Tiếng còi lanh lảnh của một chiếc Ferrari vang lên, làm rung màng nhĩ.
Chiếc đồng hồ trên bàn đầu giường chỉ 7 giờ 08 phút. Mới sáng sớm đã có gã tài xế nóng nảy bấm còi inh ỏi. Peter chống người ngồi dậy, cởi chiếc áo choàng ngủ ướt đẫm mồ hôi ném lên giường. Anh uống một cốc nước, bỏ một viên kẹo cao su vào miệng rồi vo viên giấy bạc ném vào sọt rác.
Kéo tấm rèm cửa sang hai bên, trước mắt anh đáng lẽ phải là khung cảnh nhộn nhịp của vùng Vịnh San Francisco...
Nhưng không.
Trước mắt chỉ là vùng khai hoang phủ đầy đất, bùn và nước mưa, một phong cảnh chán ngấy đến mức không hề cảm nhận được hơi thở của văn minh. Thứ vừa làm rung màng nhĩ anh cũng chẳng phải tiếng còi xe, mà là tiếng hót điên loạn của một con chim chuông.
Peter Weatherspoon, Bộ trưởng Nội vụ của Jordentown, tự hỏi chính mình.
Tại sao mình lại ở nơi khỉ ho cò gáy này?
Vì đã không phản đối kế hoạch điên rồ xây dựng thiên đường ở Guyana chăng?
Nhưng một khi đã tiếp nhận đức tin của Giáo hội Nhân dân, thì với tín đồ, không còn lựa chọn chống lại Giáo phụ nữa.
Hay đáng lẽ ngay từ đầu mình không nên tin gã đàn ông đầy vẻ bịp bợm ấy?
Hối hận thì dễ, nhưng đối với bản thân của bảy năm trước, điều đó là bất khả thi.
Nếu có cơ hội quay đầu, thì chỉ có đêm hôm ấy... Đêm anh được một lão già quen trong câu lạc bộ rủ đi dự tiệc. Nói cách khác, tất cả đều là do chính mình chuốc lấy.
Có hối hận cũng đã quá muộn.
Peter vuốt mái tóc rối, đưa tay chạm vào mí mắt phải.
Chớp.
Chỉ một cái chớp mắt.
Chỉ vì động tác nhỏ bé ấy mà Peter đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho Giáo hội Nhân dân.
Việc đóng mở mí mắt, thứ ngay cả một đứa trẻ sơ sinh cũng làm được một cách tự nhiên.
Chỉ vì điều đó.
Tiếng bước chân vang lên trên bậc thềm trước cửa.
Tiếp theo là tiếng gõ cửa. Có lẽ nhân viên hành chính đã mang bữa sáng tới.
Phần lớn cư dân Jordentown đều ngủ trong những khu nhà tập thể chẳng khác gì khoang tàu chở nô lệ. Mỗi sáng và tối họ tập trung ăn uống trong căn nhà gỗ khổng lồ nằm giữa khu dân cư.
Chỉ riêng Jim Jorden cùng vài lãnh đạo cấp cao mới được bố trí không gian sinh hoạt riêng và dùng bữa ngay tại phòng.
Ngày nào cũng vậy, đúng 7 giờ sáng và 6 giờ chiều, nhân viên hành chính đều mang thức ăn đến tận nơi. Peter nhổ viên kẹo cao su vừa bỏ vào miệng ra tờ giấy ăn, dùng tay vuốt lại mái tóc rồi xoay núm khóa mở cửa.
"Chào buổi sáng. Đêm qua mưa lớn thật đấy."
Nicole Fisher của bộ phận hành chính mỉm cười, đưa chiếc khay bày sẵn bữa sáng.
Mái tóc quê mùa trông như xác một con mèo đen đặt trên đầu.
Trên tai cô đeo một chiếc khuyên bạc, nghe nói là quà của bạn bè.
Nếu ra khu phố sầm uất, kiểu cô gái này nhiều đến mức quét mãi cũng chẳng hết, hơi ngốc một chút nhưng dễ mến.
Lần đầu Peter gặp Nicole, cô vẫn còn làm việc tại một quán bar ở Fisherman's Wharf để dành tiền học. Hình như cô từng nói ước mơ là theo học ngành y học di truyền tại Đại học California. Bỏ qua chuyện kế hoạch ấy có thực tế hay không, thì tương lai của cô đáng lẽ vẫn còn vô vàn khả năng. Nhưng Nicole đã chọn từ bỏ tương lai.
Cô quyên toàn bộ tiền tiết kiệm cho Giáo hội Nhân dân rồi chuyển đến Jordentown. Cô đã bị một gã lừa đảo mắc chứng hoang tưởng tự đại lừa gạt. Nếu hắn bảo cô ăn phân, có lẽ cô cũng sẽ xúc lên đĩa rồi ăn thật. Ý nghĩ ấy vượt qua cả sự trống rỗng, khiến Peter chỉ muốn bật cười.
"Cảm ơn. Hôm nay chắc lại nóng đây."
Peter nhếch khóe môi, nói một câu hoàn toàn trái với lòng mình.
Đã bảy năm rồi anh vẫn diễn vai một người điềm tĩnh. Anh đâu có tư cách cười chê Nicole. Suy cho cùng, chính anh cũng chỉ là cá mè một lứa.
Đợi Nicole đi sang căn phòng bên cạnh của vị luật sư mới đến, Peter đặt khay thức ăn lên bàn rồi đóng cửa. Một bát ngũ cốc rẻ tiền và đĩa xà lách chỉ gồm vài lá rau diếp xé nhỏ.
Khâu phục vụ chẳng khác gì dịch vụ phòng của khách sạn, nhưng thực đơn thì giống thức ăn gia súc. Mỗi sáng đưa những món ấy vào miệng, cảm giác hối hận lại lan khắp lục phủ ngũ tạng.
Tám năm trước…
Mùa xuân năm 1970.
Ngay sau khi tốt nghiệp trường luật và lấy được chứng chỉ hành nghề luật sư bang California, Peter vào làm tại một văn phòng luật chuyên tư vấn doanh nghiệp ở Oakland.
Năm sau, anh tham gia đàm phán đền bù cho dự án mở rộng cảng biển, thành công buộc chính quyền bang phải chi khoản bồi thường lớn nhất từ trước tới nay.
Tên tuổi Peter nhanh chóng nổi như cồn, các doanh nghiệp hàng đầu trong thành phố liên tục tìm đến nhờ anh làm cố vấn. Cuối năm ấy, khi không khí Giáng sinh bắt đầu bao trùm thành phố, Peter được ông chủ câu lạc bộ quen biết mời tham dự một bữa tiệc tổ chức tại Grand Oakland Hotel.
Khách tham dự toàn là chính trị gia, doanh nhân, bác sĩ, địa chủ và đủ loại kẻ giàu có chẳng rõ làm nghề gì, đang say sưa ăn chơi.
Trên sân khấu là những cô gái ăn mặc nhếch nhác được ban tổ chức đưa từ khu nhà kho đến. Trong số đó rõ ràng còn có cả những cô bé chưa đủ tuổi trưởng thành. Sau nửa đêm, đám đàn ông mắt lờ đờ như con nghiện ma túy lần lượt đưa các cô gái vào từng phòng. Peter cũng được ông chủ kéo theo, dẫn một thiếu nữ chừng mười lăm, mười sáu tuổi vào phòng suite.
Cô bé say khướt, vào phòng rồi vẫn tiếp tục uống Scotch nguyên chất. Nhìn kỹ mới thấy mí mắt phải của cô sưng to như quả bóng golf, có lẽ vừa bị bạn trai đánh. Peter cùng vài người khác thay nhau cưỡng hiếp cô. Cô bé chẳng hề tỏ ra chiều chuộng, âm đạo khô khốc như của một bà lão, nhưng mỗi khi bị đưa dương vật vào lại rên rỉ dữ dội.
Rồi sự việc xảy ra.
Trong lúc Peter và một gã kế toán thay nhau xâm hại cô từ trên và dưới, thân thể cô gái bỗng co giật dữ dội. Cô sặc, nôn mửa, rồi bị chính chất nôn làm nghẹn cổ họng và tiếp tục ho sặc sụa. Tròng mắt run lên. Hai bàn tay quờ quạng trong không khí. Phân trào ra từ hậu môn, làm dương vật của gã kế toán dính đầy chất bẩn.
Tên đó nổi giận, đấm thẳng vào mặt cô. Từ đó trở đi, cô gái không cử động thêm lần nào nữa. Đám đàn ông la ó phản đối, còn hất cả rượu mạnh lên mặt cô để gọi tỉnh. Nhưng cô không bao giờ mở mắt nữa.
Lúc ấy họ mới nhận ra tình hình nghiêm trọng. Một bác sĩ đang vui vẻ ở phòng khác bị kéo tới.
Ông ta móc chất nôn khỏi cổ họng cô rồi tiến hành hồi sức tim phổi.
Nhưng cô gái không thể sống lại. Đám đàn ông rơi vào hoảng loạn.
Không thể nào lén mang xác ra khỏi khách sạn trước mắt nhân viên. Nhất định phải có một người đứng ra gánh tội giết người.
Nhưng ai sẽ là kẻ xui xẻo ấy?
Giữa bầu không khí căng như dây đàn, nhờ sự sắp xếp của ông chủ câu lạc bộ, Peter được phép rời đi trước. Anh vội mặc quần, thắt cà vạt, giả vờ như chưa có chuyện gì xảy ra rồi bước ra khỏi khách sạn. Lên chiếc Ferrari đỗ trong bãi xe rồi đạp mạnh chân ga.
Nghĩ lại bây giờ, Peter khi ấy vẫn còn quá non nớt. Để bước chân vào thế giới nơi đầy rẫy những kẻ lưu manh từng trải, anh hiểu đời quá ít.
Nỗi sợ hãi, sự hối hận, tuyệt vọng và cả cảm giác kích động hòa trộn vào nhau, làm tê liệt phản xạ của anh.Chạy được khoảng hai trăm mét, Peter đánh lái không kịp. Chiếc Ferrari lao thẳng vào sảnh lễ tân của khách sạn.
Khi tỉnh lại, đã là tám ngày sau.
Peter nằm trong phòng bệnh của Bệnh viện trực thuộc Đại học California, San Francisco.
Cổ hơi đau, nhưng may mắn không bị thương nặng. Các bác sĩ nói chỉ cần vài ngày vật lý trị liệu là sức cơ tay chân sẽ hồi phục. Hai ngày sau, anh bắt đầu cảm thấy có điều bất thường.
Mắt phải khô rát khác thường. Mỗi lần uống nước, nước lại chảy ra khỏi mép. Muốn biểu lộ cảm xúc bằng nét mặt cũng không được. Đến khi nhận ra nửa khuôn mặt đã bị liệt, mắt phải đã bị viêm giác mạc rất nặng.
Peter trải qua ca phẫu thuật ghép thần kinh mặt.
Nhờ đó, trán, má và khóe miệng đã có thể cử động bình thường, nhưng riêng mí mắt thì vẫn không hề nhúc nhích.
Mỗi lần đứng trước gương trong phòng rửa mặt nhìn khuôn mặt méo mó của mình, gương mặt của cô bé năm nào lại chồng lên đó. Khuôn mặt với mí mắt phải sưng to như quả bóng golf.
Có phải cô ấy đã trừng phạt mình?
Ý nghĩ ngớ ngẩn ấy cứ đè nặng trong lòng, mãi không chịu tan biến. Để cắt đứt với quá khứ, Peter lần lượt tìm đến mọi bệnh viện đại học và trung tâm y tế ở California.
Thế nhưng đi đến đâu, câu trả lời của các bác sĩ cũng giống nhau. Nếu ghép dây thần kinh không có kết quả thì không còn phương pháp điều trị nào khác. Anh chỉ có thể sống chung với chứng liệt mặt. Anh uống đủ loại thực phẩm chức năng được quảng cáo là giúp tăng khả năng tự hồi phục của cơ thể, rồi tìm đến cả những tay khí công sư đáng ngờ. Thế nhưng mí mắt vẫn rủ xuống, không hề nhúc nhích.
Đúng lúc ấy, người chú làm thợ sửa xe ở San Francisco giới thiệu anh đến Giáo hội Nhân dân, khi đó vừa chuyển trụ sở từ Redwood Valley tới. Nghe nói chỉ cần tham dự buổi sinh hoạt cũng có rất nhiều người khỏi hẳn thương tật và bệnh tật. Dù thấy vô lý, Peter vẫn ôm tâm trạng như người chết đuối vớ được cọc mà tìm đến.
Và rồi, phép màu thực sự tồn tại.
Dĩ nhiên, không phải kiểu vừa nghe Jim Jorden diễn thuyết thì mí mắt lập tức cử động trở lại. Không có chuyện đó. Nhưng theo lời khuyên của một nữ cố vấn, sau khi sống tập thể trong khu ký túc xá khoảng một tuần, điều kỳ lạ là mí mắt của anh dần dần bắt đầu cử động được.
Đương nhiên anh không phải kẻ ngu ngốc. Lý trí hiểu rất rõ chuyện đó là không thể. Thế nhưng cái mí mắt vốn hoàn toàn bất động đã bắt đầu cử động. Ít nhất, Peter tin chắc mình đã cảm nhận được như vậy.
"Ông Dent, ông có sao không?"
Tiếng Nicole Fisher vọng từ bên ngoài vào. Rầm, rầm. Tiếng gõ cửa liên tiếp vang lên.
Peter đang ở phòng Bắc-2, căn giữa khu nhà dành cho lãnh đạo. Hai tuần trước, căn Bắc-3 bên phải có một luật sư tên Alfred Dent chuyển tới. Nicole đang gõ chính là cánh cửa ấy. Có vẻ cô đã mang bữa sáng đến nhưng không thấy ai trả lời.
Đột nhiên, Peter có cảm giác ranh giới giữa mơ và thực đang tan chảy.
Đêm qua, rất khuya rồi, hình như anh đã nghe thấy tiếng động kỳ lạ. Tiếng đàn ông hét lên. Tiếp đó là âm thanh ai đó ngã xuống rồi giãy giụa dữ dội.
Có thật đó chỉ là giấc mơ không?
Trong mơ anh đã vô số lần nghe thấy tiếng cô gái kia. Nhưng chưa bao giờ nghe thấy tiếng đàn ông. Có lẽ đó là sự thật.
Ký ức lần lượt ùa về. Sau khi nghe thấy tiếng động, Peter lơ mơ nhìn đồng hồ. Có lẽ chính vào lúc ấy, Dent đã gặp chuyện. Linh cảm bất an thôi thúc anh bước ra khỏi phòng. Đúng lúc đó, Joseph Wilson, Bộ trưởng An ninh ở căn Bắc-1 phía đối diện, cũng bước ra ngoài. Chắc tiếng Nicole lớn đến mức vọng sang tận phòng cách hai căn. Có lẽ đang ăn ngũ cốc dở, môi ông ta vẫn còn bóng nhẫy sữa.
"Ông Dent không chịu mở cửa..."
Nicole cất giọng run run. Chiếc đĩa bánh pancake trên khay trong tay cô rung lên lạch cạch. Peter và Joseph lần lượt khóa cửa phòng mình rồi tiến về phía căn Bắc-3.
"Sao bữa sáng của gã này lại không phải ngũ cốc?"
Joseph liếc nhìn khay đồ ăn của Dent rồi buột miệng hỏi một câu chẳng đúng lúc. Nicole càng run hơn, chiếc đĩa lại va lách cách.
"Ông ấy yêu cầu đổi thực đơn. Nghe nói ông Dent không ăn được ngũ cốc." Cô vội vàng giải thích.
Peter xoay tay nắm cửa căn Bắc-3, rồi kéo thử khung cửa sổ sang ngang. Cả hai đều bị khóa chặt, không hề nhúc nhích. Cửa sổ dùng loại kính mờ dày nên không thể nhìn thấy bên trong.
"Đêm qua có phải có tiếng hét không?" Joseph vừa thử cửa vừa hỏi.
Hóa ra ông ta cũng đã nghe thấy.
"Có thể anh ta ngã khỏi giường, hoặc bị đau tim."
Joseph không gật cũng chẳng lắc. Ông chỉ khẽ nhún vai.
Ý ông rất rõ: Là Bộ trưởng Nội vụ, quyết định là của anh.
Ở đây không có chìa khóa dự phòng hay chìa khóa tổng. Cũng chẳng có ai biết cách hoặc có dụng cụ để mở khóa. Chỉ còn một cách duy nhất.
"Đập vỡ cửa sổ."
Sau khi bảo Nicole quay về khu nhà, Peter và Joseph tới kho vũ khí, mang theo một khẩu M1903 rồi trở lại Bắc-3.
"Anh chắc chứ?"
Được Peter xác nhận, Joseph nhìn quanh một lượt để chắc chắn không có tín đồ nào ở gần, rồi vung báng súng nện mạnh vào ô cửa sổ. Tiếng va chạm vang lên như búa công thành giáng xuống, những vết nứt lập tức lan ra thành từng vòng đồng tâm. Ông nhắm đúng tâm vòng nứt rồi nện thêm một phát nữa. Kính vỡ tung, tạo thành một lỗ thủng lớn.
"Trời đất..."
Joseph sững sờ buột miệng.
Ông ghé mắt nhìn qua lỗ vỡ. Peter cũng nhìn theo, và không khỏi thốt lên giống hệt.
Ngay sau cánh cửa ra vào, cách ngưỡng cửa chỉ nửa bước chân, một người đàn ông nằm sấp bất động. Máu loang thành một vũng lớn quanh cơ thể. Trong tay ông ta đang nắm một chiếc áo mưa. Trên lưng áo sơ mi là vô số vết rách do dao đâm, còn phía trên đầu là một con dao bê bết máu. Không cần kiểm tra cũng biết người đàn ông đã chết.
Ông ta không phải ngã đập đầu, cũng không lên cơn đau tim.
Một chuyện còn rắc rối hơn nhiều đã xảy ra. Alfred Dent đã bị sát hại.
“Có khi hung thủ vẫn còn trốn đâu đó.”
Joseph nói đúng chất của một Bộ trưởng An ninh rồi thò tay qua lỗ kính vỡ để mở chốt cửa.
Peter bỗng nhận ra một điều kỳ lạ.
Trên kệ để giày có một thứ vốn không thể xuất hiện ở đó.
Sau khi mở khóa, Joseph trèo qua ô cửa sổ đã bị đập vỡ rồi vào phòng. Peter theo ngay phía sau. Hai người kiểm tra trong tủ quần áo và dưới gầm giường, nhưng không thấy bóng dáng hung thủ. Cửa ra vào và cửa sổ cũng không có dấu hiệu bị cạy phá hay giở thủ đoạn gì.
“Ai đó đã đâm chết gã này, rồi khóa cửa từ bên ngoài và bỏ đi. Chắc là vậy.”
Joseph vừa nhìn thi thể vừa nói.
