Ulysses

Lượt đọc: 202 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
[ 5 ]

❊ ❊ ❊

Đi dọc theo bờ kè Sir John Rogerson qua những chiếc xe tải, ông Bloom rảo bước điềm tĩnh, lướt qua ngõ Windmill, hãng nghiền hạt lanh của Leask, rồi đến bưu điện kiêm điện tín. Suýt nữa thì cho họ cái địa chỉ đó rồi. Rồi qua cả trạm xá thủy thủ. Ông rời khỏi những tiếng ồn ào buổi sáng ở bến cảng và rẽ vào phố Lime. Cạnh dãy nhà trọ của Brady, một cậu bé chuyên gom da thú đang đứng thừ người, tay xách chiếc xô đựng nội tạng động vật, miệng ngậm một mẩu thuốc lá nhai dở. Một cô bé nhỏ hơn với những vết chàm nổi trên trán đưa mắt nhìn ông, tay lững thững cầm chiếc vòng thùng rượu đã móp méo. Bảo nó hút thuốc thì sẽ không lớn được đâu. Ồ, cứ để nó hút! Cuộc đời nó có phải là cõi hồng ân gì đâu. Phải đứng chờ ngoài các quán rượu để lôi bố về nhà. Về nhà với má đi bố. Giờ này ít khách: chắc chẳng có mấy người ở đó. Ông băng qua phố Townsend, lướt qua mặt tiền u ám của nhà thờ Bethel. El, vâng: nhà của: Aleph, Beth. Và qua cả nhà tang lễ của Nichols. Mười một giờ mới tới nơi. Vẫn còn đủ thời gian. Dám cá là Corny Kelleher đã vớ được mối cho nhà O’Neill. Vừa hát vừa nhắm nghiền hai mắt. Corny. Từng gặp mụ ta một lần trong công viên. Trong bóng tối. Vui thật đấy. Tay chỉ điểm của cảnh sát. Hắn ta bèn đọc tên và địa chỉ của mụ ta kèm theo câu tooraloom tooraloom tay của tôi. Ồ, chắc chắn hắn vớ được mối đó rồi. An táng hắn một cách rẻ mạt ở cái xó xỉnh gì gì đó. Kèm theo câu tooraloom, tooraloom, tooraloom, tooraloom của tôi.

Đến phố Westland Row, ông dừng chân trước cửa tiệm của hãng Trà Belfast và Phương Đông, đọc những dòng chữ in trên các gói giấy bọc chì: trà thượng hạng pha trộn chọn lọc, chất lượng tuyệt hảo, trà gia đình. Trời hơi ấm. Trà. Chắc phải mua một ít chỗ Tom Kernan. Dù sao thì không thể hỏi mua ở đám tang được. Trong khi mắt vẫn thản nhiên đọc, ông lặng lẽ cất mũ, hít nhẹ mùi dầu dừa bôi tóc rồi khoan thai đưa tay phải vuốt trán và mái tóc. Buổi sáng trời ấm thật. Dưới hàng mi rũ xuống, ông chạm vào chiếc nơ nhỏ trên viền da phía trong chiếc mũ cao cấp của mình. Đúng chỗ đó rồi. Tay phải ông hạ xuống lòng mũ. Những ngón tay nhanh chóng tìm thấy một tấm danh thiếp giấu sau đường viền và nhét nó vào túi áo ghi-lê.

Trời ấm quá. Tay phải ông lại chậm rãi đưa lên vuốt trán và mái tóc. Sau đó, ông đội lại mũ, thấy nhẹ nhõm hơn, và đọc lại: trà pha trộn chọn lọc, làm từ những loại trà ngon nhất vùng Ceylon. Phương Đông. Chắc hẳn là một nơi tuyệt đẹp: khu vườn của thế giới, những chiếc lá to lười biếng thả trôi bồng bềnh, cây xương rồng, những đồng cỏ rợp hoa, những dây leo ngoằn ngoèo mà người ta hay gọi. Không biết ở đó có đúng thế không. Lũ người Xây-lăng nằm ì ngoài nắng theo lối sống dolce far niente, cả ngày chẳng nhón tay làm việc gì. Ngủ sáu tháng trong năm. Quá nóng để mà cãi nhau. Ảnh hưởng của khí hậu. Sự lờ đờ. Những đóa hoa của sự lười biếng. Không khí nuôi dưỡng là chính. Chất ni-tơ. Nhà kính trong Vườn Bách thảo. Cây trinh nữ. Hoa súng. Những cánh hoa mệt mỏi đến mức chẳng muốn... Bệnh ngủ lơ lửng trong không gian. Đi trên những thảm hoa hồng. Thử tưởng tượng cảnh ăn món dạ dày và chân bò xem sao. Cái lão mà mình thấy trong bức ảnh ở đâu đó là ai nhỉ? À đúng rồi, đang nổi lề bềnh trên mặt Biển Chết, tay cầm sách, tay giương ô che nắng. Cố chìm cũng chẳng chìm được: nước mặn đặc quánh. Vì trọng lượng của nước, à không, trọng lượng của cơ thể trong nước thì bằng trọng lượng của cái gì nhỉ? Hay là thể tích bằng trọng lượng? Hình như có một định luật đại loại thế. Hồi học Trung học, lão Vance cứ bẻ khớp ngón tay răng rắc khi giảng bài. Chương trình học của trường đại học. Chương trình học kêu răng rắc. Trọng lượng thực chất là gì khi người ta nói đến trọng lượng? Ba mươi hai foot trên một giây bình phương. Định luật vật rơi: trên một giây bình phương. Tất cả chúng đều rơi xuống đất. Trái Đất. Trọng lực của Trái Đất chính là trọng lượng.

Ông quay người bước đi, thong thả băng qua đường. Mụ ta đi kiểu gì với mấy giỏ xúc xích nhỉ? Đại loại thế. Vừa đi, ông vừa rút tờ báo Freeman đã gấp gọn từ túi áo bên ra, mở ra, cuộn tròn lại thành một cây gậy ngắn và gõ nhẹ theo từng bước chân thong thả vào ống quần. Vẻ mặt dửng dưng: chỉ ghé qua xem thôi. Trên một giây bình phương. Ý là trên một giây cho mỗi giây. Từ mép vỉa hè, ông liếc nhanh qua cánh cửa bưu điện. Hết giờ bỏ thư rồi. Bỏ thư ở đây. Chẳng có ai. Vào thôi.

Ông đưa tấm danh thiếp qua khe cửa bằng đồng.

—Có thư nào của tôi không? ông hỏi.

Trong lúc nữ nhân viên bưu điện lục tìm trong các ô thư, ông dán mắt vào tấm bích chương tuyển quân vẽ hình binh lính đủ các binh chủng đang diễu hành, đồng thời đưa đầu chiếc gậy giấy lên sát mũi, hít hà mùi mực in còn mới trên giấy thô. Chắc là không có trả lời rồi. Lần trước đi hơi quá đà.

Nữ nhân viên bưu điện trả lại ông qua khe cửa tấm danh thiếp kèm theo một bức thư. Ông cảm ơn cô ta và liếc nhanh qua phần địa chỉ đánh máy ngoài bì thư.

Gửi ông Henry Flower,

nhờ chuyển phát tại Bưu điện Westland Row,

Thành phố.

Dù sao thì cũng có hồi âm. Ông nhét danh thiếp và thư vào túi áo bên, thẫn thờ ngắm lại hàng quân đang diễu hành. Trung đoàn của lão Tweedy đâu rồi? Tên lính bỏ đi. Kia kìa: mũ lông gấu và chùm lông vũ đỏ. Không, đấy là lính ném lựu đạn. Cổ tay áo nhọn. Kia kìa: trung đoàn bộ binh hoàng gia Dublin. Áo đỏ. Trông lòe loẹt quá. Chắc vì thế mà bọn phụ nữ cứ bu lấy họ. Quân phục. Đi lính và tập luyện còn dễ hơn. Bức thư của Maud Gonne về việc bắt họ rời khỏi đường O’Connell vào ban đêm: nỗi nhục nhác của thủ đô Ai-rơ của chúng ta. Tờ báo của Griffith giờ cũng theo hướng đó: một quân đội thối nát vì bệnh hoa liễu; một đế quốc ở hải ngoại hoặc say khướt giữa biển khơi. Trông ngây ngô nửa mùa kiểu gì ấy: như bị thôi miên vậy. Nhìn đằng trước. Giậm chân tại chỗ. Bàn: bàn bạc. Giường: giường chiếu. Đội cận vệ của nhà vua. Chẳng bao giờ thấy ngài ăn mặc giả làm lính cứu hỏa hay cảnh sát cả. Làm thợ nề thì có.

