CÒN mấy giờ nữa thì sáng, viên tướng trằn trọc ngủ. Tiếng nói léo nhéo của những người thợ đang nhổ cọc lều đánh thức ông dậy. Họ quẳng chiếc lều còn ướt nguyên lên xe tải, phủ lên những chiếc hòm to, bên cạnh đống xẻng cuốc.
Từ nãy, hai người lái xe đã cho nổ máy cho nóng động cơ. Ông linh mục dậy đầu tiên và chuẩn bị pha cà phê. Ông lắng nghe tiếng reo êm tai của chiếc bếp dầu và ngọn lửa chập chờn chốc chốc lại soi sáng gương mặt ông. Ánh sáng mờ nhạt buổi bình minh chiếu vào qua cửa lều.
Viên tướng cảm thấy man mác nhớ nhà.
Ông chúc ông linh mục một ngày tốt lành.
- Chào ông, ông linh mục đáp lại. Ông ngủ có ngon giấc không?
- Không, tôi cứ trằn trọc mãi. Trời lạnh quá, nhất là từ quá nửa đêm về sáng.
- Tôi cũng lạnh run lên. Ông uống cà phê chứ?
- Vâng, xin cảm ơn.
Ông linh mục rót cà phê ra mấy cái tách, viên tướng đứng dậy mặc áo.
Mười lăm phút sau, hai người bước ra ngoài để công nhân dỡ lều. Mưa đã tạnh, nhưng đất còn ướt sũng, các hố đào ở nghĩa địa ngập nước đến lưng chừng.
- Có lẽ trời sẽ thôi không mưa nữa, ông linh mục nói, khi hai người đã lên ngồi trên xe.
Đằng đông, sau đám mây cao ngất, mặt trời đã ló ra nơi chân trời như một cái vệt, lúc mờ nhạt, lúc sáng chói.
Viên tướng bắt đầu gà gà ngủ.
Xe họ đi được hơn hai tiếng đồng hồ thì đột nhiên người lái xe hãm phanh lại.
Viên tướng lau chỗ hơi nước đọng trên mặt kính và trông ra thấy một chú bé nông dân đứng giữa đường, mình mặc bộ quần áo đen bó chặt lấy người, đang giơ cánh tay chỉ về phía họ. Chiếc xe tải dừng lại sau chiếc xe con mấy thước, bánh rít ken két.
Anh lái xe thò đầu ra ngoài buồng lái, kêu to:
- Hết chỗ rồi, ông ranh ơi!
Nhưng chú bé nói nhanh với anh ta mấy câu gì đó, tay chỉ sang vệ đường.
- Ai thế? Ông linh mục hỏi.
Viên tướng hạ kính xe xuống để nhìn cho rõ hơn. Bên vệ đường, một ông cụ nhà quê, vai khoác chiếc áo lông cừu đang ngồi trên một tảng đá to. Một chiếc khăn mùi xoa to trải ra trên đầu gối, ông cụ đang ăn điểm tâm bánh ngô, phó mát và hành. Trong lúc chú bé nói chuyện với anh lái xe, ông già tò mò nhìn hai chiếc ô tô. Trước mặt ông cụ, bên vệ đường là một cỗ áo quan. Cách đấy mấy bước, một con lừa mình vấy bùn bê bết, đứng im bên lề đường.
- Có chuyện gì vậy? Viên tướng hỏi.
- Nào tôi biết! Đợi một lát khắc rõ, ông linh mục đáp lại.
Anh cán bộ chuyên môn ở trên xe tải nhảy xuống, bàn cãi gì đó với hai người nông dân. Ông già rũ chỗ vụn trên cái khăn, rồi nặng nề đứng dậy. Anh cán bộ lại gần cửa xe:
- Gì thế? Viên tướng hỏi.
- Đây là hài cốt của một người lính.
- Một người của chúng tôi à?
- Vâng, anh cán bộ nói, tay chỉ vào chiếc áo quan. Hắn ta bị giết chết lúc đang ở làm công cho ông già này.
Viên tướng mở cửa xe bước xuống. Ông linh mục cũng xuống theo.
