Ulysses

Lượt đọc: 202 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

Tôi đang đứng tản mạn với lão Troy thuộc lực lượng C. M. P. ở góc đường Arbour Hill thì khốn nạn thay, một tên phu quét ống khói máu lạnh đi tới và suýt nữa chọc luôn cả bộ đồ nghề vào mắt tôi. Tôi quay lại định cho hắn nếm mùi lợi hại của cái lưỡi này, nào ngờ người đang lảng vảng dọc theo Stony Batter lại chính là Joe Hynes.

—Chào Joe, tôi lên tiếng. Dạo này làm ăn thế nào? Cậu có thấy cái tên thợ quét ống khói chết tiệt kia suýt móc mắt tớ ra bằng cái chổi của hắn không?

—Xui xẻo đầu năm thôi, Joe đáp. Thằng quái quỷ nào mà cậu vừa buôn chuyện cùng thế?

—Lão Troy, tôi bảo, trước ở trong cảnh sát. Tớ đang phân vân không biết có nên tóm cổ tên ôn con đó vì tội cản trở giao thông bằng mấy cái chổi với thang của hắn không đây.

—Cậu lảng vảng quanh khu này làm gì thế? Joe hỏi.

—Chẳng có tích sự gì sất, tôi đáp. Có một lão ăn cắp cáo già khốn kiếp ở đằng kia, sát nhà thờ đồn trú ở góc đường Chicken lane—lão Troy vừa mới mách nước cho tớ về lão ta—vơ vét không biết bao nhiêu là trà với đường để rồi quỵt ba si-linh một tuần, lão ta khoe có một trang trại ở hạt Down mua lại từ một thằng nhãi ranh tên là Moses Herzog ở đâu đó gần đường Heytesbury.

—Bị cắt bao quy đầu à? Joe hỏi.

—Ừ, tôi bảo. Cắt một nhát ở chóp. Một lão thợ sửa ống nước tên là Geraghty. Tớ đang bám riết lấy lão ta cả nửa tháng nay mà chẳng đòi nổi một xu.

—Vụ làm ăn mới của cậu đấy à? Joe hỏi.

—Ừ, tôi đáp. Thời oanh liệt nay còn đâu! Chuyên gia thu hồi nợ khó đòi. Nhưng đấy là tên cướp khốn nạn khét tiếng nhất mà cậu từng gặp trong đời, mặt rỗ chằng rỗ chịt chứa đủ nước mưa cho một trận cuồng phong. Lão bảo rằng, cứ nhắn lại với hắn là lão thách, vâng, lão thách đố và thách đố gấp đôi để xem dám bén mảng đến đây lần nữa không, còn nếu dám á, lão sẽ lôi cổ ra tòa vì tội buôn bán không giấy phép cho mà xem. Thế mà lão ta vừa nốc cho chả ăn thua gì nữa. Chúa ơi, tớ cứ phải phì cười khi thấy cái thằng Do Thái ranh con đấy nổi khùng lên. Nó uống trà của tao. Nó ăn đường của tao. Chỉ vì nó không trả tiền cho tao á?

Đối với hàng hóa không mau hỏng được mua từ Moses Herzog, ngụ tại 13 Saint Kevin’s parade thuộc thành phố Dublin, khu phố Wood quay, thương gia, sau đây gọi là bên bán, và đã được bán và giao cho Michael E. Geraghty, quý ông, ngụ tại 29 Arbour hill thuộc thành phố Dublin, khu phố Arran quay, quý tộc, sau đây gọi là bên mua, cụ thể là năm cân Anh chè loại thượng hạng với giá ba si-linh và không xu cho mỗi cân Anh và ba thạch cân Anh đường, loại tinh thể nghiền, với giá ba xu cho mỗi cân Anh, vị khách mua trên nợ bên bán trên số tiền một bảng lăm si-linh sáu xu tiền mặt cho giá trị đã nhận, khoản tiền này sẽ được bên mua thanh toán cho bên bán bằng các kỳ hạn hằng tuần cứ mỗi bảy ngày dương lịch là ba si-linh và không xu tiền mặt: và số hàng hóa không mau hỏng nói trên sẽ không được mang đi cầm cố, thế chấp, bán hoặc chuyển nhượng dưới bất kỳ hình thức nào bởi bên mua mà sẽ là, vẫn là và được coi là tài sản độc quyền duy nhất của bên bán để tùy nghi định đoạt theo ý muốn và sở thích cho đến khi số tiền nói trên đã được bên mua thanh toán đầy đủ cho bên bán theo phương thức được quy định tại đây như đã được thỏa thuận vào ngày hôm nay giữa một bên là bên bán, những người thừa kế, những người kế nhiệm, các ủy thác viên và những người được chuyển nhượng của bên đó và bên kia là bên mua, những người thừa kế, những người kế nhiệm, các ủy thác viên và những người được chuyển nhượng của bên này.

—Cậu cai rượu tuyệt đối à? Joe hỏi.

—Chẳng húp giọt nào giữa những bận nhậu nhẹt, tôi đáp.

—Hay là chúng ta ghé thăm hỏi người quen cũ nhỉ? Joe đề nghị.

—Ai cơ? tôi đáp. Chứ gì nữa, lão ấy đang ở nhà thương điên John of God rồi còn gì, tội nghiệp.

—Lại tự uống nước của mình à? Joe hỏi.

—Ừ, tôi đáp. Uống whisky pha nước vào não.

—Ghé quán Barney Kiernan đi, Joe bảo. Tớ muốn gặp tay công dân.

—Quán của Barney cưng thì quán, tôi đáp. Có gì lạ hay hay không, Joe?

—Chẳng có gì, Joe bảo. Tớ vừa mới tới cuộc họp ở City Arms về.

—Cuộc họp gì thế, Joe? tôi hỏi.

—Mấy tay buôn gia súc, Joe đáp, bàn về bệnh lở mồm long móng. Tớ muốn xì cho tay công dân chút tin tức về vụ đó.

Thế là chúng tôi đi vòng qua doanh trại Linenhall và phía sau tòa án, vừa đi vừa bàn chuyện nọ chuyện kia. Joe cũng là một tay được đấy khi có tiền, ngặt một nỗi hắn chẳng bao giờ có tiền. Chúa ơi, tớ vẫn không thể nuốt trôi cái tên cáo già Geraghty khốn kiếp ấy, một tên cướp ban ngày. Buôn bán không giấy phép cơ đấy, hắn bảo thế.

Ở Inisfail xinh đẹp có một vùng đất, vùng đất của thánh Michan. Nơi đó sừng sững một đài quan sát mà người đời có thể chiêm ngưỡng từ chốn xa xôi. Nơi ấy những bậc hiền nhân đã khuất ngủ yên như khi họ còn sống, những chiến binh và vương hầu vang bóng một thời. Quả thật đó là một vùng đất tươi đẹp với những dòng nước róc rách, những con suối dập dìu cá tôm, nào cá đối, cá bơn, cá rô, cá bơn chấm, cá thu nhỏ bướu, cá hồi con, cá bơn vằn, cá bơn sao, cá bơn chấm, cá pollock, đủ các loại cá tạp nói chung cùng muôn loài cư dân dưới thủy quốc nhiều vô kể không sao kể xiết. Trong những làn gió hiu ríu của phương Tây và phương Đông, những tán cây cao vút tung mái lá thượng hạng của chúng về muôn hướng, nào cây sung dâu đung đưa, cây tuyết tùng Lebanon, cây phong cao vút, cây khuynh diệp thanh tao cùng bao kỳ quan khác của thế giới thảo mộc mà vùng đất ấy được thiên nhiên ưu đãi vô cùng phong phú. Những thiếu nữ kiều diễm ngồi sát bên rễ của những cội cây xinh đẹp cất tiếng ca những khúc ca tuyệt mỹ nhất trong khi đùa giỡn với đủ loại vật phẩm đáng yêu chẳng hạn như những thỏi vàng, những chú cá bạc, những sọt cá trích, những mẻ lươn, cá tuyết non, những sọt cá nhỏ, những viên ngọc biển tím ngắt và những loài côn trùng tinh nghịch. Và những người anh hùng từ muôn phương vượt trùng khơi tới để cầu hôn họ, từ Eblana đến Slievemargy, những vị vương tử vô song của xứ Munster phóng khoáng, của xứ Connacht công chính, của xứ Leinster êm đềm mượt mà, của vùng đất Cruachan, của xứ Armagh lừng lẫy và của vùng đất cao quý Boyle, những bậc vương tôn công tử.

Và nơi đó hiện lên một cung điện nguy nga rực rỡ với mái nhà bằng pha lê lấp lánh có thể được nhìn thấy bởi những người thủy thủ đang băng qua vùng biển rộng lớn trên những con tàu được đóng riêng cho mục đích ấy, và tất cả các đàn gia súc, thú béo cùng hoa lợi đầu mùa của vùng đất ấy đều đổ về đó bởi O’Connell Fitzsimon chính là kẻ thu thuế ở đó, một tù trưởng dòng dõi đời đời làm tù trưởng. Nơi đó những chiếc xe bò cực lớn chở đầy hoa trái đồng ruộng, những sọt súp lơ, những xe rau bina, những khúc dứa, đậu Rangoon, những thùng cà chua, những tráp vả, những luống củ cải Thụy Điển, những củ khoai tây tròn vo và những bó cải xoăn ánh sắc cầu vồng, cải York, cải Savoy, cùng những trạm hành tây, những viên ngọc của mặt đất, những giỏ nấm, những quả bí ngô nục ních, những giạ đậu tằm, lúa mạch đen, cải dầu, cùng những quả táo chín mọng to ngọt cay đắng đủ màu đỏ xanh vàng nâu hạt dẻ, những rổ dâu tây, những sàng quả lý gai cùi thịt mọng nước, cùng những trái dâu tây xứng tầm vương giả và những quả mâm xôi hái từ cành.

Ta thách nó, hắn bảo, và ta thách đố gấp đôi. Ra đây xem nào, Geraghty, cái tên cướp khét tiếng giữa đồi núi giang san này!

Và trên con đường ấy xuôi ngược vô số đàn cừu đầu đàn, cừu cái hây hấy, cừu đực tơ, cừu con, ngỗng đồng stubble, bò tơ trung bình, ngựa cái lồng lộn, bê không sừng, cừu lông dài, cừu tơ, những con bò tơ xuân thượng hạng của Cuffe, cừu loại thải, lợn nái, lợn thịt mỡ cùng đủ các giống lợn vô cùng danh tiếng khác, những con bò tơ giống Angus và bò đực không sừng phả hệ thuần khiết cùng với những con bò cái vắt sữa và bò thịt đạt giải thưởng thượng hạng: và người ta luôn nghe thấy tiếng giậm chân, cục tác, lồng lộn, rống, bê, rống lớn, ầm ầm, ụt ịt, nhai tóp tép của cừu, lợn và gia súc móng guốc nặng nề từ những đồng cỏ ở Lusk, Rush, Carrickmines và từ những thung lũng suối mát của Thomond, từ dãy M’Gillicuddy’s reeks bất khả xâm phạm và dòng Shannon oai phong không đáy, và từ những sườn dốc thoai thoải của vùng đất dòng dõi Kiar, với những bầu vú căng phồng dòng sữa ngọt trào dâng, những vại bơ, những mẻ váng sữa cục, những thùng gỗ nhỏ của nông dân, những miếng thịt cừu, những thùng ngũ cốc lớn và những quả trứng hình bầu dục đếm không xuể, đủ mọi kích cỡ, quả mã não sánh cùng quả xám xịt.

Thế là chúng tôi rẽ vào quán Barney Kiernan và ở đó, quả nhiên, tay công dân đang ngồi thu lu trong góc say sưa tranh luận một mình với con chó lai ghẻ lở chết tiệt ấy là Garryowen, trong lúc hắn đang chờ xem trời ban cho thứ rượu gì.

—Kìa hắn kìa, tôi bảo, trong cái xó vinh quang của hắn, với vại bia cruiskeen lawn và đống giấy tờ ngập đầu, đang vì đại nghĩa mà phấn đấu.

Con chó lai khốn kiếp cất lên một tiếng gầm gừ khiến người ta nổi cả da gà. Phải chi có ai đó ra tay trừ khử cái giống chó chết tiệt ấy thì đúng là một việc phúc đức vô lượng. Tớ nghe người ta kể chắc như đinh đóng cột rằng nó đã ngoạm gần trụi chiếc quần của một tay cảnh sát ở Santry, kẻ từng lảng vảng tới đây một dạo với một tờ giấy xanh nhắc nhở về chuyện giấy phép.

—Đứng lại và nộp mạng, nó gầm lên.

—Không sao đâu, công dân, Joe nói. Toàn người nhà cả.

—Cho qua, người nhà, hắn bảo.

Rồi hắn dụi tay vào mắt và cất giọng:

—Cậu nghĩ thế nào về thời thế hiện nay?

Ra điều anh hùng cướp bóc Rory trên đỉnh đồi. Nhưng mả cha nó, Joe cũng chẳng phải dạng vừa.

—Tớ nghĩ thị trường đang trên đà tăng giá, cậu ta vừa nói vừa thọc tay vào túi quần.

Thế là mả cha nó, tay công dân đập đét bàn tay lên đầu gối rồi phán:

—Chiến tranh ngoại bang là thủ phạm gây ra chứ gì nữa.

Rồi Joe vừa thò ngón cái vào túi vừa đáp:

—Chính bọn Nga ngố đang lăm le bá quyền chứ sao.

—Thôi đi mấy cái trò tào lao bỉ ổ của cậu đi, Joe, tôi càu nhàu. Tớ đang khát khô cổ mà có trả nửa vương-miệng tớ cũng chẳng thèm bán cơn khát này đâu.

—Muốn uống gì cứ gọi tên đi, công dân, Joe bảo.

—Vang chính gốc quê nhà, hắn đáp.

—Còn cậu thì sao? Joe hỏi.

—Cũng như MacAnaspey thôi, tôi đáp.

—Cho ba vại đi Terry, Joe gọi. Dạo này trái tim già nua thế nào rồi hở công dân? cậu ta hỏi thêm.

—Không thể tuyệt hơn được nữa, a chara (bạn hiền) ạ, hắn đáp. Thế còn Garry? Chúng ta sắp thắng chưa? Hả?

Nói đoạn hắn túm lấy cổ con chó khốn kiếp nọ và mả cha nó, suýt nữa thì hắn bóp cổ nó chết tươi.

Hình ảnh kẻ đang ngồi trên một tảng đá lớn dưới chân một ngọn tháp tròn chính là hiện thân của một vị anh hùng vai rộng ngực sâu chân tay vạm vỡ ánh mắt thẳng thắn tóc đỏ lốm đốm tàn nhang râu rậm xồm xoàm miệng rộng mũi to đầu lớn giọng trầm đầu gối trần tay gân guốc chân lông lá mặt hồng hào bắp tay cuồn cuộn. Khoảng cách từ vai này sang vai kia của hắn rộng tới vài sải tay và đôi đầu gối tựa đá núi của hắn được phủ kín, cũng giống như phần còn lại trên cơ thể hắn ở những nơi có thể nhìn thấy được, bởi một lớp lông tơ cứng cáp tua tủa có màu sắc và độ cứng hệt như loài đậu chổi mọc trên núi (Ulex Europeus). Hai bên cánh mũi rộng với những chiếc lông cứng màu nâu đỏ mọc tủa ra mang một dung tích lớn đến mức bên trong cái hang tối tăm ấy, một con sơn ca hoàn toàn có thể làm tổ. Đôi mắt nơi mà giọt nước mắt và nụ cười luôn tranh giành vị trí thống trị có kích thước lớn tương đương một cái bắp cải cỡ trung bình. Một luồng hơi ấm mạnh mẽ đều đặn thoát ra từ cái hang sâu thẳm trong miệng hắn, trong khi những tiếng vang vọng trầm hùng, mạnh mẽ và vang dội của trái tim cường tráng phi thường cứ rền vang ầm ầm khiến cho mặt đất, đỉnh ngọn tháp cao vút và cả những bức tường còn cao hơn nữa của hang động đều phải rung chuyển và run rẩy.

Hắn mặc một chiếc áo dài không tay làm bằng da bò mới lột thả buông tới đầu gối theo kiểu váy kilt rộng thùng thình và được thắt ngang lưng bằng một chiếc dây nịt tết từ rơm và sậy. Bên dưới chiếc áo đó, hắn mặc một chiếc quần dài bằng da hươu được khâu thô sơ bằng gân động vật. Đôi chân bên dưới được bọc trong những đôi bốt cao đến từ Balbriggan được nhuộm màu tím của địa y, bàn chân xỏ trong những đôi giày da bò ướp muối buộc dây bằng chính khí quản của con vật đó. Từ thắt lưng hắn rủ xuống một hàng đá biển khẽ kêu lanh lảnh theo mỗi chuyển động của thể vóc vĩ đại và trên những viên đá ấy được khắc họa bằng một nghệ thuật thô sơ nhưng đầy ấn tượng hình ảnh bộ tộc của nhiều anh hùng và nữ anh hùng Ireland thời cổ đại, Cuchulin, Conn trăm trận trăm thắng, Niall chín con tin, Brian xứ Kincora, vị đại vương Malachi, Art MacMurragh, Shane O’Neill, cha xứ John Murphy, Owen Roe, Patrick Sarsfield, Red Hugh O’Donnell, Red Jim MacDermott, Soggarth Eoghan O’Growney, Michael Dwyer, Francy Higgins, Henry Joy M’Cracken, Goliath, Horace Wheatley, Thomas Conneff, Peg Woffington, người thợ rèn trong làng, Đại úy Moonlight, Đại úy Boycott, Dante Alighieri, Christopher Columbus, S. Fursa, S. Brendan, Nguyên soái MacMahon, Charlemagne, Theobald Wolfe Tone, Thân mẫu nhà Maccabees, Người cuối cùng của bộ tộc Mohicans, Đóa hồng xứ Castile, Chàng trai xứ Galway, Kẻ phá băng ngân hàng ở Monte Carlo, Người gác đèo, Người phụ nữ từ chối, Benjamin Franklin, Napoléon Bonaparte, John L. Sullivan, Cleopatra, Savourneen Deelish, Julius Caesar, Paracelsus, Ngài Thomas Lipton, William Tell, Michelangelo Hayes, Muhammad, Nữ nhân xứ Lammermoor, Ẩn sĩ Peter, Peter vị quan tòa, Dark Rosaleen, Patrick W. Shakespeare, Khổng Tử Brian, Murtagh Gutenberg, Patricio Velasquez, Thuyền trưởng Nemo, Tristan và Isolde, Thân vương xứ Wales đầu tiên, Thomas Cook và con trai, Chàng lính dũng cảm, Arrah na Pogue, Dick Turpin, Ludwig Beethoven, Nữ nhân xứ Brien, Waddler Healy, Angus đan sĩ dòng Culdee, Dolly Mount, Sidney Parade, Đỉnh Howth, Valentine Greatrakes, Adam và Eva, Arthur Wellesley, Trùm Boss Croker, Herodotus, Kẻ diệt người khổng lồ, Phật Thích Ca, Nữ công tước Godiva, Đóa bách hợp xứ Killarney, Balor mắt ác, Nữ hoàng xứ Sheba, Acky Nagle, Joe Nagle, Alessandro Volta, Jeremiah O’Donovan Rossa, Don Philip O’Sullivan Beare. Một cây giáo đầu nhọn đặt nằm ngang tựa sát bên hắn, trong khi ngay dưới chân hắn là một con mãnh thú thuộc loài chó có những tiếng thở khò khè báo hiệu rằng nó đang chìm trong giấc ngủ mông lung, một phỏng đoán được củng cố bởi những tiếng gầm gừ khàn đọng và những cử động co giật mà người chủ của nó thỉnh thoảng lại kìm hãm bằng những cú đánh xoa dịu bằng một cây gậy khổng lồ làm bằng đá thời đại đồ đá cũ.

Thế là thế nào Terry cũng mang ra ba vại bia mà Joe vừa hầu và mả cha nó, mắt tôi suýt lồi cả ra ngoài khi thấy hắn rút ra một đồng vàng. Ồ, thề có Chúa là tôi không nói điêu đâu. Một đồng chủ quyền đẹp mã.

—Và còn nhiều lắm ở cái xó nào đó xuất phát cơ, hắn nói.

—Cậu đi ăn cắp tiền quyên góp của người nghèo đấy à, Joe? tôi hỏi.

—Mồ hôi nước mắt của tớ đấy, Joe đáp. Chính hội viên thận trọng đã mách nước cho tớ đấy chứ.

—Tớ thấy lão ta trước khi gặp cậu, tôi nói, lảng vảng quanh ngõ Pill và phố Greek với cái mắt cá chết trôi đang đếm từng khúc ruột cá.

Kẻ nào đang bước qua vùng đất của Michan, khoác trên mình bộ giáp đen tuyền? O’Bloom, con trai của Rory: chính là hắn. Kẻ bất khuất trước hiểm nguy chính là con trai của Rory: một người với tâm hồn thận trọng.

—Dành cho mụ già phố Prince’s, tay công dân nói, cái cơ quan ngôn luận được mua chuộc. Cái bọn bị xiềng xích trên sàn quốc hội. Và hãy nhìn cái giẻ rách chết tiệt này xem, hắn nói. Hãy nhìn cái này xem, hắn nói. Tờ Irish Independent đấy, xin thưa, do Parnell sáng lập để làm bạn với giai cấp công nhân. Hãy lắng nghe chuyên mục sinh tử trên tờ Irish all for Ireland Independent xem nào, xin cảm ơn, và cả chuyên mục kết hôn nữa chứ.

Rồi hắn bắt đầu đọc to lên:

—Gordon, công viên Barnfield, Exeter; Redmayne thuộc Iffley, Saint Anne’s on Sea: vợ của William T Redmayne hạ sinh một quý tử. Thế nào hả, hử? Wright và Flint, Vincent và Gillett gửi Rotha Marion, ái nữ của Rosa và cố gia thất George Alfred Gillett, số 179 đường Clapham, Stockwell, Playwood và Ridsdale tại nhà thờ Saint Jude, Kensington dưới sự chủ trì của cha bề trên đáng kính Tiến sĩ Forrest, đại giáo chủ xứ Worcester. Thế nào? Mục cáo phó. Bristow, tại ngõ Whitehall, London: Carr, Stoke Newington, do chứng viêm dạ dày và bệnh tim: Cockburn, tại trang viên Moat house, Chepstow...

—Tớ biết thừa cái tay đó, Joe nói, qua những bài học xương máu.

—Cockburn. Dimsey, phu nhân của David Dimsey, cựu nhân viên bộ hải quân: Miller, Tottenham, thọ tám mươi lăm tuổi: Welsh, ngày 12 tháng 6, tại số 35 đường Canning, Liverpool, Isabella Helen. Thế nào là một tờ báo quốc gia hả, hử cậu bạn da nâu của tôi! Thế nào là Martin Murphy, cái tên buôn bán chụp giựt ở Bantry?

—Thôi nào, Joe nói, vừa chuyền tay nhau vạ rượu. Tạ ơn Chúa vì bọn chúng đã nhanh chân hơn chúng ta. Uống đi, công dân.

—Ta uống đây, vị nhân sĩ khả kính, hắn đáp.