Ông thong thả bước ra khỏi bưu điện và rẽ phải. Bàn tán à: cứ làm như thế sẽ cứu vãn được tình hình ấy. Tay ông thọc vào túi, ngón trỏ luồn dưới nắp phong bì, giật mạnh cho rách toạc ra. Phụ nữ mà thèm đếm xỉa đến mấy chuyện đó chắc, mình chẳng tin đâu. Những ngón tay ông rút bức thư ra và vo tròn chiếc phong bì nhét lại vào túi. Có thứ gì đó được ghim vào: chắc là ảnh nhỉ. Tóc chăng? Không.

M’Coy kìa. Phải quái quỷ tránh hắn cho nhanh. Làm mình lệch cả đường đi. Ghét cái cảnh có kẻ kè kè bên cạnh lúc...

—Chào Bloom. Cậu đi đâu đấy?

—Chào M’Coy. Chẳng đi đâu cụ thể cả.

—Dạo này người ngợm thế nào?

—Vẫn ổn. Cậu khỏe không?

—Cứ gọi là duy trì sự sống thôi, M’Coy nói.

Ánh mắt dừng lại trên chiếc cà vạt đen và bộ trang phục tang lễ, anh ta hạ giọng hỏi với vẻ đầy tôn kính:

—Có chuyện gì... hy vọng là không có rắc rối gì chứ? Tớ thấy cậu...

—Ồ, không đâu, ông Bloom nói. Tội nghiệp cậu Dignam, cậu biết đấy. Đám tang diễn ra ngày hôm nay.

—Chắc chắn rồi, tội nghiệp anh ấy. Đúng thế thật. Mấy giờ vậy?

Chắc không phải ảnh rồi. Có lẽ là phù hiệu chăng.

—M...mười một giờ, ông Bloom đáp.

—Tớ phải cố ghé ra đấy mới được, M’Coy nói. Mười một giờ phải không? Tớ mới nghe tin tối qua thôi. Ai nói với tớ nhỉ? Holohan. Cậu biết Hoppy chứ?

—Tớ biết.

Ông Bloom đưa mắt nhìn sang bên kia đường về phía chiếc xe ngựa thuê đang đỗ trước cửa khách sạn Grosvenor. Người gác cổng đang củng cố lại chiếc vali trên mui. Nàng đứng yên chờ đợi trong lúc người đàn ông — chồng, anh trai, hay ai đó giống cô — đang lục túi tìm tiền lẻ. Loại áo khoác kiểu cách với phần cổ bẻ đó trông thật ấm áp cho một ngày thế này, trông giống như vải chăn vậy. Dáng đứng dửng dưng của nàng với hai bàn tay đút vào túi áo có nắp. Trông giống y hệt mụ kiêu kỳ ở trận đấu polo ấy. Phụ nữ cứ mở miệng ra là giai cấp này giai cấp nọ cho đến khi chạm đúng điểm yếu. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Ra điều kiêu kỳ sắp sửa xiêu lòng. Bà phu nhân đáng kính và Brutus là một người đáng kính. Chiếm được nàng một lần là gọt sạch ngay cái vẻ kiêu kỳ ấy.

—Tớ vừa đi với Bob Doran, hắn lại đang lên cơn nghiện ngập định kỳ, và cả... cậu gọi hắn là gì nhỉ... Bantam Lyons nữa. Tụi tớ đang ở quán Conway ngay dưới kia kìa.

Doran với Lyons ở quán Conway. Nàng đưa tay đeo găng lên vuốt tóc. Hoppy bước vào. Ngước đầu lên, nheo mắt nhìn qua hàng mi khép hờ, ông thấy bộ da hươu màu vàng nâu sáng chói dưới ánh nắng gay gắt, cùng những chiếc khuy bện dây. Hôm nay thị lực của mình tốt thật. Mắt hơi ướt nên nhìn có lẽ rõ hơn chăng. Hết chuyện nọ đến chuyện kia. Bàn tay người phụ nữ. Mụ ta sẽ bước lên từ phía nào đây?

—Và hắn ta nói: Thật là một chuyện đáng buồn cho người bạn tội nghiệp Paddy của chúng ta! Paddy nào? tớ bảo thế. Cậu Paddy Dignam đáng chứ ai, hắn đáp.

Đi về vùng quê: chắc là Broadstone. Đôi bốt nâu cao cổ với dải dây buộc đung đưa. Bàn chân thon thả. Lão ta cứ lúi húi thối tiền cái gì thế nhỉ? Thấy mình đang nhìn kìa. Lúc nào cũng liếc mắt tìm mối khác. Phương án dự phòng tốt đấy. Có hai con đường để lựa chọn cơ mà.

—Sao cơ? tớ bảo thế. Cậu ta bị làm sao chứ? tớ hỏi.

Kiêu kỳ: giàu có: tất lụa.

—Ừ, ông Bloom nói.

Ông dịch người sang một bên để tránh cái đầu đang nói huyên thoáng của M’Coy. Lên xe đến nơi rồi kìa.

—Cậu ta bị làm sao chứ? Hắn nói. Cậu ta chết rồi chứ sao, hắn bảo thế. Và, thề có Chúa, hắn tiêu đời thật rồi. Cậu Paddy Dignam á? tớ nói. Tớ không thể nào tin nổi khi nghe tin đó. Tớ mới gặp cậu ấy hôm thứ Sáu tuần trước hoặc thứ Năm gì đấy ở quán Arch. Đúng vậy, hắn nói. Cậu ấy đi rồi. Cậu ấy mất hôm thứ Hai, tội nghiệp anh bạn.

Nhìn kìa! Nhìn kìa! Tất lụa trắng lấp lánh. Nhìn kìa!

Một chiếc xe điện nặng nề rú còi lao chen vào giữa.

Mất hút rồi. Tiếc cái mõm chó ồn ào của cậu thật. Cảm giác như bị hất hủi ra ngoài lề. Cảnh thiên đường và nữ thần Peri. Lúc nào cũng xảy ra chuyện thế đấy. Đúng vào khoảnh khắc ấy. Con nhỏ ở sảnh đường phố Eustace hôm thứ Hai — có phải hôm thứ Hai không nhỉ — đang chỉnh lại tất chân. Bạn nó thì che giấu cái cảnh tượng... Tinh thần đồng đội. Này, há hốc mồm ra mà ngắm cái gì thế?

—Ừ, đúng vậy, ông Bloom nói sau một tiếng thở dài thườn thượt. Lại một người nữa ra đi.

—Một trong những người tốt nhất, M’Coy nói.

Chiếc xe điện đi qua. Họ đánh xe hướng về phía cầu Loop Line, bàn tay đeo găng sang trọng của nàng đặt trên thanh vịn bằng thép. Chớp nhấp nháy, chớp nhấp nháy: vành mũ ren lấp lánh dưới ánh mặt trời: chớp, chớp.

—Bà xã vẫn khỏe chứ, tớ đoán thế? Giọng M’Coy chợt đổi đi.

—Ồ, vâng, ông Bloom nói. Khỏe re, cảm ơn cậu.

Ông thẫn thờ cuộn tờ báo lại rồi thẫn thờ đọc:

Nhà cửa sẽ ra sao nếu thiếu

Thịt hộp đóng hộp nhà Plumtree?

Chưa trọn vẹn.

Có nó vào, chốn ấy hóa thiên thai.

—Bà xã tớ vừa nhận được một hợp đồng biểu diễn. Ít ra thì mọi chuyện chưa ngã ngũ hẳn.

Lại chuyện vali rồi. Dù sao thì không hại gì. Tớ bỏ vụ đấy lâu rồi, cảm ơn nhé.

Ông Bloom quay đôi mắt mí dày sang với vẻ thân thiện khoan thai.

