Ulysses

Lượt đọc: 203 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10

❊ ❊ ❊

Cha bề trên, Đức cha khả kính John Conmee S. J. chỉnh lại chiếc đồng hồ mượt mà trong túi áo trong khi bước xuống những bậc thềm nhà xứ. Thiếu năm phút nữa là ba giờ. Vừa đúng lúc để đi bộ tới Artane. Tên cậu bé đó là gì nhỉ? Dignam. Phải rồi. Vere dignum et iustum est. Thầy Swan là người cần gặp. Lá thư của ông Cunningham. Phải. Giúp đỡ ông ấy nếu có thể. Một người công giáo thực tế tốt bụng: rất hữu ích vào thời gian tĩnh tâm.

Một tên thủy thủ cụt một chân, tự kéo thân mình tiến lên bằng những cú giật lười biếng trên đôi nạng, càu nhàu vài nốt nhạc. Hắn khựng lại ngay trước tu viện của các nữ tu bác ái và giơ chiếc mũ chóp ra xin bố thí hướng về phía Đức cha khả kính John Conmee S. J. Cha Conmee ban phước cho hắn dưới ánh nắng vì ngài biết chiếc túi của hắn có đựng một đồng mão bạc.

Cha Conmee băng qua quảng trường Mountjoy. Ngài nghĩ ngợi, nhưng không lâu, về những người lính thủy và lính bộ binh, những người đã bị đại bác bắn cụt chân, phải kết thúc những ngày cuối đời trong một khu trại dành cho người nghèo, và về lời của Hồng y Wolsey: Nếu ta phụng sự Thiên Chúa tận tâm như đã phụng sự nhà vua, Ngài đã không bỏ rơi ta trong tuổi già. Ngài bước đi dưới bóng cây với những chiếc lá nhấp nháy ánh nắng; và đi về phía ngài là phu nhân của ông David Sheehy M.P.

—Quả thật rất khỏe, thưa cha. Còn cha thì sao?

Cha Conmee quả thực khỏe một cách kỳ diệu. Ngài có lẽ sẽ đến Buxton để tắm khoáng. Còn các con trai của bà, chúng học hành có tiến bộ ở Belvedere không? Vậy sao? Cha Conmee rất đỗi vui mừng khi nghe điều đó. Thế còn bản thân ông Sheehy? Vẫn ở London. Nghị viện vẫn đang họp, chắc chắn là thế rồi. Thời tiết thật đẹp, quả là dễ chịu. Vâng, rất có thể cha Bernard Vaughan sẽ lại đến giảng. Ồ, vâng: một thành công rất lớn. Quả thực là một con người tuyệt vời.

Cha Conmee rất vui mừng thấy phu nhân của ông David Sheehy M.P. trông thật khỏe mạnh và ngài gửi lời thăm hỏi tới ông David Sheehy M.P. Vâng, ngài chắc chắn sẽ ghé thăm.

—Chào buổi chiều, thưa bà Sheehy.

Cha Conmee cởi chiếc mũ lụa và mỉm cười chào tạm biệt, nhìn những hạt cườm đen trên chiếc khăn trùm đầu mantilla của bà lấp lánh như mực dưới ánh mặt trời. Và ngài lại mỉm cười khi bước đi. Ngài biết mình vừa đánh răng bằng cao hạt cau.

Cha Conmee vừa đi vừa mỉm cười vì ngài đang nhớ đến đôi mắt kỳ quặc và giọng nói kiểu dân lao động London của cha Bernard Vaughan.

—Pilate! Sao anh không đẩy lùi cái lũ đang gào thét kia lại?

Tuy nhiên, ngài là một người nhiệt huyết. Quả thực là vậy. Và ngài thực sự đã làm được rất nhiều điều tốt theo cách của mình. Không còn nghi ngờ gì nữa. Ngài nói ngài yêu nước Ireland, và ngài yêu người Ireland. Lại còn thuộc dòng dõi danh giá nữa, ai mà nghĩ thế chứ? Người xứ Wales, phải không nhỉ?

Ồ, suýt nữa thì quên mất. Bức thư gửi cha bề trên tỉnh dòng.

Cha Conmee chặn ba cậu học sinh nhỏ ở góc quảng trường Mountjoy lại. À: chúng học ở Belvedere. Ngôi trường nhỏ. Aha. Và chúng có phải là những đứa trẻ ngoan ở trường không? Ồ. Thế thì tốt quá rồi. Và tên cậu là gì? Jack Sohan. Còn tên cậu? Ger. Gallaher. Và cậu bé còn lại? Tên cậu ấy là Brunny Lynam. Ồ, đó là một cái tên rất hay.

Cha Conmee lấy một bức thư từ ngực áo trao cho cậu chủ Brunny Lynam và chỉ về phía chiếc hòm thư màu đỏ ở góc phố Fitzgibbon.

—Nhưng nhớ là đừng tự bỏ luôn cả mình vào hòm thư đấy, cậu bé nhé, ngài nói.

Mấy đứa trẻ cùng nhìn cha Conmee bằng sáu con mắt rồi bật cười:

—Dạ thưa cha.

—Nào, để ta xem các cháu có biết gửi thư không nào, cha Conmee nói.

Cậu chủ Brunny Lynam chạy băng qua đường và nhét bức thư gửi cha bề trên tỉnh dòng của cha Conmee vào miệng chiếc hòm thư đỏ rực. Cha Conmee mỉm cười gật đầu rồi lại mỉm cười và tiếp tục rảo bước dọc theo phía đông quảng trường Mountjoy.

Ông Denis J Maginni, giáo sư khiêu vũ v.v., đội mũ lụa, mặc áo khoác dài màu xám đá viền lụa, thắt cà vạt khăn mù-xoa trắng, mặc quần chật màu hoa oải hương, đeo găng tay vàng chanh và đi bốt mũi nhọn bóng loáng, bước đi với dáng vẻ trang nghiêm và cung kính tránh sang lề đường khi đi qua phu nhân Maxwell ở góc tòa án Dignam.

Kia chẳng phải là bà M’Guinness đó sao?

Bà M’Guinness, uy nghi, tóc bạc phơ, cúi đầu chào cha Conmee từ phía bên kia vỉa hè nơi bà đang lướt tới. Và cha Conmee mỉm cười chào lại. Dạo này bà thế nào?

Bà có dáng đi thật đẹp. Hơi giống Mary, nữ hoàng xứ Scotland. Và thử nghĩ xem bà ấy lại là một kẻ cầm đồ đấy! Chà, thật đấy! Một... ngài nên gọi là gì nhỉ?... một phong thái thật vương giả.

Cha Conmee đi xuống phố Great Charles và liếc nhìn nhà thờ phi giáo hội đang đóng cửa ở bên trái ngài. Mục sư T. R. Greene B.A. sẽ (với ơn Chúa) phát biểu. Người ta gọi ông ấy là mục sư đương nhiệm. Ông ấy cảm thấy mình có bổn phận phải nói vài lời. Nhưng người ta nên có lòng bác ái. Sự dốt nát không thể tránh khỏi. Họ hành động theo sự hiểu biết của mình.

Cha Conmee rẽ ở góc phố và đi dọc theo đường North Circular. Thật lạ là một con đường huyết mạch quan trọng như vậy lại không có đường xe điện. Chắc chắn là phải có chứ.

Một nhóm học sinh đeo cặp xách đi ngang qua từ phố Richmond. Tất cả đều giơ những chiếc mũ xộc xệch lên chào. Cha Conmeeân cần chào lại họ nhiều lần. Mấy cậu bé học sinh trường dòng Christian Brother.

Cha Conmee ngửi thấy mùi hương trầm bên tay phải khi ngài bước đi. Nhà thờ Saint Joseph, phố Portland. Dành cho những phụ nữ lớn tuổi và đức hạnh. Cha Conmee ngả mũ chào Bí tích Thánh Thể. Đức hạnh: nhưng đôi khi họ cũng hay cáu kỉnh.

Gần nhà Aldborough, cha Conmee nghĩ đến vị quý tộc hoang phí đó. Và giờ thì nó đã trở thành một văn phòng hay cái gì đại loại thế.

Cha Conmee bắt đầu đi dọc theo con đường North Strand và được chào bởi ông William Gallagher đang đứng ở cửa tiệm của mình. Cha Conmee chào ông William Gallagher và ngửi thấy mùi hương tỏa ra từ những tảng thịt lợn muối xông khói và những chậu bơ lớn. Ngài đi ngang qua tiệm bán thuốc lá của Grogan, nơi có những tấm bảng tin tựa vào, thông báo về một thảm họa kinh khủng ở New York. Ở Mỹ, những chuyện như thế cứ liên tục xảy ra. Thật tội nghiệp cho những kẻ chết mà không được chuẩn bị chuối như vậy. Dẫu sao, cũng có một hành động ăn năn tội hoàn toàn.

Cha Conmee đi qua quán rượu của Daniel Bergin, nơi có hai người đàn ông rảnh rỗi đang đứng tựa vào khung cửa sổ. Họ chào ngài và được chào lại.

Cha Conmee đi qua nhà tang lễ của H. J. O’Neill, nơi Corny Kelleher đang tính toán các con số trong sổ cái trong khi nhai một cọng cỏ tranh. Một cảnh sát tuần tra chào cha Conmee và cha Conmee chào lại viên cảnh sát. Tại tiệm bán thịt lợn của Youkstetter, cha Conmee quan sát thấy những dải dồi lợn, màu trắng, đen và đỏ, nằm cuộn tròn gọn gàng trong các ống ruột.

Được neo đậu dưới những tán cây ở Charleville Mall, cha Conmee nhìn thấy một chiếc sà lan chở than bùn, một con ngựa kéo với chiếc đầu rũ xuống, một người lái sà lan đội chiếc mũ rơm cũ kỹ đang ngồi giữa thuyền, hút thuốc và ngắm nhìn một cành dương phía trên. Khung cảnh thật điền viên: và cha Conmee ngẫm nghỉ về sự quan phòng của Đấng Tạo Hóa, Đấng đã tạo ra than bùn trong các đầm lầy để con người có thể đào lên, đem về các thị trấn và làng mạc làm củi sưởi ấm trong những ngôi nhà của người nghèo.

Trên cầu Newcomen, Đức cha khả kính John Conmee S. J. thuộc nhà thờ Saint Francis Xavier, phố Upper Gardiner, đã bước lên một chuyến xe điện đang chạy ra ngoại ô.

Từ một chuyến xe điện hướng vào nội thành, cha Nicholas Dudley C. C. thuộc nhà thờ Saint Agatha, phố North William, bước xuống cầu Newcomen.

Tại cầu Newcomen, cha Conmee bước lên một chuyến xe điện ra ngoại ô vì ngài không thích đi bộ qua con đường tồi tàn qua vùng Mud Island.

Cha Conmee ngồi ở góc xe điện, một chiếc vé màu xanh được giấu cẩn thận vào kẽ hở của chiếc găng tay da cừu đầy đặn, trong khi bốn shilling, sáu xu và năm xu đồng từ lòng bàn tay đeo găng đầy đặn bên kia đang rơi ào vào túi tiền của ngài. Đi ngang qua nhà thờ mọc đầy dây thường xuân, ngài suy ngẫm rằng người kiểm tra vé thường chỉ đến kiểm tra vào lúc người ta đã vô ý vứt xé vé đi rồi. Sự trang nghiêm của những hành khách trên xe có vẻ hơi quá mức đối với một chuyến đi ngắn ngủi và rẻ tiền như vậy đối với cha Conmee. Cha Conmee thích sự lịch sự vui vẻ.

Đó là một ngày bình yên. Quý ông đeo kính ngồi đối diện với cha Conmee đã ngừng giải thích và cúi nhìn xuống. Vợ ông ta, cha Conmee đoán vậy. Một cái ngáp nhỏ làm hé mở khuôn mặt của người vợ vị quý ông đeo kính. Bà đưa bàn tay nhỏ bé đeo găng lên, ngáp một cách thật nhẹ nhàng, khẽ vỗ nhẹ bàn tay đeo găng nhỏ nhắn lên khuôn mặt đang hé mở rồi mỉm cười thật nhẹ nhàng, ngọt ngào.

Cha Conmee nhận ra mùi nước hoa của bà trên xe. Ngài cũng nhận ra rằng người đàn ông vụng về ở phía bên kia của bà đang ngồi chênh vênh ở rìa ghế.

Cha Conmee tại lan can cung thánh đang khó nhọc đặt bánh thánh vào miệng người đàn ông già vụng về bị run đầu.

Tại cầu Annesley, xe điện dừng lại và khi chuẩn bị chạy tiếp, một bà già đột nhiên đứng dậy khỏi chỗ ngồi để xuống xe. Người soát vé kéo dây chuông để dừng xe lại cho bà. Bà bước ra mang theo chiếc giỏ và chiếc túi đi chợ: và cha Conmee thấy người soát vé giúp bà hạ chiếc túi và giỏ xuống; và cha Conmee nghĩ rằng, vì bà đã suýt đi quá chặng vé một xu, bà là một trong những linh hồn tốt lành luôn phải được nhắc hai lần câu "chúc lành cho con, con ạ, con đã được tha tội, hãy cầu nguyện cho con". Nhưng họ có quá nhiều nỗi buồn trong đời, quá nhiều lo toan, những sinh linh tội nghiệp.

Từ các tấm biển quảng cáo, ông Eugene Stratton nhe hàm răng dày cộp của người da đen ra nhăn nhở với cha Conmee.

Cha Conmee nghĩ đến các linh hồn của những người da đen, da nâu và da vàng, nghĩ về bài giảng của ngài về thánh Peter Claver S. J. và sứ mệnh châu Phi, về việc truyền bá đức tin và hàng triệu linh hồn da đen, da nâu, da vàng chưa được nhận phép rửa tội bằng nước khi giờ phút cuối cùng của họ đến như kẻ trộm trong đêm. Cuốn sách của tu sĩ dòng Tên người Bỉ, Le Nombre des Éludes, đối với cha Conmee có vẻ là một lời biện hộ hợp lý. Đó là hàng triệu linh hồn con người được Chúa tạo dựng theo hình ảnh của chính Ngài mà đức tin vẫn chưa (với ơn Chúa) được mang đến. Nhưng họ là những linh hồn của Chúa, do Chúa tạo dựng. Đối với cha Conmee, thật đáng tiếc nếu tất cả họ đều phải lụi tàn, một sự lãng phí, nếu người ta có thể nói như vậy.

Tại trạm đường Howth, cha Conmee xuống xe, được người soát vé chào và ngài cũng chào lại.

Đường Malahide rất yên tĩnh. Cha Conmee rất thích con đường và cái tên ấy. Những tiếng chuông vui mừng đang vang lên ở vùng Malahide vui tươi. Lãnh chúa Talbot de Malahide, đô đốc thừa kế trực tiếp của Malahide và các vùng biển lân cận. Sau đó là tiếng gọi tòng quân và cô ấy vừa là thiếu nữ, vừa là vợ và vừa là góa phụ chỉ trong một ngày. Đó là những ngày xưa cũ, những thời kỳ trung thành trong những vùng đất vui tươi, những ngày xưa cũ trong vùng lãnh địa.