“Không.” Peter lắc đầu, mắt vẫn hướng về chiếc kệ để giày.
“Không thể làm thế được.”
Joseph cau mày nhìn Peter đầy khó hiểu. Rồi ông cũng đưa mắt nhìn sang chiếc kệ, lập tức khựng lại. Trên đó có một chiếc chìa khóa. Một chiếc chìa khóa lẽ ra không thể nằm ở đó.
1
Otoya chống nửa người ngồi dậy khỏi giường, cảm thấy phía sau nhãn cầu đau nhức âm ỉ.Đồng hồ đeo tay chỉ 7 giờ 12 phút. Hẳn ông đã ngủ lâu gấp đôi ngày thường, nhưng có lẽ vì trận mưa lớn nên giấc ngủ rất chập chờn. Dù đã tỉnh, ông vẫn có cảm giác mơ hồ như còn đang nằm mộng.
"Bà Jody, bà thấy thế nào rồi?" Lee đưa cho bà một cốc nước.
"Khỏi hẳn rồi." Jody giơ ngón cái. Đúng như lời bà nói, sắc mặt đã hoàn toàn trở lại bình thường. Có vẻ bà còn dậy sớm hơn cả Lee và Ririko, quần áo cũng đã chỉnh tề.
"Bà định đi đâu sao?"
"Mấy tín đồ mời tôi dự tiệc trà. Hẹn lúc mười giờ ở phòng học E, nên hôm nay tôi định ăn sáng sớm một chút."
Quả không hổ danh người nổi tiếng. Ngay cả cư dân nơi đây cũng tranh nhau mời bà.
"Tôi nghĩ có thể sẽ nghe được những chuyện không thể hỏi trong phỏng vấn. Có gì thú vị tôi sẽ báo lại."
Jody bất chợt đặt tay lên ngực trái, đứng sững trong thoáng chốc. Nhưng ngay sau đó bà vẫy tay nói "Gặp lại sau" rồi rời khỏi Nam-30.
Otoya nghiến răng nén một cái ngáp. Vừa nhấc cái đầu nặng trĩu khỏi giường, ông nhận ra cửa sổ đang hé một khe nhỏ.
"Cửa sổ đó không đóng lại được à? Tiếng mưa ồn quá, tôi chẳng ngủ ngon nổi."
"Xin lỗi. Tôi hơi mắc chứng sợ không gian kín."
Lee áy náy rụt vai. Otoya vừa định càu nhàu thì Ririko bình thản nói:
"Thôi bỏ đi. Nếu phán đoán của ông Dent là đúng, thì hôm nay chúng ta sẽ được thả khỏi đây."
Lee cũng có vẻ nhẹ nhõm, đưa tay vuốt ngực.
"À phải rồi, tối qua tôi nhận được một thứ kỳ lạ."
Otoya lấy từ túi ra mảnh giấy đã có nếp gấp.
Ririko và Lee thay nhau đọc lá thư. Otoya kể rằng Louise Lesner đã phục sẵn trước nhà vệ sinh để đưa nó cho ông.
"Không biết cô Louise đã gặp chuyện gì. Quả thật trong buổi phỏng vấn hôm qua, cô ấy trông như đang che giấu một nỗi phiền muộn."
Lee vò mái tóc như tổ chim rồi đi qua đi lại trong phòng.
"Hay chúng ta đi hỏi thẳng cô ta?"
"Không được." Giọng Ririko trở nên cứng rắn.
"Cô Louise cố tình chọn lúc không có ai nhìn thấy để đưa thư, nghĩa là cô ấy cho rằng chuyện này không thể để những người xung quanh biết. Chúng ta không nên tùy tiện tiếp xúc."
Hình ảnh Louise chạy đi như đang trốn thoát hiện lên trong đầu Otoya.
"Thế nên làm gì đây?"
"Trước hết hãy nghĩ xem có thể suy ra được gì từ lá thư này."
Ririko ép mảnh giấy lên tường, dùng lòng bàn tay miết phẳng những nếp nhăn.
Xin hãy đưa chúng tôi ra khỏi nơi này.
Nội dung hết sức đơn giản.
"Điều tôi để ý là tại sao cô Louise lại đưa thư vào đúng lúc này. Ba chúng ta đã ở Jordentown hai tuần. Cô ấy hẳn đã có rất nhiều cơ hội bắt chuyện hoặc đưa thư. Vậy tại sao đến bây giờ cô ấy mới cầu cứu?"
"Có lẽ sau buổi phỏng vấn nhóm hôm qua, cô ấy nhận ra chúng ta tương đối đáng tin."
"Cũng có thể, nhưng tôi không nghĩ chỉ có vậy. Trong thư, cô Louise không viết ‘hãy cứu chúng tôi’ mà viết ‘hãy đưa chúng tôi ra ngoài’. Có vẻ cô ấy biết chúng ta sắp rời Jordentown.
Nhưng việc chúng ta được thả vẫn chưa được chính thức thông báo, ngay cả với chúng ta. Một tín đồ bình thường như cô ấy tại sao lại biết?"
"Ha, tôi hiểu rồi." Otoya vỗ tay.
"Người nghe lén cuộc nói chuyện giữa chúng ta và Dent hôm qua chính là cô ta."
Chiều hôm trước, khi họ gặp Dent trong rừng rậm, ngay sau lúc ông ta giật mình vì tổ ong mà nhảy lùi, họ đã nghe thấy tiếng ai đó bỏ chạy.
Có lẽ người đứng nghe lén khi ấy chính là Louise.
"Tôi cũng nghĩ vậy." Ririko nói.
"Đúng như Lee nhận xét, sau cuộc phỏng vấn hôm qua, cô Louise cảm thấy chúng ta có thể tin cậy ở một mức nào đó. Thế là trong lúc làm việc, cô ấy âm thầm quan sát chúng ta.
Rồi cô ấy nhìn thấy anh Otoya và tôi rời Nam-30, đi về phía rừng. Vì tò mò, cô ấy lén theo nghe. Ở đó, cô ấy nghe vị luật sư dường như có liên hệ bí mật với chúng ta nói rằng đoàn điều tra sắp được thả.
Vì vậy cô ấy nghĩ liệu có thể nhờ chúng ta đưa mình đi cùng không, rồi quyết định viết thư."
"Nhưng tại sao cô ấy lại muốn rời Jordentown đến vậy?"
"Trong câu chữ cũng có manh mối. Tân ngữ ở đây không phải ‘tôi’ mà là ‘chúng tôi’. Cô ấy không muốn trốn một mình, mà muốn rời Jordentown cùng ai đó.
Đó là ai? Không thể khẳng định nếu chưa hỏi chính cô ấy, nhưng theo lẽ thường chắc là người thân. Trong buổi phỏng vấn cô ấy cũng từng nhắc đến tên con gái. Ở Jordentown, trẻ em phải sống trong khu nhà dành riêng cho trẻ. Có lẽ cô ấy không thể chịu nổi cảnh sống xa con gái nữa."
"À, ra vậy..."
Lee vuốt má với vẻ khâm phục, rồi bất chợt mở to mắt nhìn Otoya. Trên mặt anh như viết rõ: Chẳng phải anh mới là cấp trên của tôi sao?
Đột nhiên cánh cửa bị đẩy bật ra. Ba người đàn ông xông vào, không một lời chào.
Bộ trưởng Nội vụ Peter Weatherspoon, Bộ trưởng An ninh Joseph Wilson, và Larry Levins, nhân viên an ninh đã bắn chết Nogi.
"Có chuyện gì vậy?" Lee hỏi.
Larry lập tức chĩa nòng khẩu M1903 vào ngay trước mũi anh. Có lẽ vừa vội vàng lôi súng ra, dưới báng còn dính một chiếc lá khô.
"Các vị đã lừa dối chúng tôi."
Joseph nói bằng giọng đều đều, vô cảm như máy.
"Không hiểu ông đang nói gì..."
"Là ông Dent."
Peter nhìn Ririko. Larry cũng chuyển nòng súng về phía cô.
"Alfred Dent là đồng bọn của các vị. Ông ta giả làm luật sư của tín đồ Giáo hội Nhân dân được cử từ San Francisco tới, thâm nhập vào đây để đánh cắp thông tin của chúng tôi. Không phải sao?"
Dĩ nhiên không thể gật đầu thừa nhận. Otoya muốn tìm cách đáp trả, nhưng Lee chỉ há miệng không nói nên lời. Ngay cả Ririko cũng im lặng.
Nhưng tại sao Dent lại bị lộ thân phận?
Hôm qua ông ta còn tỏ ra vô cùng tự tin. Không biết đã phạm sai lầm ngu ngốc gì.
"Trong vali của ông ta, chúng tôi tìm thấy cuốn sổ chép lại tài liệu tài chính của giáo đoàn và danh sách trẻ em."
Như đọc được suy nghĩ của Otoya, Peter giải thích.
"Bình thường chúng tôi sẽ không kiểm tra hành lý của một luật sư. Nhưng lần này là tình huống khẩn cấp."
"Tình huống khẩn cấp?" Ririko cau mày.
"Alfred Dent đã bị sát hại."
Chiếc lá khô rơi khỏi khẩu M1903. Trên đó chi chít những lỗ nhỏ do côn trùng ăn.
Peter, Joseph và Larry áp giải ba người ra ngoài, đưa đến Nhà của Cha.
Mỗi khi họ chậm bước, Larry lại dí nòng súng vào lưng, khiến Otoya thấp thỏm sợ bụng mình có thể nổ tung, ruột văng ra bất cứ lúc nào.
"Vào đi."
Peter mở khóa điện tử. Larry đập vào lưng, đẩy cả ba vào trong. Rèm cửa đang mở, nhiệt độ điều hòa cũng được đặt cao hơn. Quả nhiên hôm qua căn phòng đã được điều chỉnh đặc biệt chỉ để phục vụ màn ảo thuật.
"Tôi rất thất vọng về các vị."
Jim Jorden tựa lưng vào chiếc ghế cao, nói cộc lốc.
Có lẽ không kịp phủ phấn, sắc mặt hắn nhợt nhạt như người bệnh.
"Tôi đã chào đón các vị. Nhưng các vị lại lấy oán báo ân."
"Về chuyện đó..."
"Vốn dĩ tôi nên tự tay trừng phạt các vị, nhưng suy cho cùng các vị cũng chỉ là người được thuê. Tôi cũng ngu ngốc khi nhốt các vị ở đây.
Hãy rời khỏi Jordentown ngay lập tức."
Lý do thật chắc chắn là chuyến viếng thăm của nghị sĩ Ryland, nhưng chỉ cần được ra khỏi đây thì lý do gì cũng được.
Otoya vừa định đi đầu ra khỏi phòng thì Ririko lên tiếng:
"Có một chuyện tôi muốn xác nhận."
Otoya chỉ muốn đá vào đầu gối cô.
"Đúng là ông Dent đã che giấu thân phận để thâm nhập Giáo hội Nhân dân. Ông ấy cũng như chúng tôi, là thành viên đoàn điều tra được ông Charles Clark thuê. Tôi xin lỗi vì đã biết phương thức của ông ấy mà vẫn im lặng."
"Niềm tin giữa chúng ta đã không còn."
"Vậy tôi xin hỏi thẳng. Người giết Alfred Dent có phải là ông không?"
Con nhỏ này không tiếc mạng sao?
Đúng như dự đoán, Larry Levins túm tóc Ririko, ấn mặt cô xuống bàn.
"Không được xúc phạm Giáo phụ..."
"Tôi không phải hung thủ." Jim đáp lạnh nhạt.
Ririko khéo léo cử động khuôn mặt méo mó.
"Như vậy nghĩa là trong khu khai hoang này đang có hung thủ giết ông Dent ẩn náu. Nếu cứ thế trở về New York, ông Charles sẽ hỏi chúng tôi Dent đã xảy ra chuyện gì. Đáng tiếc, tôi chỉ có thể trả lời rằng ông ấy bị một người của Giáo hội Nhân dân giết, nhưng không biết hung thủ là ai."
Larry xoay ngang khẩu M1903, dí nòng súng vào cổ họng Ririko.
"Im đi."
"Vì thế tôi có một đề nghị. Hãy để chúng tôi điều tra vụ án."
Do cổ họng bị ép, giọng Ririko khàn đặc như một ông lão hấp hối.
"Cô đang đe dọa tôi sao?"
"Nếu ông nghe ra như vậy thì tôi xin lỗi. Ông Dent là đồng đội của chúng tôi. Xin hãy để chúng tôi tìm ra kẻ đã giết ông ấy."
"Tôi từ chối."
"Xin thứ lỗi." Người xen vào là Bộ trưởng Nội vụ Peter Weatherspoon.
"Cho đến hôm qua, tôi đã tham dự mười hai buổi phỏng vấn nhóm của họ. Họ không phủ nhận đức tin của chúng ta, và luôn đối xử với tín đồ bằng sự tôn trọng đầy đủ.
Không nên đánh đồng họ với đám phóng viên báo chí hay đoàn truyền hình tạp nham."
Jim rụt cổ như con rùa, nhìn chằm chằm khuôn mặt Peter như thể hắn thực sự nhìn thấy.
"Họ đã lừa dối tôi. Sự thật đó không thay đổi."
"Ngài nói đúng. Nhưng nếu cứ thế đuổi họ khỏi Jordentown, có thể sẽ dẫn đến một chuyện khá phiền phức. Bởi vì..."
Peter nhìn qua cửa sổ về phía khu nhà của ban lãnh đạo.
"Cánh cửa căn phòng nơi Dent bị giết đã bị khóa. Chỉ có một chiếc chìa khóa, và chiếc chìa khóa ấy nằm bên trong phòng.
Giáo phụ nói mình không phải hung thủ, nhưng các tín đồ sẽ không tin.
Họ sẽ nghĩ Dent, kẻ định lừa gạt Giáo hội Nhân dân, đã chịu sự trừng phạt của thần linh. Không, họ sẽ nghĩ chính Giáo phụ đã giáng sự trừng phạt ấy.
Bởi vì ở Jordentown, lẽ ra chỉ có một người có thể tạo ra phép màu."
Sắc mặt Jim sa sầm.
"Nếu cứ thế này, Giáo phụ sẽ bị vu oan. Muốn ngăn điều đó, chỉ còn cách để họ tìm ra hung thủ thật sự."
Mây trôi đi, ánh nắng xuyên qua cửa sổ. Như muốn tránh luồng sáng, Jim cúi đầu, hai vai khẽ nhấp nhô.
"Bây giờ là mấy giờ?"
"7 giờ 55 phút."
Peter nhìn đồng hồ bỏ túi rồi trả lời. Jim từ từ ngẩng mặt lên.
"Ba giờ." Hắn nói từng chữ một, chậm rãi như muốn khắc sâu vào đầu họ.
"Đúng 11 giờ, xe sẽ xuất phát đến sân bay Port Kaituma.
Trước lúc đó, hãy tìm ra kẻ đã giết Alfred Dent."
2
"Cô không muốn mau chóng trở về Nhật Bản à?"Vừa ra khỏi Nhà của Cha, Otoya lập tức chất vấn Ririko.
"Tất nhiên là tôi muốn về. Nhưng chúng ta không thể mặc kệ chuyện ông Dent bị sát hại."
Cô ngày càng nói năng giống hệt thám tử trong tiểu thuyết.
"Cô mạnh miệng như vậy, nhỡ đây trở thành ‘vụ án cuối cùng’ thì sao?"
"Vậy thì chỉ còn cách tìm ra hung thủ trước khi chuyện đó xảy ra."
"Nếu bây giờ rời Jordentown, chúng ta cũng sẽ bỏ mặc cô Louise, người đã gửi thư cầu cứu."
Ngay cả Lee cũng thản nhiên đứng về phía Ririko. Lúc ở trong Nhà của Cha, anh ta còn im thin thít, vậy mà giờ lại trơ trẽn đến thế.
"Không còn nhiều thời gian. Mau đến hiện trường thôi."
Peter Weatherspoon, người được Jim giao nhiệm vụ dẫn đường, rời Nhà của Cha rồi đi về khu nhà của các lãnh đạo ở bên trái. Ba người lập tức theo sau.
Khu nhà lãnh đạo được xây theo kiểu nhà dãy, gồm ba căn phòng nối liền nhau. Trên các cánh cửa, từ Bắc-1 bên trái đến Bắc-3 bên phải, đều có gắn biển ghi số phòng.
Cửa sổ của Bắc-3 đã bị đập vỡ, từ bên ngoài có thể nhìn thấy chiếc giường và sàn nhà bên trong.
Đúng lúc ấy, cửa Bắc-3 mở ra, một người phụ nữ quen mặt bước ra.
Đó là bác sĩ Loretta Schacht, người từng được Joseph gọi tới khi Nogi bị bắn. Cô đang định khiêng cáng có thi thể ra ngoài.
Peter tiến lại gần, giải thích đầu đuôi sự việc.
Loretta chỉ nói: "À, vậy sao", rồi vén tấm vải phủ trên cáng.
Khuôn mặt Dent bê bết máu như một đứa trẻ vừa ăn xong. Mái tóc bạc vuốt ngược đã rối tung, còn tròng kính thì nứt ngoằn ngoèo như những tia chớp.
Có vẻ sau khi bị thương, ông ta đã giãy giụa dữ dội. Vết thương nằm trên lưng.
Dường như hung thủ đâm xuyên qua áo sơ mi, khiến cả áo lẫn da thịt bị xé nát. Máu tuôn ra nhuộm đỏ từ đầu xuống tận đùi.
Lee bật ra một tiếng "Ọe", rồi nôn đống ngũ cốc ăn hôm qua vào bụi cỏ.
"Tôi nghĩ hung khí chắc chắn là con dao trong phòng. Kích thước của tất cả các vết thương đều khớp với bề rộng lưỡi dao." Loretta giải thích ngắn gọn.
Cô khiến Otoya nhớ đến kiểu học sinh ưu tú luôn có mặt trong mỗi lớp cấp hai, loại người chỉ muốn giữ khoảng cách với mọi việc lặt vặt phiền phức.
"Có biết thời gian tử vong không?" Otoya hỏi.
"Thi thể không còn hơi ấm, máu cũng đã khô. Dựa vào mức độ co cứng của tay chân, có lẽ đã chết được khoảng bảy đến chín giờ."
"Vậy là bị giết trong khoảng từ 11 giờ đêm qua đến 1 giờ sáng nay."
"Về chuyện đó..."
Peter xen vào.
"Tôi nghĩ ông ấy bị giết vào khoảng 11 giờ 40 phút."
"Sao ông biết?"
"Tôi sống ở căn Bắc-2 ngay bên cạnh. Đêm qua tôi nghe thấy tiếng Dent hét lên. Lúc còn ngái ngủ, tôi nhìn đồng hồ, khi ấy là 11 giờ 40 phút."
Điều này cũng trùng khớp với nhận định của bác sĩ Loretta.
Có vẻ thời điểm tử vong không còn nghi ngờ gì nữa.