—Vợ tôi cũng vậy, ông nói. Cô ấy sẽ hát trong một buổi tiệc sang trọng tại Ulster Hall, Belfast, vào ngày hai mươi lăm.

—Thế á? M’Coy nói. Nghe vậy mừng cho cậu nhé, ông bạn già. Ai tổ chức thế?

Bà Marion Bloom. Vẫn chưa dậy. Nữ hoàng đang ở trong phòng ngủ ăn bánh mì và... Không có sách. Những lá bài Tây đen sì được xếp dọc theo đùi theo từng bộ bảy lá. Người đàn bà tóc đen và người đàn ông tóc vàng. Thư từ. Cuộn len đen xù xì như con mèo. Mẩu phong bì bị xé vụn.

Bài ca

Ngọt ngào

Thuở

Xưa của Tình yêu

Vang lên khúc ca ngọt ngào thuở xưa...

—Đó là một chuyến lưu diễn kiểu như vậy, cậu thấy đấy, ông Bloom trầm ngâm nói. Khúc ca ngọooọt ngàooọ. Có một ban tổ chức được thành lập hẳn hoi. Hưởng phần chia và phần lợi nhuận.

M’Coy gật đầu, tay ngắt những sợi râu mép.

—À, ừ, anh ta nói. Tin tốt đấy chứ.

Anh ta chuyển động ý định bỏ đi.

—Thôi, mừng là trông cậu vẫn phong độ chán, anh ta nói. Hẹn gặp lại cậu quanh đây nhé.

—Ừ, ông Bloom nói.

—Này nhé, M’Coy nói. Cậu cứ ghi tên tớ vào danh sách đám tang nhé? Tớ rất muốn đi nhưng nhỡ không đi được thì sao, cậu biết đấy. Có vụ chết đuối ở Sandycove có thể xảy ra và khi đó thì pháp y với tớ sẽ phải xuống dưới đó nếu vớt được xác. Cậu cứ nhét đại tên tớ vào nếu tớ không có mặt nhé?

—Tớ sẽ làm thế, ông Bloom nói, bước đi để tránh né. Sẽ ổn cả thôi.

—Được rồi, M’Coy vui vẻ nói. Cảm ơn nhé, ông bạn già. Tớ cũng muốn đi lắm nếu có thể. Thôi, chào nhé. Cứ ghi mỗi C. P. M’Coy là được.

—Sẽ làm đúng như vậy, ông đừng đáp quả quyết.

Đừng hòng lừa được mánh khóe ấy của tao. Kiểu vòi vĩnh nhanh gọn. Con mồi dễ dãi. Mình cũng thích cái nghề của hắn ta phết. Chiếc vali ấy chứ. Bằng da. Bọc góc, viền bọc đinh tán, khóa gạt hai nấc. Năm ngoái Bob Cowley mượn chiếc vali của hắn cho buổi hòa nhạc regatta ở Wicklow mà từ ngày đó đến nay chẳng nghe tăm tích gì nữa.

Ông Bloom vừa thong thả bước về phía phố Brunswick vừa mỉm cười. Bà xã mình vừa nhận được một... Giọng nữ cao khàn khàn lốm đốm tàn nhang. Chiếc mũi keo kiệt. Nói chung cũng được: cho một bản tiểu khúc. Chẳng có chút sức nặng nào cả. Cậu với tớ, cậu biết đấy: cùng một hội một thuyền. Nói lời ngọt ngào. Nghe ngứa cả tai. Lão ta không nhận ra sự khác biệt à? Tưởng hắn cũng có máu lề thói đó chứ. Sao mà chướng tai gai mắt thế không biết. Cứ tưởng vụ Belfast sẽ làm hắn hào hứng chứ. Mong là bệnh đậu mùa ở trên đó không trở nặng thêm. Chắc mụ ta sẽ không chịu tiêm chủng lại đâu nhỉ. Vợ cậu và vợ tớ.

Tự hỏi không biết hắn có đang bám càng theo mình không nhỉ?

Ông Bloom đứng ở góc phố, mắt thẫn thờ lướt qua những tấm bích chương đủ màu sắc. Nước gừng Cantrell and Cochrane (có mùi thơm). Khuyến mại mùa hè của Clery. Không, hắn đi thẳng rồi. Chào nhé. Tối nay diễn vở Leah. Nữ diễn viên Bandmann Palmer. Lại muốn xem mụ ấy diễn vai đó quá. Tối qua mụ đóng vai Hamlet. Nữ đóng giả nam. Biết đâu mụ ấy lại là đàn bà thì sao. Thảo nào Ophelia lại tự tử. Tội nghiệp bố! Hồi đó bố hay kể về Kate Bateman trong vở kịch đó biết bao. Đứng chờ cả buổi chiều bên ngoài nhà hát Adelphi ở London để vào xem. Chuyện đó xảy ra trước năm mình sinh ra một năm: năm sáu mươi lăm. Rồi cả Ristori ở Vienna nữa. Tên chính xác của nó là gì nhỉ? Của Mosenthal thì phải. Có phải Rachel không nhỉ? Không. Vở kịch mà bố cứ nhắc hoài, cảnh ông già mù Abraham nhận ra giọng nói của con trai rồi đưa những ngón tay sờ lên khuôn mặt nó.

Giọng của Nathan! Giọng của con trai ta! Ta nghe thấy giọng của Nathan, kẻ đã bỏ mặc cha mình chết trong đau khổ và khốn cùng trong vòng tay ta, kẻ đã rời bỏ ngôi nhà của cha và ruồng bỏ vị Thần của cha.

Từng câu từng chữ thấm thía làm sao, Leopold.

Tội nghiệp bố! Tội nghiệp ông cụ! Mình thật may vì đã không bước vào phòng để nhìn mặt bố. Ngày hôm đó! Ôi chao! Ôi chao! Ffoo! Thôi, có lẽ thế lại tốt cho cụ.

Ông Bloom rẽ qua góc phố và đi qua những con ngựa gầy gò của trạm xe thuê. Chẳng ích gì khi cứ nghĩ mãi về chuyện đó. Đã đến giờ ăn của ngựa rồi. Ước gì mình không gặp cái lão M’Coy đấy.

Ông đến gần hơn và nghe thấy tiếng nhai lạo xạo của đám yến mạch mạ vàng, cùng tiếng hàm răng chúng nhai nhồm nhoàm nhè nhẹ. Đôi mắt tròn xoe của chúng nhìn chằm chằm khi ông đi ngang qua, giữa mùi hăng hắc ngọt ngào của nước tiểu ngựa hòa lẫn mùi yến mạch. Miền đất hứa Eldorado của chúng. Tội nghiệp mấy con vật đần độn! Chúng có biết hay quan tâm gì đến trời đất đâu, với cái mõm dài cắm ngập trong túi đựng thức ăn. Ngậm miệng ăn tiền là vừa. Dù sao thì chúng cũng được cho ăn uống và có chỗ ngủ đàng hoàng. Lại còn bị thiến nữa chứ: mẩu da nhân tạo đen sì đung đưa lủng lẳng giữa hai chân sau. Dù sao thì ở tình trạng đó khéo lại hay. Trông những con vật tội nghiệp cũng ngoan ngoãn phết. Dù vậy tiếng hò hét của chúng đôi khi cũng rất nhức tai.

Ông rút bức thư ra khỏi túi và gấp nó lại kẹp vào tờ báo đang cầm trên tay. Cứ bước vào ngõ khéo lại hay gặp mụ ta ở đấy. Đi lối ngõ an toàn hơn.

Ông đi qua trạm trú chân của phu xe ngựa. Thật kỳ lạ cuộc đời của những kẻ đánh xe lang thang. Mặc mọi thời tiết, mọi chốn, chẳng có giờ giấc hay điểm dừng cố định, chẳng có chủ ý riêng. Voglio e non. Muốn tặng bọn họ một điếu thuốc lá quá. Sĩ diện thật. Gào lên vài câu cụt lủn khi lướt qua nhau. Ông ngân nga:

Là ci darem la mano

La la lala la la.

