Kẹo đá quả dứa, kẹo dẻo chanh, kẹo bơ cứng. Một cô bé dính đầy đường đang múc từng muỗng kem cho một vị tu sĩ Thiên Chúa giáo. Trà bánh học đường nào đó. Không tốt cho dạ dày của bọn trẻ đâu. Nhà sản xuất kẹo ngậm và kẹo bọc đường cho Hoàng thượng. Chúa. Phù. Hộ. Chúng. Ta. Ngồi trên ngai vàng ngậm kẹo táo gai đỏ trắng.
Một chàng thanh niên Y.M.C.A. ảm đạm, đứng cảnh giác giữa làn khói ngọt ngào ấm áp của tiệm Graham Lemon, nhét một tờ rơi vào tay ông Bloom.
Những cuộc trò chuyện từ trái tim đến trái tim.
Bloo... Tôi á? Không.
Máu Chiên Con.
Những bước chân chậm chạp đưa ông về phía bờ sông, vừa đi vừa đọc. Anh đã được cứu rỗi chưa? Tất cả đều được tẩy rửa trong máu Chiên Con. Chúa muốn vật tế là máu. Sự sinh nở, màng trinh, tử đạo, chiến tranh, nền móng của một tòa nhà, vật hiến tế, lễ vật thận cháy, các bệ thờ của người Druid. Elijah đang đến. Tiến sĩ John Alexander Dowie, người khôi phục giáo hội ở Zion, đang đến.
Đang đến! Đang đến!! Đang đến!!!
Nhiệt liệt chào đón tất cả.
Trò chơi có lợi. Torry và Alexander năm ngoái. Đa thê. Vợ hắn sẽ dập tắt cái thói đó cho mà xem. Cái quảng cáo của hãng Birmingham nào đó ở đâu nhỉ, cây thánh giá phát quang. Đấng Cứu Thế của chúng ta. Tỉnh dậy giữa đêm khuya và nhìn thấy ngài trên tường, đang treo lơ lửng. Ý tưởng bóng ma Pepper. Đinh sắt đâm vào.
Chắc phải làm bằng phốt pho. Chẳng hạn như nếu cậu để lại một mẩu cá tuyết. Tôi có thể nhìn thấy lớp ánh bạc xanh bám trên đó. Đêm tôi đi xuống cái chạn trong nhà bếp. Không thích mấy cái mùi cứ trực chực trào ra trong đó. Cô ấy muốn gì nhỉ? Nho khô Malaga. Nghĩ về Tây Ban Nha. Trước khi Rudy chào đời. Chất lân quang, cái màu xanh xanh lục lục đó. Rất tốt cho não.
Từ góc nhà tưởng niệm Butler, ông liếc dọc theo con phố Bachelor’s walk. Con gái của Dedalus vẫn ở đó bên ngoài phòng bán đấu giá của Dillon. Chắc đang thanh lý ít đồ đạc cũ. Nhận ra ngay đôi mắt giống bố nó. Lảng vảng ở đó đợi ông ta. Gia đình luôn tan vỡ khi người mẹ ra đi. Ông ta có mười lăm đứa con. Hầu như năm nào cũng sinh. Điều đó nằm trong giáo lý của họ, nếu không thì linh mục sẽ không ban phép giải tội cho người phụ nữ tội nghiệp ấy. Hãy sinh sôi nảy nở. Đã bao giờ nghe thấy ý tưởng nào như thế chưa? Ăn hại táng gia bại sản. Bản thân chẳng có gia đình nào để nuôi. Sống trên nhung lụa mỡ màng của đất nước. Những phòng đựng thức ăn và kho trữ của họ. Tôi muốn thấy họ giữ chay đen vào lễ Yom Kippur xem sao. Bánh bao thập tự. Một bữa ăn và một bữa nhẹ vì sợ ngã gục trên bệ thờ. Quản gia của một trong những kẻ đó, nếu bạn có thể moi được tin tức từ bà ta. Không bao giờ moi được gì từ bà ta đâu. Khác nào đi đòi tiền bạc từ hắn ta. Tự sướng cho bản thân. Không khách khứa. Tất cả chỉ vì cái tôi số một. Canh chừng lượng nước tiểu của mình. Tự mang theo bánh mì và bơ của nhà đi. Cha xứ: im lặng là vàng.
Chúa ơi, chiếc váy của đứa trẻ tội nghiệp đó rách tơi tả rồi. Trông con bé cũng thiếu ăn nữa. Khoai tây và bơ giả, bơ giả và khoai tây. Sau này chúng mới thấm thía. Bằng chứng rõ ràng nhất. Làm suy kiệt thể chất.
Khi ông đặt chân lên cầu O’Connell, một cụm khói bốc lên từ lan can. Xà lan chở bia đen xuất khẩu của nhà máy bia. Anh Quốc. Không khí biển làm chua bia, tôi nghe nói thế. Sẽ thật thú vị nếu một ngày nào đó xin được giấy phép qua cửa Hancock để tham quan nhà máy bia. Cả một thế giới thu nhỏ. Những thùng bia porter thật tuyệt vời. Lũ chuột cũng chui vào đó. Uống say mướt mát to bằng con chó collie trương phềnh lên. Say mềm người vì bia porter. Uống đến mức nôn mửa ra như những con chiên ngoan đạo. Thử tưởng tượng đến việc uống thứ đó xem! Chuột: thùng bia. Ồ, dĩ nhiên rồi, nếu chúng ta biết tất cả mọi chuyện.
Nhìn xuống dưới, ông thấy những con mòng biển đang vỗ cánh mạnh mẽ, lượn lòng vòng giữa những bức tường kè xám xịt. Thời tiết ngoài khơi có vẻ dữ dội. Nếu tôi nhảy xuống thì sao? Con trai của Reuben J chắc hẳn đã nuốt phải một bụng đầy nước cống đó rồi. Một shilling tám xu vẫn còn là quá rẻ. Hhhhm. Cách hắn thốt ra mọi chuyện thật buồn cười. Lại còn biết cách kể chuyện nữa chứ.
Chúng bay là đà hơn. Đang tìm mồi.
Chờ đã.
Ông ném xuống giữa bầy chim một quả bóng giấy nhàu nát. Elijah ba mươi hai feet mỗi giây đang đ. Không ăn thua. Quả bóng bập bềnh vô định trên vệt sóng nước, trôi dạt bên dưới các mố cầu. Chúng đâu có ngu ngốc thế. Cả cái hôm tôi ném chiếc bánh ngọt cũ rích khỏi con tàu Erin’s King, một con chim đã nhặt lấy nó ở khoảng cách năm mươi thước phía sau. Sống bằng sự khôn lỏi của chúng. Chúng lượn vòng, vỗ cánh.
Con mòng biển đói lả
Vỗ cánh trên mặt nước buồn tẻ.
Đó là cách các nhà thơ viết, những âm thanh tương tự. Nhưng mà Shakespeare lại không dùng vần: thơ tự do. Đó là dòng chảy của ngôn ngữ. Những suy nghĩ. Trang nghiêm.
Hamlet, ta là linh hồn của cha ngươi
Bị đày đọa đi lang thang trên mặt đất trong một khoảng thời gian nhất định.
— Hai quả táo một xu! Hai quả một xu!
Ánh mắt ông lướt qua những quả táo bóng loáng được xếp ngay ngắn trên sạp hàng của mụ. Chắc chắn là táo Úc vào thời điểm này trong năm. Vỏ sáng bóng: mụ ta dùng giẻ hoặc khăn tay để đánh bóng chúng.
Chờ đã. Những con chim tội nghiệp đó.
Ông dừng lại lần nữa và mua từ chỗ bà bán táo già hai chiếc bánh Banbury giá một xu, bẻ vụn lớp vỏ giòn tan rồi ném những mảnh vụn xuống sông Liffey.
Thấy chưa? Lũ mòng biển lao xuống lặng lẽ, hai con, rồi tất cả từ trên cao, chộp lấy con mồi. Đã hết. Sạch bách từng mẩu nhỏ.
Nhận thức được sự tham lam và ranh mãnh của chúng, ông phủi những vụn bánh phấn trên tay. Chúng đâu có ngờ tới điều đó. Manna. Sống bằng cá, thịt tanh tưởi, tất cả các loài chim biển, mòng biển, ngỗng biển. Đôi khi thiên nga từ sông Anna Liffey cũng bơi xuống đây để rỉa lông rỉa cánh. Khó mà hiểu nổi sở thích của chúng. Tự hỏi thịt thiên nga có vị gì nhỉ. Robinson Crusoe đã từng phải sống bằng thịt chúng.
Chúng lượn lờ vỗ cánh yếu ớt. Tôi không định ném thêm nữa đâu. Một xu là quá đủ rồi. Chẳng nhận được chút cảm ơn nào. Thậm chí chẳng kêu lên một tiếng. Chúng cũng làm lây lan bệnh lở mồm long móng. Nếu bạn nhồi gà tây bằng bột hạt dẻ chẳng hạn, nó sẽ có vị như vậy. Ăn thịt lợn thì giống thịt lợn. Nhưng tại sao cá nước mặn lại không mặn nhỉ? Sao lại thế được?
Đôi mắt ông tìm kiếm câu trả lời từ dòng sông và nhìn thấy một chiếc xuồng chèo đang tròng trành neo đậu trên những con sóng sánh đục ngầu, tấm bảng của nó lững lờ trôi.
Quần dài Kino’s
11/
Ý tưởng hay đấy. Tự hỏi hắn có phải trả tiền thuê mặt bằng cho hội đồng thành phố không nhỉ. Làm sao mà thực sự làm chủ được dòng nước cơ chứ? Nó cứ chảy mãi trong một dòng suối, chẳng bao giờ giống nhau, thứ mà chúng ta lần theo trong dòng đời. Bởi vì cuộc sống là một dòng chảy. Đủ mọi nơi đều thích hợp để quảng cáo. Tên bác sĩ lang băm chữa bệnh lậu đó từng dán đầy trong các nhà kính. Giờ chẳng thấy đâu nữa. Hoàn toàn bí mật. Tiến sĩ Hy Franks. Chẳng tốn của hắn một xu nào như Maginni, bậc thầy khiêu vũ tự quảng cáo. Thuê người dán hộ hoặc tự tay dán trên q.t. lén lút nới lỏng một chiếc cúc. Kẻ chớp nhoáng. Đúng là chỗ lý tưởng. CẤM DÁN QUẢNG CÁO. CẤM 110 VIÊN THUỐC. Gã nào đó đang bị bệnh hành hạ.
Nếu hắn...?
Ồ!
Hả?
Không... Không.
Không, không. Tôi không tin đâu. Chắc hắn không dám làm thế chứ?
Không, không.
Ông Bloom bước tới, ngước đôi mắt đầy ưu tư lên. Đừng nghĩ về chuyện đó nữa. Hơn một giờ rồi. Quả bóng thời gian trên tòa nhà văn phòng dằn tàu đã hạ xuống. Giờ Dunsink. Cuốn sách nhỏ thật hấp dẫn của ngài Robert Ball. Thị sai. Tôi chưa bao giờ hiểu rõ lắm. Có một vị linh mục kìa. Có thể hỏi ông ấy. Par có nghĩa là tiếng Hy Lạp: song song, thị sai. Cô ấy gọi nó là vòi phóng ngựa cho đến khi tôi kể cho cô ấy nghe về sự luân hồi. Ồ, vớ vẩn!
Ông Bloom mỉm cười thầm thốt lên "vớ vẩn" hướng về hai ô cửa sổ của tòa nhà văn phòng dằn tàu. Rốt cuộc thì cô ấy nói đúng. Chỉ toàn những từ lớn lao cho những thứ bình thường vì nghe cho có vẻ kêu thôi. Cô ấy không hẳn là dí dỏm. Đôi khi còn thô lỗ nữa. Thốt ra những gì tôi đang nghĩ. Dù sao thì, tôi cũng không biết. Cô ấy thường nói Ben Dollard có giọng nam trung trầm. Hắn ta có đôi chân to như cái thùng và cứ ngỡ hắn đang hát vào trong một cái thùng ấy chứ. Nào, chẳng phải thế là dí dỏm sao. Họ thường gọi hắn là Ben lớn. Chẳng dí dỏm bằng việc gọi hắn là giọng nam trung trầm. Sức ăn như con hải âu lớn. Quất sạch cả một tảng thịt bò lớn. Hắn là một kẻ cừ khôi trong khoản nốc cạn bia Bass hạng nhất. Cả một thùng Bass cơ đấy. Thấy chưa? Mọi thứ đều khớp với nhau cả.
Một đoàn người đeo bảng quảng cáo trước ngực mặc áo blouse trắng chậm rãi diễu hành về phía ông dọc theo rãnh nước bên đường, những dải khăn đỏ vắt chéo qua các tấm bảng. Hàng giảm giá. Trông họ giống hệt vị linh mục sáng nay: chúng ta đã phạm tội: chúng ta đã đau khổ. Ông đọc những chữ cái đỏ rực trên năm chiếc mũ trắng cao ngất của họ: H. E. L. Y. S. Wisdom Hely’s. Chữ Y đi tụt lại phía sau lôi ra một khúc bánh mì từ dưới tấm bảng trước ngực, nhét vào miệng và nhai ngấu nghiến khi đi. Lương thực chính của chúng ta. Ba shilling một ngày, lê bước dọc các rãnh nước, hết con phố này đến con phố khác. Chỉ để giữ da bọc xương, bánh mì và cháo loãng. Bọn họ không phải người của Boyl: không, là người của M’Glade. Cũng chẳng mang lại chút kinh doanh nào. Tôi từng gợi ý với hắn về một chiếc xe đẩy trưng bày trong suốt với hai cô gái xinh xắn ngồi bên trong viết thư, vở học sinh, phong bì, giấy thấm. Tôi cá là cách đó sẽ ăn khách. Gái xinh viết lách cái gì đó sẽ thu hút ánh nhìn ngay lập tức. Mọi người sẽ chết thèm vì muốn biết cô ấy đang viết gì. Cả tá người bu quanh nếu bạn đứng ngó vơ vẩn. Góp một tay vào việc gì đó. Cả phụ nữ nữa. Tính tò mò. Trụ đá muối. Dĩ nhiên là hắn không chịu rồi vì hắn không tự nghĩ ra trước. Hay cái lọ mực mà tôi gợi ý với vết bẩn giả bằng nhựa celluloide đen. Những ý tưởng quảng cáo của hắn giống như thịt hộp Plumtree đặt dưới mục cáo phó, chuyên mục thịt nguội. Cậu chẳng thể chê vào đâu được. Gì cơ? Những chiếc phong bì của chúng ta. Chào Jones, anh đang đi đâu đấy? Không dừng lại được đâu Robinson, tôi đang vội đi mua cục tẩy mực đáng tin cậy duy nhất của Kansell, bán tại Hely’s Ltd, số 85 đường Dame. Thoát khỏi cái đống hỗn độn đó thật nhẹ người. Công việc thu hồi công nợ của mấy tu viện đúng là cực hình. Tu viện Tranquilla. Nữ tu ở đó trông thật dễ mến, khuôn mặt thực sự ngọt ngào. Khăn trùm đầu rất hợp với cái đầu nhỏ nhắn của sơ ấy. Sơ? Sơ? Tôi chắc chắn sơ ấy từng lỡ dở chuyện tình duyên qua ánh mắt kia. Loại phụ nữ đó rất khó mặc cả. Sáng hôm đó tôi đã làm phiền sơ ấy làm lễ. Nhưng sơ ấy có vẻ vui mừng khi được giao tiếp với thế giới bên ngoài. Ngày trọng đại của chúng ta, sơ ấy nói. Lễ Đức Mẹ Núi Carmel. Cái tên nghe cũng ngọt ngào: caramel. Sơ ấy biết tôi, tôi nghĩ sơ ấy nhận ra qua cách tôi. Nếu kết hôn chắc sơ ấy đã thay đổi rồi. Tôi đoán thực ra họ đang thiếu tiền. Dù sao thì họ vẫn rán mọi thứ bằng loại bơ ngon nhất. Không dùng mỡ lợn đâu. Tim tôi tan nát vì ăn mỡ đông rồi. Họ thích bôi mỡ lên người từ trong ra ngoài. Molly nếm thử nó, chiếc khăn voan hất lên. Sơ ấy? Pat Claffey, con gái gã cầm đồ. Người ta đồn rằng chính một nữ tu đã phát minh ra thép gai.