"Với lượng máu chảy nhiều thế này, khả năng hung thủ bị máu bắn lên người là rất cao. Dù là nửa đêm, có thể vẫn có người nhìn thấy. Ông có thể nhờ các tín đồ kiểm tra xem có ai trông thấy người khả nghi không?"
"Tôi sẽ cho cấp dưới hỏi."
Peter lấy bộ đàm từ bao đeo bên hông, đi cách cáng vài bước rồi bắt đầu nói chuyện.
Khoảng hai giây sau, giọng Peter lẫn trong tiếng nhiễu cũng vang lên từ bên hông Loretta. Có vẻ dưới áo sơ mi cô cũng mang theo bộ đàm.
Khoảng hai phút sau, Peter kết thúc trao đổi và cất bộ đàm lại vào bao.
"Tôi đã dặn họ báo ngay khi tìm được nhân chứng."
Ririko cảm ơn Peter, rồi cúi đầu nói với Loretta đang cầm cáng:
"Được rồi, cảm ơn bác sĩ."
Đúng lúc Larry Levins bước ra khỏi Nhà của Cha, Loretta gọi ông ta lại. Hai người cùng nâng cáng lên, đưa thi thể đến nghĩa trang.
"Ông Dent đã ngã ở đây."
Peter mở cửa Bắc-3 rồi nghiêng người sang một bên để họ nhìn vào trong.
Một vũng máu lớn loang trên nền gạch. Căn phòng rộng chừng mười chiếu tatami.
Ngay sau cửa là một lối vào đơn sơ, đặt một tấm thảm polyester và kệ giày bằng gỗ. Bên phải là giường, chính diện là bàn nhôm, bên trái là dãy cửa tủ quần áo. Toàn bộ bức tường bên trái được ốp gương, còn các bức tường khác đều lát ván gỗ. Sàn nhà phủ gạch màu hồng nhạt.
Căn phòng sang trọng hơn khu nhà của nhóm Otoya, nhưng nội thất thiếu thống nhất, tạo cảm giác rẻ tiền như một khách sạn tình yêu.

Trong vũng máu có một chiếc áo mưa dài nằm rơi trên sàn. Nghe nói Dent đã chết trong lúc vẫn nắm chặt chiếc áo này. Chất nylon hơi ẩm, có vẻ hôm qua ông đã mặc nó ra ngoài. Ngoài những vệt máu bám cứng, không thấy điểm gì bất thường.
Trên bức tường phía giường ngủ còn được dán rất cẩn thận một tấm áp phích của Jim Jorden. Đó là bức ảnh hắn đang phát biểu tại lễ trao Giải Nhân đạo Martin Luther King Jr., bức ảnh Otoya đã nhiều lần nhìn thấy trong những bài báo đọc trên máy bay.
Có lẽ Dent đã cố ý chuẩn bị nó để giả làm tín đồ Giáo hội Nhân dân, nhưng nếu nhìn thấy vào giữa đêm chắc cũng đủ khiến người ta đái ra quần.
Biết đâu phía sau tấm áp phích lại có một lối thoát bí mật. Mang chút hy vọng như vậy, Otoya bóc miếng băng dính ở góc lên, nhưng phía sau chỉ có những lỗ nhỏ do mọt gỗ đục thành hàng trên bức tường.
Peter đi ngang qua phòng, cầm chiếc khăn đặt trên bàn lên. Ông trải nó ra như một cuộn giấy rồi lấy con dao dính máu bên trong.
"Đây là con dao bác sĩ Loretta đã nói đến. Nó nằm ngay gần thi thể."
Otoya nhận ra con dao ấy. Một lưỡi dao màu bạc nhô ra từ đầu ống trụ màu đen. Đó chính là con dao gấp mà Dent đã đánh rơi hôm qua trong rừng, khi ông ta giật mình trước tổ ong.
"Đây là con dao ông ấy mang theo để tự vệ." Ririko cũng nhận ra.
Peter hiếm hoi nhướng mày, rồi kéo nắm đấm ngang bụng.
"Ý cô là ông ấy tự sát sao?"
Một động tác mổ bụng kiểu harakiri.
"Không, ông Dent bị đâm liên tiếp vào lưng. Tôi không nghĩ một người muốn tự sát lại cố tình đâm vào phía sau cơ thể mình. Hơn nữa, như vậy cũng không giải thích được tiếng hét mà hai ông đã nghe thấy."
"Hay là ông ta cố tình chết theo cách giống bị sát hại, để ngụy trang một vụ tự sát thành án mạng?"
"Nếu vậy thì dùng chính con dao của mình là điều quá vô lý. Có lẽ vì lý do nào đó, hung thủ và ông Dent đã giằng co. Trong lúc ấy, ông Dent đánh rơi dao. Hung thủ nhặt nó lên rồi đâm ông ấy từ phía sau. Đại khái là vậy."
Peter ngượng ngùng hạ bàn tay vừa diễn động tác harakiri xuống.
"Ai là người phát hiện thi thể?"
"Tôi và Bộ trưởng An ninh Joseph Wilson. Nhưng người đầu tiên nhận ra có chuyện bất thường là Nicole Fisher thuộc bộ phận hành chính. Cô ấy đến khu nhà lãnh đạo để mang bữa sáng."
Trước cửa sổ Bắc-3 vẫn còn nguyên chiếc khay bữa sáng Nicole mang tới.
Trên đó là bánh pancake. Nghe nói đầu bếp đã chuẩn bị riêng món này cho Dent vì ông không ăn được ngũ cốc.
"Nghe tiếng Nicole, tôi và Joseph chạy đến Bắc-3, rồi xác nhận cả cửa ra vào lẫn cửa sổ đều bị khóa."
"Xin hỏi một chuyện có vẻ không liên quan."
Giọng Ririko trở nên cứng lại.
"Khi hai ông ra ngoài, hai ông có khóa cửa phòng mình không?"
"Có chứ. Giáo phụ luôn nhắc đi nhắc lại phải cẩn thận khóa cửa. Tôi nghĩ Joseph cũng đã khóa."
"Để chắc chắn, ông có thể hỏi lại ông Joseph không?"
Otoya không hiểu dụng ý của câu hỏi, nhưng Peter vẫn ngoan ngoãn lấy bộ đàm ra hỏi Joseph điều tương tự.
Câu trả lời của Joseph giống hệt Peter. Cả hai đều đã khóa cửa phòng mình.
"Cảm ơn." Ririko không giải thích thêm, chỉ ra hiệu cho Peter tiếp tục.
"Sau khi bảo Nicole quay về, chúng tôi lấy súng trường từ kho vũ khí rồi đập vỡ cửa sổ. Bên trong, Dent nằm trên sàn, người đầy máu. Chìa khóa nằm trên kệ giày, nhưng không thấy hung thủ đâu cả."
Nói cách khác, hiện trường vụ án là một căn phòng kín.
Đúng như Peter đã nói trong Nhà của Cha, nếu các tín đồ Giáo hội Nhân dân biết chuyện này, họ sẽ cho rằng Jim đã giáng thần phạt xuống Dent.
"Cho tôi xem chìa khóa được không?" Ririko đề nghị.
Peter đưa chiếc chìa khóa đang đặt trên bàn cho cô.
"Mỗi phòng trong khu nhà lãnh đạo chỉ có một chìa khóa. Ngay từ lúc đập kính nhìn vào, chúng tôi đã thấy nó nằm trên kệ giày. Không có chuyện Joseph vào phòng rồi lén đặt nó ở đó."
Ririko xoay qua xoay lại chiếc chìa khóa trong tay, ngắm nghía thật kỹ. Đó chỉ là một chiếc chìa khóa bằng đồng hết sức bình thường.
Otoya tiếp tục hỏi thay cô.
"Sau khi phát hiện thi thể, các ông làm gì?"
"Tôi dùng bộ đàm gọi bác sĩ Loretta Schacht. Joseph chạy đi báo cho Giáo phụ. Người đến trước là Giáo phụ.
Sau khi nghe toàn bộ sự việc, ngài ra lệnh kiểm tra hành lý của Dent. Chúng tôi tìm trong ngăn kéo bàn và vali, rồi phát hiện thứ này giấu ở mặt trong nắp vali."
Peter lấy một cuốn sổ từ chiếc vali đặt cạnh bàn. Anh mở một trang ở giữa.
Tên, tuổi, nơi sinh, mức độ tín ngưỡng, nghề nghiệp của cha mẹ, số tiền cha mẹ quyên góp và nhiều thông tin khác về những đứa trẻ đang học tại trường ở Jordentown được ghi kín đặc.
Nó giống hệt danh sách của Ennai Shinto mà Ririko đã lấy được bốn năm trước.
"Có vẻ Giáo phụ đã nghi ngờ thân phận của ông Dent từ trước. Hôm qua, sau 10 giờ 30 phút, ngài còn gọi ông ấy đến Nhà của Cha để dò hỏi về việc bàn giao từ người tiền nhiệm.
Tuy nhiên, dường như ngài không ngờ ông ấy là gián điệp. Khi chúng tôi báo nội dung cuốn sổ, ngài tỏ ra vô cùng kinh ngạc."
Dent hét lên vào khoảng 11 giờ 40 phút. Nghĩa là Jim Jorden đã gặp Dent khoảng một giờ trước đó.
"Sau đó, Giáo phụ ra lệnh đưa các vị đến Nhà của Cha. Tôi, Joseph và Larry Levins, người chúng tôi gặp trước nhà ăn, cùng đi tới Nam-30. Phần còn lại thì các vị đã biết."
Larry chĩa súng vào họ, rồi Otoya, Ririko và Lee bị đưa đến Nhà của Cha.
Ririko bước ra khỏi phòng với vẻ suy tư, tra chìa khóa vào ổ trên tay nắm cửa.
Cạch. Chốt khóa bật ra khỏi cạnh cửa.
"Có khả năng đây thực ra là chìa khóa của phòng khác không?"
"Rất tiếc, không có chìa khóa dự phòng hay chìa khóa tổng. Có thể nhờ thợ khóa làm bản sao, nhưng khu khai hoang này không có vật liệu để làm chìa khóa, cũng chẳng có thợ nào đủ tay nghề."
Otoya ghé mắt nhìn ngang vào ổ khóa.
Không có vết xước nào giống như từng bị luồn dây thép vào cạy.
"Có thể sau khi khóa cửa từ bên ngoài, hung thủ đã dùng cách nào đó chuyển chìa khóa vào trong phòng."
Lee vừa nói vừa ngậm khăn tay. Có vẻ anh vẫn đang cố nhịn nôn.
"Cách nào đó là cách nào?"
"Chẳng hạn dùng chỉ làm một đường dây, chuyển chìa khóa từ khe dưới cửa lên trên kệ giày."
Một thủ thuật rẻ tiền.
"Không được đâu." Otoya đóng cửa lại.
Cả phía trên lẫn phía dưới đều không có khe hở.
"Thấy chưa?"
Góc trên bên trái chiếc bàn có một ô thông gió, nhưng ở đó cũng được bọc hai lớp lưới kim loại, không có khe nào đủ lớn để đưa chìa khóa qua.
"Khi ông Peter và mọi người phát hiện thi thể, liệu cánh cửa có thực sự bị khóa không?"
Lee vẫn cố truy vấn.
"Có khi một vật gì đó mắc vào cửa khiến nó không mở được, rồi mọi người tưởng là cửa bị khóa thì sao?"
"Ngay sau khi vào phòng, chúng tôi đã kiểm tra cửa. Không có gì mắc vào cả. Cửa sổ cũng vậy."
"Hay khi các ông vào, hung thủ đang trốn ở đâu đó trong phòng rồi nhân lúc các ông sơ hở lẻn ra ngoài?"
"Chúng tôi đã kiểm tra dưới giường và trong tủ quần áo. Không có ai."
"Hoặc tháo gạch lát sàn ra sẽ có một lối đi bí mật..."
"Không có đâu. Nhìn là thấy đây chỉ là công trình của thợ nghiệp dư khá hơn chút ít. Không đủ tinh vi để xây đường hầm bí mật."
Otoya và Lee nhanh chóng hết ý tưởng.
Còn Ririko đang liên tục kéo chuỗi hạt trên cổ tay, vừa rên "À..." rồi "Ừm..." đầy bận rộn.
"Tôi xin hỏi một chi tiết nhỏ. Khi ông Peter và mọi người phát hiện thi thể, chìa khóa nằm trên kệ giày, đúng không? Nhưng lúc nãy, khi tôi đề nghị xem chìa khóa, nó lại nằm trên bàn. Có ai đã di chuyển nó sao?"
Peter nghiêng đầu suốt vài giây như đang lật tung bộ não, rồi vỗ tay.
"À. Khi chúng tôi khám xét căn phòng, Joseph đá ngón chân vào kệ giày. Chìa khóa rơi xuống sàn. Nó không dính máu, nhưng tôi sợ ông ấy lại làm thế lần nữa, nên chuyển nó sang chiếc bàn cách xa thi thể."
Ririko buông chuỗi hạt, lẩm bẩm: "Ra vậy."
"Cô đã hiểu thủ thuật rồi sao?" Lee phì mạnh qua mũi.
Dù chìa khóa được đặt ở đâu, việc khóa cửa từ bên ngoài vẫn là bất khả thi.
"Tôi đã loại bỏ được một khả năng. Giá có thêm chút manh mối thì tốt..."
Ririko vừa lẩm bẩm vừa nhìn xuống vũng máu. Đột nhiên cô thốt lên:
"Ồ?"
Rồi cúi người, nhìn chăm chú vào cửa tủ quần áo.
"Các vết máu không nối liền với nhau."
Chiếc tủ cao khoảng một mét bảy mươi, rộng chừng năm mươi centimet. Giống như bức tường hai bên, toàn bộ hai cánh cửa mở sang hai phía đều được ốp gương. Nhìn kỹ, mép dưới cánh cửa có dính máu.
Đúng như Ririko nói, vết máu trên hai cánh không nối liền nhau.

Phần máu bên trái lệch lên trên khoảng ba centimet.
"Đây là một manh mối rất thú vị."
Ririko vừa đóng mở hai cánh cửa tủ quần áo, vừa quan sát với vẻ đầy khó hiểu.
Cả hai cánh cửa đều được cố định bằng hai bản lề thép không gỉ ở phía trên và phía dưới. Các con vít vẫn được siết chặt, không có dấu vết nào cho thấy cửa từng bị tháo ra.
Nhìn vào bên trong tủ, ở ngang tầm đầu có một thanh treo quần áo, trên đó chỉ treo duy nhất một chiếc mắc áo.
Ririko cẩn thận kiểm tra hai bên thành tủ và cả mặt sàn, nhưng không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào.
"Ra vậy... Phạm vi khả năng đã thu hẹp đi rất nhiều."
Mặc kệ cấp trên vẫn còn chưa hiểu gì, cô trợ lý lại nói một câu đầy ẩn ý.
"Chỉ còn thiếu một chút nữa thôi là tôi sẽ tìm ra đáp án."
Đúng lúc đó, tiếng rè rè như sóng vô tuyến vang lên.
Peter lấy chiếc bộ đàm ở bao bên hông ra rồi đi cách họ vài bước để nói chuyện.
"Tìm được nhân chứng rồi sao?" Lee phấn khởi hỏi.
Nếu đúng vậy thì vụ án sẽ được giải quyết ngay lập tức.
Peter đáp vào micro: "Đã rõ." Rồi quay lại nhìn ba người.
"Chưa có ai khai là đã nhìn thấy hung thủ."
Ông dừng lại một chút.
"Nhưng có người nói rằng vào đêm qua, họ đã nhìn thấy ông Dent chạy trốn khỏi... một thứ gì đó."
3
Kim đồng hồ đeo tay chỉ 9 giờ 30 phút.Chỉ còn chín mươi phút nữa là đến thời hạn.
Một con bướm đêm lớn gần bằng con quạ đang bay lượn không ngừng trên đầu.
Trong lúc Otoya sốt ruột chờ nhân chứng, một người phụ nữ chừng ba mươi tuổi vừa nhìn quanh vừa bước vào nhà ăn.
"Xin lỗi..." Người phụ nữ trông thấy Peter, do dự gọi ông.
"Có chuyện gì vậy?" Peter đáp.
Có vẻ cô ta không phải nhân chứng mà họ đang chờ.
"Ờm... ông có biết bác sĩ Loretta Schacht đang ở đâu không? Tôi đến phòng khám cũng không thấy bà ấy."
Khuôn mặt người phụ nữ trống rỗng như bị rút mất linh hồn. Giọng nói cũng chẳng mang chút cảm xúc nào. Cô thở dốc, toàn thân đẫm mồ hôi như vừa bị một trận mưa rào xối xuống.
"Bác sĩ đến nghĩa trang rồi. Chắc sẽ sớm quay lại thôi. Có chuyện gì sao?"
"Không, không. Không có gì đâu."
Cô vừa nói với vẻ rõ ràng không giống như không có chuyện gì, vừa xua hai tay.
Dù vậy, thứ thực sự cử động chỉ có bàn tay trái.
Cánh tay phải của cô đã mất từ khuỷu trở xuống.
Sau buổi phỏng vấn nhóm hôm qua, Otoya lại quan sát kỹ Jordentown và nhận ra một điều.
Tỷ lệ cư dân trong khu định cư này mang thương tích, bị mất một phần cơ thể hoặc biểu hiện triệu chứng bệnh tật rõ ràng cao một cách bất thường. Chỉ nhìn sơ qua cũng thấy cứ ba hoặc bốn người thì có một người dường như đang gặp vấn đề nào đó về thể chất. Có lẽ những người mang cùng nỗi khổ đã tụ tập về đây để tìm kiếm ân sủng có thể đạt được khi gia nhập Giáo hội Nhân dân...
Hoặc tìm kiếm ảo giác ấy.
Người phụ nữ chồng hai cánh tay lên nhau như thể cánh tay phải vẫn còn nguyên.
"Xin lỗi đã làm phiền."
Nói xong, cô quay lưng lại với Peter rồi chạy về phía nghĩa trang.
"Không biết đã xảy ra chuyện gì..."
Peter lo lắng lẩm bẩm.
Đúng lúc ấy, như thay chỗ cho người phụ nữ, hai bóng người nhỏ bé bước vào nhà ăn.
Peter đứng dậy, vẫy tay gọi họ. Lần này có vẻ đúng là nhân chứng mà họ chờ đợi.
"Thì ra chỉ là trẻ con."
Otoya tưởng mình đã nói đủ nhỏ để không ai nghe thấy, nhưng Lee vẫn lườm ông.
Một trong hai đứa trẻ trông quen mắt.
Đó là cậu bé người châu Á họ đã gặp hôm qua trong Nhà của Cha. Cậu bị bắt đóng vai mang con thằn lằn gai Bill tới, và hình như Jim gọi cậu là Q.
Đứa còn lại là người da trắng. Tuy chiều cao tương đương, nhưng phong thái lại trưởng thành hơn Q rất nhiều. Trông nó giống kiểu học sinh làm chủ tịch hội học sinh, luôn vô cớ coi thường những người xung quanh.
