NHẬT ký ngừng lại ở đó. Người ta còn đọc thấy dòng chữ đề ngày 7 tháng Chín 1943 nhưng sau lại bị xóa đi, không biết tại sao. Có lẽ hắn không muốn viết tiếp nữa. Có thể là hắn chẳng có chuyện gì đặc biệt để ghi hoặc có thể chỉ vì hắn đã chán viết.
Viên tướng quẳng cuốn vở xuống ghế, vẻ ghê tởm.
Ông linh mục hỏi:
- Có gì hay không?
- Những ghi chép của một kẻ vừa đa sầu đa cảm lại vừa mau nước mắt.
Ông linh mục cầm lấy cuốn vở và mở trang đầu:
- Chẳng thấy tên tuổi hắn đâu cả, viên tướng nói. Chỉ thấy có chiều cao của hắn, một mét tám mươi hai.
- Ồ, đúng chiều cao của đại tá Z, ông linh mục đáp.
Hai người nhìn nhau chằm chằm một lát rồi nhìn lảng ra chỗ khác.
- Có thấy ghi số hiệu trung đoàn và tiểu đoàn của hắn ở chỗ nào không?
- Không, chỉ thấy ghi tên sư đoàn thôi, «Sư đoàn Sắt».
Không có một chỉ dẫn nào khác.
- Kỳ lạ thật.
- Và vài dòng về «Tiểu đoàn Xanh», nhưng không thấy nói gì về đại tá Z.
Ông linh mục vừa lật các trang vở vừa nói:
- Những trang nhật ký thấy ghi từ 1943. Hắn viết về, «Tiểu đoàn Xanh» vào tháng nào?
- Ở đầu và ở cuối cuốn nhật ký, nghĩa là vào tháng Hai và tháng Chín.
- Tháng Chín thì ông đại tá đã chết rồi, ông linh mục nói.
- Phải, tất nhiên.
Ông linh mục bắt đầu đọc.
Viên tướng nhớ lại câu chuyện của ông cụ nông dân kể và hình dung cuốn nhật ký có kết thúc như thế nào. «Tiểu đoàn Xanh» đã đi qua vùng này, quân lính cáu kỉnh điên cuồng vì thua trận, một buổi chiều đã kéo đến cối xay, và chắc chắn có người đã báo cho chúng biết là có một tên đào ngũ đang ẩn náu ở đây. Chúng lùng kiếm tên lính, tìm thấy y, nấp giữa các túi bột mì, người trắng toát từ đầu đến chân dưới lớp bột nom như quấn sẵn trong vải liệm. Chúng gí mũi súng tiểu liên thúc y đi, và cứ như vậy y giật lùi, lùi mãi tới con kênh dẫn nước vào cối xay. Y sắp ngã ngửa xuống nước nhưng còn cách bờ hai bước thì bọn lính đã nổ súng; y ngã gục xuống và chỉ có đầu y là chìm dưới nước. Một xoáy nước nhỏ hình thành quanh đầu y như quanh một hòn đá lớn, làn nước nhẹ nhàng cuốn tóc y xõa sợi xuôi theo dòng nom như những lá dong kỳ dị đen sì.
«Có lẽ tất cả chỉ có thế», viên tướng thầm nghĩ, ông rít một hơi thuốc lá. Một lát sau, ông lại tự nhủ thầm: «Và đối với một tên đào ngũ thì còn có một kết thúc nào khác được?»
Một giờ sau, ông linh mục gấp cuốn vở lại. Viên tướng hỏi:
- Thế nào?
Ông linh mục nhún vai đáp:
- Một cuốn nhật ký như bao cuốn khác.
- Đúng thế, viên tướng nói, chẳng có gì đặc biệt. Tôi đã nói với ông rồi đấy. Một gã mau nước mắt!
- Có hai cuốn nhật ký khác thú vị hơn, ông linh mục đáp.
Viên tướng giận dữ nói:
- Lẽ dĩ nhiên là với những tên lính như tên này, đem vứt súng xuống sông để đi say mê cô gái đầu tiên chúng gặp thì bao giờ mà chúng ta có thể thắng trận được. Ngừng một lát, ông nói tiếp: «Lính gì lính thế!»
