«THƯỜNG thường cả ngày chúng tôi chỉ biết đứng dựa vào lan can cầu hút thuốc hoặc ngồi trong cái quán nhỏ dựng bằng ván, chạy ngang bên trên cửa có những chữ «Cà phê - Nước cam» do người chủ quán viết. Chúng tôi có sáu người canh gác trên cầu. Một con đường chiến lược do người Áo xây dựng từ đại chiến thế giới lần thứ nhất chạy qua cầu này và đã bỏ không dùng đến từ lâu. Chúng tôi đến nơi này chỉ vài ngày sau khi con đường và chiếc cầu được sửa chữa lại. Binh lính sửa chữa cầu đã đồng thời xây dựng cả một lô cốt và một trại lính nhỏ. Khi chúng tôi đến thì mọi việc đã hoàn thành. Chúng tôi đặt một khẩu trung liên trong lô cốt và giữ lại một khẩu trung liên trong trại để đề phòng mọi bất trắc.
Vùng này, xung quanh quạnh hiu và vắng ngắt, toàn đất cát hoang vu, lổn nhổn đá cuội, thưa thớt đó đây vài ngọn cây. Làng này thật nhỏ bé, chỉ độ mươi nóc nhà là cùng, những căn nhà lạ kỳ, xây bằng đá, trên tường đục những lỗ châu mai nhỏ hẹp thay thế cho cửa sổ, trông giống như lỗ châu mai ở lô cốt chúng tôi.
Thời gian đầu, chúng tôi buồn chết đi được. Xe quân sự rất ít khi qua đây và dân làng đối với chúng tôi tỏ vẻ cừu địch ra mặt. Suốt ngày ròng rã, chúng tôi chỉ có việc đi đi lại lại dọc lan can cầu và nghịch ném cuội xuống dòng suối. Tối đến chúng tôi cắt nhau canh gác.
Nhưng một hôm, chúng tôi thấy một người dắt ba con la chở ván, hòm và những cuộn bìa quét hắc ín theo đường núi đi tới. Đó là một gã thương nhân ở tỉnh bên. Trong hai ngày, hắn hoàn thành một căn nhà ván ngay bên cầu và kẻ những chữ «Cà phê - Nước cam» bằng sơn đen, trên cửa ra vào.
Từ ngày đó, chúng tôi luôn luôn lui tới quán hắn. Tuy hắn chỉ viết bên trên cửa những chữ «Cà phê» và «Nước cam» nhưng thực ra hắn bán cả raki và rượu hạng tồi. Thỉnh thoảng binh lính đi trên xe tải qua đấy lại dừng lại trước quán uống cốc rượu; có thể nói là quán rượu đó đã làm cho cái nỗi buồn tẻ này nhộn nhịp lên đôi chút. Đôi khi dân làng cũng tới đây uống rượu. Nhưng cái đã hấp dẫn họ không phải là rượu raki của gã chủ quán, lại càng không phải cái thứ rượu bã của hắn. Họ quan tâm đến cái khác, họ đến đây đổi trứng lấy đạn. Tuy việc đó bị cấm rất ngặt nhưng chúng tôi cũng cứ đổi. Đêm đến, khi đứng gác, chúng tôi bắn lên trời một loạt rồi ngày hôm sau khai đã bắn gấp đôi số đạn bắn thực sự. Với những viên đạn dành ra được, chúng tôi đổi lấy trứng.
Nhưng những loạt súng đêm khuya ấy thực là điểm gở. Cứ như là chính chúng tôi đã rước lấy tai họa. Cách đây ít lâu, quả thật du kích đã đến quấy nhiễu chúng tôi. Nếu không có cái lô cốt thì có lẽ chúng tôi đã bị tiêu diệt rồi.
