Viên Tướng Của Đạo Quân Chết

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XXII

❊ ❊ ❊

HAI ngày qua đi. Hôm nay là ngày cuối cùng của họ ở Albania. Viên tướng ngủ dậy muộn. Ông mở các cửa sổ. Trời buổi sáng âm u.

«Sắp mười giờ rồi, ông tự nhủ. Ta phải đi lấy vé ở công ty hàng không. Lễ missa sẽ tiến hành vào mười một giờ mười lăm và tiệc vào bốn giờ rưỡi thì phải. Trước mắt là một ngày căng đây».

Mặt tủ đêm của ông đầy một đống tướng thư từ, điện tín, báo chí nhận được từ nhà gửi sang.

Thư từ nhiều nhất. Hàng trăm cái, từ mọi miền nước ông. Chúng chứa đựng đủ mọi thứ chuyện, những giai đoạn chiến tranh và đôi khi lại có cả bản phác họa một ngọn đồi, một căn nhà, hay bản đồ đầy đủ của một làng do một cựu chiến binh nào vẽ lại.

Viên tướng ném các phong bì và thư vào sọt giấy và ra khỏi phòng. Ông thong thả bước xuống cầu thang, đi trên tấm thảm mềm của phòng lớn và tới bàn giấy nhờ người gác cửa gọi hộ người phụ trách tiếp tân của khách sạn. Một lát sau, người đó tới.

- Ông đã được báo trước là chúng tôi sẽ có một bữa tiệc nhỏ chiều nay chưa?

- Thưa ông, đã. Tất cả sẽ sẵn sàng vào bốn giờ rưỡi ở phòng khách số 3.

- Cảm ơn.

Viên tướng hỏi có ai thấy ông linh mục không. Người ta trả lời rằng ông ta đã ra phố.

Trong phòng lớn và trước các buồng giấy, rất tấp nập nhộn nhịp. Hai máy điện thoại không ngừng réo chuông và, trước các thang máy, nhiều người đứng chờ, vali để dưới chân. Vài người da đen ngồi trong những ghế bành lớn, một nhóm người Trung Quốc có hai thiếu nữ đi theo bước sang phòng ăn, và, trước tổng đài điện thoại, hai thiếu phụ tóc vàng, có vẻ là người nước Áo, đang đợi nói chuyện với Vienna.

Viên tướng bước vào phòng khách, nơi ông thường uống cà phê, nhưng không còn bàn nào trống. Suốt thời gian ông ở khách sạn này, đây là lần đầu ông thấy đông khách nước ngoài đến thế.

Ông quay trở lại, định ra phố và tại phòng lớn, bắt gặp những người Phi châu khác vào qua cửa lớn, tay xách vali. Bên ngoài, dưới những cây thông cao, có nhiều xe đỗ.

«Tại sao tấp nập thế này nhỉ?», ông vừa tự hỏi vừa xuống bậc tam cấp. Ông rẽ sang phải và đi ngược đại lộ về phía các Bộ.

Đến quảng trường Skanderburg, ông trông thấy cờ cắm chung quanh cái công viên nhỏ, phấp phới trước gió. Trên các trụ cao, mặt nhà các bộ và các cột của Cung Văn hóa, có treo đèn và những băng khẩu hiệu.

«A, phải rồi! Ngày kia là quốc khánh của họ, mình hầu quên mất».

Các bờ hè chật ních khách đi chơi. Đám đông, như thường lệ, tụ tập trước những áp phích quảng cáo chiếu bóng, dán một dãy dài trước cột đồng hồ. Ông nhìn thoáng qua các áp phích và óc để đâu đâu, mới đi quá hai bước, ông đã quên tên các phim rồi.

Ông nhìn đồng hồ. Đã mười một giờ.