- Nhật ký của bọn lính đều có một yếu tố nào đó giống nhau, ông linh mục nói.
- Tự nhiên thôi, vì đây là những người mặc quân phục viết. Tuy vậy cũng có khác nhau về nội dung. Ông có nhớ cuốn nhật ký đầu tiên ta tìm thấy không? Tinh thần chiến đấu cao chứ! Đọc mỗi dòng đều cảm thấy bàn tay và tâm hồn của người chiến sĩ.
Ông linh mục gật đầu tỏ ý đồng tình.
- Tất nhiên ta cũng thấy ở chỗ này chỗ kia một sự hèn kém nào đấy, nhưng nói chung, tinh thần chiến đấu vẫn là chiếm ưu thế.
- Khi tôi nói các cuốn nhật ký có một cái gì giống nhau là tôi nghĩ đến cách viết, ông linh mục đáp. Lẽ dĩ nhiên là các cuốn nhật ký ta tìm thấy đều khác nhau. Duy có một chỗ tương tự là phần kết thúc tức là cái phần mà những tên viết nhật ký đó đã không viết ra được.
- Đúng thế, chỉ có cái chết của chúng là giống nhau.
Mặc dầu tên lính khốn khổ này, đáng lẽ chết đi một cách vinh dự khi xung phong, thì lại bị bắn vì tội đào ngũ và ngã xuống, đầu chìm dưới suối.
Viên tướng hỏi:
- Ông có đọc đoạn hắn viết về các con kênh không?
- Có, ông linh mục trả lời.
- Hắn hy vọng tìm thấy lối thoát ở đó nhưng chính cái chết lại rình hắn ở đó.
- Chẳng ai thoát khỏi sự trừng phạt của Chúa.
Viên tướng châm thuốc hút.
Người lái xe bóp còi inh ỏi. Một đàn cừu dài đi ngang qua đường. Hai người chăn cừu tay cầm gậy dài cố ngăn đàn cừu làm đôi để lấy lối cho xe đi.
- Cừu xuống tránh lạnh mùa đông đấy, ông linh mục nói.
Viên tướng nhìn những dân miền núi, cao lớn, quàng chiếc áo khoác rộng bằng lông cừu đen, mũ trùm kín đầu.
- Ông còn nhớ hai gã trung úy đã đến nước phải đi chăn cừu ở một làng Albania không? Họ thuộc sư đoàn nào nhỉ? Hình như lính sơn chiến thì phải.
- Tôi không nhớ nữa.
- Một hiện tượng kỳ lạ đã xuất hiện trong quân đội ta khi ở Albania, viên tướng nói tiếp. Thực là kỳ lạ! Hay nói cho đúng hơn thật là nhục nhã.
- Ông muốn nói đến những quân nhân của ta đã đi làm đầy tớ ở nhà nông dân Albania để sinh sống phải không?
- Phải, nhất là sau khi ta đầu hàng, cái thói này ngày càng phát triển mạnh. Tôi đã có dịp đọc một bản báo cáo về vấn đề đó ở Đại bản doanh. Thật không thể tưởng được.
- Đúng đấy, ông linh mục đáp. Đã xảy ra những sự việc thật lố lăng.
- Mà ngay chúng ta đây cũng đã vấp phải nhiều trường hợp như thế. Biết bao lần chúng ta chẳng đã phải đỏ mặt lên vì xấu hổ khi nghe thấy nói quân nhân của ta đã đến nước phải đi giặt giũ hoặc trông gà cho nông dân Albania đấy ư? Cách đây hai giờ, cái lão chăn cừu hoặc chủ cối xay quái quỷ gì đấy, đã làm tôi nóng cả đầu.
Ông linh mục lại gật đầu đồng ý.
- Ông nói là đã xảy ra những sự việc thực lố lăng, nhưng những sự việc này không hẳn là lố lăng mà trước hết là đáng buồn.
- Trong chiến tranh thực khó mà phân biệt được cái bi thảm với cái kệch cỡm, cái anh hùng với cái đáng buồn.
