Vật Hiến Tế Của Thám Tử Lừng Danh

Lượt đọc: 193 | 2 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày thứ ba: Ngày 17 tháng 11 năm 1978

❊ ❊ ❊

Khu rừng mưa chìm trong màn sương trắng đục.

Mỗi bước chân tiến về phía trước, đế đôi ủng cao su lại lún sâu xuống lớp bùn nhão.

Có lẽ vì cơn mưa vừa dứt không lâu nên gần như không nghe thấy tiếng côn trùng hay chim chóc.

Lúc này, có lẽ chỉ còn một mình Louise Lesner đang thức giữa khu rừng.

Đi được khoảng mười lăm phút, Louise tìm thấy một cây cecropia thấp.

Ở vị trí cao hơn đầu cô một chút, cành cây lớn tách thành hình chữ Y.

Louise tháo cuộn dây cáp thép rồi vắt nó lên chỗ phân nhánh ấy.

Khi định quấn dây quanh cổ, cô nhận ra đoạn dây buông xuống quá dài.

Nếu thế thì sẽ không thể treo toàn bộ trọng lượng cơ thể.

Đảo mắt nhìn quanh, cô thấy cách đó khoảng một mét có một cây kapok.

Louise móc đầu dây từ cây cecropia sang cành cây kapok.

Độ dài còn lại vừa khít.

Sau khi kéo mạnh để xác nhận cành cây sẽ không gãy, cô quấn sợi cáp quanh cổ.

Dựa lưng vào thân cây, hít một hơi thật sâu rồi từ từ thả lỏng toàn thân.

Tầm nhìn lắc lư như một con lắc rồi nhanh chóng đứng yên.

Sợi cáp ráp sần siết chặt cổ họng.

Đầu óc nóng bừng, tay chân run rẩy.

Cảm giác ngạt thở dần tan vào một thứ khoái cảm ngọt ngào.

Mình đã đi sai từ lúc nào?

Là vì đã đến Jordentown sao?

Nhưng nếu vẫn ở lại Texas, cả mình lẫn Sydney hẳn còn có kết cục bi thảm hơn.

Louise sinh ra trong một khu dân cư toàn người da đen ở vùng ven thị trấn Marysville, bang Texas.

Mùa xuân năm mười chín tuổi, cô kết hôn.

Suốt bảy năm sau đó, cô làm việc tại tiệm sửa giày của chồng.

Họ có một cô con gái và sống một cuộc đời tuy giản dị nhưng hạnh phúc.

Thế nhưng hai năm trước, chồng cô bị cảnh sát quận bắt giữ.

Ông bị buộc tội đã đưa một thiếu nữ da trắng vào sân chơi bowling lúc nửa đêm để cưỡng hiếp, rồi bóp cổ giết cô bé vì bị chống cự.

Ban đầu, Louise không quá xem trọng sự việc.

Cô vốn đã quen với những trò gây khó dễ của cảnh sát da trắng.

Hơn nữa, vào thời điểm cô gái bị sát hại, chồng cô vẫn đang ở xưởng phía sau cửa hàng cùng Louise.

Không có bằng chứng thì không thể bị truy tố. Cô từng tin chắc như vậy.

Ba tháng sau, chồng cô ngồi trên ghế bị cáo tại tòa án bang.

Một nhân chứng xuất hiện, khai rằng đã tận mắt nhìn thấy ông tấn công cô gái.

Người này là một thủ lĩnh của tổ chức thượng đẳng da trắng, vốn đang bị giam vì tội hành hung.

Hắn đạt được thỏa thuận với công tố viên: đổi lấy lời khai chống lại chồng Louise, hắn được giảm án đáng kể.

Louise chỉ biết chuyện đó sau khi chồng mình bị tuyên có tội giết người cấp độ một và treo cổ tự sát trong phòng giam dành cho tử tù.

Suốt một năm sau đó, Louise sống như đang xem một vở bi kịch phi lý rẻ tiền.

Để nuôi con, cô vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng trong lòng chỉ còn lại sự trống rỗng.

Nếu chồng cô bị một tên ác ôn nào đó giết, có lẽ cô còn có thể xoa dịu nỗi đau bằng cách căm hận hắn. Nhưng thứ đã giết chồng cô lại chính là hệ thống của đất nước này - thứ mà Louise hoàn toàn bất lực.

Chính Giáo hội Nhân dân đã kéo Louise ra khỏi những ngày tháng ấy.

Cuối năm 1977, trong chương trình đặc biệt tổng kết năm của ABC News, Louise biết đến một người đàn ông tên Jim Jorden.

"Kinh Thánh dạy rằng hãy yêu thương người lân cận. Thế nhưng người da trắng ở đất nước này lại khinh rẻ người nghèo và gạt người da đen sang một bên. Các bạn không thấy điều đó thật nực cười sao?"

Jim nói như đang trực tiếp trò chuyện với Louise qua màn hình tivi.

Khi ấy ông ta đang trả lời phỏng vấn tại nhà ga sân bay quốc tế Kennedy.

"Ở Jordentown không tồn tại chủng tộc, giai cấp, thậm chí cả tài sản. Có một nơi mà bạn có thể sống đúng là chính mình."

Người đàn ông nói xong câu ấy rồi rời nước Mỹ.

Ông ta dường như căm ghét đúng những điều mà Louise căm ghét và đang cố chống lại chúng.

Louise làm thủ tục gia nhập giáo hội tại San Francisco, bán rẻ căn nhà ở Marysville rồi đưa con gái Sydney vượt biển Caribê.

Khi đến Jordentown, cô được cư dân chào đón nồng nhiệt. Louise được phân vào Bộ Nội vụ, phụ trách sửa giày dép và quần áo. Nhưng càng hiểu cuộc sống của cư dân nơi đây, cô càng cảm thấy bất ổn.

Những người đổ mồ hôi ngoài đồng toàn là người da đen. Thế nhưng những lãnh đạo sống trong phòng rộng rãi lại chỉ toàn người da trắng. Chẳng khác nào một đồn điền trước thời Nội chiến. Jim Jorden, người từng hùng hồn phản đối phân biệt chủng tộc ở sân bay, thật sự nghĩ gì về chuyện này?

Thế nhưng điều khiến Louise dao động hơn cả là phần lớn thời gian sống ở Jordentown, cô phải xa con gái Sydney.

Bọn trẻ sống tập trung tại khu nhà riêng dành cho trẻ em, tách biệt với người lớn.

Không chỉ lúc làm việc, ngay cả giờ ăn hay trước khi đi ngủ cô cũng không thể gặp con.

Muốn nhìn thấy Sydney, cô phải kết thúc công việc sớm rồi đến khu vực gần trường, nơi bọn trẻ chơi trước bữa tối.

Khoảng hai tuần sau khi chuyển đến Jordentown, vào một buổi chiều nọ, Louise cũng kết thúc sớm việc thay đế giày lao động rồi đi tìm Sydney quanh trường học.

Tình cờ nhìn qua cửa sổ lớp học, cô thấy một người lớn và một đứa trẻ đang ngồi đối diện nhau.

Cô tưởng đứa bé bị phạt ở lại lớp. Nhưng khi đến gần, cô nghe thấy tiếng cười vọng ra.

Có vẻ thầy giáo đang cùng bọn trẻ chơi trò "giả làm giờ học".