«Sau lễ missa, ta sẽ lấy vé», ông tự nhủ, và rẽ sang trái. Trước ngân hàng, ngay sau tiệm cà phê «Studenti», chỗ bến ô tô buýt, xúm xít một đám đông khách đi xe. Đây là ga chót của các đường phục vụ nhà máy liên hợp dệt, các xưởng phim, ngoại ô Laprakë và ngoại thành thủ đô. Chỗ này bao giờ cũng đông, nhưng hôm ấy người tụ tập còn đông hơn ngày thường, không thể nào đi một bước mà không đụng phải ai. Nhà thờ, nơi sắp làm lễ Siêu độ, ở xa quá một bến xe nữa, và viên tướng quyết định đi bộ nốt quãng đường còn lại. Ông thủng thỉnh trên hè giữa, vừa đi bụng vẫn còn nghĩ đến chuyện hài cốt của viên đại tá.

«Ta đã hành động hấp tấp. Quái thật, ta đã hành động không suy nghĩ».

Ông không nhớ rõ sự việc đã xảy ra như thế nào. Ông chỉ nhớ là ông đang lúc buồn bực và như đãng trí. Ông đã cảm thấy như có một gánh nặng to lớn đè nặng trĩu tâm hồn. Và bây giờ, nghĩ lại, ông thấy cử chỉ của ông hoàn toàn là điên rồ.

Dù sao đi nữa, cũng phải có cách gì sửa chữa việc này. Ông sẽ bàn với ông linh mục ngay tối nay. Có vô khối tên lính cao một thước tám mươi, chiều cao của viên đại tá. Còn về răng thì thu xếp cũng dễ thôi. Và ai dám ngờ rằng di hài của viên đại tá đã bị đánh tráo? Chẳng có ai.

Rồi ông cố nhớ lại những tên lính khác cùng chiều cao với đại tá Z nhưng không nhớ ra. Mỗi lần, trong khi đào bới, nghe thấy anh cán bộ xướng to lên «một thước tám mươi hai» là ông lại nghĩ ngay: «Như đại tá Z». Nhưng lúc này ông không nhớ ra được một tên nào hết.

Ông chỉ nhớ có tên lái máy bay người Anh nọ mà họ đã tình cờ đào được dưới vết bánh xe một con đường làng, để rồi lại chôn xuống ngay tại chỗ đã tìm thấy.

Rồi ông nhớ đến tên lính viết nhật ký. Hắn đo đúng một thước tám mươi hai. Ông vẩn vơ nghĩ nếu đem di hài hắn đánh tráo vào di hài viên đại tá thì sự thể sẽ ra sao. Ông hình dung sự đón tiếp của gia đình và tất cả những người thân thích của viên đại tá sẽ dành cho di hài người lính thường ấy, tang lễ lớn lao và đám ma long trọng. Betty, mặc đại tang, vừa khóc vừa đỡ cánh tay bà mẹ già của viên đại tá, và bà lúc nào cũng chỉ nói về con trai mình với tất cả mọi người chung quanh. Rồi hài cốt của anh lính khốn khổ kia sẽ được đem tới ngôi mộ tráng lệ của kẻ đã giết anh ta, chuông nhà thờ sẽ đánh vang lên, một ông tướng sẽ đọc diễn văn và mọi chuyện sẽ là một sự lăng nhục đối với thiên nhiên, mọi chuyện sẽ chỉ là nhơ nhuốc, bịp bợm và sàm báng. Và nếu quả thực có hồn ma và vong linh thì hẳn anh lính kia ngay từ đêm ấy sẽ đứng lên, bước ra khỏi mộ.

«Không!» viên tướng tự nhủ. Nên tìm một người khác thì hơn. Chắc chắn phải có người. Viên tướng rảo bước. Chỉ còn hai phút nữa là đến giờ làm lễ. Ông đã trông thấy nhà thờ, một công trình kiến trúc đẹp kiểu mới hầu như kề sát đường phố. Trước cái thềm nhỏ, dọc vỉa hè, sắp hàng một dãy xe sang trọng nhãn hiệu khác nhau.

