1
Những dòng sông ánh sáng phân thành vô số nhánh, đan cài vào nhau, phủ khắp mặt đất như mạng lưới mao mạch.Thành phố Nhật Bản dần hiện ra phía bên kia tầng mây, phát ra ánh sáng chói lòa đến mức khó tin lúc này đã là nửa đêm.
Càng đến gần sân bay, những ánh sáng ấy càng bắt đầu tạo thành các hoa văn hình học nhân tạo. Trông giống như cảnh đêm của San Jose. Có lẽ máy bay đã rời khỏi khu vực phía trên thành phố và bay sang vùng công nghiệp.
Thông báo chuẩn bị hạ cánh vang lên, các hành khách bắt đầu thắt dây an toàn. Sau khi hạ độ cao trong suốt năm phút, máy bay đáp xuống đường băng của Sân bay Quốc tế New Tokyo vào lúc mười giờ mười lăm phút tối theo giờ Nhật Bản.
Đèn báo thắt dây an toàn tắt, hành khách thu dọn hành lý rồi lần lượt hướng về lối ra. Tôi đứng dậy khỏi ghế, mở ngăn hành lý phía trên đầu. Đợi người phía sau đi qua, tôi đưa tay lấy chiếc túi Boston.
"Này, nhanh lên đi."
Người đàn ông ngồi bên cạnh trừng mắt nhìn tôi. Từ trước khi hạ cánh, ông ta đã nhiều lần nhìn giờ trên màn hình, chắc hẳn đang có việc gấp.
"...Xin lỗi."
Tôi khẽ cúi đầu, ép người sát vào mép lối đi.
"Người nước ngoài à."
Người đàn ông tặc lưỡi rồi bước nhanh dọc lối đi.
Giảng viên môn lịch sử Nhật Bản từng khen phát âm của tôi chẳng khác gì người bản xứ, nhưng có lẽ đó chỉ là lời nói xã giao để động viên một học sinh chăm chỉ.
Tôi khoác chiếc túi Boston lên vai, vừa luyện nói câu "xin lỗi" trong miệng vừa đi về phía cửa ra.
Năm 1985.
Ngày 10 tháng Bảy, tức năm Chiêu Hòa thứ sáu mươi theo lịch Nhật Bản.
Sau khi qua đêm tại nhà ga hành khách của sân bay, tôi đi xe buýt tới ga Ueno, rồi đổi qua nhiều chuyến tàu thường để đến Fukushima.
Đến khi bước qua cổng soát vé ga Aizuwakamatsu, vừa xoa phần lưng dưới đã cứng đờ vừa hối hận vì không đi tàu cao tốc, trời đã quá bốn giờ chiều.
Tôi lên xe buýt, đi xuyên qua thành phố dưới chân thành trong bầu trời u ám suốt hai mươi phút. Sau đó lại đi bộ khoảng mười lăm phút từ trạm xe buýt theo con đường núi, cuối cùng cũng tới nghĩa trang mình đang tìm.
Nơi đó chỉ rộng bằng khoảng hai căn nhà dân, nhỏ hơn rất nhiều so với các nghĩa trang ở Mỹ. Một người phụ nữ đội chiếc tấm che nắng có vành rộng khác thường đang chắp tay trước bia mộ. Không biết sự khác nhau đôi chút về loại đá và hình dạng của các bia mộ có mang ý nghĩa gì hay không.
Tôi lần lượt kiểm tra những cái tên được khắc trên đá từ ngoài vào trong. Khi tới hàng thứ ba, tôi tìm thấy một bia mộ khắc dòng chữ "Mộ gia tộc Arimori".
Tên "Arimori Ririko" được khắc ở mặt bên trái.
Ngày mất ghi là "18 tháng Mười Một năm Chiêu Hòa thứ năm mươi ba", nên không thể là một người trùng tên.
Cô ấy đang yên nghỉ ở đây.
Ngôi mộ nhỏ nhắn hơn những ngôi khác, nhưng không hề bám rêu hay đất, cỏ dại xung quanh cũng được nhổ sạch sẽ. Người họ hàng tiếp nhận thi thể hẳn đã vô cùng đau lòng khi cô bị cuốn vào một sự kiện chưa từng có ở đất khách.