Ông băng qua đường Westmoreland khi tấm biển có dấu phẩy động đã lê bước qua. Cửa hàng xe đạp Rover. Hôm nay có mấy giải đua đó nhỉ. Chuyện đó từ bao giờ rồi nhỉ? Năm Phil Gilligan qua đời. Chúng tôi ở đường Lombard phía tây. Khoảng đợi: ở Thom’s. Nhận việc ở Wisdom Hely’s vào năm chúng tôi kết hôn. Sáu năm. Mười năm trước: năm chín mươi tư ông ấy mất, vâng đúng rồi, vụ cháy lớn ở Arnott’s. Val Dillon làm thị trưởng. Bữa tối ở Glencree. Viện nghị viên Robert O’Reilly trút rượu vang đỏ vào súp trước khi cờ hiệu hạ xuống. Bobbob nếm ngấu nghiến cho kịp suất nghị viên. Chẳng nghe rõ ban nhạc chơi bản gì. Cầu xin Chúa ban phước cho những gì chúng ta đã nhận. Milly lúc đó còn là một đứa nhóc. Molly mặc chiếc váy màu xám voi đó có đính những viền dây thừng. May theo kiểu thợ may với các cúc bọc vải. Cô ấy không thích nó vì tôi bị trẹo mắt cá chân ngay ngày đầu cô ấy mặc đi dã ngoại ca đoàn ở Sugarloaf. Cứ làm như thể tại cái đó. Chiếc mũ cao cổ của lão Goodwin được trang trí bằng thứ gì đó dính dính. Cả lũ ruồi kéo đến dã ngoại nữa. Chưa từng mặc cho cô ấy chiếc váy nào giống thế. Ôm sát lấy người cô ấy như một chiếc găng tay, từ vai cho đến hông. Vừa mới bắt đầu nảy nở đầy đặn. Hôm đó chúng tôi ăn bánh nêm thịt thỏ. Mọi người cứ ngoái lại nhìn cô ấy.
Hạnh phúc. Hạnh phúc hơn lúc đó. Căn phòng nhỏ ấm cúng với giấy dán tường màu đỏ. Của hãng Dockrell’s, một shilling chín xu một tá. Đêm tắm rửa của Milly. Xà phòng Mỹ tôi mua: hoa cơm cháy. Mùi thơm ấm áp từ nước tắm của con bé. Trông ngộ nghĩnh làm sao khi người dính đầy bọt xà phòng. Thân hình cũng cân đối nữa. Giờ thì đến lượt chụp ảnh. Xưởng chụp ảnh daguerreotype của người cha tội nghiệp mà ông từng kể cho tôi nghe. Gu thẩm mỹ di truyền.
Ông bước đi dọc theo lề đường.
Dòng đời. Tên của gã trông giống thầy tu cứ lén lút nhìn vào mỗi khi đi qua là gì nhỉ? Mắt kém, phụ nữ. Dừng lại ở tiệm Citron, diễu hành thánh Kevin. Pen gì đó nhỉ? Pendennis? Trí nhớ của tôi đang kém dần rồi. Pen...? Dĩ nhiên là từ nhiều năm trước rồi. Chắc là do tiếng ồn của xe điện. Chà, đến tên của người cha quản lý mà mình gặp mỗi ngày còn chẳng nhớ nổi.
Bartell d’Arcy là ca sĩ nam cao, lúc đó vừa mới nổi danh. Đưa cô ấy về nhà sau buổi tập. Tên kiêu ngạo với bộ ria mép được trau chuốt sáp. Tặng cô ấy bài hát Những cơn gió thổi từ phương nam.
Đêm đó trời gió lộng khi tôi đi đón cô ấy, có cuộc họp hội đồng về mấy tấm vé số sau buổi hòa nhạc của Goodwin ở phòng ăn hoặc phòng sồi của tòa nhà Mansion. Hắn và tôi đi phía sau. Tờ bản nhạc của cô ấy bay tuột khỏi tay tôi đập vào hàng rào trường Trung học. May mà không sao. Kiểu như thế sẽ làm hỏng mất bầu không khí của một buổi tối đối với cô ấy. Giáo sư Goodwin đi kèm bên cạnh cô ấy ở phía trước. Chân cẳng run lẩy bẩy, lão ma men tội nghiệp. Những buổi hòa nhạc chia tay của lão. Hoàn toàn là lần xuất hiện cuối cùng trên mọi sân khấu. Có thể là trong nhiều tháng và có thể là không bao giờ. Nhớ lại cảnh cô ấy cười trước cơn gió, chiếc cổ áo chống bão kéo cao lên. Góc đường Harcourt, nhớ cơn gió giật đó không. Brrfoo! Thổi tốc cả váy cô ấy lên và chiếc khăn voan boa gần như làm nghẹt thở lão Goodwin. Cô ấy thực sự đỏ bừng mặt vì gió. Nhớ lúc chúng tôi về đến nhà, cời tàn lửa lò sưởi và rán những miếng thịt cừu đó cho bữa tối của cô ấy với thứ nước sốt Chutney mà cô ấy thích. Cả rượu rum pha gia vị nữa. Có thể nhìn thấy cô ấy trong phòng ngủ từ lò sưởi đang tháo gỡ phần gọng áo nịt ngực: trắng toát.
Tiếng sột soạt và tiếng rơi mềm mại của chiếc áo nịt ngực phát ra trên giường. Lúc nào cũng ấm áp hơi thở của cô ấy. Luôn thích cởi bỏ sự gò bó cho chính mình. Ngồi đó sau đó cho đến gần hai giờ để tháo những chiếc kẹp tóc. Milly cuộn mình ngủ say trong phòng nhỏ. Hạnh phúc. Hạnh phúc. Đó là đêm mà...
— Ồ, anh Bloom, anh khỏe không?
— Ồ, chào chị Breen, chị thế nào?
— Chẳng có gì khá hơn đâu. Dạo này Molly thế nào rồi? Lâu lắm rồi không gặp cô ấy.
— Vẫn phong độ chói lọi, ông Bloom vui vẻ đáp. Milly đang có một công việc ở Mullingar đấy, chị biết không.
— Thật á? Tuyệt vời quá còn gì!
— Vâng. Làm việc trong một tiệm chụp ảnh. Tiến triển tốt như lửa bén rơm ấy. Mấy đứa con của chị thế nào rồi?
— Tất cả đều có tên trong danh sách của tiệm bánh mì rồi, bà Breen thở dài nói.
Cô ta có mấy đứa con nhỉ? Chẳng thấy đứa nào khác quanh đây.
— Chị mặc đồ đen kìa. Chị không có...
— Không, ông Bloom nói. Tôi vừa đi dự đám tang về.
Chắc cái chuyện này sẽ bị lôi ra bàn tán cả ngày đây, tôi đoán thế. Ai chết, khi nào và chết vì cái gì? Lại xuất hiện như một hồn ma ám ảnh.
— Ồ, lạy Chúa tôi, bà Breen nói. Tôi hy vọng đó không phải là người thân nào gần gũi.
Cứ tranh thủ nhận chút đồng cảm từ cô ta xem sao.
— Dignam, ông Bloom nói. Một người bạn cũ của tôi. Anh ấy qua đời khá đột ngột, tội nghiệp anh ấy. Bệnh tim, tôi tin là vậy. Đám tang diễn ra sáng nay.
Đám tang của anh sẽ diễn ra vào ngày mai
Khi anh đi qua cánh đồng lúa mạch.
Diddlediddle dumdum
Diddlediddle...
— Thật buồn khi mất đi những người bạn cũ, đôi mắt phụ nữ của bà Breen đượm buồn nói.
Thế là quá đủ về chuyện đó rồi. Chỉ cần: nhẹ nhàng: chồng.
— Còn đức lang quân của chị thì sao?
Bà Breen trợn tròn hai con mắt lớn. Dù sao thì mụ ta cũng chưa mất đi chúng.
— Ồ, đừng nhắc đến nữa! mụ nói. Lão ta đúng là mối họa kinh hoàng. Lão đang ở trong đó với đống sách luật để tìm hiểu về luật phỉ báng. Lão làm tôi phát điên lên được đây này. Đợi lát nữa tôi cho anh xem.
Hơi nước nóng hổi của món súp rùa giả và mùi bánh ngọt nhân mứt mới nướng cuồn cuộn bay ra từ tiệm Harrison. Mùi thơm nồng nàn giữa trưa kích thích vòm họng ông Bloom. Muốn làm được loại bánh ngọt ngon, bơ, bột mì loại tốt, đường Demerara, nếu không họ sẽ ngửi thấy vị của nó khi uống trà nóng. Hay là mùi phát ra từ chính cô ta? Một gã Ả Rập đi chân trần đứng ngay trên tấm lưới tản nhiệt, hít hà làn khơi bốc lên. Giảm bớt cơn đói cồn cào bằng cách đó. Là niềm vui hay nỗi đau nhỉ? Bữa ăn một xu. Dao và nĩa bị xích vào bàn.
Cô ta mở chiếc túi xách bằng da đã sờn. Trâm cài tóc: đáng lẽ phải có nắp đậy cho những thứ đó. Đâm vào mắt người ta trên xe điện bây giờ. Lục lọi. Mở ra. Tiền bạc. Xin hãy nhận lấy một tờ. Lũ ác quỷ nếu chúng mất sáu xu. Làm loạn lên. Chồng thì cằn nhằn. Mười shilling tôi đưa cho cô hôm thứ Hai đâu rồi? Cô đang đem đi nuôi gia đình thằng em trai út đấy à? Khăn tay bẩn: lọ thuốc. Viên thuốc ngậm bị rơi. Cô ta là cái gì thế nhỉ?...
— Chắc có trăng non rồi, cô ta nói. Lão ta lúc nào cũng dở chứng vào thời gian đó. Anh có biết tối qua lão đã làm gì không?
Bàn tay cô ta ngừng lục lọi. Đôi mắt dán chặt vào ông, mở to đầy lo lắng nhưng vẫn mỉm cười.
— Gì thế? ông Bloom hỏi.
Cứ để cô ta nói. Nhìn thẳng vào mắt cô ta. Tôi tin cô. Hãy tin tưởng tôi.
— Đánh thức tôi dậy giữa đêm, cô ta nói. Lão gặp ác mộng.
Khó tiêu.
— Lão bảo con ách bích đang bước lên cầu thang.
— Con ách bích! ông Bloom thốt lên.
Cô ta lấy ra một tấm bưu thiếp đã gập lại từ trong túi xách.
— Đọc cái này đi, cô ta nói. Lão nhận được nó sáng nay.
— Cái gì thế? ông Bloom hỏi, cầm lấy tấm bưu thiếp. U. P.?
— U. p: up, cô ta nói. Ai đó đang chơi khăm lão ấy mà. Thật là xấu hổ cho chúng dù kẻ đó là ai.
— Quả thực là vậy, ông Bloom nói.
Cô ta giật lại tấm bưu thiếp, thở dài.
— Và giờ lão đang đến văn phòng của ông Menton. Lão bảo sẽ kiện đòi bồi thường mười ngàn bảng.
Cô ta gấp tấm bưu thiếp nhét vào chiếc túi xách lộn xộn rồi bấm khóa cái cách.
Vẫn là chiếc váy len xanh thẫm mặc từ hai năm trước, lớp vải đã phai màu. Đã qua thời kỳ đỉnh cao. Mái tóc lơ thơ bên tai. Cả cái mũ ngớ ngẩn đó: ba quả nho già để che đi sự tẻ nhạt. Ra điều quý phái nhưng nghèo túng. Cô ta từng có gu ăn mặc rất tao nhã. Những nếp nhăn quanh khóe miệng. Chỉ lớn hơn Molly chừng một tuổi hoặc hơn.
Hãy nhìn ánh mắt mà người phụ nữ kia dành cho cô ta khi đi lướt qua kìa. Thật tàn nhẫn. Giới bất công.
Ông vẫn nhìn cô ta, kìm nén sự bất mãn ẩn sau cái nhìn đó. Mùi súp rùa giả, đuôi bò, cay nồng mọc lên. Mình cũng đang đói đây. Những mảng bánh ngọt dính trên nếp gấp váy của cô ta: vệt bột đường dính trên má. Bánh tart đại hoàng nhân đầy ắp, ruột trái cây đậm đà. Josie Powell ngày trước. Ở tiệm của Luke Doyle từ lâu lắm rồi. Dolphin’s Barn, trò chơi diễn tả từ ngữ. U. p: up.
Đổi chủ đề nào.
— Chị có bao giờ gặp lại bà Beaufoy không? ông Bloom hỏi.
— Mina Purefoy á? cô ta nói.
Tôi đang nghĩ đến Philip Beaufoy. Câu lạc bộ người xem kịch. Matcham thường nghĩ về cú đánh tuyệt đỉnh. Mình đã giật xả nước bồn cầu chưa nhỉ? Rồi. Màn cuối.
— Rồi.
— Tôi vừa ghé qua để hỏi xem cô ấy đã vượt cạn xong chưa. Cô ấy đang ở bệnh viện hộ sinh trên phố Holles. Bác sĩ Horne đã đưa cô ấy vào. Cô ấy đã đau đớn ba ngày nay rồi.
— Ồ, ông Bloom nói. Tôi rất tiếc khi nghe tin đó.
— Vâng, bà Breen nói. Lại thêm một nhà đầy trẻ con ở nhà nữa chứ. Ca sinh nở rất khó khăn, hộ sinh nói thế.
— Ồ, ông Bloom nói.
Ánh mắt đầy thương cảm của ông tiếp nhận thông tin đó. Lưỡi ông tặc lưỡi tỏ vẻ xót xa. Dth! Dth!
— Tôi rất tiếc khi nghe tin đó, ông nói. Tội nghiệp cô ấy! Ba ngày rồi! Thật là khủng khiếp đối với cô ấy.
Bà Breen gật đầu.
— Cô ấy bắt đầu chuyển dạ từ hôm thứ Ba...
Ông Bloom nhẹ nhàng chạm vào khuỷu tay cô ta, nhắc nhở:
— Cẩn thận! Hãy để người này đi qua đã.
Một bóng người gầy guộc sải bước dọc lề đường từ phía sông, trân trân nhìn ngây dại vào ánh nắng qua cặp kính gọng dày. Chiếc mũ nhỏ xíu ôm chặt lấy đầu trông như chiếc hộp sọ. Từ cánh tay hắn ta, một chiếc áo khoác chống bụi được gấp gọn, một cây gậy và một chiếc ô đung đưa theo nhịp sải bước.
— Hãy nhìn hắn kìa, ông Bloom nói. Hắn lúc nào cũng đi ra ngoài các cột đèn. Nhìn kìa!
— Hắn là ai thế, nếu đây là một câu hỏi hợp lý? bà Breen hỏi. Hắn bị điên à?