«Các vị trong ngoại giao đoàn!» viên tướng tự bảo; ông bước nhanh lên các bậc đá cẩm thạch. Lễ missa vừa mới bắt đầu khi ông bước vào nhà thờ. Ông nhúng ngón tay vào bình nước phép ở phía tay phải, làm dấu rồi đến ngồi vào một bên. Ông chăm chú nhìn ông linh mục, nghe ông ta nói nhưng hầu như không hiểu gì hết. Ông chỉ nhìn thấy những bức rèm đen treo tứ phía như thường lệ vào những dịp như thế này, và, trước ban đồng ca, cái áo quan rỗng cũng phủ một tấm màn đen. Các bức rèm và quần áo đen của những người có mặt hút hết ánh sáng nhợt nhạt của những cây sáp và, vì các cửa sổ trổ rất cao, các ô kính màu chỉ để lọt qua một ánh sáng yếu ớt, nhà thờ nom càng âm u và lạnh lẽo hơn.

Ông linh mục cầu kinh siêu độ linh hồn các tử sĩ. Vì thiếu ngủ, mặt ông càng thêm xanh xao, cặp mắt ông có vẻ mệt mỏi, bứt rứt. Các nhà ngoại giao chăm chú, lắng nghe, nét mặt cứng nhắc, trang nghiêm, và, lẫn vào mùi nến sáp, một hương thơm nhè nhẹ phảng phất trong nhà thờ.

Trước mặt viên tướng, một người đàn bà lặng lẽ khóc. Viên tướng nhận ra bà ta, tự nhủ: «Vợ một viên chức của sứ quán ta».

Tiếng nói của ông linh mục vọng tới bốn góc nhà thờ, vang vang trịnh trọng.

«Requiem aeternam donat eis!»[1]

Người đàn bà càng nức nở, rút mùi xoa trong ví tay ra.

«Et lux perpetua luceat eis!»[2] ông linh mục vừa đọc tiếp vừa ngẩng nhìn lên tượng Chúa Jesus trên cây thập tự. Rồi tiếng ông vang lên càng sâu sắc hơn, trịnh trọng hơn:

«Requiescant in pace!»[3] và tiếng ông vang lên ở khắp mọi góc nhà thờ.

«Amen!» viên trợ tế đáp.

Trong vài giây, viên tướng tưởng như nghe thấy các cây sáp đang cháy khẽ xèo xèo.

«Cầu cho họ được yên nghỉ!» ông nhắc lại, và một xúc động đột ngột xâm nhập lòng ông.

Rồi trước cử tọa đang quỳ, ông linh mục nâng bánh thánh lên trước, rồi đến cốc rượu tế, và sau đó bắt đầu ăn bánh và uống rượu vang để cầu cho linh hồn họ được cứu rỗi. Viên tướng đột nhiên tưởng như trông thấy tất cả hàng ngàn, hàng vạn những người lính chết, tay cầm gamelle bằng nhôm, đứng nối đuôi nhau đợi lĩnh bữa súp tối, trước cái nồi lớn nấu đậu, vào giờ ánh chiều tà thoi thóp làm những chiếc gamelle và mũ thép loang loáng những ánh đỏ rực, vĩnh cửu.

«Và cầu cho ánh sáng vĩnh cửu hằng soi sáng họ!» ông vừa lẩm nhẩm nhắc lại sau khi đã quỳ xuống, vừa cúi nhìn nền nhà lát đá hoa, con mắt u sầu, ngơ ngác.

Chuông rung lên, mọi người đứng dậy.

«Ite missa est!»[4] tiếng ông linh mục vang lên.

«Deo gratias!»[5] viên phụ tế nói thêm.

Mọi người đi ra cửa. Từ trong nhà thờ đã nghe thấy tiếng máy ô tô phát động vo vo, và khi viên tướng bước qua cửa chính, xe các nhà ngoại giao đã chuyển bánh chiếc nọ nối tiếp chiếc kia. Ông đi ra đợi xe buýt ở bến xe ngay trước nhà thờ. Lên xe rồi, ông đứng ở cuối xe, gần tấm kính lớn phía sau.

- Đồng bào mua vé, cô bán vé gọi.

Ông hiểu tiếng «vé» và nhớ ra mình phải mua vé. Ông thọc tay vào túi, rút ra một tờ giấy một trăm lek.

- Ông không có tiền lẻ à?