- Tôi chưa hiểu ra sao cả, ông linh mục nói và lại gần ông cụ nông dân.
- Hắn trước ở làm công cho ông cụ này, ở chỗ cối xay, anh cán bộ nói. Hắn bị giết ở đó.
- À! Ông linh mục nói. Chắc là một tên đào ngũ hay một trường hợp tương tự vẫn thường xảy ra sau khi chúng tôi rút lui chứ gì?
Sau khi hỏi ông cụ nông dân, anh cán bộ quay lại nói:
- Hắn đào ngũ.
Viên tướng không nghe thấy mấy câu trao đổi sau cùng, thong thả bước lại gần mấy người, vẻ mặt nghiêm trọng. Cứ mỗi lần đứng trước người nông dân Albania ăn mặc bằng thứ vải thô và chân đi opinga[1] là ông lại cố làm ra vẻ như vậy.
- Chuyện gì thế? Ông hỏi. Giờ đây, những ngày giá lạnh chán ngán, cái lều cắm trên núi đã thuộc về quá khứ, và đã mặc bộ quân phục mới, ông lại cảm thấy mình hết sức quan trọng.
Ông già nông dân có gương mặt gầy hốc hác và cặp mắt màu xám mệt mỏi. Ông cụ bình tĩnh rút túi thuốc lá ra, nhồi thuốc vào tẩu, bật lửa châm thuốc hút. Viên tướng đưa mắt nhìn những ngón tay vàng khè, khô đét, và đôi bàn tay còn gân guốc, khỏe mạnh của ông cụ. Còn chú bé thì đứng đấy trố mắt vì lạ lùng, nhìn viên tướng.
- Chúng tôi ngồi ở đây đã ba tiếng đồng hồ rồi, ông già nông dân nói. Ông cháu tôi đi từ lúc chưa sáng. Hôm qua, có người mách chúng tôi là ô tô các ông sẽ đi qua đường cái, nên tôi đã quyết định hai ông cháu ra đợi ở đây. Từ nãy, chúng tôi đã vẫy nhiều xe đỗ lại, nhưng họ đều nói xe họ không chở người chết. Thậm chí, có hai anh lái xe còn cho tôi là điên.
- Thế chính cụ đã chôn hắn đấy ư? Viên tướng hỏi ông già.
- Phải, ông cụ đáp. Còn ai vào đấy nữa? Anh ta ở nhà chúng tôi mà.
- A, vậy ra hắn ở nhà cụ. Nếu có thể được, xin cụ cho biết giữa cụ và hắn đã thỏa thuận với nhau như thế nào? Người lính của một đội quân chính quy lớn thì còn có việc gì dính líu với cụ nữa, ý tôi muốn nói, làm thế nào mà hắn lại có thể tự nguyện vui vẻ đến ở với cụ được. Cụ ở nông thôn phải không?
Anh cán bộ chuyên môn dùng những chữ đơn giản hơn dịch lại lời nói của viên tướng.
Ông cụ bỏ cái tẩu ở miệng ra, rồi nhìn thẳng vào mặt viên tướng.
- Hắn làm đầy tớ cho tôi. Điều này, tất cả mọi người đều biết.
Viên tướng cau mày và đỏ mặt vì sỉ nhục. Mãi đến bây giờ, ông mới hiểu đầu đuôi câu chuyện từ nãy. Ông liếc nhìn ông già như muốn bảo: «Này lão già nhà quê kia, bây giờ mày nói gì chả được», và ông bực bội, châm một điếu thuốc lá, đánh gãy đến hai ba que diêm mới châm nổi.
- Đây là một tên lính đào ngũ, ông linh mục giải thích cho viên tướng nghe, và đi ở cho người Albania.
Viên tướng nhăn mặt khi nghe tiếng «đào ngũ». Ông bực lắm.
- Tên hắn là gì? Anh cán bộ chuyên môn hỏi ông cụ.
- Tôi không rõ, ông cụ đáp. Chúng tôi cứ gọi cộc lốc là «anh lính» và hắn mang cái tên đó cho đến khi chết.
- Thế cụ bốc mộ hắn hôm nào? Anh cán bộ hỏi.
