kích Albania chống lại lực lượng của Tiểu đoàn Xanh, ngày 17 tháng ba năm 1943».

- Vẫn lại cái tiểu đoàn Xanh, viên tướng vừa nói vừa bước trên những lối đi nghĩa địa. Đây là lần thứ hai ta tìm thấy dấu vết của đại tá Z. Theo các bản danh sách của ta thì phải có hai người lính thuộc tiểu đoàn ông ta chôn ở làng này.

- Phải hỏi những người ở đây xem họ có biết gì về ông đại tá không, ông linh mục nói, mặc dầu vào tháng ba năm 1943 ông ta vẫn còn sống.

- Đúng thế, nhưng chúng ta vẫn cứ phải hỏi xem.

Trong khi những người khách còn đang bận điền vào những bản mẫu in sẵn ghi các khoản chi phí, thì dân làng đã lẳng lặng đến tụ tập dọc nghĩ địa. Rồi đến lượt mấy người đàn bà, ăn vận những quần áo đặc biệt của họ, cũng tiến ra. Bọn trẻ con sán lại gần hơn nữa, đứng trước mặt tất cả mọi người, ghé vào tai nhau thì thầm, đầu chúng vàng hoe lắc lắc theo. Tất cả đều nhìn theo nhóm người đi đi lại lại bên trong nghĩa địa.

Một bà cụ già lưng đeo một cái thùng nhỏ lại gần, khẽ hỏi:

- Họ đem chúng đi đấy chứ?

- Vâng, họ đem chúng đi đấy, có mấy người thì thầm trả lời.

Bà cụ, vai vẫn đeo cái thùng, đứng nhìn cảnh tượng trước mắt như mọi người khác. Được một lúc, bà cụ tiến lên mấy bước, bảo mấy người công nhân:

- Các anh dặn kỹ họ đừng để lẫn các anh ấy với bọn kia nhé. Các anh ấy, dân chúng tôi ở đây đã thương khóc theo tục lệ địa phương như người của chúng tôi đấy.

Viên tướng và ông linh mục quay lại phía bà cụ, nhưng bà cụ đã đi xa. Hai người còn trông thấy chiếc thùng nhỏ bà cụ đeo lắc lư một lúc, rồi bà cụ khuất sau một chỗ đường ngoặt.

Dân làng đứng rải rác dọc nghĩa địa vẫn im lặng đến nỗi tưởng đâu như không có họ ở đấy. Họ chăm chú theo dõi mỗi cử động của đám người kia, người nào cũng cổ áo khoác ngoài bẻ cao lên vì rét, đi đi lại lại, có vẻ như tìm kiếm một vật gì mà không thấy.

- Công việc ở hai nghĩa địa sẽ bắt đầu vào ngày mai, viên tướng nói. Hôm nay ta hãy đi tìm hai người lính của «Tiểu đoàn Xanh» và người phi công bị hạ ở đây.

Cả làng ai cũng biết chuyện tên phi công. Mảnh máy bay của hắn rơi rải rác khắp khu rừng nhỏ ở phía bên kia làng. Xác tên phi công đã được chính dân làng ở đây chôn ngay cạnh xác máy bay của nó. Người ta không còn thấy dấu vết của ngôi mộ ngoài tảng đá to, hẳn là để đánh dấu phía đầu. Chiếc máy bay thì bây giờ chỉ còn lại một đống sắt vụn gỉ. Một người dân làng kể lại cho mọi người biết là người ta đã tháo dần tất cả những bộ phận có thể dùng được, từ những mảnh cao su, mảnh lốp, để đốt thay nến hồi còn chiến tranh, cho đến những bộ phận nặng bằng kim loại dùng được rất nhiều việc.

Hai công nhân bắt tay vào đào ngay. Số người còn lại đi vào trong làng.

Mưa tạnh đã từ lâu, nhưng các vết bánh xe bò, bánh máy kéo trên mặt đường hãy còn đầy nước. Thỉnh thoảng, từng chỗ lại có những đống rơm dùng đã hết một nửa, vẫn còn ướt sũng. Giữa những cây trắc, xa xa in hình gáo chuông của ngôi nhà thờ cổ và từ một cánh đồng nào đó ở phía bên kia, vẳng lại tiếng gầm rú ầm ầm của một chiếc máy kéo.

Họ ăn bữa trưa trên xe, rồi đến các câu lạc bộ hợp tác xã uống cà phê. Gian phòng của câu lạc bộ mù mịt khói thuốc lá và lúc đó, hầu như không còn một chiếc bàn nào trống. Một chiếc đài thu thanh mở hết nấc đang gào lên.