Cha Conmee vừa đi vừa nghĩ về cuốn sách nhỏ của mình Những ngày xưa trong vùng lãnh địa và về cuốn sách có thể được viết về các tu viện dòng Tên và về Mary Rochrot, con gái của lãnh chúa Molesworth, nữ bá tước đầu tiên xứ Belvedere.

Một quý cô ủ rũ, không còn trẻ, đi một mình dọc bờ hồ Ennel, Mary, nữ bá tước đầu tiên xứ Belvedere, đang ủ rũ bước đi trong buổi chiều tà, không hề giật mình khi một con rái cá lao xuống nước. Ai có thể biết được sự thật chứ? Không phải người chồng ghen tuông lãnh chúa Belvedere và cũng không phải cha giải tội của bà nếu bà chưa thực hiện hành vi ngoại tình trọn vẹn, eiaculatio seminis inter vas naturale mulieris, với anh trai chồng? Bà ấy sẽ thú nhận một nửa nếu bà không phạm tội hoàn toàn như những người phụ nữ khác. Chỉ có Chúa mới biết và cô ấy và anh ta, anh trai của chồng cô ấy.

Cha Conmee nghĩ đến sự không kiềm chế đầy độc tài đó, tuy nhiên lại cần thiết cho giống nòi con người trên trái đất, và về những con đường của Chúa không phải là con đường của chúng ta.

Don John Conmee bước đi và di chuyển trong thời gian xưa cũ. Ông là một người nhân đạo và được tôn kính ở đó. Ngài ghi nhớ những bí mật đã xưng tội và ngài mỉm cười trước những khuôn mặt quý tộc đang mỉm cười trong một phòng khách được đánh sáp ong, trần nhà đắp nổi những chùm quả trĩu trịt. Và bàn tay của một cô dâu và một chú rể, người quý tộc này với người quý tộc khác, được Don John Conmee nắm lấy trong tay.

Đó là một ngày quyến rũ.

Cánh cổng vòm của một cánh đồng hiện ra trước mắt cha Conmee những luống bắp cải rộng lớn, đang cúi chào ngài với những chiếc lá phía dưới xum xuê. Bầu trời cho ngài thấy một đàn mây trắng nhỏ đang chậm chạp trôi theo chiều gió. Người Pháp gọi là Moutonner. Một từ ngữ thật chính xác và bình dị.

Cha Conmee, vừa đọc kinh Nhật tụng, vừa ngắm nhìn một đàn mây cuồn cuộn như cừu trôi trên bầu trời Rathcoffey. Cổ chân đi tất mỏng của ngài bị nhột bởi gốc rạ của cánh đồng Clongowes. Ngài từng đi dạo ở đó, đọc sách vào buổi chiều, và nghe thấy tiếng vang của lũ trẻ xếp hàng chơi đùa, những tiếng hét non trẻ trong buổi chiều tĩnh lặng. Ngài là hiệu trưởng của chúng: triều đại của ngài rất ôn hòa.

Cha Conmee tháo găng tay ra và lấy cuốn kinh nhật tụng viền đỏ của mình ra. Một chiếc thẻ đánh dấu bằng ngà voi cho ngài biết trang sách.

Kinh Giờ Sáu. Lẽ ra ngài phải đọc điều đó trước bữa trưa. Nhưng phu nhân Maxwell đã đến.

Cha Conmee thầm đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng rồi làm dấu thánh giá trên ngực. Deus in adiutorium.

Ngài điềm tĩnh bước đi và thầm đọc kinh Giờ Sáu, vừa đi vừa đọc cho đến khi đến bài Res in Beati immaculati: Principium verborum tuorum veritas: in eternum omnia iudicia iustitiæ tuæ.

Một thanh niên mặt đỏ bừng bước ra từ một khe hở trên hàng rào và theo sau anh ta là một người phụ nữ trẻ tay cầm những bông cúc dại đang đung đưa hoang dã. Người thanh niên cởi mũ đột ngột: người phụ nữ trẻ cúi người đột ngột và cẩn thận gỡ một cành cây nhỏ đang bám vào chiếc váy mỏng của cô.

Cha Conmee nghiêm nghị ban phước cho cả hai rồi lật một trang mỏng của cuốn kinh nhật tụng. Tội lỗi: Principes persecuti sunt me gratis: et a verbis tuis formidavit cor meum.

***

Corny Kelleher khép cuốn sổ cái dài của mình lại và liếc bằng con mắt sụp mí của mình sang một chiếc nắp quan tài bằng gỗ thông đang đứng gác ở một góc phòng. Ông đứng thẳng người dậy, đi tới đó và xoay nó trên trục của nó, ngắm nghía hình dáng cùng các phụ kiện bằng đồng của nó. Vừa nhai cọng cỏ tranh vừa đặt nắp quan tài sang một bên và đi ra cửa. Ở đó, ông nâng vành mũ lên để che bóng cho đôi mắt và tựa lưng vào khung cửa, thẫn thờ nhìn ra ngoài.

Cha John Conmee bước lên chuyến xe điện Dollymount trên cầu Newcomen.

Corny Kelleher khóa đôi giày to bè của mình lại và đăm đăm nhìn, chiếc mũ sụp xuống, miệng nhai cọng cỏ tranh.

Viên cảnh sát 57C đang đi tuần dừng lại để trò chuyện.

—Hôm nay trời đẹp đấy, ông Kelleher.

—Ừ, Corny Kelleher nói.

—Trời oi bức lắm, viên cảnh sát nói.

Corny Kelleher nhổ một bãi nước bọt lẫn nước cỏ xanh im lìm phóng qua miệng trong khi một cánh tay trắng ngần từ ô cửa sổ trên phố Eccles ném vèo ra một đồng xu.

—Có tin gì mới không? ông hỏi.

—Tôi vừa gặp nhân vật đặc biệt đó chiều tối hôm qua, viên cảnh sát nói với giọng hạ thấp.

***

Một tên thủy thủ cụt một chân chống nạng lê bước vòng qua góc phố MacConnell, đi sát chiếc xe kem của Rabaiotti và giật mình tiến lên phố Eccles. Hắn càu nhàu khó chịu với LarryO’Rourke đang đứng trước cửa trong chiếc áo sơ mi cộc tay:

—Vì nước Anh...

Hắn vung mạnh người tiến lên qua chỗ Katey và Boody Dedalus, khựng lại và càu nhàu:

—quê hương và vẻ đẹp.

Khuôn mặt hốc hác nhợt nhạt của J. J. O’Molloy được thông báo rằng ông Lambert đang ở trong nhà kho cùng với một vị khách.

Một phụ nữ mập mạp dừng lại, lấy một đồng xu đồng từ ví ra và thả vào chiếc mũ đang chìa ra trước mặt. Tên thủy thủ lầm bầm nói lời cảm ơn, liếc nhìn những ô cửa sổ phớt lờ hắn với vẻ hằn học, cúi đầu xuống và vung người bước tới bốn bước.

Hắn khựng lại và giận dữ càu nhàu:

—Vì nước Anh...

Hai đứa trẻ lang thang chân trần, đang mút những dải cam thảo dài, dừng lại gần hắn, há hốc miệng nhìn chằm chằm vào mỏm cụt của hắn với cái miệng đầy dãi vàng khè.

Hắn vung người tiến lên bằng những cú giật mạnh mẽ, dừng lại, ngẩng đầu lên hướng về phía một ô cửa sổ và cất tiếng gầm trầm đục:

—quê hương và vẻ đẹp.

Tiếng hót líu lo ngọt ngào vui tươi bên trong tiếp tục vang lên một hai nhịp rồi tắt hẳn. Tấm rèm cửa sổ được kéo sang một bên. Một tấm biển Căn hộ không đồ đạc tuột khỏi khung kính và rơi xuống. Một cánh tay mập mạp, trần trụi và phóng khoáng lộ ra, được nhìn thấy, chìa ra từ lớp áo lót váy trắng và những dây áo siết chặt. Bàn tay của một người phụ nữ ném một đồng xu qua hàng rào khu vực giếng trời. Nó rơi xuống lối đi.

Một trong hai đứa trẻ chạy tới, nhặt nó lên và thả vào chiếc mũ của kẻ hành khất, nói:

—Của ông đây ạ.

***

Katey và Boody Dedalus đẩy cửa bước vào căn bếp ngập tràn hơi nước.

—Các cậu có đem sách đi cầm không? Boody hỏi.

Maggy ở bên bếp lò dùng que khuấy dìm mạnh một khối xám xịt xuống dưới lớp bọt xà phòng đang sủi bọt hai lần rồi lau trán.

—Họ không chịu cầm món nào cả, cô nói.

Cha Conmee bước đi qua những cánh đồng của Clongowes, cổ chân đi tất mỏng bị gốc rạ làm cho nhột nhạt.

—Cậu đã thử ở đâu cơ chứ? Boody hỏi.

—Tiệm của M’Guinness.

Boody dậm chân xuống sàn và ném chiếc cặp sách lên bàn.

—Quỷ tha ma bắt cái mặt to như cái thớt của bà ta đi! cô la lên.

Katey tiến lại gần bếp lò và nheo mắt nhìn vào trong.

—Có gì trong nồi thế? cô hỏi.

—Áo sơ mi, Maggy nói.

Boody giận dữ kêu lên:

—Lạy Chúa, chẳng có gì cho chúng ta ăn sao?

Katey, nhấc nắp ấm nước bằng một góc váy dính đầy vết bẩn, hỏi:

—Thế trong này có gì?

Một luồng hơi nóng sực bốc lên để trả lời.

—Súp đậu, Maggy nói.

—Cậu xin ở đâu thế? Katey hỏi.

—Sơ Mary Patrick cho, Maggy nói.

Người hầu gù rung chuông.

—Barang!

Boody ngồi xuống bàn và nói với giọng thèm thuồng:

—Múc ra đây xem nào.

Maggy múc thứ súp vàng đặc từ ấm ra một chiếc bát. Katey, ngồi đối diện với Boody, điềm tĩnh nói khi đầu ngón tay chạm vào miệng để nhặt những mẩu vụn bánh mì:

—Thật may vì chúng ta còn có chừng này. Dilly đâu rồi?

—Đi đón bố rồi, Maggy nói.

Boody, bẻ những miếng bánh mì lớn vào bát súp màu vàng, nói thêm:

—Cha chúng ta, Đấng không ở trên trời.

Maggy, đang múc súp vàng vào bát của Katey, thốt lên:

—Boody! Thật xấu hổ quá!

Một chiếc thuyền nhỏ, một tờ quảng cáo nhàu nát mang dòng chữ Elijah đang đến, lướt nhẹ nhàng xuống dòng Liffey, dưới cây cầu Loopline, băng qua những ghềnh nước nơi dòng chảy cuồn cuộn quanh các trụ cầu, xuôi về phía đông qua những thân tàu và dây xích neo, giữa bến tàu cũ của tòa Hải quan và bến George.

***

Cô gái tóc vàng ở tiệm của Thornton lót chiếc giỏ mây bằng những thớ sợi sột soạt. Blazes Boylan đưa cho cô chai rượu được bọc trong giấy lụa hồng và một chiếc lọ nhỏ.

—Cho mấy thứ này vào trước nhé? anh ta nói.

—Vâng, thưa anh, cô gái tóc vàng nói. Còn hoa quả thì để lên trên.

—Thế là được rồi, cô em cưng, Blazes Boylan nói.

Cô xếp những quả lê béo tròn một cách ngăn nắp, đầu quay vào đuôi, và xen kẽ giữa chúng là những quả đào chín mọng e ấp.

Blazes Boylan đi lại quanh cửa hàng sực nức mùi hoa quả trong đôi giày da màu vàng nâu mới tinh, nhấc những loại quả lên, những quả cà chua đỏ mọng, giòn giòn và căng mọng, hít hà hương thơm.

Những người mang bảng quảng cáo của H. E. L. Y.’S xếp hàng đi trước anh ta, đội những chiếc mũ trắng cao, qua ngõ Tangier, nặng nhọc bước về phía mục tiêu của họ.

Anh ta đột ngột quay người khỏi một sọt dâu tây, rút chiếc đồng hồ vàng từ túi áo nhỏ ra và giơ nó ở khoảng cách bằng chiều dài sợi dây.

—Cậu có thể gửi chúng bằng xe điện không? Ngay bây giờ ấy?

Một bóng đen dưới vòm cổng Merchants đang xem xét những cuốn sách trên chiếc xe đẩy của người bán hàng rong.

—Chắc chắn rồi, thưa anh. Có phải giao trong nội thành không?

—À, đúng rồi, Blazes Boylan nói. Mười phút là tới.

Cô gái tóc vàng đưa cho anh một tờ phiếu và một cây bút chì.

—Anh viết địa chỉ vào đây nhé, thưa anh?

Blazes Boylan đứng ở quầy viết rồi đẩy tờ phiếu về phía cô.

—Gửi đi ngay nhé? anh nói. Dành cho một người bệnh đấy.

—Vâng, thưa anh. Em sẽ gửi ngay, thưa anh.

Blazes Boylan khua những đồng tiền kêu lanh canh vui tai trong túi quần.

—Hết bao nhiêu vậy? anh hỏi.

Những ngón tay thon thả của cô gái tóc vàng đếm số hoa quả.

Blazes Boylan nhìn vào đường cắt ở ngực áo cô. Một cô gà mái tơ. Anh ta rút một bông cẩm chướng đỏ từ chiếc lọ thủy tinh cao ra.

—Cái này cho tôi nhé? anh hỏi một cách hào hiệp.

Cô gái tóc vàng liếc xéo anh, đứng phắt dậy với chiếc cà vạt hơi lệch một chút, mặt đỏ bừng.

—Vâng, thưa anh, cô nói.

Cúi người một cách tinh nghịch, cô lại đếm những quả lê béo tròn và những quả đào đang ửng hồng.

Blazes Boylan nhìn vào ngực áo cô với vẻ thích thú hơn, cuống của bông hoa đỏ ngậm giữa hàm răng đang mỉm cười.

—Tôi nói chuyện điện thoại một lát được chứ, cô em? anh hỏi với vẻ tinh quái.

***

—Ma! Almidano Artifoni nói.

Ông nhìn qua vai Stephen vào cái đầu trọc lóc gồ ghề của Goldsmith.

Hai xe chở đầy khách du lịch chậm rãi đi qua, phụ nữ ngồi ở hàng ghế trước, bám chặt vào tay vịn. Những khuôn mặt trắng bệch. Tay đàn ông thản nhiên ôm lấy những thân hình còi cọc của họ. Họ nhìn từ trường Trinity sang hàng hiên cột mù của ngân hàng Ireland nơi những con chim bồ câu đang gù cu cu.