— Tên hắn là Cashel Boyle O’Connor Fitzmaurice Tisdall Farrell, ông Bloom mỉm cười nói. Nhìn kìa!
— Hắn có đủ cả đấy thôi, cô ta nói. Denis cũng sẽ giống như thế trong nay mai thôi.
Cô ta đột ngột ngắt lời.
— Lão ta kìa, cô ta nói. Tôi phải đi theo lão đây. Tạm biệt nhé. Gửi lời hỏi thăm của tôi tới Molly nha?
— Tôi sẽ nhắn, ông Bloom nói.
Ông dõi theo bóng cô ta lách qua dòng người qua lại hướng về phía các cửa hàng. Denis Breen trong chiếc áo khoác chật chội và đôi giày vải xanh lê bước ra khỏi tiệm Harrison, ôm chặt hai cuốn sách dày vào ngực. Bị gió thổi tạt từ vịnh vào. Giống như ngày xưa. Hắn để cô ta bắt kịp mà không hề ngạc nhiên, chìa bộ râu xám xịt về phía cô ta, cái hàm bệu xệu cử động khi hắn đang tha thiết nói gì đó.
Meshuggah. Mát dây thần kinh rồi.
Ông Bloom tiếp tục bước đi thong thả, nhìn thấy phía trước mình dưới ánh nắng chiếc mũ ôm sát đầu, cây gậy ô áo khoác đang đung đưa. Đã hai ngày rồi đấy. Nhìn hắn kìa! Hắn lại đi ra kìa. Một cách để tiến thân trong xã hội. Và cả gã khùng lập dị già nua mặc bộ đồ đó nữa. Vợ hắn chắc phải khổ sở lắm khi sống cùng hắn.
U. p: up. Tôi dám cá đó là Alf Bergan hoặc Richie Goulding. Viết ra để đùa cợt trong quán rượu Scotch thì tôi cá gì cũng ăn. Đến văn phòng của Menton. Đôi mắt cá chết của hắn trân trân nhìn tấm bưu thiếp. Sẽ là một bữa tiệc linh đình cho các vị thần.
Ông đi qua tòa soạn tờ Irish Times. Có lẽ còn những câu trả lời khác đang nằm ở đó. Thích trả lời tất cả chúng. Hệ thống hay cho tội phạm. Mật mã. Giờ họ đang ăn trưa. Gã nhân viên đeo kính ở đó không nhận ra mình. Ồ, cứ để mặc chúng ở đó cho ngấm đòn đi. Đủ mệt mỏi khi phải lội qua bốn mươi mấy cái rồi. Cần tuyển nữ nhân viên đánh máy thông minh hỗ trợ quý ông làm công việc văn học. Tôi gọi em là cưng nghịch ngợm vì tôi không thích thế giới kia. Xin hãy cho tôi biết ý nghĩa là gì. Xin hãy cho tôi biết vợ anh dùng loại nước hoa nào. Hãy nói cho tôi biết ai đã tạo ra thế giới. Cách họ bất chợt ném ra những câu hỏi đó với bạn. Và người kia Lizzie Twigg. Các nỗ lực văn học của tôi đã may mắn nhận được sự chấp thuận của nhà thơ lỗi lạc A. E. (ông Geo. Russell). Chẳng có thời gian chải tóc mà cứ ngồi uống trà loãng với một cuốn thơ ca.
Tờ báo tốt nhất cho một mẩu quảng cáo nhỏ. Giờ đã lan ra các tỉnh rồi. Đầu bếp kiêm việc nhà, nấu ăn cực giỏi, có giữ thêm người giúp việc. Cần tuyển nam nhân viên đứng quầy rượu mạnh. Thiếu nữ đàng hoàng (theo đạo Công giáo) muốn tìm việc ở tiệm hoa quả hoặc thịt lợn. James Carlisle đã làm cái đó đấy. Cổ tức sáu phẩy năm phần trăm. Đã thực hiện một vụ làm ăn lớn với cổ phiếu của Coates. Cẩn trọng nhé. Lão già keo kiệt người Scotland xảo quyệt. Toàn tin tức bợ đỡ. Bà phó vương duyên dáng và khả kính của chúng ta. Đã mua lại tờ Irish Field rồi. Phu nhân Mountcashel đã hồi phục hoàn toàn sau khi sinh và cùng đi săn với bầy chó săn hươu Ward Union trong buổi khai mạc hôm qua tại Rathoath. Con cáo không thể ăn nổi. Cả lũ thợ săn bất hợp pháp nữa. Nỗi sợ hãi kích thích các dịch vị làm thịt nó mềm ra đủ cho bọn chúng. Cưỡi ngựa kiểu dang chân. Ngồi trên ngựa như đàn ông. Nữ thợ săn cưỡi ngựa cừ khôi. Không có yên phụ hay ghế ngồi đôi cho mụ ta đâu, đừng hòng mơ tới Joe. Người đầu tiên đến điểm tập trung và chứng kiến con mồi bị hạ gục. Khỏe như một con ngựa cái giống trong số mấy người phụ nữ mê ngựa đó. Ngông nghênh quanh các chuồng ngựa thuê. Nốc cạn một ly brandy nguyên chất nhanh như chớp. Người phụ nữ ở khách sạn Grosvenor sáng nay đó. Nhảyót lên xe ngựa: vọt vọt. Hàng rào đá hay rào năm thanh cứ thúc ngựa vượt qua. Tưởng cái gã đánh xe mũi hếch đó làm thế vì tức tối chứ. Mụ ta trông giống ai nhỉ? Ồ đúng rồi! Bà Miriam Dandrade, người đã bán cho tôi mấy cái khăn choàng cũ và đồ lót đen ở khách sạn Shelbourne. Người Mỹ gốc Tây Ban Nha đã ly hôn. Chẳng xi nhê gì với tôi khi chạm vào chúng cả. Cứ như tôi là giá treo quần áo của mụ ta vậy. Nhìn thấy mụ trong đoàn tùy tùng của phó vương khi Stubbs nhân viên kiểm lâm công viên dẫn tôi vào gặp Whelan của tờ Express. Nhặt nhạnh những gì giới quý tộc bỏ lại. Trà chiều muộn. Sốt mayonnaise tôi rưới lên mấy quả mận vì tưởng đó là custard. Tai mụ ta chắc phải ù lên mấy tuần sau đó. Muốn trở thành một con bò đực cho mụ ta. Bản năng kỹ nữ bẩm sinh. Miễn việc chăm sóc trẻ con nhé, cảm ơn.
Bà Purefoy tội nghiệp! Chồng theo phái Giám lý. Sự điên rồ có phương pháp của hắn. Bữa trưa bánh mì nghệ và sữa pha soda trong tiệm sữa giáo dục. Y.M.C.A. Ăn uống theo đồng hồ bấm giờ, nhai ba mươi hai lần một phút. Thế mà ria mép của hắn vẫn mọc rậm rạp. Được cho là có gia thế. Anh họ của Theodore ở Lâu đài Dublin. Một họ hàng quyền quý trong mọi gia đình. Những đứa con mọc ra đều đặn như cây lâu năm ông ta ban cho vợ mình. Nhìn thấy lão ta ở Three Jolly Topers diễu hành đầu trần và đứa con trai lớn đang cõng một đứa em trong chiếc lưới đi chợ. Lũ trẻ khóc ré lên. Tội nghiệp cô ấy! Sau đó lại phải cho con bú năm này qua năm khác vào mọi thời điểm trong đêm. Mấy kẻ kiêng rượu đó ích kỷ thật. Ích kỷ như chó giữ gầm chảo. Chỉ cho một cục đường vào trà của tôi thôi, làm ơn.
Ông đứng ở ngã tư phố Fleet. Giờ nghỉ trưa. Ăn suất sáu xu ở quán Rowe nhé? Phải tìm lại mẩu quảng cáo đó ở thư viện quốc gia. Suất tám xu ở quán Burton. Tốt hơn. Trên đường đi.
Ông bước qua ngôi nhà ở Westmoreland của Bolton. Trà. Trà. Trà. Mình quên vỗ vai Tom Kernan mất rồi.
Sss. Dth, dth, dth! Ba ngày tưởng tượng cảnh oằn mình rên rỉ trên giường với chiếc khăn nhúng giấm quấn quanh trán, bụng phồng to lên. Phù! Thật là kinh khủng! Đầu đứa trẻ quá kẹp: kẹp sản khoa. Cuộn tròn bên trong cô ấy cố gắng húc đầu thoát ra một cách mù quáng, mò mẫm tìm lối thoát. Thế thì giết tôi còn hơn. May mà Molly vượt cạn nhẹ nhàng. Lẽ ra họ phải phát minh ra cái gì đó để ngăn chặn việc đó chứ. Cuộc sống với lao động khổ sai. Ý tưởng giấc ngủ chạng vạng: nữ hoàng Victoria đã được tiêm cái đó đấy. Bà ấy sinh tận chín đứa. Đúng là một tay đẻ trứng cừu côi khôi. Bà lão sống trong chiếc giày có quá nhiều con đến nỗi chẳng biết phải làm sao. Giả sử hắn ta mắc bệnh lao. Đã đến lúc ai đó nên suy nghĩ về điều đó thay vì huyên thuyên về cái gì nhỉ, cái lồng ngực đăm chiêu của ánh sáng bạc. Toàn lời nhảm nhí để lừa bịp thiên hạ. Họ hoàn toàn có thể lập những cơ sở lớn, toàn bộ mọi thứ hoàn toàn không đau đớn, trích từ tiền thuế để tặng mỗi đứa trẻ sinh ra năm bảng Anh với lãi suất kép cho đến khi đủ hai mươi mốt tuổi, năm phần trăm là một trăm shilling và năm bảng Anh phiền toái nhân với hệ thống thập phân, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiền, tiết kiệm một trăm mười và một chút trong hai mươi một năm, muốn tính toán ra giấy thì sẽ thành một khoản kha khá đấy, nhiều hơn bạn tưởng.
Dĩ nhiên là không phải sinh non. Chúng thậm chí còn chẳng được đăng ký khai sinh. Công cốc.
Cảnh tượng buồn cười khi thấy hai người họ ở cùng nhau, cái bụng vượt mặt. Molly và bà Moisel. Hội các bà mẹ. Bệnh lao tạm thời rút lui, rồi lại quay trở lại. Trông họ mới phẳng lì làm sao ngay sau đó. Những đôi ánh mắt bình yên. Trút được gánh nặng trong lòng. Bà cụ Thornton cũ đúng là một cụ bà vui tính. Tất cả lũ trẻ của tôi, bà ấy nói. Thìa cháo bột trong miệng bà trước khi cho chúng ăn. Ồ, ngon tuyệt cú mèo đấy. Bị con trai của lão Tom Wall nghiền nát tay. Lần đầu tiên chào sân trước công chúng. Đầu to như quả bí ngô dự thi. Bác sĩ Dr Murren hít thuốc lá hít. Mọi người cứ gọi cửa họ mọi lúc mọi nơi. Vì Chúa, thưa bác sĩ. Vợ tôi đang quằn quại. Thế rồi bắt họ đợi hàng tháng trời mới trả tiền khám. Tiền chăm sóc vợ ông. Con người chẳng có chút lòng biết ơn nào cả. Hầu hết các bác sĩ đều nhân đạo.
Trước cánh cửa cao khổng lồ của tòa nhà quốc hội Ireland, một đàn chim bồ câu bay vút lên. Trò đùa nghịch sau bữa ăn của chúng. Chúng ta sẽ trút lên ai đây? Ta chọn gã mặc đồ đen. Nào bắt đầu. Chúc may mắn nhé. Chắc là cảm giác từ trên không trung phải kích thích lắm đây. Apjohn, tôi và Owen Goldberg ở trên mấy cây gần Goose green giả làm khỉ. Họ gọi tôi là Cá thu.
Một đội cảnh sát xuất hiện từ phố College, diễu hành thành hàng một. Bước đi ngỗng. Những khuôn mặt hầm hập vì thức ăn, mũ bảo hiểm đẫm mồ hôi, vỗ vỗ vào cùi chùy. Sau bữa ăn với một bụng đầy súp béo ngậy. Cuộc đời cảnh sát thường là một cuộc đời hạnh phúc. Họ chia thành từng nhóm và tản ra, chào tay, tiến về các khu vực tuần tra của mình. Được thả ra để gặm cỏ. Thời điểm tuyệt vời nhất để tấn công một tên đang lúc ăn no. Một cú đấm vào bữa tối của hắn. Một đội khác, diễu hành không theo trật tự, đi vòng qua hàng rào Trinity hướng về phía nhà ga. Đến với máng ăn của họ. Chuẩn bị đón kỵ binh. Chuẩn bị đón súp.
Ông bước qua dưới ngón tay ranh ma của Tommy Moore. Họ đã đúng khi đặt tượng ông ta phía trên một bồn tiểu: sự gặp gỡ của các dòng nước. Đáng lẽ phải có những nơi dành cho phụ nữ. Chạy vào các tiệm bánh ngọt. Chỉnh lại cho chiếc mũ ngay ngắn. Không có nơi nào trên thế giới này là thung lũng... Bài hát tuyệt vời của Julia Morkan. Giữ được giọng hát cho đến tận phút chót. Học trò của Michael Balfe, phải không nhỉ?
Ông đăm đăm nhìn theo chiếc áo choàng rộng cuối cùng. Những kẻ khó nhằn đây. Jack Power có thể kể một câu chuyện dài: cha là đặc vụ chìm. Nếu kẻ nào gây phiền phức khi bị bắt, họ sẽ tẩn cho một trận nhừ tử trong đồn cảnh sát. Rốt cuộc thì cũng không thể trách họ được với công việc họ đang làm, đặc biệt là mấy tên cảnh sát trẻ tuổi. Gã cảnh sát kỵ mã hôm Joe Chamberlain nhận bằng danh dự ở Trinity đã bị rượt đuổi một trận tơi bời. Thật đấy! Tiếng móng ngựa của hắn lộc cộc đuổi theo chúng tôi xuống phố Abbey. May mà tôi có sự nhanh trí lao vào tiệm của Manning nếu không thì đời tôi tiêu tơi rồi. Hắn ngã một cú đau điếng, lạy Chúa. Chắc vỡ sọ xuống đám đá cuội mất. Lẽ ra tôi không nên để mình bị cuốn đi cùng đám sinh viên y khoa đó. Cả đám sinh viên Trinity đội mũ vuông nữa. Cứ thích gây chuyện. Dù sao tôi cũng quen được cậu trẻ Dixon, người đã băng bó vết thương đó cho tôi ở bệnh viện Mater và giờ cậu ấy làm việc ở phố Holles nơi bà Purefoy đang nằm. Bánh xe lồng trong bánh xe. Tiếng còi cảnh sát vẫn văng vẳng bên tai tôi. Tất cả chuồn mất tiêu. Tại sao hắn lại nhắm vào tôi cơ chứ. Giải tôi về đồn. Mọi chuyện bắt đầu ngay tại đây.
— Tiến lên người Boer!
— Ba hoan hô cho De Wet!
— Chúng ta sẽ treo cổ Joe Chamberlain trên cây táo chua.
Mấy đứa ngốc nghếch: đám đông trẻ con gào thét đến rách cả cổ họng. Đồi Vinegar. Ban nhạc Chợ bơ. Vài năm nữa một nửa số chúng sẽ thành thẩm phán và công chức nhà nước. Chiến tranh nổ ra: lao đầu vào quân đội ào ào: chính những kẻ đó từng. Dù trên đoạn đầu đài cao.