Người đầu tiên trong số chúng tôi bị giết chết trên cầu là trong khi anh ta đang gác đêm. Hình như du kích định phá cầu, nhưng người lính gác đã báo động ngăn họ không thực hiện được việc đó. Sáng hôm sau, người ta thấy người lính gác chết trước lan can cầu, tư thế nằm kỳ lạ, mồm há hốc. Anh có xem phim «Cái chết của người đi xe đạp» không? Còn tôi, khi xem phim suýt nữa tôi đã kêu lên trong rạp. Cái xác đó, trên màn ảnh, giống hình ảnh đã khắc sâu trong tâm trí tôi quá thể.
Được mười lăm ngày thì đến lượt người thứ hai. Trường hợp anh này cũng y hệt anh trước. Chúng tôi nghĩ là chính dân làng đã bắn vào chúng tôi nhưng chẳng có chứng cớ gì cả. Giờ thì chúng tôi không đổi đạn nữa. Nhưng làm thế nào được, chậm quá mất rồi!
Đến người thứ ba của chúng tôi bị giết thì chúng tôi quyết định không gác trên cầu nữa. Cùng với số viện binh đến bổ sung, chúng tôi còn nhận được một đèn chiếu, chiếc đèn đã được đặt trong lô cốt, và chiếc cầu này đã được chiếu sáng từ lúc một. Với hàng trăm tấm sắt đen sì, bắt chéo nhau, chiếc cầu không khác gì một con rết khủng khiếp trông thật ghê rợn và đáng sợ. Đôi khi giữa đêm hôm, nhìn chiếc cầu in hình lên ánh sáng chói lòa và trắng nhạt, tôi như cảm thấy nó sẽ nuốt chửng cả bọn chúng tôi lần lượt từng người một.
Quân du kích không ngừng tiến công chúng tôi.
Người thứ tư trong số chúng tôi bị giết chết đúng vào đêm tôi bị thương. Tôi không còn nhớ gì khác nữa vì tôi bị đạn ngay từ phút đầu của đợt tấn công. Khi đã hồi tỉnh, tôi nhận thấy là tôi đã được đặt lên lưng một con la đang lững thững đi trên cầu. Ván cầu kêu răng rắc dưới móng sắt của con vật. Lúc đó là buổi sáng, một buổi sáng u ám của mùa đông. Con mắt lờ đờ của tôi nhìn xuống vô số bù long chạy thành hàng dãy dài ngay sát mắt và tôi cảm thấy tim tôi bị siết chặt trong một cái gì nặng nề và lạnh lẽo, ghi dấu vết vào lòng tôi suốt đời không thể nào quên được.
Khi con la đã qua cầu và lững thững bước vào đường cái, tôi cố gượng ngoái cổ trở lại, nhìn lần cuối cùng cái lô cốt, những căn nhà ảm đạm của dân làng rải rác trên cao nguyên, những nấm mồ của các bạn đồng đội của tôi nằm dưới chân cầu, (nấm mồ cuối cùng vẫn chưa được đào) và cái quán gỗ ngay gần đó với dòng chữ nhớp nhúa «Cà phê - Nước cam».
Viên tướng ngồi trên một khối bê tông hút thuốc. Ngay dưới chân cầu, công nhân đào ở những quãng trống giữa những khối bê tông đã vỡ, rải rác tứ phía, giữa những mảnh sắt gỉ cong queo. Chiếc cầu mới đã được dựng lên cách đây vài trăm mét về phía dưới, nơi con đường mới rẽ vào, cách một xưởng ép dầu không bao xa. Con đường cũ trên núi bây giờ đầy cây con và những bụi rậm mọc rải rác đây đó.
«Sức nổ chắc phải kinh khủng», viên tướng thầm nghĩ. Chiếc cầu bị gãy làm đôi và những khối bê tông lớn vỡ tan từng mảnh, văng tới tận lô cốt, thậm chí còn văng xa hơn nữa, ra tận con đường đã bị bỏ không dùng đến. Gần cầu, cái quán bằng gỗ xưa kia vẫn còn đứng đấy và bên trên cánh cửa vẫn còn thấy dòng chữ «Cà phê - Nước cam».