—Anch’io ho avuto di queste idee, Almidano Artifoni nói, quand’ ero giovine come Lei. Eppoi mi sono convinto che il mondo è una bestia. È peccato. Perchè la sua voce... sarebbe un cespite di rendita, via. Invece, Lei si sacrifica.

—Một sự hy sinh không đổ máu, Stephen nói mỉm cười, nhẹ nhàng đu đưa cây gậy gỗ tần bì của mình qua lại theo nhịp đều đặn từ điểm giữa của nó.

—Speriamo, gương mặt có bộ ria mép tròn trịa nói một cách dễ chịu. Ma, dia retta a me. Ci rifletta.

Bên bàn tay bằng đá nghiêm nghị của Grattan đang ra lệnh dừng lại, một chuyến xe điện Inchicore thả xuống những người lính đội mũ nồi của một ban nhạc đang đi tản mát.

—Ci rifletterò, Stephen nói, cúi nhìn xuống ống quần cứng ngắc.

—Ma, sul serio, eh? Almidano Artifoni nói.

Bàn tay nặng nề của ông nắm chặt lấy tay Stephen. Những đôi mắt con người. Chúng tò mò nhìn nhau một thoáng rồi nhanh chóng quay sang hướng một chiếc xe điện Dalkey.

—Eccolo, Almidano Artifoni nói với vẻ vội vã thân thiện. Venga a trovarmi e ci pensi. Addio, caro.

—Arrivederla, maestro, Stephen nói, ngẩng mũ chào khi tay được buông ra. E grazie.

—Di che? Almidano Artifoni said. Scusi, eh? Tante belle cose!

Almidano Artifoni, giơ một cuộn bản nhạc cuộn tròn làm tín hiệu, chạy lóc cóc bằng đôi chân ngắn ngủi lực lưỡng theo sau chiếc xe điện Dalkey. Ông chạy vô ích, ra hiệu trong vô ích giữa đám đông những gã thanh niên đầu gối trần đang lén lút mang theo các nhạc cụ qua cổng Trinity.

***

Cô Dunne giấu cuốn sách Người đàn bà mặc áo trắng của thư viện phố Capel vào tận sâu trong ngăn kéo và cuộn một tờ giấy viết thư sặc sỡ vào máy đánh chữ.

Có quá nhiều chuyện bí ẩn trong đó. Anh ta có yêu người đó không, Marion? Đổi đi và lấy một cuốn khác của Mary Cecil Haye.

Đĩa tròn lao xuống khe rãnh, tròng trành một lúc, dừng lại và nhìn chằm chằm vào họ: số sáu.

Cô Dunne gõ lạch cạch trên bàn phím:

—Ngày 16 tháng 6 năm 1904.

Năm người mang bảng quảng cáo đội mũ trắng cao đi lại giữa góc phố Monypeny và phiến đá nơi bức tượng của Wolfe Tone lẽ ra phải ở đó, uốn éo quay đầu những chữ H. E. L. Y.’S và lầm lũi quay lại như lúc họ tới.

Rồi cô thẫn thờ nhìn tấm áp phích lớn của Marie Kendall, nữ diễn viên u sầu duyên dáng, và thả lỏng người lười biếng, nguệch ngoạc lên cuốn sổ tay những con số mười sáu và những chữ S viết hoa. Mái tóc màu mù tạt và đôi má lem luốc. Trông cô ấy không đẹp lắm nhỉ, phải không? Cái cách cô ấy đang vén một mẩu váy lên. Tự hỏi không biết anh chàng đó tối nay có ra chỗ ban nhạc không. Giá mà tôi nhờ được thợ may đó may một chiếc váy xếp ly kiểu đàn xếp giống như của Susy Nagle. Chúng xòe ra trông thật tuyệt. Shannon và tất cả mấy gã công tử ở câu lạc bộ chèo thuyền cứ dán mắt vào cô ấy. Cầu trời cho hắn không giữ tôi ở đây đến bảy giờ.

Điện thoại reo lên inh ỏi ngay sát tai cô.

—Alo. Vâng, thưa anh. Không, thưa anh. Vâng, thưa anh. Tôi sẽ gọi cho họ sau năm giờ. Chỉ có hai chuyến đó thôi, thưa anh, đi Belfast và Liverpool. Được rồi, thưa anh. Vậy tôi có thể về sau sáu giờ nếu anh không về kịp. Hơn một phần tư. Vâng, thưa anh. Hai mươi bảy shilling rưỡi. Tôi sẽ nói lại với anh ấy. Vâng: một, bảy, sáu.

Cô nguệch ngoạc ba con số lên một phong bì.

—Anh Boylan! Alo! Quý ông bên tờ Sport đó đã ghé qua tìm anh đấy. Anh Lenehan, vâng. Anh ấy nói sẽ ở quán Ormond lúc bốn giờ. Không, thưa anh. Vâng, thưa anh. Tôi sẽ gọi cho họ sau năm giờ.

***

Hai khuôn mặt hồng hào quay lại trong ánh sáng chói lọi của ngọn đuốc nhỏ.

—Ai thế? Ned Lambert hỏi. Có phải Crotty không?

—Ringabella và Crosshaven, một giọng nói vang lên đang dò dẫm tìm chỗ đứng.

—Chào Jack, có phải cậu đấy không? Ned Lambert nói, vừa nâng cao cây thước dẻo của mình trong lúc chào giữa những vòm gạch nhấp nháy ánh lửa. Lại đây. Cẩn thận bước chân đấy nhé.

Que diêm sáp trên tay vị mục sư đã cháy hết trong một ngọn lửa mềm mại kéo dài rồi rơi xuống. Dưới chân họ, đốm đỏ của nó tắt lịm: và bầu không khí ẩm mốc bao trùm lấy họ.

—Thật thú vị làm sao! một giọng điệu tao nhã vang lên trong bóng tối.

—Vâng, thưa anh, Ned Lambert nhiệt tình nói. Chúng ta đang đứng trong phòng hội đồng lịch sử của tu viện Saint Mary, nơi gã Thomas lụa là tự xưng là kẻ nổi loạn vào năm 1534. Đây là địa danh lịch sử nhất ở toàn Dublin. O’Madden Burke sắp viết một bài về nơi này trong nay mai thôi. Tòa ngân hàng Ireland cũ nằm ở phía bên kia cho đến thời kỳ hợp nhất và ngôi đền gốc của người Do Thái cũng ở đây trước khi họ xây giáo xá của mình ở đường Adelaide. Cậu chưa bao giờ đến đây phải không, Jack?

—Chưa, Ned.

—Hắn ta cưỡi ngựa đi qua lối đi Dame, giọng điệu tao nhã nói, nếu trí nhớ của tôi không nhầm. Dinh thự của nhà Kildare nằm ở tòa án Thomas.

—Đúng thế, Ned Lambert nói. Hoàn toàn chính xác, thưa anh.

—Nếu anh có lòng tốt, vị mục sư nói, lần tới có lẽ cho phép tôi...

—Chắc chắn rồi, Ned Lambert nói. Cứ mang theo máy ảnh bất cứ lúc nào anh muốn. Tôi sẽ cho người dọn sạch những bao tải đó khỏi cửa sổ. Anh có thể chụp từ đây hoặc từ đây.

Trong ánh sáng mờ ảo tĩnh lặng, ông di chuyển xung quanh, gõ gõ cây thước dẻo của mình vào những chồng bao tải hạt giống và những góc có lợi thế trên sàn nhà.

Từ một khuôn mặt dài, bộ râu và ánh mắt đang đăm đăm nhìn vào một bàn cờ.

—Tôi vô cùng biết ơn, anh Lambert, vị mục sư nói. Tôi sẽ không làm phiền thời gian quý báu của anh nữa...

—Không có chi, thưa anh, Ned Lambert nói. Cứ ghé qua bất cứ lúc nào anh thích. Tuần tới chẳng hạn. Anh có nhìn rõ đường không?

—Có, có. Chào buổi chiều, anh Lambert. Rất vui được gặp anh.

—Vinh hạnh thuộc về tôi, thưa anh, Ned Lambert đáp.

Ông đi theo vị khách của mình ra lối ra rồi vung vẩy cây thước dẻo giữa những hàng cột. Cùng với J. J. O’Molloy, ông thong thả bước ra tu viện Mary, nơi những người đánh xe tải đang chất những bao bột hạt carob và hạt cọ lên các cỗ xe kéo, O’Connor, Wexford.

Ông đứng đọc tấm danh thiếp trên tay.

—Mục sư Hugh C. Love, Rathcoffey. Địa chỉ hiện tại: Saint Michael’s, Sallins. Cậu ta là một chàng trai trẻ tử tế. Cậu ta nói với tôi là cậu ta đang viết một cuốn sách về nhà Fitzgerald. Thật đấy, cậu ta rất am hiểu lịch sử.

Người phụ nữ trẻ cẩn thận gỡ một cành cây nhỏ bám vào chiếc váy mỏng của cô.

—Tôi tưởng anh đang vướng vào một âm mưu thuốc súng mới nào chứ, J. J. O’Molloy nói.

Ned Lambert búng tay trong không khí.

—Chúa ơi! anh kêu lên. Tôi quên không kể cho anh ta nghe câu chuyện về bá tước Kildare sau khi ông ta phóng hỏa nhà thờ chính tòa Cashel. Anh biết câu chuyện đó chứ? Tao thề có Chúa là tao hối hận chết đi được, hắn nói, nhưng tao thề với Chúa là tao cứ tưởng vị tổng giám mục đang ở bên trong. Tuy nhiên có lẽ anh ta không thích chuyện đó đâu nhỉ? Gì cơ? Chúa ơi, dẫu sao tôi cũng sẽ kể cho anh ta nghe. Đó là vị bá tước vĩ đại, Fitzgerald Mor. Tất cả bọn họ đều là những kẻ máu lửa, dòng họ Geraldine.

Những con ngựa mà ông đi qua giật mình hoảng sợ dưới bộ dây cương lỏng lẻo. Ông vỗ vào phần hông lốm đốm đang run rẩy gần mình và kêu lên:

—Đứng lại nào, con trai!

Ông quay sang J. J. O’Molloy và hỏi:

—Nào, Jack. Chuyện gì thế? Có rắc rối gì à? Đợi chút đã. Giữ máy nhé.

Với cái há hốc miệng và cái đầu ngửa ra sau, ông đứng im lìm và sau một thoáng, hắt xì một tiếng thật to.

—Chow! ông nói. Quỷ tha ma bắt cậu đi!

—Bụi từ mấy cái bao tải đó đấy, J. J. O’Molloy lịch sự nói.

—Không, Ned Lambert thở hổn hển, tôi bị... nhiễm lạnh từ đêm hôm trước... quỷ tha ma bắt cậu đi... đêm hôm trước... và có một luồng gió lùa kinh khủng...

Ông chuẩn bị sẵn chiếc khăn tay cho cơn hắt xì sắp tới...

—Tôi đã... Glasnevin sáng nay... tội nghiệp cậu... tên gì ấy nhỉ... Chow!... Mẹ kiếp!

***

Tom Rochford nhấc chiếc đĩa trên cùng từ chồng đĩa mà anh đang ôm vào chiếc áo ghi lê màu đỏ sẫm của mình.

—Thấy chưa? anh nói. Cứ cho là lượt thứ sáu đi. Cho vào trong này, thấy chưa. Đến lượt ngay.

Anh trượt nó vào khe bên trái cho họ. Nó lao xuống rãnh, tròng trành một lúc, dừng lại, nhìn chằm chằm vào họ: số sáu.

Những luật sư của quá khứ, kiêu hãnh, biện hộ, nhìn Richie Goulding đi từ văn phòng tính thuế hợp nhất sang tòa án Nisi Prius mang theo chiếc túi đựng chi phí của hãng Goulding, Collis và Ward và nghe tiếng xột xoạt từ bộ phận hải lý của tòa án tối cao đến tòa phúc thẩm của một phụ nữ lớn tuổi có hàm răng giả đang mỉm cười đầy hoài nghi với chiếc váy lụa đen rộng thùng thình.

—Thấy chưa? anh nói. Thấy chưa, cái cuối cùng tôi vừa bỏ vào nằm ở đây này: Đã qua lượt. Tác động của lực. Đòn bẩy, thấy chưa?

Anh chỉ cho họ thấy cột đĩa đang dâng lên ở phía bên phải.

—Ý tưởng hay đấy chứ, Nosey Flynn vừa khụt khịt mũi vừa nói. Thế là một gã đến muộn có thể biết lượt nào đang diễn ra và lượt nào đã qua rồi.

—Thấy chưa? Tom Rochford nói.

Anh trượt một chiếc đĩa vào cho chính mình: và nhìn nó lao đi, tròng trành, nhìn chằm chằm, dừng lại: số bốn. Đến lượt ngay.

—Bây giờ tôi sẽ tìm hắn ở quán Ormond, Lenehan nói, và dò la ý định của hắn. Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.

—Cứ làm thế đi, Tom nói. Nói với hắn là tôi đang nóng lòng chờ đợi Boylan đấy.

—Chúc ngủ ngon, M’Coy đột ngột nói. Khi hai anh bắt đầu...

Nosey Flynn cúi người xuống cần gạt, khụt khịt mũi ngửi nó.

—Nhưng nó hoạt động thế nào ở đây vậy, Tommy? anh ta hỏi.

—Tạm biệt nhé, Lenehan nói. Hẹn gặp lại sau.

Anh ta đi theo M’Coy ra qua khoảng sân nhỏ của tòa án Crampton.

—Hắn là một anh hùng, anh ta đơn giản nhận xét.

—Tôi biết, M’Coy nói. Ý anh là cái cống thoát nước ấy hả?

—Cống thoát nước gì chứ? Lenehan nói. Nó ở dưới một cái hố ga cơ mà.

Họ đi ngang qua rạp ca múa nhạc của Dan Lowry, nơi Marie Kendall, nữ diễn viên u sầu duyên dáng, mỉm cười với họ từ một tấm áp phích với nụ cười lem luốc.

Đi xuống lối đi của phố Sycamore bên cạnh rạp ca múa nhạc Empire, Lenehan chỉ cho M’Coy thấy mọi chuyện diễn ra như thế nào. Một trong những cái hố ga giống như một ống dẫn khí chết tiệt và có một tên khốn tội nghiệp mắc kẹt trong đó, suýt nghẹt thở vì khí gas dưới cống. Dẫu sao thì Tom Rochford cũng trèo xuống đó, vẫn mặc áo ghi lê của người ghi cược và tất cả, với một sợi dây thừng buộc quanh người. Và thế quái nào mà anh ta đã luồn được sợi dây quanh gã tội nghiệp kia và cả hai người đã được kéo lên.

—Hành động của một anh hùng, anh ta nói.

Tại quán Dolphin, họ dừng lại để nhường đường cho chiếc xe cứu thương phi nước đại về phía đường Jervis.