Ánh mắt nó nhìn nhóm Otoya cũng lộ rõ vẻ nghi ngờ.
"Cảm ơn. W, quay lại trường đi."
Peter cho Q ngồi xuống ghế rồi nói với đứa còn lại.
Chẳng lẽ trong khu định cư này, tất cả trẻ em đều được gọi bằng chữ cái?
"Họ bắt chước 007 đấy." Lee ghé tai Otoya thì thầm.
Quả thật trong loạt phim 007 có những nhân vật được gọi bằng mật danh chữ cái.
Trong một bộ phim Otoya xem vài năm trước, cũng có một ông già phụ trách phát triển thiết bị tên là Q.
Nhưng...
"Nếu vậy thì thằng kia phải là M chứ?"
Ông nhớ cấp trên của 007, người đứng đầu cơ quan tình báo, được gọi là M.
Còn nhân vật tên W thì ông chưa từng nghe nói.
Giống như tấm biển Umi no Niwa, chữ cái lại bị đảo ngược.
"Chắc giống hệt thì chán quá."
Lee bĩu môi như muốn nói đừng hỏi tôi.
W tuân theo chỉ dẫn của Peter, một mình rời khỏi nhà ăn.
"Em có thể kể cho chú nghe chuyện xảy ra tối qua không?"
Peter ngồi xuống trước mặt cậu bé và hỏi.
"Mick bị oan hồn của chó bụi giết chết."
Q trả lời bằng giọng nghèn nghẹt như đang sổ mũi.
"...Hả?"
"Cháu đã nói rồi. Oan hồn của con chó bụi lẻn vào căn nhà cháu ngủ rồi giết Mick."
"Mick là... ờm, một con kỳ nhông sao?"
"Là thú có túi opossum[1]."
"Tại sao em nghĩ nó bị oan hồn của chó bụi giết?"
"Khi cháu đang ngủ trên giường, đột nhiên nghe thấy tiếng con chó ấy sủa. Cháu có linh cảm xấu nên nhìn vào lồng, thì Mick đã không còn cử động."
Không phải điềm báo của côn trùng, mà là điềm báo của chó sao.
"Chó bình thường chắc không nguyền rủa rồi giết thú opossum đâu."
"Chắc nó tức giận vì đang đói mà cháu không cho ăn. Giáo viên mắng cháu rằng không được cho khỉ và chó hoang ăn, nên cháu đã làm theo. Nhưng con chó đâu hiểu chuyện đó."
Q nhăn mũi, trông như sắp khóc.
"Được rồi. Sau đó thì sao?"
"Dù cháu lắc lồng, Mick vẫn nằm ngửa, không cử động. Hơn nữa, khi ghé mặt lại gần, cháu còn ngửi thấy mùi giống xác chuột.
Vì vậy, trước khi linh hồn nó biến mất, cháu nghĩ phải mang nó đến Nhà của Cha để xin Giáo phụ làm cho sống lại."
Otoya không biết thú opossum là con vật thế nào, nhưng khác với con thằn lằn gai lần trước, có vẻ Q thực sự rất yêu quý nó.
"Khi ấy là khoảng mấy giờ?"
"Lúc rời khu nhà, cháu nhìn đồng hồ thấy 11 giờ 35 phút. Trời mưa rất lớn nên cháu mặc áo mưa rồi xách lồng của Mick đi đến Nhà của Cha. Khi vừa đi qua khu nhà lãnh đạo, cháu nghe tiếng một người đàn ông hét lên từ phía nhà vệ sinh. Cháu giật mình, trốn sau khu nhà. Sau đó, ông Dent, vị luật sư ấy, chạy từ phía có tiếng hét tới."
Ririko lập tức nghiêng người về phía trước.
Nghĩa là ngay trước khi bị giết, Dent đã đến nhà vệ sinh sao?
"Ông Dent không dừng lại lần nào, chạy thẳng vào Bắc-3. Cháu còn đang thắc mắc có chuyện gì thì khoảng mười giây sau, từ Bắc-3 lại vang lên một tiếng hét rất lớn. Cháu sợ quá nên quay về khu nhà luôn."
Những người lớn nhìn chằm chằm vào khuôn mặt cậu bé trong vài giây.
"Chị hỏi lại cho chắc."
Ririko lên tiếng.
"Sau khi ông Dent chạy đi, có ai đuổi theo ông ấy không?"
"Không. Không có ai cả."
"Vậy lúc ấy ông Dent có bị thương không?"
"Không ạ."
Cả bốn người bất giác nhìn nhau.
Nếu lời khai của Q là đúng, Dent đã chạm trán hung thủ ở nhà vệ sinh, rồi chạy về khu nhà và chết tại đó. Nhưng nếu lúc chạy khỏi nhà vệ sinh ông vẫn chưa bị thương, hung thủ phải đuổi theo vào phòng rồi đâm vào lưng ông.
Thế nhưng Q lại nói ngoài Dent ra, cậu không nhìn thấy bất cứ ai.
"Có hai hung thủ chăng? Một kẻ dọa Dent ở nhà vệ sinh, còn kẻ kia đợi trong phòng để kết liễu ông ta."
Otoya nói đều đều.
"Làm vậy phức tạp để làm gì? Nếu có hai hung thủ, họ chỉ cần cùng nhau tấn công khi ông Dent đến nhà vệ sinh là chắc chắn nhất."
Đúng như dự đoán, Ririko lập tức bác bỏ.
Otoya không thể phản bác. Nhưng nếu vậy, tại sao cậu bé lại không nhìn thấy hung thủ?
Nghĩ đến việc hung thủ còn biến mất khỏi căn phòng kín như làn khói, ngay cả Otoya cũng bắt đầu muốn nghi ngờ cái gọi là oan hồn chó bụi.
"Nhân tiện, con Mick thế nào rồi? Em định nhờ Giáo phụ làm nó sống lại mà?"
Lee hỏi một chuyện chẳng liên quan.
"Đến sáng thì nó sống lại rồi. Cháu nghĩ lời cầu nguyện của mình đã được đáp lại và Giáo phụ đã cứu nó." Q thản nhiên đáp.
Cái gì vậy chứ?
Trong khoảng năm phút sau đó, Ririko và Peter thay đổi cách hỏi đủ kiểu để cố khai thác thêm thông tin từ cậu bé, nhưng không thu được gì mới.
"Cảm ơn em. Khi về trường, nhớ kể lại như vậy cho hiệu trưởng Ray Morton."
Peter vỗ vai Q.
Cậu bé gật đầu. "Vâng." Rồi bước ra khỏi nhà ăn.
"À, chị hỏi thêm một điều được không?"
Như vừa nhớ ra chuyện quan trọng, Ririko gọi cậu bé lại.
Q dừng chân, ngạc nhiên nhướng mày.
"Điều chị sắp nói tuyệt đối không có nghĩa là phủ nhận thứ em tin tưởng. Em có quyền tin vào điều mình muốn tin. Nhưng..."
Ririko bước đến trước mặt cậu bé, khuỵu gối xuống rồi nhìn thẳng vào mắt Q.
"Việc Mick sống lại không phải nhờ Giáo phụ."
Q chớp mắt liên tục như một chú gà con.
"Hả?"
"Ngày trước chị cũng từng được giáo viên dạy rằng thú opossum đôi khi giả chết để tự vệ. Khi cảm thấy sắp bị thú săn mồi tấn công, chúng cố tình giả vờ đã chết. Cơ bắp cứng lại, toàn thân bất động. Có khi chúng còn thè lưỡi và cố ý phát ra mùi thối như xác đang phân hủy. Chúng lừa kẻ thù như vậy để bảo vệ bản thân."
"Ý chị là Mick đã nhận ra oan hồn của con chó bụi sao?"
"Không. Oan hồn không tồn tại."
"Nhưng trong khu nhà đâu có thú săn mồi."
"Chỉ là em không nhận ra thôi. Có lẽ trong lúc em ngủ, một con rắn hoặc thằn lằn nào đó đã lẻn vào rồi rời đi trước khi em thức dậy. Tối qua, cửa sổ khu nhà của em đã bị quên không đóng, đúng không?"
Q vò đầu.
"Em không nhớ..."
"Vừa rồi em nói mình tỉnh dậy vì nghe tiếng chó bụi. Nhưng em cũng nói lúc đi đến Nhà của Cha, mưa đang rơi rất lớn. Nếu cửa sổ đóng, tiếng động vật kêu hẳn đã bị tiếng mưa đập trên mái át mất. Mick nhận ra thú săn mồi lẻn vào từ bên ngoài nên giả chết trong lồng. Vì nó không thực sự chết, sau khi con vật kia rời đi một lúc, nó lại cử động bình thường. Đó là hiện tượng tự nhiên, không phải phép màu."
Q không đáp, chỉ há miệng ngơ ngác.
Khuôn mặt cậu thoáng buồn, như vừa phát hiện thứ mình luôn trân trọng hóa ra là giả.
"Tại sao chị lại hiểu rõ về em đến vậy?"
Cậu bé khẽ hỏi.
"Chị là nhà tiên tri à? Hay có khi là thần linh?"
Otoya suýt bật cười, nhưng Ririko nghiêm túc trả lời:
"Chị chỉ là một người bình thường. Chị làm một nghề khá hiếm gọi là thám tử."
"Thám tử...?"
Đôi mắt cậu bé bừng sáng. Khóe môi giãn ra, hai má hơi ửng đỏ.
Ririko chợt nhớ đến gần hai mươi năm trước, khi chú Kunio nói cho cô biết công việc của ông.
Có lẽ khi ấy, cô cũng mang vẻ mặt giống cậu bé lúc này.
"Nhưng thật ra chị chỉ là trợ lý thôi."
Ririko ngượng ngùng quay nhìn Otoya.
Đúng lúc đó, một người phụ nữ bước vào nhà ăn với tiếng chân lớn bất thường. Đó là người phụ nữ một tay vừa đi tìm bác sĩ Loretta Schacht. Mồ hôi đã khô, nhưng sắc máu trên mặt cô cũng biến mất hoàn toàn.
Ba mươi phút trước, cô còn thất thần. Còn lúc này, rõ ràng cô đang khiếp sợ một điều gì đó.
"Cô làm sao vậy?" Peter chạy tới, đỡ hai vai cô.
"À... chuyện là..."
Những lời cô thều thào trong hơi thở đứt quãng đã chứng minh một cách rõ ràng rằng thám tử không phải thần linh, cũng chẳng phải nhà tiên tri.
❀ ❀ ❀
[1] Opossum: chồn túi ở Châu Mỹ
◆
"Chris, lát nữa cô có rảnh không?"
Rachel Baker vừa nói vừa dùng tay phải vặn đi vặn lại núm bếp gas.
Christina Miller dừng tay cắt hai đầu quả đậu cô ve.
Rachel là đàn chị trong tổ nấu ăn. Tại sao đột nhiên cô ấy lại rủ mình? Vì có thiện cảm với Christina ư? Không thể nào. Chắc chỉ vì cùng làm việc, nếu không rủ thì sau này sẽ khó xử. Nhất định là vậy. Không có chuyện cô ấy định cười nhạo mình vì đã nhận lời. Nhất định...
"Cô có hẹn trước rồi à?"
Rachel vừa xoay núm bếp kêu lách cách vừa nhìn sang.
Chỉ có tiếng rè rè vang lên, hoàn toàn không có dấu hiệu bếp sẽ bắt lửa.
"Không. Nhưng... tôi đi cùng thật sự được sao?"
"Đương nhiên là được. Vậy quyết định nhé. Có Blanca, Chris và tôi, ba người chúng ta chắc bác sĩ Jody sẽ hài lòng."
Không giấu nổi vẻ phấn khích, Rachel vô cớ nhịp gót chân xuống sàn.
Kể từ khi Jody Randy đến Jordentown hai tuần trước, Rachel đã hoàn toàn bị bà cuốn hút.
Jody Randy là một bác sĩ tâm thần nổi tiếng vì nghiêm khắc phê phán giả khoa học. Những chiến tích như khiến nhà tiên tri Jeane Dixon câm lặng hay làm nhà ngoại cảm Uri Geller cất thìa vào tủ rồi bỏ chạy nhiều đến mức kể không xuể.
Dù phần lớn những chuyện ấy Christina đều nghe từ Rachel, còn bản thân cô chỉ nhớ từng vài lần nhìn thấy Jody trên truyền hình. Tối hôm trước khi Jody và những người khác đến, một cuộc họp bất thường được tổ chức tại nhà hội trường.
Theo Bộ trưởng Nội vụ Peter, họ đến Jordentown theo chỉ thị của Charles Clark để điều tra tình hình bên trong Giáo hội Nhân dân.
Giáo hội Nhân dân đang liên tục bị những kẻ tấn công của ác quỷ công kích, nhưng nếu có được Charles làm đồng minh, cục diện có thể đảo ngược ngay lập tức.
Peter nhấn mạnh rằng mọi người phải hết sức hợp tác với cuộc điều tra. Từ ngày hôm sau, nhóm Jody bắt đầu phỏng vấn cư dân. Mỗi lần, họ gọi vài người đến phòng học E và trò chuyện trong khoảng một giờ.
Khi hỏi những người đã được chọn, Christina nghe nói nội dung phỏng vấn chủ yếu xoay quanh mối quan hệ của họ với Giáo hội Nhân dân và cuộc sống tại Jordentown, chứ không phải kiểu điều tra giật gân nhằm phơi bày mặt tối của giáo đoàn.
Rachel Baker đáng yêu chỉ biết ngày ngày chờ đợi đến lượt mình được gọi vào phòng học E.
Ban đầu Christina hơi khó chịu trước sự tò mò lộ liễu của Rachel, nhưng càng nghe cô kể những giai thoại về Jody, Christina càng nhận ra Rachel thực sự mê mẩn bà.
Thế nhưng đợi mãi vẫn không thấy ai triệu tập.
Rồi ngày kia, khoảnh khắc định mệnh cuối cùng cũng đến với Rachel.
Hơn 6 giờ chiều, ánh hoàng hôn chiếu vào bếp. Khi ấy Rachel vừa xếp xong những đĩa súp sữa lên chiếc bàn đặt trước container.
Nếu xếp lộn xộn, Blanca sẽ cằn nhằn, nên công việc ấy cũng tốn khá nhiều thời gian.
Chỉ vài phút nữa, các tín đồ đói bụng sẽ lần lượt kéo đến.
Sau khi kiểm tra thấy các đĩa súp được xếp ngay ngắn cùng hướng, Rachel định quay vào container.
Nhưng lúc đó, cô nhận ra có một con kiến đang nổi trên một đĩa súp.
Những chiếc đĩa này được mua số lượng lớn tại một cửa hàng giảm giá ở San Francisco, có hình dạng giống một chiếc nồi hai quai, với tay cầm ở cả hai bên.
Rachel định dọn đĩa súp có kiến đi nên nắm lấy một bên tay cầm. Đúng lúc ấy, từ phía bên kia bàn, một người khác cũng nắm lấy tay cầm còn lại.
"À, cái này có côn trùng nên..."
Vừa nói vừa ngẩng đầu lên, Rachel thấy khuôn mặt Jody Randy chỉ cách mình vài chục centimet.
"Ôi, xin lỗi."
Giống như nữ chính trong phim tuổi teen vô tình cùng người mình thích lấy chung một cuốn sách, Rachel lập tức rụt tay lại.
Jody vẫn giữ nguyên tay trên chiếc đĩa, chớp đôi mắt xanh đầy khó hiểu.
"À, tôi tên là Rachel Baker. Bao giờ thì đến lượt tôi được phỏng vấn vậy?"
Rachel hỏi bằng giọng cao hơn ngày thường đến hai quãng tám.
Trớ trêu thay, cách đó vài mét, Jim Jorden đang được một đứa trẻ dắt tay đi về phía nhà ăn.
Mỗi tháng một lần, Jim dùng bữa tối cùng trẻ em tại đây.
Hiệu trưởng Ray Morton, với ánh mắt hiền hòa nhưng không hề sơ hở, đang đứng cách vài bước để trông chừng chúng.
Nếu thấy một tín đồ phấn khích trước người ngoài, liệu Jim có nổi giận không?
Đứng trên bậc thang dẫn vào container quan sát cuộc trò chuyện, Christina không khỏi lo lắng.
"Không, chưa có lịch đâu." Jody vui vẻ trả lời.
Nghe nói đối tượng phỏng vấn được quyết định qua thảo luận trong đoàn điều tra, và đáng tiếc là tên Rachel thậm chí chưa từng được đưa vào danh sách ứng viên.
"Nhưng đã gặp nhau thế này rồi, tôi cũng muốn nghe câu chuyện của cô. Những người trong tổ nấu ăn cũng hãy cùng tham gia nhé."
Có lẽ vì thương Rachel đang thất vọng ra mặt, Jody vui vẻ đề nghị.
Dĩ nhiên Rachel đã nhảy cẫng lên.
"Vậy hẹn gặp lại."
Sau khi thống nhất thời gian và địa điểm, Jody đặt đĩa súp lên khay, mỉm cười rồi bước vào nhà ăn. Jim quay mặt về phía họ trong thoáng chốc, nhưng không thay đổi biểu cảm, chỉ tiếp tục đi cùng bọn trẻ vào trong. Christina dĩ nhiên đã thở phào nhẹ nhõm. Và thế là hai ngày sau, vào hôm nay, buổi tiệc trà không chính thức được tổ chức.
"Không được rồi, hoàn toàn không lên lửa. Chị Blanca, cái bếp này hỏng rồi."
Rachel, vẫn tiếp tục xoay núm bếp lách cách, cuối cùng cũng chịu đầu hàng.
"Không thể nào."
Blanca Hogan vừa rửa những chiếc đĩa dính đất vừa trả lời với giọng bực bội.
Bà là một cựu binh lâu năm, phụ trách nấu ăn từ ba năm trước, khi đội tiền trạm đầu tiên đến Jordentown. Hiện bà là tổ trưởng tổ nấu ăn thuộc Bộ Nội vụ.
"Thật mà. Kẻ phá bếp chắc đã làm hỏng cả bếp gas rồi."
Blanca thở dài, khóa vòi nước rồi đưa tay trái về phía bếp.
"Phải ấn vào rồi xoay thật mạnh. Làm như thế thì, thấy chưa?"
Cùng lúc núm bếp xoay, một tiếng phụt vang lên và ngọn lửa xanh bùng sáng.
"Ơ? Đúng thật." Giọng Rachel nhỏ dần.
Blanca lập tức quay lại bồn rửa, tiếp tục dùng miếng bọt biển chà đĩa như chưa có chuyện gì.
Christina cũng tiếp tục cắt đậu lách cách.
"Này, tôi nghĩ ra một chuyện hay."
Có lẽ không chịu nổi bầu không khí ngượng ngùng, Rachel gượng gạo đổi chủ đề.