Ngay lúc tiến sát cửa sổ, ánh mắt cô chạm phải người đàn ông đang chơi với bọn trẻ.

"W, đợi một chút nhé."

Người đàn ông quay sang nói với đứa trẻ.

"Có chuyện gì vậy, thầy Hiệu trưởng?"

"Thầy ra nói chuyện một lát nhé. Em nghỉ giải lao năm phút được không?"

Đứa trẻ chạy khỏi lớp, lao về phía những đứa khác. Người đàn ông nhìn theo rồi bước đến chỗ Louise.

"Cách bọn trẻ gọi ông cũng thú vị thật."

"Tôi muốn các em cảm thấy gần gũi nên cho phép gọi tùy thích. Tôi là Ray Morton, hiệu trưởng."

Ông đặt tay lên ngực tự giới thiệu.

"Thật sự gọi thế nào ông cũng không giận sao?"

"Đúng vậy. Dĩ nhiên lúc bị gọi là 'Ông Bí Ngô Ngốc Nghếch' thì tôi cũng nổi cáu đấy. Nhưng phần lớn bọn trẻ đều gọi đơn giản như cậu bé lúc nãy."

Nói xong, ông nhìn quanh quảng trường trước trường rồi hạ thấp giọng.

"Cô Louise, xin đừng giận, nhưng việc cô đang làm không được hoan nghênh ở đây. Tôi hiểu cô yêu con mình. Nhưng mong cô hãy cố nhẫn nhịn."

Bị một người mới gặp lần đầu nói như vậy, Louise không khỏi phản ứng.

"Tại sao tôi lại không được đến gặp con mình?"

"Vì Giáo phụ không mong muốn điều đó."

Câu trả lời ấy hoàn toàn không thể khiến cô chấp nhận. Sau đó, Louise vẫn tiếp tục đến gặp Sydney. Nhiều lần, những người đàn ông có vẻ là lãnh đạo đến nhắc nhở cô. Dù vậy, Louise vẫn cố chấp tìm gặp con gái. Các tín đồ bắt đầu nhìn cô bằng ánh mắt lạnh nhạt.

Khoảng hai tuần sau nữa. Một đêm mùa hè oi bức.

"Tổ chức họp khẩn cấp.

Tất cả những người con hãy tập trung tại nhà hội trường."

Giọng Jim vang lên từ những chiếc loa đặt khắp khu định cư.

Nếu tất cả đều tập trung, biết đâu mình cũng sẽ gặp Sydney.

Mang theo chút hy vọng mong manh, Louise chạy đến nhà hội trường.

"Louise Lesner đâu?"

Jim được Bộ trưởng Nội vụ dìu lên sân khấu rồi đột ngột cất tiếng.

Các tín đồ nhìn quanh tìm kiếm. Một người phụ nữ trong tổ nấu ăn kêu lên:

"Ở kia!" Rồi chỉ về phía Louise.

Làn sóng chú ý lan khắp đám đông. Mọi người đều quay sang nhìn cô.

Louise còn đang đứng chết lặng thì một nhân viên an ninh đã nắm cổ tay cô, kéo lên trước sân khấu.

"Người sống trong khu định cư này đều là con của Chúa và là gia đình của ta."

Giọng Jim, không qua micro, khàn đặc hơn Louise tưởng.

"Thế nhưng Louise Lesner ngu xuẩn và kiêu ngạo lại tưởng rằng chỉ mình và con gái mình là đặc biệt."

Trong vài giây, Louise không hiểu ông ta đang nói gì.

Jim quay sang hỏi một tín đồ đứng gần sân khấu:

"Anh nghĩ gì về người phụ nữ này?"

"Đồ vô ơn."

"Con của quỷ."

"Con thú xấu xí."

"Kẻ sinh ra đã mang tội."

Các tín đồ thay nhau mắng chửi Louise.

Vừa khóc, Louise vừa sám hối trước Jim. Cô hứa từ nay sẽ tuân thủ quy định.

Sẽ không làm phiền mọi người nữa.

Sẽ thay đổi trái tim yếu đuối để được Giáo phụ công nhận.

Thế nhưng mỗi lần nhìn thấy Sydney trong khu định cư, lòng Louise lại dao động.

Cô đến Jordentown để đoạn tuyệt với xã hội đã cướp mất người chồng mình yêu thương.

Vậy tại sao ngay cả ở đây, cô vẫn phải xa con gái?

Đúng lúc Louise chìm trong đau khổ, một đoàn điều tra ba người xuất hiện tại Jordentown.

Jim nói họ là "những người nắm giữ vận mệnh của Giáo hội Nhân dân", đồng thời ra lệnh cho các tín đồ phải chăm chỉ hơn bình thường trước mặt họ.

Ba người ấy cùng ăn ở với cư dân, quan sát đời sống của họ rồi lần lượt gọi từng nhóm nhỏ vào phòng học E để phỏng vấn.

Louise không biết họ điều tra vì mục đích gì.

Khoảng hai tuần sau khi họ đến.

Ngày 15 tháng 11.

Bộ trưởng Nội vụ Peter gọi Louise và thông báo đến lượt cô được phỏng vấn.

Đúng giờ hẹn, cô đến phòng học E.

Không hiểu vì sao, đoàn điều tra lúc này đã có thêm một người đàn ông châu Á, thành bốn người.

Do Peter cũng có mặt nên Louise chỉ trả lời những điều vô thưởng vô phạt.

Hai người còn lại thì say sưa ca ngợi sự tuyệt vời của Giáo hội Nhân dân.

Dù nhiều điều họ nói nghe rất nực cười đối với người ngoài, cả bốn thành viên đoàn điều tra vẫn lắng nghe rất nghiêm túc.

Sau buổi phỏng vấn, khi chuẩn bị quay về nơi làm việc ở Nam-25, Louise nhìn thấy bọn trẻ đang chơi trong nhà ăn.

Hiệu trưởng Ray Morton đang pha nước trái cây bằng một loại bột màu tím.

Những đứa trẻ nhỏ tuổi chăm chú nhìn ông. Sydney hẳn cũng ở trong số đó.

Louise không thể công khai đến gần con trước mặt mọi người.

Cô quyết định đi vòng ra ngoài khu định cư.

Bước qua một sợi cáp thép, cô tiến vào khu rừng tối tăm, tránh những tàu dương xỉ cong vút và các rễ khí sinh buông như sợi chỉ, tiếp tục đi về phía nam.

Khoảng hai mươi phút sau, đúng lúc định quay lại khu định cư, Louise bất ngờ bắt gặp một cuộc gặp bí mật. Hai thành viên đoàn điều tra, có lẽ vừa trở về sớm, đang nói chuyện với một người luật sư giữa khu rừng.

"Chậm nhất là ngày mai, Jim Jorden sẽ cho các anh về nước."

Người luật sư vừa nói vừa đắc ý nhả khói thuốc.

Hóa ra họ bí mật thông đồng với nhau. Nếu bị phát hiện nghe lén, cô không biết họ sẽ làm gì. Cô muốn lập tức rời đi, nhưng đôi chân như mọc rễ.

Đúng lúc ấy, một ý nghĩ khiến chính Louise cũng kinh ngạc hiện lên.

Nếu họ sắp trở về nước trong vài ngày tới...

Liệu họ có thể đưa cả Louise và Sydney đi cùng không?