Ông rẽ vào phố Cumberland và đi thêm vài bước thì dừng lại dưới bóng râm của bức tường nhà ga. Chẳng có ma nào cả. Bãi gỗ của Meade. Những súc gỗ xếp chồng lên nhau. Đổ nát và nhà tập thể. Với những bước chân thận trọng, ông bước qua một sân chơi nhảy lò cò với viên phấn vẽ đã phai mờ. Vắng tanh như chùa Bà Đanh. Gần bãi gỗ, một đứa trẻ ngồi xổm chơi bi một mình, tay bắn bi theo kiểu ngón cái quặp lại. Một con mèo mướp khôn ngoan, trông giống như bức tượng nhân sư đang nhấp nháy mắt, nhìn xuống từ bệ cửa sổ ấm áp. Thật tiếc nếu làm phiền chúng. Vua Mahomet từng cắt một mảnh áo choàng của mình chỉ để không làm con mèo thức giấc. Mở ra xem nào. Hồi nhỏ mình cũng từng chơi bi khi đến lớp học của bà giáo già đó. Bà ấy thích hoa mignonette. Trường của bà Ellis. Thế còn ông... Ông mở bức thư kẹp bên trong tờ báo ra.

Một bông hoa. Mình nghĩ đó là... Một bông hoa màu vàng với những cánh hoa dẹt. Thế là không giận nữa à? Mụ ta nói gì nhỉ?

Henry thân mến

Em nhận được lá thư cuối cùng anh gửi cho em rồi và rất cảm ơn anh vì nó. Em rất tiếc vì anh không thích lá thư trước của em. Sao anh lại kẹp cả tem thư vào làm gì? Em đang giận anh lắm đấy nhé. Em rất muốn trừng phạt anh vì chuyện đó. Em gọi anh là cậu bé hư vì em không thích thế giới kia chút nào. Làm ơn nói cho em biết ý nghĩa thực sự của từ đó là gì đi? Anh không hạnh phúc trong gia đình mình hay sao, cậu bé hư tội nghiệp của em ơi? Em rất muốn làm điều gì đó cho anh. Xin hãy nói cho em biết anh nghĩ thế nào về em tội nghiệp này. Em thường nghĩ về cái tên tuyệt vời của anh. Henry thân mến, khi nào thì chúng ta mới được gặp nhau? Em nghĩ về anh nhiều đến mức anh không thể tưởng tượng nổi đâu. Chưa bao giờ em cảm thấy bị thu hút bởi một người đàn ông nhiều đến thế. Em cảm thấy bứt rứt quá. Hãy viết cho em một bức thư dài và kể cho em nghe nhiều hơn nhé. Hãy nhớ rằng nếu anh không viết, em sẽ trừng phạt anh đấy. Giờ thì anh biết em sẽ làm gì với anh rồi đấy, cậu bé hư ạ, nếu anh không chịu viết thư. Ôi em khao khát được gặp anh biết bao. Henry thân mến, xin đừng từ chối thỉnh cầu của em trước khi sự kiên nhẫn của em cạn kiệt. Khi đó em sẽ kể cho anh nghe tất cả. Thôi tạm biệt nhé, người yêu hư hỏng của em, hôm nay em bị đau đầu dữ quá. và hãy viết thư trả lời ngay cho người đang mong mỏi anh

Martha

T.S. Nhớ nói cho em biết vợ anh dùng loại nước hoa gì nhé. Em muốn biết.

Ông trang nghiêm gỡ bông hoa ra khỏi chiếc ghim, ngửi thứ hương thơm gần như chẳng có gì của nó rồi nhét vào chiếc túi ngút ngàn bên ngực trái. Ngôn ngữ của các loài hoa. Bọn chúng thích thế vì chẳng ai nghe thấy được. Hoặc giả đó là một bó hoa độc có thể đánh gục ông bất cứ lúc nào. Rồi vừa thong thả bước đi, ông vừa đọc lại bức thư, miệng lẩm bẩm vài từ. Mấy bông u-líp giận dỗi với anh chàng hoa hồng cục cằn trừng phạt cây xương rồng của anh nếu anh không làm vừa lòng cô hoa lưu ly tội nghiệp em khao khát biết bao những nhành hoa tím gửi đến những đóa hồng thân thương khi nào chúng ta sớm được anemone gặp nhau toàn những mụ vợ đêm hôm hư hỏng nước hoa của Martha. Đọc xong, ông rút bức thư ra khỏi tờ báo và nhét trở lại túi áo bên.

Niềm vui le lói hé mở trên đôi môi ông. Khác hẳn so với bức thư đầu tiên. Tự hỏi không biết mụ ta có tự viết lấy không. Ra điều giận dỗi lắm: một cô gái con nhà gia giáo thế này, tư đức đoan chính. Có thể hẹn gặp nhau vào một Chủ nhật nào đó sau lễ mân côi. Cảm ơn nhé: nhà chẳng thiếu thứ gì. Vở kịch tình yêu quen thuộc. Rồi lại chạy rẽ góc phố. Tệ chẳng kém gì cãi nhau với Molly. Xì gà có tác dụng làm dịu cơn giận. Chất gây tê. Lần tới phải tiến xa hơn nữa. Cậu bé hư: trừng phạt: sợ những lời nói đó chứ gì. Cộc cằn một chút thì sao nào? Cứ thử xem sao. Từng chút một.

Vừa mân mê bức thư trong túi, ông vừa rút chiếc ghim ra. Ghim cài áo bình thường thôi nhỉ? Ông vứt nó xuống đường. Rơi ra từ quần áo đâu đó đây: được ghim lại với nhau. Thật kỳ lạ là đám phụ nữ lúc nào cũng giắt theo đống ghim. Không có đóa hồng nào là không có gai.

Những giọng điệu thô ráp của xứ Dublin văng vẳng trong đầu ông. Hai ả lẳng lơ tối hôm đó ở vùng Coombe, tay trong tay dưới làn mưa.

Ôi, Mairy đánh rơi chiếc ghim quần lót.

Mụ chẳng biết phải làm sao

Để kéo nó lên,

Để kéo nó lên.

Nó ư? Hay là chúng nó nhỉ. Đau đầu dữ thế cơ mà. Chắc lại đang đến ngày. Hoặc ngồi gõ máy đánh chữ cả ngày. Mỏi mắt ảnh hưởng đến thần kinh dạ dày. Vợ anh dùng loại nước hoa gì thế. Lại có thể bịa ra mấy chuyện kiểu đó cơ chứ.

Để kéo nó lên.

Martha, Mary. Mình từng thấy bức tranh đó ở đâu rồi mà quên mất, tranh của bậc thầy hay tranh giả mạo để kiếm tiền nhỉ. Hắn ta đang ngồi trong nhà họ, trò chuyện. Thật bí ẩn. Cả hai ả lẳng lơ ở Coombe cũng sẽ lắng nghe cho mà xem.

Để kéo nó lên.

Cảm giác buổi tối thật dễ chịu. Không phải lang thang đâu nữa. Cứ thong thả ngồi lì ở đó: hoàng hôn yên ả: mặc cho mọi chuyện trôi đi. Quên hết đi. Kể về những nơi mình từng đi qua, những phong tục kỳ lạ. Người con gái kia, cái vại đội trên đầu, đang chuẩn bị bữa tối: hoa quả, ô liu, làn nước mát lạnh từ giếng sâu, lạnh ngắt như cái lỗ trên tường ở Ashtown. Lần sau đi xem đua ngựa phi kiều nhất định phải mang theo một cái cốc giấy mới được. Nàng lắng nghe với đôi mắt to tròn, đen láy và dịu dàng. Kể cho nàng nghe: nhiều hơn nữa: tất cả. Rồi một tiếng thở dài: sự im lặng. Một giấc ngủ dài đằng đẵng.

Đi qua vòm cầu xe lửa, ông rút phong bì ra, xé tan thành từng mảnh vụn rồi tung về phía mặt đường. Những mảnh vụn bay phấp phới rồi chìm dần vào bầu không khí ẩm ướt: một vệt trắng phấp phới, rồi tất cả chìm nghỉm.