- Có người đã cố gắng giải thích những sự việc đó, viên tướng nói. Họ tìm cách thanh minh cho thái độ của các sư đoàn của ta bị chặn lại ở đây sau khi đầu hàng. Họ nói: «Không có tàu bè gì, mặt biển lại bị phong tỏa. Họ làm gì được, những kẻ khốn khổ ấy? Nói cho cùng, dù sao họ cũng phải sống chứ?» Ừ thì sống, nhưng đừng chôn vùi danh dự của đất nước xuống bùn đen, viên tướng giận dữ thốt lên. Sĩ quan của một đại quân, dù là bại trận, mà lại nhận đi trông gà! Có ai thấy thế bao giờ không?
- Lúc đầu nhiều kẻ đã bán vũ khí, ông linh mục nói. Họ đã bán hoặc đã đổi súng ống lấy một qese ngô hoặc một túi đỗ.
- Thời gian đó ông có ở đây không?
- Không, ông linh mục đáp. Nhưng người ta có kể lại cho tôi nghe. Hình như súng ngắn đổi được mẩu bánh mì và một ít rượu vang, vì cần phải biết rằng người Albania không quý súng ngắn bằng súng trường. Súng trường bán được giá cao nhất, có thể lên tới một túi bánh. Còn súng liên thanh, tiểu liên và lựu đạn thì hầu như cho không, đổi lấy một quả trứng, một đôi opinga rách, hai củ hành hoặc nhiều nhất là nửa cân sữa loãng.
- Thật là đê tiện, viên tướng nói.
Ông linh mục sắp nói tiếp thì viên tướng lại ngắt lời:
- Chính vì thế mà người Albania có khuynh hướng chế nhạo chúng ta. Ông đã thấy cái lão chăn cừu hoặc chủ cối xay gì đó làm nhục tôi như thế nào đấy.
- Họ rất quý súng. Họ không thể quan niệm được sao người ta lại đem bán súng đi và lại là để lấy một mẩu bánh.
- Còn những súng lớn?
- Thực tế súng lớn không có giá trên thị trường vì tất cả súng lớn đều rơi vào tay du kích. Cũng có thể đổi súng cối lấy một con gà.
- Thật là nhục nhã! Viên tướng đáp, nói một cách khác trong những ngày đầu sau khi ta đầu hàng, ở Albania đã mở ra một chợ bán vũ khí thực sự!
- Đúng như thế, ông linh mục nói, thực sự là một cái chợ. Bất cứ thời nào, người Albania cũng say mê vũ khí một cách háo hức, và sự say mê đó lẽ tất nhiên đã tăng lên trong thời kỳ chiến tranh. Tôi cho là ông cha họ đã mơ tưởng đến một cái chợ như vậy từ nhiều thế kỷ nay.
- Người ta đồn là có trên một vạn khẩu súng đã được đem bán đi hoặc đổi lấy thực phẩm.
- Có lẽ còn nhiều hơn nữa, ông linh mục nói.
- Đó thực sự là một trong những khía cạnh kỳ quặc nhất của cuộc chiến tranh này, viên tướng đáp.
- Ông nghĩ xem, trong cái năm đó, người ta phàn nàn là ở Albania chưa bao giờ lại xảy ra nhiều tai nạn như vậy, ông linh mục nói tiếp. Trẻ con lấy súng ống thật làm đồ chơi và có khi, sau một cuộc cãi lộn, chúng ném lựu đạn làm tan sọ nhau.
- Hừ! Viên tướng thốt lên.
- Đôi khi ban ngày, đàn bà trong một khu phố, từ nhà này chõ sang nhà kia đấu khẩu nhau như vẫn thường xảy ra, thế rồi đến đêm, từ các cửa sổ hoặc các cửa trổ ở mái nhà, các ông chồng nã liên thanh như pháo ran, thế là xảy ra một cuộc bắn giết nhau ghê gớm.
- Ông không nói quá đấy chứ.
- Tuyệt nhiên không. Tất cả mọi người ở đây đều mắc bệnh tinh thần trầm trọng. Người Albania như đang say rượu, tất cả những bản năng di truyền cổ xưa của họ mặc sức hoành hành và họ trở thành đáng sợ hơn bao giờ hết.