Chẳng bao giờ biết mình đang nói chuyện với ai. Corny Kelleher luôn để mắt tới Harvey Duff. Giống như Peter, Denis hay James Carey, kẻ đã bóc mẽ bọn sát thủ Invincibles. Lại còn là thành viên hội đồng thành phố nữa chứ. Xúi giục đám thanh niên non dại để móc nối thông tin trong khi vẫn ăn tiền quỹ mật vụ của lâu đài. Bỏ xó hắn ta như củ khoai nóng bỏng. Hèn chi mấy tên mặc thường phục lúc nào cũng đi nịnh nọt mấy cô hầu phòng. Nhận ra ngay một kẻ quen mặc đồng phục. Lảng vảng tán tỉnh bên cửa hậu. Sờ soạng cô ta một chút. Rồi món tiếp theo trên thực đơn. Thế còn quý ông hay đến thăm ở đó là ai? Cậu chủ nhỏ có nói gì không? Kẻ rình mò qua lỗ khóa. Con vịt mồi. Tên sinh viên trẻ máu nóng quẩn quanh đôi tay đầy đặn đang làu quần áo của cô ta.
— Mấy thứ đó là của cô hả, Mary?
— Tôi có mặc mấy thứ đó đâu... Dừng lại ngay không tôi mách bà chủ đấy. Ra ngoài suốt nửa đêm.
— Sẽ có những ngày tháng tuyệt vời đang chờ đón đấy, Mary. Cứ đợi mà xem.
— Thôi đi cho mẻ mía với mấy cái ngày tuyệt vời của anh.
Cả mấy cô nhân viên pha rượu nữa. Mấy cô bán thuốc lá.
Ý tưởng của James Stephens là hay nhất. Anh ta hiểu rõ họ. Các nhóm mười người để một tên không thể bán đứng nhiều hơn vòng tròn của chính mình. Sinn Fein. Rút lui là ăn dao. Bàn tay ẩn giấu. Ở lại. Đội hành quyết. Con gái người gác ngục đã giúp hắn thoát khỏi Richmond, trốn khỏi Lusk. Trú ngụ ngay tại khách sạn Buckingham Palace ngay dưới mũi bọn chúng. Garibaldi.
Anh phải có một sự cuốn hút nhất định: Parnell. Arthur Griffith là một gã đầu vuông nhưng chẳng có chút máu lửa nào để thu hút đám đông. Hay chỉ huyên thuyên về vùng đất xinh đẹp của chúng ta. Toàn lời xạo xấy nhảm nhí. Phòng trà Công ty Bánh mì Dublin. Các câu lạc bộ tranh luận. Rằng chế độ cộng hòa là hình thức chính phủ tốt nhất. Rằng vấn đề ngôn ngữ phải được ưu tiên hơn vấn đề kinh tế. Lôi kéo con gái mấy người vào nhà anh ta. Nhồi nhét chúng bằng thịt và đồ uống. Ngỗng lễ thánh Michael. Cho em thêm một cục gia vị xạ hương dưới lớp tạp dề này nhé. Uống thêm một vại mỡ ngỗng nữa trước khi nó quá nguội đi. Những kẻ nhiệt tình nửa vời. Cuốn bánh mì một xu và đi dạo cùng ban nhạc. Chẳng có lời cầu nguyện nào cho kẻ cắt thịt. Ý nghĩ rằng kẻ khác trả tiền là thứ nước sốt tuyệt vời nhất trên đời. Tự nhiên như ở nhà. Cho chúng tôi xem mấy quả mơ đó đi, ý là quả đào. Ngày không xa lắm. Mặt trời chủ quyền mọc lên ở phía tây bắc.
Nụ cười trên môi ông phai nhạt khi bước đi, một đám mây nặng nề từ từ che khuất mặt trời, đổ bóng xuống tiền sảnh cau có của trường Trinity. Những chiếc xe điện lướt qua nhau, vào, ra, kêu lanh lanh. Những từ ngữ vô nghĩa. Mọi thứ cứ tiếp diễn ngày qua ngày: các đội cảnh sát diễu hành ra, vào: xe điện vào, ra. Hai gã khùng cứ lảng vảng đó. Dignam bị chở đi. Mina Purefoy với cái bụng sưng phồng trên giường rên rỉ để đứa con được lôi ra khỏi người. Cứ mỗi giây lại có một đứa trẻ sinh ra ở đâu đó. Cứ mỗi giây lại có kẻ khác chết đi. Kể từ lúc tôi cho chim ăn cách đây năm phút. Ba trăm mạng đã ngã xuống. Ba trăm kẻ khác chào đời, rửa sạch máu, tất cả đều được tẩy rửa trong máu Chiên Con, oe oe kêu maaaaaa.
Cả thành phố qua đi, một thành phố khác lại đến, rồi cũng qua đi: thành phố khác lại tới, lại qua đi. Những ngôi nhà, những dãy nhà, những con đường, hàng dặm vỉa hè, những chồng gạch, đá. Đổi chủ. Chủ này sang chủ khác. Người ta nói chủ nhà không bao giờ chết. Kẻ khác lại bước vào vị trí của hắn khi hắn nhận được trát đòi nhà. Chúng dùng vàng để mua lại nơi này và rốt cuộc vẫn nắm giữ toàn bộ số vàng đó. Có một sự lừa đảo nào đó trong chuyện này. Chồng chất trong các thành phố, bị bào mòn qua từng thời đại. Kim tự tháp trong cát. Được xây bằng bánh mì và hành tây. Nô lệ, Vạn lý trường thành Trung Hoa. Babylon. Những khối đá lớn sót lại. Tháp tròn. Phần còn lại chỉ là gạch vụn, ngoại ô ngổn ngang, xây cẩu thả. Những ngôi nhà nấm của Kerwan làm bằng tro than. Nơi trú ẩn cho qua đêm.
Chẳng có gì là vĩnh cửu.
Đây là khoảng thời gian tồi tệ nhất trong ngày. Sức sống cạn kiệt. U ám, ảm đạm: ghét cái giờ này quá. Cảm giác cứ như mình vừa bị ăn rồi lại nôn ra vậy.
Nhà viện trưởng. Vua mục sư Dr Salmon: cá hồi đóng hộp. Được đóng hộp kỹ lưỡng trong đó. Giống như một nhà tang lễ. Cho tiền tôi cũng chẳng thèm sống ở đấy. Hy vọng hôm nay họ có món gan và thịt xông khói. Tự nhiên ghét sự trống rỗng.
Mặt trời từ từ ló dạng và chiếu những tia sáng lấp lánh vào đống đồ bạc đối diện trong cửa hàng của Walter Sexton, nơi John Howard Parnell đi ngang qua mà không hề nhìn thấy.
Hắn ta kìa: người em trai. Giản dị như bản sao của ông ấy. Gương mặt ám ảnh. Đúng là một sự trùng hợp. Dĩ nhiên có hàng trăm lần bạn nghĩ về một ai đó mà chẳng gặp họ. Giống như một kẻ mộng du. Chẳng ai biết hắn ta cả. Chắc hôm nay có cuộc họp hội đồng thành phố. Người ta bảo hắn chưa từng mặc bộ quân phục cảnh sát trưởng kể từ khi nhận việc. Charley Kavanagh từng xuất hiện trên con ngựa cao lớn, đội mũ tam giác, phồng má, phấn son và cạo râu nhẵn nhụi. Nhìn dáng đi thảm hại của hắn kìa. Như vừa ăn phải quả trứng thối. Đôi mắt trân trân như hồn ma. Tôi bị đau bụng. Em trai của một vĩ nhân: người em của anh trai hắn. Trông hắn sẽ rất bảnh chẽn khi cưỡi chiến mã của thành phố. Chắc lại tạt vào D.B.C uống cà phê, chơi cờ ở đó. Anh trai hắn coi đàn ông như những con tốt thí. Mặc kệ tất cả bọn chúng tiêu đời. Sợ không dám đưa ra nhận xét nào về hắn. Đóng băng mọi người bằng cái nhìn đó của hắn. Đó chính là sự cuốn hút: cái tên. Tất cả đều hơi mát dây cả rồi. Mad Fanny và người chị gái khác của hắn, bà Dickinson, lái xe dạo phố với bộ dây cương màu đỏ rực. Ngồi thẳng đơ như bác sĩ phẫu thuật M’Ardle. Dù sao David Sheehy cũng đánh bại hắn ở vùng South Meath. Nộp đơn xin giữ chức Chiltern Hundreds và lui về ở ẩn khỏi đời sống công cộng. Tiệc tùng của nhà ái quốc. Ngồi ăn vỏ cam trong công viên. Simon Dedalus từng nói khi họ đưa ông ấy vào quốc hội rằng Parnell sẽ từ cõi chết trở về và dẫn ông ta ra khỏi hạ viện bằng tay.
— Về con bạch tuộc hai đầu, một đầu là chiếc đầu mà tận thế đã quên ghé thăm trong khi đầu kia nói giọng Scotland. Những chiếc vòi...
Họ đi qua phía sau ông Bloom dọc theo lề đường. Bộ râu và chiếc xe đạp. Người phụ nữ trẻ.
Và hắn ta cũng ở đó kìa. Đúng là một sự trùng hợp: lần thứ hai. Những sự kiện sắp xảy ra thường để lại bóng dáng trước. Với sự chấp thuận của nhà thơ lỗi lạc, ông Geo. Russell. Có thể đó là Lizzie Twigg đi cùng hắn. A. E.: điều đó có nghĩa là gì nhỉ? Chắc là chữ viết tắt. Albert Edward, Arthur Edmund, Alphonsus Eb Ed El Esquire. Hắn đang nói gì thế? Tận thế với giọng Scotland. Những chiếc vòi: bạch tuộc. Cái gì đó mang tính huyền bí: chủ nghĩa tượng trưng. Đang diễn thuyết. Cô ta đang tiếp thu tất cả. Không nói một lời nào. Hỗ trợ quý ông làm công việc văn học.
Đôi mắt ông dõi theo nhân vật cao lớn mặc đồ vải thô, bộ râu và chiếc xe đạp, cùng người phụ nữ lắng nghe bên cạnh. Đi ra từ tiệm đồ chay. Toàn rau củ và hoa quả. Không ăn bít tết bò. Nếu ăn, ánh mắt của con bò đó sẽ ám ảnh bạn suốt cõi vĩnh hằng. Người ta bảo thế mạnh khỏe hơn. Dù đầy hơi và nhiều nước. Đã thử rồi. Khiến bạn phải chạy toilet suốt cả ngày. Tệ chẳng kém gì cá trích muối. Mơ mộng cả đêm. Sao họ lại gọi món họ đưa cho tôi là bít tết hạt nhỉ? Những người ăn hạt. Người ăn hoa quả. Để cho bạn có cảm giác như đang ăn bít tết mông bò. Thật ngớ ngẩn. Lại còn mặn nữa chứ. Họ nấu bằng soda. Khiến bạn phải ngồi bên vòi nước suốt cả đêm.
Tất chân của cô ta bị chùng xuống mắt cá chân. Tôi ghét điều đó: thật vô vị. Mấy kẻ văn chương bay bổng đó đều thế cả. Mộng mơ, ảo huyền, mang tính tượng trưng. Toàn là những kẻ theo chủ nghĩa thẩm mỹ. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu chính thứ thức ăn kiểu đó tạo ra những làn sóng não thi ca. Ví dụ như một trong những gã cảnh sát đang đổ mồ hôi nhễ nhại mùi súp thịt cừu Ireland vào áo sơ mi của hắn, bạn không thể vắt ra nổi một dòng thơ nào từ hắn đâu. Thậm chí còn chẳng biết thơ ca là gì. Phải ở trong một tâm trạng nhất định.
Con mòng biển mộng mơ ảo huyền
Vẫy cánh trên mặt nước buồn tẻ.
Ông băng qua góc phố Nassau và đứng trước cửa sổ tiệm Yeates and Son, hỏi giá ống nhòm chiến trường. Hay là mình tạt vào tiệm cũ của Harris và trò chuyện với cậu thanh niên Sinclair nhỉ? Người lịch sự. Chắc đang ăn trưa rồi. Phải đem sửa lại cặp kính cũ của mình mới được. Thấu kính Goerz sáu guineas. Người Đức đang chiếm lĩnh mọi nơi. Bán trả góp để chiếm lĩnh thị trường. Phá giá. May ra kiếm được một đôi ở phòng thất lạc của nhà ga. Thật đáng kinh ngạc những thứ mà mọi người bỏ quên trên tàu và phòng giữ đồ. Họ đang nghĩ cái quái gì trong đầu vậy nhỉ? Cả phụ nữ nữa. Không thể tin nổi. Năm ngoái đi Ennis phải nhặt chiếc túi của cô con gái bác nông dân nọ và đưa lại cho cô ấy ở ga ngã ba Limerick. Cả tiền không có người nhận nữa. Có một chiếc đồng hồ nhỏ xíu ở trên mái ngân hàng kìa, dùng để thử ống nhòm xem sao.
Mi mắt ông sụp xuống viền dưới của tròng đen. Không nhìn thấy. Nếu bạn tưởng tượng nó ở đó thì suýt thấy được. Không nhìn thấy.
Ông quay người lại, đứng giữa những tấm bạt che nắng, đưa thẳng tay phải ra hết cỡ về phía mặt trời. Muốn thử cách đó từ lâu rồi. Vâng: hoàn toàn được. Đầu ngón út của ông đã che khuất hoàn toàn đĩa mặt trời. Chắc là tiêu điểm nơi các tia sáng giao nhau. Nếu mình có kính đen thì hay biết mấy. Thú vị đấy. Đã có rất nhiều bàn tán về những vết đen mặt trời đó khi chúng tôi ở phố Lombard tây. Nhìn lên từ khu vườn phía sau. Những vụ nổ khủng khiếp thật. Sẽ có một hiện tượng nhật thực toàn phần trong năm nay: đâu đó vào mùa thu.
Nhưng nghĩ lại thì quả bóng đó rơi theo giờ Greenwich. Đó là chiếc đồng hồ hoạt động bằng dây điện từ Dunsink. Phải đến đó vào một ngày thứ Bảy đầu tiên trong tháng mới được. Nếu tôi có thể xin được giấy giới thiệu đến gặp giáo sư Joly hoặc tìm hiểu chút gì đó về gia đình ông ấy. Thế là đủ: con người ta luôn cảm thấy hở nở khi được nịnh nọt. Nịnh hót ở những nơi ít ngờ tới nhất. Quý tộc tự hào vì là hậu duệ của tình nhân vị vua nào đó. Tổ mẫu của ông ta. Phải nịnh hót hết cỡ. Khép nép thì đi khắp thế gian. Đừng có bước vào rồi tuôn ra những gì mình biết là không được phép: thị sai là gì? Mời vị quý ông này ra cửa đi.
À.
Tay ông lại buông thõng xuống bên sườn.
Chẳng bao giờ hiểu nổi về nó cả. Phí thời gian. Những quả bóng khí quay cuồng, cắt ngang nhau, lướt qua nhau. Vẫn bài ca muôn thuở đó. Khí: rồi đặc lại: rồi thế giới: rồi lạnh ngắt: rồi lớp vỏ chết trôi nổi xung quanh, tảng đá đóng băng, giống như kẹo đá quả dứa vậy. Mặt trăng. Chắc có trăng non rồi, cô ta nói. Tôi tin là có.
Ông tiếp tục đi qua tiệm la maison Claire.