Henry Flower. Người ta cũng có thể xé nát một tấm séc một trăm bảng y hệt như thế. Chỉ là một mẩu giấy bình thường. Chúa Iveagh từng đổi một tấm séc trị giá bảy con số lên tới một triệu tại Ngân hàng Ireland. Để thấy được tiền kiếm ra từ bia đen nhiều thế nào. Dẫu vậy người anh em của ông ta là lãnh chúa Ardilaun nghe nói một ngày phải thay áo sơ mi tới bốn lần. Da dẻ sinh ra chấy rận hoặc côn trùng. Một triệu bảng, đợi đã nào. Hai xu một pinto, bốn xu một cạc, tám xu một ga-lông bia đen, không, một si-ling bốn xu một ga-lông bia đen. Lấy một si-ling bốn xu chia cho hai mươi: khoảng mười lăm. Vâng, chính xác là thế. Mười lăm triệu thùng bia đen.

Mình đang nói cái quái gì thế này, thùng à? Ga-lông chứ. Dù sao thì cũng khoảng một triệu thùng.

Một đoàn tàu đang lao tới phát ra tiếng kêu đinh tai nhức óc ngay trên đầu ông, từng toa nối tiếp nhau. Những thùng bia va đập lộc cộc trong đầu ông: thứ nước bia đặc quánh rem rém và sủi bọt bên trong. Những chiếc lỗ thùng bật tung ra và một dòng lũ đặc quánh khổng lồ tràn ra ngoài, hòa quyện vào nhau, cuồn cuộn chảy qua những bãi bùn khắp vùng đất phẳng, một xoáy nước lững lờ cuốn theo những cánh hoa rộng bản từ lớp bọt trắng xóa.

Ông đã đến trước cánh cửa sau để ngỏ của nhà thờ All Hallows. Bước vào hiên nhà, ông cất mũ, lấy chiếc danh thiếp trong túi ra và nhét lại nó vào sau đường viền da. Chết tiệt thật. Lẽ ra mình phải tranh thủ gạ gẫm M’Coy xin một vé đi Mullingar mới phải.

Vẫn tấm thông báo cũ dán trên cửa. Bài giảng của cha bề trên John Conmee S. J. về thánh Peter Claver S. J. và Sứ vụ Châu Phi. Hồi Gladstone gần như bất tỉnh, họ cũng từng làm lễ cầu nguyện cho ông ta cải đạo. Đám theo đạo Tin Lành cũng y hệt vậy. Cải đạo tiến sĩ William J. Walsh D.D. sang chân giáo. Cứu rỗi hàng triệu người Trung Hoa. Tự hỏi không biết họ giải thích chuyện đó thế nào với mấy tên tàu dở hơi nhỉ. Thà hút một lạng thuốc phiện còn hơn. Người phương Đông. Tội dị giáo lớn đối với họ. Tượng Phật thần linh của chúng nằm nghiêng một bên trong bảo tàng. Thảnh thơi đặt tay lên má. Đốt nhang trầm. Không giống như tượng Chúa Ecce Homo. Vương miện bằng gai và thập giá. Ý tưởng của thánh Patrick dùng cỏ ba lá thật thông minh. Dùng đũa ư? Conmee: Martin Cunningham quen lão ta: trông có vẻ ra dáng trí thức đấy. Tiếc là mình không nhờ lão giúp đưa Molly vào đội hợp xướng thay cho cái lão cha xứ Farley trông ngu ngơ nhưng thực chất lại không phải vậy. Bọn chúng được dạy dỗ cả đấy. Lão ta chắc không đời nào đeo kính rôm mồ hôi nhễ nhại đi làm lễ rửa tội cho người da đen đâu nhỉ? Mấy cái tròng kính chắc sẽ làm bọn chúng thích thú, lóe sáng lên. Thích ngắm cảnh bọn chúng ngồi quây quần thành vòng tròn với cặp môi dày sưng húp, ngây ngất lắng nghe. Tĩnh vật. Trân trọng nuốt lấy từng lời như uống sữa ấy nhỉ.

Mùi lạnh lẽo của những phiến đá linh thiêng gọi mời ông. Ông bước đi trên những bậc thềm đã mòn, đẩy cánh cửa lật và nhẹ nhàng bước vào từ cửa sau.

Có sự kiện gì đang diễn ra thì phải: một hội đoàn nào đó. Tiếc là vắng khách quá. Quả là một nơi kín đáo tuyệt vời để ngồi cạnh cô gái nào đó. Ai là hàng xóm của tôi? Ngồi ì ra hàng giờ liền theo điệu nhạc du dương. Người phụ nữ trong thánh lễ nửa đêm ấy. Cảnh giới thứ bảy. Những người phụ nữ quỳ trên ghế băng với dải băng đỏ thắt quanh cổ, đầu cúi gằm. Một đám người đang quỳ trước lan can cung thánh. Cha xứ đi dọc qua họ, miệng lẩm bẩm, tay cầm thứ đó. Ngài dừng lại trước mỗi người, lấy ra một miếng bánh thánh, rũ nhẹ một hoặc hai giọt (có phải nhúng nước không nhỉ?) rồi đặt gọn gàng vào miệng người đó. Chiếc mũ và đầu người phụ nữ sụp xuống. Rồi đến người tiếp theo. Chiếc mũ của mụ ta sụp xuống ngay lập tức. Rồi đến người tiếp theo: một bà cụ già nhỏ thó. Cha xứ cúi người đặt bánh vào miệng bà, miệng lẩm bẩm không ngừng. Tiếng Latinh. Người tiếp theo. Nhắm mắt lại và há mồm ra. Gì thế nhỉ? Corpus: thân thể. Tử thi. Tiếng Latinh hay thật đấy. Làm bọn chúng mờ trí trước đã. Trại tế sinh cho người hấp hối. Bọn chúng có vẻ chẳng thèm nhai: cứ thế nuốt chửng vào bụng. Ý tưởng nực cười thật: ăn những mảnh thi thể của người chết. Hèn chi mấy kẻ ăn thịt người lại thích mê món này.

Ông đứng sang một bên ngắm nhìn những gương mặt vô hồn ấy lần lượt đi qua lối đi giữa các hàng ghế rồi tìm chỗ ngồi của mình. Ông tiến lại một chiếc ghế dài và ngồi xuống góc ghế, tay ôm khư khư chiếc mũ và tờ báo. Cái thứ mũ củ chuối mà chúng ta cứ phải đội này đây. Lẽ ra chúng ta nên làm mũ theo khuôn đầu của mình mới đúng. Xung quanh ông đây đó là những con người với đầu vẫn cúi gằm trong những dải băng đỏ thắt cổ, đang chờ chiếc bánh thánh tan ra trong dạ dày họ. Trông giống như mấy thứ bánh mazzoth ấy: loại bánh thánh không men. Nhìn bọn chúng kìa. Giờ thì dám cá là chúng đang cảm thấy hạnh phúc lắm đấy. Kẹo mút mà lị. Chắc chắn thế rồi. Vâng, người ta vẫn gọi đó là bánh của các thiên thần. Đằng sau nó là một ý tưởng lớn lao, mang lại cảm giác kiểu vương quốc của Chúa ngự trị trong lòng ta vậy. Những đứa trẻ rước lễ lần đầu. Trò lừa bịp rẻ mạt. Rồi tất cả đều cảm thấy như một đại gia đình, giống như trong rạp hát, tất cả cùng chung một hội. Chúng đúng là như thế. Mình chắc chắn điều đó. Đỡ cô đơn hơn phần nào. Trong hội huynh đệ của chúng ta. Rồi kéo nhau ra ngoài ăn chơi trác táng một bữa. Xả hơi đôi chút. Vấn đề là ở chỗ bạn có thực sự tin vào nó hay không. Phép chữa bệnh ở Lourdes, dòng nước của sự lãng quên, rồi hiện tượng hiển linh ở Knock, những bức tượng rỉ máu. Lão già đang ngủ gật cạnh cái tòa giải tội kia kìa. Hèn chi mà ngáy to thế. Niềm tin mù quáng. An toàn trong vòng tay của thế giới bên kia. Xoa dịu mọi nỗi đau. Hẹn gặp lại vào thời gian này năm sau.