Jim căm ghét những kẻ rời bỏ giáo hội, luôn gọi họ là kẻ phản bội và lặp đi lặp lại rằng họ sẽ phải chịu thần phạt khủng khiếp.

Nếu Louise một mình xin rời đi, chắc chắn sẽ không được chấp nhận.

Nhưng nếu có đoàn điều tra đứng về phía mình thì sao?

Qua buổi phỏng vấn, họ dường như có vị thế ngang hàng với Jim.

Nếu họ giúp mình...

Biết đâu cô có thể rời khỏi nơi này.

Đêm hôm ấy, Louise chặn một thành viên đoàn điều tra vừa đến nhà vệ sinh rồi trao cho anh một mẩu giấy ghi:

"Xin hãy đưa chúng tôi rời khỏi nơi này."

Ngày hôm sau, điều khủng khiếp xảy ra.

Người luật sư và một nữ thành viên đoàn điều tra lần lượt chết.

Louise không được biết chi tiết, chỉ nghe nói cả hai đều bị giết bằng phương pháp không thể giải thích theo lẽ thường.

Toàn thân Louise run không ngừng. Chắc chắn họ đã đọc lá thư ấy rồi tìm cách cứu cô. Và vì thế họ phải chịu thần phạt. Không phải lỗi của ai khác.

Chính vì Louise mà những người vô tội mất mạng.

"Đồ vô ơn."

"Con của quỷ."

"Con thú xấu xí."

"Kẻ sinh ra đã mang tội."

Trong nhà ăn.

Trong nơi làm việc.

Trên giường ngủ.

Vô số lời nói ấy không ngừng giày vò Louise.

Người đáng phải chịu trừng phạt thật sự là ai?

Đáp án quá rõ ràng.

Rạng sáng hôm sau, trước khi mặt trời mọc, Louise rời khỏi khu nhà ở.

Cô lấy một cuộn dây cáp thép trong kho dụng cụ ngoài cánh đồng rồi sau hai ngày lại bước vào khu rừng. Nghĩ đến việc phải bỏ Sydney lại, tim cô đau nhói.

Nhưng nơi này còn có Giáo phụ. Chỉ cần Sydney tuân theo lời dạy và cố gắng, một ngày nào đó ông ấy sẽ đưa con bé lên thiên đường.

Louise treo sợi cáp lên cành cây rồi thắt cổ tự tử...

Rắc!

Một tiếng gãy như tấm ván bị bẻ đôi vang lên.

Ngay sau đó, cô cảm thấy đau nhói ở thắt lưng và sau đầu.

Mở mắt ra, cô thấy bầu trời ánh lên màu tím.

Bên dưới cơ thể là lớp lá khô dày.

Có lẽ cành cây cecropia hoặc cây kapok đã gãy.

Đưa tay lên cổ, cô thấy sợi cáp đang buông thõng như dây dắt chó. Louise chống tay đứng dậy.

Một dòng chất lỏng ấm nóng chảy từ đùi xuống mắt cá chân. Quần lót dính chặt vào háng.

"...Tại sao mình lại thành ra thế này?"

Nếu bị người khác bắt gặp mình vừa tè dầm vừa đi lang thang trong rừng, họ lại sẽ mắng chửi cô.

Phải chết trước khi cư dân thức dậy. Nhưng treo cổ cũng không thành công...

Vậy còn cách nào đây?

Xung quanh không có con sông nào đủ sâu để nhảy xuống, cũng chẳng có vách đá đủ cao.

Hay tìm một cành cây nhọn, hoặc nấm độc...

Đúng lúc ấy, Louise chợt vỗ mạnh vào đầu gối.

Độc.

Jordentown có chất độc.

Để phòng trường hợp có kẻ phản bội xâm nhập, Giáo phụ cất giữ kali xyanua trong nhà kho.

Nếu một kẻ phản bội như cô uống nó... Chắc chắn sẽ chết.

Louise cứ để sợi cáp lủng lẳng trên cổ, bước ra khỏi khu rừng.

Sau khi xác nhận trong khu định cư chưa có ai, cô vội vã đi về phía nhà kho.

Băng qua khu dân cư còn chìm trong giấc ngủ.

Đến trước nhà hội trường rồi rẽ trái.

Đột nhiên, một mùi hôi nồng nặc xộc vào mũi.

Nó khiến cô nhớ đến lò mổ cách nơi làm việc ở Marysville năm phút đi bộ.

Bị cảm giác hoài niệm kỳ lạ ấy kéo lại, Louise nhìn vào nhà hội trường.

"Á... á..."

Không biết từ lúc nào, hai chân cô đã khuỵu xuống.

Ruột gan như lộn nhào. Axit dạ dày dâng lên tận cổ.

Bục diễn thuyết trên sân khấu đã bị lật đổ.

Trên đó đặt một xác chết trông như xác động vật.

Phần bụng bị cắt ngang. Ruột gan trào ra ngoài.

Trông như một con quái vật há miệng nôn mửa.

Phía sau còn có nửa cơ thể còn lại đã bị chặt rời.

Cô nhìn thấy thứ giống một đôi giày thể thao rách nát.

"Nếu thay đế thì đi sẽ dễ hơn..."

Một ý nghĩ hoàn toàn lạc lõng thoáng qua.

Mãi đến lúc ấy Louise mới nhận ra đó là xác một con người.

Lại một thành viên đoàn điều tra nữa bị thần phạt.

Thi thể hẳn là một trong hai người đàn ông châu Á.

Chính vì cô trao lá thư ấy... Chúa mới định cướp đi sinh mạng của toàn bộ đoàn điều tra.

Két... Tiếng cửa khu nhà ở mở ra vang lên. Có lẽ ai đó đã thức giấc vì tiếng kêu của Louise.

Đây không phải lúc ngồi bệt ở đây. Phải đến nhà kho ngay.

Dù đầu óc hiểu rõ điều đó... Louise vẫn không thể đứng dậy.

1

"Bọn họ là ai vậy?" Một đám đông đang vây quanh nhà hội trường và nhà ăn.

Phần lớn là cư dân Jordentown, nhưng giữa họ có lẫn những người đàn ông ăn mặc sạch sẽ, rõ ràng mang một vẻ hoàn toàn khác. Một số người còn chĩa máy quay và micro về phía cư dân.

"Đó là các phóng viên do nghị sĩ Ryland dẫn theo, cùng những gia đình đang yêu cầu trả lại các tín đồ. Đây là lần đầu tiên có nhiều người không liên quan đến Giáo hội Nhân dân đến như vậy."

Q trả lời.

Khó có thể tin Jim đã đồng ý cho những người đi cùng vào, nên hẳn nghị sĩ Ryland đã cưỡng ép đưa họ theo.

Trước mặt các phóng viên và thân nhân tín đồ, những người thuộc đội an ninh cũng không thể tùy tiện nổ súng trường như ba ngày trước.

Otoya, Ririko và Q đã rời nhà giam đến Nam-30, đứng bên cửa sổ quan sát tình hình khu định cư.

"Thi thể của Lee được tìm thấy trên sân khấu nhà hội trường đúng không?"

"Vâng. Ba mươi phút trước khi những người kia đến, bác sĩ Schacht đã cho chuyển thi thể đi, còn đội an ninh rửa sạch máu."