Tuy nhiên, có lẽ họ không thể nào biết được rằng cô từng cố bảo vệ tín đồ của một giáo phái, hay người đàn ông từng là cấp trên của cô hiện đang thụ án trong một nhà tù bang ở California.
Tôi làm theo người phụ nữ đội tấm che nắng, nhắm mắt, chắp hai tay trước bia mộ.
Ngày hôm sau, tôi trả phòng tại một khách sạn giá rẻ ở Ueno lúc tám giờ sáng rồi đi chuyến JR Yamanote chật kín người tới Shinjuku.
Tôi ra khỏi cổng phía Tây, đi tới đồn cảnh sát nhỏ đã được chỉ định. Sau khi kiểm tra giờ, tôi bước vào trong.
"Chào cậu. Tôi đang đợi đây. Cậu chính là người sống sót trong vụ án ấy phải không?"
Một người đàn ông với nụ cười vui vẻ như một diễn viên hài kỳ cựu nhanh nhẹn chìa tay phải ra.
Nếp nhăn trên mặt ông sâu hơn trong bức ảnh gửi qua thư điện tử, nhưng không thể nhầm được, đó là cựu cảnh sát Kogota Yoshio.
Sau khi kết thúc cuộc trò chuyện phiếm với viên cảnh sát trực và rời khỏi đồn, Kogota dẫn tôi đến một nhà hàng Nhật sạch sẽ tên là Matsumoto.
"Nhờ ông mà tôi đã có thể tới viếng mộ cô Arimori Ririko."
Tôi vừa ngồi xuống vừa nói lời cảm ơn.
"Quả nhiên là sinh viên Harvard. Tiếng Nhật của cậu lưu loát thật."
Kogota vừa lau mồ hôi bằng khăn tay vừa nói một câu xã giao.
"Ông còn nhớ anh Otoya không?"
"Tất nhiên. Kể từ ngày nhận được thư của cậu, tôi chỉ toàn nhớ đến gã đó."
Kogota nheo mắt như đang hoài niệm chuyện xưa.
"Anh ta lúc nào cũng tỏ vẻ bất cần, giả bộ là kẻ máu lạnh, nhưng thật ra tính cách lại giống một đứa trẻ."
Một lời hoàn toàn nằm ngoài dự đoán bật ra ngay lập tức.
"Giống trẻ con sao?"
"Nói gọn lại thì anh ta rất hiếu thắng. Có lần câu chuyện chuyển sang những người cùng nghề, anh ta còn cố tình so sánh số vụ án đã giải quyết rồi khăng khăng rằng mình hơn người kia. Có lúc anh ta nói mình chưa từng định trở thành kiểu thám tử này, nhưng có lẽ một nửa chỉ là che giấu sự ngượng ngùng."
"Hai người thân thiết đến mức có thể nói chuyện rất thoải mái với nhau nhỉ."
"Chúng tôi gặp nhau lần đầu khi tôi xin ý kiến anh ta về vụ Momozu Shouji. Sau đó, mỗi khi cuộc điều tra lâm vào bế tắc, tôi lại nhờ anh ta giúp. Có lần chúng tôi còn uống rượu tới sáng tại văn phòng ở Nakano. Tiếc là sau khi tôi được điều sang Cảnh sát tỉnh Miyagi, chúng tôi không còn nhiều dịp gặp nhau."
Tôi lấy cuốn sổ màu cam ra, ghi lại địa chỉ nơi văn phòng từng tọa lạc.
"Nhưng một người trẻ ưu tú như cậu, tại sao lại muốn biết về một gã như thế?"
Kogota nhướng đôi lông mày đã điểm bạc. Không phải đùa, ông thật sự thấy khó hiểu.
"Có một điều tôi không hiểu."
Được ông khơi chuyện, tôi đi thẳng vào vấn đề chính.
"Vào ngày mà tín đồ Giáo hội Nhân dân được cho là đã tự sát tập thể, anh Otoya đã bỏ độc vào nước trái cây trong khu bếp, khéo léo dùng lời nói dẫn dắt Jim Jorden, khiến toàn bộ tín đồ uống chất độc.