Chờ đã. Trăng tròn là vào đêm hai tuần trước chủ nhật tính từ hôm nay, chính xác là có trăng non. Đi dạo dọc theo sông Tolka. Trăng ở Fairview thế là khá rồi. Cô ấy đang nhẩm hát. Trăng non tháng năm trẻ trung đang tỏa sáng, tình yêu ơi. Hắn ở phía bên kia của cô ấy. Khuỷu tay, cánh tay. Hắn. Ngọn đèn của đom đóm đang lấp lánh, tình yêu ơi. Chạm. Những ngón tay. Hỏi. Đáp. Vâng.
Dừng lại. Dừng lại. Nếu có thì cứ cho là có đi. Phải thế chứ.
Ông Bloom, thở dốc, bước chậm hơn khi đi qua tòa án Adam.
Với một cảm giác nhẹ nhõm thầm lặng, mắt ông nhận ra đây chính là con phố vào giữa trưa này của gã Bob Doran vai gù. Đang trong cơn chè chén hàng năm, M’Coy nói. Bọn chúng uống rượu để nói hoặc làm điều gì đó hoặc tìm phụ nữ. Ở khu Coombe với mấy tên bạn nhậu và gái điếm rồi phần thời gian còn lại trong năm thì tỉnh táo như quan tòa.
Vâng. Nghĩ thế mà. Lẻn vào rạp Empire. Đã đi rồi. Uống nước soda không có lẽ lại tốt cho hắn. Nơi Pat Kinsella từng có nhà hát Harp trước khi Whitbred điều hành rạp Queen’s. Một tay chơi cừ khôi. Vở kịch của Dion Boucicault với khuôn mặt tròn như trăng thu lấp ló trong chiếc mũ trùm đầu chật chội. Ba cô gái xinh đẹp từ trường học. Thời gian trôi nhanh thật nhỉ? Lộ ra chiếc quần dài màu đỏ dưới lớp váy. Những kẻ nốc rượu, uống rượu, cười sặc sụa, hơi thở nồng nặc mùi men. Cố lên nào Pat. Màu đỏ thô ráp: niềm vui cho lũ sâu rượu: cười ha hả và hút thuốc. Cởi chiếc mũ trắng đó ra đi. Đôi mắt luộc chín của hắn. Giờ hắn ở đâu nhỉ? Làm ăn mày ở đâu đó chứ gì. Cây đàn hạc từng bỏ đói tất cả chúng ta.
Tôi từng hạnh phúc hơn vào lúc đó. Hay đó chính là tôi? Hay tôi bây giờ mới là tôi? Tôi hăm tám tuổi. Cô ấy hăm ba. Khi chúng tôi rời khỏi phố Lombard tây, mọi thứ đã thay đổi. Chẳng bao giờ có thể thích lại được nữa sau cái chết của Rudy. Không thể quay ngược thời gian. Giống như nắm nước trong tay vậy. Anh có muốn quay lại thời điểm đó không? Mới bắt đầu lúc đó thôi mà. Anh có muốn không? Anh không hạnh phúc trong tổ ấm của mình sao, cậu nhóc nghịch ngợm tội nghiệp? Lại muốn tôi đơm cúc áo cho đây. Tôi phải trả lời thôi. Viết nó trong thư viện.
Phố Grafton rực rỡ với những tấm bạt che nhà thu hút các giác quan của ông. Vải in muslin, lụa damask và các góa phụ giàu có, tiếng dây cương lanh canh, tiếng móng ngựa nện vang trầm đục trên mặt đường nhựa đang nung nóng. Bàn chân dày thô kệch trong đôi tất trắng của người phụ nữ kia. Mong rằng trời mưa sẽ làm bẩn nát chúng trên chân mụ ta. Đồ nhà quê ngốc nghếch. Toàn thịt dồn gót chân. Lúc nào cũng khiến phụ nữ có đôi chân vụng về. Trông Molly có vẻ mất cân đối.
Ông thong thả bước qua những ô cửa sổ của tiệm vải lụa Brown Thomas. Những dải ruy băng tuôn chảy như thác. Lụa Trung Quốc mỏng manh. Một chiếc bình nghiêng đổ tràn ra một dòng poplin đỏ như máu: sắc máu lóng lánh. Người Huguenot đã mang thứ đó đến đây. La causa è santa! Tara tara. Bản hợp xướng tuyệt vời thật. Taree tara. Chắc phải được giặt bằng nước mưa. Meyerbeer. Tara: bom bom bom.
Những chiếc gối cắm kim. Mình đã do dự định mua một cái từ lâu lắm rồi. Cắm chúng khắp nơi. Kim khâu vướng trên rèm cửa sổ.
Ông hơi kéo tay áo trái lên. Vết xước: gần như đã biến mất. Dù sao thì hôm nay chưa cần. Phải quay lại lấy chai lotion đó thôi. Có lẽ là cho sinh nhật của cô ấy. Ngày mùng tám tháng sáu-bảy-tám-chín. Gần ba tháng nữa cơ. Đến lúc đó có khi cô ấy lại không thích. Phụ nữ chẳng buồn nhặt kim lên đâu.
Lụa là lóng lánh, những chiếc váy lót trên thanh đồng mảnh mai, những tia sáng từ đôi tất lụa phẳng phiu.
Quay lại thì vô ích. Đành chịu vậy. Kể cho tôi nghe hết đi.
Những giọng nói cao vút. Tấm lụa ấm áp ánh nắng. Tiếng dây cương lanh canh. Tất cả chỉ vì một người phụ nữ, nhà cửa, mạng lụa, bạc tiền, trái cây thơm ngon đậm vị từ Jaffa. Agendath Netaim. Sự giàu có của thế giới.
Một cảm giác đầy đặn ấm áp của con người lắng xuống trong đại não ông. Bộ não của ông nhượng bộ. Mùi hương của những cái ôm ấp ngập tràn lấy ông. Với bản năng thể xác khao khát mơ hồ, ông âm thầm thèm muốn được tôn thờ.
Phố Duke. Chúng ta đến đây rồi. Phải ăn thôi. Tiệm Burton. Sau đó sẽ thấy khá hơn.
Ông rẽ qua góc phố Combridge, vẫn tiếp tục bị theo đuổi. Tiếng lanh canh, tiếng móng ngựa nện. Những thân hình thơm ngát, ấm áp, đầy đặn. Tất cả đều hôn hít, hiến dâng: trong những cánh đồng mùa hè sâu thẳm, bãi cỏ ép xoắn xuýt, trong những hành lang rỉ nước của các khu nhà tập thể, dọc theo ghế sofa, những chiếc giường cót két.
— Jack, cưng ơi!
— Em yêu!
— Hôn em đi, Reggy!
— Cục cưng của anh!
— Tình yêu!
Trái tim xốn xang, ông đẩy cửa bước vào nhà hàng Burton. Mùi hôi thối xộc vào hơi thở đang run rẩy của ông: mùi nước thịt nồng nặc, bãi rau nhão nhoét. Nhìn lũ động vật đang ăn kìa.
Đàn ông, đàn ông, đàn ông.
Ngồi vắt vẻo trên những chiếc ghế đẩu cao cạnh quầy bar, mũ đẩy ngược ra sau, ở các bàn kêu gọi thêm bánh mì miễn phí, nốc cạn, ngấu nghiến những phần thức ăn nhão nhoét, mắt trợn trừng, lau những bộ ria mép dính nước. Một thanh niên mặt nhợt nhạt như mỡ cừu đang đánh bóng chiếc ly, dao, nĩa và thìa của mình bằng chiếc khăn ăn. Một ổ vi khuẩn mới. Một gã quấn quanh cổ chiếc khăn ăn dính đầy nước sốt của trẻ con đang húp sột soạt món súp vào cổ họng. Một gã nhổ ngược bã thức ăn lên đĩa: sụn nhai nửa vời: nướu răng: chẳng còn chiếc răng nào để nhai nhai nhai nó cả. Thịt sườn cừu nướng từ bếp lò. Ăn ngấu nghiến cho mau xong. Đôi mắt của kẻ nát rượu đáng thương. Cắn miếng quá to so với khả năng nhai. Mình có giống thế không nhỉ? Hãy nhìn mình qua con mắt của kẻ khác. Kẻ đói là kẻ giận dữ. Làm việc bằng cả răng và hàm. Đừng! Ồ! Một khúc xương! Vị vua ngoại giáo cuối cùng của Ireland, Cormac, trong bài thơ ở trường đã bị nghẹn chết ở Sletty phía nam sông Boyne. Tự hỏi ngài ấy đang ăn gì nhỉ. Món gì đó ngon tuyệt cú mèo. Thánh Patrick đã cải đạo ngài sang Thiên Chúa giáo. Tuy nhiên ngài không thể nuốt trôi tất cả được.
— Bò nướng bắp cải.
— Một phần súp.
Mùi của đàn ông. Mạt cưa dính đầy nước bọt, khói thuốc lá ấm ngai ngái, mùi thuốc lào khét lẹt, bia đổ vãi, nước tiểu nồng nặc mùi bia của đàn ông, mùi men chua.
Cổ họng ông nghẹn đắng.
Chẳng thể nuốt nổi một miếng nào ở đây cả. Gã đang mài dao nĩa để càn quét mọi thứ trước mặt, lão già đang xỉa răng. Một cơn co thắt nhẹ, no nê, nhai lại. Trước và sau. Lời cầu nguyện sau bữa ăn. Hãy nhìn bức tranh này rồi nhìn bức tranh kia. Húp sạch nước sốt thịt với những mẩu bánh mì đẫm nước. Liếm sạch đĩa đi chứ, anh bạn! Biến khỏi đây mau.
Ông đảo mắt nhìn quanh những thực khách đang ngồi trên ghế đẩu và bên bàn, khẽ nhíu cánh mũi.
— Cho hai cốc bia đen ở đây.
— Một phần thịt hun khói và bắp cải.
Gã kia đang tống một dĩa bắp cải đầy ụ vào miệng như thể tính mạng hắn phụ thuộc vào đó vậy. Nước đi hay đấy. Nhìn vào chỉ thấy phát bực. An toàn nhất là tự ăn bằng ba cái tay của mình. Xé tan nó ra từng mảnh. Bản năng thứ hai của hắn. Ngậm thìa bạc từ trong bụng mẹ ra từ khi sinh ra. Nghe dí dỏm phết nhỉ. Hoặc không. Thìa bạc nghĩa là sinh ra trong gia đình giàu có. Sinh ra cùng con dao. Nhưng rồi điển tích bị quên lãng.
Một nhân viên phục vụ lôi thôi đang gom những chiếc đĩa dính bẩn kêu lanh lách. Rock, gã cảnh sát trưởng, đang đứng ở quầy bar thổi lớp bọt trắng phau ra khỏi vại bia của mình. Bọt nổi cao: nó văng những giọt màu vàng gần sát ủng hắn. Một thực khách, tay cầm dao nĩa dựng đứng, khuỷu tay chống bàn, sẵn sàng cho suất thứ hai đang đăm đăm nhìn về phía thang tải thực phẩm xuyên qua tờ báo nhàu nát hoen ố của mình. Gã kia đang kể cho hắn nghe cái gì đó khi miệng vẫn ngậm đầy thức ăn. Một thính giả tâm huyết. Chuyện trò bàn tiệc. Tôi đà nhai hun um thu Unchster Bunk un Munchday. Hả? Thật thế á?
Ông Bloom ngập ngừng giơ hai ngón tay lên môi. Đôi mắt ông nói lên rằng:
— Không ở đây đâu. Không thấy hắn ta.
Ra ngoài thôi. Tôi ghét những kẻ ăn uống bẩn thỉu.
Ông lùi dần về phía cửa. Kiếm món ăn nhẹ ở tiệm Davy Byrne’s. Lót dạ. Giữ sức. Đã ăn sáng no nê rồi.
— Bò nướng khoai nghiền ở đây.
— Một cốc bia đen.
Mỗi người vì mình, răng và móng vuốt. Ực. Đớp. Ực. Tống vào mồm.
Ông bước ra khoảng không gian trong lành hơn và quay trở lại hướng phố Grafton. Ăn hoặc bị ăn. Giết! Giết!
Giả sử nhà bếp chung đó có trong nhiều năm tới thì sao nhỉ. Mọi người đều lật đật mang theo bát đũa và hộp đựng để được đổ đầy. Nuốt chửng thức ăn ngay trên đường phố. Lấy John Howard Parnell làm ví dụ, viện trưởng trường Trinity, mọi đứa con của các bà mẹ, đừng nói đến các vị viện trưởng của anh và viện trưởng trường Trinity, phụ nữ và trẻ em, phu xe, linh mục, mục sư, thống chế, tổng giám mục. Từ đường Ailesbury, đường Clyde, khu nhà ở của thợ thủ công, liên minh bắc Dublin, thị trưởng trong chiếc xe ngựa hình bánh gừng, bà nữ hoàng già trên chiếc xe lăn. Chiếc đĩa của tôi trống không rồi. Nhường bạn chiếc cốc uống nước chung của chúng ta nhé. Giống như đài phun nước của ngài Philip Crampton. Lau sạch vi khuẩn bằng khăn tay của bạn. Gã tiếp theo lại bôi thêm một mẻ vi khuẩn mới bằng khăn của hắn. Cha O’Flynn sẽ khiến tất cả bọn chúng phải đầu hàng. Dù sao thì vẫn sẽ có cãi cọ. Tất cả chỉ vì cái tôi số một. Lũ trẻ tranh giành nhau vét phần cặn trong nồi. Cần một cái nồi súp to bằng công viên Phoenix. Dùng lao đâm móc những miếng thịt lớn và phần mông ra từ đó. Ghét những kẻ cứ bu quanh mình. Mặc hắn gọi đó là tiệc đứng tại khách sạn City Arms. Súp, món chính và tráng miệng. Chẳng bao giờ biết bạn đang nhai phải suy nghĩ của ai. Thế rồi ai sẽ là kẻ rửa sạch toàn bộ số đĩa và nĩa đó? Có lẽ đến lúc đó tất cả sẽ sống bằng thuốc viên nén hết. Răng ngày càng rụng tơi bời.
Rốt cuộc thì chủ nghĩa ăn chay cũng có điểm hay của nó, hương vị tuyệt vời từ đất đai, tỏi thì dĩ nhiên là nặng mùi sau những gã Ý kéo đàn phong cầm, hành tây giòn, nấm, nấm cục. Cũng gây đau đớn cho động vật nữa. Vặt lông và mổ ruột gia cầm. Những con vật khốn khổ ở chợ gia cầm đang đợi rìu bổ đôi hộp sọ của chúng. Mọ. Những con bê tội nghiệp run rẩy. Me. Những con bê sữa loạng choạng. Xào nấu hổ lốn. Xô của lò mổ với những bộ đồ lòng lúc lắc. Cho tôi miếng thịt ức đó tháo xuống khỏi móc đi. Bụp. Đầu trâu mặt ngựa và xương máu me. Những con cừu lột da trừng mắt treo ngược từ đùi xuống, mõm cừu bọc giấy dính máu rỏ nước mũi nhầy nhụa trên lớp mạt cưa. Phần đầu và phần roi da đang được mang đi. Đừng có bóp méo mấy miếng thịt đó chứ, cô bé.
Họ kê đơn uống máu tươi nóng hổi cho bệnh suy nhược. Máu lúc nào cũng cần thiết. Âm ỉ. Húp cạn khi còn bốc khói, đặc quánh ngọt ngào. Những hồn ma đói khát.
À, tôi đói rồi.
Ông bước vào tiệm Davy Byrne’s. Quán rượu đàng hoàng. Hắn không hay trò chuyện. Thỉnh thoảng cũng đãi đồ uống. Nhưng bốn năm mới có một năm nhuận. Từng chuyển hộ một tấm séc cho tôi.