Louise Lesner phát hiện thi thể vào khoảng 6 giờ sáng. Có lẽ từ lúc đó đến khi nghị sĩ Ryland tới, toàn bộ bọn họ đã đồng lòng che giấu vụ việc.

Thật ra Otoya muốn tận mắt đến xem hiện trường phát hiện thi thể, nhưng với thân phận tù vượt ngục, nếu lao thẳng vào đám đông kia thì chẳng khác nào tự chui đầu vào lửa.

Họ đợi khoảng một giờ để tình hình lắng xuống, nhưng đám đông hoàn toàn không có dấu hiệu giải tán.

"Thi thể được chuyển đến nghĩa trang đúng không?"

"Vâng. Chắc đang để trong căn nhà quản lý."

Nấp mãi cũng chẳng ích gì, nên cả ba quyết định đến xem thi thể.

Nghĩa trang nằm ở rìa phía bắc khu định cư, xa hơn cả Nhà của Cha.

Nếu đi xuyên qua khu định cư, chắc chắn sẽ bị phát hiện.

Ba người rời khu nhà, chạy nhanh về phía rừng rậm.

Họ len lỏi giữa những thân cây lớn phủ đầy dây leo và rêu, tiến qua khu rừng tối mờ.

Dù gọi là cây lớn, nhiều cây chỉ có lá ở tít trên cao, nên đường đi dễ hơn họ tưởng.

Đám ruồi to gần bằng ngón tay cái cứ bám theo khiến người ta phát cáu, nhưng xua mãi cũng không hết nên họ quyết định mặc kệ.

Khi đi vòng ra phía sau nhà trẻ, trường học và khu nhà lãnh đạo, một mùi như sau cơn mưa bắt đầu lan đến.

Độ ẩm dường như cũng ngày càng cao.

"Phía sau nghĩa trang có một vùng đầm lầy lớn. Khi gió thổi theo hướng này, hơi ẩm sẽ bay tới."

Q giải thích hệt như hướng dẫn viên du lịch.

Ngay sau đó, họ ra đến phía sau Nhà của Cha.

Tại ranh giới với rừng rậm có một khoảng đất bằng giống khu vườn, được bao quanh bởi hàng rào gỗ cao.

Bên cạnh là một căn nhà nhỏ.

"Chỗ được hàng rào bao quanh là nghĩa trang, còn tòa nhà nhỏ là nhà quản lý. Một người tên Sharon Clayton phụ trách ở đây."

Không hiểu sao khi nói vậy, Q lại nhăn mặt khó chịu.

"Em ghét người đó à?"

"Không. Chỉ là nếu bị phát hiện chơi trong nghĩa trang, bà ấy sẽ nổi giận lắm."

Một lý do rất trẻ con.

Q bảo hai người đợi trong rừng rồi một mình chui qua sợi cáp thép dùng thay hàng rào, chạy đến căn nhà.

Cậu ghé nhìn qua ô cửa sổ giống quầy đổi tiền ở cửa hàng pachinko.

Ngay sau đó, cậu quay lại giơ ngón cái tay phải.

Có vẻ người phụ nữ khó tính kia không có mặt.

Họ bước qua sợi cáp rồi đi đến căn nhà, mở cửa.

Một mùi thối khủng khiếp lập tức xộc thẳng vào mũi.

Vì nghề nghiệp, Otoya đã quen với mùi tử thi, nhưng độ đậm đặc của mùi trong căn phòng này vượt xa bình thường.

Cơn nổi da gà bất chợt hẳn không phải do luồng khí lạnh từ máy điều hòa.

Ông dùng tay áo che mũi và miệng rồi nhìn quanh.

Những chiếc giường tầng được xếp thành hình chữ U, bao quanh chiếc bàn sát cửa sổ.

Trên mỗi tầng đặt hai túi nylon đen.

"Xin phép."

Ririko nói bằng tiếng Nhật rồi kéo khóa một chiếc túi.

Túi thứ nhất là người đàn ông da trắng bị đâm sau lưng, Alfred Dent.

Túi thứ hai là người phụ nữ da trắng với khuôn mặt bê bết, Jody Randy.

Đến túi thứ ba, họ mới thấy người đàn ông châu Á đầy máu, Lee Hajun.

"Thật quá tàn nhẫn."

Sau khi xác nhận Q vẫn ở ngoài, Ririko mở rộng túi.

Lee đúng nghĩa đã bị chặt làm đôi.

Thân người bị cắt ngang tại vị trí thấp hơn mỏm ức vài centimet, phần lớn nội tạng trào ra từ hai mặt cắt.

Cơ thể vốn gầy giờ trông càng mỏng hơn.

Quan sát mặt cắt, họ thấy da bị xoắn và gợn sóng như tờ giấy dày bị xé bằng sức mạnh.

Có lẽ hung thủ đã cắm một lưỡi dao lớn vào rồi kéo qua kéo lại để cưỡng ép cắt đứt.

Phần cột sống bị gãy cũng có vô số vết thương, cho thấy một vật cứng đã được nện xuống nhiều lần để đập vỡ nó.

"Đây đúng là một công việc lớn."

Từ đầu đến chân, gần như mọi bộ phận đều nhuộm đỏ đen.

Máu thấm cả vào lót trong đôi giày thể thao, có lẽ vì chảy từ mặt cắt xuống theo chân.

Chỉ có đế giày còn giữ màu khác, do bùn dày bám kín.

"Thái dương có dấu vết bị đánh."

Ririko nghiêng đầu thi thể sang bên rồi nói.

Giữa mái tóc đông cứng vì máu, phía sau tai phải có một vết thương đỏ.

"Hung thủ đánh Lee bất tỉnh, dùng một lưỡi dao lớn và vật cùn chặt đôi thân người, rồi chuyển thi thể lên sân khấu nhà hội trường..."

Có thứ gì đó động đậy gần phần mông thi thể.

Otoya nắm eo, lật nửa thân dưới lại. Một con bọ đang bò giữa quần và mông.

Ông định dùng ngón tay búng nó đi thì nhận ra một vết sưng dài như giun trên mông.

"Vết thương này là gì?"

Ririko cúi xuống nhìn vào trong quần rồi nói:

"Có vẻ không phải vết mới. Anh Lee từng kể hai năm trước, khi tố cáo một vụ bạo hành của giáo hội, anh ấy bị cảnh sát địa phương tra tấn bằng dùi cui điện. Có lẽ đây là sẹo từ lúc đó."

Cô nói bằng giọng không chút lên xuống rồi kéo quần lên.

Dù đó hẳn là một sự hành hạ cực kỳ tàn nhẫn, so với mặt cắt có nội tạng trào ra, vết sẹo ấy lại trông thật nhỏ bé.

"Đến cả Jim Jorden chắc cũng khó mà gọi việc cơ thể bị chặt đôi là thần phạt."

"Đúng vậy. Quá tàn bạo để dùng làm màn phô diễn trước tín đồ."

"Nhưng có lẽ cũng chỉ là tàn bạo thôi. Không có điểm nào khó hiểu như hai người trước."

"Không, ông Otoya. Tỉnh táo lại đi."

Ririko ngẩng khỏi thi thể.

"Hung thủ chỉ có hai cách xâm nhập Nhà giam số Hai, nơi anh Lee bị nhốt.

Một là chui qua ô thông gió ở hành lang.

Hai là đi qua hành lang nối từ Nhà giam số Một.