Quan điểm chung của FBI và cảnh sát Guyana là anh ấy đã muốn giết sạch họ vì phẫn nộ trước cái chết của Nogi Nobiru và Arimori Ririko.
Nhưng anh Otoya biết hung thủ đã giết hai người ấy là ai. Nếu muốn trả thù cho bạn và trợ lý, anh ấy chỉ cần tấn công từng hung thủ là được. Tại sao anh ấy lại cướp đi mạng sống của rất nhiều tín đồ vô tội?"
Đến khi nhận ra, tôi đã siết chặt chén trà trong tay.
Để giải được bí ẩn này, tôi đã từ chối kỳ thực tập tại FBI và đi một chặng đường dài tới Nhật Bản.
Kogota khoanh tay suy nghĩ. Đến khi một phụ nữ mặc kimono mang món dưa muối màu hồng tới, ông đột nhiên mở miệng.
"Sự tồn tại của thám tử, chỉ cần sai một bước là có thể trở thành kẻ gây hại. Có lẽ anh ta hiểu điều ấy và đã sử dụng sức mạnh đó theo cách tồi tệ nhất."
Biểu cảm của ông vẫn nhẹ nhàng, nhưng riêng giọng nói trở nên nặng trĩu.
"Người phạm tội thường cố gắng tự biện minh. Anh ta không nói về động cơ tại phiên tòa sao?"
"Không nói một lời nào. Chỉ có lúc bị bắt, anh Otoya đã nói thế này."
- Vì Ririko. Chỉ vậy thôi. Tôi không còn gì để nói.
"Ra vậy."
Kogota cầm đũa lên, nhưng chưa gắp miếng dưa muối đã đặt lại đúng chỗ cũ.
"Tôi nghĩ thế này. Không phải cậu không tìm được câu trả lời, mà chỉ là cậu không thể chấp nhận nó."
"Ý ông là..."
"Bảy năm trước, khi vẫn còn là một đứa trẻ, cậu gặp hai thám tử tại Jordentown và ngưỡng mộ họ. Nhưng một người bị giết, người còn lại đã giết sạch đồng đội của cậu.
Dù vậy, cậu vẫn không thể từ bỏ sự ngưỡng mộ đối với hai người ấy. Anh ta không thể vô cớ giết những người vô tội. Chắc chắn phải có một lý do bất khả kháng nào đó. Có lẽ cậu đã bảo vệ tâm hồn mình bằng cách nghĩ như vậy.
Chẳng khác nào một tín đồ của giáo phái."
Có lẽ nhận ra mình đã nói quá lời, Kogota thở ra rồi vuốt trán như đang tự răn mình.
"Tôi chỉ có thể nói một điều. Anh ta không phải người trong sạch đến mức cậu tưởng. Nếu vì phẫn nộ khi trợ lý bị giết mà mất kiểm soát, rồi tìm cách trả thù bằng phương thức tồi tệ nhất có thể nghĩ ra, tôi cũng không thấy ngạc nhiên."
Ông bất chợt nhìn về cây mộc tê vàng trong sân trong, rồi tiếp tục bằng giọng điệu nhẹ nhàng như ban đầu.
"Vì Ririko. Câu nói ấy chính là đáp án."
Tôi không muốn chấp nhận.
Nhưng ngay cả tôi cũng hiểu rất rõ rằng lời Kogota nói lần này không phải lời xã giao.
2
"Chúc chuyến đi của cậu sẽ thật tốt đẹp."Mỉm cười nói vậy, Kogota lên một chiếc taxi ở vòng xoay trước nhà ga.
Đợi chiếc xe khuất hẳn, tôi bước vào trong ga. Sau khi xem sơ đồ tuyến đường, tôi lên chuyến JR Chuo Line. Nếu không làm gì đó, tôi có cảm giác lồng ngực mình sẽ bị đè nát.