Ông thấy cha xứ cất chiếc chén thánh vào trong, chỉnh lại cho ngay ngắn rồi quỳ xuống trước bàn thờ trong giây lát, để lộ phần đế chiếc bốt màu xám to đùng bên dưới lớp áo ren đang mặc. Giả sử lão đánh rơi chiếc ghim cài áo của mình nhỉ... Lão sẽ chẳng biết phải làm sao để... Hói một nhúm đằng sau. Những chữ cái sau lưng lão: I.N.R.I ư? Không: I.H.S. Molly từng kể cho tôi nghe một lần khi tôi gặng hỏi. Ta đã phạm tội: hay không phải: ta đã chịu đựng, phải thế mới đúng. Còn chữ cái kia thì sao nhỉ? Những chiếc đinh sắt đâm vào.

Hẹn gặp nhau vào một Chủ nhật sau lễ mân côi. Đừng từ chối thỉnh cầu của em. Xuất hiện với chiếc khăn voan và chiếc túi xách màu đen. Bóng chiều chập choạng cùng ánh sáng hắt ra từ phía sau nàng. Mụ ta hoàn toàn có thể đến đây với một dải ruy băng thắt quanh cổ rồi lén lút làm chuyện đó sau lưng mọi người. Bản tính của chúng là thế. Cái gã từng làm nhân chứng khai báo chống lại hội sát thủ invincibles ấy, hắn ta thường xuyên nhận... tên hắn là Carey, nhận bánh thánh vào mỗi buổi sáng. Chính tại nhà thờ này đây. Peter Carey, phải rồi. Không, mình đang nghĩ đến Peter Claver cơ mà. Denis Carey. Và thử tưởng tượng xem. Vợ và sáu đứa con đang chờ ở nhà. Thế mà lúc nào cũng âm mưu thực hiện vụ mút sát đó. Mấy kẻ đạo đức giả đó — à, gọi bọn chúng là lũ giả tạo thì đúng hơn — lúc nào cũng có vẻ mặt lén lút, mờ ám thế nào ấy. Bọn chúng cũng chẳng phải là những người làm ăn đàng hoàng. Ồ, không, mụ ta không có ở đây đâu: bông hoa ấy: không, không. Nhân tiện, mình đã xé cái phong bì đó chưa nhỉ? Rồi: ở dưới gầm cầu.

Cha xứ đang tráng chiếc chén thánh: rồi ngài dốc cạn phần cặn còn lại một cách dứt khoát. Rượu vang. Làm cho nó trở nên sang trọng hơn, chẳng hạn như thay vì uống thứ nước mà bọn chúng thường uống như bia đen Guinness hay mấy loại đồ uống giải khát không cồn như bitter hoa bia Dublin của Wheatley hay nước gừng Cantrell and Cochrane (có mùi thơm). Chẳng chia cho bọn chúng chút nào cả: chỉ trưng ra chai rượu vang thôi: chỉ có phần kia là của chúng. Niềm an ủi lạnh lẽo. Trò lừa bịp sùng đạo nhưng hoàn toàn hợp lý: nếu không thì thể nào cũng có mấy lão bợm nhậu hết người này đến kẻ khác kéo đến đây lân la xin xỏ rượu chè cho mà xem. Thật kỳ quặc cái không gian bầu không khí của... Hoàn toàn chính xác. Điều đó hoàn toàn chính xác.

Ông Bloom ngoái nhìn về phía dàn hợp xướng. Không có âm nhạc gì cả. Tiếc thật. Không biết ai là người đánh đàn órgão ở đây nhỉ? Lão Glynn biết cách làm cho cái nhạc cụ đó cất lên những lời trò chuyện, thứ âm thanh rung ngân vibrato: nghe nói mỗi năm lão được trả năm mươi bảng ở nhà thờ Gardiner street. Hôm đó Molly cất giọng tuyệt vời làm sao, bài Stabat Mater của Rossini. Bài giảng của cha Bernard Vaughan diễn ra trước. Chúa hay Phi-lát? Chọn Chúa đi, nhưng đừng có bắt tụi này ngồi nghe suốt đêm nhé. Thứ tụi nó cần là âm nhạc. Tiếng giậm chân dừng lại. Có thể nghe thấy tiếng kim rơi. Tôi đã bảo cô ấy hãy cất giọng hướng về cái góc đó cơ mà. Tôi có thể cảm nhận được sự rung động trong bầu không khí, trọn vẹn, mọi người cùng ngước nhìn lên:

Quis est homo.

Một số bản nhạc thánh ca cổ điển đó thật lộng lẫy. Mercadante: bảy lời trăn trối cuối cùng. Thánh lễ thứ mười hai của Mozart: khúc Gloria trong đó. Mấy vị giáo hoàng thời xưa rất có gu thưởng thức âm nhạc, nghệ thuật, tượng điêu khắc và đủ loại tranh ảnh. Chẳng hạn như Palestrina cũng vậy. Thời hoàng kim của họ thật vui vẻ biết bao. Lại còn lành mạnh nữa chứ, tụng kinh, đúng giờ giấc, rồi nấu rượu thảo mộc. Rượu Benedictine. Rượu Chartreuse xanh. Dẫu vậy, việc có những kẻ hoạn quan trong dàn hợp xướng của họ thì hơi quá đà một chút. Giọng của bọn chúng là giọng gì nhỉ? Tò mò thật đấy khi được nghe sau những giọng trầm vang dội của chính họ. Những kẻ sành sỏi. Chắc sau đó bọn chúng chẳng còn cảm giác gì nữa đâu nhỉ. Một thứ cảm giác bình lặng. Chẳng màng lo âu. Trở nên béo tốt mập mạp đúng không? Phàm ăn, cao kều, chân dài. Ai mà biết được chứ? Hoạn quan. Cũng là một cách giải thoát.

Ông thấy cha xứ cúi xuống hôn bàn thờ rồi quay người lại ban phước cho toàn thể giáo dân. Tất cả đều làm dấu thánh và đứng dậy. Ông Bloom liếc nhìn xung quanh rồi đứng dậy, phóng tầm mắt qua những chiếc mũ đang nhấp nhô dựng lên. Tất nhiên là phải đứng dậy khi đọc phúc âm rồi. Sau đó mọi người lại quỳ sụp xuống và ông lặng lẽ ngồi thụp lại vào ghế băng của mình. Cha xứ bước xuống từ bệ thờ, tay giơ cao vật thánh, ngài và chú tiểu đáp từ cho nhau bằng tiếng Latinh. Rồi cha xứ quỳ xuống và bắt đầu đọc từ một tấm danh thiếp:

—Lạy Chúa, là nơi ẩn náu và là sức mạnh của chúng con...

Ông Bloom rướn người về phía trước để bắt lấy từng câu chữ. Bằng tiếng Anh. Ném cho chúng cục xương kìa. Mình vẫn nhớ lõm bõm đôi chút. Lần cuối bạn đi dự thánh lễ là từ bao giờ? Trinh nữ vinh quang và vô nhiễm. Giuse, bạn đời của người. Phê-rô và Phao-lô. Sẽ thú vị hơn nhiều nếu bạn hiểu được tất cả những chuyện này nói về cái gì. Quả là một tổ chức tuyệt vời, vận hành trơn tru như đồng hồ chạy cốt. Xưng tội. Ai cũng có nhu cầu đó. Rồi tôi sẽ kể cho anh nghe tất cả. Việc đền tội. Xin hãy trừng phạt tôi đi. Một thứ vũ khí lợi hại trong tay họ. Còn hơn cả bác sĩ hay luật sư. Phụ nữ khao khát được... Và tôi schschschschschsch. Và cô đã chachachachacha chưa? Và tại sao cô lại làm thế? Cúi xuống nhìn chiếc nhẫn trên tay để tìm lý do chữa thẹn. Những bức tường phòng thì thầm đều có tai. Chồng nghe xong ngỡ ngàng. Trò đùa nhỏ của Chúa. Rồi cô ta bước ra ngoài. Sự hối hận chỉ phớt qua ngoài da. Nỗi hổ thẹn ngọt ngào. Cầu nguyện trước bàn thờ. Kính mừng Maria và Thánh Maria. Hoa tươi, hương trầm, những ngọn nến đang tan chảy. Che đậy đi sự thẹn thùng của nàng. Phong trào Cứu thế quân chỉ là một trò bắt chước trơ trẽn. Một cô gái điếm hoàn lương sẽ lên phát biểu trước đám đông. Tôi đã tìm thấy Chúa như thế nào. Mấy gã đầu vuông ở Rome đó quả là cao tay: bọn chúng thâu tóm toàn bộ hệ thống. Và bọn chúng vơ vét tiền ác lắm chứ bộ? Cả tiền di chúc để lại nữa: giao cho cha sở đương nhiệm tùy nghi định đoạt tuyệt đối. Tiền làm lễ cầu cho linh hồn tôi được siêu thoát được cử hành công khai rộng cửa đón người. Các tu viện nam và nữ. Vị cha xứ trong vụ kiện di chúc ở Fermanagh xuất hiện trên ghế nhân chứng. Đừng hòng bắt nạt được lão. Lão có sẵn câu trả lời cho mọi tình huống. Sự tự do và tôn vinh của người mẹ thánh hiền hội thánh của chúng ta. Các vị tiến sĩ của giáo hội: họ vạch ra toàn bộ hệ thống thần học cho chuyện đó.