Khi họ đến đó cách đây một tuần, cái quán gỗ đã bị hư hỏng gần nửa, cũng như cái cầu, cái lô cốt và một phần đường. Miếng bìa cứng quét hắc ín dùng làm mái rách từng mảnh, nhiều tấm ván đã bị lấy đi mất và phần lớn chỗ vẫn còn lại đã mục. Nhưng hai ngày sau, một người bán hàng lưu động của công ty NTLUS[1] đã đem đến thuốc lá, rượu cognac và một cái bếp dầu để pha cà phê. Thật là một sự may mắn không ngờ cho mọi người, vì ngoài số năm công nhân cũ, họ đã tạm thời mướn thêm bảy người nữa và tất cả số người đó, không kể người lái xe, anh cán bộ, ông linh mục và viên tướng, còn phải ở lại đây ròng rã hai tuần vất vả nữa. Sau khi đóng mấy tấm ván vào hai, ba chỗ và lấy những hòn đá lớn chặn những mảnh bìa quét hắc ín để mái khỏi bị gió thổi lật, người bán hàng dọn vào ở trong cái quán cũ kỹ đó.
Quán hàng đã đem lại đôi chút nhộn nhịp cho nơi này. Buổi sáng, trước khi bắt tay vào việc, công nhân tới uống cà phê hoặc một ly cognac. Ban ngày dân làng tha thẩn hàng giờ xung quanh đó xem công nhân đào.
Và đúng lúc này, viên tướng để ý đến hai người có vẻ đang giảng giải điều gì đó cho người công nhân già, tay chỉ trỏ một chỗ đâu đó gần chân cầu.
«Ai biết được tên nào đã bắn những người lính gác?», viên tướng thầm nghĩ, mỗi lần dân làng đến trà trộn vào đám công nhân hoặc mua thuốc lá ở quán. Họ đến đây đã một tuần nay rồi mà ông đã quen mặt vài người.
Công việc tìm kiếm tiếp tục bên này cầu, ngang với mặt đường và cả ở móng cầu. Chỉ có những người lính gác là chôn ở phía dưới cầu còn phần lớn các ngôi mộ đều ở dưới lề đường. Những ngôi mộ này được sắp thành hàng, ngôi nọ nối ngôi kia, trên một khu đất la liệt sắt vụn, những mảnh xe đã bị đốt cháy. Nơi đây có vẻ rất thuận lợi cho những trận phục kích các đoàn quân cơ giới. Và tất cả những sự việc đó đã diễn ra trước khi du kích đánh đổ cầu.
Ông linh mục và anh cán bộ lại leo lên vệ đường. Anh cán bộ vào trong quán, còn ông linh mục thì lại chỗ viên tướng:
- Thế nào? Viên tướng hỏi.
- Mọi việc đều tốt.
- Có khớp với những lời chỉ dẫn không?
- Đúng lắm.
- Ngày kia ta phải bắt đầu tìm kiếm ở bên kia cầu.
Những hẻm núi xung quanh chìm ngập trong sương mù.
- Thời tiết tệ quá, viên tướng nói.
Ông linh mục gật đầu đáp:
- Người Albania có câu phương ngôn: «Ở nhà bạn thì quên cả thời tiết xấu».
- Vậy thì ta chẳng có hy vọng gì, viên tướng đáp, chẳng ma nào mở cửa đón ta ở đất nước này.
Ông linh mục húng hắng ho.
- Tôi đau họng hai ngày nay rồi.
- Không lấy gì làm lạ với thời tiết ẩm ướt này.
- Có lẽ tôi phải uống một viên thuốc mới được.
- Nếu mà rét năm nay cũng như năm ngoái thì lại rắc rối cho mà xem.
- Thời tiết cũng sẽ lại như thế thôi, ông linh mục đáp.
- Ta ở đây cũng chỉ mới hơn một năm mà tưởng như đã sống cả đời.