—Chúc sức khỏe nhé Joe, tôi nói. Và tất cả mọi người có mặt ở đây.

Ái! Ôi! Đừng có nhắc nữa! Tôi đang xanh mét cả người vì thèm vại bia đó. Thề có Chúa là tôi có thể nghe thấy tiếng nó rơi tõm xuống đáy dạ dày một cái “cách” rõ to.

Và kìa, khi họ vừa cạn chén vui, một sứ giả tựa thần linh nhanh nhẹn bước vào, rạng rỡ như con ngươi của thiên đường, một thiếu niên tuấn tú và theo sau hắn là một bậc trưởng thượng với dáng đi và dung mạo quý phái, mang theo những cuộn kinh thánh thiêng liêng cùng đi với người là hiền thê của ông, một phu nhân dòng dõi vô song, đẹp nhất trong loài người.

Alf Bergan lỏ mắt ngó vào cửa rồi nấp sau vách ngăn của Barney, cười rũ rượi đến mức co rút cả người. Và ai đang ngồi tít trong góc mà tôi nãy giờ không để ý đang ngáy khò khò say khướt không biết trời đất là gì hóa ra lại là Bob Doran. Tôi chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra trong khi Alf cứ liên tục ra hiệu ngoài cửa. Và mả cha nó, hóa ra chẳng có gì ngoài cái lão hề già Denis Breen đang đi đôi dép lê trong nhà, kẹp chặt hai cuốn sách to tướng dưới nách trong khi bà vợ đang hớt hải đuổi theo sau, người đàn bà khốn khổ tội nghiệp, lóc cóc chạy như một con chó xù. Tôi cứ tưởng Alf sẽ cười nứt cả ruột.

—Nhìn lão kìa, cậu ta nói. Breen đấy. Lão đang lê lết khắp Dublin với cái bưu thiếp mà ai đó gửi cho lão có chữ U. p: up trên đó để kiện tụng... vạ... vạ...

Và cậu ta lại gập người vì cười.

—Kiện cái gì cơ? tôi hỏi.

—Vụ kiện phỉ báng, cậu ta đáp, đòi mười ngàn bảng.

—Ôi chúa ơi! tôi thốt lên.

Con chó lai khốn kiếp bắt đầu gầm gừ khiến người ta nổi da gà khi thấy có chuyện chẳng lành, nhưng tay công dân đã giáng cho nó một cú đá vào mạn sườn.

—Bi i dho husht (Câm mồm đi), hắn quát.

—Ai thế? Joe hỏi.

—Breen chứ ai, Alf đáp. Lão từng ở văn phòng John Henry Menton rồi ghé qua chỗ Collis and Ward, xong Tom Rochford gặp lão liền chỉ vẽ cho lão ra tòa án thượng thẩm cho vui. Ồ Chúa ơi, tôi đau cả bụng vì cười đây này. U. p: up. Tay cao lều khều kia liếc lão một cái bén như trát tòa, và giờ cái lão khùng già chết tiệt ấy lại lượn ra phố Green để tìm một tên thám tử chìm rồi.

—Khi nào tay John cao kều mới treo cổ cái tên đó ở Mountjoy thế? Joe hỏi.

—Bergan, Bob Doran vừa lầm bầm vừa tỉnh giấc. Có phải Alf Bergan đấy không?

—Ừ, Alf đáp. Treo cổ á? Đợi tớ cho cậu xem cái này nhé. Này Terry, cho tớ một ly nhỏ đi. Cái lão khùng khốn nạn ấy! Mười ngàn bảng. Cậu phải thấy cái liếc mắt của tay John cao kều cơ. U. p....

Và cậu ta lại bắt đầu cười nắc nẻ.

—Cậu đang cười ai thế hả? Bob Doran hỏi. Có phải Bergan đấy không?

—Nhanh lên chú em Terry ơi, Alf giục.

Terence O’Ryan nghe thấy liền lập tức mang ra một chiếc cốc thủy tinh đầy ắp thứ bia đen sủi bọt mà đôi anh em song sinh cao quý Bungiveagh và Bungardilaun vẫn thường ủ trong những thùng bia thần thánh của họ, khéo léo chẳng kém gì những người con của nàng Leda bất tử. Bởi vì họ thu gom những chùm hoa bia mọng nước rồi nghiền nát, rây lọc, giã nhuyễn và nấu chúng, rồi họ pha thêm vào đó những thứ nước chua và đưa phần dung dịch lên ngọn lửa thiêng, ngày đêm không ngớt tay lao động, những người anh em tài hoa ấy, những chúa tể của thùng ủ.

Khi ấy chính ngài Terence hào hiệp mới trao ra, với phong thái tự nhiên như vốn có, thứ thức uống đậm hương vị mật nectar ấy và ngài dang tay mời chiếc cốc thủy tinh cho kẻ đang khát, một tâm hồn hiệp sĩ, với vẻ đẹp tựa các vị thần linh.

Nhưng chàng thủ lĩnh trẻ tuổi nhà O’Bergan, làm sao có thể chịu thua kém trong những nghĩa cử hào phóng, liền đáp lễ bằng một cử chỉ đầy tao nhã cùng một đồng bạc cổ bằng đồng đắt giá nhất. Trên đó được chạm nổi bằng tay nghề thợ rèn tuyệt mỹ hình ảnh của một vị nữ hoàng có phong thái uy nghi, dòng dõi hoàng gia nhà Brunswick, tên bà là Victoria, Nữ hoàng tối cao khả kính của ngài, bởi ân điển của Chúa thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland cùng các lãnh địa thuộc Anh vượt ngoài đại dương, Nữ hoàng, người bảo vệ đức tin, Nữ hoàng Ấn Độ, chính là bà, bậc cai trị, vị nữ anh hùng chiến thắng trước muôn dân, người được muôn người kính yêu, bởi họ biết và yêu mến bà từ lúc mặt trời mọc cho đến lúc mặt trời lặn, người da trắng, da ngăm, da đỏ và cả người Ethiopia.

—Cái tên hội Tam Điểm khốn kiếp nào đang lảng vảng đi qua đi lại ở bên ngoài thế? tay công dân cất giọng hỏi.

—Gì thế? Joe hỏi.

—Đây rồi, Alf vừa nói vừa ném mạnh tiền xu lên mặt bàn. Nhắc đến chuyện treo cổ, tớ cho các cậu xem cái này chưa từng thấy bao giờ. Thư của đao phủ nhé. Nhìn đây này.

Cậu ta liền lôi từ trong túi ra một bọc thư từ và phong bì nhàu nát.

—Cậu đang nói đùa đấy à? tôi hỏi.

—Thề có Chúa đấy, Alf đáp. Đọc đi thì biết.

Thế là Joe cầm lấy mấy bức thư.

—Cậu đang cười ai đấy hả? Bob Doran hỏi.

Thế là tôi thấy sắp có một trận hỗn chiến xảy ra rồi đây. Bob là một tay khó tính khi hơi men đã bốc lên đầu, thế nên tôi liền lên tiếng để khơi mào câu chuyện:

—Dạo này Willy Murray thế nào rồi hở Alf?

—Tớ chịu, Alf đáp. Tớ vừa thấy hắn ở phố Capel với Paddy Dignam lúc nãy. Chỉ tại tớ đang đuổi theo cái...

—Cậu làm gì cơ? Joe vừa hỏi vừa ném phắt mấy bức thư xuống bàn. Với ai cơ?

—Với Dignam chứ ai, Alf đáp.

—Có phải Paddy không? Joe hỏi.

—Ừ, Alf đáp. Sao thế?

—Cậu không biết là hắn đã chết rồi à? Joe hỏi.

—Paddy Dignam chết á? Alf kêu lên.

—Ừ, Joe đáp.

—Chứ tớ vừa mới gặp hắn cách đây chưa đầy năm phút, Alf cãi, rành rành ra đấy còn gì.

—Ai chết cơ? Bob Doran hỏi.

—Thế thì cậu vừa thấy hồn ma của hắn rồi đấy, Joe bảo, chúa phù hộ cho chúng ta tránh xa tai họa.

—Cái gì? Alf thốt lên. Lạy Chúa tôi, mới có năm... Cái gì?... Mà Willy Murray đi cùng hắn cơ mà, hai người bọn họ ở gần chỗ cái người gì tên là... Gì cơ? Dignam chết á?

—Dignam thì sao chứ? Bob Doran làu bàu. Ai đang nhắc đến chuyện...?

—Chết á? Alf la lên. Hắn mà chết nỗi gì, cậu còn sống hơn hắn ấy chứ.

—Biết thế nào được, Joe nói. Dù sao thì người ta cũng đã tranh thủ chôn cất hắn sáng nay rồi.

—Paddy á? Alf ngẩn người.

—Ừ, Joe đáp. Hắn đã trả xong món nợ với đời, cầu Chúa xót thương cho linh hồn hắn.

—Lạy Chúa tôi! Alf thốt lên.

Quả thật cậu ta đã ngạc nhiên đến mức chữ chữ chữ chữ chữ chữ...

Trong bóng tối, người ta cảm thấy có những bàn tay vô hình của các linh hồn đang vẫy vùng, và khi các lời cầu nguyện bằng mật chú được hướng tới đúng nơi chốn, một thứ ánh sáng mờ ảo nhưng ngày càng lan tỏa sắc đỏ hồng dần hiện rõ, sự hiện hình của thể uy linh đặc biệt sống động nhờ vào sự phóng thích của các tia thần lực jivic tỏa ra từ đỉnh đầu và khuôn mặt. Việc giao tiếp được thực hiện thông qua tuyến yên và cũng thông qua các tia sáng màu cam lửa và đỏ thẫm phát ra từ vùng xương cùng và đám rối dương vật. Khi được hỏi bằng tên trần thế của mình về nơi chốn của ông ta trong thế giới thiên đường, ông ta tuyên bố rằng mình hiện đang ở trên con đường prālāyā hay sự trở về nhưng vẫn phải chịu sự phán xét từ một số thực thể khát máu ở các tầng cõi tinh diệt thấp hơn. Trả lời cho câu hỏi về những cảm giác đầu tiên của ông ở thế giới bên kia vĩ đại, ông tuyên bố rằng trước đây ông nhìn mọi thứ qua một tấm gương mờ ảo nhưng những ai đã bước qua đều có những khả năng tối tân của sự phát triển tâm thức được mở ra cho họ. Khi được chất vấn liệu cuộc sống ở đó có giống như trải nghiệm bằng xương bằng thịt của chúng ta hay không, ông tuyên bố rằng ông đã nghe từ những sinh linh may mắn hơn hiện đang ở cõi linh hồn rằng nơi ở của họ được trang bị mọi tiện nghi gia đình hiện đại như tālāfānā, ālāvātār, hātākāldā, wātāklāsāt và rằng các bậc đạo sư cao nhất đều đắm chìm trong những làn sóng khoái lạc mang bản chất thuần khiết nhất. Sau khi yêu cầu một lít sữa bơ, món này đã được mang ra và rõ ràng mang lại sự dễ chịu. Khi được hỏi liệu ông có thông điệp nào dành cho người sống hay không, ông khẩn khoản kêu gọi tất cả những ai vẫn còn ở nhầm phía của màn vô minh Māyā hãy nhìn nhận con đường chân chính bởi vì theo các vòng tròn thiên giới đồn đại rằng các sao Hỏa và sao Mộc đang chực chờ gây rối ở góc phía đông nơi cung Bạch Dương đang ngự trị. Sau đó, người ta gặng hỏi xem có bất kỳ mong muốn đặc biệt nào từ phía người đã khuất hay không và câu trả lời là: Chúng tôi chào các bạn, những người bạn trần thế, những người vẫn còn mang thân xác. Hãy nhắc nhở C. K. đừng có tính chồng chất lên đấy. Người ta xác định rằng ý nhắc đến là ông Cornelius Kelleher, quản lý của nhà tang lễ nổi tiếng H. J. O’Neill’s, một người bạn thân của người quá cố, người đã chịu trách nhiệm thực hiện các thủ tục mai táng. Trước khi ra đi, ông yêu cầu hãy nhắn lại với đứa con trai cưng Patsy rằng chiếc giày bên kia mà cậu ta đang tìm hiện đang nằm dưới chiếc tủ trong phòng hậu và hãy mang cả đôi đến tiệm Cullen để đóng lại đế thôi vì phần gót vẫn còn tốt. Ông tuyên bố rằng điều này đã làm disturbed trầm trọng sự yên bình trong tâm trí ông ở cõi bên kia và thiết tha yêu cầu mong muốn của ông phải được cáo bạch.

Các bảo đảm đã được đưa ra rằng vấn đề sẽ được quan tâm và có ngụ ý rằng điều này đã mang lại sự thỏa mãn.

Ông đã ra đi khỏi những chốn phàm trần: O’Dignam, vầng dương buổi sớm mai của chúng ta. Bước chân chàng nhẹ tựa trên đám dương xỉ: Patrick với vầng trán ngời sáng. Hãy khóc than đi, hỡi Banba cùng những cơn gió của ngươi: và hãy khóc than đi, hỡi đại dương cùng những trận cuồng phong.

—Lại là hắn kìa, tay công dân vừa nói vừa trân trân nhìn ra ngoài.

—Ai cơ? tôi hỏi.

—Bloom chứ ai, hắn đáp. Lão đang đứng túc trực đi qua đi lại ở đằng kia suốt mười phút nay rồi.

Và mả cha nó, tôi thấy cái mặt tiền của hắn thò vào ngó nghiêng rồi lại lẩn mất tom.

Cậu Alf nhà ta ngớ cả người. Thề có Chúa là thế.

—Lạy Chúa tôi! cậu ta thốt lên. Tớ cứ tưởng đinh ninh đó là hắn cơ chứ.

Và Bob Doran cất tiếng với chiếc mũ đội ngược ra sau gáy, tên lưu manh bỉ ổi nhất ở Dublin khi hắn đã ngấm men say:

—Ai bảo Chúa là tốt hả?

—Tôi xin lỗi ông nhé, Alf nói.

—Thế Chúa tốt kiểu đấy à, Bob Doran tru lên, khi cướp đi đứa con trai bé bỏng tội nghiệp Willy Dignam của tôi hả?

—Thôi nào, Alf nói, tìm cách lảng tránh. Hắn đã vượt qua mọi rắc rối rồi.

Nhưng Bob Doran vẫn hét oang oang:

—Hắn đúng là một tên côn đồ máu lạnh, tao bảo thế, khi cướp đi thằng bé Willy Dignam tội nghiệp.

Terry liền bước xuống và nháy mắt ra hiệu cho hắn giữ trật tự, rằng họ không muốn thứ ngôn ngữ kiểu đó xuất hiện trong một cơ sở kinh doanh có giấy phép đàng hoàng. Và Bob Doran bắt đầu giở trò khóc lóc thảm thiết vì Paddy Dignam, thề có Chúa là thế.

—Một người đàn ông tuyệt vời nhất, hắn vừa sụt sịt vừa nói, một nhân cách tuyệt vời và trong sáng nhất.

Nước mắt suýt chút nữa thì trào ra ở khóe mắt cậu rồi kìa. Lại còn đang ăn nói nhảm nhí cái quái gì không biết. Lẽ ra hắn nên cút xéo về nhà với cái con mụ khốn kiếp mộng du mà hắn cưới đi thì hơn, con mụ Mooney, con gái của tay thừa phát lại, có bà mẹ từng mở một cái ổ nhơ nhớp ở phố Hardwicke, kẻ từng hay lang thang trên các hành lang mà Bantam Lyons đã kể với tớ, mụ ta đứng đó vào lúc hai giờ sáng mà chẳng mảnh vải che thân, phơi bày cả thân thể ra cho bất kỳ ai muốn nhìn, ngon ăn và chẳng thiên vị ai.

—Một người cao thượng nhất, chân thật nhất, hắn gào lên. Và giờ hắn đã ra đi, bé Willy tội nghiệp, bé Paddy Dignam tội nghiệp.

Và với nỗi buồn thương nặng trĩu trong lòng, hắn khóc thương cho sự lụi tàn của tia sáng thiên đường ấy.

Lão Garryowen lại bắt đầu gầm gừ hướng về phía Bloom đang lảng vảng ngoài cửa.

—Vào đây đi, vào đây chứ, nó có ăn thịt cậu đâu, tay công dân gọi.

Thế là Bloom rụt rè bước vào với cái mắt cá chết trôi dán chặt vào con chó rồi hắn hỏi Terry xem Martin Cunningham có ở đó không.

—Ôi trời ơi, M’Keown, Joe vừa đọc một trong mấy bức thư vừa kêu lên. Nghe cái này đi, chịu nổi không chứ lại?

Và cậu ta bắt đầu đọc to một bức.

Phố Hunter số 7,

Liverpool.

Kính gửi Ngài Cảnh sát trưởng Dublin,

Dublin.

Kính thưa ngài, tôi xin cung cấp dịch vụ của mình trong vụ án đau lòng nêu trên, tôi đã treo cổ Joe Gann tại nhà tù Bootle vào ngày 12 tháng 2 năm 1900 và tôi đã treo cổ...

—Cho xem với nào Joe, tôi giục.

—... binh nhì Arthur Chace vì tội ác sát hại man rợ Jessie Tilsit tại nhà tù Pentonville và tôi là phụ tá khi...

—Lạy Chúa, tôi thốt lên.

—... Billington xử tử tên sát nhân kinh hoàng Toad Smith...

Tay công dân chồm tới chộp lấy bức thư.

—Từ từ đã, Joe giữ lại, tôi có một ngón nghề đặc biệt là thắt chiếcòng lọng một khi đã siết vào thì hắn không đời nào thoát được, rất mong được ngài chiếu cố, kính bút, kính thưa ngài, mức phí của tôi là năm đồng guinea.

H. Rumbold,

Thợ cắt tóc trưởng.

—Đúng là một tên man rợ máu lạnh vô học, tay công dân lầm bầm.

—Lại thêm nét chữ bẩn thỉu của cái giống khốn nạn ấy nữa chứ, Joe nói. Này, cậu ta bảo, cầm lấy rồi cút xéo khỏi tầm mắt tớ đi, Alf. Này Bloom, cậu uống gì nào?

Thế là họ bắt đầu tranh cãi về chuyện mời mọc, Bloom cứ bảo là không cần đâu, tôi không uống được và xin lỗi không có ý gì đâu và vân vân và mây mây, rồi cuối cùng hắn bảo thôi được hắn xin phép làm một điếu xì gà. Mả cha nó, đúng là một tay thận trọng không lẫn đi đâu được.

—Cho một điếu loại khét lẹt thượng hạng của anh đi Terry, Joe gọi.

Và Alf đang kể cho chúng tôi nghe có một tên đã gửi một tấm thiệp tang viền đen xung quanh.

—Toàn là thợ cắt tóc cả, cậu ta nói, lũ đến từ vùng đất đen sẵn sàng treo cổ cả bố ruột chỉ để lấy năm bảng mặt và tiền đi đường.

Và cậu ta đang kể có hai tên đang chầu chực ở bên dưới để níu chân hắn xuống khi hắn bị thả rơi xuống và siết cổ cho thật chết hẳn rồi chúng sẽ cắt nhỏ sợi đoạn dây thừng ra để bán lại mấy mẩu vụn kiếm vài xu mỗi cái hộp sọ.

Trong vùng đất tăm tối chúng ẩn mình, những hiệp sĩ báo thù cầm dao cạo. Nắm chặt cuộn dây tử thần: phải, và dẫn dắt vào chốn Erebus bất kỳ kẻ nào đã nhúng tay vào tội ác máu me bởi vì ta sẽ chẳng đời nào dung thứ, Chúa đã phán vậy.

Thế là họ bắt đầu bàn về án tử hình và dĩ nhiên Bloom lạiía ra cái lý do lý trấu cùng mọi thứ tào lao bí vĩ của cái nghề ấy trong khi con chó già cứ đánh hơi hắn suốt buổi tớ nghe nói bọn Do Thái ấy thường tỏa ra một thứ mùi kỳ lạ nào đó khiến lũ chó hay lảng vảng quanh quẩn chẳng biết để làm cái trò răn đe gì sất vân vân và mây mây.

—Có một thứ mà nó chẳng có tí tác dụng răn đe nào cả, Alf đan xen.

—Cái gì thế? Joe hỏi.

—Cái của quý của tội phạm đang bị treo cổ chứ gì nữa, Alf đáp.

—Thế à? Joe ngạc nhiên.

—Thề có Chúa đấy, Alf khẳng định. Tớ nghe chính ngài giám thị trưởng ở nhà tù Kilmainham kể lại khi họ treo cổ Joe Brady, thành viên nhóm Bất khả chiến bại. Hắn bảo lúc họ cắt thừng hạ xác xuống, cái đó của hắn ta cứ dựng ngược lên mặt bọn họ cứng đơ như một cây gậy sắt.

—Sức sống mãnh liệt đến tận phút lâm chung, Joe nhại lại lời ai đó.

—Điều đó có thể được giải thích bằng khoa học, Bloom chen vào. Đó chỉ là một hiện tượng tự nhiên thôi, các cậu không thấy sao, bởi vì nguyên nhân là do...

Và thế là hắn lại bắt đầu tuôn ra mấy cái thuật ngữ cao siêu lẹo cả lưỡi về hiện tượng với khoa học, hiện tượng này với hiện tượng nọ.

Nhà khoa học lỗi lạc Ngài Giáo sư Luitpold Blumenduft đã đưa ra bằng chứng y khoa với nội dung rằng việc gãy tức thời các đốt sống cổ và hệ quả là đứt lìa tủy sống sẽ, theo truyền thống được công nhận tốt nhất của y khoa học, được tính toán để tạo ra một cách bất khả kháng ở đối tượng con người một sự kích thích hạch thần kinh dữ dội của các trung tâm thần kinh thuộc cơ quan sinh dục, từ đó khiến cho các lỗ xốp đàn hồi của thể hang nhanh chóng giãn nở theo cách làm dễ dàng tức thì dòng máu chảy đến bộ phận đó của giải phẫu con người được gọi là dương vật hoặc cơ quan sinh dục nam dẫn đến hiện tượng đã được giới y học gọi là sự cương cứng mang tính duy trì nòi giống hướng lên và hướng ra ngoài một cách bệnh lý trong lúc hấp hối do việc giảm bớt phần đầu.

Thế là dĩ nhiên tay công dân chỉ chờ có thế để chộp lấy câu nói và hắn bắt đầu ba hoa chích choẹ về nhóm Bất khả chiến bại, đội cận vệ già, những tráng sĩ năm sáu bảy, ai dám nhắc đến năm chín tám, còn Joe thì phụ họa theo về tất cả những kẻ đã bị treo cổ, phanh thây và lưu đày vì đại nghĩa qua các phiên tòa quân pháp dã chiến cùng một đất nước Ireland mới mẻ và đủ thứ chuyện trên trời dưới biển khác. Nhắc đến Ireland mới mẻ, lẽ ra hắn nên đi kiếm một con chó mới thì hơn. Một con quái vật ghẻ lở tham ăn cứ ngửi ngửi hắt hơi khắp nơi và gãi sột soạt mấy cái vảy ghẻ. Và hắn lết tới chỗ Bob Doran đang mời Alf nửa ly để nịnh nọt hòng kiếm chác chút đỉnh. Thế là dĩ nhiên Bob Doran lại bắt đầu giở trò khùng điên với nó:

—Bắt tay cái nào! Cho xin cái chân nào cún con! Cún ngoan nào! Bắt tay cái xem nào! Cho xin cái chân!