Xuống tại ga Nakano, tôi tìm địa chỉ đã ghi trong sổ trên tấm bản đồ trước đồn cảnh sát. Đi hết khoảng nửa con phố mua sắm rồi rẽ vào một ngõ nhỏ, tôi lập tức nhìn thấy tòa nhà mình cần tìm.
Một tòa nhà bê tông cốt thép sáu tầng không hề có gì nổi bật. Tầng một có một quán cà phê trang nhã tên White Apple, nhưng từ tầng hai trở lên, bảng tên đều để trống.
Tôi lên đến tầng ba. Đúng như dự đoán, phía sau ô cửa kính nhỏ trên cánh cửa chẳng có gì cả.
Văn phòng của một người đã biến mất từ bảy năm trước làm sao còn tồn tại được.
Đó là điều quá rõ ràng.
Kogota đã nói trúng.
Bỏ ra một khoản tiền lớn, từ chối cả kỳ thực tập, để rồi đến đây chỉ thấy một tòa nhà văn phòng bình thường không có gì cả.
Đúng là chẳng khác gì một tín đồ của giáo phái.
"Này, cậu đang làm gì thế?"
Bất chợt có tiếng gọi, suýt nữa tôi lăn xuống cầu thang.
Một người phụ nữ mặc đồ lao động đang đứng ở chiếu nghỉ phía trên nhìn xuống. Tay phải xách một chiếc túi nylon, tay trái cầm một chiếc xô lớn.
"Cậu định thuê tòa nhà này à?"
Vừa nói, cô vừa đi xuống cầu thang.
Có vẻ cô không phải nhân viên công ty vệ sinh.
"Cô là chủ tòa nhà sao?"
"Đúng vậy."
"Cô còn nhớ người từng thuê tầng này bảy năm trước không?"
Đuôi lông mày người phụ nữ nhướng lên.
"Không biết. Tôi thừa kế tòa nhà này từ bố mới được hai năm."
Tôi suýt thở dài, đành giả vờ ho để che đi.
"Thế nào? Có thuê không?"
Tôi lắc đầu nguầy nguậy.
"Không thuê thì về đi."
Người phụ nữ mở khóa cánh cửa tầng ba, vẫn xách cả túi lẫn xô rồi bước vào bên trong.
Không còn gì có thể làm nữa.
Mình nên trở về Mỹ thôi.
Chia tay quá khứ và lấy lại cuộc đời của chính mình.
Tôi bước xuống cầu thang, đi thật nhanh trong con ngõ.
Đúng lúc sắp rẽ qua góc phố, một thứ khơi dậy nỗi hoài niệm bỗng lọt vào mắt.
Một khối hộp chữ nhật màu đỏ rực đặt trước cửa tiệm đồ Hoa.
Đó là máy bán Coca-Cola tự động giống hệt chiếc trong phòng sinh hoạt chung của ký túc xá.
Cảm giác thân thuộc như gặp lại một người bạn cũ trào dâng.
Tôi lấy đồng xu một trăm yên từ ví bỏ vào khe.
Cạch.
Âm thanh lon... không, chai nước rơi xuống vang lên.
Tôi mở cửa lấy chai Coca-Cola bằng thủy tinh ra.
"Hửm?"
Định đóng cửa lại thì tôi phát hiện dưới chân máy còn có một chai khác.
Nắp chai bị cạy méo sang một bên, nhưng nước bên trong vẫn còn nguyên.
Chắc ai đó không mở được nắp nên bỏ lại.
Đây hẳn là món quà của Thượng đế.
Tôi dùng đồ mở nắp gắn trên máy bật nắp chai, rồi đưa luôn chai vừa nhặt được lên miệng.
"Này, cậu kia!"
Tim tôi như nhảy dựng.
Quay về phía tiếng gọi, tôi thấy một người đàn ông râu ria đầy mặt ló đầu ra khỏi tấm rèm cửa có ghi ba chữ Inohyakkai.
Ông đội chiếc khăn đã ngả màu vàng, cau có nhìn tôi.
"Cậu không xem ti-vi à?"
Ông vừa nói vừa đưa mắt quan sát tôi từ chân lên đầu.
"Dạo này người ta đang dùng đúng cái trò bỏ thuốc độc như thế đấy. Có khi chỉ là trò đùa thôi, nhưng nguy hiểm lắm, đừng có uống."