—Đi lối này, anh ta nói, rẽ về phía bên phải. Tôi muốn ghé qua tiệm của Lynam để xem tỷ lệ cược của con Sceptre. Mấy giờ rồi theo chiếc đồng hồ quả quýt của anh?

M’Coy liếc vào văn phòng ảm đạm của Marcus Tertius Moses, rồi nhìn lên chiếc đồng hồ của O’Neill.

—Hơn ba giờ rồi, anh ta nói. Ai cưỡi con đó thế?

—O. Madden, Lenehan nói. Và nó là một con ngựa cái đầy máu chiến đấy.

Trong khi đợi ở khu Temple bar, M’Coy dùng mũi giày nhẹ nhàng đẩy một vỏ chuối từ vỉa hè xuống lòng đường. Đi lại trong bóng tối mà ngà ngà say thì rất dễ ngã oạch một cú đau điếng ở đây.

Cổng lối đi mở rộng để đón đoàn xe của phó vương đi ra.

—Cược một ăn một, Lenehan nói khi quay lại. Tôi vừa đụng phải Bantam Lyons trong đó, đang định đặt cược cho một con ngựa chết tiệt nào đó mà ai đó đưa cho hắn ta chẳng có chút hy vọng thắng nào cả. Đi lối này.

Họ bước lên bậc thềm và đi dưới vòm cổng Merchants. Một bóng đen đang xem xét những cuốn sách trên chiếc xe đẩy của người bán hàng rong.

—Kìa hắn ta kìa, Lenehan nói.

—Tự hỏi không biết hắn đang mua gì thế nhỉ, M’Coy nói, liếc nhìn ra phía sau.

—Leopoldo hoặc bài Tiếng chuông chiều trên sông Rye, Lenehan nói.

—Hắn cực kỳ mê mẩn mấy vụ bán sách giảm giá, M’Coy nói. Tôi từng đi cùng hắn một ngày và hắn đã mua một cuốn sách của một mụ già ở phố Liffey với giá hai shilling. Trong đó có những bức tranh minh họa tuyệt đẹp đáng giá gấp đôi số tiền đó, những ngôi sao, mặt trăng và sao chổi có cái đuôi dài. Nó viết về thiên văn học.

Lenehan cười lớn.

—Tôi sẽ kể cho anh nghe một chuyện cực kỳ hay về đuôi sao chổi, anh ta nói. Ra chỗ có nắng đi.

Họ băng qua cây cầu sắt và đi dọc theo bến Wellington sát bức tường bờ sông.

Cậu chủ Patrick Aloysius Dignam bước ra từ tiệm Mangan, trước đây là tiệm Fehrenbach, tay xách một cân rưỡi thịt thăn lợn.

—Có một bữa tiệc lớn được bày ra ở trại giáo dưỡng Glencree, Lenehan hào hứng nói. Bữa tối thường niên ấy mà. Buổi tiệc mặc áo đuôi tôm. Thị trưởng có ở đó, chính là Val Dillon, và ngài Charles Cameron cùng Dan Dawson đã phát biểu và có cả âm nhạc. Bartell d’Arcy đã hát và Benjamin Dollard...

—Tôi biết rồi, M’Coy ngắt lời. Vợ tôi từng hát ở đó một lần.

—Thế à? Lenehan nói.

Tấm biển Căn hộ không đồ đạc lại xuất hiện trên khung cửa sổ số 7 phố Eccles.

Anh ta khựng câu chuyện lại một lát nhưng rồi lại bật lên một tiếng cười khò khè.

—Nhưng cứ chờ đến khi tôi kể cho anh nghe đã, anh ta nói. Delahunt ở phố Camden nhận phần nấu nướng và ngài đây chính là chân sai vặt chính. Bloom và vợ cũng ở đó. Đồ ăn thức uống thì ngập ngụa: rượu vang port, sherry và curaçao mà chúng tôi đã thưởng thức một cách vô cùng thỏa thích. Bữa tiệc diễn ra vô cùng cuồng nhiệt. Sau đồ uống là đồ ăn. Đủ các loại thịt nguội và bánh nướng băm nhỏ...

—Tôi biết rồi, M’Coy nói. Năm mà vợ tôi ở đó...

Lenehan thân mật quàng tay qua.

—Nhưng cứ chờ cho tôi kể đã, anh ta nói. Chúng tôi còn có một bữa ăn nhẹ lúc nửa đêm sau tất cả những màn vui chơi đó và khi chúng tôi kéo nhau ra về thì trời đã sáng mờ mờ ngày hôm sau của đêm hôm trước. Lúc đi về là một đêm mùa đông tuyệt đẹp trên núi Featherbed. Bloom và Chris Callinan ngồi một bên xe và tôi ngồi với vợ anh ấy ở bên kia. Chúng tôi bắt đầu hát vang những bài ca và song ca: Kìa, ánh sáng ban mai sớm. Cô ấy đã được tẩm bổ một lượng kha khá rượu port của Delahunt dưới cái bụng của mình. Mỗi cái xóc nảy mà chiếc xe chết tiệt ấy tạo ra lại làm cô ấy va vào người tôi. Thiên đường sướng điên người! Cô ấy có một cặp đào tuyệt đẹp, ơn Chúa phù hộ. Trông thế này này.

Anh ta khum hai bàn tay cách mình một sút, cau mày:

—Tôi cứ phải kéo chăn đắp cho cô ấy và chỉnh lại chiếc khăn lông vũ suốt cả buổi. Hiểu ý tôi chứ?

Hai bàn tay anh ta vẽ nên những đường cong gợi cảm trong không gian. Anh ta nhắm chặt hai mắt vì thích thú, cơ thể co lại, và thốt ra một tiếng rít ngọt ngào từ đôi môi.

—Dẫu sao thì cậu nhỏ cũng đã nghiêm chỉnh chào cờ, anh ta thở dài nói. Cô ấy là một con ngựa cái đầy hoang dã chứ không đùa đâu. Bloom thì đang chỉ cho Chris Callinan và người đánh xe thấy tất cả các vì sao và sao chổi trên bầu trời: chòm Đại Hùng, chòm Hercules, chòm Rồng và toàn bộ lũ lượt chúng. Nhưng, thưa Chúa, tôi thì hoàn toàn lạc lối, có thể nói thế, trong dải ngân hà. Thật đấy, hắn ta biết tuốt mọi thứ. Cuối cùng cô ấy phát hiện ra một ngôi sao nhỏ xíu cách xa hàng dặm. Thế kia là sao nào, Poldy? cô ấy hỏi. Chúa ơi, cô ấy đã dồn được Bloom vào chân tường. Ngôi sao đó á? Chris Callinan nói, chắc chắn đó chỉ là thứ mà cô gọi là một vết kim châm thôi. Chúa ơi, hắn ta đoán chẳng lệch đi đâu được.

Lenehan dừng lại và tựa người vào bức tường bên sông, thở hổn hển vì những tiếng cười khúc khích dịu dàng.

—Tôi mềm cả người rồi, anh ta thở dốc.

Khuôn mặt trắng bệch của M’Coy mỉm cười thoáng qua rồi lại trở nên nghiêm nghị. Lenehan lại tiếp tục bước đi. Anh ta nhấc chiếc mũ thủy thủ lên và gãi sột soạt đằng sau gáy. Anh ta liếc xéo sang M’Coy dưới ánh nắng mặt trời.

—Bloom là một con người có văn hóa và hiểu biết rộng, anh ta nói với giọng nghiêm túc. Hắn không phải là một kẻ tầm thường hay bình thường... bạn biết đấy... Có một chút gì đó chất nghệ sĩ ở lão Bloom.

***

Ông Bloom thẫn thờ lật qua lật lại các trang sách trong cuốn Những tiết lộ khủng khiếp của Maria Monk, rồi đến cuốn Kiệt tác của Aristotle. Chữ in nguệch ngoạc lộn xộn. Tranh minh họa: những đứa trẻ sơ sinh cuộn tròn như quả bóng trong dạ con đỏ như máu giống như gan của những con bò bị giết thịt. Rất nhiều đứa trẻ như thế vào lúc này trên khắp thế giới. Tất cả đều đang dùng đỉnh đầu để húc tìm đường chui ra ngoài. Cứ mỗi phút lại có một đứa trẻ được sinh ra ở đâu đó trên thế giới này. Bà Purefoy.

Ông đặt cả hai cuốn sách sang một bên và liếc nhìn cuốn thứ ba: Những câu chuyện từ khu Ghetto của Leopold von Sacher Masoch.

—Tôi đọc cuốn này rồi, ông nói, đẩy nó ra xa.

Người bán hàng thả hai cuốn sách xuống quầy.

—Hai cuốn này là hai cuốn hay đấy, ông ta nói.

Hơi thở nồng nặc mùi hành tây bốc ra từ cái miệng sâu hoắm qua quầy hàng. Ông ta cúi xuống gom những cuốn sách còn lại thành một chồng, ôm chặt chúng vào chiếc áo ghi lê chưa cài cúc và mang chúng đi khuất sau tấm rèm cửa cáu bẩn.

Trên cầu O’Connell, rất nhiều người quan sát dáng vẻ trang nghiêm và trang phục sặc sỡ của ông Denis J Maginni, giáo sư khiêu vũ v.v.

Ông Bloom, đứng một mình, nhìn vào các tựa sách. Những bạo chúa xinh đẹp của James Lovebirch. Biết thể loại này rồi. Đọc chưa? Rồi.

Ông mở nó ra. Tưởng tượng thế đấy.

Giọng một người phụ nữ vang lên đằng sau tấm rèm cáu bẩn. Hãy nghe này: người đàn ông.

Không: cô ấy không thích thể loại đó lắm. Từng mua cho cô ấy một lần.

Ông đọc tựa đề cuốn sách tiếp theo: Những ngọt ngào của tội lỗi. Hợp với gu của cô ấy hơn. Để xem nào.

Ông đọc đoạn mà ngón tay ông vừa mở ra.

—Tất cả những tờ đô la mà chồng cô ta cho đều được ném vào các cửa hàng để mua những chiếc váy lộng lẫy và những đồ lót ren đắt tiền nhất. Cho anh ấy! Cho Raoul!

Đúng rồi. Cái này. Ở đây. Thử xem.

—Miệng cô ta dán chặt vào miệng anh ta trong một nụ hôn nồng cháy ngập ngụa trong khi đôi bàn tay anh ta sờ soạng những đường cong gợi cảm bên trong lớp váy mỏng.

Đúng rồi. Lấy cuốn này đi. Phần kết.

—Em về muộn đấy, anh ta nói bằng giọng khàn khàn, nhìn cô với ánh mắt đầy vẻ nghi ngờ.

Người phụ nữ xinh đẹp hất chiếc khăn choàng viền chồn zibeline ra, để lộ đôi vai vương giả và bộ ngực nở nang phập phồng. Một nụ cười phảng phất không nhận ra được lướt qua đôi môi hoàn hảo khi cô ta bình tĩnh quay lại nhìn anh ta.

Ông Bloom đọc lại: Người phụ nữ xinh đẹp.

Sự ấm áp nhẹ nhàng tỏa ra khắp cơ thể, làm tê liệt da thịt ông. Da thịt mềm nhũn giữa những nếp áo xộc xệch: lòng trắng mắt ngất ngây đảo ngược lên. Lỗ mũi ông phập phồng chờ đợi con mồi. Những loại thuốc mỡ xoa ngực tan chảy (cho anh! Cho Raoul!). Mùi mồ hôi nách nồng nặc mùi hành. Chất nhầy đặc quánh như keo cá (bộ ngực phập phồng của cô ta!). Cảm nhận! Ấn mạnh! Bóp nát! Phân lưu huỳnh của loài sư tử!

Trẻ trung! Trẻ trung!

Một người phụ nữ lớn tuổi, không còn trẻ nữa, rời khỏi tòa nhà của các tòa án tối cao, hoàng gia, tài chính và dân sự, sau khi đã nghe trong tòa án của ngài đại pháp quan vụ kiện mất trí nhớ của Potterton, trong phân viện hải lý lệnh triệu tập, kiến nghị một bên của nguyên đơn chủ sở hữu tàu Lady Cairns chống lại chủ sở hữu tàu buôn Mona, tại tòa phúc thẩm phán quyết bảo lưu trong vụ kiện Harvey chống lại Tập đoàn Bảo hiểm và Tai nạn Ocean.

Những tiếng ho khục khặc làm rung chuyển bầu không khí của hiệu sách, làm phồng tấm rèm cáu bẩn lên. Mái tóc xám bờm xờm của người bán hàng thò ra cùng với khuôn mặt đỏ gắt chưa cạo râu, vừa ho vừa khạc nhổ. Hắn khạc đờm bọt tục tĩu xuống sàn nhà. Hắn dẫm chiếc bốt của mình lên chỗ vừa nhổ, dùng đế giày di di lên đó, rồi cúi xuống, để lộ ra cái đỉnh đầu trọc lóc, thưa tóc.

Ông Bloom chứng kiến cảnh đó.

Kìm nén hơi thở đang xáo trộn, ông nói:

—Tôi lấy cuốn này.

Người bán hàng ngước đôi mắt đỏ hoe vì bệnh ghèn lâu năm lên.

—Những ngọt ngào của tội lỗi, hắn vừa nói vừa vỗ ngón tay vào cuốn sách. Cuốn đó hay đấy.

***

Gã hầu gù đứng cạnh cửa phòng đấu giá của Dillon lại lắc chiếc chuông tay hai lần nữa và ngắm nhìn chính mình trong chiếc gương được viền phấn của chiếc tủ.

Dilly Dedalus, lảng vảng bên lề đường, nghe thấy tiếng chuông gõ, tiếng hô của người đấu giá bên trong. Bốn shilling chín xu. Những chiếc rèm cửa xinh xắn đó. Năm shilling. Những chiếc rèm ấm cúng. Giá bán mới là hai gu-nê. Có ai trả hơn năm shilling không? Bán với giá năm shilling nhé.

Gã hầu gù nâng chiếc chuông tay lên và lắc mạnh:

—Barang!

Tiếng chuông báo hiệu vòng đua cuối cùng vang lên thúc giục những cua-rơ đua xe đạp nước rút nửa dặm tăng tốc. J. A. Jackson, W. E. Wylie, A. Munro và H. T. Gahan, với những chiếc cổ vươn dài ngoằn ngoèo, đang vượt qua khúc cua gần thư viện trường đại học.

Ông Dedalus, vừa kéo bộ ria mép dài, vừa đi vòng từ lối đi Williams ra. Ông dừng lại gần cô con gái.

—Đã đến giờ của bố rồi đấy, cô nói.

—Đứng thẳng người lên vì tình yêu của Chúa Giê-su xem nào, ông Dedalus nói. Con đang cố bắt chước ông chú John thổi kèn cornet, đầu gục xuống vai đấy à? Chúa ôi thật là ảm đạm!

Dilly nhún vai. Ông Dedalus đặt hai tay lên vai cô và giữ cô đứng thẳng lại.