Mả cha nó, còn lâu nó thèm đưa chân ra cho hắn bắt trong lúc Alf đang cố gắng kéo hắn lại để khỏi ngã lăn cù khỏi cái ghế đẩu cao ngất ngưởng đè lên con chó khốn kiếp trong lúc hắn đang lải nhải đủ thứ chuyện nhảm nhí về việc huấn luyện bằng sự tử tế và chó thuần chủng thông minh: nghe mà phát ngứa cả tai. Rồi hắn bắt đầu cạy mấy mẩu vụn bánh quy thừa ở đáy chiếc hộp thiếc nhãn hiệu Jacob mà hắn vừa bảo Terry mang ra. Mả cha nó, hắn nuốt ngấu nghiến như ăn phải bốt giày cũ trong khi cái lưỡi thè ra dài cả thước để đòi thêm. Suýt nữa thì hắn nuốt luôn cả cái hộp thiếc, cái đồ con chó lai đói khát khốn nạn.

Và tay công dân với Bloom đang tranh cãi về vấn đề anh em nhà Sheares và Wolfe Tone ở tít đằng kia trên Arbour Hill rồi Robert Emmet và hy sinh vì tổ quốc, đúng chất văn phong của Tommy Moore về Sara Curran và nàng đang ở chốn xa xôi. Và Bloom thì dĩ nhiên rồi, với điếu xì gà tàn nhẫn cứ ra vẻ ta đây với cái mặt bự phấn. Hiện tượng! Cái đống mỡ ú ụ mà hắn cưới làm vợ cũng là một hiện tượng cổ lỗ sĩ với cái đằng sau to như sân chơi bóng ném. Hồi chúng còn ở trọ trên City Arms, tay pisser Burke kể với tớ có một mụ già ở đó sống cùng một thằng cháu ngốc nghếch đần độn và Bloom thì cứ tìm cách nịnh bợ mụ ta bằng cách giở trò ân cần chơi bài bezique để mong kiếm chút chác từ số tiền thừa kế trong di chúc của mụ ta, và ngày thứ Sáu thì không thèm ăn thịt vì mụ già cứ suốt ngày đấm ngực ăn năn, đồng thời dắt cái thằng đần đó đi dạo. Có lần hắn dẫn thằng đó đi khắp Dublin và thề có thánh thần phù hộ, hắn chẳng thèm hé răng cho đến khi lôi được nó về nhà say mèm như cú rũ và hắn bảo hắn làm thế để dạy cho nó bài học về tác hại của rượu chè, và thề có cá trích, nếu ba người phụ nữ ở đó không suýt thui sống hắn lên thì đúng là chuyện lạ, mụ già, vợ của Bloom và mụ O’Dowd chủ khách sạn. Chúa ơi, tớ cứ phải phì cười khi nghe pisser Burke nhại lại cảnh bọn họ túm tụm ngồi lê đôi mách. Và Bloom thì cứ “nhưng anh không thấy sao?” với “nhưng mặt khác thì...”. Và nhân tiện đây, thằng đần đó tớ nghe nói sau đó lại la cà ở tiệm pha chế rượu Power ở phố Cope, năm lần một tuần ngồi lết về nhà trên xe taxi sau khi đã nốc sạch mọi mẫu rượu thử miễn phí ở cái quán khốn kiếp ấy. Hiện tượng!

—Ký ức về những người đã khuất, tay công dân vừa nói vừa nhấc vại bia lên trừng trừng nhìn Bloom.

—Ừ, đúng thế, Joe hùa theo.

—Cậu không hiểu ý tớ rồi, Bloom nói. Ý tớ muốn nói là...

—Sinn Fein! tay công dân gầm lên. Sinn Fein amhain! Những người bạn chúng ta yêu thương ở ngay cạnh bên và những kẻ thù chúng ta căm ghét đang ở trước mặt.

Lời từ biệt cuối cùng mang đầy cảm xúc bi tráng. Từ những tháp chuông gần xa, hồi chuông tang tiễn biệt ngân vang không dứt trong khi bao trùm khắp chốn không gian ảm đạm là tiếng vọng đầy đe dọa của hàng trăm tiếng trống phủ tang được đan xen bởi tiếng nổ trầm đục của những cỗ đại bác. Những tiếng sấm sét đinh tai nhức óc cùng những tia chớp lóa mắt chiếu rọi quang cảnh hãi hùng đã minh chứng rằng pháo binh thiên đình đã ban phước cho khung cảnh vốn dĩ đã rùng rợn ấy thêm phần oai nghiêm siêu nhiên. Một trận mưa như trút nước đổ xuống từ cánh cổng thiên đàng giận dữ lên những cái đầu trần của đám đông tụ tập mà tính theo con số tối thiểu cũng phải lên tới năm trăm ngàn người. Một đội cảnh sát đô thị Dublin do chính ngài Tổng giám thị trực tiếp chỉ đạo đã duy trì trật tự giữa đám đông biển người, trong khi dàn kèn đồng và kèn sậy phố York đã dùng những giai điệu tuyệt đỉnh gắn liền với chúng ta từ thuở lọt lòng qua nàng thơ sầu muộn của Speranza để khuây khỏa thời gian chờ đợi bằng cách trình diễn xuất sắc trên các nhạc cụ được phủ băng tang đen. Những chuyến tàu tốc hành đặc biệt và những chiếc xe mui trần lót đệm sang trọng đã được bố trí chu đáo để phục vụ sự thoải mái cho những người anh em ở vùng quê cội nguồn của chúng ta, những người có số lượng đoàn đại biểu tham gia rất đông đảo. Sự náo động đáng kể đã được tạo ra bởi hai ca sĩ đường phố được yêu thích ở Dublin là L-n-h-n và M-ll-g-n, những người đã hát bài Đêm trước khi Larry bị treo cổ theo phong cách gây cười quen thuộc của họ. Hai gã hề có một không hai của chúng ta đã buôn bán rất phát đạt với những tờ bối cảnh in rộng giữa những người yêu thích yếu tố hài hước và chẳng có ai có một góc nhỏ trong tim dành cho niềm vuiích thực kiểu Ireland mà lại tiếc rẻ với họ những đồng xu mọn kiếm được bằng mồ hôi nước mắt ấy cả. Lũ trẻ tại Bệnh viện Trẻ mồ côi Nam và Nữ, những đứa trẻ đã tụ tập đông nghịt bên các khung cửa sổ hướng ra khung cảnh bên dưới, vô cùng thích thú trước sự bổ sung bất ngờ này cho chương trình giải trí trong ngày, và một lời khen ngợi cũng cần được gửi tới các Nữ tu Bệnh nhi nghèo vì ý tưởng tuyệt vời của họ trong việc mang lại cho những đứa trẻ bất hạnh không bố không mẹ một buổi trị liệu mang tính giáo dục thực sự. Phái đoàn nhà nước phó vương bao gồm nhiều phu nhân tên tuổi đã được chính các Ngài Đại diện hộ tống đến những vị trí thuận lợi nhất trên khán đài, trong khi phái đoàn ngoại quốc đầy màu sắc được biết đến với tên gọi Những người bạn của Hòn đảo Ngọc lục bảo đã được bố trí ở một khán đài nằm ngay phía đối diện. Phái đoàn có mặt với đầy đủ các thành viên, bao gồm Commendatore Bacibaci Beninobenone (vị lão thành bán thân bất toại của phái đoàn, người phải nhờ đến sự hỗ trợ của một chiếc cần cẩu hơi nước hùng mạnh mới được đưa lên ghế ngồi), Monsieur Pierrepaul Petitépatant, Đại hề Vladinmire Pokethankertscheff, Đại hề Leopold Rudolph von Schwanzenbad-Hodenthaler, Nữ bá tước Marha Virága Kisászony Putrápesthi, Hiram Y. Bomboost, Bá tước Athanatos Karamelopulos, Ali Baba Backsheesh Rahat Lokum Effendi, Señor Hidalgo Caballero Don Pecadillo y Palabras y Paternoster de la Malora de la Malaria, Hokopoko Harakiri, Hi Hung Chang, Olaf Kobberkeddelsen, Mynheer Trik van Trumps, Pan Poleaxe Paddyrisky, Goosepond Prhklstr Kratchinabritchisitch, Borus Hupinkoff, Ngài Hurhausdirektorpresident Hans Chuechli-Steuerli, Giảng viên tư thục danh dự kiêm giáo sư chuyên ngành lịch sử đại cương xuất thân từ bảo tàng viện thể dục thể thao quốc gia kiêm nhà điều dưỡng và đai treo Kriegfried Ueberallgemein. Tất cả các đại biểu không có ngoại lệ đều phát biểu bằng những từ ngữ lai tạp mạnh mẽ nhất có thể liên quan đến sự dã man không tên mà họ được kêu gọi đến để chứng kiến. Một cuộc cãi vã sôi nổi (trong đó tất cả mọi người đều tham gia) đã nổ ra giữa các thành viên của F. O. T. E. I. về việc ngày mùng tám hay mùng chín tháng Ba mới là ngày sinh chính xác của vị thánh bảo hộ Ireland. Trong quá trình tranh cãi, đại bác, mã tấu, gậy boomerang, súng kíp, hũ đựng chất độc, dao thái thịt, ô, súng cao su, dùi cui đấm bốc, bao cát, những cục gang thỏi đã được huy động tới tấp và những cú đấm được vung ra không tiếc tay. Viên cảnh sát nhỏ tuổi, Cảnh sát viên MacFadden, được gọi tới bằng giao liên đặc biệt từ Booterstown, đã nhanh chóng vãn hồi trật tự và với sự nhanh trí chớp nhoáng đã đề xuất ngày mười bảy trong tháng như một giải pháp vẹn đôi đường cho cả hai bên tranh chấp. Gợi ý của gã cao chín thước thông minh nhanh nhạy ngay lập tức thu hút tất cả mọi người và được chấp thuận một cách nhất trí. Cảnh sát viên MacFadden đã nhận được những lời chúc mừng nồng nhiệt từ tất cả các thành viên F. O. T. E. I., trong đó có một số người đang chảy máu đầm đìa. Sau khi Commendatore Beninobenone được giải cứu ra từ bên dưới chiếc ghế bành của chủ tịch, cố vấn pháp lý của ông là Avvocato Pagamimi đã giải thích rằng các vật dụng khác nhau được giấu kín trong ba mươi hai chiếc túi của ông đã được chính ông lấy trộm trong suốt vụ ẩu đả từ túi của các đồng nghiệp cấp dưới với hy vọng giúp họ tỉnh táo lại. Các đồ vật (bao gồm vài trăm chiếc đồng hồ vàng bạc của quý ông và quý bà) đã được nhanh chóng trao trả lại cho những chủ nhân hợp pháp của chúng và sự hòa hợp chung lại ngự trị tuyệt đối.

Một cách lặng lẽ và khiêm nhường, Rumbold bước lên đoạn đầu đài trong bộ trang phục buổi sáng hoàn hảo và cài trên ngực loài hoa yêu thích của ông, Gladiolus Cruentus. Ông báo hiệu sự hiện diện của mình bằng tiếng ho nhẹ đặc trưng kiểu Rumbold mà rất nhiều người đã cố gắng (nhưng không thành công) bắt chước—ngắn gọn, cẩn trọng nhưng mang đậm dấu ấn riêng của người đàn ông ấy. Sự xuất hiện của vị đao phủ nổi tiếng thế giới đã được chào đón bằng một tràng pháo tay vang dội từ đám đông khổng lồ, các quý bà trong phái đoàn phó vương vẫy vẫy khăn tay trong sự phấn khích tột độ trong khi các đại biểu nước ngoài thậm chí còn phấn khích hơn đã hò reo vang dội trong một hỗn hợp các tiếng hô hoch, banzai, eljen, zivio, chinchin, polla kronia, hiphip, vive, Allah, giữa lúc đó tiếng hô evviva vang lừng của vị đại biểu đến từ xứ sở âm nhạc (một nốt Fa cao vút gợi nhớ đến những nốt cao vút đẹp đến xé lòng mà vị thái giám Catalani từng dùng để mê hoặc các cụ cố ngoại của chúng ta) dễ dàng nổi bật lên trên hết. Lúc đó đúng mười bảy giờ. Tín hiệu cầu nguyện sau đó được phát ra nhanh chóng bằng loa phóng thanh và trong tích tắc tất cả các đầu đều để trần, chiếc nón rộng vành mang tính gia trưởng của vị commendatore, vật đã thuộc về gia đình ông kể từ cuộc cách mạng của Rienzi, đã được tháo ra bởi bác sĩ riêng đi kèm của ông, Tiến sĩ Pippi. Vị giáo sĩ uy bác, người đã ban những niềm an ủi cuối cùng của tôn giáo thánh thiêng cho vị anh hùng tử đạo khi chuẩn bị chịu án tử hình, đã quỳ xuống một cách đầy tinh thần Cơ Đốc trong một vũng nước mưa, chiếc áo thâm trùm kín đỉnh đầu bạc phơ, và dâng lên ngai ơn trên những lời cầu xin thiết tha. Ngay cạnh khúc gỗ chặt là hình dáng gớm ghiếc của kẻ hành quyết, khuôn mặt hắn bị che khuất trong một chiếc bình mười gallon có đục hai lỗ tròn thủng để đôi mắt hắn trợn trừng giận dữ. Trong khi chờ đợi tín hiệu tử hình, hắn thử độ bén của thứ vũ khí khủng khiếp bằng cách mài nó lên bắp tay vạm vỡ của mình hoặc chặt đứt lìa liên tiếp một bầy cừu đã được chuẩn bị bởi những người ngưỡng mộ cái chức vụ đẫm máu nhưng vô cùng cần thiết của hắn. Trên một chiếc bàn bằng gỗ gụ đẹp đẽ gần đó được bày biện ngăn nắp con dao phanh thây, các dụng cụ mổ bụng được mài giũa tinh tế khác nhau (được cung cấp riêng bởi hãng dao kéo nổi tiếng thế giới John Round and Sons ở Sheffield), một chiếc nồi đất nung để đựng tá tràng, đại tràng, ruột tịt và ruột thừa v.v. khi được lấy ra thành công và hai chiếc bình sữa rộng rãi nhằm tiếp nhận dòng máu trân quý nhất của nạn nhân trân quý nhất. Quản gia của hội nhà mèo và chó hợp nhất đã túc trực để chuyển những chiếc bình này khi đã đầy đến tổ chức từ thiện đó. Một bữa ăn hết sức tuyệt vời bao gồm thịt hun khói và trứng, bít tết rán hành tây được làm vừa vặn, những chiếc bánh mì nóng giòn thơm ngon và trà sưởi ấm đã được chính quyền ân cần chuẩn bị để phục vụ cho nhân vật trung tâm của thảm kịch, người đang có tâm trạng cực kỳ phấn chấn khi chuẩn bị bước vào cái chết và thể hiện sự quan tâm sâu sắc nhất đến các thủ tục từ đầu đến chí cuối, nhưng ông, với một sự hy sinh cao cả hiếm thấy trong thời đại chúng ta ngày nay, đã vươn lên thật cao thượng trước hoàn cảnh và bày tỏ mong ước trước lúc lâm chung (ngay lập tức được chấp thuận) rằng bữa ăn nên được chia thành các phần đều đặn cho các thành viên của hội những người giữ phòng đau ốm và nghèo khó như một minh chứng cho sự tôn trọng và quý mến của ông. Tột đỉnh của cảm xúc đã đạt được khi cô dâu trẻ e ấp tự rẽ đám đông chen lấn xô đẩy để lao mình vào bầu ngực vạm vỡ của người sắp bị đẩy vào cõi vĩnh hằng vì cô ấy. Người anh hùng ôm trọn thân hình liễu yếu đào tơ của nàng vào lòng, trìu mến thì thầm Sheila, của riêng anh. Được khích lệ bởi cách gọi tên thánh của cô, nàng say đắm hôn tất cả các vùng thích hợp trên cơ thể anh mà sự đứng đắn của bộ đồ nhà tù cho phép sự nồng nhiệt của nàng với tới. Nàng thề với anh khi họ hòa quyện dòng nước mắt mặn nồng rằng nàng sẽ mãi mãi gìn giữ ký ức về anh, rằng nàng sẽ không bao giờ quên chàng trai anh hùng của đời mình, người bước vào cái chết với một khúc ca trên môi cứ như thể anh chỉ đang đi xem một trận hurling ở công viên Clonturk. Nàng gợi lại cho anh nhớ về những ngày tháng hạnh phúc của tuổi thơ êm đềm bên bờ sông Anna Liffey khi họ từng đắm chìm trong những trò chơi vô tội của tuổi trẻ và, quên đi hiện tại tồi tệ, cả hai cùng cười vang sảng khoái, tất cả khán giả, bao gồm cả vị mục sư đáng kính, đều hòa chung vào niềm vui chung đó. Đám đông khán giả khổng lồ ấy đơn giản là chao đảo vì thích thú. Nhưng rồi họ lại bị nhấn chìm bởi nỗi buồn và siết chặt tay nhau lần cuối. Một trận torrent nước mắt mới tuôn trào từ các tuyến lệ của họ và đám đông người mênh mông, bị chạm đến tận tâm can, đã bật khóc nức nở đau đớn, người không bị ảnh hưởng ít nhất chính là vị kinh sĩ già cả. Những người đàn ông cao lớn vạm vỡ, các sĩ quan gìn giữ hòa bình và những người khổng lồ vui tính của lực lượng cảnh sát hoàng gia Ireland đang sử dụng khăn tay một cách không giấu giếm và có thể khẳng định chắc chắn rằng không có một đôi mắt nào khô trong buổi hội ngộ kỷ lục đó. Một sự cố vô cùng lãng mạn đã xảy ra khi một cử nhân Oxford trẻ tuổi và điển trai, nổi tiếng với sự hào hiệp đối với phái yếu, bước lên phía trước và, xuất trình danh thiếp, sổ ngân hàng và phả hệ gia đình, ngỏ lời cầu hôn thiếu nữ bất hạnh, yêu cầu nàng chọn ngày cưới, và đã được chấp thuận ngay tại chỗ. Mọi phụ nữ trong khán giả đều được tặng một món quà kỷ niệm đầy nhã nhặn của dịp này dưới dạng một chiếc trâm cài hình đầu lâu và xương chéo, một hành động kịp thời và hào phóng đã khơi dậy một làn sóng cảm xúc mới; và khi vị nam thanh niên dũng cảm người Oxford (nhân tiện là người mang một trong những cái tên lâu đời nhất trong lịch sử nước Anh) đeo lên ngón tay của vị hôn khiết e ấp một chiếc nhẫn đính hôn đắt tiền với những viên ngọc lục bảo được khảm theo hình cỏ ba lá bốn cánh, sự phấn khích không thể nào kìm nén được nữa. Thậm chí cả vị tổng tư lệnh nghiêm khắc, trung tá Tomkin-Maxwell ffrenchmullan Tomlinson, người chủ trì dịp buồn này, người từng thổi bay một số lượng đáng kể binh lính Ấn Độ khỏi nòng đại bác mà không hề chớp mắt, giờ đây cũng không thể kiềm chế được cảm xúc tự nhiên của mình. Bằng chiếc găng tay sắt của mình, ông lau đi một giọt nước mắt lén lút và được những công dân có đặc quyền có mặt trong đoàn tùy tùng trực tiếp của ông nghe thấy đang lầm bầm một mình với giọng nói ngập ngừng: —Mẹ kiếp nếu cô ta không phải là một con mụ tuyệt vời, cái con đĩ khốn kiếp đó. Mẹ kiếp nó làm tôi cứ muốn khóc ròng, thề có Chúa, khi tôi nhìn thấy cô ta vì tôi lại nhớ đến cái bồn giặt cũ kỹ đang chờ tôi ở mỏm Limehouse.

Thế là sau đó tay công dân bắt đầu bàn về tiếng Ireland và cuộc họp hội đồng thành phố và đủ thứ chuyện linh tinh khác, rồi mấy kẻ cuồng tín sính ngoại không biết nổi ngôn ngữ của chính mình, còn Joe thì chõ miệng vào vì hắn vừa moi được của ai đó một đồng bảng, còn Bloom thì lại chen cái miệng già dứa của hắn vào với cái mẩu xì gà rẻ tiền xin đểu của Joe và bàn về Liên đoàn Gaelic, liên đoàn phản đối việc mời rượu và rượu chè, tai họa của Ireland. Phản đối mời rượu thì đúng là vừa khít với hắn. Mả cha nó, hắn sẵn sàng để cậu rót mọi loại rượu vào cổ họng cho đến khi Chúa gọi về mà chẳng bao giờ thấy được bọt trong vại bia của hắn. Và có một đêm nọ tôi cùng một tay bạn ghé vào một buổi tối ca nhạc của bọn họ, hát múa về chuyện nàng có thể trèo lên một đống cỏ khô, nàng có thể đấy, Maureen Lay của tôi, và có một cái tên đeo huy hiệu ruy băng xanh Ballyhooly đang gào thét bằng tiếng Ireland và một lũ thiếu nữ đi vòng quanh với thức uống kiêng khem rồi bán huy hiệu cùng cam chanh và vài chiếc bánh mì khô khốc, mả cha nó, giải trí rộng rãi hết chỗ nói, đừng có mà bàn nữa. Ireland tỉnh táo là Ireland tự do. Và rồi một lão già bắt đầu thổi vào cái kèn túi của mình và đám côn đồ lục đục nhịp chân theo điệu nhạc mà con bò già lăn đùng ra chết. Và một hai gã mục sư lảng vảng xung quanh để đảm bảo không có hành vi mập mờ nào với lũ đàn bà con gái, đánh dưới thắt lưng.

Thế nhưng, như tôi đã nói, con chó già thấy cái hộp thiếc đã trống không liền bắt đầu lảng vảng quanh Joe và tôi. Tớ mà là chủ nó thì tớ sẽ huấn luyện nó bằng sự tử tế, đúng thế đấy. Thỉnh thoảng tặng cho nó một cú đá thật lực vào chỗ nào không làm nó mù mắt là được.

—Sợ nó cắn cậu à? tay công dân chế nhạo.

—Không, tôi đáp. Nhưng nhỡ nó nhầm chân tớ với cái cột đèn thì sao.

Thế là hắn gọi con chó già lại.

—Mày bị sao thế Garry? hắn hỏi.

Rồi hắn bắt đầu lôi kéo hành hạ và nói chuyện với nó bằng tiếng Ireland còn con chó cưng thì gầm gừ làm bộ đáp lời, giống như một màn song ca trong vở opera. Cậu chưa từng nghe thấy tiếng gầm gừ nào như thế phát ra giữa chúng đâu. Lẽ ra kẻ chẳng có việc gì làm hay ho hơn nên viết một bức thư pro bono publico gửi các tòa báo về quy định rọ mõm đối với một con chó đại loại như thế. Gầm gừ hằn học và đôi mắt đỏ ngầu vì cơn khát đang chực chờ và nước dãi bệnh dại nhỏ giọt ra từ hàm nó.