Nhưng người trưởng thành khó có thể chui qua ô thông gió ấy, hơn nữa nó cũng không đủ rộng để đưa thi thể đã bị cắt ra ngoài.

Muốn lẻn vào Nhà giam số Hai, hung thủ buộc phải đi qua hành lang Nhà giam số Một, tức ngay trước mặt chúng ta.

Ông có thấy hung thủ ra vào hành lang không?"

"Không. Chắc hắn đi qua lúc chúng ta ngủ."

"Chị Louise phát hiện anh Lee tại nhà hội trường vào khoảng 6 giờ sáng.

Nhưng chúng ta đã thức cho đến khi bên ngoài cửa sổ sáng lên.

Từ lúc đến khu định cư, tôi đã vài lần nhìn thấy bầu trời rạng đông. Mặt trời mọc vào khoảng 6 giờ 30 phút."

Otoya bất giác hít vào, rồi thấy buồn nôn nên thò đầu ra ngoài cửa sổ.

"...Nghĩa là hung thủ đã đưa thi thể Lee ra khỏi Nhà giam số Hai trong lúc chúng ta vẫn còn thức?"

Dù càng gần sáng họ càng buồn ngủ, nếu một kẻ vác thi thể đi ngang ngay trước mặt, không thể nào họ không nhận ra.

"Hơn nữa, cửa song phòng giam hẳn vẫn khóa bằng ổ khóa móc. Nghĩa là hung thủ đã đưa thi thể ra khỏi hai lớp phòng kín."

Otoya hoàn toàn không hiểu tại sao và bằng cách nào hắn làm được.

"Đúng là việc của một kẻ điên. Ít nhất điều đó thì chắc chắn."

Ririko không đồng tình cũng không phản đối, chỉ kéo khóa túi nylon lại.

Lần theo dấu chân cũ để quay về phía nam khu định cư, cả ba leo sườn dốc lồi lõm về nhà giam.

Q lại ghé nhìn vào phòng cai ngục như lúc trước.

Franklin vẫn chưa trở lại.

Họ vào Nhà giam số Một, đi qua hành lang rồi tiến sang Nhà giam số Hai.

"Có vẻ lũ ong đã bay đi rồi."

Otoya vừa càu nhàu vừa mở cửa Nhà giam số Hai.

Thứ đầu tiên lọt vào mắt là một tổ ong.

"Quà để lại của hung thủ à?"

Tổ ong lớn bằng đầu một đứa trẻ sơ sinh, nằm lăn ở sâu trong hành lang, cách ô thông gió khoảng một mét.

Nhìn qua thì không thấy con ong nào bên trong.

"Vậy lũ ong lúc nãy không phải tự bay vào qua ô thông gió. Hung thủ đã mang tổ ong đến."

Otoya tưởng không còn gì phải bàn, nhưng Ririko lại nghiêng đầu.

"Ý ông là hung thủ thả ong để giết chúng ta trong Nhà giam số Một sao? Nếu cùng là một hung thủ thì cách này có vẻ phụ thuộc quá nhiều vào may rủi."

"Chẳng lẽ cô nghĩ tổ ong tình cờ rơi vào ô thông gió?"

"Cũng có thể một đứa trẻ nghịch ngợm ném vào. Tất nhiên không thể loại trừ khả năng hung thủ mang đến."

Ririko vỗ nhẹ vai Q.

"Em đợi ở đây nhé."

Rồi cô đi dọc hành lang Nhà giam số Hai, nhìn vào phòng giam phía trước.

Otoya theo sau.

Phòng giam bị phủ kín bởi vô số vết máu.

Cửa song vẫn khóa bằng ổ khóa móc, đẩy hay kéo đều không mở.

Khoảng cách giữa các song chỉ chừng mười lăm centimet. Dù đã chặt thi thể làm đôi cũng không thể đưa ra ngoài qua đó.

Không nghi ngờ gì Lee đã bị giết trong phòng, nhưng thi thể lại biến mất hoàn toàn.

"Hung thủ đã bằng cách nào đó xâm nhập Nhà giam số Hai, vượt qua cửa song phòng giam, rồi chặt đôi thân anh Lee ở bên trong.

Sau đó hắn cùng thi thể rời phòng giam, thoát khỏi tòa nhà và đặt xác lên sân khấu nhà hội trường.

Chẳng khác nào người khí."

Ririko cau mày nhìn lên ô thông gió ở hành lang.

Chiều ngang và dọc đều khoảng bốn mươi centimet, vẫn quá nhỏ để đưa thi thể qua.

"Franklin đáng ngờ nhất. Ông ta giữ chìa khóa phòng giam trong túi. Nếu là ông ta, cửa song có thể mở tùy ý."

"Đúng là nếu ông ấy là hung thủ thì một lớp phòng kín sẽ biến mất.

Nhưng bản thân Nhà giam số Hai vẫn là phòng kín.

Franklin đã đưa thi thể ra ngoài bằng cách nào?

Nếu ôm xác Lee đi qua hành lang, không thể nào chúng ta không nhận ra."

Otoya biết điều đó.

"Còn cô thì sao? Đã nghĩ ra gì hay chưa?"

"Vẫn chưa thể nói. Có lẽ phải nghe lời khai của những người liên quan thì mới hình dung rõ được vụ án."

Ririko đưa ra một lý do khá tiện lợi.

"Chúng ta là tù vượt ngục, làm sao đường hoàng đi hỏi cung được?"

Cô rên khẽ, gãi mái tóc bết dính.

Sau khi đảo mắt nhìn khắp nhà giam, cô đột nhiên dừng tay.

"A."

Otoya nhìn theo hướng mắt cô. Q đang ló mặt qua khe cửa.

"Xin lỗi. Em giúp bọn chị thêm một chút nữa nhé?"

Ririko cất giọng ngọt như dỗ mèo.

Q tự hào gật đầu.

"Chào ông Franklin."

Có tiếng gọi tên từ bên cạnh.

Franklin nghiêng chiếc mũ Panama, thấy một thằng nhóc châu Á ló mặt ra từ phía sau xe lăn. Nó ôm cuốn sổ màu cam trước ngực với vẻ mặt nghiêm túc.

Ông không biết tên nó, nhưng vì đây là đứa trẻ châu Á duy nhất ở Jordentown nên vẫn nhớ mặt. Ông từng nghe nói cha mẹ nó là người Nhật nhập cư, bị bắt vì lừa đảo, suýt bị đưa vào trại trẻ thì được Giáo phụ đưa vào Giáo hội Nhân dân.

"Cháu có chuyện muốn hỏi."

"Đi hỏi người khác đi."

Franklin Partain đáp cụt lủn.

Thằng nhóc này chắc hẳn coi ông là kiểu ông già uể oải thường thấy ở Công viên Trung tâm, suốt ngày chỉ cần nhìn trẻ con cũng đủ thấy hạnh phúc.

Từ sáng sớm, sau khi đẩy xe lăn đến bãi đất trống trước trường, Franklin vẫn chưa rời khỏi đó.

Đương nhiên ông không phải đang ngắm bọn trẻ.

Ông đang giám sát những người ngoài.

Joseph Wilson, người đứng đầu đội an ninh, đã trực tiếp ra lệnh rằng nếu họ định đến gần Nhà của Cha hoặc nghĩa trang, ông phải lập tức báo qua bộ đàm.