- Phần lớn công việc của ta nay đã hoàn thành.
- Đúng, nhưng công việc càng kéo dài thì lại càng gay go.
- Mọi người bắt đầu thấy nản rồi đấy.
- Còn khá nhiều thử thách đang đợi chúng ta.
- Dù sao thì phần lớn công việc cũng đã hoàn thành.
- Nếu xong được cái món lính sơn chiến vào mùa hè này thì chúng ta cũng chẳng có gì đáng phàn nàn lắm.
- Không thể được. Làm sao có thể làm hơn được trong vòng ba tháng?
- Thậm chí về thăm nhà cũng chẳng được, chúng ta chẳng về được đâu cả.
- Đúng thế. Mọc rễ ra ở đất nước này rồi.
- Nhưng thời gian đã kéo dài quá mọi dự kiến. Trước đây ta hy vọng kết thúc vào khoảng cuối mùa xuân; chậm nhất là đầu mùa hè.
- Chẳng phải lỗi chúng ta.
- «Chiến tranh chớp nhoáng» thì có, nhưng «tìm kiếm chớp nhoáng» thì hình như không thể có được.
- Chiến tranh càng nhanh thì thời gian tìm kiếm những người tử trận càng dài.
- Chúng ta bị cột vào chiếc cầu này không rứt ra được. Tôi không chịu nổi cái cảnh này nữa.
- Tôi không thể nào giải thích được tại sao quân du kích đã cố công sức phá bằng được chiếc cầu này, ông linh mục nói. Đó là một cái bẫy tuyệt vời, vì khi cầu đã bị phá, các đoàn quân phải tìm đường khác và quân ta không còn là một cái mồi ngon nữa.
- Đúng, nhưng nếu chúng không phá cầu thì có lẽ ngày nay số mộ đã tăng gấp đôi, và ta sẽ buộc phải ở lại đây không phải mười lăm ngày mà là một tháng. May mà chúng đã không từ bỏ ý định đánh cầu. Tôi không chịu nổi cái cảnh này với bọn dân làng cứ lượn quanh nhìn ta bốc mộ.
- Quả là chúng có lượn quanh thật, ông linh mục đáp. Có lẽ công việc này đem lại cho chúng một sự thích thú nào đó.
- Những binh lính canh gác cầu, chúng đều biết cả. Hai bên đã là hàng xóm láng giềng với nhau một thời gian dài, dân làng đã đổi trứng lấy đạn và chắc chắn có một tên trong số đó đã bắn vào binh lính của ta. Và bây giờ dĩ nhiên là chúng lấy làm thú vị tới xem công việc đào bới tiến hành ra sao.
- Chúng cứ quanh quẩn nơi chúng ta làm như muốn khoe với công nhân và lái xe là chính chúng đã bắn chết những tên lính gác, ông linh mục nói. Ông có để ý, trong số đó, có một lão già râu dài, đeo một khẩu súng ngắn to sụ ở thắt lưng, dáng điệu nghiêm trang, sáng nào cũng đến đây dạo chơi giữa đám công nhân không?
Viên tướng sa sầm nét mặt.
- Có phải cái lão có hai ba huân chương đính trên ngực và đi đứng vênh váo không?
- Đúng đấy.
- Tôi có để ý tới lão ta. Anh cán bộ cho tôi biết là con trai lão đã bị quân ta giết chết.
- Thế à?
- Lão có vẻ già lắm nhỉ. Hình như khi biết chúng ta đến đây, lão liền đeo ngay huân chương vào, giắt khẩu súng ngắn vào thắt lưng và đến đây lượn quanh. Và bây giờ ngày nào lão cũng diễn đi diễn lại cái trò đó.
- Ngay cả các công nhân người Albania cũng không thoát khỏi cái nhìn khinh miệt của lão. Hôm qua lão cũng chẳng thèm trả lời anh cán bộ khi anh này hỏi lão một tin gì đấy.