Tất cả những ai quan tâm đến sự lan truyền của văn hóa nhân loại trong giới động vật bậc thấp (và số lượng của họ là vô số) nên nhớ đừng bỏ lỡ buổi triển lãm thực sự kỳ diệu về loài chó do chú chó sói dòng setter đỏ nổi tiếng của Ireland trước đây được mang biệt danh là Garryowen và gần đây được đặt tên mới bởi đông đảo bạn bè và người quen là Owen Garry thực hiện. Buổi triển lãm, là kết quả của nhiều năm huấn luyện bằng sự tử tế và một chế độ ăn uống được tính toán kỹ lưỡng, bao gồm, trong số các thành tựu khác, việc ngâm thơ. Chuyên gia ngữ âm vĩ đại nhất của chúng ta (có dùng ngựa hoang cũng không kéo được cái tên ra khỏi chúng tôi!) đã không quản ngại mọi nỗ lực để làm sáng tỏ và so sánh bài thơ được ngâm và nhận thấy nó mang một sự tương đồng nổi bật (chữ nghiêng là của chúng tôi) với các bài ranns của các thi sĩ Celtic cổ đại. Chúng tôi không nói nhiều đến những bài tình ca thú vị mà nhà văn ẩn giấu danh tính dưới bút danh duyên dáng Nhánh Cọt Ngọt đã quen thuộc với thế giới yêu sách mà đúng hơn (như một cộng tác viên D. O. C. chỉ ra trong một thông điệp thú vị được đăng bởi một tờ báo buổi tối) là nốt trầm khắc nghiệt và mang tính cá nhân hơn được tìm thấy trong các tác phẩm châm biếm của Ractive nổi tiếng và Donal MacConsidine chưa kể đến một nhà thơ trữ tình hiện đại hơn hiện đang thu hút rất nhiều sự chú ý của công chúng. Chúng tôi xin đính kèm một mẫu đã được dịch sang tiếng Anh bởi một học giả lỗi lạc mà tên tuổi lúc này chúng tôi chưa được phép tiết lộ mặc dù chúng tôi tin rằng độc giả của chúng tôi sẽ thấy ám chỉ mang tính thời sự còn hơn cả một sự gợi ý. Hệ thống vần điệu của bản gốc loài chó, gợi nhớ đến các quy tắc đồng âm và đẳng âm phức tạp của tiếng Wales englyn, phức tạp hơn vô cùng nhưng chúng tôi tin rằng độc giả sẽ đồng ý rằng tinh thần đã được nắm bắt tốt. Có lẽ nên bổ sung thêm rằng hiệu ứng sẽ tăng lên rất nhiều nếu bài thơ của Owen được đọc hơi chậm và không rõ ràng với giọng điệu gợi ý sự oán giận bị nén lại.

Lời nguyền của những lời nguyền

Bảy ngày mỗi ngày

Và bảy ngày thứ Năm khô khốc

Giáng lên đầu ngươi, Barney Kiernan,

Chẳng có một ngụm nước

Để làm dịu lòng dũng cảm của ta,

Và ruột gan ta đang gầm rú đỏ rực

Sau món lòng xào của Lowry.

Thế là hắn bảo Terry mang ít nước cho con chó và mả cha nó, cậu có thể nghe thấy tiếng nó húp nước cách xa cả dặm. Và Joe hỏi hắn có muốn làm thêm ly nữa không.

—Có chứ, hắn đáp, a chara, để cho thấy chẳng có ác ý gì cả.

Mả cha nó, hắn đâu có khờ khạo như cái vẻ ngoài ngốc nghếch của hắn. Cứ lết xác từ quán rượu này sang quán rượu khác, phó mặc cho lòng tự trọng của người ta, với con chó của lão Giltrap và được nuôi béo bởi những người đóng thuế và dân thành phố. Giải trí cho cả người lẫn vật. Và Joe hỏi:

—Cậu có thể làm một lỗ trên vại bia nữa không?

—Vịt bơi được không? tôi đáp.

—Lấy như cũ nhé Terry, Joe gọi. Cậu có chắc là không dùng chút đồ uống giải khát nào nữa chứ? cậu ta hỏi Bloom.

—Cảm ơn, tôi không, Bloom nói. Thực ra tôi chỉ muốn gặp Martin Cunningham thôi, cậu biết đấy, về vụ bảo hiểm của tội nghiệp Dignam. Martin bảo tôi đến nhà. Cậu thấy đấy, anh ấy, ý tôi là Dignam, đã không gửi bất kỳ thông báo chuyển nhượng nào cho công ty vào thời điểm đó và trên danh nghĩa theo luật thì người nhận thế chấp không thể đòi được tiền bồi thường từ chính sách bảo hiểm.

—Chiến tranh thánh thiện, Joe vừa cười vừa nói, vụ này hay đây nếu lão Shylock bị lừa một vố. Thế là mụ vợ thắng thế phải không?

—Chà, đó là một điểm, Bloom nói, dành cho những người ngưỡng mộ người vợ.

—Ngưỡng mộ ai cơ? Joe hỏi.

—Ý tôi là các cố vấn của người vợ, Bloom đính chính.

Rồi hắn bắt đầu lải nhải lú lẫn lộn xộn về người thế chấp theo luật hệt như ngài đại pháp quan đang tuyên án trên ghế chánh án và vì lợi ích của người vợ và rằng một quỹ tín thác được thiết lập nhưng mặt khác rằng Dignam nợ Bridgeman số tiền đó và nếu bây giờ người vợ hoặc người góa phụ tranh chấp quyền của người nhận thế chấp cho đến khi hắn làm tôi nhức cả đầu với cái điệp khúc người thế chấp theo luật của hắn. Hắn ta được cái an toàn là không bị bắt giữ theo luật đó vào thời điểm đó với tội danh lưu manh côn đồ chỉ vì hắn có người quen trong tòa. Bán vé xổ số chợ phiên hay cái quái gì gọi là xổ số đặc quyền hoàng gia Hungary. Thề có Chúa là thế. Ồ, xin bái phục một tên Israel! Vụ cướp đặc quyền hoàng gia Hungary.

Thế là Bob Doran lảo đảo bước tới nhờ Bloom chuyển lời đến bà Dignam rằng anh ta rất tiếc cho nỗi đau buồn của bà và anh ta rất tiếc về đám tang và hãy nói với bà ấy rằng anh ta nói và tất cả những ai biết anh ta đều nói rằng chưa từng có ai chân thật hơn, tuyệt vời hơn bé Willy tội nghiệp đã khuất để nói với bà ấy. Nghẹn ngào với mấy trò ngốc nghếch khốn kiếp. Và bắt tay Bloom diễn cảnh bi thương để nhắn nhủ điều đó. Bắt tay nào anh em. Cậu là một tên bịp và tôi cũng chẳng kém gì.

—Xin phép ngài, hắn nói, cho phép tôi mạo muội dựa vào sự quen biết của chúng ta mặc dù nó có vẻ mong manh nếu đánh giá theo tiêu chuẩn thời gian thuần túy, nhưng được xây dựng, như tôi hy vọng và tin tưởng, trên một tình cảm quý trọng lẫn nhau để khẩn cầu ngài ân huệ này. Nhưng, nếu tôi đã vượt quá giới hạn của sự dè dặt, xin hãy lấy sự chân thành trong tình cảm của tôi làm lời bào chữa cho sự táo bạo này.

—Không, người kia đáp lại, tôi đánh giá hoàn toàn đầy đủ những động cơ thúc đẩy hành vi của anh và tôi sẽ hoàn thành sứ mệnh anh giao phó được an ủi bởi sự suy ngẫm rằng, dù nhiệm vụ mang sắc màu đau thương, bằng chứng tin tưởng này phần nào làm ngọt ngào đi sự đắng cay của chiếc chén.

—Vậy xin cho phép tôi được nắm lấy bàn tay anh, hắn nói. Sự tốt đẹp trong trái tim anh, tôi cảm thấy chắc chắn, sẽ mách bảo anh tốt hơn những lời lẽ không thỏa đáng của tôi những biểu cảm thích hợp nhất để truyền tải một cảm xúc mà sự nhói đau của nó, nếu tôi trút hết bầu tâm sự, sẽ tước đoạt cả tiếng nói của tôi.

Và hắn chuồn thẳng ra ngoài cố đi cho thẳng hàng. Say mèm từ lúc năm giờ. Đêm đó suýt bị bắt giam nếu Paddy Leonard không quen cảnh sát viên, 14A. Mù tịt trời đất ở một quán rượu chui trên phố Bride sau giờ đóng cửa, hú hí với hai mụ quấn khăn shawls và một tên đầu sỏ canh gác, uống porter bằng tách trà. Và tự nhận mình là người Pháp với mấy mụ shawls, Joseph Manuo, và nói xấu đạo Công giáo, và hắn từng phục vụ lễ ở nhà thờ Adam and Eve khi còn trẻ với đôi mắt nhắm nghiền, kẻ đã viết nên tân ước, và cựu ước, rồi ôm ấp tình tứ. Và hai mụ shawls cười muốn chết khiếp, móc ví của hắn ta, cái thằng khốn kiếp làm đổ tung tóe bia porter khắp giường và hai mụ shawls ré lên cười chế nhạo lẫn nhau. Kinh thánh của mày thế nào rồi? Mày có cựu ước nào không? Chỉ tại Paddy đi ngang qua đó thôi, tớ nói thật đấy. Rồi nhìn hắn vào ngày Chủ nhật với nhân tình nhỏ là vợ của hắn, và mụ ta ngúng nguẩy vẫy đuôi dọc lối đi trong nhà nguyện với đôi bốt sáng bóng không chê vào đâu được, cùng hoa violet, ngoan ngoãn như bánh ngọt, làm ra vẻ tiểu thư đài cát. Em gái của Jack Mooney. Và mụ mẹ đĩ già chuyên đi môi giới phòng ốc cho các cặp đôi ra đường. Mả cha nó, Jack đã bắt hắn phải ngoan ngoãn vào khuôn phép. Dọa nếu hắn không chịu vá víu lại cái chum cái lọ, lạy Chúa, hắn sẽ nện cho lòi phèo ra.

Thế là Terry mang ra ba vại bia.

—Này, Joe vừa nói vừa làm chủ lễ. Này, công dân.

—Slan leat (Tạm biệt), hắn đáp.

—Chúc may mắn nhé Joe, tôi nói. Chúc sức khỏe, công dân.

Mả cha nó, hắn đã ngậm nửa cái miệng ngập sâu trong ly bia rồi còn gì. Phải có cả một gia tài nhỏ mới đủ tiền cung cấp đồ uống cho hắn.

—Ai là tay cao lều khều đang tranh cử thị trưởng thế Alf? Joe hỏi.

—Bạn của cậu chứ ai, Alf đáp.

—Nannan à? Joe hỏi. Nghị sĩ hả?

—Tớ không tiện nêu tên đâu, Alf nói.

—Tớ đoán thế mà, Joe nói. Tớ vừa thấy hắn ở cuộc họp đó cùng William Field, M.P., chuyên gia buôn gia súc.

—Hairy Iopas, tay công dân nói, cái ngọn núi lửa đã phát nổ đó, người cưng chiều của mọi quốc gia và thần tượng của chính mình.

Thế là Joe bắt đầu kể cho tay công dân nghe về bệnh lở mồm long móng và những kẻ buôn gia súc rồi hành động về vấn đề đó và tay công dân tống cổ tất cả bọn họ ra biên giới trong khi Bloom thò cái bài thuốc ngâm cừu trị ghẻ và thuốc trị ho cho bê cùng bài thuốc gia truyền chữa bệnh lưỡi gỗ. Bởi vì hắn từng làm việc ở lò mổ một lần. Đi lại với cuốn sổ và cây bút trong tay, đầu tôi đấy và gót chân tôi đang đuổi theo đây cho đến khi Joe Cuffe tống cổ hắn ra cửa vì dám cãi tay đôi với một gã chăn gia súc. Mister Knowall (Ông Biết Tuốt). Dạy bà ngoại mày cách vắt sữa vịt đi. Pisser Burke kể với tớ trong khách sạn rằng mụ vợ cũ đôi khi khóc như mưa chan chứa với mụ O’Dowd, khóc sưng cả mắt với lớp mỡ dày tám tấc khắp người. Cứ hễ không kìm được rắm là lão mắt cá chết trôi lại sấn sổ lượn lờ quanh mụ ta chỉ cho cách làm thế nào. Hôm nay lịch trình của cậu thế nào? À. Các phương pháp nhân đạo. Bởi vì động vật tội nghiệp phải chịu đau đớn và các chuyên gia nói rằng phương pháp tốt nhất không gây đau đớn cho động vật và hãy xoa nhẹ nhàng lên vết thương. Mả cha nó, hắn có cái tay vuốt ve dưới bụng gà mái khéo phải biết.

Ga Ga Gara. Klook Klook Klook. Mái đen là gà của chúng ta. Nó đẻ trứng cho chúng ta. Khi nó đẻ trứng nó rất vui mừng. Gara. Klook Klook Klook. Sau đó bác Leo tốt bụng đến. Bác luồn tay xuống dưới bụng mái đen và lấy quả trứng tươi của nó. Ga ga ga ga Gara. Klook Klook Klook.

—Dù sao đi nữa, Joe nói, Field và Nannetti tối nay sẽ qua London để chất vấn về vấn đề đó trên sàn hạ viện.

—Cậu có chắc là ủy viên sẽ đi không? Bloom hỏi. Nhân tiện tớ muốn gặp ông ấy.

—Ừ, ông ấy đi chuyến tàu thư tín tối nay đấy, Joe đáp.

—Tệ thật đấy, Bloom nói. Tớ có việc đặc biệt cần gặp. Hay là chỉ có ông Field đi thôi nhỉ. Tớ không gọi điện được. Không. Cậu có chắc không?

—Nannan cũng đi nữa, Joe đáp. Liên đoàn bảo hắn ngày mai phải chất vấn về việc cảnh sát trưởng cấm các trò chơi truyền thống của Ireland trong công viên. Cậu nghĩ sao về điều đó, hử công dân? Sluagh na h-Eireann.

Ông Cowe Conacre (Multifarnham. Nat.): Phát xuất từ câu hỏi của người bạn đáng kính của tôi, hạ nghị sĩ khu Shillelagh, tôi xin hỏi ngài đại diện đáng kính liệu chính phủ đã ban hành lệnh tàn sát những con vật này mặc dù không có bằng chứng y tế nào được đưa ra liên quan đến tình trạng bệnh lý của chúng hay không?

Ông Allfours (Tamoshant. Con.): Các hạ nghị sĩ đã nắm trong tay các bằng chứng được trình bày trước ủy ban toàn viện. Tôi cảm thấy mình không thể bổ sung thêm gì có ích cho việc đó nữa. Câu trả lời cho câu hỏi của hạ nghị sĩ là khẳng định.

Ông Orelli O’Reilly (Montenotte. Nat.): Liệu những lệnh tương tự đã được ban hành cho việc tàn sát những con vật mang hình hài con người dám chơi các trò chơi Ireland trong công viên Phoenix hay chưa?

Ông Allfours: Câu trả lời là phủ định.

Ông Cowe Conacre: Liệu bức điện tín Mitchelstown nổi tiếng của ngài đại diện có truyền cảm hứng cho chính sách của các quý ông trên ghế ngân quỹ hay không? (Ồ! Ồ!)

Ông Allfours: Tôi phải nhận được thông báo trước cho câu hỏi đó.

Ông Staylewit (Buncombe. Ind.): Đừng do dự mà cứ bắn thẳng tay.

((Phe đối lập hò reo mỉa mai.))

Chủ tọa: Trật tự! Trật tự!

((Hạ viện đứng dậy. Tiếng hò reo.))

—Kìa người đàn ông đó, Joe nói, người đã làm sống lại các môn thể thao Gaelic. Kìa ông ấy đang ngồi ở đó kìa. Người đã giúp James Stephens trốn thoát. Nhà vô địch toàn Ireland về môn đẩy tạ mười sáu cân. Cú ném xa nhất của cậu là bao nhiêu thế hử công dân?

—Na bacleis (Đừng bận tâm), tay công dân làm bộ khiêm tốn đáp. Dù sao thì cũng có lúc ta giỏi chẳng kém gì ai khác.

—Bắt tay cái nào công dân, Joe nói. Cậu đã từng như thế và còn tuyệt vời hơn gấp vạn lần.

—Thật thế á? Alf ngạc nhiên.

—Đúng thế, Bloom đáp. Ai mà chẳng biết chuyện đó. Cậu không biết thật à?

Thế là họ bắt đầu bàn luận về các môn thể thao truyền thống của Ireland và những trò chơi sính ngoại đại loại như quần vợt trên sân cỏ rồi về ném bóng hurling và đẩy tạ rồi mang đậm bản sắc quê hương rồi xây dựng lại đất nước và đủ thứ chuyện linh tim khác. Và dĩ nhiên Bloom cũng phải chen miệng vào về việc nếu ai đó có trái tim của vận động viên chèo thuyền thì việc tập luyện cường độ mạnh là có hại. Thề có tấm trùm lưng ghế của tôi nếu cậu nhặt một cọng rơm từ dưới sàn nhà bẩn thỉu lên và bảo với Bloom rằng: Nhìn kìa Bloom. Cậu có thấy cọng rơm đó không? Đó là một cọng rơm đấy. Thề có mụ dì của tôi, hắn sẽ nói về nó suốt một tiếng đồng hồ và nói liên mồm không ngừng nghỉ.

Một cuộc thảo luận vô cùng thú vị đã diễn ra tại sảnh cổ của Brian O’Ciarnain ở Sraid na Bretaine Bheag, dưới sự bảo trợ của Sluagh na h-Eireann, về sự phục hưng các môn thể thao truyền thống Gaelic và tầm quan trọng của thể dục thể hình, theo hiểu biết của Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại và Ireland cổ đại, cho sự phát triển của giống nòi. Vị chủ tịch đáng kính của hội đoàn cao quý đã chủ trì buổi họp và số lượng người tham dự vô cùng đông đảo. Sau bài diễn thuyết bổ ích của chủ tịch, một bài diễn văn lộng lẫy được thể hiện một cách hùng hồn và mạnh mẽ, một cuộc thảo luận vô cùng thú vị và bổ ích với tiêu chuẩn xuất sắc thường lệ đã diễn ra về sự đáng khao khát của khả năng phục hồi các trò chơi và thể thao cổ đại của tổ tiên Panceltic cổ đại của chúng ta. Người công nhân nổi tiếng và vô cùng đáng kính vì sự nghiệp bảo vệ tiếng nói quê hương của chúng ta, ông Joseph M’Carthy Hynes, đã đưa ra một lời kêu gọi hùng hồn cho việc hồi sinh các môn thể thao truyền thống Gaelic, được tập luyện vào buổi sáng và buổi chiều bởi Finn MacCool, như một phương tiện để khôi phục các truyền thống tốt nhất về sức mạnh nam tính và sự dũng mãnh được truyền lại từ ngàn xưa. L. Bloom, người nhận được sự đón nhận pha trộn giữa tiếng vỗ tay và tiếng la ó, sau khi đứng về phía phản đối, vị chủ tịch kiêm ca sĩ đã kết thúc cuộc thảo luận, hưởng ứng những lời thỉnh cầu lặp đi lặp lại và những tràng pháo tay nhiệt tình từ mọi ngóc ngách của một khán phòng kín chỗ, bằng một màn trình diễn thực sự đáng chú ý những câu thơ xanh tươi bất tử của Thomas Osborne Davis (may mắn là quá quen thuộc không cần phải nhắc lại ở đây) Một quốc gia một lần nữa trong phần thể hiện mà nhà vô địch ái quốc kỳ cựu có thể nói là không sợ bị phủ nhận đã thực sự vượt qua chính mình. Bản giao hưởng Caruso-Garibaldi của Ireland đang ở phong thái tuyệt đỉnh và những nốt trầm hùng của ông được nghe thấy với lợi thế lớn nhất trong bản quốc ca truyền thống được hát theo cách mà chỉ có công dân của chúng ta mới có thể hát được. Giọng hát cao cấp tuyệt đỉnh của ông, qua chất lượng siêu việt đã nâng cao đáng kể danh tiếng quốc tế vốn đã có của ông, đã được vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt bởi đông đảo khán giả trong đó có sự hiện diện của nhiều thành viên nổi bật thuộc giới giáo sĩ cũng như các đại diện của báo chí và luật sư cùng các ngành nghề uy bác khác. Các thủ tục sau đó đã kết thúc.

Trong số các giáo sĩ hiện diện có cha bề trên William Delany, S. J., L. L. D.; Đức cha Gerald Molloy, D. D.; cha P. J. Kavanagh, C. S. Sp.; cha T. Waters, C. C.; cha John M. Ivers, P. P.; cha P. J. Cleary, O. S. F.; cha L. J. Hickey, O. P.; cha bề trên Nicholas, O. S. F. C.; cha bề trên B. Gorman, O. D. C.; cha T. Maher, S. J.; cha bề trên James Murphy, S. J.; cha John Lavery, V. F.; cha bề trên William Doherty, D. D.; cha Peter Fagan, O. M.; cha T. Brangan, O. S. A.; cha J. Flavin, C. C.; cha M. A. Hackett, C. C.; cha W. Hurley, C. C.; Đức cha Mgr M’Manus, V. G.; cha B. R. Slattery, O. M. I.; cha bề trên M. D. Scally, P. P.; cha F. T. Purcell, O. P.; cha bề trên Timothy canon Gorman, P. P.; cha J. Flanagan, C. C. Về giáo dân có P. Fay, T. Quirke, v.v., v.v.

—Nhắc đến chuyện tập luyện bạo lực, Alf nói, cậu có đến xem trận Keogh-Bennett đó không?

—Không, Joe đáp.

—Tớ nghe nói ai đó đã kiếm được một trăm bảng ngon ơ từ trận đó đấy, Alf nói.

—Ai cơ? Blazes á? Joe hỏi.

Và Bloom chen vào:

—Ý tớ muốn nói về quần vợt chẳng hạn, là sự nhanh nhẹn và rèn luyện đôi mắt.

—Ừ, Blazes đấy, Alf nói. Hắn tung tin là Myler đang say xỉn để đẩy tỷ lệ cược lên cao trong khi hắn vẫn đang tập luyện chăm chỉ.

—Bọn tao lạ gì hắn nữa, tay công dân nói. Con của kẻ phản bội. Bọn tao biết thứ gì đã nhét vàng của Anh vào túi hắn rồi.

—Cậu nói chuẩn đấy, Joe hùa theo.

Và Bloom lại cắt ngang về quần vợt với sự lưu thông máu, hỏi Alf:

—Này, cậu không nghĩ vậy sao, Bergan?

—Myler đã dùng hắn để lau sàn nhà đấy, Alf nói. Trận Heenan và Sayers so với trận này chỉ là trò hề máu lạnh. Đã cho hắn ta ăn một trận đòn tơi bời hoa lá. Cậu thấy đấy, gã nhóc lùn tịt chưa tới rốn mà gã to con cứ quật túi bụi. Chúa ơi, hắn tung cho một cú đánh chí mạng vào hoành cách đúng luật Queensberry, khiến hắn nôn cả những thứ chưa từng ăn ra ngoài.