"Cháu được Giáo phụ nhờ điều tra vụ sáng nay. Ông có thể kể cho cháu biết tình trạng của anh Lee trong phòng giam từ tối qua đến sáng nay không?"

"Giáo phụ nhờ mày?"

Franklin lập tức biết thằng nhóc đang nói dối.

Giáo phụ không bao giờ trực tiếp giao việc cho một tín đồ.

Thằng này đúng là quá coi thường người lớn.

Từ trước đến nay, Franklin vốn đã bực mình vì giáo viên trong trường quá nuông chiều học sinh.

Bọn trẻ dường như coi Jordentown là một sân chơi khổng lồ, thản nhiên lẻn vào cánh đồng, nhà kho, phòng khám, nhà bếp, thậm chí cả nghĩa trang và nhà giam.

Các giáo viên rõ ràng biết chuyện nhưng chẳng chịu dạy dỗ tử tế.

Ngay cả hiệu trưởng, người lẽ ra phải là phòng tuyến cuối cùng, cũng bị bọn trẻ đặt cho đủ loại biệt danh chế nhạo như đồ vô dụng, vậy mà chẳng những không nổi giận còn tỏ ra thích thú.

"...Không có gì đặc biệt."

Vì sao Franklin vốn ghét bọn trẻ đến thế lại chịu chơi trò thám tử với nó?

Chỉ vì ông đã chán việc ngồi canh bãi đất trống.

Không.

Thật ra là vì ông đang ngứa ngáy muốn kể chuyện vụ án với ai đó.

"Sau cuộc họp tối qua, tao quay lại nhà giam lúc 11 giờ đêm. Lee vẫn còn thức, bọn tao nói với nhau vài câu."

"Hai người nói gì vậy?"

"Thấy mặt hắn tái mét nên tao hỏi có sao không. Hắn lải nhải rằng mình không chịu được nơi chật hẹp, kín mít. Tao bảo chẳng phải có ô thông gió đó sao, thế là hắn nhìn tao như muốn ăn tươi nuốt sống."

Thằng nhóc dừng cây bút chì đang chạy trên trang giấy, nét mặt tối lại.

"Sau đó ông quay về phòng cai ngục à?"

"Ừ. Sau đó cứ hai tiếng tao lại đi kiểm tra một lần. Lúc 1 giờ sáng, hắn dựa vào tường ngủ, còn phát ra tiếng thở. Lúc 3 giờ và 5 giờ chắc cũng không có gì thay đổi."

Thế nhưng chỉ một giờ sau, Louise Lesner lại phát hiện thi thể người đàn ông ấy trong nhà hội trường.

Nếu không phải thần phạt thì hoàn toàn không thể giải thích.

"Ông biết vụ án xảy ra vào lúc nào?"

"6 giờ 50 phút, Joseph liên lạc qua bộ đàm, ra lệnh cho tao canh quanh nhà hội trường. Lúc ấy tao mới nhìn thấy thi thể."

"Trong khoảng từ 5 giờ đến 6 giờ, ông có nghe thấy tiếng động khả nghi nào từ Nhà giam số Hai không?"

"Không. Nhưng mưa vẫn rơi đến khoảng 5 giờ 30, nên nếu không phải tiếng động thật lớn thì chắc cũng không nghe thấy."

"Trong thời gian đó có ai ra vào nhà giam không?"

"Làm gì có. Tao vẫn ở trong phòng cai ngục, nhìn thấy lối vào. Không có ai cả."

Thằng nhóc cau mày, đọc đi đọc lại những gì đã ghi.

Cuối cùng, như thể bỏ cuộc, nó đóng cuốn sổ.

Có lẽ nó không tìm được manh mối như mong đợi.

"Cảm ơn ông rất nhiều."

Nó nói bằng giọng thiếu sức sống rồi định quay về phía nhà hội trường.

"Đợi đã."

Bất chợt cảm thấy bất an, Franklin gọi nó lại.

"Mày không định vạch trần mánh khóe của phép màu đấy chứ?"

Thằng nhóc quay lại, nhìn ông như vừa phát hiện một loài động vật quý hiếm.

"Ông Franklin cũng nghĩ phép màu có mánh khóe sao?"

"Đừng nói ngu." Franklin bất giác lớn tiếng.

Thằng ranh này dám bắt bẻ lời ông.

Jordentown có hơn chín trăm tín đồ, nhưng có lẽ không ai nhận được nhiều ân huệ từ phép màu như Franklin.

Trước khi gặp Giáo hội Nhân dân, cả thể xác lẫn tinh thần ông đều tan nát.

Thế giới này được xây dựng hoàn toàn cho những người có đôi chân lành lặn.

Chỉ riêng việc đến siêu thị mua cà phê, Franklin cũng phải nhờ người khác giúp hết lần này đến lần khác, trên vỉa hè, tại trạm xe buýt, trong quầy hàng rồi ở quầy tính tiền.

Chỉ vậy thôi đã đủ khiến ông tuyệt vọng, nhưng Franklin còn mang di chứng ở não.

Có những hôm ông quyết tâm ngồi xe lăn rời khỏi nhà, vậy mà vừa ra khỏi cổng, trước mắt đã tối sầm, đến khi tỉnh lại thì trời đã khuya.

Chuyện như thế xảy ra không hiếm.

"Tao tin phép màu của Giáo phụ."

Đương nhiên rồi.

Nếu phép màu chỉ là trò bịp, thì cơ thể Franklin, bộ não ông, và tất cả những gì tạo nên con người hiện tại của ông cũng đều là giả dối.

"Không có mánh khóe nào hết. Tuyệt đối không."

Franklin xoay vành xe lăn, quay lưng lại với thằng nhóc đang ngơ ngác.

"Chào cô Louise."

Một thiên thần đang gọi mình.

Louise Lesner nghe giọng nói non nớt ấy trong cảm giác như đang trôi giữa mặt biển Orange Beach.

Thế giới yên tĩnh, ấm áp và mềm mại.

Đây hẳn là thiên đường.

Linh hồn cô đã được giải thoát, mọi tội lỗi đều được tha thứ.

"Cô Louise?"

Cô muốn trả lời thiên thần, nhưng không hiểu sao không thể phát ra tiếng.

Cũng không nhìn thấy dáng vẻ xinh đẹp ấy.

Louise cố sức mở mắt, thấy một cậu bé châu Á lấm lem đang cúi nhìn mình.

"May quá. Chào buổi sáng."

Louise bất giác bật dậy, nhìn quanh.

Cô đang nằm trên giường trong một phòng xử trí được ngăn bằng rèm ở góc phòng khám.

Có lẽ cô đã ngất ở nhà hội trường rồi được bác sĩ Schacht đưa tới đây.

Chiếc giường mềm hơn giường ở khu nhà một chút, nhưng chỉ vì thế mà tưởng mình đã lên thiên đường thì đúng là quá ngây thơ.

"Cháu là... hình như..."

"Cháu là Q. Giáo phụ nhờ cháu đến hỏi chuyện. Cô có thể kể chi tiết lúc phát hiện thi thể không?"

Q mở cuốn sổ màu cam, tự hào cầm bút chì.

Louise không hiểu vì sao Jim lại giao việc hỏi cung cho một đứa trẻ, nhưng cũng chẳng còn sức nghĩ sâu.

Có lẽ người lớn đều bận đối phó với nghị sĩ.

"Cô không chết được."