Ông đoán ra câu hỏi thì đúng hơn là hiểu và lắc đầu.

- Hết ba lek, cô bán vé vừa nói vừa ra hiệu cho ông bằng ngón tay. Ông không có ba lek lẻ à?

Viên tướng lại lắc đầu ra hiệu không có.

- Ông ta là người nước ngoài, đồng chí ạ, một thanh niên giọng từ tốn nói với cô bán vé.

- Tôi đã ngờ ngợ thế, cô này đáp, và cô đếm tiền để trả lại tiền lẻ.

- Chắc là một người Albania ở bên Mỹ về, một ông già ngồi gần cô bán vé nói xen vào. Có những người đã quên mất cả tiếng mẹ đẻ.

- Không, bố ạ, ông ta là người nước ngoài, cháu chắc thế, anh thanh niên nói từ tốn, nhấn thêm.

- Tôi nói thì anh hãy nên nghe, ông già khăng khăng, tôi chỉ thoáng nhìn là nhận ra họ ngay, đây là một người trong bọn ấy đấy.

Viên tướng đoán người ta đang nói về mình và tưởng người ta lầm mình là người Mỹ.

«Họ muốn cho mình là người nước nào cũng được», ông tự nhủ.

Xe buýt đỗ trước Ngân hàng quốc gia và các hành khách đang lục đục xuống thì ông lại bắt gặp cái nhìn của ông già.

«All right!» ông già vừa nói vừa mỉm cười ra vẻ mãn nguyện, trước khi đi khỏi.

Viên tướng lách tìm lối đi giữa những người dân quê đợi ô tô buýt đi Kamëz và Yzberisht, và ra đại lộ. Đến công ty hàng không, ông không phải đợi. Ông lấy vé xong ngay, bỏ vé vào túi và đi ra.

Ở phố Dibër, người rất đông trên các vỉa hè, nhất là trước các cửa hàng hoa quả đầu năm, các cửa hàng ăn sáng và cửa hàng Bách hóa Nhân dân. Đi qua các cửa hàng này, ông nẩy ra ý mua một vật kỷ niệm.

Ông dừng chân nhìn các tủ kính, rồi bước vào. Vô số đồ bày chơi được trưng trên các giá hàng, và ông lần lượt nhìn từng cái một không vội vã. Xưa nay ông vẫn ưa thích những vật nho nhỏ đặc biệt ấy.

«Quân lính của ta trước đây rời Albania thường chọn gì làm vật kỷ niệm nhỉ? Ông tự hỏi. Ra nước ngoài, tất cả bọn họ hầu như bao giờ cũng mua thứ đồ bày chơi giống nhau. Các bức điện của họ cũng giống nhau. Đại khái các thư của họ cũng thế».

Bất thình lình, con quỷ nhỏ lại đánh trống trong đầu ông trước còn thong thả, rồi mỗi lúc một nhanh hơn, gấp hơn, dồn dập hơn. Duy có điều bây giờ nó không ngồi xổm trong đầu ông nữa, mà nó đứng thẳng, trắng, đen, và bóng nhẫy trong chiếc áo dài đỏ viền đen, đầu đội một cái mũ không vành. Và đồng thời nó cũng đứng trong tủ kính kia mà đánh trống, toàn bằng sứ bóng loáng, và viên tướng nhìn nó chằm chằm, không sao rứt ra được.

Ông giơ ngón tay chỉ vào nó.

- Người miền núi đánh trống kia à? Cô bán hàng hỏi.

Viên tướng tuy không hiểu cũng cứ gật đầu.

Cô gái lấy cái tượng nhỏ trong tủ kính ra, gói lại, và đưa cho ông:

- Thưa ông, hết mười tám lek hai mươi.

Ông trả tiền, rồi quay ra, đi về hướng phố Chiến lũy.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Latin: cầu cho họ được yên nghỉ muôn đời.

[2] Cầu cho ánh sáng vĩnh cửu hằng soi sáng họ.

[3] Cầu cho họ được yên nghỉ.

[4] Lễ tất.

[5] Ơn Chúa.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.