Đó là một trận chiến lịch sử và nặng đô khi Myler và Percy lên lịch đeo găng vì giải thưởng năm mươi đồng guinea. Dù bị bất lợi về trọng lượng, chú cừu cưng của Dublin đã bù đắp bằng kỹ năng tuyệt đỉnh trong chiến thuật trên võ đài. Hiệp đấu pháo hoa cuối cùng là một màn tra tấn cho cả hai nhà vô địch. Viên trung sĩ hạng bán trung đã khui ra một vài giọt máu tươi trong cuộc đụng độ trước đó, trong đó Keogh đã là người nhận tổng cộng các cú đấm phải trái, pháo thủ đã tung ra một vài đòn gọn gàng vào mũi cừu cưng, và Myler tiến lên với vẻ mặt lảo đảo. Người lính lao vào hành sự, dẫn đầu bằng một cú đấm trái uy lực mà võ sĩ đấu sĩ Ireland đã trả đũa bằng cách tung ra một cú thẳng tay trúng phóc vào cằm Bennett. Kẻ mặc áo đỏ né đòn nhưng chàng trai Dublin đã nhấc bổng hắn lên bằng một cú móc trái, cú đánh vào thân thể rất đẹp mắt. Hai người bước vào vật lộn. Myler nhanh chóng bận rộn và đè được đối thủ xuống, hiệp đấu kết thúc với việc gã to con hơn ngã dựa vào dây đai võ sĩ, bị Myler trừng phạt tơi bời. Người Anh, với con mắt bên phải gần như khép lại, đã lui về góc đài nơi hắn được tưới đẫm nước và khi tiếng chuông reo đã xông lên đầy gan góc và dũng cảm, tự tin hạ gục tay đấm bốc xứ Eblana trong nháy mắt. Đó là một trận đấu đến cùng và kẻ xuất sắc nhất dành chiến thắng. Cả hai chiến đấu như những con hổ và sự phấn khích đạt đến đỉnh điểm sốt rét. Trọng tài đã hai lần cảnh cáo Pucking Percy vì tội ôm giữ nhưng cừu cưng rất lém lỉnh và lối di chuyển đôi chân của cậu ta thật tuyệt vời khi ngắm nhìn. Sau một màn giao lưu nhanh chóng trong đó một cú móc ngược khéo léo của người lính mang lại máu tươi từ miệng đối thủ của hắn, chú cừu đột ngột xông vào tấn công toàn diện đối thủ và tung ra một cú trái khốc liệt vào dạ dày Battling Bennett, đánh gục hắn nằm phẳng lì. Đó là một cú knock-out sạch sẽ và khéo léo. Giữa sự kỳ vọng căng thẳng, gã võ sĩ xứ Portobello đang bị đếm ngược thì giây phút phụ của Bennett là Ole Pfotts Wettstein đã ném chiếc khăn trắng lên và chàng trai Santry được tuyên bố là người chiến thắng trước những tiếng hò reo cuồng nhiệt của công chúng, những người đã phá vỡ dây võ sĩ và lao vào ăn mừng với sự vui sướng tột độ.

—Hắn biết rõ bên nào bánh mì được phết bơ đấy, Alf nói. Tớ nghe nói hắn đang tổ chức một chuyến lưu diễn hòa nhạc ở miền bắc đấy.

—Đúng thế, Joe nói. Phải thế không nhỉ?

—Ai cơ? Bloom hỏi. À vâng. Đúng thế đấy. Vâng, một kiểu tour du lịch mùa hè ấy mà. Chỉ là đi nghỉ mát thôi.

—Bà B. là ngôi sao sáng chói phải không? Joe hỏi.

—Vợ tôi á? Bloom nói. Cô ấy có hát, vâng. Tớ nghĩ đó cũng sẽ là một thành công. Hắn là một người xuất sắc trong việc tổ chức. Xuất sắc.

Ô hô mả cha nó, tôi tự lẩm bẩm với chính mình. Thế thì rõ mười mươi nguyên nhân sâu xa và chẳng còn gì bí ẩn nữa rồi. Đứa con trai của tên bịp bợm dơ dáy ở Island Bridge, kẻ từng bán hai lần cùng một bầy ngựa cho chính phủ để đánh nhau với người Boer. Lão Gì gì đó. Tôi đến hỏi về thuế người nghèo và tiền nước, thưa ông Boylan. Ông gì cơ? Tiền nước đấy, ông Boylan. Ông gì gì cơ? Đúng là cái tên công tử bột đó sẽ đứng ra tổ chức cho mụ ta đấy, nghe tao khuyên đi. Giữa tôi với cậu, thề có Chúa.

Niềm kiêu hãnh của đỉnh núi Calpe, ái nữ tóc đen của dòng họ Tweedy. Nàng lớn lên ở chốn có vẻ đẹp vô song nơi trái nhót và hạnh nhân ngào ngạt hương thơm. Những khu vườn Alameda từng in dấu chân nàng: những điền trang ô liu từng cúi đầu chào. Nàng là người vợ trinh bạch của Leopold: Marion với bầu ngực đầy đặn trù phú.

Và kìa, một thành viên trong thị tộc O’Molloy bước vào, một vị anh hùng tuấn tú với khuôn mặt trắng trẻo nhưng phảng phất chút hồng hào, luật sư học giả của hoàng gia, và đi cùng ông là vị vương tử kiêm người thừa kế dòng dõi cao quý Lambert.

—Chào Ned.

—Chào Alf.

—Chào Jack.

—Chào Joe.

—Chúa phù hộ các cậu, tay công dân chào.

—Cảm ơn thịnh tình của anh, J. J. đáp. Uống gì nào Ned?

—Nửa ly, Ned nói.

Thế là J. J. gọi đồ uống.

—Cậu có ghé qua tòa án không đấy? Joe hỏi.

—Có chứ, J. J. đáp. Hắn sẽ dàn xếp ổn thỏa vụ đó thôi, Ned ạ, ông ta nói.

—Hy vọng thế, Ned nói.

Mà hai gã đó đang bàn chuyện gì thế nhỉ? J. J. đang giúp hắn gạch tên khỏi danh sách đại bồi thẩm đoàn còn người kia thì giúp hắn một tay vượt rào. Với cái tên nằm trong sổ đen của Stubbs. Đánh bài, kết bè kết phái với bọn quý tộc rởm đeo kính một mắt kiêu kỳ, uống rượu sâm banh trong khi bản thân ngập ngụa trong trát hầu tòa và lệnh phong tỏa tài sản. Đem cầm chiếc đồng hồ vàng ở tiệm của Cummins trên phố Francis nơi chẳng ai nhận ra hắn trong căn phòng riêng hồi tớ cùng Pisser đến chuộc đôi bốt ra khỏi tiệm cầm đồ. Tên ngài là gì? Dunne, hắn đáp. Ừ, và “đôn” (tiêu đời) luôn rồi còn gì, tôi thọ thẻ. Mả cha nó, tớ nghĩ có ngày lão ta sẽ phải lê lết trở về trong nước mắt cho mà xem.

—Cậu có thấy cái tên khùng khốn nạn Breen lảng vảng ở đó không hả Alf? U. p: up, Joe hỏi.

—Có chứ, J. J. đáp. Đang đi tìm thám tử tư.

—Ừ, Ned nói. Lão còn định đường đường chính chính đứng ra điều trần trước tòa nếu corny Kelleher không can ngăn và bảo lão đi giám định chữ viết trước đã.

—Mười ngàn bảng, Alf cười lớn nói. Chúa ơi, tớ sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để được nghe lão ta tố tụng trước một vị thẩm phán và bồi thẩm đoàn.

—Có phải cậu là kẻ đã làm chuyện đó không Alf? Joe hỏi. Nói sự thật, toàn bộ sự thật và không gì ngoài sự thật, xin Chúa phù hộ cho cậu.

—Tôi á? Alf cãi. Đừng có mà bôi nhọ nhân phẩm của tôi nhé.

—Bất kỳ tuyên bố nào của cậu, Joe nói, sẽ được ghi lại làm bằng chứng chống lại cậu đấy.

—Dĩ nhiên là một vụ kiện sẽ được thụ lý, J. J. nhận xét. Nó ngụ ý rằng hắn ta không được tỉnh táo cho lắm. U. p: up.

—Tỉnh táo cái đầu cậu ấy! Alf cười lớn nói. Cậu có biết lão ta bị điên không hả? Nhìn cái đầu lão kìa. Cậu có biết có những buổi sáng lão phải dùng cả cỏ giày mới nhét nổi cái mũ vào đầu không.

—Đúng vậy, J. J. nói, nhưng sự thật của một vụ phỉ báng không phải là lời bào chữa trước cáo buộc xuất bản nó theo quan điểm của pháp luật.

—Ha ha Alf, Joe cười.

—Tuy nhiên, Bloom nói, vì lợi ích của người phụ nữ tội nghiệp, ý tôi là vợ lão ta.

—Đáng thương cho mụ ta thật, tay công dân nói. Hoặc bất kỳ người phụ nữ nào kết hôn với một kẻ dở ông dở thằng.

—Dở ông dở thằng là sao? Bloom hỏi. Ý cậu là lão ấy...

—Ý tôi là dở ông dở thằng đấy, tay công dân đáp. Một kẻ chẳng ra cá chẳng ra thịt.

—Cũng chẳng phải cá trích đỏ ngon lành gì, Joe phụ họa.

—Đúng thế đấy, tay công dân nói. Một kẻ hâm dở pishogue, nếu cậu biết đó là cái quái gì.

Mả cha nó, tôi thấy rắc rối sắp đến nơi rồi. Và Bloom đang thanh minh rằng ý hắn là vì thật tàn nhẫn khi người vợ cứ phải lế thế đi theo lão chồng lắp bắp điên khùng đó. Đúng là tội ác chống lại động vật khi thả cho cái tên Breen nghèo rớt mồng tơi khốn kiếp ấy lơn tơn ngoài đường với bộ râu vướng víu vấp chân vấp tay mang theo những cơn mưa rề rà. Thế mà mụ vợ thì cứ vênh mặt lên tận trời sau khi cưới hắn vì một người họ hàng bên nhà lão chồng là kẻ mở cửa nhà thờ cho giáo hoàng. Bức tranh treo tường vẽ lão với bộ ria mép kiểu Smashall Sweeney, ngài Brini từ Summerhill, tay người Ý, lính Zouave của Đức Giáo Hoàng, đã bỏ bến cảng để sang phố Moss. Và hắn là ai cơ chứ, nói nghe xem nào? Chẳng là ai cả, thuê căn hộ hai phòng ở tầng trên cùng với hành lang chung giá bảy si-linh một tuần, thế mà trên người khoác đủ loại giáp trụ thách thức cả thế giới.

—Và hơn nữa, J. J. nói, một tấm bưu thiếp cũng được coi là ấn phẩm xuất bản. Nó được coi là bằng chứng đủ để khép tội ác ý trong vụ án điển hình Sadgrove kiện Hole. Theo ý kiến của tôi, một vụ kiện hoàn toàn có thể được thụ lý.

Sáu xu tám xu nhé, xin lỗi đi. Ai thèm nghe ý kiến của ông cơ chứ? Cứ để chúng tôi yên ổn uống vại bia xem nào. Mả cha nó, đến việc đó chúng tôi cũng chẳng được yên nữa là.

—Thôi thì chúc sức khỏe nhé Jack, Ned nâng ly.

—Chúc sức khỏe Ned, J. J. đáp.

—Kìa hắn lại tới kìa, Joe lẩm bẩm.

—Đâu cơ? Alf hỏi.

Và mả cha nó, quả nhiên lão ta đang đi ngang qua cửa với đống sách kẹp dưới nách và mụ vợ đi bên cạnh, còn Corny Kelleher với con mắt lác đang nhìn vào trong khi họ đi ngang qua, vừa nói chuyện với lão ta như một người cha vừa cố gắng bán cho lão một chiếc quan tài cũ.

—Vụ lừa đảo ở Canada đi đến đâu rồi? Joe hỏi.

—Bị hoãn xét xử rồi, J. J. đáp.

Một tên thuộc hội mũi chai mang bí danh James Wought hay còn gọi là Saphiro hoặc Spark và Spiro, đã đăng một mẩu quảng cáo trên báo rằng hắn sẽ tài trợ vé đi Canada với giá hai mươi xu. Gì cơ? Cậu thấy có màu xanh nào trong tròng trắng mắt tôi không? Dĩ nhiên đó là một trò bịp bợm khốn kiếp rồi. Gì cơ? Lừa gạt tất cả bọn chúng, từ đám hầu gái cho đến lũ nhà quê khờ khạo từ hạt Meath, vâng, và cả đồng hương của hắn nữa. J. J. đang kể với chúng tôi rằng có một lão người Do Thái cổ đại tên là Zaretsky hay đại loại thế đang khóc rưng rức trên ghế nhân chứng với chiếc mũ đội trên đầu, thề thốt trước thánh Moses rằng hắn bị lừa mất hai bảng.

—Ai xử vụ này thế? Joe hỏi.

—Quan tòa thành phố, Ned đáp.

—Tội nghiệp ngài Frederick già nua, Alf nói, lão ta thì có thể bị lừa đến tận hai con mắt.

—Trái tim to bằng con sư tử, Ned nói. Cứ kể cho lão nghe một câu chuyện thảm thương về tiền nhà nợ đọng cùng một bà vợ ốm đau và một bầy con nheo nhóc xem, thề có Chúa, lão sẽ tuôn trào nước mắt ngay trên ghế chánh án cho mà xem.

—Ừ, Alf nói. Reuben J thực sự rất may mắn khi hôm nọ lão không tống cổ hắn vào vành móng ngựa vì dám kiện tụng tên Gumley tội nghiệp đang đi nhặt đá cho hội đồng thành phố ngay gần cầu Butt.

Và cậu ta bắt đầu nhại lại điệu bộ khóc lóc của vị quan tòa già:

—Thật là một việc vô cùng tai tiếng! Một người đàn ông chăm chỉ tội nghiệp này! Có bao nhiêu đứa con? Mười đứa cơ à?

—Vâng thưa quan tòa. Và vợ con mắc bệnh thương hàn nữa.

—Và vợ lại mắc bệnh thương hàn nữa chứ! Thật tai tiếng! Rời khỏi phòng xử án ngay lập tức, thưa ông. Không, thưa ông, tôi sẽ không ban hành lệnh thanh toán nào hết. Sao ông dám, thưa ông, đứng trước mặt tôi và yêu cầu tôi ban hành một lệnh xử phạt! Một người lao động siêng năng chăm chỉ tội nghiệp! Tôi bác bỏ vụ án.

Và trong khi vào ngày thứ mười sáu của tháng vị nữ thần mắt bò và trong tuần thứ ba sau ngày lễ Chúa Ba Ngôi chí thánh và bất khả phân, ái nữ của bầu trời, trăng non khi ấy ở quý đầu tiên của nó, sự việc đã xảy ra là những vị thẩm phán thông thái ấy đã lui về các sảnh đường công lý. Nơi đó ngài Courtenay, ngồi trong phòng riêng của mình, đã đưa ra phán quyết và ngài Thẩm phán Andrews, ngồi không có bồi thẩm đoàn trong tòa án di chúc, đã cân nhắc kỹ lưỡng và suy ngẫm về khiếu nại của nguyên đơn chính đối với tài sản trong vấn đề di chúc được đệ trình và định đoạt di chúc cuối cùng liên quan đến bất động sản và động sản của cố gia thất Jacob Halliday quá cố, người bán rượu, chống lại Livingstone, một trẻ vị thành niên, người không có năng lực hành vi dân sự, và một người khác. Và đến tòa án trang nghiêm phố Green có ngài Frederick người huấn luyện chim ưng. Và ông ngồi đó vào khoảng năm giờ chiều để thực thi luật pháp của các Brehon tại ủy ban cho tất cả các phần đó được tổ chức tại và cho hạt của thành phố Dublin. Và ngồi cùng ông là hội đồng tối cao gồm mười hai chi tộc Iar, mỗi chi tộc một người, từ chi tộc Patrick và chi tộc Hugh và chi tộc Owen và chi tộc Conn và chi tộc Oscar và chi tộc Fergus và chi tộc Finn và chi tộc Dermot và chi tộc Cormac và chi tộc Kevin và chi tộc Caolte và chi tộc Ossian, tổng cộng có mười hai người đàn ông ngay thẳng và chân chính. Và ông đã triệu hồi họ bởi Đấng đã chết trên cây thập giá rằng họ sẽ xét xử thật ngay thẳng và chân chính và đưa ra phán quyết đúng đắn trong vấn đề tranh chấp giữa đức vua bệ hạ và bị cáo tại vành móng ngựa và đưa ra phán quyết trung thực theo các bằng chứng, xin Chúa phù hộ họ và hôn lên cuốn kinh thánh. Và họ đứng dậy trên ghế của mình, mười hai người xứ Iar ấy, và họ thề nhân danh Đấng Hằng Hữu rằng họ sẽ thực hiện công lý của Ngài. Và ngay lập tức các tay sai của công lý dẫn ra khỏi ngục tối một kẻ mà những con chó săn của công lý đã bắt giữ sau khi nhận được tin báo. Và họ xiềng xích hắn ta từ tay đến chân và không chấp nhận bảo lãnh hay thế chân nào mà đưa ra cáo buộc chống lại hắn bởi hắn là một kẻ ác độc.

—Đúng là những thứ tốt đẹp thật, tay công dân nói, kéo nhau sang đây tới Ireland làm ngập tràn đất nước này với lũ rận bọ.

Thế là Bloom làm bộ như không nghe thấy gì và bắt đầu trò chuyện với Joe, bảo rằng cậu không cần phải bận tâm về cái vụ nhỏ nhặt đó cho đến ngày mùng một nhưng nếu cậu có thể nói một tiếng với ông Crawford thì tốt biết mấy. Và thế là Joe thề độc lên thề xuống bằng cái này cái nọ rằng hắn sẽ làm tất cả mọi thứ trên đời.

—Bởi vì, cậu thấy đấy, Bloom nói, để quảng cáo thì cậu phải lặp đi lặp lại. Đó là toàn bộ bí quyết.

—Cứ tin tưởng ở tớ, Joe nói.

—Đi lừa gạt những người nông dân, tay công dân nói, và những người nghèo ở Ireland. Chúng ta không cần thêm những kẻ xa lạ nào trong nhà của mình nữa.

—Ôi, tớ chắc chắn là mọi chuyện sẽ ổn thôi Hynes, Bloom nói. Chỉ là cái vụ Keyes ấy mà.

—Cứ coi như xong đi, Joe nói.

—Cảm ơn lòng tốt của cậu nhé, Bloom nói.

—Những kẻ xa lạ, tay công dân lải nhải. Lỗi tại chúng ta thôi. Chúng ta đã để chúng bước vào. Chúng ta đã rước chúng vào. Người đàn bà ngoại tình và nhân tình của ả đã rước bọn cướp Saxon tới đây.

—Phán quyết ly hôn tạm thời (Decree nisi), J. J. đan xen.

Và Bloom làm bộ như vô cùng quan tâm sâu sắc đến một thứ chẳng có gì sất, cái mạng nhện ở góc tường sau chiếc thùng phi, còn tay công dân thì đang trừng mắt nhìn theo hắn trong khi con chó già dưới chân ngẩng lên ngóng xem nên cắn ai và cắn vào lúc nào.

—Một người vợ không còn trinh tiết, tay công dân nói, đó mới là nguyên nhân dẫn đến mọi bất hạnh của chúng ta.

—Và kìa nàng ta xuất hiện, Alf nói, kẻ đang hí hửng khúc khích xem Tờ báo cảnh sát cùng Terry trên quầy bar, khoác trên mình đầy đủ xiêm y chiến trận.

—Cho tớ ngó cái mặt mụ ta tí nào, tôi nói.

Và cái quái gì nữa nếu không phải là một trong những bức tranh bẩn thỉu kiểu Mỹ mà Terry mượn của Corny Kelleher. Bí quyết mở rộng bộ phận sinh dục. Vụ bê bối của mỹ nhân thượng lưu. Norman W. Tupper, nhà thầu giàu có ở Chicago, bắt quả tang cô vợ xinh đẹp nhưng bội bạc đang ngồi trong lòng sĩ quan Taylor. Mỹ nhân trong bộ đồ lót đang làm trò đồi bại, và gã nhân tình đang mân mê sờ soạng trong khi Norman W. Tupper xông vào với khẩu súng lục vừa đúng lúc để đến muộn sau khi ả ta đã làm xong trò mèo với sĩ quan Taylor.

—Ôi chúa ơi Jenny, Joe kêu lên, sao áo của cậu ngắn thế!

—Kìa bộ lông kìa Joe, tôi chêm vào. Kiếm được một khúc đuôi thịt bò muối quái gở từ con mụ đó đấy nhỉ?

Thế là thế nào John Wyse Nolan và Lenehan bước vào với cái mặt dài thườn thượt như một bữa sáng muộn.

—Thế nào, tay công dân cất giọng hỏi, có tin tức gì mới nhất từ chiến trường chưa? Bọn mõm nhôm trong tòa thị chính tại cuộc họp kín của chúng đã quyết định thế nào về tiếng Ireland rồi?

O’Nolan, khoác trên mình bộ giáp sáng lóa, cúi thấp người hành lễ trước vị thủ lĩnh uy quyền và hùng mạnh của toàn cerin và thông báo cho ông ta những gì đã xảy ra, rằng các bô lão trang trọng của thành phố ngoan ngoãn nhất, lớn thứ hai trong vương quốc, đã tề tựu với họ tại tòa tholsel, và ở đó, sau những lời cầu nguyện thích hợp gửi đến các vị thần ngụ tại cõi thượng thiên, đã tiến hành hội ý trang trọng nhờ đó họ có thể, nếu có thể, mang trở lại danh dự giữa chốn phàm nhân tiếng nói chắp cánh của người Gael bị chia cắt bởi biển cả.

—Nó đang trên đà tiến bước đấy, tay công dân tuyên bố. Biến quái đi lũ Saxon tàn bạo máu lạnh cùng thứ thổ âm của chúng.

Thế là J. J. chen vào một câu, ra vẻ quý tộc rằng một câu chuyện nghe có vẻ hay cho đến khi cậu nghe được câu chuyện khác và lờ đi các sự kiện và chính sách của Nelson, đưa con mắt mù vào kính viễn vọng và soạn thảo một dự luật tước quyền công dân để buộc tội cả một quốc gia, trong khi Bloom thì cố gắng ủng hộ sự ôn hòa và phiền toái cùng các thuộc địa và nền văn minh của họ.

—Ý anh là nạn giang mai hóa (syphilisation), tay công dân gầm lên. Biến quái đi cho khuất mắt! Lời nguyền của một vị Thần vô tích sự giáng xiên xuống đầu lũ con hoang tai điếc đầu óc đần độn! Chẳng có âm nhạc, chẳng có nghệ thuật và chẳng có văn học nào ra hồn cả. Bất kỳ nền văn minh nào chúng có đều là đi ăn cắp của chúng ta. Lũ con hoang câm miệng của những bóng ma hoang.

—Gia đình châu Âu, J. J. mở lời...