"Bác sĩ Jody chắc có thể tìm ra thủ phạm phá bếp."
"Chuyên môn của bà ấy là bẻ thìa với thần giao cách cảm cơ mà."
"Chính vì vậy đấy. Căn bếp sáng nay giống hệt vừa xảy ra hiện tượng ma quỷ quấy phá..."
Nói đến đó, Rachel đột nhiên kêu lên một tiếng kỳ quặc:
"À!"
"Tối qua tôi đã mơ một giấc rất đáng sợ. Một hồn ma túm chặt tay phải tôi rồi định kéo tôi đi đâu đó. Là kiểu hồn ma thanh lịch, trông như sống trong lâu đài cổ ở Đan Mạch ấy. Có khi nó xuất hiện ở đây và gây ra hiện tượng ma quỷ quấy phá."
"Một hồn ma thanh lịch đời nào lại muốn mang Rachel đi."
Blanca lạnh lùng bác bỏ.
Không hiểu sao Rachel lại vui vẻ nhún vai.
"Thế à?"
Người phụ nữ này lúc nào cũng tươi sáng, cởi mở với tất cả mọi người và hành động tự do tùy ý.
Christina không thích cô ấy. Cách cư xử của Rachel liên tục phơi bày thứ mà Christina thiếu.
Thứ Christina từng cố giành lấy, ngay cả khi phải mất đi cánh tay phải. Mọi chuyện bắt đầu vào mùa hè năm mười sáu tuổi. Khi Christina đang ngủ gật trên xe buýt của trường trung học Redwood Valley, tai họa bất ngờ ập đến. Chiếc xe húc gãy một trụ cứu hỏa rồi lao lên bồn cây.
Nguyên nhân là tài xế suýt đâm phải một gia đình gấu mèo nên đột ngột đánh tay lái. Phần lớn học sinh trên xe chỉ bị ngã khỏi ghế, nhưng riêng Christina đập thẳng mặt vào tay vịn bằng thép không gỉ, bất tỉnh giữa vũng máu trên sàn. May mắn là não không bị tổn thương, nhưng cô phải phẫu thuật chỉnh lại sống mũi đã cong thành hình chữ L.
Một tuần sau tai nạn, Christina đến trường với chiếc nẹp trên mũi, trông như vừa hóa thành nữ chính trong một bộ phim tuổi teen.
Ai đi ngang hành lang cũng ngoái lại nhìn cô. Các giáo viên vào lớp đều khen ngợi lòng dũng cảm của Christina sau ca phẫu thuật. Ngay cả những cô gái nổi bật trước giờ hiếm khi nhìn cô cũng tiếc thương cho bất hạnh của Christina và cất lời động viên.
Nhưng tác dụng kích thích ấy chỉ kéo dài vài tuần.
Khi chiếc nẹp được tháo ra và mọi người biết mũi Christina đã không còn cong, chẳng ai còn để mắt tới cô. Thứ từng nổi bật không phải bản thân cô, mà là chiếc xương mũi bị biến dạng.
Từ đó, Christina trở nên hơi khác thường. Có lẽ cô đã mắc một căn bệnh nào đó. Mỗi khi không chịu nổi sự cô độc và bất an, cô bắt đầu tự làm tổn thương khuôn mặt mình. Cô dùng bật lửa đốt tóc mái, dùng kim đâm vào môi, dùng dao cạo rạch giác mạc.
Ban đầu, khi nhận ra những vết thương và chỗ sưng, bạn cùng lớp còn lo lắng hỏi han.
Nhưng sau nửa năm, chẳng còn ai để ý. Christina cảm thấy phẫn nộ.
Mình đã rơi vào tình cảnh này, tại sao không ai quan tâm?
Giáo viên và học sinh không có trái tim sao?
Nếu mình chết, tất cả là lỗi của chúng. Những suy nghĩ ấy ngày một phình to rồi cuối cùng vỡ tung.
Mùa hè năm mười bảy tuổi. Giống như con gấu mèo năm nào, Christina lao ra giữa đường. Tài xế xe buýt trường học đánh gấp sang phải, nhưng nắp ca-pô vẫn đâm thẳng vào ngực trái cô.
Khi cô lăn trên mặt đường nhựa, bánh xe có vành đường kính hai mươi mốt inch nghiền nát cánh tay phải.
Christina tỉnh lại mười chín ngày sau. Cô chỉ lờ mờ hiểu rằng mình dường như vẫn còn sống, nhưng cảm giác như đang chìm dưới đáy nước sôi, không biết mình đang ở đâu.
Mười ngày nữa trôi qua.
Khi cơn sốt do nhiễm trùng huyết hạ xuống, Christina cuối cùng mới nhận ra hình dạng cơ thể mình đã thay đổi.
Cánh tay phải chỉ còn một nửa, tại vị trí từng là khuỷu tay xuất hiện vết khâu giống một vết nứt.
Nhìn cô gái phản chiếu trong gương bệnh viện, Christina nguyền rủa sự ngu ngốc của mình.
Cô muốn trở lại hình dáng cũ.
Cô mong điều ấy từ tận đáy lòng, nhưng thậm chí không thể chắp tay cầu nguyện với Chúa.
Christina bỏ học. Một khi đã rời khỏi sân khấu, cô sẽ không còn phải khổ sở vì khát khao được chú ý. Cô chẳng có gì muốn làm, nhưng cũng không muốn chết.
Những ngày tháng bế tắc cứ thế tiếp diễn.
Hôm đó, cô bật chiếc ti vi mà mình chẳng muốn xem, chỉ để miễn cưỡng xác nhận rằng bên ngoài ngôi nhà vẫn còn một thế giới tồn tại.
Người dẫn chương trình NBC Nightly News vẫn nở nụ cười giả tạo như thường lệ.
Ông ta đọc một tin vô thưởng vô phạt rằng một tờ báo nào đó vừa công bố "nhà nhân đạo tiêu biểu của năm". Khi màn hình chuyển sang đoạn phim tư liệu, một người đàn ông đeo kính râm kiểu phi công xuất hiện cận cảnh. Gân máu nổi lên ở thái dương, hắn giơ nắm đấm và nói đến mức bọt mép văng tung tóe. Dù không phải cuộc mít tinh tranh cử tổng thống, khán giả vẫn reo hò tán thưởng.
"Không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo, hãy dành tình yêu thương ngang nhau cho tất cả mọi người. Chỉ cần như vậy, chúng ta có thể cảm nhận được Chúa trong chính mình."
Đáng ngờ.
Giả tạo.
Dù nghĩ thế, Christina vẫn bị lay động một cách kỳ lạ. Người đàn ông này có thể yêu thương ngang nhau cả những kẻ nổi tiếng luôn được bạn bè vây quanh lẫn một người sống trong bóng tối như cô sao? Ngay cả một cô gái ngu ngốc đã bị lòng ham thể hiện nuốt chửng và mất đi một cánh tay?
Không hiểu sao Christina không thể rời mắt khỏi người đàn ông ấy.
Sau khi rửa xong bát đĩa và chuẩn bị bữa tối, Rachel, Blanca và Christina cùng đi đến trường như đã hẹn.
Jody Randy đã đến trước, đang nhìn lớp toán qua ô cửa nhỏ của phòng học B.
"Tôi đang chờ các cô đấy."
Một câu nói đủ khiến Rachel vui sướng. Phòng học E nóng hầm hập như phòng xông hơi.
Blanca kéo cửa sổ mở vào trong. Dù chỉ là ô cửa nhỏ vuông bốn mươi centimet, luồng gió thổi vào vẫn khiến bóng đèn trên trần đung đưa mát mắt.
Khi họ ngồi xuống những chiếc ghế gần cửa, ba người tự nhiên tạo thành một vòng vây quanh Jody. Blanca lấy bộ trà cụ từ chiếc giỏ đan, bày lên chiếc bàn dài.
Bà rót nước sôi từ ấm vào bình trà chứa lá trà Darjeeling rồi lật ngược đồng hồ cát.
"Phỏng vấn nhóm lúc nào cũng khiến mọi người căng thẳng, đúng không? Tôi vẫn muốn được trò chuyện thoải mái hơn với cư dân."
Jody nói rồi nở nụ cười thân thiện.
Cảm giác khiến người ta yên tâm như đang trò chuyện với một người bạn thân.
"Thật ra tôi có chuyện muốn hỏi bác sĩ."
Rachel mở lời với vẻ không thể nhịn thêm.
"Ở nơi chúng tôi làm việc, một hồn ma thanh lịch đã gây ra hiện tượng ma quỷ quấy phá."
"Đừng tự ý thêm thắt. Chỉ là có người phá phách thôi."
Blanca nói bằng giọng thấp, tay phải cầm đĩa phẳng, tay trái xếp những chiếc bánh quy màu vani lên trên.
Jody tỏ vẻ hứng thú.
"Đã xảy ra chuyện gì?"
Cách diễn đạt của Rachel có phần phóng đại, nhưng đúng là một sự việc khó hiểu đã xảy ra ở nơi làm việc. Lý do Blanca phải rửa những chiếc đĩa dính đất và Christina phải dùng kéo cắt đậu cô ve đều giống nhau. Căn bếp đã bị một kẻ nào đó phá tung.
Cư dân Jordentown ăn sáng trong khoảng từ 7 giờ đến 8 giờ 30 phút.
Để kịp chuẩn bị, tổ nấu ăn bắt đầu làm việc từ khoảng 6 giờ.
Hôm nay, ngày 16 tháng 11, lúc 5 giờ 50 phút sáng.
Khi Christina đến căn bếp được cải tạo từ xe truyền hình lưu động, cô thấy dấu chân bùn trên những bậc thang xây bằng gạch khối. Dấu chân đi vào và đi ra chồng lên nhau.
Có lẽ ai đó đã ra vào giữa đêm.
Vừa thấy kỳ lạ vừa mở cửa, Christina phát hiện nơi làm việc quen thuộc đã hoàn toàn biến dạng. Chiếc nồi lớn nằm đổ ngang. Tủ bát nghiêng tựa vào bức tường đối diện. Bát đĩa văng khắp sàn. May mà đĩa làm bằng thép không gỉ nên không bị vỡ, nhưng một con dao bếp đã gãy đôi, tách thành lưỡi và cán.
Blanca đến gần như cùng lúc với Christina, còn Rachel đến muộn khoảng năm phút.
Cả ba đều không hiểu ai đã làm trò này và vì mục đích gì.
Rachel kể lại sơ lược đầu đuôi rồi nói thêm:
"Cả bếp gas cũng khó bật hơn. Có khi đó cũng là một phần của hiện tượng siêu nhiên."
Cô cố tình nhắc thêm chuyện thừa thãi. Blanca vừa rót trà vào những chiếc cốc xếp thành vòng tròn vừa bác bỏ:
"Chỉ vì cô vụng về thôi."
Còn Jody thì che miệng như đang sưởi ấm tay giữa mùa đông, nghiêm túc suy nghĩ điều gì đó.
"Xin đừng suy nghĩ nghiêm trọng quá. Dù sao chắc chỉ là trò nghịch phá thôi."
Khi Blanca định phát trà, Jody vội đứng dậy.
"Cảm ơn."
Bà tự cầm lấy cốc, ngồi xuống ghế rồi nhấp một ngụm trà đang bốc hơi.
Ba người kia cũng cầm cốc, lặng lẽ uống.
Khoảng một phút trôi qua, Jody đột nhiên hít một hơi thật sâu.
"Cho tôi xác nhận, cửa bếp không có khóa đúng không?"
"Vâng. Ở Jordentown không có trộm. Tôi nghĩ chỉ Nhà của Cha và khu nhà lãnh đạo mới có khóa."
"Nếu lật đổ tủ bát và làm rơi đĩa thì tiếng động hẳn rất lớn. Những người sống ở khu nhà gần đó có nói gì không?"
"Không. Thật ra trong container có dán vật liệu cách âm. Đó là phần còn lại từ thời nó còn là xe truyền hình lưu động phục vụ phát thanh. Vì vậy, chỉ cần đóng cửa sau thì gần như không có tiếng lọt ra ngoài."
"Ra vậy. Nếu thế thì vụ này không có điểm nào giống hiện tượng siêu nhiên. Đáng tiếc, có vẻ hơi khác với lĩnh vực chuyên môn của tôi."
Nói đến đó, bà dịu nét mặt.
"Nhưng tôi vẫn có thể đưa ra vài khả năng."
Rachel mở to mọi lỗ trên khuôn mặt.
"Ý bác sĩ là sao?"
"Các cô dường như cho rằng có người đã phá bếp. Nhưng nếu không nghĩ ra động cơ cụ thể, trước hết nên xem xét những khả năng khác."
"Ý bà là hiện tượng ma..."
"Hiện tượng tự nhiên. Nghe nói căn bếp được cải tạo từ xe truyền hình lưu động. Vì nền móng không vững như những tòa nhà khác, liệu sàn có dễ rung hơn không?"
Người trả lời là cựu binh Blanca.
"Tôi đã sống ở Jordentown ba năm. Chúng tôi từng trải qua vài trận gió lớn đến mức tưởng cả khu định cư sẽ bị thổi bay, nhưng căn bếp chưa bao giờ trở nên tan hoang như vậy.
Đúng là vốn dĩ nó là một chiếc xe, nhưng lốp đã được tháo ra và chúng tôi còn đóng cọc cố định xuống đất. Chỉ một chút rung lắc thì nó không thể di chuyển."
"Ra vậy. Vậy không phải thiên tai."
Jody lập tức thu lại giả thuyết.
"Thế còn khả năng động vật phá phách thì sao? Nghe nói ở Jordentown có quy định không được cho động vật hoang dã ăn.
Có thể một con vật bị mùi thức ăn thu hút đến đây, nhưng vì không được cho ăn nên đang rất đói. Nó lần theo mùi rồi lẻn vào bếp."
"Nhưng cửa container đã đóng."
"Nếu là linh trưởng thì đóng cửa không khó."
Rachel ngượng ngùng liếc Blanca rồi nói:
"Tôi quên chưa kể. Thật ra có dấu chân."
Cô giải thích rằng trên bậc thang gạch khối còn để lại dấu chân được cho là của thủ phạm.
"Ra vậy. Vậy cũng không phải loài vượn."
Jody cười khổ rồi đưa tay lấy một chiếc bánh quy trên đĩa.
"Nếu thực sự có hung thủ, chúng ta phải nghĩ đến một khả năng khó chịu hơn.
Kẻ đó căm ghét một người hoặc tất cả những người trong tổ nấu ăn, nên đã phá tung căn bếp để gây khó dễ."
"Ừ, chắc là vậy."
Bị Jody lôi cuốn, cả ba cũng cho bánh quy vào miệng.
Ít nhất bên trong khoang miệng đã trở thành một buổi chiều nước Anh.
"Nhưng nếu nghĩ như vậy, hành động của hung thủ lại có vẻ thiếu nhất quán.
Nếu muốn làm khó tổ nấu ăn, hắn có thể để cửa mở toang cho nước mưa tràn vào, phá hỏng dụng cụ nấu ăn hoặc làm bất cứ việc gì khác."
"Có lẽ hung thủ cũng không muốn bị mất bữa."
"Hoặc cũng có thể nghĩ theo cách này. Việc lăn nồi hay xô đổ tủ bát không thực sự nhằm gây khó cho các cô, mà chỉ là màn ngụy trang che giấu mục đích thật."
"Ồ!"
Rachel đạp chân liên tục.
"Chính là thế. Không thể sai được."
"Vậy mục đích thật là gì?
Giả sử có một thứ gì đó được giấu trong bếp thì sao?
Hung thủ lẻn vào bếp trong đêm mưa để tìm nó, nhưng không sao tìm thấy.
Trong lúc sốt ruột, hắn định nhìn ra phía sau tủ bát rồi vô tình làm đổ tủ.
Bát đĩa đổ xuống như tuyết lở.
Vì không biết thứ gì vốn được đặt ở đâu, hung thủ không thể sắp xếp lại tủ như cũ.
Thế là hắn xô đổ thêm những chiếc tủ khác, lăn nồi khắp nơi, khiến hiện trường trông như thể có người cố ý phá bếp."
Rachel trông như sắp chảy cả nước dãi, nhưng đúng như dự đoán, Blanca xen vào:
"Tôi đã nói rồi, tôi làm ở tổ nấu ăn từ ba năm trước, khi đội tiền trạm vừa đến Jordentown.
Tôi còn nhớ lúc mang bếp gas và tủ bát vào chiếc container trống. Trong đó không có thứ gì được giấu cả."
"Ra vậy. Nếu thế..."
Jody uống cạn trà với vẻ nghiêm nghị, rồi đột nhiên mỉm cười.
"Không còn cách nào khác. Đáng tiếc, có vẻ vẫn chỉ là hành vi quấy phá."
"Đúng thế."
Blanca nhún vai.
Rachel phồng má, nhưng thật ra trông vẫn rất vui.
"Trà ngon lắm. Thanh nhã mà vẫn có vị ngọt nhẹ."
Jody cầm tách trà, mỉm cười với Blanca.
"Nhắc mới nhớ, tôi hơi để ý một chuyện."
Christina mở lời mà không suy nghĩ nhiều.
"Con dao bếp bị gãy làm đôi. Nó gãy ngay sát gốc lưỡi. Tôi nghĩ nó vốn nằm trong tủ rồi rơi xuống sàn, nhưng có cảm giác dao không dễ gãy như vậy. Chuyện này có thể là manh mối không?"
Nói xong, cô giật mình. Sắc mặt Jody trở nên tệ hẳn, như một con người khác so với mười giây trước. Đồng tử co lại. Môi run bần bật. Mồ hôi túa ra trên cổ.
"Chuyện đó không bình thường. Tôi vốn chỉ nói đùa, nhưng có lẽ không phải vậy. Lý do hung thủ đến căn bếp là..."
Chiếc tách rỗng rơi khỏi tay Jody. Một tiếng choang vang lên, các mảnh vỡ nảy trên sàn.
Rachel thét lên. Khi Christina nhận ra, trà trong tách của chính cô cũng đang đổ xuống chân.
"Bác sĩ có sao không..?"
Blanca ném chiếc bánh quy đang ăn dở rồi chạy đến bên Jody.
Jody ôm ngực, há miệng như thiếu oxy.
Đột nhiên bà ngã khỏi ghế, nôn lên chính chiếc ghế vừa ngồi.
Toàn thân co giật dữ dội, lăn lộn khắp phòng học.
Rõ ràng đây không phải chỉ là sặc thức ăn, mà là một cơn ngộ độc cấp tính.
"...Tại sao?" Christina bất giác thốt lên.
Ở Jordentown không có thương tích hay bệnh tật.
Cô tin điều đó nên mới từ Redwood Valley xa xôi chuyển đến đây.
Chuyện này hoàn toàn khác với những gì cô được hứa.
"Rachel, đi gọi bác sĩ Schacht."
Tiếng quát của Blanca khiến Christina hoàn hồn.