Bây giờ mình sẽ gọi gì nhỉ? Ông rút đồng hồ ra xem. Để xem nào. Shandygaff?
— Chào Bloom, Nosey Flynn cất tiếng từ góc khuất của hắn.
— Chào Flynn.
— Mọi chuyện thế nào rồi?
— Tuyệt cú mèo... Để xem nào. Cho tôi một ly rượu vang đỏ và... để xem nào.
Cá mòi trên kệ. Nhìn thôi cũng suýt cảm nhận được vị của chúng rồi. Bánh mì kẹp? Thịt giăm bông và con cháu của nó được tụ họp và nuôi dưỡng ở đó. Thịt hộp. Cuộc sống gia đình sẽ ra sao nếu thiếu thịt hộp Plumtree? Thật không trọn vẹn. Quả là một mẩu quảng cáo ngớ ngẩn! Chúng dán nó ngay dưới mục thông báo cáo phó. Lại còn trèo lên cây mận nữa chứ. Thịt hộp Dignam. Lũ ăn thịt người sẽ ăn kèm chanh và cơm. Sứ giả da trắng thì quá mặn. Giống như thịt lợn muối chua. Chắc tù trưởng sẽ xơi những phần ngon nhất. Chắc hẳn phải dai vì vận động. Những người vợ xếp hàng dài để xem kết quả. Có một lão da đen quyền quý thượng thau. Kẻ đã ăn hay làm gì đó với mấy bộ phận của mục sư Mr MacTrigger. Kèm theo đó là chốn thiên đường. Chúa mới biết được hỗn hợp đó gồm những gì. Nội tạng mốc meo, khí quản được làm giả và băm nhuyễn. Trò chơi đố vui tìm thịt. Kosher. Không ăn thịt và sữa cùng nhau. Vấn đề vệ sinh mà giờ người ta hay gọi. Lễ Yom Kippur tẩy rửa nội tâm. Hòa bình và chiến tranh phụ thuộc vào hệ tiêu hóa của gã nào đó. Tôn giáo. Gà tây và ngỗng Giáng sinh. Cuộc tàn sát những kẻ ngây thơ. Ăn uống và vui chơi thỏa thích. Sau đó là các trại tế bão hòa người. Đầu băng bó. Phô mai tiêu hóa mọi thứ trừ chính nó. Phô mai đầy mọt.
— Anh có bánh mì kẹp phô mai không?
— Có chứ, thưa ngài.
Giá mà có vài quả ô liu thì thích nhỉ. Tôi thích loại của Ý hơn. Một ly rượu vang đỏ ngon sẽ đánh bay vị đó. Bôi trơn vòm họng. Một đĩa salad ngon lành mát rượi như dưa chuột, Tom Kernan có thể làm món này rất cừ. Thêm chút hương vị đậm đà vào đó. Dầu ô liu nguyên chất. Milly từng dọn cho tôi miếng cốt lết đó với một nhánh rau mùi tây. Lấy một củ hành tây Tây Ban Nha. Chúa tạo ra thực phẩm, quỷ sứ tạo ra đầu bếp. Cua tẩm gia vị.
— Vợ anh khỏe chứ?
— Khỏe lắm, cảm ơn... Vậy cho một phần bánh mì kẹp phô mai nhé. Phô mai Gorgonzola, anh có không?
— Có chứ, thưa ngài.
Nosey Flynn nhấm nháp ly rượu mạnh của hắn.
— Dạo này còn ca hát gì không?
Nhìn miệng hắn ta kìa. Có thể huýt sáo vào tai chính mình. Cặp tai vểnh tương xứng. Âm nhạc. Hắn hiểu biết về nó chẳng khác nào người đánh xe ngựa của tôi. Dù sao thì cứ nói cho hắn biết cũng tốt. Chẳng hại gì. Quảng cáo miễn phí.
— Cô ấy đã ký hợp đồng cho chuyến lưu diễn lớn vào cuối tháng này. Có lẽ anh đã nghe qua rồi chứ.
— Chưa. Ồ, phong cách phết nhỉ. Ai đứng ra tổ chức thế?
Nhân viên phục vụ mang đồ ra.
— Hết bao nhiêu thế?
— Bảy xu, thưa ngài... Cảm ơn ngài.
Ông Bloom cắt chiếc bánh mì kẹp thành từng dải nhỏ. Ông MacTrigger. Dễ nuốt hơn là thứ đồ ngọt ngào mộng mơ kia. Năm trăm người vợ của hắn. Đã có những khoảng thời gian tuyệt vời nhất trong đời.
— Có dùng mù tạt không, thưa ngài?
— Cảm ơn.
Ông chấm từng dải bánh mì được nhấc lên vào những đốm mù tạt vàng ruộm. Cuộc đời họ. Tôi hiểu rồi. Nó ngày càng lớn hơn, lớn hơn và lớn hơn.
— Ai đứng ra tổ chức á? ông nói. Chà, nó giống như ý tưởng thành lập công ty vậy, anh biết đấy. Chung cổ phần và chia lợi nhuận.
— À, giờ thì tôi nhớ ra rồi, Nosey Flynn nói, đút tay vào túi quần gãi háng. Ai là người kể cho tôi nghe nhỉ? Không phải Blazes Boylan cũng nhúng tay vào đó chứ?
Một luồng khí ấm áp nồng nặc mùi mù tạt xộc thẳng vào tim ông Bloom. Ông ngước mắt lên và chạm trán với chiếc đồng hồ bệnh gan. Hai giờ. Đồng hồ quán rượu nhanh năm phút. Thời gian trôi đi. Kim đồng hồ chuyển động. Hai giờ. Vẫn chưa.
Vùng bụng của ông quặn thắt rồi dâng lên, thắt lại bên trong, khao khát nhiều hơn, khắc khoải hơn.
Rượu vang.
Ông nhấm nháp dòng nước ngọt lành và, ra lệnh cho cổ họng nuốt thật nhanh, nhẹ nhàng đặt ly rượu xuống.
— Vâng, ông nói. Thực ra hắn ta là người tổ chức.
Không sợ hãi: chẳng có chút trí tuệ nào.
Nosey Flynn hụt hơi sụt sịt rồi gãi. Con bọ chét đang có một bữa ăn no nê đây.
— Hắn ta gặp vận may lớn đấy, Jack Mooney đang kể với tôi, vụ trận đấu quyền anh mà Myler Keogh lại thắng tên lính ởanh doanh trại Portobello. Chúa ơi, hắn đã tóm gọn cậu nhóc đó ở hạt Carlow, hắn kể với tôi...
Hy vọng giọt nước mũi đó đừng rơi vào ly của hắn. Không, hắn đã hít ngược nó vào rồi.
— Suốt gần một tháng, anh bạn ạ, trước khi trận đấu diễn ra. Chúa ơi, cứ húp trứng vịt lộn cho đến khi có lệnh mới. Để ngăn hắn không uống rượu, anh hiểu không? Ồ, Chúa ơi, Blazes là một gã ghê gớm đấy.
Davy Byrne bước lên từ phía sau quầy bar trong chiếc áo sơ mi xắn tay áo, lau môi bằng hai đường lau khăn ăn. Vết hồng của cá trịch. Nụ cười của ai đó vương vấn trên từng nét mặt với sự sung mãn nhường này. Quá nhiều mỡ trong củ cải vàng.
— Và đây là khổ chủ cùng với chút tiêu cay trên người, Nosey Flynn nói. Anh có thể cho chúng tôi xin một con số ngon lành cho giải Gold cup không?
— Tôi không dính líu đến chuyện đó đâu, anh Flynn, Davy Byrne đáp. Tôi chẳng bao giờ đặt cược vào ngựa cả.
— Anh nói chuẩn đấy, Nosey Flynn nói.
Ông Bloom thưởng thức từng dải bánh mì kẹp, bánh mì tươi sạch, với sự hào hứng pha lẫn chút ghê tởm của mù tạt cay nồng, vị ngai ngái của phô mai xanh. Từng ngụm rượu vang làm dịu vòm họng ông. Không phải rượu vang nhuộm màu đâu. Uống vào thời tiết này có vẻ đậm đà hơn khi bớt lạnh.
Quán rượu yên tĩnh dễ chịu. Miếng gỗ trên quầy này đẹp thật. Được bào nhẵn nhụi. Thích cách nó uốn cong ở đó.
— Tôi sẽ không bao giờ làm bất cứ điều gì liên quan đến lĩnh vực đó, Davy Byrne nói. Nó đã hủy hoại cuộc đời của bao nhiêu kẻ, mấy con ngựa ấy mà.
Xổ số của dân buôn rượu. Được phép bán bia, rượu vang và rượu mạnh để tiêu thụ tại chỗ. Mặt ngửa tôi thắng mặt sấp anh thua.
— Anh nói đúng, Nosey Flynn nói. Trừ khi anh là người trong cuộc. Giờ chẳng có trò thể thao chính thống nào nữa cả. Lenehan bắt trúng mấy con ngon phết. Hôm nay hắn dự đoán con Sceptre. Zinfandel đang là con sáng giá nhất, của huân tước Howard de Walden, đã thắng ở Epsom. Morny Cannon đang cưỡi nó. Lẽ ra tôi đã có thể đặt tỷ lệ bảy ăn một cho con Saint Amant từ hai tuần trước rồi.
— Thế á? Davy Byrne nói...
Ông bước về phía cửa sổ và cầm lấy cuốn sổ quỹ nhỏ, lướt xem các trang của nó.
— Thật đấy, thề có Chúa, Nosey Flynn nói, sụt sịt. Đó là một con chiến mã hiếm có. Saint Frusquin là bố của nó. Nó đã thắng trong một trận dông bão, con ngựa cái của Rothschild, với bông gòn nhét trong tai. Áo khoác xanh và mũ vàng. Xui xẻo cho lão Ben Dollard béo ú và con John O’Gaunt của lão. Lão đã làm tôi nản lòng. À.
Hắn uống cạn ly trong vẻ cam chịu, lướt những ngón tay dọc theo các đường khía.
— À, hắn thở dài nói.
Ông Bloom, vừa nhai vừa đứng, nhìn theo tiếng thở dài của hắn. Tên đần độn Nosey. Mình có nên nói cho hắn biết chuyện con ngựa của Lenehan không nhỉ? Hắn biết thừa rồi còn gì. Thôi để hắn quên đi thì hơn. Lại đi thua cược tiếp cho xem. Tên ngốc và tiền bạc sớm muộn cũng rời xa nhau. Giọt nước mũi lại sắp rơi xuống kìa. Mũi hắn chắc lạnh ngắt khi hôn phụ nữ đây. Dù sao thì họ có thể vẫn thích. Họ thích những bộ râu mọc chôm chôm. Mũi lạnh ngắt như mũi chó. Con chó sục Skye của cụ bà Riordan bị đau bụng ở khách sạn City Arms. Molly vuốt ve nó trong lòng. Ôi, chú cún cưng búp búp cưng ơi!
Rượu vang thấm đẫm và làm mềm phần ruột bánh mì, mù tạt, vị phô mai ngai ngái lúc đầu. Rượu ngon thật. Cảm nhận vị ngon hơn vì mình không khát. Tất nhiên là do đi tắm nên thế rồi. Chỉ một hai miếng thôi. Rồi khoảng sáu giờ tôi có thể. Sáu. Sáu. Lúc đó thời gian sẽ trôi qua. Cô ấy...
Hơi ấm dịu nhẹ của rượu vang khơi dậy trong các mạch máu của ông. Mình đang rất cần nó. Cảm giác người cứ bải hoải thế nào ấy. Đôi mắt không chút thèm thuồng nhìn các kệ bày hộp thiếc: cá mòi, càng hùm sặc sỡ. Tất cả những thứ kỳ quặc mà người ta nhặt nhạnh để làm thức ăn. Lấy từ trong vỏ sò, ốc biển dùng tim găm, từ trên cây, ốc sên dưới đất mà người Pháp ăn, từ dưới biển với mồi câu trên lưỡi. Lũ cá ngốc nghếch chẳng học được gì suốt một ngàn năm. Nếu không biết thì thật liều mạng khi tống bất cứ thứ gì vào miệng. Quả dại có độc. Johnny Magories. Hình thù tròn vo khiến bạn nghĩ là ngon. Màu sắc sặc sỡ cảnh báo bạn tránh xa. Kẻ này bảo người kia cứ thế mà làm. Thử nghiệm trên chó trước. Bị dẫn dụ bởi mùi hương hoặc vẻ ngoài. Trái cây hấp dẫn. Kem ốc quế. Bản năng. Chẳng hạn như các khu rừng cam. Cần hệ thống tưới tiêu nhân tạo. Phố Bleibtreustrasse. Vâng, nhưng còn hàu thì sao nhỉ. Trông khó coi như một cục đờm đặc. Những cái vỏ bẩn thỉu. Lại còn khó cạy mở nữa chứ. Ai là kẻ phát hiện ra chúng nhỉ? Bãi rác, nước cống là thứ chúng ăn để sống. Hàu sủi bọt và hàu Red Bank. Tác dụng kích thích tình dục. Chất kích thích. Hắn đã ở tiệm Red Bank sáng nay. Hắn có ăn hàu không, lão cá già ở bàn có lẽ thế, hắn là thanh niên sung sức trên giường, không, tháng Sáu không có chữ r, không có hàu. Nhưng có những người thích món ăn để lâu ngày. Thịt thú rừng ôi thiu. Thỏ hầm. Phải bắt được thỏ trước đã. Người Trung Quốc ăn trứng muối để năm mươi năm, chuyển sang màu xanh lam và xanh lá. Bữa tối ba mươi món. Mỗi món đều vô hại nhưng khi trộn lẫn vào trong bụng thì không biết thế nào. Ý tưởng cho một vụ án mạng bằng độc dược. Vị đại công tước Leopold đó phải không, không, đúng rồi hay là Otto, một trong số những kẻ thuộc dòng Habsburg đó? Hay ai là kẻ từng ăn da đầu của chính mình nhỉ? Bữa trưa rẻ nhất trong thành phố. Dĩ nhiên là giới quý tộc, rồi những kẻ khác bắt chước theo để cho hợp mốt. Cả Milly nữa, dầu mỏ và bột mì. Bản thân tôi thích ăn bột nhào sống. Một nửa số hàu bắt được họ vứt trở lại biển để duy trì giá cả. Bán rẻ thì chẳng ai thèm mua. Trứng cá muối. Phô trương thế lực. Rượu Hock trong ly màu xanh. Một bữa tiệc tùng linh đình. Phu nhân này. Bộ ngực rắc phấn ngọc trai. Giới thượng lưu. Tinh hoa của tinh hoa. Chúng muốn những món ăn đặc biệt để giả vờ rằng mình là ai. Kẻ ẩn tu với đĩa đậu lăng để kìm nén dục vọng xác thịt. Biết tôi thì hãy đến ăn cùng tôi. Quan thị vệ cá tầm hoàng gia, Coffey, người bán thịt, chuyên cung cấp thịt nai rừng từ nhà của ngài cựu quan chức. Gửi trả lại cho hắn nửa con bò. Bữa tiệc thị soạn mà tôi nhìn thấy dưới khu bếp của Chánh án tòa án tối cao. Đầu bếp đội mũ trắng như một giáo sĩ. Vịt tẩm gia vị cháy. Củ cải xoắn kiểu nữ công tước Parma. Tốt nhất là cứ viết nó lên thực đơn để bạn biết mình đã ăn những gì. Quá nhiều gia vị làm hỏng nồi canh. Chính tôi cũng biết điều đó. Pha chế nó với súp cô đặc của Edwards. Ngỗng bị nhồi béo ngậy một cách ngốc nghếch. Tôm hùm bị luộc sống. Xin mời dùng thử chút thịt gà gô trắng nhé. Tôi không ngại làm bồi bàn trong một khách sạn lớn đâu. Tiền típ, mặc lễ phục dạ hội, những quý cô hở hang nửa thân người. Em có muốn dùng thêm chút phi lê cá bơn chanh không, tiểu thư Dubedat? Vâng, xin cứ tự nhiên thưa ngài. Và cô ấy đã ăn tự nhiên thưa ngài. Tôi đoán đó là họ người Huguenot. Một tiểu thư Dubedat từng sống ở Killiney, tôi nhớ chứ. Du de la là tiếng Pháp. Dù sao thì đó cũng có thể là cùng một loại cá mà lão Micky Hanlon ở phố Moore đã mổ ruột, kiếm tiền như nước, ngón tay dính đầy mang cá, không biết ký nổi tên mình trên một tờ séc, cứ làm như hắn đang vẽ phong cảnh với cái miệng méo xệch. Moooikill A Aitcha Ha dốt đặc cán mai, trị giá năm mươi ngàn bảng Anh.