—Chúng không phải là người châu Âu, tay công dân ngắt lời. Tớ từng ở châu Âu với Kevin Egan ở Paris. Cậu sẽ chẳng thể tìm thấy dấu vết nào của chúng hoặc ngôn ngữ của chúng ở bất cứ đâu trên đất châu Âu ngoại trừ trong một cái nhà vệ sinh công cộng (cabinet d’aisance).

Và John Wyse tiếp lời:

—Biết bao đóa hoa sinh ra đành ngậm ngùi tàn úa nơi chốn không người.

Và Lenehan, kẻ biết dăm ba câu tiếng lóng, cất giọng:

—Conspuez les Anglais! Perfide Albion! (Nguyền rủa người Anh! Nước Anh bội bạc!)

Hắn nói xong rồi nâng đôi bàn tay thô kệch vạm vỡ mạnh mẽ của mình lên chiếc vại đựng đầy bia đen sủi bọt và, cất lên khẩu hiệu thị tộc Lamh Dearg Abu, hắn uống cạn để chúc cho sự diệt vong của kẻ thù, một chủng tộc của những anh hùng dũng mãnh, những kẻ thống trị các đại dương, những người ngồi trên ngai vàng bằng thạch anh im lặng như các vị thần bất tử.

—Cậu bị cái quái gì thế, tôi hỏi Lenehan. Trông cậu cứ như một tên vừa đánh rơi một đồng xu rồi nhặt được một đồng sáu xu vậy.

—Gold cup (Cúp vàng), hắn đáp.

—Ai thắng thế anh Lenehan? Terry hỏi.

—Throwaway, hắn đáp, tỷ lệ ăn hai mươi trên một. Một con ngựa ngoài cuộc chính hiệu. Còn phần còn lại thì mất hút.

—Thế còn con ngựa cái của Bass? Terry hỏi.

—Vẫn đang chạy trên đường đua, hắn đáp. Tiêu đời chúng ta rồi. Boylan đã ném hai bảng vào gợi ý của tớ con Sceptre cho hắn và một nữ bằng hữu.

—Tớ cũng có nửa vương-miệng, Terry nói, đặt cược vào con Zinfandel mà ông Flynn đưa cho tớ. Ngựa của Lãnh chúa Howard de Walden.

—Tỷ lệ hai mươi ăn một, Lenehan thốt lên. Cuộc đời trong chuồng chó là thế đấy. Throwaway, hắn lẩm bẩm. Đạt giải nhất rồi, còn đang bàn về mụn cóc à. Sự yếu đuối, tên ngươi là Sceptre.

Thế là hắn đi về phía chiếc hộp đựng bánh quy mà Bob Doran để lại xem có thứ gì có thể chôm chỉa được không, con chó hoang đi theo sau cổ vũ cho vận may của nó với cái mõm ghẻ lở ngẩng cao. Bà mẹ già Hubbard đi tới cái tủ chén.

—Không có gì ở đó đâu con tôi ơi, hắn lẩm bầm.

—Cố gắng lên đừng nản chí, Joe động viên.

Và J. J. với tay công dân đang tranh cãi về luật pháp và lịch sử trong khi Bloom thỉnh thoảng lại chen vào một vài từ.

—Một số người, Bloom nói, có thể nhìn thấy cái dằm trong mắt người khác nhưng lại không nhìn thấy cái xà gồ trong mắt chính mình.

—Raimeis (Chuyện nhảm nhí), tay công dân gạt đi. Chẳng có ai mù lòa bằng kẻ không muốn nhìn thấy, nếu cậu hiểu điều đó có nghĩa là gì. Thế hai mươi triệu người Ireland bị mất tích của chúng ta, những người đáng lẽ phải có mặt ở đây hôm nay thay vì bốn triệu, những bộ lạc thất lạc của chúng ta đâu rồi? Và những ngành gốm sứ và dệt may của chúng ta, những thứ tuyệt vời nhất trên toàn thế giới! Và len của chúng ta từng được bán ở Rome vào thời đại của Juvenal và lanh cùng vải damask từ các khung cửi ở Antrim và ren Limerick của chúng ta, các xưởng thuộc da và thủy tinh trắng của chúng ta ở dưới đó gần Ballybough và lụa Huguenot của chúng ta mà chúng ta có kể từ thời Jacquard de Lyon và lụa dệt cùng tuê-đét Foxford và điểm nổi ngà voi từ tu viện Carmelite ở New Ross, không gì sánh bằng trên toàn thế giới này. Những thương gia Hy Lạp từng đi qua những cột Hercules, eo biển Gibraltar giờ đây bị cướp đoạt bởi kẻ thù của nhân loại, mang theo vàng và màu tím Tyrian để bán ở Wexford tại hội chợ Carmen đâu rồi? Hãy đọc Tacitus và Ptolemy, thậm chí cả Giraldus Cambrensis. Rượu vang, da thú, đá cẩm thạch Connemara, bạc từ Tipperary không thua kém ai, những chú ngựa nổi tiếng xa gần thậm chí cho đến ngày nay của chúng ta, giống ngựa lùn Ireland, với việc vua Philip của Tây Ban Nha đề nghị trả thuế quan để đổi lấy quyền đánh bắt cá trong vùng nước của chúng ta. Bọn đầu vàng Anglia nợ chúng ta những gì vì nền thương mại bị tàn phá và những lò sưởi bị phá hủy của chúng ta? Và những lòng sông Barrow và Shannon chúng không chịu vét sâu với hàng triệu mẫu đất đầm lầy để tất cả chúng ta chết vì bệnh lao phổi ư?

—Chẳng mấy chốc chúng ta sẽ trơ trụi chẳng khác gì Bồ Đào Nha, John Wyse nói, hoặc đảo Heligoland với độc nhất một cái cây nếu không có hành động gì được thực hiện để trồng lại rừng. Cây thông rụng lá, linh sam, tất cả các loại cây họ thông đang biến mất nhanh chóng. Tớ đang đọc một báo cáo của Lãnh chúa Castletown...

—Hãy cứu lấy chúng, tay công dân hô lên, cây tần bì khổng lồ ở Galway và cây du thủ lĩnh ở Kildare với thân cây rộng bốn mươi thước và một mẫu tán lá. Hãy cứu lấy những rừng cây của Ireland cho những người đàn ông tương lai của Ireland trên những ngọn đồi xinh đẹp của xứ Eire.

—Châu Âu đang hướng đôi mắt về phía các cậu đấy, Lenehan nói.

Thế giới quốc tế thời thượng đã tham dự đông đảo vào chiều nay tại lễ cưới của hiệp sĩ Jean Wyse de Neaulan, đại thủ lĩnh tối cao của phong trào Lâm nghiệp Quốc gia Ireland, với cô Fir Conifer thuộc Thung lũng Thông. Nữ bá tước Sylvester Elmshade, bà Barbara Lovebirch, bà Poll Ash, bà Holly Hazeleyes, cô Daphne Bays, cô Dorothy Canebrake, bà Clyde Twelvetrees, bà Rowan Greene, bà Helen Vinegadding, cô Virginia Creeper, cô Gladys Beech, cô Olive Garth, bà Blanche Maple, bà Maud Mahogany, cô Myra Myrtle, cô Priscilla Elderflower, cô Bee Honeysuckle, cô Grace Poplar, cô O Mimosa San, cô Rachel Cedarfrond, các tiểu thư Lilian và Viola Lilac, cô Timidity Aspenall, bà Kitty Dewey-Mosse, cô May Hawthorne, bà Gloriana Palme, bà Liana Forrest, bà Arabella Blackwood và bà Norma Holyoake thuộc Oakholme Regis đã tôn vinh buổi lễ bằng sự hiện diện của họ. Cô dâu được trao tay bởi cha mình, ngài M’Conifer xứ Glands, trông vô cùng quyến rũ trong một thiết kế thực hiện bằng lụa tơ tằm mercerised màu xanh lá cây, ôm sát trên lớp lót xám hoàng hôn, thắt đai với đai ngực bằng ngọc bích rộng và hoàn thiện với ba lớp viền diềm bằng tua rua sẫm màu hơn, bộ trang phục được làm dịu bớt bằng dây đeo vai và các miếng chèn hông màu đồng quả sồi. Các phù dâu, cô Larch Conifer và cô Spruce Conifer, chị em gái của cô dâu, mặc những bộ trang phục rất phù hợp cùng tông màu, một họa tiết tinh tế màu hoa hồng mận được thêu vào các nếp gấp theo đường sọc nhỏ và lặp lại một cách ngẫu hứng trong những chiếc nón trùm đầu màu xanh ngọc bích dưới dạng lông diệc màu san hô nhạt. Senhor Enrique Flor chủ trì đàn organ với khả năng nổi tiếng của mình và, ngoài các phần quy định của thánh lễ hôn phối, đã chơi một bản hòa tấu mới lạ và nổi bật bài Woodman, spare that tree (Hỡi người tiều phu, hãy tha cho cây đó) ở phần kết thúc buổi lễ. Khi rời nhà thờ Saint Fiacre in Horto sau lời chúc phúc của giáo hoàng, cặp đôi hạnh phúc đã trải qua một trận chiến giao tranh vui đùa bằng hạt phỉ, hạt dẻ sồi, lá nguyệt quế, bông liễu, rễ thường xuân, quả ô rô, cành tầm gửi và chồi thanh lương trà. Ông bà Wyse Conifer Neaulan sẽ trải qua tuần trăng mật yên bình trong Rừng Đen.

—Và đôi mắt của chúng ta đang hướng về châu Âu, tay công dân nói. Chúng ta đã có quan hệ thương mại với Tây Ban Nha, người Pháp và người Flemings trước khi lũ chó lai đó được đẻ ra, rượu vang Tây Ban Nha ở Galway, con thuyền chở rượu trên tuyến đường thủy đậm màu rượu vang.

—Và sẽ lại có, Joe khẳng định.

—Và với sự giúp đỡ của thánh mẫu thiên chúa, chúng ta sẽ lại có, tay công dân vừa vỗ đùi vừa nói. Những bến cảng đang trống vắng của chúng ta sẽ lại đầy ắp tàu bè, Queenstown, Kinsale, Galway, vịnh Blacksod, Ventry trong vương quốc Kerry, Killybegs, cảng lớn thứ ba trên thế giới rộng lớn với một hạm đội cột buồm của dòng họ Lynch xứ Galway và O’Reilly xứ Cavan và O’Kennedy xứ Dublin khi bá tước Desmond có thể ký một hiệp ước với chính hoàng đế Charles Đệ ngũ. Và sẽ lại có, hắn nói, khi chiến hạm Ireland đầu tiên được nhìn thấy vươn mình rẽ sóng với lá cờ của chính chúng ta tung bay ở phía trước, không phải cờ đàn hạc của Henry Tudor nhà ngươi đâu, không, lá cờ lâu đời nhất đang tung bay trên mặt nước, lá cờ của xứ Desmond và Thomond, ba chiếc vương miện trên nền xanh, ba người con trai của Milesius.

Và hắn nốc ngụm cuối cùng trong vại bia. Moya. Toàn gió với nước tiểu hệt như con mèo ở xưởng thuộc da. Bò ở Connacht có sừng dài. Đáng giá cái mạng chết tiệt của hắn lắm khi đi xuống và tuôn ra những lời ba hoa phét lác trước đám đông tụ tập ở Shanagolden, nơi hắn không dám thò mặt ra vì nhóm Molly Maguires đang lùng sục hắn để bắn thủng người vì tội chiếm đoạt mảnh đất của một người thuê nhà bị trục xuất.

—Đúng thế, hoàn toàn đồng tình với John Wyse. Các cậu uống gì nào?

—Một suất lính kỵ binh đế quốc, Lenehan nói, để kỷ niệm dịp này.

—Nửa ly đi Terry, John Wyse gọi, và giơ tay lên nào. Terry! Mày ngủ quên à?

—Vâng thưa ngài, Terry đáp. Một whisky nhỏ và một chai Allsop. Rõ thưa ngài.

Cứ chúi mũi vào tờ báo khốn kiếp cùng Alf để tìm kiếm mấy mẩu chuyện cay cú thay vì phục vụ công chúng chung. Hình ảnh một trận đấu đâm đầu vào nhau, cố gắng nứt cả sọ, một tên lao vào tên kia với cái đầu cúi thấp như bò tợn lao qua cổng. Và một tấm khác: Quái vật đen bị thiêu sống ở Omaha, Ga. Lũ Deadwood Dicks đội mũ sụp và chúng đang nả đạn vào một tên da đen bị treo cổ lủng lẳng trên cây với chiếc lưỡi thè ra và một giàn lửa bên dưới hắn. Mả cha nó, bọn chúng lẽ ra nên dìm hắn xuống biển sau đó tra tấn điện giật và đóng đinh câu rút để đảm bảo công việc hoàn thành.

—Nhưng còn hạm đội chiến đấu thì sao, Ned hỏi, thứ giữ cho kẻ thù của chúng ta ở khoảng cách an toàn?

—Tớ sẽ nói cho cậu biết về nó, tay công dân xen vào. Đúng là địa hạ trần gian. Hãy đọc những lời tiết lộ đang diễn ra trên báo chí về việc đánh roi tại các tàu huấn luyện ở Portsmouth.

Thế là hắn bắt đầu kể cho chúng ta nghe về hình phạt nhục hình và về thủy thủ đoàn cùng các sĩ quan và chuẩn đô đốc xếp hàng trong những chiếc mũ tam giác và vị mục sư với cuốn kinh thánh Tin Lành để làm chứng cho hình phạt và một cậu thiếu niên được đưa ra, gào khóc gọi mẹ, và họ trói giật hắn vào phần đuôi của một khẩu đại bác.

—Một mông và mười hai roi, tay công dân nói, đó là thứ mà lão côn đồ già ngài John Beresford gọi nó nhưng gã người Anh của Chúa thời hiện đại gọi nó là quất roi vào mông.

Và John Wyse chen vào:

—Đó là một phong tục bị phá vỡ còn hơn được tuân thủ.

Rồi hắn đang kể cho chúng ta nghe sĩ quan vũ khí bước tới với một cây gậy dài và hắn vung tay lên và quất nát bét cái mông khốn kiếp của cậu thiếu niên tội nghiệp cho đến khi hắn gào thét van xin cứu mạng.

—Đó là hải quân Anh vinh quang của các cậu đấy, tay công dân nói, kẻ hống hách khắp địa cầu. Bọn người sẽ không bao giờ làm nô lệ, với viện độc nhất mang tính thế tập trên mặt đất của Chúa và đất đai của họ nằm trong tay của một tá lũ chúa tể săn bắn và nam tước bông gòn. Đó là đế chế vĩ đại mà họ khoe khoang về những kẻ lao động khổ sai và nô lệ bị đánh roi.

—Nơi mà mặt trời không bao giờ lặn, Joe châm chọc.

—Và bi kịch của nó là, tay công dân nói, bọn chúng tin vào điều đó. Lũ người tối cổ khốn khổ tin vào điều đó.

Bọn chúng tin vào chiếc roi, kẻ trừng phạt toàn năng, đấng sáng tạo ra địa ngục trên trần gian, và ở Jacky Tar, đứa con của súng ống, người được thụ thai từ sự khoác lác bất chính, sinh ra từ hải quân chiến đấu, chịu đựng dưới một mông và mười hai roi, bị cạo gọt, lột da và tẩm gia vị, gào thét như địa ngục trần gian, ngày thứ ba hắn lại sống lại từ chiếc giường, lái tàu vào cảng, ngồi trên mạn tàu cho đến khi có lệnh mới từ đó hắn sẽ đến để làm thuê kiếm sống và được trả công.

—Nhưng, Bloom nói, chẳng phải kỷ luật ở đâu cũng giống nhau sao. Ý tớ là chẳng phải nó cũng sẽ giống thế này nếu cậu dùng vũ lực đối đầu với vũ lực hay sao?

Tôi đã bảo các cậu rồi mà? Thề có Chúa là khi tôi đang uống ly porter này nếu hắn có đang hấp hối hắn cũng sẽ cố gắng cãi chày cãi cối rằng chết chính là đang sống.

—Chúng ta sẽ dùng vũ lực đối đầu với vũ lực, tay công dân nói. Chúng ta có một Ireland vĩ đại hơn ở bên kia đại dương. Bọn chúng đã bị đuổi khỏi nhà cửa trong năm 47 đen tối. Những căn lều đất sét và những chòi canh bên đường của chúng đã bị san bằng bởi những cỗ xe phá thành và tờ The Times xoa tay hài lòng và nói với lũ Saxon gan thỏ rằng chẳng mấy chốc sẽ có ít người Ireland ở Ireland như người da đỏ ở Mỹ. Thậm chí Đại Thổ Nhĩ Kỳ còn gửi cho chúng ta đồng piastre của họ. Nhưng bọn Saxon đã cố gắng bỏ đói quốc gia ngay trên sân nhà trong khi đất đai tràn ngập hoa màu mà mấy con linh cẩu Anh đã mua và bán ở Rio de Janeiro. Vâng, chúng đã trục xoất nông dân đi thành từng đàn. Hai mươi nghìn người trong số họ đã chết trên những con tàu quan tài. Nhưng những kẻ đến vùng đất của tự do vẫn nhớ về vùng đất nô lệ. Và họ sẽ trở lại và với một sự trả thù, không phải lũ hèn nhát, những người con của Granuaile, những nhà vô địch của Kathleen ni Houlihan.

—Hoàn toàn chính xác, Bloom nói. Nhưng ý của tớ là...

—Chúng ta đã chờ đợi quá lâu cho ngày đó rồi, hỡi công dân, Ned nói. Kể từ khi mụ già tội nghiệp bảo chúng ta rằng người Pháp đang ở ngoài khơi và đã đổ bộ lên Killala.

—Ừ, John Wyse nói. Chúng ta đã chiến đấu cho hoàng gia Stuart những kẻ đã phản bội chúng ta chống lại phe Williamites và họ đã phản bội lại chúng ta. Hãy nhớ đến Limerick và hòn đá hiệp ước vỡ nát. Chúng ta đã hiến dâng dòng máu tinh hoa nhất cho Pháp và Tây Ban Nha, những chú ngỗng trời. Fontenoy phải không? Và Sarsfield và O’Donnell, công tước Tetuan ở Tây Ban Nha, và Ulysses Browne ở Camus, người từng là thống soái của Maria Teresa. Nhưng chúng ta đã nhận lại được gì từ đó chứ?

—Người Pháp á! tay công dân thốt lên. Lũ thầy dạy nhảy! Cậu có biết nó là cái gì không? Bọn chúng chưa bao giờ đáng một đồng xu rách đối với Ireland. Chẳng phải chúng đang cố gắng lập một Hiệp ước thân thiện (Entente cordiale) tại bữa tối của Tay Pay với nước Anh bội bạc đấy sao? Những kẻ châm ngòi chiến tranh ở châu Âu và chúng vẫn luôn là như thế.

—Nguyền rủa người Pháp, Lenehan vừa nói vừa giật lấy ly bia của mình.

—Còn về người Phổ và người Hanover, Joe nói, chẳng phải chúng ta đã quá ngấy lũ khốn ăn xúc xích trên ngai vàng từ George tuyển hầu đến gã thanh niên Đức và mụ già béo phì đã chết rồi hay sao?

Chúa ơi, tớ cứ phải phì cười trước cách hắn thốt ra những lời đó về mụ già đeo kính, say khướt bét nhè trong hoàng cung của mụ mỗi tối trời ban, mụ già Vic, với ly rượu whisky mạnh và gã đánh xe ngựa chở mụ lên cả người lẫn xác để lăn kịch giường trong khi mụ giật tóc mai của mụ ta và hát cho hắn nghe những đoạn bài hát cũ về Ehren trên sông Rhine và hãy đến nơi nào rượu rẻ hơn.

—Thôi nào, J. J. nói. Chúng ta bây giờ có Edward người kiến tạo hòa bình rồi còn gì.

—Đi mà nói điều đó với mấy đứa ngốc ấy, tay công dân gạt đi. Có nhiều bệnh giang mai hơn là hòa bình ở cái thằng ôn con đó đấy. Edward Guelph-Wettin!

—Và cậu nghĩ thế nào, Joe nói, về mấy cậu nhóc thánh thiện, các linh mục và giám mục Ireland đang trang trí phòng của hắn ở Maynooth bằng màu áo đua của Hoàng thượng Ma Vương và dán đầy tranh của tất cả những con ngựa mà nài ngựa của hắn từng cưỡi. Bá tước Dublin đấy, không vừa đâu.

—Lẽ ra bọn họ nên dán tranh của tất cả những người phụ nữ mà chính hắn từng cưỡi mới phải, Alf nhỏ nhắn chêm vào.

Và J. J. nói:

—Những cân nhắc về không gian đã ảnh hưởng đến quyết định của các đức cha.

—Cậu có muốn làm vại nữa không công dân? Joe hỏi.

—Có chứ, hắn đáp. Tôi sẽ uống.

—Cậu á? Joe ngạc nhiên.

—Cảm ơn thịnh tình của cậu nhé Joe, tôi nói. Chúc cậu phúc lộc vô biên.

—Lặp lại liều lượng đó đi Joe, Joe gọi.

Bloom đang nói huyên thuyên với John Wyse và hắn hoàn toàn phấn khích với cái mặt màu bùn lầy cùng đôi mắt mận chín đảo lộn tùng phèo.

—Sự đàn áp, hắn nói, toàn bộ lịch sử thế giới đều ngập tràn điều đó. Duy trì lòng thù hận quốc gia giữa các dân tộc.

—Nhưng cậu có biết quốc gia nghĩa là gì không? John Wyse hỏi.

—Có chứ, Bloom đáp.

—Nó là cái gì? John Wyse gặng hỏi.

—Một quốc gia á? Bloom đáp. Một quốc gia là cùng một nhóm người sống ở cùng một nơi.

—Thế thì có mà lạy chúa, Ned cười lớn nói, nếu thế thì tôi là một quốc gia bởi vì tôi đã sống ở cùng một nơi trong suốt năm năm qua rồi đấy.

Thế là dĩ nhiên mọi người đều cười rộ lên vào mặt Bloom và hắn ta, cố gắng ngụy biện để gỡ gạc:

—Hoặc cũng có thể sống ở những nơi khác nhau.

—Trường hợp của tôi vừa đúng khít, Joe châm chọc.

—Quốc gia của cậu là gì nếu tôi có thể mạn phép hỏi? tay công dân truy vấn.

—Ireland, Bloom đáp. Tôi sinh ra ở đây. Ireland.

Tay công dân chẳng nói gì sất ngoài việc hắng giọng nhổ đờm ra khỏi cổ họng và mả cha nó, hắn khạc hẳn một con hàu Red Bank ra ngoài ngay góc tường.

—Đến lượt cậu đẩy đấy Joe, hắn vừa nói vừa rút khăn tay ra để lau mồ hôi.

—Đây rồi công dân, Joe nói. Cầm lấy cái đó bằng tay phải và lặp lại theo tôi những từ sau đây.