Cha xứ cầu nguyện:

—Lạy tổng lãnh thiên thần Micae, xin hãy bảo vệ chúng tôi trong giờ chiến đấu. Hãy làm tấm khiên che chở chúng tôi trước sự gian ác và cạm bẫy của ma quỷ (xin Chúa hãy kìm chế hắn, chúng tôi khiêm nhường nài xin!): và lạy ngài, thủ lĩnh của đạo binh thiên quốc, bằng quyền năng của Thiên Chúa, xin hãy đẩy Satan xuống nơi hỏa ngục cùng với những kẻ ác ôn đang lang thang khắp thế gian để hủy hoại các linh hồn.

Cha xứ và chú tiểu đứng dậy rồi bỏ đi. Thế là hết. Những người phụ nữ ở lại phía sau: dâng lời cảm tạ.

Chắc phải chuồn lẹ thôi. Thầy tu vo ve. Lại sắp mang đĩa đi quyên tiền rồi đấy. Hoàn thành nghĩa vụ lễ Phục sinh đi thôi.

Ông đứng dậy. Chào nhé. Hai chiếc cúc áo ghi-lê của mình bị mở suốt từ nãy đến giờ à? Phụ nữ thích thú lắm đây. Chẳng bao giờ thèm nhắc mình một tiếng. Nhưng chúng ta thì... Xin lỗi cô nhé, có một (whh!) chỉ là một (whh!) sợi tơ vướng thôi. Hoặc là váy của họ đằng sau bị tuột khuy cài. Thoáng nhìn thấy ánh trăng. Sẽ giận dữ nếu bạn không nhắc. Sao lúc nãy không bảo tôi sớm hơn. Dù sao thì trông cô lôi thôi thế này vẫn đáng yêu hơn. May mà nó không nằm tít xuống tận phía nam đấy. Ông vừa đi vừa kín đáo cài lại cúc áo dọc theo lối đi rồi bước qua cửa chính ra ngoài ánh sáng. Ông đứng ngẩn ngơ trong khoảnh khắc bên chiếc chậu đá cẩm thạch đen lạnh ngắt trong lúc ở trước và sau ông, hai con chiên đang thò những bàn tay lén lút vào vốc dòng nước thánh cạn rít. Xe điện: một chiếc xe của xưởng nhuộm màu Prescott: một góa phụ mặc đồ tang. Chú ý làm gì vì chính mình cũng đang chịu tang cơ mà. Ông đội mũ lên. Mấy giờ rồi nhỉ? Quá mười lăm phút rồi. Vẫn còn đủ thời gian. Tốt hơn là nên đi lấy đơn thuốc đó thôi. Đâu nhỉ? À đúng rồi, lần trước ở đây. Hiệu thuốc Sweny ở quảng trường Lincoln. Tiệm thuốc hiếm khi chuyển địa điểm lắm. Mấy cái lọ trưng bày màu xanh và vàng của họ nặng trịch chẳng muốn dịch chuyển. Hiệu thuốc Hamilton Long, thành lập từ năm có trận đại hồng thủy. Nghĩa trang Huguenot nằm gần đó. Hôm nào phải ghé qua mới được.

Ông đi về hướng nam dọc theo phố Westland Row. Nhưng đơn thuốc lại nằm ở chiếc quần bên kia mất rồi. Ồ, cả chìa khóa nhà cũng quên béng mất. Thật phiền phức cái đám tang này. Ồ mà thôi, tội nghiệp anh ta, đó đâu phải lỗi của anh ta. Lần trước mình đi lấy thuốc vào lúc nào nhỉ? Đợi đã. Nhớ là mình vừa đổi một đồng tiền vàng. Chắc là mùng một hoặc mùng hai đầu tháng. Ồ, hắn có thể tra lại trong sổ lưu đơn thuốc mà.

Người dược sĩ lật hết trang này đến trang khác. Hắn ta có cái mùi mốc meo quắt quéo thế nào ấy. Cái đầu lâu teo tóp. Lại còn già nữa chứ. Hành trình đi tìm hòn đá phù thủy. Những nhà giả kim thuật. Thuốc men làm con người ta già đi sau những phấn khích trí tuệ. Rồi sau đó là sự lờ đờ. Tại sao nhỉ? Phản ứng cơ thể. Cả một đời người gói gọn trong một đêm. Dần dần thay đổi tính cách của bạn. Sống cả ngày lẫn đêm giữa những loại thảo mộc, thuốc mỡ, chất khử trùng. Toàn bộ những chiếc lọ hoa huệ bằng thạch cao tuyết hoa của hắn. Cối và chày giã thuốc. Nước cất. Lá nguyệt quế. Chè xanh. Mùi thuốc suýt nữa thì chữa khỏi bệnh cho bạn giống như tiếng chuông cửa nhà nha sĩ vậy. Bác sĩ Whack. Lão ta cũng nên tự bốc thuốc uống lấy một ít. Thuốc cao dán hoặc nhũ dịch. Kẻ đầu tiên hái một loại thảo mộc để tự chữa bệnh cho mình chắc chắn phải có gan lắm. Những vị thuốc đơn giản. Cần phải cẩn trọng đấy. Ở đây có đủ thứ để gây mê chết người. Thử nghiệm: làm giấy quỳ tím chuyển sang màu đỏ. Thuốc mê Chloroform. Uống quá liều thuốc phiện. Thuốc ngủ. Thuốc kích thích tình yêu. Si rô hoa anh túc Paragoric trị ho rất tệ. Làm tắc nghẽn các lỗ chân lông hoặc đờm dãi. Độc dược lại chính là thuốc chữa duy nhất. Phương thuốc lại nằm ở nơi bạn ít ngờ tới nhất. Sự khéo léo của tự nhiên.

—Khoảng nửa tháng trước phải không thưa ông?

—Đúng vậy, ông Bloom nói.

Ông đứng chờ bên quầy thuốc, từ từ hít hà mùi hăng hắc sắc bén của thuốc men, cùng mùi khô ráp đầy bụi bặm của bọt biển và mướp xơ. Mất bao nhiêu là thời gian để kể lể mấy chỗ đau nhức trên người.

—Dầu hạnh nhân ngọt và cồn cánh kiến benzoin, ông Bloom nói, rồi cả nước hoa cam nữa...

Thứ đó chắc chắn làm cho làn da của mụ ta trắng mịn màng như sáp vậy.

—Và cả sáp trắng nữa, ông ấy nói.