—Đứng thẳng lên, con bé kia, ông nói. Con sẽ bị gãy cột sống đấy. Con có biết trông con giống cái gì không?

Ông đột ngột gục đầu xuống và chồm về phía trước, rụt vai lại và trễ hàm dưới xuống.

—Thôi đi bố ơi, Dilly nói. Mọi người đang nhìn bố kìa.

Ông Dedalus đứng thẳng người dậy và lại kéo bộ ria mép.

—Bố có kiếm được đồng nào không? Dilly hỏi.

—Bố kiếm tiền ở đâu ra cơ chứ? ông Dedalus nói. Ở Dublin này chẳng có ma nào chịu cho bố vay bốn xu đâu.

—Bố kiếm được chứ bộ, Dilly nói, nhìn thẳng vào mắt ông.

—Sao con biết điều đó? ông Dedalus hỏi, lè lưỡi ra má.

Ông Kernan, hài lòng với đơn hàng mình vừa nhận được, mạnh dạn bước đi trên phố James.

—Con biết chắc chắn là có mà, Dilly đáp. Vừa nãy bố ở quán rượu Scotch phải không?

—Bố không hề ở đó, ông Dedalus nói, mỉm cười. Có phải mấy xơ dạy con cái thói hỗn láo này không? Nào.

Ông đưa cho cô một shilling.

—Xem con làm được gì với số tiền này nào, ông nói.

—Chắc là bố kiếm được năm đồng rồi, Dilly nói. Cho con nhiều hơn thế đi chứ.

—Đợi đấy, ông Dedalus đe dọa nói. Con cũng giống như lũ chúng nó phải không? Cả lũ hỗn láo từ khi mẹ tội nghiệp của chúng mày qua đời. Nhưng cứ đợi đấy. Tao sẽ cho tụi mày một bài học nhớ đời. Đúng là lũ hạ đẳng vô lại! Tao sắp tống cổ tụi mày đi cho khuất mắt đây. Tao chết quách đi còn hơn. Lão ấy chết rồi. Lão ở tầng trên chết rồi.

Ông bỏ mặc cô và bước tiếp. Dilly nhanh chóng đuổi theo và kéo áo ông.

—Gì thế hả? ông dừng lại hỏi.

Gã hầu gù lại rung chuông phía sau lưng họ.

—Barang!

—Quỷ tha ma bắt cái tâm hồn thô tục chết tiệt của mày đi, ông Dedalus hét lên, quay phắt lại.

Gã hầu gù, nhận thức được những lời bàn tán, liền lắc cái lưỡi chuông đang lủng lẳng một cách yếu ớt:

—Bang!

Ông Dedalus trân trân nhìn hắn.

—Nhìn hắn kìa, ông nói. Thật là mang tính giáo dục. Tự hỏi không biết hắn có cho chúng ta nói chuyện không nữa.

—Bố kiếm được nhiều hơn thế cơ mà, bố, Dilly nói.

—Bố cho con xem một trò hay nhé, ông Dedalus nói. Bố sẽ bỏ mặc tất cả tụi bay giống như Chúa đã bỏ mặc người Do Thái. Nhìn này, tất cả những gì bố có đây này. Bố xin được hai shilling từ chỗ Jack Power và tiêu mất hai xu để cạo râu đi dự đám tang.

Ông hồi hộp rút ra một nắm tiền xu đồng.

—Sao bố không tìm tiền ở đâu đó đi? Dilly nói.

Ông Dedalus trầm ngâm rồi gật đầu.

—Bố sẽ tìm, ông nghiêm túc nói. Bố đã tìm dọc suốt cống rác ở phố O’Connell rồi. Giờ bố sẽ thử chỗ này xem sao.

—Bố buồn cười thật đấy, Dilly nhoe miệng cười nói.

—Này, ông Dedalus nói, đưa cho cô hai xu. Ra mua lấy một cốc sữa và chiếc bánh ngọt hay thứ gì đó mà ăn. Chút nữa bố sẽ về nhà.

Ông đút số tiền còn lại vào túi và bắt đầu bước đi.

Đoàn xe phó vương đi qua, được chào đón bởi những viên cảnh sát khép nép, đi ra từ cổng Parkgate.

—Con chắc chắn là bố vẫn còn một shilling nữa, Dilly nói.

Gã hầu gù nện chuông một tiếng thật lớn.

Ông Dedalus giữa tiếng ồn ào bước đi, lẩm bẩm một mình với đôi môi mím lại điệu đà:

—Mấy mụ xơ! Mấy đứa nhỏ dễ thương thật đấy! Ồ, chắc là chúng không làm gì đâu! Ồ, chắc chắn là chúng không làm thật đâu! Có phải xơ Monica bé nhỏ đâu cơ chứ!

***

Từ chiếc đồng hồ mặt trời đi về phía cổng James, ông Kernan, đang rất hài lòng với đơn hàng đã chốt cho hãng Pulbrook Robertson, hiên ngang bước đi trên phố James, đi qua các văn phòng của Shackleton. Xử lý ổn thỏa gã đó rồi chứ nhỉ. Khỏe không, ông Crimmins? Tuyệt vời, thưa ngài. Tôi cứ sợ ông đang bận ở cơ sở dưới Pimlico chứ. Dạo này thế nào rồi? Vẫn cố duy trì thôi. Thời tiết dạo này đẹp thật. Vâng, đúng thế. Tốt cho đất nước. Mấy tay nông dân lúc nào cũng cằn nhằn. Cho tôi nhấp một ngụm gin ngon nhất của ông nhé, ông Crimmins. Một ly gin nhỏ, thưa ngài. Vâng, thưa ngài. Vụ nổ tàu General Slocum mới kinh hoàng làm sao. Kinh khủng, kinh khủng thực sự! Hàng ngàn thương vong. Và những cảnh tượng xé lòng. Đàn ông giẫm đạp lên phụ nữ và trẻ em. Quá tàn nhẫn. Họ nói nguyên nhân là do đâu thế? Tự bốc cháy. Một sự thật chấn động. Không một chiếc vòi cứu sinh nào nổi được và ống cứu hỏa thì rách bét cả. Điều tôi không thể hiểu nổi là tại sao các thanh tra lại có thể cho phép một con tàu như thế... Nào, anh đang nói thẳng thắn đấy, ông Crimmins. Anh có biết tại sao không? Dầu cọ đấy. Thế á? Không còn nghi ngờ gì nữa. Chà, nhìn xem kìa. Và người ta bảo Mỹ là miền đất tự do. Tôi cứ nghĩ ở đây mình đã tệ lắm rồi.

Tôi mỉm cười với hắn ta. Nước Mỹ, tôi bình tĩnh nói, đúng thế đấy. Nó là gì cơ chứ? Là chỗ rác rưởi của mọi quốc gia bao gồm cả nước ta. Chẳng phải thế sao? Đúng là sự thật đấy.

Đút lót đấy, bạn thân mến ạ. Vâng, tất nhiên rồi, ở đâu có tiền bạc thì ở đó thể nào cũng có kẻ hốt.

Thấy hắn nhìn cái áo khoác dài của mình kìa. Trang phục làm nên tất cả. Chẳng có gì bằng một vẻ ngoài bảnh bao cả. Gây ấn tượng mạnh đấy.

—Chào Simon, cha Cowley nói. Dạo này thế nào?

—Chào Bob, anh bạn già, ông Dedalus đáp lại, dừng bước.

Ông Kernan khựng lại và chỉnh trang lại bản thân trước tấm gương nghiêng của tiệm cắt tóc Peter Kennedy. Chiếc áo khoác thật phong cách, không chê vào đâu được. Của tiệm Scott ở phố Dawson. Xứng đáng với nửa đồng sovereign mà tôi đã đưa cho Neary để mua nó. Không bao giờ may dưới ba gu-nê cả. Vừa yết người tôi luôn. Chắc là một gã quý tộc câu lạc bộ phố Kildare nào đó từng mặc nó đây. John Mulligan, giám đốc ngân hàng Hibernian, hôm qua đã nhìn tôi rất sắc bén ở cầu Carlisle như thể hắn nhớ ra tôi vậy.

Hừm! Phải ăn mặc cho đúng phong thái của mấy gã đó chứ. Kỵ sĩ đường phố. Quý ông. Và bây giờ, thưa ông Crimmins, chúng tôi lại có vinh dự được phục vụ ông nữa nhé. Thức uống làm vui lòng nhưng không gây say, như người xưa vẫn thường nói.

Bến North Wall và bến tàu Sir John Rogerson, với những thân tàu và dây xích neo, đang lướt về phía tây, lướt qua một chiếc thuyền nhỏ, một tờ quảng cáo nhàu nát bồng bềnh trên sóng phà, Elijah đang đến.

Ông Kernan liếc nhìn lần cuối hình ảnh phản chiếu của mình. Nước da hồng hào, tất nhiên rồi. Bộ ria mép điểm bạc. Sĩ quan Ấn Độ hồi hương. Ông hiên ngang bước đi với thân hình mập mạp trên đôi giày có đệm gót, ưỡn ngực ra. Kia có phải là anh trai của Ned Lambert ở bên kia đường không, Sam? Gì cơ? Đúng thế. Trông giống đến chín phần mười. Không. Kính chắn gió của chiếc ô tô đang phản chiếu ánh nắng kìa. Chỉ là một tia chớp như thế thôi. Trông giống hắn thế chứ lị.

Hừm! Vị cay nồng của rượu gin làm ấm lòng ngực và hơi thở của ông. Quả là một ngụm gin ngon. Vạt áo khoác dài của ông lấp lánh dưới ánh nắng rực rỡ theo dáng điệu vênh váo của ông.

Chỗ kia là nơi Emmet bị treo cổ, rút ruột và phanh thây. Sợi dây thừng đen nhẫm mỡ. Lũ chó liếm máu trên đường khi vợ viên lãnh chúa đi xe ngựa ngang qua.

Thời đó thật tệ hại. Thôi nào. Chuyện đã qua và chấm dứt rồi. Toàn những kẻ bợm nhậu sành sỏi. Cậu ấm bốn chai.

Để xem nào. Hắn được chôn ở thánh Michan phải không? Hoặc không, có một đám tang lúc nửa đêm ở Glasnevin. Xác chết được đưa vào qua một bức tường bí mật. Dignam đang ở đó bây giờ. Đi vèo một cái là hết đời. Thôi nào. Tốt hơn là nên rẽ xuống đây. Đi đường vòng vậy.

Ông Kernan rẽ và đi xuống dốc phố Watling cạnh góc phòng đợi khách của hãng Guinness. Bên ngoài kho chứa của công ty chưng cất rượu Dublin Distillers, một chiếc xe ngựa không khách và không người đánh xe đang đậu, dây cương được thắt nút vào bánh xe. Thật là nguy hiểm chết tiệt. Mấy tên ngốc Tipperaro đang đe dọa tính mạng của người dân đây mà. Ngựa chạy sổng chuồng.

Denis Breen mang theo những cuốn sách dày, chán ngấy vì phải đợi một tiếng đồng hồ trong văn phòng của John Henry Menton, dẫn vợ qua cầu O’Connell, hướng tới văn phòng của hai ông Collis và Ward.

Ông Kernan tiến đến phố Island.

Thời kỳ bạo động. Phải bảo Ned Lambert cho mượn mấy cuốn hồi ký của ngài Jonah Barrington mới được. Khi bạn nhìn lại tất cả những điều đó bây giờ theo một kiểu sắp xếp hồi tưởng nào đó. Đánh bạc ở câu lạc bộ Daly’s. Lúc đó chưa có trò bịp bợm bài bạc đâu. Một trong số những gã đó đã bị đinh ghim bàn tay vào bàn bằng một con dao găm. Đâu đây quanh đây lãnh chúa Edward Fitzgerald đã trốn thoát khỏi thiếu tá Sirr. Những khu chuồng ngựa đằng sau dinh thự Moira.

Đúng là một ly gin ngon tuyệt.

Một vị quý tộc trẻ tuổi vô cùng hào hoa phong nhã. Dòng dõi danh giá, tất nhiên rồi. Tên côn đồ đó, gã quý tộc giả mạo đó, với đôi găng tay màu tím đã bán đứng anh ta. Tất nhiên là họ đã đi nhầm phe. Họ nổi dậy trong những ngày tháng tăm tối và tội ác. Bài thơ hay làm sao: Ingram. Bọn họ đều là những quý ông. Ben Dollard thực sự hát bản ballad đó rất đỗi cảm động. Một màn trình diễn tuyệt đỉnh.

Tại cuộc vây hãm Ross, cha tôi đã ngã xuống.

Một đoàn xe ngựa đang phi nước đại thong thả dọc theo bến Pembroke đi qua, những tên lính hầu cận đang nhảy nhót trên yên ngựa của chúng. Những chiếc áo khoác dài. Những chiếc ô che nắng màu kem.

Ông Kernan vội vã tiến lên, thở phì phò.

Ngài toàn quyền! Tệ thật đấy! Suýt nữa thì bỏ lỡ khoảnh khắc đó trong gang tấc. Mẹ kiếp! Thật đáng tiếc làm sao!

***

Stephen Dedalus nhìn qua khung cửa sổ chi chít mạng nhện thấy những ngón tay của người thợ kim hoàn đang kiểm tra một sợi dây chuyền đã ngả màu theo thời gian. Bụi phủ đầy khung cửa sổ và những khay trưng bày. Bụi làm cho những ngón tay đang cặm cụi với những chiếc móng vuốt như diều hâu trở nên tối sầm lại. Bụi ngủ quên trên những cuộn đồng và bạc xỉn màu, những viên thỏi chu sa, trên những viên hồng ngọc, những hòn đá mang màu phung lở và màu rượu vang.

Sinh ra hoàn toàn trong lòng đất sâu tối tăm giun dế, những đốm lửa lạnh lẽo, ma quái, những ánh đèn soi chiếu trong bóng tối. Nơi các tổng lãnh thiên thần sa ngã đã ném những vì sao trên vương miện của họ. Những cái mõm lợn dơ dáy, những đôi bàn tay, rễ bám rễ, bấu víu và giật lấy chúng.

Cô ta nhảy múa trong một không gian u ám tanh tưởi nơi nhựa cây cháy cùng tỏi. Một tên thủy thủ, râu mọc rỉ sét, nhấp từng ngụm rum từ cốc và dán mắt vào cô ta. Một sự thèm muốn tình dục thầm lặng kéo dài và đẫm mùi biển cả. Cô ta nhảy múa, nhún nhảy, quẫy cái mông nặng nề và hông của mình, vỗ phành phạch một quả trứng hồng ngọc trên cái bụng phệ của ả.

Lão Russell với một mảnh giẻ da cừu bôi mỡ lại đánh bóng viên ngọc của mình, xoay nó lại và giữ nó ngang tầm chòm râu kiểu Moses của lão. Con khỉ già tổ phụ đang hoan hỉ trên đống tài sản cướp được.