Dân làng chuyện trò oang oang. Cứ nhìn tóc họ nhạt màu vì nắng, da họ nhăn nheo, cũng đủ rõ họ là người dân đồng bằng. Âm thanh tiếng của họ nghe khác với người miền núi, dịu dàng hơn, êm tai hơn.

Viên tướng vừa nhấm nháp tách cà phê vừa đưa mắt đọc những khẩu hiệu viết bằng chữ đỏ trên tường. Ông chỉ biết lõm bõm được mấy chữ «chủ nghĩa đế quốc», «chủ nghĩa xét lại», «Phiên họp toàn thể» và «Enver Hoxha» dưới một câu trích dẫn ngắn.

Một lát sau, anh cán bộ chuyên môn Albania đến với họ. Đi theo anh là một thanh niên mặc áo ngoài bằng nhung kẻ dày. Cả hai lại gần ba viên tướng đang ngồi, anh cán bộ chuyên môn giới thiệu:

- Đây là ông chủ nhiệm hợp tác xã. Đây là tướng…

Anh thanh niên nhìn người khách lạ với cặp mắt xám, vẻ hơi ngỡ ngàng, rồi lại nhìn anh cán bộ chuyên môn.

Anh cán bộ nói:

- Sự việc là thế này. Tuần này chúng tôi định bốc mấy ngôi mộ trong hai khu nghĩa địa ở cạnh làng của đồng chí. Chúng tôi đã có công nhân riêng, nhưng để cho công việc chóng xong, chúng tôi muốn, nếu có thể được đồng chí giúp đỡ chúng tôi một tay thì càng tốt.

- Các ông cần thêm người chứ gì? Ông chủ nhiệm hợp tác xã hỏi.

- Vâng, đúng thế.

Người thanh niên có vẻ bối rối mất một lúc rồi mới nói:

- Sự thật là người của chúng tôi hiện giờ đang bận. Chả đang giữa mùa cày bừa, hơn nữa, năm nay thuốc lá và bông không tốt lắm. Nên…

- Nhưng công việc đây chỉ cần trong mấy ngày thôi, anh cán bộ chuyên môn ngắt lời, vả lại, xin nói để đồng chí biết là các xã viên sẽ được trả công đúng đắn. Các ông này (anh cán bộ đưa mắt chỉ viên tướng và ông linh mục) sẵn sàng trả công mỗi ngôi mộ ba mươi lek[1] mới, và nếu mộ có hài cốt người của họ, họ sẽ trả năm mươi lek.

- Chúng tôi sẽ trả hậu, viên tướng nói xen vào.

- Vấn đề không phải ở chỗ đó, ông chủ nhiệm hợp tác xã nói. Điều tôi muốn biết là việc này có được chính phủ cho phép không… tôi muốn nói…

- Cái đó đồng chí không phải lo, anh cán bộ chuyên môn nói. Tôi đã có giấy phép của Thủ tướng. Đây…

Ông chủ nhiệm đọc tờ giấy phép rồi suy nghĩ một lát.

- Dù sao, các ông cũng phải nói qua với Ủy ban huyện ở đây.

- Đồng ý! Anh cán bộ chuyên môn nói. Ngay ngày mai chúng tôi sẽ ra tỉnh.

- Về phần tôi, tôi có thể cung cấp cho các ông mười người trong ba hoặc bốn ngày.

- Vâng, thế là đủ.

Viên tướng cảm ơn và khách đứng dậy ra về.

Trong đoàn không ai biết gì về hai tên lính của Tiểu đoàn Xanh bị giết và chôn ở đây. Còn về viên đại tá Z, thì các cụ già nhớ rõ lắm. Hắn qua đây hai lần cùng với tiểu đoàn của hắn, lần nào chúng cũng đốt làng. Đám trẻ thì chỉ nhớ là hồi ấy, chúng phải trèo lên đỉnh đồi, dân làng phải bỏ cả của cải và gia súc trốn lên đấy, và từ trên cao đứng nhìn nhà cửa bị đốt cháy.

Không ai nghe nói gì về hai tên lính. Có thể chúng đã được bạn đồng ngũ tự tay chôn lấy, sau khi dân làng đã bỏ đi hết…

- Cái đó không sao, chúng ta sẽ tìm thấy, viên tướng nói. Địa điểm chôn họ đã được đánh dấu chính xác trên bản đồ, tôi muốn hỏi dân làng ở đây chỉ là để nếu họ biết gì thêm, họ mách cho thì công việc dễ dàng hơn thôi.