Rachel vẫn chỉ đứng nhìn Jody, không hề cử động.
Thấy vậy, Blanca quay sang Christina.
"Chris, đi gọi bác sĩ. Mau lên!"
Không hiểu chuyện gì đang xảy ra, Christina lao khỏi phòng học.
4
"Bác sĩ Jody đã uống trà, rồi sau đó..."Một luồng gió âm ấm thổi xuyên qua nhà ăn. Người phụ nữ cụt một tay loạng choạng, quỳ sụp xuống sàn. Peter giật mình buông vai cô ra. Có vẻ cô đã mất ý thức, cứ thế đổ úp mặt xuống đất.
"Chẳng lẽ cô Jody đã gặp chuyện gì sao?"
Giọng Lee run lên. Mặt Ririko cũng lập tức tái mét.
Nếu sau Dent, đến lượt Jody bị nhắm tới, vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa: hung thủ đang săn lùng các thành viên của đoàn điều tra.
"Cô Jody đang ở đâu?"
"Nghe nói cô ấy được các tín đồ mời, từ 10 giờ sẽ dự tiệc trà tại phòng học E."
"Ra vậy. Vậy chúng ta đến trường xem sao."
Peter gọi cấp dưới qua bộ đàm, ra lệnh chăm sóc Christina Miller đang bất tỉnh, rồi rời nhà ăn.
Otoya, Ririko và Lee lập tức theo sau.
Cậu bé Q cũng có vẻ muốn đi cùng, nhưng chỉ một câu "Ở lại đây" của Peter đã khiến cậu phải ở lại nhà ăn.
Ngôi trường chìm trong tiếng ồn ào.
Bọn trẻ ùa khỏi lớp, tụ tập trước cửa ra vào và cửa sổ phòng học E.
"Trở lại lớp đi. Các em đang làm hiệu trưởng khó xử đấy."
Peter lên tiếng khuyên bảo, nhưng dường như sự xuất hiện của một lãnh đạo càng khiến chúng tin chắc có chuyện nghiêm trọng xảy ra.
Bọn trẻ càng thêm kích động, nhảy nhót và la hét.
Trước cửa phòng học, một người đàn ông có bộ râu giống phù thủy trong phim Disney - hẳn là hiệu trưởng Ray Morton - đang dang hai tay, cố hết sức đẩy lũ trẻ lùi lại.
Trước cửa sổ, W, đứa vừa đưa Q đến, đang ép lưng vào kính để che khuất bên trong. Nhận xét rằng nó giống chủ tịch hội học sinh xem ra khá chính xác.
Họ chen qua đám đông rồi bước vào phòng học E.
Trong phòng có ba người phụ nữ. Hai người dường như là khách tham dự tiệc trà, còn người thứ ba là bác sĩ Loretta Schacht đã đến trước.
Trên bàn vẫn còn dấu vết của một buổi trà đạm bạc. Một bình trà chứa lá trà, ấm nước, đồng hồ cát, giỏ đan và những tách trà đang uống dở được bày trên đó. Trên đĩa phẳng vẫn còn vài chiếc bánh quy.
Ngay dưới chân bàn, Jody Randy đã chết trong tư thế thân hình to lớn gập lại như chữ V.
Mảnh vỡ tách trà, trà đổ, bánh quy ăn dở, chiếc ghế dính đầy chất nôn.
Tất cả vây quanh thi thể Jody.
Gương mặt nổi bật, rất hợp lên truyền hình của bà giờ bê bết nước mắt và nước mũi.
Cái lưỡi thè ra như một đứa trẻ đang làm trò trông thật kỳ quặc.
Mùi Darjeeling thanh nhã tỏa ra từ thi thể thê thảm ấy cũng tạo nên một cảm giác trớ trêu.
"Đừng đến gần."
Loretta ngăn Peter khi ông định tiến lại gần thi thể.
"Tôi ngửi thấy từ cổ họng một mùi hơi giống hạnh nhân. Tôi nghĩ nguyên nhân tử vong là ngộ độc kali xyanua. Trong chất nôn có thể còn chứa cặn độc."
Peter dừng bước, dùng bộ đàm báo cáo cho Jim Jorden rồi đưa ra vài chỉ thị cho cấp dưới.
Ông lau mồ hôi sau gáy, nhìn quanh mọi người.
"Để tránh khiến tình hình náo động hơn, chúng ta tạm thời ra ngoài. Bác sĩ Schacht hãy đến nhà ăn khám cho Christina.
Hai người tham dự tiệc trà, xin hãy đến phòng tôi. Cô Ririko và mọi người cũng đi cùng."
Sáu người rời rạc gật đầu. Họ mở cửa, bước ra khỏi phòng học E.
Khi Otoya ghé nhìn qua ô cửa sổ nhỏ bên cạnh W, từ mép ghế, một giọt chất nôn rơi xuống.
Tõm.
"Tôi nghĩ chất độc có trong trà do tôi pha."
Blanca Hogan vừa thỉnh thoảng nghiến răng lập cập, vừa trả lời rõ ràng câu hỏi của Ririko.
Bà là một đầu bếp kỳ cựu đã chăm lo bữa ăn cho Giáo hội Nhân dân từ thời trụ sở còn đặt tại San Francisco, hiện giữ chức tổ trưởng tổ nấu ăn thuộc Bộ Nội vụ.
Peter, Otoya, Ririko và Lee đang lấy lời khai của hai người tham dự tiệc trà trong căn Bắc-2, nơi Peter sinh hoạt.
Lúc này là 10 giờ 45 phút sáng.
Chỉ còn mười lăm phút, khó có thể tin họ sẽ tìm ra thủ phạm của cả hai vụ án, nhưng Ririko dường như vẫn chưa từ bỏ.
"Đó là việc của kẻ đã phá căn bếp. Chính hắn bỏ độc vào trà. Nhất định là vậy!"
Rachel Baker lớn tiếng.
Nước bắn khỏi chiếc cốc trong tay trái, làm ướt chiếc quần culottes của cô.
Trái ngược với Blanca, Rachel đã hoàn toàn mất bình tĩnh.
Nghe nói cô gia nhập giáo hội nửa năm trước, rồi được bổ sung vào tổ nấu ăn thay một tín đồ đã rời đi.
Chính cô cũng là người đã có cuộc gặp như phim tuổi teen với Jody khi bà đến lấy đồ ăn hai tối trước, rồi nhân cơ hội đó hẹn buổi trà.
Tóm tắt lời kể của hai người, sự việc xảy ra với họ như sau.
Trước 6 giờ sáng hôm nay, ba thành viên tổ nấu ăn lần lượt đến bếp và phát hiện container đã bị kẻ nào đó phá tung.
Ba người dựng lại những chiếc tủ, rửa bát đĩa bẩn và cố gắng chuẩn bị bữa sáng kịp giờ.
Đến 10 giờ, sau khi dọn dẹp và chuẩn bị nguyên liệu cho bữa tối, họ đến trường như đã hẹn.
Sau khi gặp Jody và vào phòng học E, Blanca pha trà, còn Rachel tranh thủ hỏi Jody về vụ phá bếp.
Jody đưa ra vài giả thuyết, nhưng khi nghe con dao bếp bị gãy, bà tỏ vẻ như vừa nghĩ ra điều gì đó.
Tuy nhiên, trước khi nói rõ, tình trạng của bà đột ngột xấu đi và bà chết ngay sau đó.
"Cho tôi xác nhận."
Ririko hỏi bằng giọng giống một chuyên viên tư vấn.
"Không chỉ cô Jody, tất cả mọi người đều uống trà, đúng không?"
"Đương nhiên. Tôi, Rachel, cả Chris cũng đều uống."
Blanca lập tức đáp. Rachel cũng gật đầu.
"Sau khi pha trà, người đưa tách cho cô Jody cũng là bà Blanca sao?"
"Không. Sau khi tôi rót xong, bác sĩ Jody tự lấy một tách rồi quay lại ghế."
Như vậy thì có điều kỳ lạ.
Ba người trong tổ nấu ăn không hề xuất hiện triệu chứng trúng độc.
Nếu chỉ tách Jody chọn có độc, hung thủ đã làm cách nào để khiến bà chọn đúng tách ấy?
Giả sử hung thủ không nhắm vào một người cụ thể, nghĩa là chỉ cần bất kỳ ai trong nhóm chết cũng được, thì bí ẩn sẽ được giải quyết.
Hắn chỉ cần bôi độc trước vào một trong các tách.
Nhưng xét việc Dent bị giết khoảng mười giờ trước, rõ ràng mục tiêu là thành viên đoàn điều tra.
Hung thủ lại một lần nữa giết người bằng phương pháp giống như phép màu.
"Bình trà và các tách thường được cất ở đâu?"
Ririko tiếp tục hỏi.
"Tất cả được bỏ chung trong giỏ đan và để tại bếp."
"Hai người có kể cho các tín đồ khác về buổi trà hôm nay không?"
"Không. Chúng tôi cảm thấy hơi có lỗi vì đã được ưu tiên sắp xếp thời gian, nên không nói với ai."
Blanca trả lời. Rachel cũng gật đầu. Có lẽ Christina cũng vậy.
"Trước lúc chết, cô Jody có nói gì về dấu hiệu bất thường trong cơ thể mình không?"
"Không hề. Trông bà ấy đau đớn lắm, chắc không còn tâm trí để nói."
"Phần trà loang quanh thi thể là do cô Jody làm đổ sao?"
"Đó là trà Christina làm đổ. Trước khi ngã xuống, bác sĩ Jody đã uống hết trà."
"Các tách có dấu hiệu nào để phân biệt không? Chẳng hạn một chiếc có hoa văn khác, hoặc có vết nứt, vết xước nhỏ?"
"Tôi không nghĩ vậy. Có thể nếu tìm kỹ sẽ thấy vài vết xước nhỏ."
"Giả sử lúc rót trà, bà Blanca bỏ độc vào riêng một tách. Nếu đặt tách đó về phía cô Jody, bà có thể khiến cô ấy chọn nó không?"
"Không thể." Giọng Blanca cứng lại.
"Khi rót trà, tôi xếp bốn tách thành vòng tròn. Không ai có thể dự đoán bác sĩ Jody sẽ lấy chiếc nào. Nghi ngờ tôi là vô lý."
Bà quay sang Rachel như cầu cứu. Rachel đập mạnh cốc xuống bàn.
"Đúng vậy, tuyệt đối không thể."
"Thế còn bánh quy?" Otoya chen vào.
"Trên sàn phòng học có một chiếc bánh quy đang ăn dở. Có phải Jody đã ăn nó không?"
"Không." Blanca đáp.
"Đó là bánh của tôi. Bác sĩ Jody ngã xuống sau khi bà ấy ăn bánh quy."
"Tất cả các người đều ăn loại bánh đó à?"
"Vâng. Tôi xếp chúng lên đĩa, rồi mọi người cùng lấy ăn. Không có chuyện chỉ bác sĩ Jody ăn một chiếc khác."
Blanca trả lời dứt khoát. Rachel gật đầu.
Cũng như trà, dường như không thể chỉ bôi độc lên một chiếc bánh rồi đảm bảo Jody sẽ ăn đúng chiếc đó.
"Không hợp lý. Chắc chắn có một điểm mù nào đó."
Lee khoanh tay, rên rỉ suy nghĩ.
Nhìn anh, Blanca nhếch má trái, nở một nụ cười gượng gạo.
"Khoan đã. Mọi người đang hiểu nhầm." Lee nghiêng đầu.
Blanca phẩy tay trước bên phần má méo xệch.
"Không có điểm mù nào cả. Kẻ lẻn vào bếp đêm qua hẳn đã trộn độc vào lá trà. Tất cả trà chúng tôi uống đều có độc. Bác sĩ Jody uống nó rồi chết. Ba chúng tôi vẫn bình an. Có gì kỳ lạ đâu?"
Otoya cười khổ. Ông đã hoàn toàn quên mất rằng họ cũng là tín đồ của một giáo phái điên rồ.
"Chúng tôi uống độc mà không chết là chuyện đương nhiên. Bởi vì chúng tôi là tín đồ Giáo hội Nhân dân."
Sau khi Peter gọi cấp dưới đưa Blanca và Rachel về khu nhà, cả nhóm lại quay về hiện trường.
"Có một chuyện tôi không hiểu."
Ririko vừa tránh những vũng nước vừa hỏi Peter.
"Tại sao Jim Jorden lại nhập kali xyanua?"
Peter thoáng cứng mặt, nhưng ngay sau đó nở một nụ cười tự giễu.
"Tại sao cô lại nghĩ vậy?"
Ririko không truy ép Bộ trưởng Nội vụ, chỉ bình tĩnh giải thích:
"Không giống các loại độc alkaloid có thể chiết xuất từ động thực vật, kali xyanua phải được mua từ nhà máy hóa chất hoặc nguồn tương tự. Nếu một chất như thế có mặt tại khu định cư giữa rừng rậm, chỉ có thể là ông Jim Jorden đã mua và cho nhập về vì mục đích nào đó."
Ririko nghiêng đầu như muốn hỏi: Có đúng không?
"Cô nói đúng. Một năm trước, Giáo phụ đã mua kali xyanua từ một công ty hóa chất ở Ohio. Hiện nó vẫn được cất trong kho."
"Để làm gì vậy?"
"Khi Giáo phụ không còn tin tưởng một lãnh đạo hoặc tín đồ nào đó, ngài sẽ gọi người ấy đến và bắt uống nước trái cây có độc."
Peter nói như thể chẳng có gì đặc biệt.
"Tại sao lại làm vậy?"
"Để kiểm tra đức tin. Nếu là tín đồ Giáo hội Nhân dân, họ sẽ không chết vì uống độc. Giáo phụ dùng kali xyanua như giấy quỳ."
Ririko há miệng ngơ ngác nhưng không thể nói thành lời.
Dĩ nhiên, nếu uống liều gây chết của kali xyanua, con người sẽ chết. Tin vào tôn giáo nào cũng không liên quan. Việc họ không biểu hiện triệu chứng chỉ là ảo tưởng.
Có lẽ Jim chỉ giả vờ đó là nước trái cây có độc, trong khi thực tế là nước bình thường. Bằng cách thử xem tín đồ có dám uống hay không, hắn kiểm tra đức tin của họ.
Nó không giống giấy quỳ mà giống một nghi thức buộc người ta giẫm lên thánh tượng để chứng minh lập trường hơn.
"Cư dân có biết trong kho chứa kali xyanua không?"
"Tôi nghĩ phần lớn đều biết. Chúng tôi cũng không ra lệnh cấm nói."
"Kho được bảo vệ thế nào?"
"Không có bảo vệ gì cả. Tất cả những người trong khu định cư đều là tín đồ Giáo hội Nhân dân."
Nghĩa là nếu muốn, bất kỳ ai cũng có thể lấy được kali xyanua.
Khi họ đến trường, bọn trẻ đã biến mất, như thể sự náo loạn ba mươi phút trước chỉ là giả. Nghe nói cấp dưới của Peter đã cho chúng "tan học tập thể" về khu nhà.
Khi Otoya định mở cửa phòng học E, cánh cửa dừng lại sau vài centimet. Ông tưởng có người từ bên trong đẩy lại, nhưng nhìn qua cửa sổ mới biết không phải. Chất nôn nhỏ xuống từ ghế của Jody đã loang như một vũng nước nhỏ đến ngay phía sau cánh cửa. Do gần như không có khe giữa mép dưới cửa và sàn, chất nôn khô cứng đã khiến cánh cửa mắc lại.
Otoya co khuỷu tay, dùng cả hai tay đẩy mạnh. Cánh cửa mở ra cùng những tiếng nhầy nhụa ghê rợn. Ông dang rộng chân, nhảy qua vũng chất nôn để vào phòng. Nhớ lời cảnh báo của Loretta, ông cẩn thận không chạm vào nó rồi quan sát thi thể Jody.
Mặt Jody bê bết nước mắt và nước mũi, nhưng quần áo gần như không xộc xệch. Trong túi quần có khăn tay và hộp thuốc, nhưng chiếc mặt dây chuyền kia vẫn không thấy đâu.
Otoya đứng dậy, chuyển mắt sang những mảnh tách trà. Đó là loại rẻ tiền nền đen chấm bi trắng, trông như món đồ bị bán tháo ở chợ đồ cổ.
Đúng như Blanca nói, nó không khác gì ba chiếc tách trên bàn.
"...Ơ?"
Lee đang đứng cách đó khoảng hai mét nhìn toàn bộ căn phòng, bỗng phát ra giọng ngơ ngác.
Peter và Ririko đồng thời quay lại.
"Chẳng phải ở đó có một chiếc bánh quy rơi sao?"
Anh chỉ về phía gần mông Ririko. Nghe nhắc mới thấy chiếc bánh quy ăn dở trên sàn đã biến mất.
"Kỳ lạ thật. Trong lúc chúng ta lấy lời khai của Blanca và Rachel, hung thủ đã lẻn vào đây lấy chiếc bánh sao?"
Ririko bối rối nhìn quanh sàn.
"Có khi hung thủ đã tẩm độc lên bánh quy. Hắn biết chúng ta điều tra nên lấy đi để tránh bị phát hiện."
"Chiếc bánh trên sàn không phải của cô Jody, mà là chiếc bà Blanca đang ăn. Vì bà ấy không bị trúng độc, chiếc bánh đó không thể có độc."
Ririko nhìn những chiếc bánh quy vẫn nằm trên đĩa. Số lượng dường như không giảm.
Có vẻ hung thủ chỉ lấy chiếc bánh ăn dở rơi dưới sàn.
"Hay hung thủ nhầm đó là chiếc bánh cô Jody đã ăn?"
"Dù vậy, tôi không nghĩ cần phải lẻn vào hiện trường chỉ để lấy nó."
Giọng Ririko hiếm hoi trở nên cao vút.
Khi cả bốn người đang ngơ ngác nhìn xuống sàn, tiếng tay nắm cửa xoay kẽo kẹt vang lên. Họ quay về phía lối vào. Người mở cửa là Bộ trưởng An ninh Joseph Wilson.
Ngay phía sau, Jim Jorden đang nắm cây gậy.
"Đã biết hung thủ là ai chưa?" Giọng trầm của Jim vang lên.
Đôi giày da đắt tiền của hắn giẫm vào chất nôn, phát ra tiếng nhão nhóp.
"Vẫn chưa." Ririko thành thật trả lời.
"Joe. Bây giờ là mấy giờ?"
"11 giờ 2 phút."
Joseph nhìn đồng hồ đeo tay. Họ đã hết thời gian.
"Vậy thì dừng tại đây. Lập tức thu dọn hành lý và lên đường đến sân bay Port Kaituma."
"Xin hãy cho chúng tôi thêm chút thời gian."
Ririko lại cố nài nỉ.
"Đừng có coi thường chúng tôi nữa!"
Joseph Wilson quát lớn.
Ông ta chỉnh lại khẩu M1903 đang vác trên vai phải rồi chĩa nòng súng về phía họ.