Và ngươi, kẻ đang giật lấy những hình ảnh cổ xưa từ lòng đất chôn vùi? Những lời lẽ điên rồ của các nhà ngụy biện: Antisthenes. Một kho tàng thuốc men. Lúa mì phương Đông và bất tử đứng từ đời này qua đời khác.

Hai bà già vừa tận hưởng làn gió biển mặn mòi lê bước qua Irishtown dọc theo đường cầu London, một người cầm chiếc ô bám đầy cát mỏi mệt, một người cầm chiếc túi hộ sinh trong đó có mười một con sò đang lỉnh kỉnh lăn lóc.

Tiếng vo ve của những dải da đập phần phật và tiếng ù ù của máy phát điện từ trạm năng lượng giục giã Stephen phải bước tiếp. Những sinh thể không có thực. Dừng lại! Nhịp đập luôn ở ngoài kia và nhịp đập luôn ở trong đây. Trái tim mà các ngươi cất tiếng ca ngợi. Ta ở giữa bọn chúng. Ở đâu? Giữa hai thế giới đang gầm rú nơi chúng xoáy tròn, ta đây. Hãy đập nát chúng đi, cả hai và từng kẻ một. Nhưng cũng làm ta choáng váng trong cú đánh đó. Hãy đập nát ta đi hỡi những ai có thể làm được. Mụ tú bà và gã đồ tể là những từ ngữ đó. Ta nói này! Chưa phải lúc này đâu. Nhìn xung quanh một chút nào.

Vâng, hoàn toàn đúng. Rất lớn và tuyệt vời và xem giờ cực chuẩn. Anh nói đúng, thưa ngài. Sáng thứ Hai, đúng là như thế rồi.

Stephen đi xuống phố Bedford, cán cây gậy gỗ tần bì va lách cách vào xương bả vai. Trong khung cửa sổ của Clohissey, bức ảnh in năm 1860 đã phai màu ghi lại cảnh Heenan đấu quyền anh với Sayers đập vào mắt anh. Những người ủng hộ với chiếc mũ vuông đứng xung quanh võ đài có căng dây. Những võ sĩ hạng nặng trong chiếc khố chật chội đang nhẹ nhàng vung những nắm đấm sưng phồng vào nhau. Và chúng đang đập nhịp: những trái tim anh hùng.

Anh quay người lại và dừng lại bên chiếc xe bán sách nghiêng.

—Hai xu một cuốn, người bán hàng rong nói. Bốn cuốn sáu xu.

Những trang sách rách nát. Người nuôi ong Ireland. Cuộc đời và các phép lạ của cha sở xứ Ars. Cẩm nang bỏ túi về Killarney.

Biết đâu tôi lại tìm thấy ở đây một trong những phần thưởng học sinh đã đem đi cầm thì sao. Stephano Dedalo, alumno optimo, palmam ferenti.

Cha Conmee, sau khi đã đọc xong kinh nhật tụng của mình, đi bộ qua ngôi làng nhỏ Donnycarney, miệng lẩm bẩm kinh chiều.

Chắc là bìa sách đóng tốt quá. Cái gì thế này? Quyển sách thứ tám và thứ chín của Moses. Bí mật của mọi bí mật. Ấn tín của vua David. Những trang sách quăn mép: đọc đi đọc lại. Ai đã đi qua đây trước ta? Cách làm mềm đôi bàn tay nứt nẻ. Công thức làm giấm rượu trắng. Cách chiếm lấy tình yêu của phụ nữ. Dành cho tôi cái này đây. Hãy đọc câu thần chú sau đây ba lần với hai bàn tay chắp lại:

—Se el yilo nebrakada femininum! Amor me solo! Sanktus! Amen.

Ai đã viết cái này thế? Những bùa chú và lời cầu khấn của viện phụ đáng kính nhất Peter Salanka được tiết lộ cho tất cả các tín hữu chân chính. Cũng tốt chẳng kém gì bùa chú của bất kỳ vị viện phụ nào khác, cũng như lời lẩm bẩm của Joachim. Cúi đầu xuống đi, đồ đầu hói, nếu không chúng tao sẽ vặt trụi tóc mày đấy.

—Anh đang làm gì ở đây thế, Stephen?

Đôi vai nhô cao và bộ trang phục lôi thôi của Dilly.

Gập nhanh cuốn sách lại. Đừng để con bé thấy.

—Em đang làm gì thế? Stephen nói.

Khuôn mặt mang nét đẹp nhà Stuart của vị vua Charles vô song, mái tóc dài rủ xuống hai bên. Nó bừng sáng khi cô cúi người nhóm lửa bằng những chiếc giày rách nát. Tôi đã kể cho cô ấy nghe về Paris. Nằm nướng khét lẹt trên giường muộn màng dưới tấm chăn làm từ những chiếc áo khoác cũ, ngậm ngùi mân mê chiếc vòng tay giả kim, tín vật của Dan Kelly. Nebrakada femininum.

—Em có cái gì ở đấy thế? Stephen hỏi.

—Em mua nó từ chiếc xe đẩy bên kia có một xu thôi, Dilly cười một cách hồi hộp nói. Có dùng được tích sự gì không anh?

Họ bảo cô ấy có đôi mắt giống tôi. Người ta cũng nhìn thấy tôi như vậy sao? Nhanh nhẹn, xa xăm và táo bạo. Cái bóng trong tâm trí tôi.

Anh giật lấy cuốn sách không bìa khỏi tay cô. Sách vỡ lòng tiếng Pháp của Chardenal.

—Em mua cái đó làm gì? anh hỏi. Để học tiếng Pháp à?

Cô gật đầu, mặt đỏ bừng và mím chặt môi.

Đừng tỏ ra ngạc nhiên. Hoàn toàn bình thường thôi.

—Này, Stephen nói. Không sao đâu. Cẩn thận kẻo con Maggy đem đi cầm đồ mất đấy. Chắc là toàn bộ sách của anh đi tong hết rồi nhỉ.

—Một ít thôi, Dilly nói. Bọn em buộc phải thế.

Cô ấy đang chết đuối. Sự cắn rứt. Hãy cứu lấy cô ấy. Sự cắn rứt. Tất cả đều chống lại chúng ta. Cô ấy sẽ dìm chết tôi cùng với cô ấy, đôi mắt và mái tóc. Những lọn tóc rối bù như rong biển quấn quanh tôi, trái tim tôi, tâm hồn tôi. Cái chết màu xanh nước biển mặn chát.

Chúng ta.

Sự cắn rứt của tâm can. Tâm can cắn rứt.

Khốn khổ! Khốn khổ!

***

—Chào Simon, cha Cowley nói. Dạo này thế nào?

—Chào Bob, anh bạn già, ông Dedalus đáp lại, dừng bước.

Họ bắt tay nhau thật kêu bên ngoài tiệm Reddy và con gái. Cha Cowley dùng một bàn tay khum khum vuốt ngược bộ ria mép của mình xuống dưới liên tục.

—Có tin gì mới không anh? ông Dedalus nói.

—À thì cũng chẳng có gì mấy, cha Cowley nói. Tôi đang bị vây hãm rồi đây, Simon, với hai gã đang lảng vảng quanh nhà tìm cách đột nhập vào trong.

—Vui nhỉ, ông Dedalus nói. Ai thế?

—Ồ, cha Cowley nói. Một tay cho vay nặng lãi quen thuộc nào đó của chúng ta ấy mà.

—Gã bị gãy lưng phải không? ông Dedalus hỏi.

—Chính hắn đấy, Simon, cha Cowley đáp. Reuben thuộc cái giuộc đó. Tôi đang đợi Ben Dollard đây. Hắn định nói vài lời với lão John để lão rút hai tên đó về. Tất cả những gì tôi cần chỉ là một chút thời gian.

Ông đưa mắt nhìn dọc bờ sông với vẻ đầy hy vọng mơ hồ, một khối u to như quả táo nhô lên ở cổ.

—Tôi biết rồi, ông Dedalus nói, gật đầu. Tội nghiệp lão Ben què quặt! Lúc nào lão cũng làm ơn làm phước cho ai đó. Khoan đã!

Ông đeo kính lên và chăm chú nhìn về phía cây cầu sắt một thoáng.

—Kia rồi, thề có Chúa, ông nói, cái mông và mấy cái túi kìa.

Chiếc áo khoác xanh rộng thùng thình và chiếc mũ vuông của Ben Dollard bên trên chiếc quần rộng thùng thình đang sải bước băng qua bờ sông từ hướng cầu sắt. Hắn tiến về phía họ với dáng đi lững thững, gãi sột soạt đằng sau vạt áo.

Khi hắn đến gần, ông Dedalus chào:

—Giữ gã mặc chiếc quần tồi tệ kia lại đi.

—Giữ hắn ngay bây giờ đi, Ben Dollard nói.

Ông Dedalus lạnh lùng đảo mắt nhìn khắp các điểm trên vóc dáng của Ben Dollard với vẻ khinh miệt. Sau đó, quay sang cha Cowley và gật đầu, ông lẩm bẩm với giọng chế nhạo:

—Đó đúng là một bộ trang phục tuyệt đẹp cho một ngày hè đấy nhỉ?

—Mẹ kiếp nhà anh chứ, Ben Dollard tức giận gầm lên, thời của tao tao quẳng đi số quần áo còn nhiều hơn cả những gì mày từng thấy trong đời ấy chứ.

Hắn đứng cạnh họ với vẻ mặt rạng rỡ, nhìn họ trước tiên và nhìn bộ quần áo rộng rãi của mình, từ những chỗ trên đó ông Dedalus phủi phủi đám tơ vón cục, vừa nói:

—Dẫu sao thì chúng cũng được may cho một kẻ có sức khỏe mà, Ben.

—Quỷ tha ma bắt cái tên Do Thái đã may ra chúng đi, Ben Dollard nói. Ơn Chúa là hắn vẫn chưa được trả tiền đấy.

—Và dạo này giọng trầm nam thế nào rồi, hỡi Benjamin? cha Cowley hỏi.

Cashel Boyle O’Connor Fitzmaurice Tisdall Farrell, miệng lẩm bẩm, mắt đờ đẫn trân trân, sải bước qua câu lạc bộ phố Kildare.

Ben Dollard cau mày và đột nhiên làm cái miệng chụm lại như đang ngâm nga, phát ra một âm trầm sâu thẳm.

—Aw! hắn nói.

—Đúng điệu rồi đấy, ông Dedalus nói, gật đầu theo tiếng ngân của hắn.

—Thế nào hả? Ben Dollard nói. Không đến nỗi tệ chứ nhỉ? Sao nào?

Hắn quay lại nhìn cả hai.

—Thế là được rồi, cha Cowley nói, cũng gật đầu.

Mục sư Hugh C. Love đi từ nhà hội quán cũ của tu viện Saint Mary qua tiệm tinh chế của James và Charles Kennedy, được tháp tùng bởi những người nhà Fitzgerald cao lớn và lịch thiệp, hướng về phía tòa Tholsel phía bên kia bãi cạn làm bằng rào chắn.

Ben Dollard với một bên vai trĩu nặng hướng về phía các cửa hàng dẫn họ đi tiếp, những ngón tay vui vẻ giơ lên không trung.

—Đi cùng tôi đến văn phòng phó cảnh sát trưởng đi, hắn nói. Tôi muốn cho các anh xem món hàng đẹp mắt mới mà Rock tuyển về làm tay sai đấy. Hắn là sự lai tạo giữa Lobengula và Lynchehaun. Đáng để đến xem lắm đấy, nghe tôi đi nào. Đi thôi. Tôi vừa tình cờ thấy John Henry Menton ở quán Bodega và tôi sẽ gặp rắc rối lớn nếu tôi không... Đợi chút đã... Chúng ta đang đi đúng hướng rồi đấy, Bob, tin tôi đi.

—Hãy bảo hắn đợi vài ngày xem sao, cha Cowley lo lắng nói.

Ben Dollard dừng lại và trân trân nhìn, cái miệng rộng mở toang, một chiếc khua áo đung đưa lấp lánh ở sợi chỉ trong lúc hắn lau đi những dải màng nhầy đặc quánh làm mờ đôi mắt để nghe cho rõ.

—Vài ngày gì chứ? hắn gam lên. Chủ nhà của anh đã kê biên tài sản vì nợ tiền thuê nhà rồi còn gì?

—Đúng thế, cha Cowley nói.

—Thế thì trát đòi hầu tòa của bạn chúng ta chẳng đáng giá bằng tờ giấy in ra nó đâu, Ben Dollard nói. Chủ nhà có quyền ưu tiên đòi trước. Tôi đã cung cấp cho hắn mọi chi tiết rồi đấy. 29 Đại lộ Windsor. Tên là Love phải không?

—Đúng rồi, cha Cowley nói. Mục sư Love. Ông ấy là mục sư ở một vùng quê nào đó. Nhưng anh chắc chắn về điều đó chứ?

—Anh cứ thay mặt tôi bảo Barabbas rằng hắn có thể nhét cái trát đó vào chỗ mà Jacko nhét đống hạt dẻ ấy.

Hắn mạnh dạn dẫn cha Cowley đi tiếp, quàng tay vào thân hình to lớn của mình.

—Hình như đó là hạt phỉ thì phải, ông Dedalus nói, vừa thả kính xuống trước ngực vừa bước theo sau họ.

***

—Cậu nhóc sẽ ổn thôi, Martin Cunningham nói khi họ bước ra khỏi cổng dinh Tổng đốc.

Viên cảnh sát chạm tay lên trán.

—Xin Chúa phù hộ cho anh, Martin Cunningham vui vẻ nói.

Ông ra hiệu cho người đánh xe đang chờ sẵn, kẻ đang giật dây cương và cho xe chạy về phía phố Lord Edward.

Ánh vàng đan xen sắc đồng, đầu cô Kennedy kề đầu cô Douce, xuất hiện phía trên tấm rèm che của khách sạn Ormond.

—Vâng, Martin Cunningham nói, vừa mân mê bộ râu. Tôi đã viết thư cho cha Conmee và trình bày toàn bộ sự việc cho ngài ấy.

—Anh có thể thử nhờ bạn chúng ta xem sao, ông Power nói với theo từ phía sau.

—Boyd á? Martin Cunningham cụt lủn nói. Tránh xa tôi ra.

John Wyse Nolan, đi tụt lại phía sau vừa đọc danh sách, nhanh chóng đuổi theo họ xuống đồi Cork.

Trên bậc thềm của tòa thị chính, ủy viên hội đồng Nannetti đang bước xuống, chào nghị viên Cowley và ủy viên hội đồng Abraham Lyon đang đi lên.

Chiếc xe trống của dinh Tổng đốc rẽ vào phố Upper Exchange.

—Này anh Martin, John Wyse Nolan nói khi đuổi kịp họ ở tòa soạn báo Mail. Tôi thấy Bloom đã ghi tên đóng góp năm shilling kìa.