Vừa dứt lời, ông giật lấy chai nước trên tay tôi, lật tấm biển "Đang chuẩn bị", rồi biến mất sau tấm rèm.
Vài giây sau... Mồ hôi túa ra khắp người.
Khó khăn lắm mới sống sót sau sự kiện bảy năm trước, nếu giờ lại bị đầu độc ở một nơi thế này thì đúng là trò cười.
Tôi chống tay vào cột điện, hít thở lấy lại bình tĩnh.
Lúc ấy, tôi nhìn thấy dưới tấm rèm của quán Inohyakkai treo tấm biển Đang mở cửa.
Đã là có duyên. Như bị hút vào, tôi bước vào quán.
"Xin chào."
Người đàn ông râu ria gọi vọng từ trong bếp.
Tôi ngồi xuống bàn thì một nữ phục vụ mang cốc nước tới.
"Xin lỗi..."
Chợt nảy ra một ý, tôi lấy từ cuốn sổ ra bản sao một bài báo.
"Người này... ngày trước có từng tới quán không?"
Người phụ nữ hất mái tóc sang một bên rồi cúi nhìn bức ảnh.
Trong ảnh, anh Otoya khoanh tay trước giá sách trông như đồ trang trí.
Đó là bài phỏng vấn đăng trên Tokyo Nichinichi Shimbun ngày 17 tháng 5 năm Chiêu Hòa thứ năm mươi (1975).
"À, tôi nhớ."
Người phụ nữ nhe chiếc răng khểnh như nanh.
"Anh ấy hay tới uống rượu khuya, rồi ngủ luôn đến tận sáng. Không ngờ anh ấy lại là thám tử."
"Anh ấy là ân nhân của tôi. Cô còn nhớ gì khác không?"
Vừa hỏi xong tôi đã hối hận.
Bị hỏi đột ngột thế này thì ai mà nhớ nổi.
Quả nhiên, người phụ nữ lúng túng xoay xoay cuốn sổ ghi hóa đơn.
Bỗng cô nhìn lên bức tường.
"À!" Cô dừng tay.
"Có một anh hay đi cùng anh ấy. Hai người từng đứng nói chuyện rất hào hứng trước bài báo này. Lúc đó tôi còn tưởng họ là fan của Yokoyabu Yusuke nên lại bắt chuyện. Thấy phản ứng của họ nhạt nhẽo quá. Ai ngờ người đó cũng là thám tử."
Cô vừa nói vừa chỉ vào bản sao một tạp chí dán trên tường.
Nửa bên phải là bài viết mang tiêu đề "Xếp hạng mì ramen cay đến mức chảy máu hậu môn", trong đó mì tantan siêu cay của Inohyakkai đứng hạng hai mươi chín.
Nửa bên trái là phần mở đầu bài "Vinh quang của thám tử lừng danh - Toàn bộ hồ sơ các vụ án của Yokoyabu Yusuke".
Dòng giới thiệu ghi:
"Ngày 30 tháng 10 năm 1978, Yokoyabu Yusuke gục ngã dưới phát súng của Số 108. Sau đây là toàn bộ những chiến công huy hoàng của ông."
"Người này nổi tiếng lắm sao?"
"Tất nhiên rồi. Ông ấy là khách mời thường xuyên của chương trình truyền hình Hãy để thám tử lừng danh lo!, chuyên phá các vụ án chưa có lời giải."
Đúng là cái tên chương trình kỳ quặc.
"Tôi đã là fan của ông ấy từ trước khi ông ấy lên truyền hình cơ. Nếu nói thám tử ngang hàng với Yokoyabu thì chắc chỉ có Furushiro Rindo thời trước chiến tranh."
"Anh Otoya không được tính sao?"
"Anh chàng nghiện rượu đó á? Khác đẳng cấp lắm. Mà anh ấy từng lên ti-vi à?"
Người phụ nữ cười, phe phẩy cuốn hóa đơn.
Tôi lại cúi xuống bài báo.
"'Số 108' là gì vậy?"