Tiếng súng lại vang lên trong ký ức Otoya, khiến lòng bàn tay ông túa mồ hôi.
"Đến cả cô Jody cũng bị giết. Chúng tôi không thể cứ thế quay về."
"Im đi..."
"Các người nhất quyết muốn ở lại đây sao?" Jim Jorden cắt lời thuộc hạ.
"Vâng." Ririko đáp ngay.
Lee liếc cô rồi yếu ớt nói:
"Tôi cũng vậy."
Cả hai quay lại nhìn Otoya, thúc giục ông trả lời. Dĩ nhiên Otoya không muốn ở lại nơi này.
Bạn của ông đã bị bắn chết. Dù một lần đã được đảm bảo an toàn, giờ lại có một kẻ giết người không rõ danh tính đang nhắm vào tính mạng họ.
Ông không liều mạng đến mức tự nguyện ở lại một nơi như thế. Nhưng ông đã lặn lội tới đây để cứu trợ lý, nên không thể bỏ Ririko lại rồi một mình trở về Nhật Bản.
"Tôi... chắc cũng vậy."
Ngay cả bản thân ông cũng thấy giọng mình thật thảm hại.
"Vậy thì không còn cách nào khác."
Jim quay lưng lại với phòng học, vuốt vai Joseph Wilson.
"Đưa chúng đến nhà giam."
5
Vừa ra khỏi trường, mưa bụi bắt đầu bay lất phất. Đến lúc tới nhà giam, mưa đã đổ nặng hạt.Ở rìa phía nam khu định cư, nơi tiếp giáp với rừng rậm, có một sườn dốc rộng chừng mười mét.
Dù gọi là sườn dốc, nó không phải dạng địa hình được sửa sang như trong công viên. Mặt đất lồi lõm, đá lớn nhỏ và những cục đất nằm vương vãi khắp nơi. Nếu trượt chân ngã xuống, e rằng không chỉ bị một hai vết trầy xước là xong.
Nhà giam được dựng ngay bên mép sườn dốc ấy, tại một vị trí có vẻ sẽ là nơi đầu tiên trượt xuống nếu xảy ra sạt lở.
Theo lệnh Joseph Wilson, họ cẩn thận nhìn dưới chân rồi đi về phía lối vào.
Nhà giam được chia thành hai tòa - Nhà giam số Một và Nhà giam số Hai - nối với nhau bằng một hành lang hẹp như cái ống.
Nghe nói mỗi tòa chỉ có hai phòng giam. Có lẽ số lần phải sử dụng phòng giam đã tăng lên so với thuở mới di cư, nên họ xây thêm tòa thứ hai về sau.
Cả hai tòa chỉ có duy nhất một ô thông gió, còn mái và tường đều được phủ kín bằng những tấm tôn đã gỉ sét.
"Các anh được thả."
Trong các phòng giam có ba người đàn ông da đen còn trẻ, mỗi người bị nhốt riêng một chỗ. Họ được thả để nhường chỗ cho nhóm Otoya, rồi quay về khu sinh sống với vẻ mặt đầy nghi hoặc.
Theo sự sắp xếp của Joseph, Otoya và Ririko bị đưa vào Nhà giam số Một ở phía trước, còn Lee bị nhốt một mình tại Nhà giam số Hai, bên kia hành lang.
"Hai người nhất định phải bình an nhé."
Lee tái mặt vẫy tay rồi một mình đi về phía Nhà giam số Hai.
Anh từng nói mình mắc chứng sợ không gian kín, nên hẳn việc bước vào phòng giam khiến anh vô cùng bất an.
Otoya vẫy tay đáp lại. Rồi ông bước vào phòng giam của Nhà giam số Một.
"Nếu cần gì thì gọi tôi."
Người vừa nói vừa khóa cửa song bằng ổ khóa móc là một trong những người đàn ông họ đã phỏng vấn tại trường hôm qua - Franklin Partain, cựu binh chiến tranh Việt Nam.
Trong buổi phỏng vấn, ông ta tự xưng là nhân viên đặc vụ, nhưng xem ra công việc thực tế là cai ngục.
Do không thể di chuyển nếu thiếu xe lăn, khó tham gia lao động nông nghiệp hay canh gác khu định cư, nên có lẽ ông ta được phân công công việc này.
Tuy nhiên, bản thân ông ta và những người xung quanh hẳn đều tin rằng ông ta vẫn còn chân, nên điều này cũng là một dạng tự điều chỉnh mâu thuẫn diễn ra trong vô thức.
Franklin rút chiếc chìa khóa hình que khỏi ổ khóa, bỏ vào túi rồi xoay vành đẩy xe lăn, quay về phòng cai ngục cạnh lối vào.
"Không ngờ cũng có ngày mình phải vào tù."
Otoya dựa lưng vào tường, lẩm bẩm bằng tiếng Nhật.
Phòng giam chỉ rộng chừng hai chiếu tatami, mức chật chội chẳng khác gì chiếc giường trong khu nhà.
Ririko ở phía bên kia bức tường không đáp. Có lẽ cô đang để ý Franklin ở phòng cai ngục nằm sau khúc ngoặt hành lang. Otoya thử tìm xem trên tường có lỗ mọt nào không, nhưng đương nhiên chẳng thấy gì.
Đến 8 giờ 30 phút tối, phía bên kia ô thông gió đã tối om, tiếng mưa đập lên mái cũng bắt đầu dữ dội hơn.
Từ chiếc loa gắn dưới mái hiên, giọng Jim Jorden vang lên.
"Chúng ta sẽ tổ chức một cuộc họp khẩn cấp. Tất cả những người con hãy tập trung tại nhà hội trường sau mười lăm phút. Ta nhắc lại..."
Ngay sau đó, Otoya nghe tiếng cửa phòng cai ngục mở ra và tiếng Franklin trên xe lăn rời đi.
Từ phía bức tường bên trái vọng sang một tiếng thở ra.
"Cô ngoan quá đấy. Phải cư xử giống tù nhân hơn chứ."
"Chẳng hạn…?"
"Chửi cai ngục này, hoặc dùng nĩa đào tường này."
Ririko bật cười thành tiếng.
Với tính cách của cô, hẳn cô đã lường trước cả khả năng bị nhốt vào phòng giam khi nhất quyết đòi ở lại Jordentown.
Dù một nửa đoàn điều tra đã bị giết, họ vẫn là niềm hy vọng duy nhất của Jim Jorden do Charles Clark cử đến.
Việc hắn đột ngột muốn tống họ đi chẳng qua là vì nếu để nghị sĩ Leo Ryland phát hiện thì sẽ rất phiền phức.
Nếu có thể nhốt họ ở nơi khuất mắt, việc để họ tiếp tục ở lại khu định cư cũng không gây trở ngại.
Có lẽ Ririko đã dự đoán diễn biến này ngay từ đầu.
Nói không sợ khi bị tước mất tự do di chuyển giữa lúc đang bị kẻ sát nhân nhắm tới thì là nói dối.
Nhưng nếu nghĩ rằng cai ngục sẽ canh lối vào suốt ngày đêm, Otoya lại cảm thấy nơi này còn an toàn hơn khu nhà không có khóa.
"Trong nhiều năm, chúng ta đã phải sống dưới mối đe dọa từ những kẻ tập kích của ác quỷ. Chúng tìm mọi cách tàn bạo để cướp đi mạng sống của chúng ta. Hẳn các con cũng đã sống trong bất an. Nhưng hôm nay, cuối cùng đã chứng minh được rằng Jordentown được Chúa bảo vệ."
Giọng Jim Jorden lại vang lên từ loa.
Lần này còn lẫn cả tiếng người xì xào. Có lẽ cuộc họp tại nhà hội trường đã bắt đầu.
"Hai kẻ tập kích giả vờ làm người tốt để xâm nhập khu định cư - Alfred Dent và Jody Randy - đã phải nhận thần phạt. Ba kẻ tập kích còn lại cũng đã bị giam giữ. Cuộc sống của chúng ta đã được bảo vệ."
"Khốn thật. Hóa ra tôi cũng là kẻ tập kích."
Otoya càu nhàu.
"Vừa nãy hắn còn nói mình không phải thủ phạm, giờ lại diễn thuyết theo hướng có lợi cho mình. Đúng là trơ trẽn."
Ririko cũng nói bằng giọng khô khốc.
"Nhưng không phải mọi mối đe dọa đều đã biến mất. Đây là cộng đồng duy nhất được Chúa bảo vệ, nơi không tồn tại bệnh tật hay tai nạn. Có vô số kẻ muốn phá hủy nơi này.
Ngày mai, một chính trị gia tên Leo Ryland sẽ đến khu định cư. Hắn mưu toan thống trị thế giới bằng nỗi sợ hãi. Chỉ cần các con để lộ chút sơ hở, hắn sẽ dẫn lực lượng đặc nhiệm đến và phá hủy hoàn toàn Jordentown."
"Hắn còn tỉnh táo không vậy? Lời lẽ chẳng khác gì một bà già mắc chứng hoang tưởng bị hại."
"Trong các buổi họp, hắn lúc nào cũng như thế."
Có tiếng Ririko sột soạt cử động. Có lẽ cô vừa ngồi dậy.
"Không được lắng nghe lời thì thầm của ác quỷ. Bề ngoài, ta và các con sẽ chào đón hắn, nhưng tuyệt đối không được thật sự mở lòng. Kẻ phản bội sẽ phải nhận thần phạt."
"Với kiểu đó mà hắn tập hợp được hơn chín trăm tín đồ, cũng tài thật."
"Nghe nói trước khi đến Jordentown, hắn còn bình thường hơn một chút. Khi ấy trong các buổi họp, hắn vẫn đọc Kinh Thánh và cầu nguyện với Chúa. Nhưng trong một năm qua, dường như chỉ còn toàn diễn thuyết. Jim có vẻ đã bị dồn ép rất nặng về tinh thần."
"Đến tín đồ cũng không thấy hắn kỳ quặc sao?"
"Chắc chắn có người nghĩ vậy."
"Thế sao họ không bỏ đi?"
"Điều đó giống với giáo phái Miller."
Ririko đột nhiên nói một chuyện kỳ lạ.
"Hả?"
"Đầu thế kỷ mười chín, một nông dân ở New England tên William Miller tiên đoán rằng Chúa Kitô sẽ xuất hiện trong khoảng từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 năm 1843. Những người tin lời ông ta đã vứt bỏ tài sản cá nhân, dốc sức truyền giáo và chuẩn bị cho thời khắc ấy."
"Vất vả thật."
"Nhưng kết quả thì ông biết rồi đấy. Dù đêm giao thừa đã qua, Chúa Kitô vẫn không xuất hiện. Ông nghĩ họ đã làm gì?"
"Chắc chỉ còn cách uống rượu rồi quay lại cuộc sống cũ thôi."
Otoya khịt mũi.
"Vì lời tiên đoán là giả mà."
"Trước hết, họ thay đổi cách diễn giải lời tiên đoán. Nếu tính theo lịch Do Thái, Chúa Kitô sẽ tái lâm trong khoảng từ ngày 21 tháng 3 năm 1843 đến ngày 21 tháng 3 năm sau. Họ lùi thời hạn thêm ba tháng và càng tích cực truyền giáo hơn trước."
"Không chịu buông bỏ nhỉ."
"Nhưng đến ngày 21 tháng 3, Chúa Kitô vẫn không xuất hiện. Sau đó họ đặt thời hạn mới là ngày 22 tháng 10 và tiếp tục truyền giáo còn cuồng nhiệt hơn. Ngày ấy cũng chẳng xảy ra chuyện gì, nhưng họ vẫn tiếp tục tạo ra những cách diễn giải mới. Hiện nay vẫn có hơn mười triệu người tin vào lời của Miller."
"Đúng là chấp niệm đáng nể."
"Đương nhiên đức tin của họ cần được tôn trọng. Nhưng có thể nói rằng một khi con người đã tiếp nhận một niềm tin, họ không dễ gì từ bỏ."
"Đó là lời tiên đoán từ một trăm ba mươi năm trước rồi còn gì?"
Otoya lớn tiếng về phía bức tường.
"Bây giờ là thời đại con người đã đi bộ trên Mặt Trăng. Chẳng lẽ không thể thông minh hơn một chút sao?"
"Khoảng hai mươi năm trước, vào mùa hè năm 1954, một người phụ nữ ở Chicago tên là Sister Cedra nhận được thông điệp đáng sợ từ vị thần bảo hộ của vũ trụ.
Rằng vào bình minh ngày 21 tháng 12 năm ấy sẽ xảy ra đại hồng thủy. Ngay trước đó, vào ngày 17, đĩa bay sẽ xuất hiện và đến cứu những người được chọn.
Họ từ bỏ tài sản, chịu đựng sự chế giễu của mọi người và lặng lẽ chờ đợi ngày đó."
"Nghe quen quen."
"Nhưng đến ngày ấy, đĩa bay vẫn không xuất hiện, lũ lụt cũng không xảy ra. Sister Cedra thay đổi cách diễn giải thông điệp rồi lại tiếp nhận những thông điệp mới, nhưng cuối cùng lời tiên đoán vẫn sai."
Otoya cảm thấy không cần nghe tiếp cũng đoán được, nhưng vẫn nghiêm túc đáp lời.
"Rồi sao?"
"Những người tin Sister Cedra đưa ra một học thuyết mới: Chúa đã vì nể họ mà hoãn trận lụt. Kể từ đó, họ thay đổi hoàn toàn và bắt đầu tích cực tuyên truyền. Nhóm này hiện vẫn hoạt động dưới một hình thức khác, được cho là có vài nghìn tín đồ."
"Tại sao lại thành ra như thế?"
"Khi đức tin mâu thuẫn với hiện thực, tín đồ sẽ tạo ra cách diễn giải mới để xóa bỏ mâu thuẫn. Sau đó, họ mở rộng hoạt động nhằm chứng minh niềm tin ấy là đúng. Kết quả là đức tin lại càng được củng cố. Nếu phải giải thích thì đại khái là như vậy.
Giáo phái Miller và nhóm của Sister Cedra có một điểm chung. Tín đồ của cả hai đều đã rơi vào tình thế không thể rút lui.
Họ từ bỏ sinh hoạt thường ngày, vứt bỏ tài sản, chịu đựng ánh mắt kỳ quặc của người đời và chờ đợi khoảnh khắc lời tiên đoán trở thành hiện thực.
Chính tình thế ‘đến giờ không thể quay đầu nữa’ đã khiến đức tin của họ vượt lên trên hiện thực."
"Ra vậy."
Otoya tựa lưng vào tường, trượt dần thân trên xuống.
"Giống như mấy ông già đầu tư vào Công ty Momozu, cứ tin một ngày nào đó sẽ có lãi nên dù người khác ngăn cản vẫn tiếp tục đổ hết tài sản vào?"
"Tôi không tán thành việc đánh đồng tôn giáo với lừa đảo, nhưng xét về hiện tượng thì có thể khá giống."
Giọng Ririko trở nên cứng lại.
"Và Giáo hội Nhân dân cũng phù hợp với điều đó."
Các tín đồ Giáo hội Nhân dân đã từ bỏ cuộc sống ở Mỹ, quyên góp tài sản cho giáo đoàn, vượt biển đến khu khai hoang giữa rừng mưa nhiệt đới.
Xét về mức độ không thể quay đầu, họ vượt xa tất cả.
"Nghĩa là chỉ vì giáo chủ bắt đầu nói sẽ bị lực lượng đặc nhiệm tấn công, đức tin của họ cũng không lung lay?"
"Đúng vậy."
Lẫn trong giọng Jim vang từ loa, Otoya nghe tiếng chuỗi hạt của Ririko lay động.
Ông một lần nữa cảm nhận rõ mình đã lạc vào một thế giới bất thường.
Không những thế, họ còn đang cố tìm ra hung thủ của một vụ giết người trong thế giới ấy.
Liệu có thể giải một bí ẩn bằng lý trí ở nơi mà đức tin được đặt cao hơn sự thật hay không?
"Cô đã đoán được hung thủ là ai chưa?"
Otoya hỏi qua bức tường.
"Hiện giờ vẫn chưa. Còn ông thì sao?"
"Hoàn toàn không. Tôi không biết hung thủ đã ra vào phòng Dent bằng cách nào, cũng không biết hắn khiến Jody uống độc ra sao."
Otoya lắc đầu rồi chợt nhớ lại lời Ririko nói vài giờ trước.
"Lúc khám phòng Dent, cô nhìn vết máu trên tủ quần áo rồi nói các khả năng đã được thu hẹp. Ý là gì?"
"Ừm... để tôi nghĩ xem."
Ririko hít một hơi sâu.
"Nếu ví von thì giống trò bẻ cong thìa.
Hiện tượng thìa bị cong chỉ có một, nhưng có thể có nhiều cơ chế khác nhau. Đơn giản nhất là dùng nguyên lý đòn bẩy để bẻ cong, ngoài ra còn có thể khía sẵn một đường hoặc dùng hợp kim có nhiệt độ nóng chảy thấp.
Phòng kín cũng vậy. Có nhiều cách biến hiện trường thành phòng kín.
Vì thế phải dựa vào dấu vết tại hiện trường để xác định thủ phạm đã chọn cách nào.
Điều này cũng đúng với phương pháp khiến cô Jody uống độc."
Nghĩa là cô đã hình dung ra vài khả năng.
Đúng là khác ông một bậc.
"Điều tôi còn không hiểu nữa là..."
Ririko hạ giọng.
"Tại sao hung thủ lại biến hiện trường thành phòng kín, hoặc khiến người ta uống độc bằng một phương pháp thoạt nhìn bất khả thi?"
"Hung thủ là tín đồ của một giáo phái điên rồ. Trong đầu hắn chắc có ý nghĩa nào đó."
"Đó là định kiến trẻ con. Giáo lý Giáo hội Nhân dân không hề cho rằng giết người bằng phương pháp giống phép màu là đúng."
"Biết vậy, nhưng cô chưa nghĩ ra động cơ sao?"
"Chưa. Thử xem xét một chút nhé."
Vị trí giọng cô cao lên. Có lẽ Ririko vừa ngồi thẳng lưng.
"Trước hết, có một khả năng cơ bản: vốn dĩ hung thủ không cố ý tạo ra những vụ việc giống phép màu, mà chỉ do một sự trùng hợp nào đó khiến chúng trông như vậy.
Tuy nhiên, xét việc liên tiếp xảy ra các vụ án thoạt nhìn bất khả thi, có thể gần như chắc chắn hung thủ cố tình tạo ra những sự việc tương tự."
"Chắc vậy."
"Động cơ đầu tiên có thể nghĩ đến là đổ nghi ngờ lên một tồn tại được cho là có thể tạo ra phép màu - tức Chúa hoặc Jim Jorden.
Nếu đúng như vậy, việc Jim vừa gọi cái chết của hai người là thần phạt hoàn toàn đúng với ý đồ của hung thủ."