Louise kể rằng cô đã treo cổ trong rừng nhưng thất bại, sau đó đi đến nhà kho để lấy trộm thuốc độc và trên đường thì phát hiện thi thể.

Q vừa ghi chép vừa nghe với vẻ mặt nghiêm trọng.

"Người chết ở đó là thành viên đoàn điều tra đúng không?"

"Vâng. Nghe nói tên là Lee Hajun."

"Quả nhiên Chúa đã trừng phạt anh ta."

"Chuyện đó..."

Giọng Q nhỏ đi đôi chút.

"Cháu không biết. Cô có thể kể thi thể anh Lee được đặt như thế nào không?"

"Bục diễn thuyết trên sân khấu bị đổ ngang. Phần thân trên và thân dưới được đặt cạnh nhau trên đó. Thân trên ở gần phía trước, thân dưới ở phía sau. Cô đứng dưới sân khấu nên không nhìn rõ phần thân dưới, nhưng thân trên thì thấy rất rõ. Mặt cắt quay về phía cô, và hình như khoảng một nửa nội tạng đã trào ra ngoài."

Image

Chỉ mới kể lại thôi mà dạ dày Louise đã nặng trĩu.

Q nhanh tay đưa bút chì chạy trên trang giấy rồi xoay cuốn sổ về phía cô.

"Ý cô là như thế này, đúng không?"

Louise gật đầu. Chỗ cổ bị dây cáp siết vẫn còn đau.

"Khi phát hiện thi thể, trong nhà hội trường còn có ai khác không?"

"Không. Nhưng cũng có thể họ đang trốn ở đâu đó."

Q cau mày, dùng đầu tròn của cây bút chì gãi sau gáy.

"Cô còn nhận thấy hoặc để ý điều gì khác không? Chuyện nhỏ đến đâu cũng được."

Louise nhắm mắt, gọi lại ký ức nửa ngày trước.

Mùi hôi như từ lò mổ hòa trong bầu không khí lạnh trước bình minh.

Thi thể quái dị đặt trên bục diễn thuyết.

"...Cô đã nghĩ muốn sửa đôi giày đó."

Louise mở mắt sau khi nói vậy, thấy Q mang vẻ mặt như vừa chứng kiến một con bạch tuộc nở ra từ trứng gà.

"Cháu nhìn này, mũi chân của thi thể hướng xuống phía dưới sân khấu đúng không?"

Cô chỉ vào hình vẽ trong cuốn sổ của Q rồi giải thích.

"Trước khi đến Jordentown, cô từng làm ở một tiệm sửa giày tại Texas. Khi nhìn đôi giày thi thể đang mang, cô nghĩ nếu không mua đôi mới hoặc sửa lại thì sẽ rất nguy hiểm. Có lẽ anh ấy là kiểu người cứ dùng mãi cùng một bộ quần áo và đôi giày."

Q gượng gạo gật đầu rồi viết vào sổ:

"Louise muốn sửa giày."

"Cảm ơn cô rất nhiều."

Có lẽ nhận ra không thể thu được thêm thông tin gì, Q đóng sổ, kéo rèm rồi rời khỏi phòng xử trí.

Louise dựa vào đầu giường, thở dài.

Suy cho cùng, người đàn ông ấy chết cũng là vì cô đã trao lá thư cho thành viên đoàn điều tra.

Quả nhiên cô không có tư cách sống.

Cô co đầu gối, vùi mặt xuống thì không hiểu sao tiếng bước chân lại quay trở lại.

Tấm rèm một lần nữa được kéo ra.

"Cháu biết có thể là chuyện không nên xen vào, nhưng..."

Q mang vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng.

"Chuyện gì vậy?"

"Ba người trong đoàn điều tra chết không phải vì thần phạt."

Louise bất giác nhìn ra ngoài rèm.

Khu vực nhà hội trường đang ồn ào, nhưng quanh phòng khám không có dấu hiệu của ai.

"...Cháu không được nói như vậy."

Cậu bé này đang phủ nhận lời của Giáo phụ.

Nếu bị những người lãnh đạo nghe thấy, cậu có thể bị đưa ra giáo huấn trong cuộc họp, hoặc tệ nhất là bị nhốt vào phòng giam.

"Đó là sự thật. Vì vậy, cũng không phải lỗi của cô Louise."

"Vậy tại sao họ lại chết?" Q nghẹn lời.

Nhưng cậu siết chặt cuốn sổ cuộn tròn như một cái ống rồi nhìn thẳng vào Louise.

"Chắc các thám tử sắp giải được bí ẩn rồi. Vì vậy, cho đến lúc đó, cô tuyệt đối đừng tự sát nữa."

2

Trên sân khấu dựng giữa nhà ăn, một ban nhạc sáu người đang chơi thứ nhạc country rock dở tệ.

Các thành viên đều là giáo viên của trường, nhưng chẳng hiểu sao W cũng có mặt, cầm chiếc tambourine[1] gõ theo nhịp.

Đúng là có những học sinh gương mẫu lúc nào cũng muốn thể hiện trước mặt người lớn, nhưng nhìn cậu bé như vậy, Otoya không khỏi lo rằng sau lưng có bị bạn bè nói xấu hay không.

Bên dưới sân khấu, các tín đồ lắc vai đầy khoa trương, vừa vỗ tay theo tiếng hô của ca sĩ chính.

Vầng trăng nhòe mờ nhìn xuống hai tên tù vượt ngục đang đứng dưới mái hiên nhà giam.

Hương thơm của món thịt heo nướng dành để chiêu đãi khách quý theo gió bay tới khiến Otoya vô thức nuốt nước bọt.

"Lúc bọn mình đến có được mời ăn thịt đâu."

Vừa bốc từng nắm ngũ cốc Q trộm được bỏ vào miệng, Ririko vừa càu nhàu.

"Bọn mình còn bị bắn súng trường nữa cơ."

Otoya uống cạn chỗ nước âm ấm rồi dùng mu bàn tay lau môi.

Các tín đồ đều tập trung tại nhà ăn và nhà hội trường để mở tiệc tiếp đãi nghị sĩ Leo Ryland cùng đoàn của ông.

Có lẽ họ muốn tạo ấn tượng rằng Giáo hội Nhân dân không phải là một giáo phái nguy hiểm.

Trên sân khấu nhà hội trường còn có Jim Jorden mặc áo sơ mi đỏ và đeo kính râm.

"Nhắc mới nhớ, hôm nay không thấy con chó rừng kia đâu."

Ririko lẩm bẩm, vẫn xỏ ngón út vào lỗ chiếc bánh ngũ cốc hình vòng.

Nghe cô nói, Otoya cũng mới nhận ra mình chưa hề thấy nó.

"Biết đâu giờ này đã nằm trong bụng nghị sĩ Ryland rồi."

"Xin ông đừng nói thế."

Ririko trừng mắt nhìn Otoya.

Dù là Giáo hội Nhân dân thì chắc cũng không rảnh đến mức bày ra trò quấy phá cầu kỳ như vậy.

Con chó rừng hẳn đã nhận ra ở đây không có gì để ăn nên quay về rừng rồi.

"Chẳng ai còn nhớ sáng nay anh Lee bị giết ngay trên sân khấu đó nữa."

Ririko vừa cắn miếng ngũ cốc vừa nhìn về phía sân khấu nhà hội trường.