Làm nổi bật lên đôi mắt thẳm sâu của nàng. Nhìn tôi, chiếc chăn kéo tận lên mắt, mang phong cách Tây Ban Nha, tự thưởng thức mùi hương của chính mình lúc tôi đang cài khúc khuyết tay áo. Những công thức dân gian đó thường là tốt nhất: dâu tây làm trắng răng: lá tầm ma và nước mưa: người ta bảo bột yến mạch ngâm trong bơ sữa. Thức ăn cho da. Một trong những người con trai của nữ hoàng già, công tước xứ Albany phải không nhỉ? chỉ có một lớp da duy nhất. Leopold, đúng rồi. Chúng ta thì có tới ba lớp. Mụn cóc, vết chai chân và mụn nhọt làm cho nó càng tồi tệ hơn. Nhưng bạn cũng cần phải có cả nước hoa nữa chứ. Vợ anh dùng loại nước hoa gì? Nước hoa Peau d’Espagne. Nước hoa cam đó tươi mát thật đấy. Mấy loại xà phòng này thơm dễ chịu ghê. Xà phòng cục nguyên chất. Đã đến lúc ghé qua nhà tắm ở góc phố rồi. Nhà tắm Hammam. Kiểu Thổ Nhĩ Kỳ. Mát-xa. Ghét bẩn vo tròn lại đọng hết trong rốn. Sẽ tuyệt hơn nếu có một cô gái xinh đẹp làm cho việc đó. Hơn nữa tôi nghĩ tôi cũng... Vâng, chính tôi. Tự làm trong bồn tắm. Cảm giác thèm thuồng kỳ lạ... Nước hòa quyện với nước. Kết hợp công việc với niềm vui. Tiếc là không có thời gian để mát-xa. Làm thế thì cả ngày sẽ thấy sảng khoái. Đám tang có vẻ ảm đạm thế nào ấy.

—Vâng, thưa ông, người dược sĩ nói. Tổng cộng là hai si-ling chín xu. Ông có mang theo chai lọ gì không?

—Không, ông Bloom nói. Cứ pha chế đi nhé. Lát nữa quay lại tôi sẽ lấy và mua thêm một bánh xà phòng này nữa. Bao nhiêu tiền một cục thế?

—Bốn xu thưa ông.

Ông Bloom đưa một bánh xà phòng lên mũi ngửi. Mùi sáp thơm ngọt ngào mùi chanh.

—Tôi lấy cục này, ông ấy nói. Vậy là ba si-ling một xu phải không.

—Vâng, thưa ông, người dược sĩ nói. Ông có thể thanh toán một thể luôn khi quay lại nhé, thưa ông.

—Được thôi, ông Bloom nói.

Ông thong thả bước ra khỏi cửa tiệm, cuộn báo kẹp dưới nách, tay trái cầm bánh xà phòng bọc giấy mát lạnh.

Giọng nói và bàn tay của Bantam Lyons vang lên ngay sát nách ông:

—Chào Bloom. Có tin tức gì mới nhất chưa? Đây có phải là báo hôm nay không? Cho tớ mượn xem một tí nào.

Lại cạo sạch râu mép rồi kìa, chao ôi! Phần môi trên dài và lạnh ngắt. Để trông trẻ ra ấy mà. Trông lão ta ngớ ngẩn thật đấy. Trông còn trẻ hơn cả mình.

Những ngón tay vàng khè bám đầy ghét đen của Bantam Lyons giở cuộn báo ra. Lại còn lười tắm nữa chứ. Gột rửa mấy thứ bẩn thỉu bám đầy người đi chứ. Chào buổi sáng, anh đã dùng xà phòng Pears chưa đấy? Gàu đầy trên vai kìa. Da đầu chắc phải bôi dầu vào thôi.

—Tớ đang muốn xem thông tin về con ngựa đua của Pháp chạy ngày hôm nay, Bantam Lyons nói. Cái con khỉ mốc ấy trốn ở xó nào rồi nhỉ?

Anh ta lật sột soạt những trang báo được gấp nếp, cái cằm hếch lên trên chiếc cổ áo cao cứng đơ. Bệnh ghét của thợ cạo. Cổ áo chật thế này thể nào cũng bị rụng tóc cho xem. Tốt nhất là cứ để lại tờ báo cho hắn rồi chuồn cho nhanh.

—Cậu cứ giữ lấy mà đọc đi, ông Bloom nói.

—Ascot. Cúp vàng. Đợi tí, Bantam Lyons lẩm bẩm. Chờ nửa phút xem nào. Con số tối đa thứ hai.

—Tớ đang định vứt nó đi mà, ông Bloom nói.

Bantam Lyons giật mình ngước mắt lên, liếc nhìn với vẻ ngây ngô.

—Cậu vừa nói gì cơ? giọng hắn lanh lảnh vang lên.

—Tớ bảo cậu cứ giữ lấy mà đọc đi, ông Bloom đáp. Tớ đang định vứt nó đi ngay lúc nãy đây.

Bantam Lyons thoáng hoài nghi, nheo mắt cười nhạt: rồi nhét ngược lại những trang báo đang mở rộng vào tay ông Bloom.

—Tớ cứ thử liều một phen xem sao, hắn nói. Nào, cảm ơn nhé.

Anh ta chuồn thẳng về hướng góc phố Conway. Chúc cẩu tặc thuận buồm xuôi gió.

Ông Bloom lại gấp gọn các trang báo thành hình vuông vắn và nhét bánh xà phòng vào giữa, mỉm cười. Cái miệng ngớ ngẩn của lão ta. Cá độ ấy mà. Gần đây chuyện đó nở rộ như nấm sau mưa. Lũ đưa thư ăn cắp tiền để đặt cược sáu xu. Xổ số quay trúng con gà tây béo ú. Bữa tối giáng sinh chỉ với ba xu. Jack Fleming biển thủ tiền để cờ bạc rồi vượt ngục sang Mỹ. Giờ đang làm chủ khách sạn. Bọn chúng chẳng bao giờ quay về cả. Nồi cơm thịt Ai Cập.

Ông vui vẻ bước về phía đền thờ của nhà tắm. Trông giống như một ngôi nhà thờ Hồi giáo vậy, những viên gạch nung đỏ, những ngọn tháp nhọn. Hôm nay có hội thao sinh viên thì phải. Ông đưa mắt ngắm tấm bích chương hình móng ngựa treo trên cổng công viên trường đại học: hình ảnh tay đua xe đạp gập người lại như con cá tuyết trong nồi. Quảng cáo dở tệ. Lẽ ra họ phải làm nó hình tròn như cái bánh xe chứ. Rồi các căm xe: thể thao, thể thao, thể thao: và cái trục bánh xe thật to: trường đại học. Phải có cái gì đó bắt mắt chứ.

Kia kìa Hornblower đang đứng ở phòng gác cửa. Phải giữ quan hệ với lão ta: nhỡ đâu lại được vào trong mà không cần vé. Chào anh Hornblower? Chào ngài?

Thời tiết đúng là tuyệt vời. Ước gì cuộc sống lúc nào cũng được như thế này. Thời tiết thích hợp để chơi cricket. Ngồi quây quần bên nhau dưới những chiếc ô che nắng. Hết lượt chơi này đến lượt chơi khác. Bị loại. Bọn họ ở đây không biết chơi môn này. Mất sáu wicket mà chẳng ghi được điểm nào. Dẫu vậy đại úy Culler từng đập vỡ cửa sổ của câu lạc bộ phố Kildare bằng một cú đánh thuận tay vung mạnh về phía chân. Hội chợ Donnybrook chắc hợp với bọn họ hơn. Và những cái đầu mà chúng ta từng đập vỡ khi M’Coy bước lên sàn đấu. Sóng nhiệt. Sẽ không kéo dài lâu đâu. Dòng đời cứ thế trôi đi, dòng đời mà trong đó chúng ta nhận ra còn đáng quý hơn tất cả mọi thứ trên đời.

Tận hưởng một bồn tắm lúc này thì quá tuyệt: bồn nước sạch sẽ, lớp men mát lạnh, dòng nước ấm áp nhẹ nhàng mơn man. Đây là thân thể của tôi.

Ông tưởng tượng ra cơ thể nhợt nhạt của mình đang ngả ngốn toàn bộ trong làn nước ấm áp của chiếc bồn, hoàn toàn khỏa thân, được bao bọc trong lòng dạ ấm nồng, được xoa dầu bằng thứ xà phòng thơm đang tan chảy, được gột rửa một cách mơn man. Ông nhìn thấy phần thân và tứ chi của mình nhấp nhô gợn sóng và được nâng đỡ, bồng bềnh nổi nhẹ lên phía trên, vàng óng như chanh: chiếc rốn, nụ hoa của thịt da: và nhìn thấy đám lông xoăn đen sì của vùng kín đang nổi bồng bềnh, đám lông trôi bồng bềnh của dòng suối xung quanh người cha lười biếng của muôn loài, giống như một đóa hoa đang lững lờ trôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.