- Có lẽ vì họ đang trong cơn khói lửa của chiến tranh và hơn nữa lại bị thương, viên tướng nói. Giống sư tử khi bị viên đạn đầu tiên bắn trúng cũng thế. Tôi biết cái đó rõ lắm. Tôi đã tận mắt trông thấy ở châu Phi.
Ông linh mục sắp sửa đáp lại lời nhưng viên tướng đã nói tiếp:
- Vả lại, thời đó, có vẻ người Albania đã dè chừng trước những nguy cơ mới có thể xảy ra. Các nước láng giềng bất cứ lúc nào cũng có thể xông vào xâm lược nước họ.
- Người Albania bao giờ cũng thổi phồng những nguy cơ đe dọa họ, ông linh mục nói.
- Nhưng có một vấn đề mà tôi không thể hiểu nổi là tại sao họ đã không hung hăng với ta sau khi ta đầu hàng. Thậm chí, họ còn làm ngược lại. Họ đã bảo vệ quân đội khốn khổ của ta chống lại bọn đồng minh cũ của ta cứ thẳng tay bắn giết quân ta mỗi khi chúng bắt được. Ông còn nhớ chứ?
- Có, tôi có nhớ, ông linh mục nói.
- Thậm chí có cả một tài liệu về vấn đề đó, viên tướng nói tiếp. Tôi nghĩ đến lời kêu gọi của du kích gửi toàn thể nhân dân Albania khi ta đầu hàng. Họ yêu cầu dân họ đừng để quân lính ta chết đói, lúc đó, quân ta hàng mấy vạn con người đang lang thang trên các nẻo đường Albania như ăn mày, quần áo rách bươm. Chính tôi có đọc lời kêu gọi đó và điều ấy đối với tôi đến giờ vẫn còn là một điều bí hiểm. Cái gì đã thúc đẩy họ đối xử như vậy, họ vốn xưa nay vẫn căm ghét ta hết sức. Hay đó chỉ là chính sách mị dân?
- Một thứ mị dân thô bạo, ông linh mục đáp. Chính bản thân tôi cũng lấy làm lạ về thái độ đó.
- Chúng ta là những kẻ thù không đội trời chung của họ, viên tướng nói. Khi còn chiến tranh, họ đánh ta một cách dữ tợn, thế rồi bất chợt họ tung ra một lời kêu gọi như vậy.
- Đúng, đúng, ông linh mục trầm ngâm nói.
- Cảnh kết thúc của quân đội ta ở Albania thật là một kết thúc thảm hại, viên tướng nói tiếp. Tất cả bọn binh lính mặc quân phục này, với vũ khí, phù hiệu và huân chương của chúng, đều biến thành tôi tớ, lao công đi ở thuê. Cứ nghĩ đến những công việc họ đã làm mà tôi xấu hổ. Ông còn nhớ không? Người ta còn nói đến cả một viên đại tá đi giặt giũ quần áo và đan bít tất trong một gia đình Albania nữa kia.
- Phải, vị linh mục nói. Đôi khi tôi tự hỏi ngay cả đại tá Z, không biết có đi ở cho một gia đình nông dân nào không, và có thể bây giờ ông ta đang chăn một đàn dê nào đó cũng không biết chừng.
Viên tướng vừa cười vừa nói:
- Tôi tự hỏi Betty sẽ xử trí ra sao nếu trông thấy chồng trong cảnh ngộ như vậy.
Ông linh mục không trả lời, chỉ mỉm cười.
Họ còn tiếp tục chuyện trò một lúc nữa nhưng phần lớn trong cuộc hành trình, hai người ngồi im. Lá vàng hoặc úa nát rải rác đầy đường. Lá vàng bay vật vờ dưới làn gió, còn lá úa chỉ khẽ chuyển động rồi lại nằm im, dán xuống đất, như bị đè dưới lớp nước và bùn nặng trĩu, chúng héo nát, tan tác trên mặt đường như đang đợi chờ cái chết.
Đoàn xe phóng nhanh, lăn bánh trên lớp lá úa vàng đó.