Ông cùng anh cán bộ chuyên môn ngồi loay hoay hơn một tiếng đồng hồ xác định địa điểm chính xác chôn hai người lính, căn cứ vào những chỉ dẫn ghi trên bản đồ. Cuối cùng, họ tìm ra được. Địa điểm rơi đúng vào cái chuồng nuôi bê của hợp tác xã. Hai người đi cùng với mấy xã viên đến đó, và sau khi đã lùa đàn bê đi chỗ khác, mấy người công nhân bắt đầu đào. Mấy con bê với cặp mắt xinh đẹp, bình tĩnh nhìn đám người bỗng dưng ở đâu đến quấy rầy; trong chuồng bê, phảng phất mùi thơm của rơm rạ.

Trước khi trời đổ tối, họ đã tìm thấy hài cốt tên phi công và hai tên lính. Hài cốt tên phi công tìm không khó khăn lắm. Còn để tìm hai tên lính kia, họ đã phải đào hết hố này sang hố khác, và khi đám người đi khỏi, nền đất chuồng bê bị đào bới tung tóe như vừa qua một trận bom nặng.

Mấy người thợ thong thả lấp lại các hố. Họ sẽ ngủ trong làng. Viên tướng và ông linh mục đã định riêng họ và anh cán bộ chuyên môn sẽ lên ngủ trên tỉnh, cách đấy ba mươi cây số. Sớm hôm sau, họ sẽ trở lại đây sớm.

Khi họ lên đường, trời đã tối hẳn. Xe của họ chạy từ từ trên con đường nhỏ hẹp, đèn pha khi thì chiếu vào những cây phong hai bên vệ đường, khi thì rọi sáng một chiếc xe bò từ ngoài đồng về, hoặc mảnh sân của một trại ấp có hàng rào bằng sậy cao vây kín.

- Dừng lại! Thốt nhiên ông linh mục gọi giật giọng, khi xe đi qua khu nghĩa địa chôn mấy người lính của họ.

Người lái xe hãm xe lại.

- Cái gì vậy? Anh cán bộ chuyên môn hỏi.

Ông linh mục lấy tay chỉ cho viên tướng thấy mấy chữ viết trên tường nghĩa địa.

- Chiếc xe dừng lại, ông ta xuống xe. Viên tướng xuống theo, sập mạnh cánh cửa xe lại. Anh cán bộ chuyên môn cũng bước xuống.

- Thế này nghĩa là thế nào? Viên tướng kêu lên, tay chỉ vào bức tường nhỏ. Trên tường có hàng chữ to, nguệch ngoạc bằng than, theo lối viết hoa: «Số phận kẻ thù của chúng ta là như vậy đấy!»

Anh cán bộ chuyên môn nhún vai, nói:

- Câu này họ mới viết chiều hôm nay. Sáng đã có gì đâu.

- Chúng tôi biết, viên tướng nói, nhưng điều chúng tôi muốn hiểu là chính phủ các ông đã xúi giục người làm những chuyện khiêu khích xấu xa như vậy là có dụng ý gì.

- Tôi thấy chẳng có gì là xấu xa hết, anh cán bộ bình tĩnh nói.

Ông linh mục rút cuốn sổ tay trong túi ra, hẳn là để ghi lại câu viết trên tường.

- Thế lại còn không xấu à? Viên tướng kêu to lên. Một câu như vậy viết trên tường nghĩa địa chôn người chết của chúng tôi! Tôi sẽ nêu vấn đề này lên. Đây là một sự khiêu khích nghiêm trọng, một hành động bỉ ổi.

Anh cán bộ bực tức quay lại:

- Cách đây hai mươi năm, các ông đã viết những khẩu hiệu phát xít lên ngực các đồng chí của chúng tôi và đem treo cổ họ thì được, thế mà bây giờ chỉ có một câu bình thường như vậy, chắc do một em học sinh nào đó viết, các ông đã nổi xung lên.

- Chúng ta không nói chuyện về những cái đã xảy ra cách đây hai mươi năm, viên tướng ngắt lời anh cán bộ.

- Thực ra đây chỉ là một chân lý chung.

- Đây không phải là chuyện xảy ra cách đây hai mươi năm.

- Các ông vẫn thường nhắc đến người Hy Lạp, người Troa ngày xưa cơ mà. Vậy sao lại bảo không nên nói đến những chuyện xảy ra cách đây hai mươi năm.

- Tranh cãi như vậy không đi đến đâu hết, viên tướng nói. Ở đây gió quá.

Cả ba người bước vội về phía ô tô. Cánh cửa xe lần lượt theo nhau dập dữ dội như súng nổ và người lái xe mở máy. Nhưng xe chạy chưa được năm phút đã phải dừng lại.