—Hoàn toàn chính xác, Martin Cunningham nói, cầm lấy danh sách. Và cứ ghi nhận năm shilling đó đi.

—Thậm chí không cần phải suy nghĩ lần thứ hai, ông Power nói.

—Thật kỳ lạ nhưng có thật, Martin Cunningham nói thêm.

John Wyse Nolan mở trừng hai mắt.

—Tôi phải công nhận là có rất nhiều lòng tốt ở người Do Thái đấy, anh ta trích dẫn một cách thanh lịch.

Họ đi xuống phố Parliament.

—Kìa Jimmy Henry kìa, ông Power nói, đang hướng thẳng đến quán Kavanagh.

—Được rồi, Martin Cunningham nói. Đi nào.

Bên ngoài tiệm La Maison Claire, Blazes Boylan chặn đường anh rể của Jack Mooney, kẻ đang gù lưng, say mèm, đang hướng về phía khu Liberties.

John Wyse Nolan lùi lại đi cùng ông Power, trong khi Martin Cunningham choàng tay qua khuỷu tay của một người đàn ông lùn bảnh bao mặc bộ đồ vải sọc nhỏ, người đang bước đi loạng choạng và vội vã qua những chiếc tủ kính trưng bày đồng hồ của Micky Anderson.

—Mấy nốt chai chân của ngài phó thư ký thành phố đang làm hắn khổ sở đấy, John Wyse Nolan nói với ông Power.

Họ rẽ qua góc phố hướng về cửa hàng rượu của James Kavanagh. Chiếc xe trống của dinh Tổng đốc đang đỗ ở cổng Essex. Martin Cunningham, miệng vẫn nói không ngừng, liên tục giơ danh sách ra nhưng Jimmy Henry chẳng thèm liếc nhìn.

—Và lão John Fanning cũng có mặt ở đây kìa, John Wyse Nolan nói, trông to lớn như người thật.

Vóc dáng cao lớn của lão John Fanning chiếm trọn khung cửa nơi hắn đang đứng.

—Chào ngài phó cảnh sát trưởng, Martin Cunningham nói khi tất cả dừng lại và chào hỏi.

Lão John Fanning không nhường đường cho họ. Hắn dứt khoát cất chiếc mũ Henry Clay rộng vành của mình đi và đôi mắt to lớn hung dữ của hắn sắc sảo lướt qua khuôn mặt của tất cả mọi người.

—Mấy vị cha xứ của quốc hội có đang tiếp tục những cuộc thảo luận hòa bình của họ không thế? hắn hỏi phó thư ký thành phố bằng giọng điệu châm biếm cay độc.

Bọn họ đang cãi nhau như mổ bò về cái thứ ngôn ngữ Ireland chết tiệt ấy chứ gì, Jimmy Henry cáu kỉnh nói. Hắn muốn biết gã thị vệ đâu rồi mà không chịu giữ trật tự trong phòng họp hội đồng. Còn lão Barlow thì ngã bệnh vì hen suyễn, chẳng có chùy quyền lực nào trên bàn, mọi thứ chẳng ra làm sao cả, thậm chí còn không đủ số đại biểu tối thiểu, và Hutchinson, ngài thị trưởng, thì đang ở Llandudno còn Lorcan Sherlock bé con thì đang làm thay thế thân cho lão. Ngôn ngữ Ireland chết tiệt, ngôn ngữ của tổ tiên chúng ta.

Lão John Fanning thổi ra một làn khói từ đôi môi.

Martin Cunningham lần lượt nói chuyện, tay xoắn chỏm râu, với phó thư ký thành phố và phó cảnh sát trưởng, trong khi John Wyse Nolan im lặng.

—Dignam nào thế nhỉ? lão John Fanning hỏi.

Jimmy Henry nhăn mặt và nhấc chân trái lên.

—Ồ, đau chân quá! hắn rên rỉ than thở. Làm ơn lên lầu mau lên để tôi tìm chỗ nào mà ngồi xuống cái đã. Uff! Ooo! Cẩn thận đấy!

Hắn bực bội lách người sang một bên cạnh sườn của lão John Fanning rồi bước vào và đi lên cầu thang.

—Lên trên đi, Martin Cunningham nói với phó cảnh sát trưởng. Tôi không nghĩ là anh biết hắn ta đâu, hoặc có lẽ anh biết, thế thôi.

Cùng với John Wyse Nolan, ông Power đi theo họ vào trong.

—Đó là một gã nhỏ nhắn tử tế, ông Power nói với tấm lưng lực lưỡng của lão John Fanning đang bước lên phía trước hướng về phía lão John Fanning trong chiếc gương.

—Hơi thấp người một chút. Dignam bên văn phòng của Menton ấy mà, Martin Cunningham nói.

Lão John Fanning không thể nhớ ra hắn ta là ai.

Tiếng móng ngựa lộc cộc vang lên từ không trung.

—Gì thế nhỉ? Martin Cunningham nói.

Tất cả quay người lại nhìn. John Wyse Nolan từ trên lầu đi xuống. Từ bóng râm mát mẻ của khung cửa, anh ta nhìn thấy những con ngựa chạy qua phố Parliament, bộ dây cương và phần cổ chân bóng loáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Chúng vui vẻ đi qua trước đôi mắt mát lạnh không mấy thiện cảm của anh ta, không quá nhanh. Trên yên ngựa của những con dẫn đầu, những con ngựa dẫn đầu đang tung vó, là các tay kỵ sĩ hầu cận.

—Cái gì thế nhỉ? Martin Cunningham hỏi khi họ tiếp tục đi lên cầu thang.

—Ngài toàn quyền kiêm tổng đốc Ireland, John Wyse Nolan trả lời từ chân cầu thang.

***

Khi họ bước trên tấm thảm dày, Buck Mulligan thì thầm sau chiếc mũ Panama của mình với Haines:

—Em trai của Parnell đấy. Ngồi ở góc kia kìa.

Họ chọn một chiếc bàn nhỏ gần cửa sổ, đối diện với một người đàn ông mặt dài có bộ râu và ánh mắt đang đăm đăm nhìn xuống bàn cờ.

—Hắn đây hả? Haines hỏi, xoay người lại trên ghế.

—Ừ, Mulligan nói. Đó là John Howard, em trai hắn, thị vệ thành phố của chúng ta.

John Howard Parnell bình tĩnh di chuyển một quân tượng trắng và bàn tay gầy guộc xám xịt của mình lại đưa lên trán rồi đặt ở đó. Ngay sau đó, dưới lớp che khuất đó, đôi mắt anh ta nhanh chóng liếc nhìn, sáng rực như ma qu rồi, về phía đối thủ của mình và lại hướng xuống một góc đang thi đấu.

—Tôi gọi một ly cà phê sữa pha, Haines nói với người phục vụ bàn.

—Hai ly cà phê sữa pha, Buck Mulligan nói. Và mang cho chúng tôi ít bánh scone với bơ và cả bánh ngọt nữa nhé.

Khi cô ta đi khuất, anh ta vừa cười vừa nói:

—Chúng tôi gọi đó là D.B.C. vì ở đó có những chiếc bánh dở tệ (Damn Bad Cakes). Ồ, nhưng anh đã bỏ lỡ bài diễn thuyết của Dedalus về Hamlet rồi.

Haines mở cuốn sách mới mua của mình ra.

—Tiếc thật, anh ta nói. Shakespeare là bãi săn bắn hạnh phúc của tất cả những tâm trí đã mất đi sự cân bằng.

Tên thủy thủ cụt một chân càu nhàu ở khu sân giếng trời số 14 phố Nelson:

—Nước Anh mong đợi...

Chiếc áo ghi lê màu vàng anh của Buck Mulligan rung lên vui vẻ theo tiếng cười của anh ta.

—Anh phải nhìn thấy hắn ta khi cơ thể mất đi thăng bằng cơ, anh ta nói. Tôi gọi hắn là Ængus Lang Thang.

—Tôi chắc chắn là hắn mắc chứng ám ảnh cố định (idée fixe), Haines nói, vừa dùng ngón cái và ngón trỏ bóp cằm suy ngẫm. Giờ tôi đang tự phỏng đoán xem nó có khả năng là gì nhỉ. Những kẻ như thế lúc nào cũng có.

Buck Mulligan cúi người qua bàn với vẻ nghiêm trang.

—Những ảo ảnh về địa ngục đã làm tâm trí hắn lẩn thẩn rồi, anh ta nói. Hắn sẽ chẳng bao giờ nắm bắt được âm hưởng phong cách Attic đâu. Âm hưởng của Swinburne, trong số tất cả các nhà thơ, cái chết trắng và sự sinh ra đỏ rực. Đó là bi kịch của hắn. Hắn không bao giờ có thể làm thơ được đâu. Niềm vui của sự sáng tạo...

—Sự trừng phạt đời đời, Haines nói, cụt lủn gật đầu. Tôi hiểu rồi. Sáng nay tôi đã chất vấn hắn về niềm tin. Có cái gì đó đang vướng mắc trong đầu hắn, tôi thấy rõ điều đó. Khá là thú vị đấy vì giáo sư Pokorny ở Vienna đã đưa ra một luận điểm thú vị từ chuyện đó.

Đôi mắt cảnh giác của Buck Mulligan nhìn thấy cô phục vụ bàn đang tới. Anh ta giúp cô dọn đồ trên khay xuống.

—Hắn chẳng tìm thấy dấu vết nào của địa ngục trong thần thoại Ireland cổ đại cả, Haines nói giữa những tách trà cà phê vui vẻ. Ý tưởng luân lý dường như còn thiếu, cả ý thức về định mệnh, về sự báo ứng. Thật khá lạ khi hắn lại có đúng cái ý tưởng cố định đó. Hắn có viết bài gì cho phong trào của các anh không?

Anh ta khéo léo thả hai cục đường theo chiều dọc qua lớp kem đánh bông. Buck Mulligan cắt đôi chiếc bánh scone còn đang bốc khói và phết bơ ngập cái ruột bánh đang tỏa nhiệt. Anh ta đói khát cắn một miếng mềm.

—Mười năm nữa, anh ta vừa nhai vừa cười nói. Hắn dự định sẽ viết cái gì đó trong mười năm nữa.

—Nghe có vẻ còn xa vời quá nhỉ, Haines vừa trầm ngâm nâng chiếc thìa lên vừa nói. Dù sao thì, tôi cũng sẽ chẳng ngạc nhiên nếu rốt cuộc hắn làm được thật.

Anh ta nếm một thìa kem từ đỉnh hình nón béo ngậy trong cốc của mình.

—Tôi đoán đây là kem tươi chính hiệu Ireland đấy nhỉ, anh ta nói với vẻ khoan dung. Tôi không muốn bị lợ luộc thành lợn què đâu.

Elijah, chiếc thuyền nhỏ, tờ quảng cáo nhàu nát nhẹ bẫng, trôi dạt về phía đông qua những mạn tàu và thuyền đánh cá, giữa một quần đảo gồm những nút bần, vượt qua phố Wapping mới vượt qua bến phà Benson, và qua chiếc tàu buồm ba cột Rosevean đến từ Bridgwater chở đầy gạch.

***

Almidano Artifoni bước qua phố Holles, qua bãi đậu xe của Sewell. Phía sau ông, Cashel Boyle O’Connor Fitzmaurice Tisdall Farrell, với chiếc áo khoác dài lủng lẳng gậy kiêm ô, tránh cột đèn trước nhà ông Law Smith và băng qua, đi dọc theo quảng trường Merrion. Phía sau ông ta một khoảng xa, một gã thanh niên mù đang dò dẫm bước đi dọc theo bức tường của công viên trường đại học.

Cashel Boyle O’Connor Fitzmaurice Tisdall Farrell đi đến tận những ô cửa sổ sáng sủa của ông Lewis Werner, rồi quay người sải bước quay lại dọc theo quảng trường Merrion, chiếc áo khoác dài lủng lẳng gậy kiêm ô.

Tại góc nhà của Wilde, anh ta khựng lại, cau mày nhìn cái tên Elijah được thông báo trên hội trường Metropolitan, cau mày nhìn khung cảnh thanh bình xa xôi của bãi cỏ công tước. Chiếc kính một mắt của anh ta lóe lên vẻ cau mày dưới ánh nắng. Với hàm răng nhe ra như răng chuột, anh ta lẩm bẩm:

—Coactus volui.

Anh ta sải bước tiến về phía phố Clare, nghiến răng nghiến lợi nhả ra từ ngữ dữ dội đó.

Khi anh ta sải bước qua những ô cửa sổ nha khoa của ông Bloom, tà áo khoác dài phấp phới của anh ta đã hất văng một cây gậy dò đường mảnh mai khỏi góc độ của nó và quét qua phía trước, sau khi đã va phải một cơ thể yếu ớt. Gã thanh niên mù quay khuôn mặt xanh xao theo bóng dáng đang sải bước.

—Chúa giáng tai ương xuống đầu mày, hắn bực dọc nói, bất kể mày là ai! Mày còn mù hơn cả tao, đồ con hoang đĩ tì bỉ!

***

Đối diện tiệm của Ruggy O’Donohoe, cậu chủ Patrick Aloysius Dignam, tay đang mân mê một cân rưỡi thịt thăn lợn của tiệm Mangan, trước đây là tiệm Fehrenbach, mà cậu được sai đi mua, đang lê bước thong thả dọc theo phố Wicklow ấm áp. Ngồi lì trong phòng khách với bà Stoer, bà Quigley, bà MacDowell, kéo rèm xuống cùng với những tiếng sụt sùi và nhấp từng ngụm rượu sherry màu hổ phách thượng hạng mà ông chú Barney mang về từ tiệm Tunney thật là chán ngấy đến tận cổ. Và họ thì đang nhấm nháp từng vụn bánh ngọt hoa quả, buôn dưa lê suốt cả buổi và thở dài thườn thượt.

Đi qua ngõ Wicklow, tủ kính của Madame Doyle, thợ may áo đầm cung đình, đã chặn chân cậu lại. Cậu đứng nhìn vào hai ma-nơ-canh bị lột trần truồng đang được dựng cột chống. Từ hai tấm gương phụ bên cạnh, hai cậu chủ Dignam để tang lặng lẽ nhìn trân trân ra. Myler Keogh, đứa con cưng của Dublin, sẽ thượng đài với thượng sĩ Bennett, tay đấm vùng Portobello, để tranh phần thưởng trị giá năm mươi đồng sovereign. Mẹ kiếp, chắc chắn đó sẽ là một trận đấu quyền anh cực hay để xem đấy. Myler Keogh kìa, gã đang tung đòn với chiếc khăn quàng xanh lá cây kìa. Giá vé vào cửa hai xu, lính giảm nửa giá. Mình trốn mẹ đi chắc dễ ợt. Cậu chủ Dignam bên trái quay người khi cậu quay. Đó là mình đang để tang kia mà. Khi nào diễn ra nhỉ? Ngày hai mươi hai tháng Năm. Chắc là chuyện đó qua lâu rồi còn gì. Cậu quay sang phải và bên phải cậu chủ Dignam cũng quay theo, chiếc mũ lệch sang một bên, cổ áo dựng đứng lên. Vừa cài cổ áo xuống, vừa ngẩng cằm lên, cậu nhìn thấy hình ảnh của Marie Kendall, nữ diễn viên u sầu duyên dáng, bên cạnh hai ma-nơ-canh. Một trong những ả đào hay nằm trong các bao thuốc lá mà ông già của Stoer từng đánh cho nhừ tử một lần vì bị phát hiện.