- Hôm kia, ông cụ đáp lại. Tôi nghe tin có người đến thu lượm hài cốt họ, nên tôi quyết định đào lên để giao lại cho các ông. Tôi cứ nghĩ để cho kẻ xấu số được yên nghỉ ở quê hương hắn thì hơn.
- Thế cụ có thấy trên người hắn có đeo một hình trái tim như cái mề đay không?
- Mề đay à? Ông cụ ngạc nhiên hỏi lại. Hắn không phải hạng người được thưởng mề đay đâu. Lao động thì hắn ta nhất đấy, chứ còn đánh nhau thì không phải sở trường của hắn, phải, cái đó thì không!
- Không, bố già ơi, không phải mề đay, anh cán bộ mỉm cười ngắt lời ông cụ, mà nó giống cái mề đay thôi. Nó giông giống một đồng tiền, trên mặt có in hình Đức mẹ ấy mà.
Ông cụ nhún vai nói.
- Thế thì không, tôi không thấy. Tôi nhặt từng chiếc xương một, nhưng không thấy cái gì giống như thế.
- Cụ làm thế là rất tốt, ông linh mục nói. Cụ đã làm tròn bổn phận của cụ như một tín đồ Chúa.
- Chẳng tôi thì còn ai mó tay vào đấy? Ông cụ nói. Hẳn là phải tôi làm chứ còn ai nữa.
- Thay mặt bà mẹ người lính đó, chúng tôi xin cảm ơn cụ, ông linh mục nói.
Thấy ông linh mục có vẻ nhã nhặn, niềm nở hơn, ông cụ lại gần ông ta, vừa nói, thỉnh thoảng lại vừa lấy tay chỉ vào chiếc áo quan bằng gỗ sồi tươi đẽo ghép qua loa:
- Cái áo quan này, tôi mới đẽo làm hôm qua. Sáng nay, mờ sáng tôi với thằng cháu bé đây đã ra đi. Quãng đường từ cối xay ra đường cái thực vất vả quá. Bùn lên tận đầu gối. Con lừa kia đã ngã hai lần. Ông cứ nhìn nó mà xem, vực được nó đứng lên không phải chuyện dễ.
Ông linh mục chăm chú nghe ông cụ nói. Thốt lên, ông hỏi:
- Thế có phải cụ giết nó không? Giọng ông bình thản, mắt nhìn chằm chặp vào ông cụ.
Ông cụ sửng sốt, cất chiếc tẩu ra khỏi miệng. Rồi ông cụ cười nói:
- Đầu óc ông bình thường đấy chứ? Tôi giết hắn để làm gì?
Ông linh mục cũng mỉm cười, vẻ như muốn nói: «Chuyện đó thường vẫn xảy ra».
Ông cụ nói qua về trường hợp tên lính bị đơn vị thanh trừng của «Tiểu đoàn Xanh» giết như thế nào, hồi tháng chín năm 1943. Sau đó, hắn nghĩ lại câu hỏi của ông linh mục, cặp mắt ông cụ trở nên đăm chiêu suy nghĩ.
- Họ nói như vậy nghĩa là thế nào hở anh? Ông cụ khẽ hỏi anh cán bộ.
- Họ là người nước ngoài, phong tục của họ khác ta.
- Mình vất vả khó nhọc bao nhiêu, đi bấy nhiêu đường đất, thế mà…
- Bố già ơi, không việc gì mà bực mình, một anh công nhân bảo ông cụ; anh ta từ trên xe tải nhảy xuống, để đưa chiếc quan tài lên xe. Bây giờ thì xin chào bố, chúng con còn phải đi.
Trong khi ông cụ nói chuyện với anh cán bộ, và mấy người công nhân sở thị chính khiêng quan tài đưa lên xe tải, thì viên tướng lúc đang sắp bước lên chiếc xe con bỗng quay ngoắt lại hỏi anh cán bộ:
- Ông cụ có đòi tiền bồi thường không?
Anh cán bộ đỏ mặt trả lời:
- Không!
- Ông cụ có quyền đòi lắm chứ. Chúng tôi sẵn sàng, ông cụ đòi bao nhiêu chúng tôi cũng trả.