"Nếu Chúa gánh tội thay thì hung thủ cũng yên tâm."
"Tuy nhiên, giả thuyết này có một vấn đề lớn.
Bởi vì nếu hung thủ là tín đồ Giáo hội Nhân dân, việc che giấu sự thật hoặc đổ tội cho người khác gần như không có ý nghĩa."
"Tại sao?" Otoya bất giác lớn tiếng.
"Nói chung, tại sao kẻ giết người lại cố che giấu hành vi?
Vì hắn biết nếu bị phát hiện sẽ bị cảnh sát bắt và chịu hình phạt.
Nhưng ở Jordentown thì sao?
Cảnh sát Guyana sẽ không can thiệp vào những vụ việc trong khu định cư này.
Người duy nhất có quyền lực ở đây là Jim Jorden.
Và dường như hắn không trừng phạt Larry Levins sau khi Larry bắn chết ông Nogi.
Có thể hắn đã mắng vài câu, nhưng sau đó Larry vẫn tiếp tục làm công việc an ninh như không có gì thay đổi.
Điều đó nghĩa là ở Jordentown, dù giết những người ngoài như chúng ta, hung thủ cũng không phải lo bị trừng phạt."
Đúng là như vậy.
Khi nghe nói thành lời, Otoya cảm thấy máu trong người lạnh đi.
"Vậy là ngay từ đầu hung thủ không cần đổ tội cho ai."
"Cũng có những kẻ muốn che giấu việc mình đã giết người, bất kể có bị trừng phạt hay không. Nhưng để làm một việc cầu kỳ đến mức này thì không tương xứng."
"Thế tại sao hắn lại tạo ra những vụ án giống phép màu?"
"Một khả năng đối lập nhưng gắn liền với giả thuyết đó là hung thủ muốn khiến bản thân trông như một tồn tại thần thánh.
Trong trường hợp này, đương nhiên Jim Jorden sẽ là hung thủ.
Hắn thường xuyên biểu diễn những trò ảo thuật giả làm phép màu. Những vụ án này cũng có thể là một phần trong số đó.
Câu nói vừa rồi rằng hai người đã chịu thần phạt sẽ trở thành một dạng tuyên bố nhận tội."
"Không hợp lý."
Otoya nhún vai.
"Hắn không có lý do giết Dent và Jody."
"Đúng vậy. Jim Jorden vốn hy vọng vào sự hợp tác của Charles Clark, nên khó có thể tưởng tượng hắn lại giết những thành viên trong đoàn điều tra do Charles cử tới.
Hắn có động cơ dùng phương pháp giống phép màu để giết người, nhưng ngay từ đầu lại không có động cơ giết họ.
Như thế là đảo lộn đầu đuôi. Vậy thì..."
Có tiếng ngón tay gõ cộc cộc xuống sàn.
"Ừm... không dễ nghĩ ra thật."
Ririko bất ngờ chịu thua.
Đúng lúc ấy, từ sâu trong hành lang vang lên tiếng cửa mở kẽo kẹt.
Tiếp theo là tiếng bánh xe nghiến, rồi tiếng cửa phòng cai ngục mở.
Có lẽ Franklin đã trở về từ cuộc họp.
Kim đồng hồ chỉ 11 giờ.
Khoảng ba mươi giây sau, cửa phòng cai ngục lại mở.
Franklin ướt mưa xuất hiện trước phòng giam.
Nước mưa đọng trong chỗ lõm trên chiếc mũ Panama.
"Đừng nghĩ đến chuyện trốn."
Ông ta nhìn vào phòng giam, nói bằng giọng gay gắt.
So với trước cuộc họp, ông ta hoàn toàn mất vẻ thân thiện, trong mắt cũng hiện rõ sự thù địch.
Có lẽ sau khi nghe bài diễn thuyết của Jim, ông ta đã tin nhóm Otoya là những kẻ tập kích.
"Nếu trốn được thì tôi đã làm từ lâu rồi."
Franklin phớt lờ lời mỉa mai, đi dọc hành lang về phía Nhà giam số Hai.
Có lẽ ông ta đi kiểm tra Lee.
Khoảng ba phút sau, ông ta quay lại mà không nói gì rồi trở về phòng cai ngục.
Nghe tiếng cửa đóng, Otoya nhớ lại bài diễn thuyết vừa rồi của Jim Jorden.
Ông chợt lóe lên một ý nghĩ.
"Tôi hiểu rồi. Hung thủ giết người bằng phương pháp giống phép màu là để đổ tội cho Jim Jorden. Nhưng động cơ không phải để tự bảo vệ mình. Hung thủ muốn có thành tích sau khi xâm nhập Jordentown."
"Hả?"
"Ngày mai, nghị sĩ Leo Ryland sẽ đến Jordentown.
Chính trị là trình diễn.
Ông ta lặn lội từ San Francisco đến tận khu khai hoang ở Nam Mỹ, không thể trở về tay trắng.
Những vụ án này là màn dàn dựng của nghị sĩ Ryland."
"À, ra vậy."
Không hiểu sao Ririko lẩm bẩm bằng tiếng Anh, rồi lại nói bằng tiếng Nhật:
"Rồi sao?"
"Trước chuyến thăm, nghị sĩ Ryland đã cử sát thủ của mình xâm nhập vào đây.
Kẻ đó giết hai người bằng phương pháp khiến ai cũng chỉ có thể nghĩ Jim là thủ phạm, biến hắn thành kẻ ác."
"Tại sao không giết một trong hơn chín trăm tín đồ mà lại giết đúng hai người ấy?"
"Vì họ là nhân vật lớn.
Dent là đặc vụ chìm từng hỗ trợ hoạt động của FBI suốt nhiều năm.
Jody là chuyên gia phê phán giả khoa học nổi tiếng toàn thế giới.
Giết hai người này tạo tác động lớn hơn nhiều so với giết một tín đồ vô danh.
Công lao của nghị sĩ Ryland khi phanh phui sự việc cũng lớn hơn hẳn."
"Ra vậy. Chúng ta sống sót nhờ không nổi tiếng."
Ririko gãi sột soạt đâu đó.
"Một suy luận thú vị, nhưng có vấn đề lớn."
Otoya trừng mắt nhìn bức tường.
"Vấn đề gì?"
"Giả sử sát thủ do nghị sĩ Ryland cử đến là hung thủ. Làm sao kẻ đó biết ông Dent là đặc vụ chìm?"
"Hả?"
"Charles Clark đã ra lệnh cho các thành viên đoàn điều tra không được tiết lộ việc đến Jordentown. Tôi nói dối rằng mình sẽ tham dự một hội nghị tại Đại học Columbia cũng vì vậy. Các thành viên khác hẳn cũng giấu việc đến đây với người xung quanh. Tôi không nghĩ nghị sĩ Ryland biết được thành phần đoàn điều tra. Đương nhiên cô Jody là người nổi tiếng, nên dù hung thủ tình cờ nhìn thấy và nhận ra bà cũng không lạ. Nhưng ông Dent giả làm luật sư của tín đồ.
Ông ấy cũng không phải khuôn mặt được công chúng biết đến như cô Jody. Jim và các lãnh đạo từng trực tiếp tiếp xúc có thể nghi ngờ thân phận ông Dent, nhưng tôi không nghĩ một sát thủ lén xâm nhập Jordentown lại có cơ hội nhìn thấu lai lịch của ông ấy."
Nói rằng tình cờ giết một luật sư rồi phát hiện đó là đặc vụ chìm quả thật quá gượng ép.
Otoya tặc lưỡi sao cho Ririko không nghe thấy.
"Tôi cũng nghĩ ra một chuyện."
Có tiếng đổi tư thế bắt chéo chân. Otoya đang nằm cũng duỗi đầu gối.
"Chuyện gì vậy?"
"Dựa trên những gì vừa bàn, hung thủ phải là người có lý do biến cái chết của hai người thành việc do Jim gây ra, đồng thời biết thân phận thật của ông Dent. Có một người phù hợp."
"Ai?"
"Charles Clark."
Thân trên Otoya bật dậy.
"Đó là người cử các cô đến đây còn gì. Tự gửi đoàn điều tra rồi lại tự giết họ, làm gì có chuyện ngu ngốc như vậy?"
"Nhưng ông Charles biết thân phận thật của ông Dent. Ông ta cũng có lý do giết ông Dent."
"Lý do gì?"
"Ông Dent được CIA thuê, từng xâm nhập CC Petroleum, công ty mà ông Charles giữ chức đại diện đến năm năm trước. Ông Charles đánh giá cao năng lực của Dent nên không xử lý ông ấy, nhưng việc bỏ qua một gián điệp từng đánh cắp thông tin mật chắc chắn là rủi ro lớn đối với công ty. Dù đã từng nhờ ông Dent làm việc, sau khi hết giá trị sử dụng, ông ta bị bịt miệng cũng không phải chuyện khó hiểu."
"Cho dù vậy, đâu cần cố ý đưa ông ta đến khu định cư của giáo phái để giết."
"Có lẽ ông Charles đã chán ngấy những lời cầu viện dai dẳng của Jim. Nếu tạo ra tình thế đoàn điều tra cử đến Jordentown bị giết, ông ta sẽ có lý do từ chối lời đề nghị của Jim. Một mũi tên trúng hai đích."
"Còn Jody thì sao? Bà ấy cũng có lý do bị công ty dầu khí nào đó lấy mạng à?"
"Không. Bà ấy bị giết để ngụy trang mục đích thật. Việc cử tôi và anh Lee đến đây cũng vì cùng lý do."
Nếu đó là sự thật, hung thủ hẳn sẽ tìm cách giết nốt hai người còn lại.
Lúc này, khi họ đang bị nhốt trong phòng giam, đúng là cơ hội hoàn hảo.
"Không đúng. Hung thủ không phải sát thủ của Charles."
Otoya tựa lưng vào tường.
"Tại sao?"
"Vì tủ bát trong bếp bị lật đổ."
Một tiếng cộc vang lên như đầu ai đó va vào tường.
"Hả?"
"Nếu giả thuyết Charles đứng sau là đúng, hung thủ đã có ý định giết người rõ ràng từ lúc tấn công Dent. Đương nhiên hắn phải chuẩn bị hung khí. Nhưng Dent lại bị giết bằng con dao tự mang theo. Có thể suy đoán trong lúc giằng co, hung khí của hung thủ trở nên không dùng được, hắn lập tức cướp dao của Dent rồi đâm ông ấy."
"Đúng."
"Vậy hung khí ban đầu là gì?
Theo lời ba người trong tổ nấu ăn, trong đêm ấy căn bếp bị phá tung.
Tủ bát bị xô đổ, còn con dao bếp tìm thấy bên dưới đã tách thành lưỡi và cán.
Nhưng chỉ rơi từ tủ xuống thì khó có chuyện dao bị gãy.
Vậy con dao đã gặp chuyện gì?"
"À, ra vậy."
Ririko hiếm hoi cất giọng thán phục.
"Hung khí kẻ đó chuẩn bị để giết ông Dent là con dao bếp."
Otoya gật đầu về phía bức tường.
"Trước khi tấn công Dent, hung thủ lẻn vào căn bếp trong container và lấy con dao.
Sau khi gây án, hắn định rửa sạch máu rồi đặt trở lại tủ.
Nhưng khi tấn công Dent, hắn gặp sự chống trả mạnh hơn tưởng tượng, khiến dao gãy ngay sát gốc.
Hắn lập tức giật lấy con dao gấp và kết liễu Dent, nhưng không thể đặt con dao bếp gãy trở lại như cũ.
Vì thế, hắn phá tung căn bếp, xô đổ tủ để khiến mọi người nghĩ cán dao gãy do rơi xuống.
Gần căn bếp có khu nhà ở, nhưng nhờ tường container được dán vật liệu cách âm, dù phá phách dữ dội cũng không lo tiếng lọt ra ngoài.
Nhưng nếu hung thủ từ bên ngoài đến để giết Dent, đương nhiên hắn phải chuẩn bị hung khí.
Không cần cố ý lấy dao trong bếp."
"Cũng có thể hắn cố ý dùng hung khí tại chỗ để khiến vụ án trông như do Jim hoặc tín đồ gây ra."
"Nếu vậy, hắn sẽ không đặt lại dao vào bếp rồi xô tủ để che giấu lý do dao gãy. Dùng dao của bếp nhằm giả thành người nội bộ, nhưng sau khi gây án lại cố che giấu điều ấy thì hoàn toàn mâu thuẫn. Hung thủ là cư dân Jordentown, hoặc ít nhất nằm trong số những người đang lưu trú tại đây. Không phải sát thủ do Charles Clark cử tới."
"Đúng vậy."
Ririko dễ dàng rút lại giả thuyết của mình.
"Như thế, kể cả giả thuyết Leo Ryland đứng sau, suy luận hung thủ là sát thủ được cử từ bên ngoài đều không đứng vững.
Tại sao hung thủ lại giết hai người bằng phương pháp ấy?
Ừm... chắc chắn phải có lý do nào đó..."
Lại có tiếng cửa phòng cai ngục mở.
Franklin nhìn vào phòng giam của hai người, đi sang Nhà giam số Hai rồi vài phút sau quay về phòng cai ngục.
Otoya nhìn đồng hồ.
Vừa đúng 1 giờ.
Lần trước Franklin đến là 11 giờ đêm, vậy có vẻ ông ta đi tuần hai giờ một lần.
Sau đó, Otoya và Ririko vẫn tiếp tục chậm rãi bàn về động cơ.
Ông nhớ Franklin còn đi kiểm tra thêm hai lần, nghĩa là dù chập chờn ngủ, ông vẫn thức đến hơn 5 giờ sáng.
Nhưng họ vẫn không tìm ra suy luận nào thuyết phục.
Khi bầu trời bên kia ô thông gió bắt đầu trắng dần, Otoya chìm vào giấc ngủ.
*
...Vùùù────ùùù...
Một âm thanh chói tai giống tiếng máy điều hòa cũ kỹ vang lên.
Otoya hé mắt, thấy ánh nắng sáng rực đang chiếu qua ô thông gió.
"Ồn chết đi được..."
Vừa quay đầu về phía phát ra âm thanh, cơn buồn ngủ của Otoya lập tức biến mất hoàn toàn.
Một con ong đang lơ lửng ngay trước mũi ông.
Đôi cánh của nó lớn đến mức tưởng chừng bằng cả một con chim sẻ, chân cũng dài ngoằng. Dưới phần bụng phình to, chiếc ngòi mảnh đen bóng đang lóe lên.
"U-úi!"
Otoya bò lùi ra xa con ong, ép lưng và mông sát vào tường.
Ngay bên tai vang lên âm thanh như kim loại cào vào nhau.
Ông sợ hãi từ từ ngoảnh cổ, rồi thấy ở đó cũng có một con ong đang đậu nghỉ, nghiêng đầu nhìn mình.
"Không thể nào..."
Sức lực trong tay chân ông tan biến.
Otoya thành tâm hối hận vì hai ngày trước đã cười Dent khi ông ấy nhảy dựng lên vì tổ ong.
"Này, Ririko, cô dậy chưa?"
Ông không dám cử động, chỉ cố nặn giọng ra.
"Có chuyện gì vậy?"
Từ bên kia bức tường vang lại giọng ngái ngủ.
"Có ong. To đến mức chết người. Lại còn hai con. Gọi Franklin giúp tôi."
Thay vì trả lời, Ririko đập vào cửa song và gọi tên Franklin.
Nhưng thứ duy nhất lọt vào tai vẫn chỉ là tiếng cánh vo ve.
Không có dấu hiệu cai ngục sẽ xuất hiện.
"Lạ thật. Chẳng lẽ ông ấy đi đâu rồi?"
"Làm gì đó đi chứ!"
"Ông nói thế tôi cũng chịu. Hồi tiểu học, giáo viên từng bảo chỉ cần không đến gần trong phạm vi ba mét thì sẽ không bị đốt."
Phòng giam rộng chưa đến hai mét, vậy bảo ông đứng cách ba mét bằng cách nào?
Otoya vừa định đấm vào tường thì nghe tiếng cạch, cửa nhà giam mở ra.
"May quá..."
Ông tưởng Franklin đã trở lại, nhưng lập tức nhận ra không phải.
Có tiếng bước chân đi dọc hành lang, mỗi lúc một gần.
"Ai vậy nhỉ?" Ririko thì thầm.
"Xin chào."
Trước khi người đó xuất hiện, Otoya đã nhận ra nhờ giọng nghèn nghẹt như bị sổ mũi.
Là cậu bé người châu Á lần trước - Q.
Cậu bé đến trước cửa song, luân phiên nhìn vào hai phòng giam, lúc cắn móng tay, lúc lại kéo áo.
"Em đến cứu bọn chị sao?"
Ririko hỏi bằng giọng giống giáo viên tiếng Anh.
"Cháu nghe nói các thám tử bị nhốt nên lo quá."
Q ngượng ngùng nói một câu rất đáng khen.
Có vẻ sau vụ con thú opossum, cậu đã hoàn toàn ngưỡng mộ các thám tử.
"Tuyệt lắm. Em mở cửa phòng bên này trước được không?"
Q vào phòng cai ngục lấy chìa khóa dự phòng, rồi cắm vào ổ khóa móc.
Chiếc chìa khóa hình que xoay sang phải.
Cạch. Phần móc hình chữ U bật ra.
Otoya mở cửa song rồi lao khỏi phòng giam.
"Suýt nữa thì đây đã thành ‘vụ án cuối cùng’ của tôi rồi."
Trong lúc Otoya còn nói đùa, Q đã tháo ổ khóa ở phòng bên cạnh.
Ririko bước ra hành lang. Cầu mong lũ ong không đuổi theo, hai người vội chạy khỏi nhà giam.
"Thấy hơi có lỗi với anh Lee nhỉ."
Ririko vừa chống chân để khỏi trượt xuống sườn dốc vừa lẩm bẩm.
Cô đã quên mất Lee vẫn bị nhốt trong Nhà giam số Hai.
"Tôi không quay lại cứu đâu đấy."
Otoya tuyên bố trước khi cô kịp xúi.
Muốn sang Nhà giam số Hai, ông phải đi xuyên qua Nhà giam số Một, nơi có hai con ong khủng khiếp kia.
"Anh ấy mắc chứng sợ không gian kín. Cứ để vậy thì tội quá."
"Mặc kệ. Chứng sợ hãi đâu làm người ta chết."
"À, về người đó..."
Q ló đầu ra khỏi phòng cai ngục. Có vẻ cậu vừa đi cất lại chìa khóa phòng giam.
Nhìn kỹ, miệng cậu méo xệch như thể vừa cắn phải lưỡi.
"Sáng nay, người đó được phát hiện nằm gục trên sân khấu nhà hội trường."
Trong vài giây, Otoya không hiểu cậu bé đang nói gì.
"Chẳng lẽ... anh ta chết rồi?"
Q nhìn Otoya rồi khẽ gật đầu.
"Người đó... cơ thể bị tách làm hai."