Hai con ruồi bu trên cửa kính đang vo ve, dính chặt lấy nhau.
Làn rượu rực rỡ đọng lại trên vòm họng rồi được nuốt xuống. Ép trong máy ép rượu những trái nho vùng Burgundy. Chính là sức nóng của mặt trời. Hình như có một sự chạm nhẹ bí mật đang mách bảo ký ân tôi. Chạm vào giác quan của tôi, làm ẩm ướt những ký ức. Ẩn dưới những khóm dương xỉ hoang dã trên đồi Howth phía dưới chúng ta, vịnh đang ngủ say: bầu trời. Không một tiếng động. Bầu trời. Vịnh ngả màu tía bên mỏm Sư Tử. Màu xanh lục bên Drumleck. Xanh vàng hướng về Sutton. Những cánh đồng dưới đáy biển, những đường kẻ nâu mờ trong đám cỏ, những thành phố bị chôn vùi. Gối đầu lên chiếc áo khoác của tôi, mái tóc cô ấy xõa ra, tai bám đầy lá dương xỉ, tay tôi luồn dưới gáy cô ấy, anh sẽ làm em rối tóc mất thôi. Ồ kỳ diệu thay! Mát lạnh dịu dàng với thuốc mỡ, tay cô ấy chạm vào tôi, vuốt ve: ánh mắt cô ấy nhìn tôi không rời. Ngây ngất trước cô ấy, tôi nằm đó, đôi môi đầy đặn hé mở, hôn lên miệng cô ấy. Ngon tuyệt. Dịu dàng, cô ấy đút vào miệng tôi chiếc bánh hạt mẻ ấm áp đã được nhai nhỏ. Phần bột nhão nhạt nhếch mà miệng cô ấy vừa nghiền nát, vị ngọt lẫn chua từ nước bọt của cô ấy. Niềm vui: tôi đã ăn nó: niềm vui. Cuộc sống trẻ trung, đôi môi cô ấy chúm chím trao cho tôi. Đôi môi mềm mại ấm áp dính đầy chất keo kẹo cao su. Đôi mắt cô ấy là những đóa hoa, hãy đón lấy em đi, đôi mắt đầy tình nguyện. Những viên sỏi rơi xuống. Cô ấy nằm im. Một con dê. Chẳng có ai cả. Trên cao đỉnh Ben Howth, nơi có những bụi đỗ quyên, một con dê cái đi lại vững chãi, thả xuống những viên phân tròn. Ẩn mình dưới những tán dương xỉ, cô ấy cười trong vòng tay ấm áp. Tôi cuồng nhiệt ngả người lên cô ấy, hôn: đôi mắt, đôi môi, chiếc cổ căng phồng đang đập rộn ràng, bầu ngực phụ nữ đầy đặn trong chiếc áo bằng vải voan nữ tu, những núm vú phúng phính dựng đứng. Tôi dùng lưỡi cuồng nhiệt mơn trớn cô ấy. Cô ấy hôn tôi. Tôi đã được hôn. Toàn thân nhu mì, cô ấy làm rối mái tóc tôi. Được hôn, cô ấy hôn tôi.
Tôi. Và tôi bây giờ.
Dính chặt, lũ ruồi vo ve.
Đôi mắt hạ thấp của ông dõi theo những đường vân thầm lặng trên phiến gỗ sồi. Vẻ đẹp: nó uốn cong: những đường cong chính là vẻ đẹp. Những nữ thần kiều diễm, Venus, Juno: những đường cong mà thế giới ngưỡng mộ. Có thể nhìn thấy chúng trong sảnh tròn của bảo tàng thư viện, những vị nữ thần khỏa thân. Trợ giúp tiêu hóa. Chúng chẳng thèm bận tâm đến việc đàn ông nhìn ngắm thế nào. Tất cả đều để cho thiên hạ chiêm ngưỡng. Chẳng bao giờ cất lời. Ý tôi là nói với mấy tên như Flynn ấy. Giả sử cô ấy làm như Pygmalion và Galatea thì điều đầu tiên cô ấy sẽ nói là gì? Kẻ phàm trần! Hãy biết điều mà đứng đúng vị trí của mình đi. Nốc rượu thần nectar trong bữa ăn cùng các vị thần trên những chiếc đĩa vàng, đậm chất thần tiên. Không giống như bữa trưa rẻ tiền sáu xu của chúng ta, thịt cừu luộc, cà rốt và củ cải, một chai bia Allsop. Rượu thần, hãy tưởng tượng cảm giác uống dòng điện: thức ăn của các vị thần. Những hình dáng phụ nữ tuyệt đẹp được điêu khắc theo kiểu Junonian. Bất tử kiều diễm. Còn chúng ta thì tống thức ăn vào một cái lỗ rồi thải ra đằng sau: thức ăn, dưỡng chấp, máu, phân, đất, thức ăn: cứ phải nạp vào như đốt lò ấy. Chúng thì không. Chưa từng nhìn ngắm. Hôm nay tôi sẽ nhìn. Người canh gác sẽ không thấy đâu. Cúi xuống làm rơi cái gì đó rồi xem cô ấy có...
Một dòng thông báo nhỏ rỉ ra từ bàng quang muốn đi phải đi không được đi ở đó phải đi. Là một người đàn ông sẵn sàng, ông cạn sạch ly rượu đến giọt cuối cùng và bước đi, hiến dâng cho cả đàn ông nữa, đầy nam tính ý thức, nằm cạnh những người tình là nam giới, tận hưởng một thiếu niên, bước ra sân sau.
Khi tiếng bước chân của ông đã dứt, Davy Byrne nói từ cuốn sổ của mình:
— Hắn ta làm nghề gì thế nhỉ? Không phải hắn làm bên ngành bảo hiểm sao?
— Hắn bỏ việc đó lâu lắm rồi, Nosey Flynn nói. Hắn đi vận động quảng cáo cho tờ Freeman.
— Tôi quen mặt hắn lắm, Davy Byrne nói. Hắn đang gặp rắc rối à?
— Rắc rối á? Nosey Flynn nói. Tôi có nghe nói gì đâu. Sao thế?
— Tôi để ý thấy hắn mặc đồ tang.
— Thế á? Nosey Flynn nói. Ờ đúng rồi, thề có Chúa. Tôi còn hỏi thăm tình hình ở nhà hắn nữa cơ. Anh nói chuẩn đấy, lạy Chúa. Đúng là vậy rồi.
— Tôi không bao giờ khơi gợi chủ đề đó, Davy Byrne nói một cách nhân văn, nếu tôi thấy một quý ông đang gặp rắc rối kiểu đó. Chỉ làm họ gợi lại nỗi đau rõ hơn thôi.
— Dù sao thì không phải chuyện vợ con đâu, Nosey Flynn nói. Tôi gặp hắn hồi hôm kia khi hắn bước ra từ tiệm bơ sữa Ireland của vợ John Wyse Nolan ở phố Henry với một hũ kem trên tay mang về cho một nửa tốt đẹp của hắn. Hắn được chăm bẵm kỹ lắm đấy, tôi nói cho anh biết. Chim dẽ gà nướng bánh mì.
— Thế hắn vẫn làm cho tờ Freeman chứ? Davy Byrne nói.
Nosey Flynn mím môi.
— Hắn không đi mua kem bằng tiền hoa hồng quảng cáo nhặt nhạnh đâu. Anh có thể cá cược điều đó đấy.
— Sao lại thế? Davy Byrne hỏi, ngẩng lên từ cuốn sổ.
Nosey Flynn làm động tác tung hứng nhanh chóng bằng những ngón tay trong không trung. Hắn nháy mắt.
— Hắn thuộc hội kín đấy, hắn nói.
— Anh đùa tôi đấy à? Davy Byrne nói.
— Chắc chắn luôn, Nosey Flynn nói. Hội anh em tự do cổ đại và được thừa nhận. Hắn là một người anh em xuất sắc. Ánh sáng, sự sống và tình yêu, lạy Chúa. Họ giúp hắn thăng tiến đấy. Việc đó được kể lại cho tôi bởi một... ừm, tôi không nói là ai đâu.
— Thật thế á?
— Ồ, đó là một hội kín tuyệt vời, Nosey Flynn nói. Họ luôn sát cánh khi bạn gặp hoạn nạn. Tôi biết một gã từng cố gắng xin vào đó. Nhưng họ kín như bưng ấy chứ. Thề có Chúa, họ đã đúng khi không cho phụ nữ tham gia.
Davy Byrne mỉm cười-ngáp-gật đầu tất cả trong một:
— Iiiiiiichaaaaaaach!
— Có một người phụ nữ, Nosey Flynn nói, đã trốn vào trong một chiếc đồng hồ để tìm xem họ làm những gì. Nhưng khổ nỗi họ đánh hơi thấy và bắt cô ta tuyên thệ nhậm chức ngay tại chỗ làm thợ cả. Đó là một trong những người thuộc gia tộc Saint Leger ở Doneraile.
Davy Byrne, đã thỏa mãn sau cái ngáp, nói với đôi mắt đẫm lệ:
— Thật thế á? Hắn ta là một người đàn ông đàng hoàng trầm lặng đấy chứ. Tôi thường xuyên thấy hắn ở đây và chưa từng thấy hắn có lần nào... anh biết đấy, vượt quá giới hạn.
— Chúa Almighty cũng chẳng thể làm hắn say rượu nổi đâu, Nosey Flynn quả quyết nói. Hắn toàn chuồn mất khi cuộc vui quá trớn. Anh không thấy hắn nhìn đồng hồ à? À, anh có ở đó đâu. Nếu anh mời hắn uống rượu, điều đầu tiên hắn làm là lôi đồng hồ ra xem mình nên uống loại nào. Thề có Chúa là thế đấy.
— Có những người như thế đấy, Davy Byrne nói. Tôi đoán hắn là một kẻ an toàn.
— Hắn cũng không đến nỗi tệ, Nosey Flynn nói, sụt sịt. Hắn cũng từng giúp đỡ người khác khi khó khăn đấy. Cứ công nhận những điểm tốt của hắn đi. Nhưng có một điều hắn sẽ không bao giờ làm.
Bàn tay hắn nguệch ngoạc ký một chữ ký khô bằng bút bên cạnh ly rượu mạnh.
— Tôi biết, Davy Byrne nói.
— Không bao giờ có giấy trắng mực đen hết, Nosey Flynn nói.
Paddy Leonard và Bantam Lyons bước vào. Tom Rochford bước theo với vẻ mặt cau có, một bàn tay đặt lên chiếc áo lê màu vang đỏ.
— Chào anh Byrne.
— Chào các quý ông.
Họ dừng lại ở quầy bar.
— Ai mời thế? Paddy Leonard hỏi.
— Dù sao thì tôi cũng đang ngồi, Nosey Flynn đáp.
— Nào, thế các anh gọi gì nào? Paddy Leonard hỏi.
— Cho tôi một cốc gừng đá, Bantam Lyons nói.
— Bao nhiêu cơ? Paddy Leonard kêu lên. Từ khi nào thế hả lạy Chúa? Thế cậu uống gì, Tom?
— Hệ thống thoát nước chính thế nào rồi? Nosey Flynn hỏi, vừa nhấm nháp vừa nói.
Để trả lời, Tom Rochford đặt tay lên ngực và nấc cụt.
— Tôi có thể phiền anh cho một ly nước lọc được không, anh Byrne? hắn nói.
— Chắc chắn rồi, thưa ngài.
Paddy Leonard đảo mắt nhìn đám bạn nhậu.
— Chúa yêu con vịt quá cơ, hắn nói. Nhìn xem tôi đang mời đồ uống cho ai này! Nước lạnh với nước ngọt gừng! Hai gã mà có thể hút sạch whisky từ một cái vết thương mưng mủ. Hắn đang giấu một con ngựa chết tiệt nào đó trong tay áo cho giải Gold cup. Chắc chắn thắng 100%.
— Có phải con Zinfandel không hả? Nosey Flynn hỏi.
Tom Rochford đổ gói bột từ tờ giấy xoắn vào cốc nước được đặt trước mặt hắn.
— Chứng khó tiêu chết tiệt đó, hắn nói trước khi uống.
— Bột nở soda rất tốt đấy, Davy Byrne nói.
Tom Rochford gật đầu và uống.
— Có phải con Zinfandel không?
— Đừng nói gì cả! Bantam Lyons nháy mắt. Tôi sẽ liều mạng đặt năm xu vào con của tôi.
— Nói cho chúng tôi biết xem anh có đáng tin không nào đồ khốn kiếp, Paddy Leonard nói. Ai đưa tin cho anh thế?
Ông Bloom trên đường đi ra giơ ba ngón tay chào.
— Tạm biệt nhé! Nosey Flynn nói.
Những người còn lại quay người lại.
— Đó chính là người đã đưa tin cho tôi đấy, Bantam Lyons thì thầm.
— Rác rưởi! Paddy Leonard khinh bỉ nói. Thưa anh Byrne, chúng tôi sẽ lấy hai ly Jameson nhỏ sau vụ đó và một...
— Gừng đá, Davy Byrne lịch sự thêm vào.
— Ừ, Paddy Leonard nói. Bình sữa cho em bé bú.
Ông Bloom bước về phía phố Dawson, chiếc lưỡi lướt qua hàm răng cho thật trơn tru. Phải là thứ gì đó có màu xanh: chẳng hạn như rau bina. Sau đó với mấy tia X-quang rọi sáng đó, anh có thể...
Ở ngõ Duke, một con chó sục đói khát nôn thốc nôn tháo thứ thức ăn lợm cợm đầy xương lên những viên đá cuội rồi húp lại với sự hào hứng mới. Sự chán ngấy. Nôn ra rồi ăn lại sau khi đã tiêu hóa hoàn toàn nội dung bên trong. Đầu tiên là ngọt sau đó là mặn. Ông Bloom thận trọng đi lướt qua. Loài nhai lại. Mùa thứ hai của ông. Hàm trên của chúng có thể cử động. Tự hỏi liệu Tom Rochford có làm được gì với phát minh của hắn ta không nhỉ? Phí thời gian giải thích nó cho cái miệng của Flynn. Người gầy thì miệng rộng. Lẽ ra phải có một hội trường hoặc một nơi nào đó để các nhà sáng chế có thể vào đó sáng chế miễn phí. Dĩ nhiên lúc đó thì mấy tên kỳ quặc sẽ kéo đến làm phiền.