"Biệt danh của kẻ đã giết Yokoyabu."
"Tại sao lại gọi bằng cái tên giống số phòng chung cư vậy?"
"Hình như khoảng mười lăm năm trước, hắn trộm súng ở căn cứ quân đội Mỹ rồi liên tiếp bắn chết mười một người. Tôi cũng không rõ lắm, nhưng vụ án đó mang số 108."
Tôi chưa từng nghe tới vụ án ấy.
"Giết vị thám tử đó vào năm 1978... vậy Số 108 đã trốn rất lâu nhỉ."
"Nghe nói hắn là người lớn nhưng trông như trẻ con. Người ta bảo đó cũng là lý do cảnh sát mãi không bắt được."
Đúng lúc ấy...
Một linh cảm chợt lóe lên.
Ở phía trước cuộc trò chuyện này...
Có đáp án cho câu hỏi mà tôi đã tìm suốt bảy năm.
"...Thế Số 108 sau đó ra sao?"
"Chết cùng đối thủ."
Người phụ nữ đáp.
"Yokoyabu Yusuke bị bắn vào bụng, nhưng vẫn dốc chút sức lực cuối cùng bắn chết Số 108."
Không hiểu sao cô lại ưỡn ngực đầy tự hào.
"Cuối cùng ông ấy cũng hạ được tên sát nhân khét tiếng ấy. Đúng là Yokoyabu Yusuke mới là thám tử thật sự."
Máu trong người tôi như chảy ngược.
Quả nhiên. Mảnh ghép cuối cùng mà tôi tìm kiếm...
Chính là điều này.
Thoạt nhìn, anh Otoya lúc nào cũng bình tĩnh.
Nhưng theo lời cựu cảnh sát Kogota, thực chất anh ấy lại rất trẻ con và cực kỳ hiếu thắng.
Khi nhắc đến đồng nghiệp, anh còn cố tình so số vụ án đã phá để khăng khăng rằng mình hơn người ta.
Đối với anh Otoya...
Arimori Ririko là một trợ lý quá xuất sắc.
Anh vừa ghen tị với tài năng của cô, vừa vô cùng tự hào về cô.
Nhưng người trợ lý ấy...
Đã bị tín đồ của một giáo phái siết cổ đến chết trong một khu định cư ở Nam Mỹ.
Khi nhìn thấy thi thể cô...
Anh Otoya đã nghĩ gì?
Đương nhiên anh đau buồn vì mất trợ lý.
Đương nhiên anh căm hận hung thủ.
Nhưng xen lẫn trong những cảm xúc ấy...
Liệu còn có một nỗi ghen tị méo mó đối với viên thám tử kiêm ngôi sao truyền hình vừa chết nửa tháng trước hay không?
Yokoyabu Yusuke...
Đã chết dưới tay tên sát nhân khét tiếng từng bắn chết mười một người và làm rung chuyển cả nước Nhật.
Thế nhưng...
Arimori Ririko, người đáng lẽ còn xuất sắc hơn ông ta rất nhiều...
Lại bị một gã lùn chỉ giết đúng ba người sát hại.
Có lẽ...
Điều anh Otoya không thể chịu đựng được...
Là việc cô bị giết bởi một tên sát nhân tầm thường như thế.
Ngày bị các đặc vụ FBI khống chế trong quán ăn trước sân bay...
Anh Otoya đã buột miệng nói:
"Lỗi là tại gã đó. Cái gã có ngoại hình như trẻ con ấy."
Nếu câu đó...
Không phải để chỉ Ray Morton...
Mà là chỉ Số 108 thì sao?
"Tôi không muốn tin trợ lý của mình lại thua một kẻ như thế."
Nếu câu đó...
Là để nói về Yokoyabu Yusuke thì sao?
Arimori Ririko...
Đã thua Yokoyabu Yusuke.
Có lẽ đó mới là hiện thực mà anh Otoya tuyệt đối không thể chấp nhận.
Khi đức tin mâu thuẫn với hiện thực...
Con người sẽ cố gắng cưỡng ép xóa bỏ sự mâu thuẫn ấy.
Arimori Ririko là vị thám tử vĩ đại nhất.