Đúng lúc ấy, từ chiếc loa treo phía trên đầu đột nhiên vang lên tiếng hú chói tai của micro.

Những chiếc loa đặt khắp khu định cư cũng đồng loạt phát ra âm thanh ấy.

"...Tôi vô cùng vui mừng khi được đặt chân đến nơi này."

Nhìn sang nhà ăn, họ thấy ban nhạc đã rời sân khấu.

Thay vào đó là một người đàn ông mặc bộ vest xám, thắt cà vạt.

Chắc hẳn đó là nghị sĩ Leo Ryland.

Peter Weatherspoon, Bộ trưởng Nội vụ, đang cúi người cầm micro cho ông.

"Trên đường đến đây, tôi đã nghe vô số lời chỉ trích nhằm vào Jordentown.

Nhưng hôm nay, tôi biết rằng vẫn có những người tin nơi này là nơi tuyệt vời nhất thế giới và khoảnh khắc này là khoảng thời gian hạnh phúc nhất thế giới."

Ngay lập tức, các tín đồ đồng loạt đứng bật dậy, vỗ tay như sấm dành cho nghị sĩ Ryland.

"Lão già đó bị thu phục mất rồi."

"Ông ấy là chính trị gia mà. Được tiếp đón nhiệt tình như vậy thì cũng khó tỏ ra cứng rắn. Nhưng chưa chắc đó đã là suy nghĩ thật."

Đúng lúc ấy, một bóng người nhỏ bé len qua giữa các dãy nhà.

Đó là trợ lý mới Q.

"Bữa tiệc sắp kết thúc rồi. Chắc ông Franklin cũng sắp quay lại nhà giam."

Theo chỉ thị của hai người, Q đã lẻn vào bữa tiệc để quan sát Jim, các lãnh đạo, nghị sĩ Ryland cùng các phóng viên.

"Đến lúc quay lại phòng giam rồi."

Otoya vừa duỗi người vừa nói.

Ririko ngồi xổm xuống trước mặt Q.

"Cảm ơn em rất nhiều vì hôm nay. Chị thật sự muốn cảm ơn em bằng cách nào đó, nhưng tiếc là chẳng giúp được gì."

Tai Q đỏ bừng lên. Cậu quay mặt đi.

"Em... từ nhỏ đến giờ luôn chỉ có một mình."

Cậu nói như đang thở dốc.

Quả thật, trong Jordentown ngoài Q ra không còn người châu Á nào khác.

"Vì thế, sau này khi lớn lên, em muốn đến Nhật Bản, nơi ông ngoại em từng sống.

Nếu ngày đó đến, hai anh chị có thể dẫn em đến văn phòng thám tử được không?"

Lần này đến lượt Ririko đỏ mặt.

Cô mỉm cười, chẳng hiểu sao lại khẽ đập vào hông Otoya.

"Cứ để bọn anh lo. Khi nào cậu đến Nhật, bọn anh sẽ kể cho cậu nghe tất cả những vụ án bọn anh từng phá, cho đến khi cậu chán thì thôi."

Otoya thuận miệng nhận lời. Q vui vẻ gật đầu rồi chạy trở lại bữa tiệc.

"Nói chuyện tương lai thì hay đấy, nhưng trước mắt phải giải quyết vụ án này đã."

"Đúng vậy."

Từ đó, cả hai không nói thêm lời nào, chỉ cẩn thận bước xuống con dốc rồi quay về nhà giam.

Để Franklin không phát hiện họ đã ra ngoài, họ phải khóa lại cửa phòng giam như cũ.

Otoya lấy chìa khóa dự phòng trong ngăn kéo phòng cai ngục.

Trước tiên Ririko vào phòng giam, Otoya khóa ổ khóa lại.

Sau đó Otoya vào phòng giam bên cạnh, thò tay qua song sắt rồi tiếp tục khóa ổ khóa.

Chiếc chìa khóa được bọc trong khăn tay để khỏi phát ra tiếng động rồi bỏ vào túi quần sau.

Khoảng mười phút sau khi tiếp tục suy nghĩ về vụ án, Franklin quay lại nhà giam.

Ông ta nhìn vào hai phòng giam rồi trở về phòng cai ngục.

Vì chìa khóa thật vẫn ở trong túi Franklin, chỉ cần ông ta không phát hiện hai người từng ra ngoài thì cũng khó nhận ra chìa khóa dự phòng đã biến mất.

"Nếu có chuyện gì thì cứ hét lớn."

Đợi tiếng bánh xe lăn biến mất trong phòng cai ngục, Otoya lên tiếng về phía bức tường.

Theo lẽ thường, chẳng nơi nào an toàn bằng một phòng giam đang khóa kín.

Nhưng sau những gì xảy ra với Lee, chẳng ai còn dám yên tâm.

"Tôi biết rồi." Giọng Ririko vẫn còn căng thẳng.

Otoya nằm xuống nền nhà lạnh ngắt, thở dài nhìn lên trần.

Khi lần lượt nhớ lại ba vụ án, cơn buồn ngủ bất chợt ập đến.

Vốn đã thiếu ngủ, lại vừa được ăn bữa đầu tiên sau một ngày, đầu óc ông lúc này chẳng khác gì một nhân viên văn phòng sau giờ cơm trưa.

Sau khi vừa hùng hồn dặn Ririko như thế, ông biết mình không được phép ngủ.

Dù trong đầu vẫn nghĩ vậy, chẳng mấy chốc mí mắt Otoya đã khép lại.

Tiếng chim hót hòa lẫn với tiếng người đi lại bên ngoài.

Otoya mở mắt.

Ánh nắng đã chiếu từ ô thông gió lên trần nhà.

"...Ririko?"

Một linh cảm chẳng lành chợt dâng lên. Otoya bật dậy khỏi nền nhà.

Ông đập mạnh vào bức tường bên trái. Không có tiếng trả lời.

"Này, Ririko! Cô có sao không?"

Tiếng gọi của Otoya vang vọng khắp hành lang.

Ông vội lấy chìa khóa trong túi ra.

Đúng lúc ấy...

"Bình tĩnh đi. Tôi vẫn còn sống."

Giọng kéo dài của Ririko vọng sang.

Hai chân Otoya bỗng mềm nhũn, quỳ sụp xuống nền nhà.

"Cô làm tôi hết hồn. Tai bị côn trùng chui vào à?"

"Người ngáy như gấu suốt cả đêm thì không có tư cách nói em đâu."

Nghe thấy tiếng động, Franklin đi tới kiểm tra.

Otoya vội giấu chìa khóa trở lại túi quần.

Franklin nhìn vào hai phòng giam rồi nói:

"Đừng làm ồn quá."

Sau đó ông ta quay về phòng cai ngục.

"...Cô thức cả đêm à?"

"Vâng." Ririko đáp tỉnh bơ.

"Nhờ vậy mà tôi đã giải được toàn bộ bí ẩn."

"...Hả?"

"Hung thủ là Ray Morton."

"Cái gì?"

"Hiệu trưởng trường học ở Jordentown."

"Chính ông ấy là hung thủ của toàn bộ chuỗi vụ án."

❀ ❀ ❀

[1] Tambourine: Là nhạc cụ thuộc bộ gõ, gồm khung gỗ hoặc nhựa và các cặp vòng xèng nhỏ bằng kim loại.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Shirai Tomoyuki

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.