- Đó là một lão già cuồng tín. Có lẽ lão coi anh cán bộ và công nhân như là đồng minh của ta.
- Không phải chỉ có lão lượn đi lượn lại chỗ ta làm việc, ông linh mục nói.
- Chúng làm tôi khó chịu lắm, viên tướng nói, nhưng không có tên nào gai mắt tôi hơn cái lão già này với khẩu súng ngắn cổ từ hơn một thế kỷ nay giắt ở thắt lưng.
Ông linh mục húng hắng ho.
- Điều mà tôi rõ, viên tướng nói, giọng tâm sự, là ta phải đề phòng mọi sự bất trắc. Tôi rất ngại cái loại người mắc bệnh tâm thần này. Ai biết được, chúng có thể lên cơn, vớ lấy súng của chúng và bắn ta giữa ban ngày.
- Rất có thể lắm, ông linh mục đáp. Mọi chuyện có thể xảy ra với một tên gàn dở như tên này. Ta phải thận trọng.
Tiếng sấm lại gầm lên trong những hẻm núi xung quanh.
Viên tướng châm một điếu thuốc lá.
- Tôi thấy ít nhiều có thể hiểu được sự quan tâm của dân làng đối với công việc bốc mộ của ta, viên tướng nói. Một người lính đã canh gác cầu này có kể cho tôi nghe, trước khi tôi lên đường, một giai đoạn của thời kỳ chiến tranh. Khi nãy ngồi ở đằng kia, tôi đã nhớ đến những lời của hắn, có lẽ đến mười lần.
- Chúng ta đã gợi lại những năm chiến tranh trong đầu óc họ.
- Cái đó tất nhiên thôi. Cái xóm nhỏ bé này, trong thời kỳ chiến tranh, đã thấy vận mệnh của nó gắn liền với chiếc cầu. Ở ngay bên cầu đó là một tai họa. Cầu bị phá, các đơn vị của ta đã trừng trị ác liệt và đã gây ra một cuộc tàn sát. Không có chiếc cầu, cuộc sống trong cái làng hẻo lánh biệt lập này có lẽ sẽ tiếp tục trôi đi thanh bình và những cơn lốc của chiến tranh sẽ không đụng chạm gì tới họ. Đúng thế, nhưng ở đó lại có chiếc cầu và nó đã là nguyên nhân gây ra mọi chuyện. Vậy mà giờ đây chúng ta bất chợt tới, đi tìm kiếm hài cốt của binh lính ta. Điều đó tất nhiên gợi cho họ vô số kỷ niệm và họ không thể bàng quan với sự việc đang diễn ra trước mắt họ được. Họ lượn đi lượn lại xung quanh nơi ta làm, đến mua thuốc lá ở quán, và có lẽ chính cái quán này, hơn bất cứ cái gì khác, đã tạo lại cho họ cái không khí của những năm đó, vì sau hơn hai mươi năm bỏ hoang, cái quán lại được mở nhân dịp chúng ta đến.
- Lạ thật, vị linh mục nói. Tôi đã không nghĩ đến điều đó.
Đã đến giờ ăn trưa và cánh thợ đấu nghỉ tay. Anh cán bộ chuyện trò một lúc với người công nhân già trước khi đến gặp viên tướng để nói:
- Có hai ngôi mộ bị vùi dưới những khối bê tông lớn.
- Thế ta làm thế nào?
- Phải cho nổ mìn những khối bê tông đó.
- Được, nhưng ta có thuốc nổ không?
- Không, mai ta phải đi mua ở thị trấn gần đây nhất.
Mọi người đi ăn trưa.
Buổi chiều trời mưa. Công nhân tập họp trong căn nhà lạnh lẽo, khói um, nhìn mưa phùn rơi.
❀ ❀ ❀
[1] Tên viết tắt công ty địa phương phụ trách các quán ăn; tiệm rượu, cửa hàng bánh v.v..