Cậu chủ Dignam kéo được cổ áo xuống và tiếp tục lê bước. Tay đấm giỏi nhất về sức mạnh là Fitzsimons. Chỉ một cú đấm vào hạ sườn từ gã đó thôi là đủ tiễn bạn bay thẳng sang giữa tuần sau rồi, anh bạn ạ. Nhưng tay đấm giỏi nhất về kỹ thuật là Jem Corbet trước khi Fitzsimons nện cho tơi bời hoa lá, dù có lẩn tránh cỡ nào đi nữa.

Ở phố Grafton, cậu chủ Dignam nhìn thấy một bông hoa đỏ ngậm trong miệng của một tay công tử bột và đôi giày bảnh bao trên chân hắn ta, và hắn đang lắng nghe những gì gã say đang kể và cười toe toét suốt.

Không có chuyến xe điện Sandymount nào cả.

Cậu chủ Dignam đi dọc theo phố Nassau, chuyển bọc thịt lợn sang tay kia. Cổ áo cậu lại chõm dựng lên và cậu lại giật nó xuống. Chiếc khuy cài áo nhỏ quá so với khuy áo sơ mi, đúng là cái đồ rắc rối. Cậu gặp những nam sinh mang cặp xách. Ngày mai mình cũng không đến trường nữa, nghỉ quách cho đến tận thứ Hai. Cậu gặp những nam sinh khác. Bọn chúng có nhận ra mình đang để tang không nhỉ? Chú Barney nói chú ấy sẽ đăng nó lên báo tối nay. Thế là tất cả bọn họ sẽ thấy nó trên báo và đọc thấy tên tôi được in ra cùng với tên bố.

Khuôn mặt cậu xám xịt lại thay vì đỏ bừng như trước và có một con ruồi đang bò lất phất qua mắt cậu. Tiếng cọt kẹt rợn người lúc họ vặn những con ốc vào quan tài: và những tiếng va đập khi họ khiêng nó xuống cầu thang.

Bố ở bên trong đó và mẹ đang khóc trong phòng khách còn chú Barney thì đang dặn dò mấy người đàn ông cách khiêng nó qua khúc cua. Đúng là một chiếc quan tài lớn, cao và trông rất nặng nề. Sao lại thế nhỉ? Đêm cuối cùng bố say xỉn, ông ấy đứng ngoài chiếu nghỉ la hét đòi giày để ra tiệm Tunney nhậu tiếp và trông ông ấy lùn tịt trong chiếc áo sơ mi. Sẽ không bao giờ gặp lại ông ấy nữa. Cái chết chính là thế đấy. Bố đã chết rồi. Bố tôi đã chết rồi. Ông ấy bảo tôi phải là một người con ngoan của mẹ. Tôi không nghe rõ những điều khác ông ấy nói nhưng tôi nhìn thấy lưỡi và răng của ông ấy đang cố gắng diễn đạt rõ hơn. Tội nghiệp bố. Đó chính là ông Dignam, bố tôi. Tôi hy vọng bây giờ ông đang ở trong luyện ngục vì ông đã xưng tội với cha Conroy vào tối thứ Bảy.

***

William Humble, bá tước xứ Dudley, và phu nhân Dudley, đi cùng trung tá Heseltine, đã lái xe đi dạo sau bữa trưa từ dinh phó vương. Đi trên chiếc xe ngựa phía sau là phu nhân Paget danh dự, cô de Courcy và sĩ quan tùy tùng Gerald Ward danh dự tháp tùng.

Đoàn xe đi ra qua cổng dưới của công viên Phoenix, được chào bởi những viên cảnh sát khép nép và tiếp tục đi qua Kingsbridge dọc theo các bến cảng phía bắc. Phó vương đã nhận được những lời chào nồng nhiệt nhất trên đường đi qua thủ đô. Tại cầu Bloody, ông Thomas Kernan ở bên kia sông đã chào ngài trong vô vọng từ đằng xa. Giữa cầu Queen và cầu Whitworth, các xe ngựa phó vương của lãnh chúa Dudley chạy qua và không được chào bởi ông Dudley White, B. L., M. A., người đang đứng trên bến Arran bên ngoài tiệm của bà M. E. White, tiệm cầm đồ, ở góc phố Arran West đang dùng ngón trỏ vuốt mũi, đang phân vân không biết mình nên đến Phibsborough nhanh hơn bằng cách đổi ba chuyến xe điện hay gọi một chiếc xe ngựa hoặc đi bộ qua Smithfield, đồi Constitution và ga cuối Broadstone. Ở hiên tòa án Tứ viện, Richie Goulding mang theo chiếc túi đựng chi phí của hãng Goulding, Collis và Ward nhìn ngài với vẻ ngạc nhiên. Qua cầu Richmond trước cửa văn phòng của Reuben J Dodd, luật sư, đại diện cho Công ty Bảo hiểm Tự Lược, một phụ nữ lớn tuổi sắp bước vào đã thay đổi ý định và quay bước trở lại dọc theo khung cửa kính của nhà vua đang mỉm cười đầy hoài nghi với đại diện của Quốc vương. Từ ống xả của bức tường bến Wood dưới văn phòng của Tom Devan, dòng sông Poddle thè ra một chiếc lưỡi nước cống lỏng lẻo như một sự trung thành. Phía trên tấm rèm của khách sạn Ormond, sắc vàng đan xen sắc đồng, đầu cô Kennedy kề đầu cô Douce đang theo dõi và ngưỡng mộ. Trên bến Ormond, ông Simon Dedalus, đang lái chiếc xe của mình từ nhà kính đến văn phòng phó cảnh sát trưởng, đứng yên giữa đường và hạ thấp mũ xuống. Ngài toàn quyền ân chuẩn đáp lại lời chào của ông Dedalus. Từ góc phố Cahill, mục sư Hugh C. Love, M. A., đã cúi đầu kính cẩn mà không được chú ý, ghi nhớ những vị phó vương có bàn tay từ bi từng nắm giữ những chức sắc béo bở trong quá khứ. Trên cầu Grattan, Lenehan và M’Coy, tạm biệt nhau, đứng nhìn những chiếc xe ngựa đi qua. Đi ngang qua văn phòng của Roger Greene và nhà in màu đỏ lớn của Dollard, Gerty MacDowell, đang mang những chữ cái bằng li-no bần của hãng Catesby cho người bố đang bị bệnh của cô, nhận ra qua phong cách đó là vợ chồng phó vương nhưng cô không thể nhìn thấy phu nhân mặc trang phục gì bởi vì chiếc xe điện và chiếc xe tải chở đồ đạc màu vàng lớn của Spring phải dừng lại ngay trước mặt cô vì đoàn xe của phó vương. Về phía bên kia tiệm thuốc lá Lundy Foot, từ cánh cửa râm mát của tiệm rượu Kavanagh, John Wyse Nolan mỉm cười với cái lạnh lùng không ai thấy hướng về phía ngài toàn quyền kiêm tổng đốc Ireland. Ngài William Humble cao quý, bá tước xứ Dudley, G. C. V. O., đi ngang qua những chiếc đồng hồ lúc nào cũng tích tắc của Micky Anderson và những mô hình người mẫu mặc đồ bảnh bao má hồng phúng phính của tiệm Henry và James, quý ông Henry, kiểu mới nhất của James. Đối diện với cổng Dame, ông Tom Rochford và Nosey Flynn theo dõi đoàn xe đang đến gần. Tom Rochford, thấy đôi mắt của phu nhân Dudley đang dán chặt vào mình, liền nhanh chóng rút ngón cái ra khỏi túi chiếc áo ghi lê màu đỏ sẫm và ngả mũ chào bà. Một nữ diễn viên u sầu duyên dáng, nàng Marie Kendall vĩ đại, với đôi má lem luốc và chiếc váy vén cao mỉm cười đầy vẻ lem luốc từ tấm áp phích của cô ta hướng về phía William Humble, bá tước xứ Dudley, và hướng về phía trung tá H. G. Heseltine, và cũng hướng về phía sĩ quan tùy tùng Gerald Ward danh dự. Từ cửa sổ của tiệm D. B. C., Buck Mulligan vui vẻ, và Haines nghiêm nghị, nhìn xuống cỗ xe phó vương qua vai những vị khách đang háo hức, đám đông hình dáng của họ làm tối sầm cả bàn cờ nơi John Howard Parnell đang chăm chú nhìn vào. Ở phố Fownes, Dilly Dedalus, đang rướn mắt nhìn lên từ cuốn sách vỡ lòng tiếng Pháp đầu tiên của Chardenal, nhìn thấy những chiếc ô che nắng được căng lên và những căm bánh xe đang quay tít trong ánh chói chang. John Henry Menton, đứng lấp đầy khung cửa của tòa nhà Commercial Buildings, trợn tròn đôi mắt to như con hàu ngợp trong rượu, tay cầm một chiếc đồng hồ quả quýt vàng béo tròn mà hắn chẳng thèm nhìn đến trong bàn tay trái mập mạp đang không hề cảm nhận thấy gì. Nơi cẳng chân trước của con ngựa bức tượng vua William đang quẫy đạp không trung, bà Breen kéo giật người chồng đang vội vã của mình tránh khỏi những móng guốc của đám kỵ sĩ hầu cận. Bà hét vào tai ông tin tức đó. Hiểu ra vấn đề, ông dịch những cuốn sách dày sang ngực trái và chào đoàn xe thứ hai. Sĩ quan tùy tùng Gerald Ward danh dự, ngạc nhiên một cách dễ chịu, vội vã đáp lễ. Ở góc phố Ponsonby, một chiếc bình đựng nước màu trắng phai màu H. đứng lại và bốn chiếc bình trắng đội mũ cao đứng lại phía sau nó, chữ E. L. Y.’S, trong khi đám kỵ sĩ hầu cận đang phi nước đại đi qua và những chiếc xe ngựa theo sau. Đối diện với tiệm nhạc cụ Pigott, ông Denis J Maginni, giáo sư khiêu vũ v.v., ăn mặc bảnh bao, nghiêm trang bước đi, bị phó vương vượt qua mà không bị chú ý. Đi dọc theo bức tường của viện trưởng trường đại học là Blazes Boylan đang bước đi ngông nghênh, sải bước trong đôi giày da màu vàng nâu và tất có hoa văn hình thoi màu xanh da trời theo giai điệu của bài hát Người yêu tôi là một cô gái Yorkshire.

Blazes Boylan trưng ra trước những chiếc mũ phớt màu xanh da trời và dáng vẻ uy nghiêm của toán dẫn đầu một chiếc cà vạt màu xanh da trời, một chiếc mũ rơm rộng vành đội lệch một góc ngông nghênh và một bộ vest vải sọc chéo màu chàm. Đôi tay đút trong túi áo quên không chào nhưng anh ta gửi đến ba vị phu nhân cái nhìn đầy ngưỡng mộ táo bạo cùng bông hoa đỏ ngậm giữa hàm răng. Khi họ lái xe dọc theo phố Nassau, ngài toàn quyền thu hút sự chú ý của người vợ đang cúi đầu chào của mình vào chương trình âm nhạc đang được trình tấu trong công viên trường đại học. Những chàng trai cao nguyên vô hình đang thổi kèn đồng và đánh trống rầm rầm theo sau đoàn rước:

Nhưng dù cô ấy là một cô gái nhà máy

Và không mặc những bộ quần áo sang trọng.

Baraabum.

Tuy nhiên tôi có một chút

Hương vị Yorkshire cho

Bông hồng Yorkshire nhỏ bé của tôi.

Baraabum.

Xa xa bức tường, những vận động viên chạy cự ly nước rút bốn mươi mét gồm M. C. Green, H. Shrift, T. M. Patey, C. Scaife, J. B. Jeffs, G. N. Morphy, F. Stevenson, C. Adderly và W. C. Huggard, đã bắt đầu xuất phát đuổi theo. Sải bước qua khách sạn Finn, Cashel Boyle O’Connor Fitzmaurice Tisdall Farrell trừng mắt nhìn qua chiếc kính một mắt hung dữ xuyên qua những chiếc xe ngựa vào cái đầu của ông M. E. Solomons trong cửa sổ của lãnh sự quán Áo-Hung. Sâu trong phố Leinster bên cạnh bức tường của trường Trinity, một người trung thành với nhà vua, Hornblower, chạm tay lên chiếc mũ đi săn của mình. Khi những con ngựa bóng loáng phi nước đại qua quảng trường Merrion, cậu chủ Patrick Aloysius Dignam, đang đứng đợi, nhìn thấy những lời chào đang được gửi đến tên quý ông đội mũ phớt và cũng giơ cao chiếc mũ đen mới của mình lên bằng những ngón tay dính đầy mỡ giấy gói thịt lợn. Cổ áo của cậu cũng dựng ngược lên. Phó vương, trên đường đến khai mạc hội chợ Mirus gây quỹ cho bệnh viện Mercer’s, lái xe cùng đoàn tùy tùng hướng về phía phố Lower Mount. Ngài đi ngang qua một gã thanh niên mù đối diện tiệm Broadbent. Ở phố Lower Mount, một người đi bộ mặc áo mưa màu nâu, đang ăn bánh mì khô, bước đi nhanh chóng và bình yên cắt ngang qua con đường của phó vương. Tại cây cầu thuộc Kênh đào Hoàng gia, từ tấm bảng quảng cáo của mình, ông Eugene Stratton với đôi môi dày đang nhe răng cười, chào mừng tất cả mọi người đến với thị trấn Pembroke. Tại góc đường Haddington, hai người phụ nữ mang chiếc ô dính đầy cát và một chiếc túi có mười một con sò lăn lộn bên trong dừng lại để ngạc nhiên ngắm nhìn ngài thị trưởng và phu nhân thị trưởng đi mà không có chiếc dây chuyền vàng. Trên các con đường Northumberland và Lansdowne, ngài toàn quyền đã đáp lại một cách đúng giờ những lời chào từ những người đi bộ nam hiếm hoi, lời chào của hai cậu bé học sinh nhỏ bên cổng vườn của ngôi nhà được cho là từng được cố nữ hoàng ngưỡng mộ khi ghé thăm thủ đô Ireland cùng chồng ngài, hoàng tế Albert, vào năm 1849 và lời chào từ chiếc quần đầy đặn của Almidano Artifoni bị nuốt chửng bởi một cánh cửa đang khép lại.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.