Tấm khăn mặt cổ xưa của Ireland được thêu thùa tỉ mỉ và vô cùng trân quý được cho là của Solomon xứ Droma và Manus Tomaltach og MacDonogh, tác giả của Cuốn sách Ballybote, sau đó đã được cẩn thận lấy ra và thu hút sự ngưỡng mộ kéo dài. Không cần phải bàn thêm về vẻ đẹp huyền thoại của các góc thêu, đỉnh cao của nghệ thuật, nơi người ta có thể nhận thấy rõ ràng từng vị trong bốn vị thánh ký lục lần lượt trao cho từng vị trong bốn vị thầy tượng trưng phúc âm của mình, một vương trượng gỗ sồi bog, một con báo sư tử Bắc Mỹ (một vị vua của muôn loài cao quý hơn hẳn sản phẩm của Anh quốc, xin phép được nói nhỏ điều này), một con bê Kerry và một con đại bàng vàng từ Carrantuohill. Các khung cảnh được miêu tả trên bề mặt chiếc khăn, cho thấy những pháo đài cổ duns và raths và cromlechs và grianauns và các trung tâm học tập và những hòn đá mang lời nguyền, cũng tuyệt vời kỳ diệu và các sắc tố tinh tế như khi những họa sĩ minh họa ở Sligo phóng bút cho trí tưởng tượng nghệ thuật của họ bay xa từ rất lâu rất lâu trước đây vào thời đại của Barmecides. Glendalough, những hồ nước xinh đẹp ở Killarney, những tàn tích của Clonmacnois, tu viện Cong, Glen Inagh và Twelve Pins, Ireland’s Eye, những ngọn đồi xanh Tallaght, Croagh Patrick, nhà máy bia của Messrs Arthur Guinness, Son and Company (Limited), những bờ sông Lough Neagh, thung lũng Ovoca, tháp Isolde, cột mốc Mapas, bệnh viện Sir Patrick Dun, mũi Clear, thung lũng Aherlow, lâu đài Lynch, quán rượu Scotch, Trại tế thần công đoàn Rathdown ở Loughlinstown, nhà tù Tullamore, ghềnh thác Castleconnel, Kilballymacshonakill, thánh giá Monasterboice, Khách sạn Jury, Luyện ngục của Thánh Patrick, ghềnh cá hồi, nhà ăn trường đại học Maynooth, hang Curley, ba nơi sinh của vị công tước Wellington đầu tiên, tảng đá Cashel, đầm lầy Allen, Cửa hàng bách hóa phố Henry, hang động Fingal—tất cả những khung cảnh chuyển động đó vẫn còn ở đó cho chúng ta ngày nay được làm cho đẹp đẽ hơn nữa bởi những dòng nước của nỗi buồn đã chảy qua chúng và bởi những lớp bám phong phú của thời gian.

—Cho xem đồ uống nào, tôi nói. Cái nào ra cái nào thế?

—Cái đó của tớ, Joe nói, như con quỷ đã nói với viên cảnh sát đã chết.

—Và tôi cũng thuộc về một chủng tộc, Bloom nói, bị căm ghét và đàn áp. Cả bây giờ nữa. Ngay khoảnh khắc này. Ngay giây phút này.

Mả cha nó, hắn suýt tự đốt cháy ngón tay mình với mẩu xì gà cũ.

—Bị cướp bóc, hắn nói. Bị tước đoạt. Bị lăng mạ. Bị đàn áp. Chiếm đoạt những gì thuộc về chúng ta một cách hợp pháp. Ngay tại khoảnh khắc này, hắn nói, vừa giơ nắm đấm lên, bị đem ra đấu giá ở Morocco như nô lệ hay gia súc.

—Cậu đang nói về Jerusalem mới đấy à? tay công dân hỏi.

—Tôi đang nói về sự bất công, Bloom đáp.

—Đúng thế, John Wyse tiếp lời. Vậy thì hãy đứng lên chống lại nó bằng vũ lực như những người đàn ông.

Đúng là một bức tranh lịch để đời cho cậu. Quá lý tưởng cho một viên đạn đầu tù. Lão mặt bự đứng chình ình trước đầu súng. Mả cha nó, hắn thừa sức trang trí cho một cây chổi quét nhà, đúng thế đấy, nếu lão chịu khoác thêm chiếc tạp dề của y tá. Và rồi hắn đổ sụp xuống đột ngột, xoay người ngược lại, mềm nhũn như một giẻ lau ướt.

—Nhưng chẳng ích gì đâu, hắn nói. Bạo lực, sự thù hận, lịch sử, tất cả những thứ đó. Đó không phải là cuộc sống cho đàn ông và phụ nữ, sự lăng mạ và căm ghét. Và mọi người đều biết rằng hoàn toàn ngược lại với những điều đó mới thực sự là cuộc sống.

—Cái gì cơ? Alf hỏi.

—Tình yêu, Bloom đáp. Ý tớ là ngược lại với sự căm hận. Tớ phải đi bây giờ đây, hắn nói với John Wyse. Ghé qua tòa án một chút xem Martin có ở đó không. Nếu anh ấy đến hãy bảo tớ sẽ quay lại ngay giây lát thôi. Chỉ một lát thôi.

Ai thèm giữ cậu lại cơ chứ? Và thế là hắn chuồn mất tăm nhanh như chớp giật.

—Một tông đồ mới cho dân ngoại, tay công dân châm chọc. Tình yêu phổ quát.

—Chà, John Wyse nói. Chẳng phải đó là những gì chúng ta được dạy sao. Hãy yêu thương người láng giềng.

—Cái gã đó á? tay công dân nhổm dậy. Châm ngôn của hắn là “hãy xơi tái láng giềng”. Tình yêu nỗi gì, mả cha nó! Hắn đúng là một hình mẫu chuẩn mực của Romeo và Juliet.

Tình yêu thích yêu tình yêu. Y tá yêu nhà hóa học mới. Cảnh sát viên 14A yêu Mary Kelly. Gerty MacDowell yêu chàng trai đi xe đạp. M. B. yêu một quý ông da sáng. Li Chi Han yêu hôn hít Cha Pu Chow. Voi Jumbo yêu voi Alice. Lão Verschoile với chiếc kèn tai yêu mụ già Verschoile với đôi mắt lác. Gã mặc áo mưa nâu yêu một người phụ nữ đã khuất. Bệ hạ Nhà vua yêu Nữ hoàng bệ hạ. Bà Norman W. Tupper yêu sĩ quan Taylor. Cậu yêu một người nào đó. Và người này yêu người nọ bởi vì mọi người đều yêu ai đó nhưng Chúa yêu tất cả mọi người.

—Này Joe, tôi nói, chúc sức khỏe và ca hát nhé. Cố lên nào công dân.

—Hoan hô, Joe hưởng ứng.

—Nguyện xin phúc lành của Chúa và Maria và Patrick phù hộ cho cậu, tay công dân nói.

Và hắn nâng vại bia lên để thấm giọng.

—Chúng ta lạ gì mấy kẻ đạo đức giả đó, hắn nói, vừa giảng đạo vừa móc túi người ta. Còn về tên đạo đức giả Cromwell và đám thiết kỵ binh của hắn, kẻ đã tàn sát phụ nữ và trẻ em ở Drogheda với câu kinh thánh “Chúa là tình yêu” dán quanh nòng đại bác thì sao? Kinh thánh! Cậu có đọc bài châm biếm trên tờ United Irishman hôm nay về vị tộc trưởng Zulu đang thăm nước Anh không?

—Gì thế? Joe hỏi.

Thế là tay công dân cầm lấy một trong những tờ báo ngổn ngang của hắn và bắt đầu đọc to lên:

—Một phái đoàn gồm những ông trùm bông vải lớn nhất Manchester đã được trình diện hôm qua trước Hoàng thượng Alaki xứ Abeakuta bởi Vị quan cầm gậy vàng đứng chờ, Lãnh chúa Walkup xứ Walkup on Eggs, để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của các nhà buôn Anh đối với những cơ hội thuận lợi được cung cấp trong lãnh địa của ông. Phái đoàn đã tham gia tiệc trưa, kết thúc buổi tiệc vị vua da màu, trong một bài phát biểu vui vẻ, được dịch trôi chảy bởi tuyên úy Anh, mục sư Ananias Praisegod Barebones, đã gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Massa Walkup và nhấn mạnh mối quan hệ thân tình đang tồn tại giữa Abeakuta và đế chế Anh, tuyên bố rằng ông trân trọng như một trong những báu vật quý giá nhất của mình một cuốn kinh thánh được minh họa, tập sách của lời Chúa và bí mật của sự vĩ đại nước Anh, được trao tặng một cách ân cần bởi người phụ nữ da trắng đứng đầu, bà tù trưởng vĩ đại Victoria, với một lời đề tặng cá nhân từ bàn tay cao quý của Ân nhân Hoàng gia. Vị Alaki sau đó đã uống một ly hợp hoan rượu usquebaugh loại mạnh nhất để chúc mừng “Đen và Trắng” từ hộp sọ của vị tiền nhiệm trực tiếp trong triều đại là Kakachakachak, có biệt danh là Bốn mươi mụn cóc, sau đó ông đã ghé thăm nhà máy chính của thành phố Bông vải và ký tên mình vào sổ lưu bút, tiếp theo là một điệu nhảy chiến tranh Abeakuta cổ xưa đầy quyến rũ, trong đó ông đã nuốt chửng vài chiếc dao và nĩa, giữa tiếng vỗ tay náo nhiệt từ các nữ công nhân.

—Mụ quả phụ, Ned nói. Tao thừa biết mụ ta mà. Tự hỏi không biết hắn có dùng cuốn kinh thánh đó vào việc giống như tao hay không.

—Giống nhưng mà còn hơn thế nữa, Lenehan tiếp lời. Và sau đó ở vùng đất trù phú đó cây xoài lá rộng phát triển vô cùng tươi tốt.

—Bài đó của Griffith à? John Wyse hỏi.

—Không, tay công dân đáp. Nó không ký tên Shanganagh. Nó chỉ viết tắt là: P.

—Và là một chữ viết tắt rất hay, Joe nhận xét.

—Đó là cách nó hoạt động đấy, tay công dân nói. Thương mại đi theo lá cờ.

—Chà, J. J. nói, nếu bọn chúng tệ hơn lũ người Bỉ ở Bang tự do Congo thì chắc chắn bọn chúng phải là đồ tồi. Cậu có đọc báo cáo của một gã nào đó tên là gì ấy nhỉ?

—Casement, tay công dân đáp. Hắn là người Ireland.

—Đúng rồi, chính là hắn, J. J. nói. Cưỡng hiếp phụ nữ và trẻ em gái và đánh đập thổ dân vào bụng để vắt kiệt từng giọt cao su đỏ mà chúng có thể.

—Tớ biết hắn đi đâu rồi đấy, Lenehan vừa bẻ khớp ngón tay vừa nói.

—Ai cơ? tôi hỏi.

—Bloom chứ ai, hắn đáp. Tòa án chỉ là cái bình phong thôi. Hắn đã đặt cược vài xu vào con Throwaway và đã đi hốt bạc rồi.

—Có phải cái tên da đen mắt trắng đó không, tay công dân hỏi, kẻ chưa từng đặt cược vào một con ngựa nào trong đời?

—Đó là nơi hắn đến đấy, Lenehan nói. Tớ đã gặp Bantam Lyons đang định đi đặt cược con ngựa đó thì tớ ngăn hắn lại và hắn bảo Bloom đã mách nước cho hắn. Đố cậu dám cá là hắn đặt cược một trăm ăn năm đấy. Một con ngựa đen tối tăm.

—Bản thân hắn cũng là một con ngựa đen khốn kiếp, Joe nói.

—Này Joe, tôi nói. Chỉ cho tớ lối ra nào.

—Cậu ở đấy nhé, Terry bảo.

Tạm biệt Ireland tôi chuẩn bị đi Gort đây. Thế là tôi lỉnh ra phía sau sân để giải quyết nỗi buồn và mả cha nó (trăm ăn năm) trong lúc tôi đang trút hết cái gánh nặng của mình (Throwaway tỷ lệ hai mươi trên) đang trút hết gánh nặng của tôi mả cha nó tôi tự nhủ với bản thân tôi biết thừa hắn đang bứt rứt trong (hai vại của Joe và một vại ở quán Slattery) trong lòng để chuồn lẹ (trăm ăn năm là năm bảng) và khi bọn chúng đang ở (ngựa đen) pisser Burke đang kể với tôi vụ đánh bài và làm bộ như đứa trẻ đang ốm (mả cha nó, chắc tôi nốc phải đến một gallon ấy chứ) cái mụ vợ mông xệ cứ lải nhải qua ống nghe điện thoại rằng ả ta khỏe hơn hoặc ả ta (ôi!) tất cả chỉ là một kế hoạch để hắn có thể vốc sạch tiền thưởng nếu hắn thắng hoặc (Chúa ơi, tôi đầy ứ ự rồi) buôn bán không giấy phép (ôi!) Ireland đất nước của tôi hắn nói (hẹc! phì!) không bao giờ có thể bì kịp với lũ (đây là phần cuối cùng của nó) Jerusalem (á!) cúc cu khốn kiếp.

Thế là thế nào khi tôi quay lại thì bọn họ đang cãi nhau sảng khoái, John Wyse nói rằng chính Bloom đã truyền ý tưởng về Sinn Fein cho Griffith để đưa vào báo của ông ấy đủ mọi thứ gian lận, bồi thẩm đoàn bỏ túi và trốn thuế của chính phủ và bổ nhiệm lãnh sự khắp nơi trên thế giới để đi lang thang bán hàng thủ công nghiệp Ireland. Cướp của Peter để trả cho Paul. Mả cha nó, thế thì đúng là dập tắt mọi hy vọng nếu cái lão mắt ươn đó đang làm hỏng buổi biểu diễn. Cho chúng tôi xin một cơ hội đi. Chúa cứu lấy Ireland khỏi những kẻ giống như cái con chuột nhắt khốn kiếp đó. Ngài Bloom với mớ ngôn từ lộn xộn argol bargol của hắn. Và lão bố của hắn trước đó chuyên đi thực hiện các vụ lừa đảo, lão Methusalem Bloom, tên buôn lậu khốn kiếp, kẻ đã tự tử bằng axit prussic sau khi làm ngập lụt đất nước bằng những món đồ mã và kim cương giả một xu của hắn. Cho vay qua bưu điện với các điều kiện dễ dàng. Khoản tiền bất kỳ được ứng trước trên giấy nhận nợ. Khoảng cách không thành vấn đề. Không cần thế chấp. Mả cha nó, hắn giống hệt như con dê của Lanty MacHale cứ đi theo một đoạn đường với bất kỳ ai.

—Chà, đó là sự thật, John Wyse nói. Và kìa người đàn ông đang có mặt ở đó sẽ kể cho các cậu nghe tất cả về chuyện đó, Martin Cunningham.

Quả nhiên chiếc xe ngựa của lâu đài trờ tới chở Martin trên đó cùng với Jack Power và một gã tên là Crofter hoặc Crofton, cựu sĩ quan về hưu của tổng cục thuế, một tên da cam Blackburn vẫn hay dùng trong danh sách cử nhân và hắn đang nhận lương hoặc Crawford đang lang thang khắp đất nước bằng tiền của nhà vua.

Những du khách của chúng ta đã đến quán trọ mộc mạc và xuống xe ngựa.

—Này, tên đầy tớ! kẻ trông có vẻ là thủ lĩnh của nhóm hét lớn. Tên khốn láo khoác! Lại đây!

Nói đoạn hắn gõ mạnh đốc kiếm lên khung cửa sổ mở toang.

Chủ quán bước ra theo tiếng gọi, đang thắt chiếc áo choàng tabard của mình.

—Kính chào các ngài, ông ta nói với một cái cúi đầu khép nép.

—Khẩn trương lên nào, đồ hèn! kẻ vừa gõ cửa thét lên. Hãy chăm sóc những con chiến mã của chúng ta. Và chuẩn bị cho chúng ta những món ngon nhất vì thành thật mà nói chúng ta đang rất cần.

—Ôi chao, thưa các ngài quý tộc, chủ quán nói, quán nghèo của tôi chỉ có một cái chạn trống rỗng. Tôi không biết phải dâng lên các ngài thứ gì đây.

—Sao thế hả, đồ đần? kẻ thứ hai trong nhóm thét lớn, một người đàn ông có dung mạo dễ chịu, Ngươi phục vụ các sứ giả của nhà vua như thế đấy phỏng, chủ quán Taptun?

Một sự thay đổi tức thì bao trùm khuôn mặt người chủ quán.

—Xin các ngài tha tội, ông ta nhún nhường nói. Nếu các ngài là sứ giả của nhà vua (Chúa phù hộ Bệ hạ!) các ngài sẽ không thiếu thốn bất cứ thứ gì. Những người bạn của nhà vua (Chúa phù hộ Bệ hạ!) sẽ không phải chịu cảnh nhịn đói trong quán của tôi, tôi xin cam đoan.

—Thế thì mau lên! vị lữ khách nãy giờ chưa lên tiếng hối thúc, một kẻ phàm ăn nhìn qua dáng vẻ là biết. Ngươi có gì để đãi chúng ta nào?

Chủ quán lại cúi đầu đáp lời:

—Các ngài thấy sao nếu có một chiếc bánh nhân chim bồ câu non, vài miếng thịt nai cắt lát, một dải thịt bê, chim mòng két với thịt heo muối giòn, một cái đầu lợn rừng với hạt dẻ cười, một bát bánh sữa custard ngon lành, một đĩa rau cải tansy quả sơn tra và một vạc rượu vang Rhenish cổ?

—Chúa ơi! kẻ vừa nói lên tiếng. Nghe hấp dẫn đấy. Hạt dẻ cười!

—Aha! kẻ có dung mạo dễ chịu thốt lên. Quán nghèo và chạn trống rỗng cơ đấy! Quả là một tên ranh con vui tính.

Thế là Martin bước vào hỏi Bloom đang ở đâu.

—Hắn đâu rồi? Lenehan hỏi. Đang đi lừa gạt phụ nữ góa chồng và trẻ mồ côi chứ gì.

—Chẳng phải đó là sự thật sao, John Wyse nói, những gì tớ vừa kể với tay công dân về Bloom và phong trào Sinn Fein?

—Đúng thế đấy, Martin đáp. Hoặc bọn họ cáo buộc như vậy.

—Ai đưa ra những cáo buộc đó thế? Alf hỏi.

—Tôi đây, Joe đáp. Tôi chính là con cá sấu (alligator) đó.

—Và suy cho cùng, John Wyse nói, tại sao một người Do Thái lại không thể yêu quê hương đất nước của mình giống như bất kỳ ai khác cơ chứ?

—Tại sao lại không chứ, J. J. tiếp lời, khi hắn hoàn toàn chắc chắn đó là đất nước nào.

—Hắn là người Do Thái hay dân ngoại hay người La Mã theo đạo hay là tín đồ phái Swaddler hay cái quái gì thế hả? Ned hỏi. Hoặc hắn là ai? Không có ý xúc phạm đâu nhé Crofton.

—Junius là ai? J. J. hỏi vặn lại.

—Bọn tao không cần hắn, Crofter người theo phái Cam hoặc Trưởng lão tuyên bố.

—Hắn là một tên Do Thái biến chất, Martin nói, đến từ một nơi ở Hungary và chính hắn đã vạch ra toàn bộ các kế hoạch theo hệ thống Hungary. Chúng ta biết rõ điều đó ở tòa lâu đài.

—Chẳng phải hắn là họ hàng của nha sĩ Bloom đó sao? Jack Power hỏi.

—Không đời nào, Martin đáp. Chỉ trùng tên thôi. Tên hắn là Virag, tên của người bố đã tự tử. Lão đã đổi tên bằng văn bản pháp lý, chính người bố đã làm điều đó.

—Đó chính là Đấng Cứu Thế mới của Ireland đấy! tay công dân mỉa mai. Hòn đảo của các vị thánh và hiền nhân!

—Chà, bọn họ vẫn đang chờ đợi đấng cứu thế của mình mà, Martin nói. Tính ra thì chúng ta cũng vậy thôi.

—Đúng thế, J. J. nói, và cứ mỗi đứa trẻ trai sinh ra bọn chúng lại nghĩ đó có thể là Đấng Cứu Thế của chúng. Và mọi gã Do Thái đều trong trạng thái hưng phấn tột độ, tớ tin thế, cho đến khi hắn biết được mình là bố hay là mẹ.

—Mong mỏi từng khoảnh khắc trôi qua sẽ là khoảnh khắc tiếp theo của hắn, Lenehan châm chọc.

—Ồ, thề có Chúa, Ned nói, các cậu đáng lẽ phải thấy Bloom trước khi đứa con trai đã mất của hắn ra đời. Tớ gặp hắn một ngày nọ ở các khu chợ phía nam thành phố đang mua một hộp bột dinh dưỡng Neave’s food sáu tuần trước khi vợ sinh.

—En ventre sa mère (Trong bụng mẹ), J. J. chêm tiếng Pháp.

—Cậu có gọi đó là một người đàn ông không? tay công dân bĩu môi.

—Tự hỏi không biết hắn đã bao giờ dám giấu nó đi chưa nhỉ, Joe nói.

—Chà, dù sao thì cũng có hai đứa trẻ được sinh ra, Jack Power nói.

—Và hắn nghi ngờ ai cơ chứ? tay công dân hỏi.

Mả cha nó, có rất nhiều sự thật được nói ra trong lúc đùa cợt. Hắn ta là một trong số những kẻ dở ông dở thằng lai tạp đó. Nằm liệt giường ở khách sạn Pisser từng kể với tớ cứ mỗi tháng một lần lại bị đau đầu như con lật đật cùng kỳ kinh nguyệt. Cậu có biết tớ đang nói gì không? Đó sẽ là một ân huệ của Chúa khi tóm lấy một gã giống như thế và ném hắn xuống biển. Giết người chính đáng, đúng thế đấy. Rồi lẩn mất cùng năm đồng bảng của mình mà chẳng thèm mời người ta một vại bia ra trò như một trang nam nhi. Ban cho chúng tôi phước lành của cậu đi. Thậm chí chẳng đáng để làm mù mắt cậu nữa là.

—Lòng bác ái với người láng giềng, Martin nói. Nhưng hắn ta đâu rồi? Chúng ta không thể đợi được nữa.

—Một con sói khoác áo cừu, tay công dân kết luận. Hắn chính là kẻ đó. Virag đến từ Hungary! Ta gọi hắn là Ahasuerus. Bị Chúa nguyền rủa.

—Cậu có thời gian cho một ngụm rượu ngắn không Martin? Ned hỏi.

—Chỉ một ngụm thôi, Martin đáp. Chúng ta phải nhanh lên. J. J. và S.

—Cậu nữa chứ Jack? Crofton? Ba ly nhỏ nhé, Terry.

—Thánh Patrick chắc sẽ muốn đổ bộ lần nữa xuống Ballykinlar và cải đạo chúng ta, tay công dân nói, sau khi dung túng cho những thứ như thế làm ô uế bờ biển của chúng ta.

—Thôi nào, Martin vừa gõ bàn gọi ly vừa nói. Nguyện xin Chúa phù hộ tất cả mọi người ở đây là lời cầu nguyện của tôi.

—Amen, tay công dân hưởng ứng.

—Và tôi chắc chắn Ngài sẽ làm thế, Joe nói.