Một người như cô không thể chết dưới tay một tên sát nhân tầm thường.
Một kết cục như vậy không xứng đáng là "vụ án cuối cùng" của cô.
Nếu cô phải chết...
Thì đó phải là kết quả của một đại thảm họa đủ sức làm rung chuyển cả thế giới.
Để biến điều đó thành sự thật...
Điều cần thiết chỉ có một.
Số lượng nạn nhân.
- Vì Ririko. Chỉ vậy thôi. Tôi không còn gì để nói.
Chính câu nói cuối cùng ấy...
Đã nói lên tất cả.
Chín trăm mười tám tín đồ...
Là vật hiến tế để Arimori Ririko trở thành một thám tử lừng danh.
"Xin lỗi. Tôi vừa nhớ ra có việc phải làm nên xin phép."
Tôi cúi đầu với nữ phục vụ rồi gần như lao khỏi quán Inohyakkai.
Con ngõ giờ đây mang màu sắc hoàn toàn khác mười lăm phút trước.
Tôi chạy hết tốc lực.
Leo lên cầu thang của tòa nhà văn phòng, tôi thấy người phụ nữ chủ nhà đang thu dọn đồ vào túi.
Nghe tiếng thở dốc của tôi, cô nhíu mày khó hiểu.
"Xin lỗi."
"Tôi sẽ thuê căn phòng này."
Biểu cảm trên gương mặt người phụ nữ lập tức biến mất.
"Cậu là sinh viên à?"
"Vâng."
"Nhưng tôi sẽ nghỉ học."
"Tiền thuê trả nổi không?"
"Tôi sẽ xoay được."
Tôi đã quyết định. Tôi sẽ mở văn phòng thám tử ngay tại nơi này.
Và sẽ sống hết cuộc đời với tư cách một thám tử, không để bất kỳ ai cướp đi mạng sống của mình.
Điều quan trọng không phải là chết như thế nào.
Mà là sống ra sao.
Tôi sẽ chứng minh điều đó ngay tại nơi này.
"Miễn trả nổi tiền thuê thì được."
Người phụ nữ lấy từ chiếc hộp da dài trong túi ra một tấm danh thiếp.
"Ngày mai đến văn phòng nhé."
Trên danh thiếp ghi địa chỉ và số điện thoại của Taiyo Homes.
"Tôi sẽ chuẩn bị giấy tờ. Chỉ cần cho tôi tên và cách liên lạc."
Tôi bất giác ngập ngừng.
"Ờ... tôi sắp chuyển sang Nhật nên vẫn chưa có cách liên lạc."
Tôi cúi đầu.
"Tên tôi là Urano Kyu."
"Kyu à?"
Người phụ nữ lẩm bẩm, viết tên tôi bằng katakana, rồi nói:
"Hẹn gặp lại ngày mai."
Nói xong, cô khóa cửa căn phòng rồi đi xuống cầu thang.
Từ cửa sổ ở chiếu nghỉ...
Tôi nhìn xuống thành phố đang dần nhộn nhịp khi hoàng hôn buông xuống.
Không có cách nào biết được suy nghĩ thật sự trong lòng anh Otoya.
Theo một nghĩa nào đó, việc tôi sắp làm cũng chẳng khác gì các tín đồ của Giáo hội Nhân dân - đều bấu víu vào một điều mơ hồ.
Nhưng lúc này, tôi quyết định nhắm mắt làm ngơ trước điều đó.
- Khi cậu sang Nhật, bọn tôi sẽ kể cho cậu nghe hết những vụ án đã phá, cho tới khi cậu nghe chán thì thôi.
Ba mươi bốn năm nữa...
Anh Otoya sẽ mãn hạn tù ở nhà tù bang.
Nếu được ân xá hoặc được tha tù trước thời hạn, có lẽ ngày ấy sẽ đến sớm hơn.
Nếu được phép rời khỏi nước Mỹ...
Chắc chắn anh sẽ quay về nơi này.
Cho đến lúc đó...
Một mình cũng không sao.
Tôi nóng lòng chờ đợi ngày ấy hơn bất cứ điều gì.