- Nhưng ông cụ có đòi gì đâu.
Viên tướng đã tìm ra cách trả thù được ít nhiều ông cụ nông dân về sự sỉ nhục lúc nãy, cố nài:
- Ông cứ bảo với ông cụ là chúng tôi muốn trả công cho ông ấy.
Anh cán bộ lưỡng lự. Ông linh mục ngọt ngào bảo ông cụ:
- Chúng tôi muốn đền bù công lao khó nhọc của cụ. Cụ muốn lấy bao nhiêu?
Ông cụ nông dân cau mày ngẩng đầu lên, sẵng giọng nói:
- Tôi không muốn lấy gì hết.
- Dù sao thì cụ cũng đã vất vả, đã mất nhiều thì giờ vào công việc này, đã tốn phí một số vật liệu.
- Không có gì hết, ông cụ nhắc lại.
- Chúng tôi trả rất hậu, viên tướng nói xen vào.
- Ơn Chúa, tôi không đến nỗi túng thiếu gì, ông cụ nói.
- Nhưng cụ đã nuôi người lính kia trong một thời gian khá lâu, có lẽ chúng ta có thể tính ra được chứ.
Ông cụ lắc lắc cái tẩu.
- Chính tôi cũng mắc nợ anh ta, ông cụ nói. Tiền công những ngày cuối cùng của anh ta tôi chưa trả được. Hay các ông muốn tôi trao lại các ông nhận giúp cho chăng.
Rồi ông cụ quay lưng đi lại phía đang buộc con lừa.
Lúc chiếc xe con mở máy, chú bé ghé tai ông cụ thầm thì cái gì đó, và thấy ông cụ vội giơ tay vẫy vẫy về phía chiếc xe.
- Khoan đã, lũ quỷ kia, suýt nữa thì lão quên mất, lão có cái này của anh ta để đưa trả các người, vừa nói ông lão vừa thọc tay vào túi áo khoác.
- Ông cụ đòi tiền kìa, viên tướng nói khi nhìn thấy ông lão vẫy tay gọi. Các ông thấy không! Tôi đã bảo mà!
- Cái gì vậy, hở cụ! Anh cán bộ chuyên môn xuống xe hỏi ông già nông dân.
- Một cuốn vở, ông cụ nói. Anh ta vẫn thỉnh thoảng viết gì vào vở này đấy. Các ông cầm lấy!
Anh cán bộ chìa tay đón lấy cuốn vở. Một cuốn vở học sinh chữ viết rất sít.
- Ý hẳn đây là những lời trăng trối cuối cùng của anh ta, ông cụ nói, nếu không, tôi đã chẳng hoài hơi đưa lại cho các ông làm gì. Ai biết được con người xấu số ấy đã viết lách những gì trong đó. Có thể anh ta viết di chúc để lại dê cừu của mình cho một người nào đó chăng? Tôi cũng chẳng muốn hỏi anh ta. Nhưng dù anh ta có ít nhiều gia súc đi nữa, thì chắc chắn chó sói cũng đã vồ hết rồi.
- Xin cảm ơn cụ, anh cán bộ nói. Chắc thế nào chúng tôi cũng tìm ra được tên anh ta.
- Chúng tôi ai cũng gọi anh ta là «anh lính», ông cụ nói. Chẳng ai nghĩ đến chuyện hỏi xem tên anh ta là gì.
- Thôi, chúc các ông đi may mắn! Ông cụ bảo anh cán bộ. Và chúc anh khỏe mạnh.
- Lại một tập nhật ký, viên tướng nói, và lật giở cuốn vở anh cán bộ vừa đưa cho ông. Đã tìm được tất cả mấy cuốn rồi nhỉ?
- Cuốn này là cuốn thứ sáu, ông linh mục nói.
Xe lần lượt mở máy, viên tướng quay lại nhìn thấy ông cụ nông dân đứng im nhìn theo họ một lúc rồi mới quay đi, thúc con lừa đi trước, hai ông cháu đi cạnh nhau theo sau.
❀ ❀ ❀
[1] Dép tết bằng cỏ.