Ông ngân nga, kéo dài trong tiếng vang trầm mặc đoạn kết của các khúc nhạc:
Don Giovanni, a cenar teco
M’invitasti.
Cảm thấy khá hơn rồi. Rượu vang đỏ. Món giải khát tuyệt vời. Ai là kẻ chưng cất đầu tiên nhỉ? Gã nào đó chán đời. Can đảm kiểu Hà Lan. Tờ Kilkenny People ở thư viện quốc gia bây giờ mình phải...
Những chiếc bồn cầu sạch sẽ trống trơn đang đợi trong cửa hàng của William Miller, thợ sửa ống nước, kéo suy nghĩ của ông trở lại. Chúng có thể: và theo dõi toàn bộ hành trình đi xuống, đôi khi nuốt phải chiếc kim ghim nhiều năm sau mới chui ra khỏi xương sườn, đi một vòng quanh cơ thể qua ống mật, lá lách phun dịch vị gan, cuộn ruột giống như những đường ống. Nhưng gã khốn khổ đó sẽ phải đứng suốt thời gian với bộ lòng ruột phơi bày ra ngoài. Khoa học.
— A cenar teco.
Chữ teco đó có nghĩa là gì nhỉ? Có lẽ là tối nay.
Don Giovanni, ngươi đã mời ta
Đến ăn tối tối nay,
Tiếng trống tiếng trống.
Không khớp nhịp lắm.
Keyes: hai tháng nếu tôi thuyết phục được Nannetti. Sẽ là khoảng hai bảng mười hoặc hai bảng tám. Ba bảng Hynes còn thiếu tôi. Hai bảng mười một. Xe tải tiệm nhuộm Prescott đằng kia kìa. Nếu tôi nhận được mẩu quảng cáo của Billy Prescott: hai bảng mười lăm. Khoảng năm guineas. Hốt bạc rồi.
Có thể mua một trong số những chiếc váy lót bằng lụa cho Molly, màu giống tất chân mới của cô ấy.
Hôm nay. Hôm nay. Đừng nghĩ nữa.
Đi du lịch miền nam xem sao. Còn các khu nghỉ mát bên bờ biển của Anh thì sao? Brighton, Margate. Cầu tàu dưới ánh trăng. Giọng hát của cô ấy văng vẳng bay đi. Những cô gái miền biển đáng yêu ấy. Dựa vào tiệm của John Long, một gã lười biếng đang lim dim chìm trong suy nghĩ nặng nề, gặm nhấm mẩu xương đốt ngón tay. Cần tìm việc làm tay chân. Lương thấp. Ăn gì cũng được.
Ông Bloom rẽ qua cửa hàng bánh ngọt của Gray với những chiếc bánh tart chưa bán và bước qua hiệu sách của mục sư Thomas Connellan. Tại sao tôi rời bỏ giáo hội La Mã? Tổ chim. Phụ nữ điều hành hắn ta. Người ta đồn rằng họ từng cho trẻ em nghèo ăn súp để cải sang đạo Tin lành vào thời kỳ nạn đói khoai tây. Hội quán ở phía đối diện mà cha từng đến để cải đạo cho những người Do Thái tội nghiệp. Cùng một chiếc bẫy. Tại sao chúng ta rời bỏ giáo hội La Mã.
Một thiếu niên mù đang đứng gõ gõ cây gậy mảnh mai xuống lề đường. Không thấy bóng dáng xe điện nào. Muốn qua đường.
— Anh có muốn sang đường không? ông Bloom hỏi.
Cậu thiếu niên mù không trả lời. Khuôn mặt vô cảm nhíu lại yếu ớt. Cậu ta lắc đầu không chắc chắn.
— Cậu đang ở phố Dawson, ông Bloom nói. Phố Molesworth ở đối diện kìa. Cậu có muốn sang đường không? Không có gì cản đường cả.
Cây gậy run rẩy đưa sang bên trái. Ánh mắt ông Bloom dõi theo đường đi của nó và lại nhìn thấy chiếc xe tải của tiệm nhuộm đỗ trước tiệm của Drago. Nơi tôi nhìn thấy mái tóc chải keo bóng loáng của hắn ngay khi tôi đang. Con ngựa đang rũ đầu. Người lái xe đang ở tiệm của John Long. Giải tỏa cơn khát.
— Có một chiếc xe tải ở đó, ông Bloom nói, nhưng nó không chuyển động. Tôi sẽ dẫn cậu sang đường nhé. Cậu có muốn đi đến phố Molesworth không?
— Vâng, cậu thiếu niên đáp. Phố South Frederick.
— Nào, ông Bloom nói.
Ông nhẹ nhàng chạm vào khuỷu tay mảnh khảnh: rồi nắm lấy bàn tay mềm mại có thể nhìn thấy để dẫn đường cho cậu ta tiến lên.
Nói gì với cậu ta đi chứ. Tốt hơn là đừng có tỏ ra trịch thượng. Họ không tin tưởng những gì bạn nói đâu. Hãy nói một câu bâng quơ.
— Trời tạnh mưa rồi đấy.
Không có câu trả lời.
Vết bẩn trên áo khoác của cậu ta. Chắc là ăn uống bị dây ra đây. Cậu ta nếm mọi thứ với vị giác khác lạ. Phải được đút ăn bằng thìa trước tiên. Giống như bàn tay của một đứa trẻ, bàn tay cậu ta ấy. Giống tay của Milly ngày trước. Nhạy cảm. Chắc đang đánh giá tôi qua bàn tay đây. Tự hỏi cậu ta có tên không nhỉ. Xe tải. Tránh để cây gậy vướng vào chân ngựa: con vật cặm cụi mệt mỏi đang chợp mắt. Đúng rồi. Tránh ra. Phía sau con bò đực: phía trước con ngựa.
— Cảm ơn ngài.
Nhận ra tôi là đàn ông. Giọng nói.
— Bây giờ đi thẳng nhé? Rẽ trái ở ngã rẽ đầu tiên.
Cậu thiếu niên mù gõ gậy xuống lề đường và tiếp tục bước đi, kéo gậy về phía sau, dò dẫm lại từ đầu.
Ông Bloom bước đi phía sau đôi chân không tròng mắt, bộ đồ vải tuốt xương cá cắt phẳng phiu. Cậu thanh niên đáng thương! Làm thế quái nào mà cậu ta biết có chiếc xe tải ở đó cơ chứ? Chắc là cảm nhận được. Nhìn mọi thứ bằng trán chăng: một kiểu cảm nhận về thể tích. Trọng lượng hoặc kích thước của nó, thứ gì đó đen tối hơn cả bóng tối. Tự hỏi nếu có thứ gì đó bị dịch chuyển thì cậu ta có cảm nhận được không nhỉ. Cảm nhận được một khoảng trống. Cậu ta chắc hẳn có một hình dung kỳ lạ về Dublin khi vừa đi vừa gõ gậy qua những viên đá. Cậu ta có thể đi theo đường thẳng tắp nếu không có cây gậy đó không? Gương mặt sùng đạo tái nhợt như một kẻ chuẩn bị đi tu làm linh mục.
Penrose! Tên của gã đó là thế.
Nhìn tất cả những việc họ có thể học để làm kìa. Đọc bằng đầu ngón tay. Lên dây đàn piano. Hoặc chúng ta ngạc nhiên khi thấy họ có chút trí tuệ nào đó. Tại sao chúng ta lại nghĩ một người bị dị tật hay gù lưng là thông minh nếu hắn nói ra điều gì đó mà chúng ta có thể nói. Dĩ nhiên các giác quan khác nhạy bén hơn. Thêu thùa. Đan giỏ. Lực lượng mọi người nên giúp đỡ. Giỏ đựng đồ khâu tôi có thể mua cho sinh nhật của Molly. Ghét may vá. Có thể sẽ phản đối. Người ta gọi họ là những người đàn ông bóng tối.
Khứu giác chắc cũng phải nhạy bén hơn. Mùi hương ở khắp mọi nơi, dồn cục lại với nhau. Mỗi con phố có một mùi khác nhau. Mỗi người cũng thế. Rồi mùa xuân, mùa hè: những mùi hương. Vị giác? Người ta bảo bạn không thể nếm được mùi vị rượu vang khi nhắm mắt lại hoặc khi bị cảm cúm. Cả việc hút thuốc trong bóng tối người ta cũng bảo chẳng mang lại niềm vui gì.
Và với một phụ nữ chẳng hạn. Sẽ trơ trẽn hơn khi không nhìn thấy gì. Cô gái đang đi ngang qua viện Stewart, ngẩng cao đầu. Nhìn tôi kìa. Tôi có tất cả bọn họ đấy. Thật kỳ lạ khi không nhìn thấy cô ấy. Một dạng hình ảnh trong tâm trí. Giọng nói, nhiệt độ: khi anh ta chạm vào cô ấy bằng những ngón tay chắc gần như nhìn thấy những đường nét, đường cong. Đôi tay anh ta chạm vào tóc cô ấy chẳng hạn. Giả sử nó có màu đen chẳng hạn. Tốt. Chúng ta gọi nó là màu đen. Rồi lướt qua làn da trắng của cô ấy. Cảm giác có lẽ khác biệt. Cảm giác về màu trắng.
Bưu điện. Phải trả lời. Mệt mỏi quá hôm nay. Gửi cho cô ấy một bưu điện phí hai shilling, hai xu rưỡi. Xin hãy nhận món quà nhỏ của tôi. Cửa hàng văn phòng phẩm ngay ở đây thôi. Chờ đã. Suy nghĩ kỹ lại đã.
Bằng ngón tay nhẹ nhàng, ông khẽ khàng sờ lên mái tóc được chải ngược phía trên mang tai. Lại một lần nữa. Những sợi rơm mịn màng. Sau đó ngón tay ông nhẹ nhàng sờ lên vùng da má phải. Cả lông tơ ở đó nữa. Không đủ mịn màng. Vùng bụng là mượt mà nhất. Không có ai xung quanh cả. Cậu ta đang đi vào phố Frederick kìa. Có lẽ đến học viện khiêu vũ piano của Levenston. Có thể đang chỉnh lại dây quần của mình.
Đi ngang qua quán rượu của Doran, ông luồn tay giữa áo lê và quần, nhẹ nhàng kéo áo sơ mi ra để sờ vào nếp da chùng ở bụng. Nhưng tôi biết nó có màu vàng trắng. Muốn thử trong bóng tối xem sao.
Ông rút tay lại và kéo quần áo ngay ngắn lại.
Tội nghiệp! Cậu nhóc còn quá trẻ. Thật khủng khiếp. Thực sự khủng khiếp. Cậu ta sẽ có những giấc mơ gì khi không thể nhìn thấy? Cuộc đời đối với cậu ta chỉ là một giấc mơ. Công lý ở đâu khi sinh ra đã bị như thế? Tất cả những người phụ nữ và trẻ em trong chuyến dã ngoại bị thiêu cháy và chết đuối ở New York. Thảm họa. Họ gọi sự luân hồi đó là nghiệp báo cho những tội lỗi bạn đã gây ra trong kiếp trước, gặp nạn vòi phóng ngựa. Ôi, ôi, ôi. Tất nhiên là đáng thương rồi: nhưng chẳng hiểu sao bạn lại không thể đồng cảm nổi với họ theo một cách nào đó.
Ngài Frederick Falkiner đang bước vào hội quán hội Tam điểm. Long trọng như thành Troy. Sau bữa trưa ngon lành ở sân thượng Earlsfort. Những người bạn già làm luật đang khui một chai rượu lớn. Những câu chuyện về ghế thẩm phán, các phiên tòa lưu động và biên niên sử của trường áo xanh. Ta đã kết án hắn mười năm tù. Tôi đoán ông ta sẽ bĩu môi trước thứ nước tôi đã uống. Rượu cổ cho bọn họ, năm sản xuất được ghi trên chiếc chai đầy bụi bẩn. Có những quan điểm riêng về công lý trong tòa án của thẩm phán ghi âm. Lão già có thiện ý. Những bản cáo trạng của cảnh sát đầy ắp các vụ án để hưởng phần trăm từ việc tạo ra tội phạm. Đuổi cổ bọn chúng đi. Ác quỷ đối với những kẻ cho vay nặng lãi. Đã chỉ trích dữ dội Reuben J. Giờ thì hắn thực sự là kẻ mà người ta gọi là gã Do Thái bẩn thỉu. Quyền lực mà những vị thẩm phán đó nắm giữ. Những lão bợ rượu cáu kỉnh đội tóc giả. Con gấu bị đau chân. Và xin Chúa thương xót cho linh hồn anh.
Chào tấm áp phích. Chợ phiên Mirus. Ngài toàn quyền đại diện. Ngày mười sáu. Hôm nay là ngày đó. Gây quỹ cho bệnh viện Mercer. Bản Messiah lần đầu tiên được biểu diễn vì mục đích đó. Vâng. Handel. Hay là đi đến đó nhỉ: Ballsbridge. Tạt qua chỗ Keyes. Đừng bám lấy hắn như đỉa đói nữa. Làm phiền quá mức khách sáo. Chắc chắn sẽ quen ai đó ở cổng.
Ông Bloom đến phố Kildare. Đầu tiên mình phải đến. Thư viện.
Mũ rơm dưới ánh nắng. Giày da bò. Quần xắn gấu. Đúng rồi. Chính là hắn.
Trái tim ông khẽ thắt lại. Sang phải. Bảo tàng. Những bức tượng nữ thần. Ông rẽ phải.
Có phải hắn không? Gần như chắc chắn rồi. Không nhìn nữa. Rượu vang đang bốc lên mặt rồi. Tại sao mình lại làm thế nhỉ? Quá nặng đô. Vâng, đúng là hắn rồi. Dáng đi. Không nhìn nữa. Đi tiếp thôi.
Hướng về phía cổng bảo tàng với những bước chân dài lồng lộng, ông ngước mắt lên. Tòa nhà đẹp thật. Do Sir Thomas Deane thiết kế. Không theo dõi mình đấy chứ?
Chắc không thấy mình đâu. Ánh nắng chiếu vào mắt hắn.
Hơi thở gấp gáp phát ra thành những tiếng thở dài ngắn ngủi. Nhanh lên. Những bức tượng lạnh lẽo: yên bình trong đó. An toàn trong một phút nữa thôi.
Không. Không thấy mình. Hơn hai giờ rồi. Ngay ở cổng.
Tim tôi kìa!
Đôi mắt đang đập rộn ràng của ông đăm đăm nhìn những đường cong bằng đá màu kem. Sir Thomas Deane chính là kiến trúc sư theo trường phái Hy Lạp.
Tìm cái gì đó nào.
Bàn tay vội vã thọc nhanh vào túi, lấy ra, đọc và mở tờ Agendath Netaim ra xem. Mình để đâu nhỉ?
Vẻ bận rộn tìm kiếm.
Ông nhanh chóng nhét lại tờ Agendath.
Buổi chiều cô ấy đã nói thế.
Mình đang tìm cái đó. Vâng, cái đó. Lục tung mọi túi lên. Khăn tay. Tờ Freeman. Mình để đâu rồi nhỉ? À, đúng rồi. Quần. Củ khoai tây. Ví tiền. Ở đâu nhỉ?
Nhanh lên. Đi bộ thật êm ái. Thêm một khoảnh khắc nữa thôi. Tim tôi.
Bàn tay đang tìm kiếm cái "mình để đâu nhỉ" đã chạm vào chiếc túi hậu, xà phòng, lotion, phải ghé qua, tờ giấy ấm dính chặt. À xà phòng ở đó, đúng rồi. Cổng.
An toàn rồi!