Và theo tiếng chuông dâng lễ, dẫn đầu bởi một người cầm thánh giá cùng các tu sĩ giúp lễ, những người xông hương, người mang thuyền thánh, các độc giả, những người gác cổng, phó tế và phó tế phụ: đoàn người phước hạnh tiến đến gồm các viện phụ đội mũ tế và các bề trên và người giám hộ và các tu sĩ và thầy tu: các tu sĩ dòng Benedict ở Spoleto, dòng Carthusian và Camaldolesi, dòng Cistercian và Olivetan, dòng Oratorian và Vallombrosan, và các tu sĩ dòng Augustine, Brigittine, Premonstratensian, Servi, Trinitarian, và những đứa con của Peter Nolasco: và theo đó từ núi Carmel những đứa con của tiên tri Elijah dẫn đầu bởi giám mục Albert và Teresa xứ Avila, những người đi giày và những người khác; và các tu sĩ, áo nâu và áo xám, những người con của thánh Francis khó nghèo, dòng Capuchin, Cordelier, Minime và Observant và những người con gái của Clara; và những người con của Dominic, các tu sĩ giảng thuyết, và những người con của Vincent; và các tu sĩ dòng S. Wolstan; và những đứa con của Ignatius; và hội huynh đệ các tu sĩ Cơ Đốc dẫn đầu bởi người anh em đáng kính Edmund Ignatius Rice. Và theo sau là tất cả các thánh và các vị tử đạo, các trinh nữ và các nhà tuyên xưng: Thánh Cyr và Thánh Isidore Arator và Thánh James Kẻ nhỏ và Thánh Phocas xứ Sinope và Thánh Julian Hospitator và Thánh Felix de Cantalice và Thánh Simon Stylites và Thánh Stephen Tiền tử đạo và Thánh John of God và Thánh Ferreol and Thánh Leugarde và Thánh Theodotus và Thánh Vulmar và Thánh Richard và Thánh Vincent de Paul và Thánh Martin xứ Todi và Thánh Martin xứ Tours và Thánh Alfred và Thánh Joseph và Thánh Denis và Thánh Cornelius và Thánh Leopold và Thánh Bernard và Thánh Terence và Thánh Edward và Thánh Owen Caniculus và Thánh Vô danh và Thánh Đơn danh và Thánh Giả danh và Thánh Đồng danh và Thánh Tự danh và Thánh Loại danh và Thánh Trùng danh và Thánh Laurence O’Toole và Thánh James xứ Dingle và Compostella và Thánh Columcille và Thánh Columba và Thánh Celestine và Thánh Colman và Thánh Kevin và Thánh Brendan and Thánh Frigidian and Thánh Senan and Thánh Fachtna and Thánh Columbanus and Thánh Gall and Thánh Fursey and Thánh Fintan and Thánh Fiacre and Thánh John Nepomuc and Thánh Thomas Aquinas and Thánh Ives xứ Brittany and Thánh Michan and Thánh Herman-Joseph và ba vị thánh bảo hộ thanh thiếu niên thánh Aloysius Gonzaga và Thánh Stanislaus Kostka và Thánh John Berchmans và các thánh Gervasius, Servasius và Bonifacius và Thánh Bride và Thánh Kieran và Thánh Canice xứ Kilkenny và Thánh Jarlath xứ Tuam và Thánh Finbarr và Thánh Pappin xứ Ballymun và Thầy Aloysius Pacificus và Thầy Louis Bellicosus và các thánh Rose xứ Lima và xứ Viterbo và Thánh Martha xứ Bethany và Thánh Mary xứ Egypt và Thánh Lucy và Thánh Brigid and Thánh Attracta and Thánh Dympna and Thánh Ita and Thánh Marion Calpensis và Nữ tu phước lành Teresa Hài Đồng Giê-su và Thánh Barbara và Thánh Scholastica và Thánh Ursula cùng mười một ngàn trinh nữ. Và tất cả đều đến với vòng hào quang và vầng sáng, mang theo cành cọ và đàn hạc và gươm giáo và vòng nguyệt quế ô liu, trong những tấm áo choàng trên đó được thêu dệt các biểu tượng phước lành về quyền năng của họ, bình mực, mũi tên, ổ bánh mì, bình đựng nước, xiềng xích, rìu, cây cối, cầu cống, trẻ sơ sinh trong bồn tắm, vỏ sò, ví tiền, kéo, chìa khóa, rồng, hoa ly, đạn chì, râu ria, lợn, đèn, ống bễ, tổ ong, vá múc súp, ngôi sao, rắn, đe, hộp vaseline, chuông, nạng, kẹp y tế, sừng hươu, bốt chống nước, chim ưng, cối xay, mắt trên đĩa, nến sáp, bình nước thánh, kỳ lân. Và khi họ đi dọc theo Trụ đài Nelson, phố Henry, phố Mary, phố Capel, phố Little Britain cất tiếng hát bài ca nhập lễ trong Epiphania Domini bắt đầu bằng Surge, illuminare và sau đó vô cùng ngọt ngào bài ca tiến bậc Omnes nói rằng de Saba venient họ đã làm đủ mọi phép lạ như trừ quỷ, cho kẻ chết sống lại, nhân hóa cá, chữa lành người què và kẻ mù, khám phá ra các vật dụng bị thất lạc, giải thích và thực hiện kinh thánh, ban phước và tiên tri. Và cuối cùng, bên dưới một tán lọng bằng vải dệt vàng bước đến là cha xứ đáng kính O’Flynn được hầu hạ bởi Malachi và Patrick. Và khi các vị cha phước lành đã đến nơi được chỉ định, nhà của Bernard Kiernan and Co, limited, số 8, 9 và 10 phố little Britain, nhà bán buôn tạp hóa, nhà xuất khẩu rượu vang và brandy, được cấp phép bán bia, rượu vang và rượu mạnh để tiêu dùng tại chỗ, vị chủ tế đã ban phước cho ngôi nhà và xông hương các cửa sổ vòm và các khung sườn và các hầm mộ và các đường gờ và các đầu cột và các gờ mái và các mái vòm khía và các ngọn tháp và các mái vòm tròn và rảy nước thánh lên các khung cửa và cầu nguyện rằng Chúa có thể ban phước cho ngôi nhà đó như Ngài đã ban phước cho nhà của Abraham và Isaac và Jacob và khiến các thiên thần ánh sáng của Ngài cư ngụ trong đó. Và khi bước vào, ông đã ban phước cho thức ăn và thức uống và đoàn người được ban phước đã đáp lại lời cầu nguyện của ông.

—Adiutorium nostrum in nomine Domini. (Sự trợ giúp của chúng ta là nhân danh Chúa.)

—Qui fecit cœlum et terram. (Đấng tạo dựng trời và đất.)

—Dominus vobiscum. (Chúa ở cùng anh chị em.)

—Et cum spiritu tuo. (Và ở cùng cha.)

Và ông đặt tay lên những gì ông đã ban phước và tạ ơn và ông cầu nguyện và tất cả mọi người cùng cầu nguyện với ông:

—Deus, cuius verbo sanctificantur omnia, benedictionem tuam effunde super creaturas istas: et praesta ut quisquis eis secundum legem et voluntatem Tuam cum gratiarum actione usus fuerit per invocationem sanctissimi nominis Tui corporis sanitatem et animæ tutelam Te auctore percipiat per Christum Dominum nostrum. (Lạy Chúa, nhờ lời Chúa mà vạn vật được thánh hóa, xin tuôn đổ phép lành của Chúa xuống trên những tạo vật này: và xin ban cho bất kỳ ai sử dụng chúng theo luật lệ và thánh ý Chúa với lòng tạ ơn, nhờ sự khẩn cầu danh thánh chí tôn của Chúa, sẽ nhận được ơn lành chữa lành thể xác và bảo vệ linh hồn do chính Ngài là tác giả, nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.)

—Và tất cả chúng con đều cầu nguyện như vậy, Jack nói.

—Một ngàn bảng một năm, Lambert, Crofton hoặc Crawford nói.

—Đúng thế, Ned vừa nói vừa nhấc chai rượu John Jameson lên. Và bơ cho cá.

Tôi đang đảo mắt nhìn quanh xem ý tưởng hay ho đó sẽ rơi vào đầu ai thì mả cha nó, hắn lại bước vào làm bộ như đang vội vàng chết đi được.

—Tớ vừa ở tòa án ra, hắn nói, để tìm các cậu. Hy vọng tớ không...

—Không đâu, Martin nói, chúng ta sẵn sàng rồi.

Tòa án cái nỗi gì và mấy cái túi của cậu đang trủng nặng vì vàng với bạc kìa. Cái đồ bủn xỉn khốn kiếp. Thậm chí mời người ta một ly cũng không dám. Đừng có hòng mơ tưởng! Đúng là một tên Do Thái chính hiệu! Toàn lo cho cái tôi số một. Khôn như chuột chù trong cống. Tỷ lệ một trăm ăn năm.

—Đừng nói cho ai biết nhé, tay công dân nói.

—Xin lỗi nhé, hắn đáp.

—Đi thôi các cậu, Martin nói, khi thấy tình hình có vẻ căng thẳng. Đi thôi nào.

—Đừng nói cho ai biết nhé, tay công dân hét lớn một tiếng. Đó là bí mật đấy.

Và con chó khốn kiếp thức giấc và cất tiếng gầm gừ.

—Tạm biệt mọi người nhé, Martin nói.

Và ông lùa họ ra ngoài nhanh nhất có thể, Jack Power và Crofton hay bất kỳ ai gọi tên hắn và hắn ở giữa bọn họ làm bộ như chẳng biết trời đất gì và tống cổ bọn họ lên chiếc xe ngựa kéo.

—Phóng đi, Martin ra lệnh cho gã đánh xe.

Con cá heo trắng như sữa tung bờm và, vươn mình lên phía đuôi thuyền bằng vàng, người lái tàu căng tấm buồm no gió và tiến thẳng về phía trước với tất cả các cánh buồm được giương lên, buồm phụ cánh hạ ở mạn trái. Rất nhiều tiên nữ xinh đẹp tiến lại gần ở mạn phải và mạn trái và, bám lấy mạn của con tàu cao quý, họ liên kết những hình dáng sáng ngời của mình hệt như người thợ làm bánh xe khéo léo khi ông ta uốn quanh tâm bánh xe những tia cách đều nhau mà mỗi tia là chị em với tia khác và ông ta buộc tất cả chúng lại bằng một vòng ngoài và tiếp thêm tốc độ cho bước chân của con người khi họ phi ngựa đến một buổi tụ hội hoặc tranh tài vì nụ cười của những trang đài các. Cứ thế họ đến và an vị, những tiên nữ bất tử. Và họ cười vang, đùa giỡn trong một vòng tròn bọt sóng của mình: và con tàu rẽ sóng lao đi.

Nhưng mả cha nó, tôi đang định nốc cạn ngụm cuối của vại bia thì thấy tay công dân đứng dậy lết ra cửa, thở hồng hộc vì chứng phù thũng, và hắn nguyền rủa lời nguyền của Cromwell lên đầu hắn, chuông, sách và nến bằng tiếng Ireland, khạc nhổ lung tung trong khi Joe và Alf nhỏ đứng xung quanh như những yêu tinh tìm cách xoa dịu hắn.

—Mặc kệ tao, hắn gắt.

Và mả cha nó hắn lết được ra tới cửa trong khi bọn họ vẫn đang giữ hắn lại và hắn gào lên:

—Ba lần hoan hô cho Israel!

Lạy Chúa, hãy ngồi xuống cái phần mông mang tính nghị viện của anh xuống đi và đừng có lôi cái trò cười thiên hạ ra đây nữa. Chúa ơi, lúc nào cũng có mấy gã hề khốn kiếp nào đó gây ra án mạng máu me vì mấy chuyện quái quỷ chẳng đâu vào đâu. Mả cha nó, nó làm cho bia porter trong ruột cậu chua lè cả ra, đúng thế đấy.

Và lũ côn đồ cùng đám đĩ điếm đầu đường xó chợ tụ tập quanh cửa trong khi Martin giục gã đánh xe phóng thẳng tay còn tay công dân thì gào thét và Alf với Joe cố khuyên hắn im đi trong khi hắn cứ cao ngạo về người Do Thái và đám lưu manh la hét đòi diễn thuyết còn Jack Power thì cố gắng kéo hắn ngồi xuống xe và ngậm cái mồm khốn kiếp lại trong khi một tên lưu manh bị bịt một mắt bắt đầu hát Nếu người trên mặt trăng là người Do Thái, Do Thái, Do Thái và một mụ đĩ gào lên:

—Này ông chú! Quần ông quên kéo khóa kìa, ông chú ơi!

Và hắn đáp:

—Mendelssohn là người Do Thái và Karl Marx và Mercadante và Spinoza. Và Đấng Cứu Thế là người Do Thái và cha của ngài là người Do Thái. Chúa của các người đấy.

—Ngài chẳng có cha đâu, Martin nói. Thế là đủ rồi đấy. Phóng đi.

—Chúa của ai cơ chứ? tay công dân gào lên.

—Chà, chú của ngài là người Do Thái, hắn đáp. Chúa của các người là người Do Thái. Chúa Kitô là người Do Thái giống như tôi vậy.

Mả cha nó, tay công dân lao thốc trở lại cửa hàng.

—Thề có Chúa, hắn gầm lên, tao sẽ đập nát sọ cái tên Do Thái khốn kiếp đó vì dám dùng thánh danh. Thề có Chúa, tao sẽ đóng đinh hắn lên cây thập giá cho mà xem. Đưa cái hộp bánh quy đây tao xem nào.

—Khoan đã! Dừng lại! Joe can thiệp.

Một đám đông đông đảo và đầy cảm kích gồm bạn bè và người quen từ thủ đô và vùng Dublin mở rộng đã tập trung hàng ngàn người để tiễn biệt Nagyságos uram Lipóti Virag, cựu nhân viên của hãng Alexander Thom, nhà in của Bệ hạ, nhân dịp ông khởi hành đến vùng đất xa xôi Százharminczbrojúgulyás-Dugulás (Đồng cỏ của dòng nước róc rách). Buổi lễ diễn ra vô cùng hoành tráng với sự thân tình đầy cảm động. Một cuộn giấy da cổ của Ireland được minh họa, tác phẩm của các nghệ sĩ Ireland, đã được trao cho chuyên gia nghiên cứu hiện tượng lỗi lạc thay cho một phần lớn cộng đồng và đi kèm với món quà là một chiếc hộp bạc, được chế tác nhã nhặn theo phong cách trang trí Celtic cổ đại, một tác phẩm mang lại mọi vinh quang cho những người chế tác, hãng Jacob agus Jacob. Vị khách sắp khởi hành đã nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt, nhiều người có mặt đã xúc động thấy rõ khi dàn nhạc chọn lọc gồm kèn túi Ireland cất lên những giai điệu quen thuộc Come Back to Erin, tiếp theo ngay sau đó là khúc quân hành Rakóczsy’s March. Thùng nhựa đường và đống lửa trại đã được đốt dọc theo bờ biển của bốn vùng biển trên đỉnh đồi Howth, núi Three Rock, Sugarloaf, Bray Head, dãy núi Mourne, Galtees, các đỉnh Ox và Donegal và Sperrin, Nagles và Bograghs, các ngọn đồi Connemara, các đỉnh của M’Gillicuddy, Slieve Aughty, Slieve Bernagh và Slieve Bloom. Giữa những tiếng hò reo làm rung chuyển vòm trời, được đáp lại bằng những tiếng hò reo hưởng ứng từ một lực lượng đông đảo các tay chân trên những ngọn đồi xa xôi ở xứ Wales và Caledonia, con tàu du lịch khổng lồ từ từ di chuyển đi trong tiếng chào từ biệt bằng hoa của đại diện phái yếu có mặt đông đảo trong khi, khi nó tiến dọc xuống dòng sông, được hộ tống bởi một hạm đội sà lan, các lá cờ của văn phòng Ballast và Hải quan đã hạ xuống để chào mừng cũng như của trạm điện tại Pigeonhouse và ngọn hải đăng Poolbeg. Visszontlátásra, kedvés barátom! Visszontlátásra! (Hẹn gặp lại, người bạn thân mến!) Ra đi nhưng không bao giờ quên.

Mả cha nó, quỷ sứ cũng không cản nổi hắn cho đến khi hắn vớ được cái hộp thiếc khốn kiếp ấy rồi lao ra ngoài trong khi Alf nhỏ bám chặt lấy khuỷu tay hắn còn hắn thì gào thét như lợn bị chọc tiết, hay chẳng kém gì bất kỳ vở kịch nào trong nhà hát hoàng gia Queen’s:

—Hắn đâu rồi để tao giết chết nó!

Và Ned với J. J. cười đến mức bại liệt cả người.

—Chiến tranh máu me, tôi thốt lên, chắc tôi phải ở lại nghe bài giảng cuối lễ mất thôi.

Nhưng thật may là gã đánh xe đã quay được đầu con chiến mã hướng sang hướng khác và phóng đi.

—Giữ lại nào công dân, Joe can thiệp. Dừng lại!

Mả cha nó, hắn vung tay ném một cú thật lực. Ơn Chúa là mặt trời chiếu thẳng vào mắt hắn nếu không hắn đã để lại cho gã kia một mạng rồi. Mả cha nó, hắn suýt ném nó bay tận sang hạt Longford. Con chiến mã khốn kiếp hoảng sợ và con chó lai già lao theo chiếc xe ngựa nhanh như điên trong khi toàn bộ dân chúng hò reo cười phá lên và chiếc hộp thiếc khốn kiếp lộc cộc vang dọc theo con đường.

Thảm họa thật khủng khϊếp và tức thì trong tác động của nó. Đài quan sát Dunsink đã ghi nhận tổng cộng mười một trận chấn động, tất cả đều ở cấp độ thứ năm theo thang đo Mercalli, và không có ghi chép nào còn tồn tại về một sự xáo trộn địa chấn tương tự trên hòn đảo của chúng ta kể từ trận động đất năm 1534, năm bùng nổ cuộc nổi dậy của Silken Thomas. Tâm chấn dường như là phần đô thị tạo nên khu phố Inn’s Quay và giáo xứ Saint Michan bao phủ bề mặt bốn mươi mươi mốt mẫu Anh, hai sào và một sào vuông hoặc sào đo. Tất cả các dinh thự vĩ đại vùng phụ cận cung điện công lý đã bị san bằng và bản thân tòa nhà cao quý đó, nơi vào thời điểm xảy ra thảm họa các cuộc tranh luận pháp lý quan trọng đang diễn ra, theo đúng nghĩa đen là một đống đổ nát bên dưới mà người ta e rằng tất cả những người cư ngụ đều đã bị chôn vùi sống. Từ các báo cáo của nhân chứng mắt thấy tai nghe, hóa ra các làn sóng địa chấn đi kèm với một sự xáo trộn khí quyển dữ dội mang tính chất lốc xoáy. Một vật dụng đội đầu sau đó được xác định thuộc về viên thư ký đáng kính của tòa án vương miện và hòa bình ngụ tại Dublin ông George Fottrell và một chiếc ô lụa cán vàng với các chữ cái viết tắt, huy hiệu, quốc huy và số nhà được khắc của vị chủ tịch uy bác và đáng kính của các phiên tòa quý ngài Frederick Falkiner, quan tòa Dublin, đã được các đội tìm kiếm phát hiện ở những vùng xa xôi của hòn đảo tương ứng, chiếc trước trên sườn bazan thứ ba của Giant’s Causeway, chiếc sau cắm sâu một foot ba inch vào bãi biển cát của vịnh Holeopen gần mũi Kinsale cũ. Các nhân chứng khác khai nhận rằng họ quan sát thấy một vật thể phát sáng có kích thước khổng lồ đang lao vút qua khí quyển với tốc độ kinh hoàng theo một quỹ đạo hướng Tây Nam giáp Tây. Các thông điệp chia buồn và cảm thông đang được nhận hàng giờ từ mọi nơi của các châu lục khác nhau và Đức Giáo Hoàng đã rũ lòng thương ban hành sắc lệnh rằng một thánh lễ cầu hồn đặc biệt sẽ được cử hành đồng thời bởi các giám mục của mỗi và mọi nhà thờ chính tòa thuộc tất cả các giáo phận giám mục chịu thẩm quyền tinh thần của Tòa Thánh để cầu nguyện cho các linh hồn của những tín hữu đã khuất những người đã bất ngờ bị gọi đi khỏi giữa chúng ta. Công việc cứu hộ, dọn dẹp đê bris, di dời hài cốt v.v. đã được giao phó cho Messrs Michael Meade and Son, 159 đường Great Brunswick, và Messrs T. and C. Martin, 77, 78, 79 và 80 North Wall, được hỗ trợ bởi các binh sĩ và sĩ quan của bộ binh nhẹ Công tước xứ Cornwall dưới sự giám sát chung của H.R.H., chuẩn đô đốc, ngài cao quý Sir Hercules Hannibal Habeas Corpus Anderson, K.G., K.P., K.T., P.C., K.C.B., M.P., J.P., M.B., D.S.O., S.O.D., M.F.H., M.R.I.A., B.L., Mus.Doc., P.L.G., F.T.C.D., F.R.U.I., F.R.C.P.I. và F.R.C.S.I.

Cậu chưa từng thấy cảnh tượng nào như thế trong suốt cuộc đời mình đâu. Mả cha nó, nếu hắn trúng tấm vé số đó vào ngay sau gáy hắn sẽ nhớ đời cái cúp vàng cho mà xem, chắc chắn là thế rồi, nhưng mả cha nó, tay công dân sẽ bị tóm cổ vì tội hành hung gây thương tích và Joe vì tội đồng lõa. Gã đánh xe đã cứu mạng hắn bằng màn lái xe điên cuồng chắc như Chúa đã tạo ra Moses. Gì cơ? Ồ, Chúa ơi, đúng là hắn đã làm thế. Và hắn gào thét một tràng chửi rủa theo sau:

—Tao đã giết hắn chưa, hắn hỏi, hay thế nào?

Và hắn hét lên với con chó khốn kiếp:

—Đuổi theo nó, Garry! Đuổi theo nó, con trai!

Và cảnh tượng cuối cùng chúng ta thấy là chiếc xe ngựa khốn kiếp đang quẹo cua còn cái mặt cừu già trên đó đang khua tay múa chân cùng con chó lai khốn kiếp đuổi theo sau với đôi tai cụp sát ra sau hết mức có thể để xé xác hắn ra thành từng mảnh. Tỷ lệ trăm ăn năm! Chúa ơi, hắn đã lấy lại đủ giá trị của nó rồi đấy, tao hứa với cậu luôn.

Khi, kìa, một ánh sáng rực rỡ bao trùm lấy tất cả bọn họ và họ nhìn thấy cỗ xe nơi Ngài đứng đang thăng thiên về trời. Và họ nhìn thấy Ngài trong cỗ xe, khoác trên mình vinh quang của ánh sáng, mang y phục tựa ánh mặt trời, rạng ngời như mặt trang và uy nghiêm đến mức vì kinh hãi họ không dám ngước nhìn lên Ngài. Và có một tiếng nói phát ra từ thiên đường, gọi: Elijah! Elijah! Và Ngài đáp lại bằng một tiếng kêu vang dội: Abba! Adonai! Và họ nhìn thấy Ngài, chính là Ngài, ben Bloom Elijah, giữa những đám mây thiên thần thăng thiên vào vinh quang của ánh sáng ở góc bốn mươi lăm độ phía trên quán Donohoe ở phố Little Green nhanh như một cái hót rác.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.