Ra khỏi làng, qua cái cầu gỗ thì có một cái xe bò long mất một bánh nằm chắn ngang đường. Hai người nông dân vùng đồng bằng đang loay hoay cạnh chiếc xe.

- Xin lỗi các ông, một người nói với anh cán bộ lúc đó vừa xuống xe.

- Không sao, các ông cứ làm.

Vừa hì hục lắp lại cánh bánh xe, người nông dân vừa hỏi anh cán bộ:

- Anh ở đâu đến?

Anh cán bộ cho người ấy biết. Người kia nói:

- Sáng nay chúng tôi được tin các anh tới. Tất cả các bà các chị làng này chỉ bàn tán về các anh. Bắt đầu từ khi trông thấy ô tô các anh đến.

- Đẩy mạnh vào chứ, con khẹc! Bác nông dân vừa kêu vừa hì hục lắp lại cái bánh xe.

- Các bà ấy bảo, người ta sẽ bốc mộ bọn lính nước ngoài mang về nước chúng nó, bác nông dân điềm tĩnh nói. Và đồng thời bốc cả xác bọn ngụy mang sang nước ngoài, ở đâu xa lắm, đằng sau chỗ mặt trời lặn, có đúng không?

Anh cán bộ cười. Bác nông dân lại nói tiếp:

- Ấy người ta đồn thế. Họ đồn rằng chúng nó chết đi vẫn đồng hành với kẻ địch như lúc chúng còn sống. Trước là đồng minh, bây giờ vẫn là đồng minh. Ấy, ở làng người ta nói vậy đấy.

Anh cán bộ lại cười.

- Không phải thế đâu, anh trả lời. Chẳng ai rỗi hơi mà nghĩ đến bọn ngụy đã chết.

«Ơ kìa, đẩy đi chứ, con khỉ!» bác nông dân kia lại gắt. Cái bánh xe lắp không vào.

Xa xa có tiếng chó sủa. Có ai từ ngoài cánh đồng đi vào, tay xách chiếc đèn kính. Ánh đèn rung rinh như sợ sệt.

- Chào các ông!

- Chào ông!

- Bánh xe của các ông giở quẻ à? Người mới đến hỏi, bác ta giơ cao chiếc đèn lên, ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc ô tô và mấy người nước ngoài.

Mọi người im lặng.

Không khí im lặng.

- Bác ở chỗ lán bò về đấy ư? Người kia hỏi.

- Phải.

Người mới đến đứng đấy nhìn mấy người một lúc rồi chào mọi người và bỏ đi. Ánh đèn bác ta chiếu những vệt sáng lên những đống rơm lặng lẽ xếp hàng bên vệ đường.

Chó vẫn sủa.

- Thế anh xưa nay vẫn làm công tác này à? Bác nông dân lại hỏi anh cán bộ chuyên môn.

Anh ta gật đầu.

- Vâng, đã được một thời gian rồi, một lát sau anh ta nói thêm cho chính xác.

Bác nông dân thở dài.

- Công việc như vậy thì buồn lắm nhỉ?

Anh lái xe huýt sáo một điệu nhạc mới.

«Nào, đẩy đi!»

Cuối cùng bánh xe đã lắp vào được.

«Chào các ông», đó là mấy bác nông dân vai vác cuốc từ ngoài đồng đi vào.

«Chào các bác!»

Cuối cùng chiếc xe bò được dẹp sang một bên, ô tô mở máy phóng nhanh trên đường cái.

Đêm tháng mười trùm lên cánh đồng. Mặt trăng, sau một lúc cố nhoai ra khỏi bóng tối không được, giờ đây đổ ánh sáng qua những lớp mây và sương mù xốp như bọt biển, thấm đầy và thong thả, dịu dàng, đều đặn, nhỏ từng giọt ánh sáng xuống chân trời và cánh đồng mênh mông bao la. Bầu trời giờ đây mượt mà, và cả chân trời lẫn cánh đồng và con đường cái, đều như phủ đầy những vệt sữa.

Có những đêm thu bầu trời nom kỳ dị, chìm ngập trong một thứ ánh sáng hững hờ, sầu thảm và da diết của mặt trăng. Nằm ngửa mặt nhìn trời, chắc hẳn mỗi thằng trong chúng tôi đều nghĩ bụng: «Trời ơi! Bầu trời quái quỷ gì thế này!»

Con đường nhỏ, đây đó có những ổ gà hiện rõ lên to lù lù, đen sì, khi ánh đèn pha rọi xuống lôi chúng ra khỏi đêm tối.

Xe chạy khoảng một tiếng đồng hồ thì ánh đèn thành phố hiện ra trước mắt họ.

❀ ❀ ❀

[1] Tiền Albania

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.