Ulysses

Lượt đọc: 203 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
[ 14 ]

❊ ❊ ❊

Deshil Holles Eamus. Deshil Holles Eamus. Deshil Holles Eamus.

Hãy gửi đến chúng tôi vị thần huy hoàng, rạng rỡ, Horhorn, đấng ban sự sống và quả ngọt cho cung lòng. Hãy gửi đến chúng tôi vị thần huy hoàng, rạng rỡ, Horhorn, đấng ban sự sống và quả ngọt cho cung lòng. Hãy gửi đến chúng tôi vị thần huy hoàng, rạng rỡ, Horhorn, đấng ban sự sống và quả ngọt cho cung lòng.

Hoopsa boyaboy hoopsa! Hoopsa boyaboy hoopsa! Hoopsa boyaboy hoopsa!

Quả thực, người ta thường đánh giá rất thấp sự sắc sảo của bất kỳ ai – dù là kẻ ngu ngơ trong mọi vấn đề được những bậc thông thái trân trọng coi là đáng học hỏi nhất, đồng thời phớt lờ những gì mà những bậc uy bác nhất, những kẻ nhờ vào món trang sức tâm trí cao cả ấy mà xứng đáng được tôn kính, vẫn luôn hằng gìn giữ khi họ đồng thuận khẳng định rằng: khi các yếu tố khác đều như nhau, sự thịnh vượng của một quốc gia không được khẳng định qua bất kỳ vẻ hào nhoáng bên ngoài nào rõ ràng và hiệu quả bằng mức độ tiến triển của sự quan tâm mà quốc gia đó dành cho việc tiếp nối nòi giống — thứ mà nếu vắng bóng sẽ là cội nguồn của mọi tai họa, còn nếu hiện diện (thật may mắn thay) thì lại là dấu hiệu chắc chắn về ân huệ trọn vẹn không tì vết của tự nhiên vạn năng. Bởi vì có ai, dẫu chỉ nhận thức được chút ít điều ý nghĩa, lại không ý thức được rằng vẻ hào nhoáng bên ngoài ấy chỉ có thể là lớp vỏ của một thực tại bùn lầy đang trượt dốc; hoặc ngược lại, có kẻ nào lại tối tăm đến mức không nhận ra rằng, vì không ân huệ nào của tự nhiên có thể sánh được với sự dồi dào của việc sinh sôi, nên mọi công dân chính trực đều có bổn phận phải trở thành người khuyên răn và nhắc nhở những đồng loại của mình, đồng thời phải run sợ trước viễn cảnh: những gì quốc gia từng khởi đầu một cách xuất sắc trong quá khứ có thể sẽ không đạt được mức độ xuất sắc tương tự trong tương lai, nếu như một thói quen vô liêm sỉ cứ dần dần làm vấy bẩn những phong tục cao đẹp do tổ tiên truyền lại, đẩy mọi thứ xuống tận đáy vực sâu đến mức có kẻ dám cả gan đứng lên khẳng định rằng: chẳng có tội ác nào ghê gớm hơn việc lãng quên và bỏ mặc không màng tới cội nguồn phúc âm — thứ vừa là mệnh lệnh vừa là lời hứa, với lời tiên tri về sự sung túc hoặc lời đe dọa về sự suy vong, đã luôn không thể lay chuyển mà truyền lại cho mọi phàm nhân cái chức năng sinh sôi nảy nở được lặp đi lặp lại triền miên ấy?

Do đó, chúng ta sẽ chẳng có gì phải ngạc nhiên nếu như, theo lời các sử gia lỗi lạc, y học lại từng được hết sức tôn sùng giữa lòng người Celt — những kẻ vốn chỉ ngưỡng mộ những gì bản chất là đáng khâm phục. Chưa cần nhắc đến các lữ quán, khu nhà người phong, phòng tắm hơi, hay nghĩa địa dịch hạch, những danh y vĩ đại nhất của họ như dòng O’Schiels, dòng O’Hickeys, dòng O’Lees đã cần mẫn ghi chép lại vô số phương pháp giúp người bệnh và người tái phát tìm lại sức khỏe, bất kể căn bệnh là những cơn run rẩy, khô héo hay chứng tiêu chảy boyconnell lỏng lẽo. Chắc chắn rằng trong mọi công trình công cộng mang tầm vóc quan trọng, sự chuẩn bị phải tương xứng với tầm vóc ấy; và vì thế, họ đã áp dụng một kế hoạch (dù là do tính toán trước hay là sự chín muồi của kinh nghiệm thì rất khó nói, khi mà ý kiến trái chiều của những nhà nghiên cứu đời sau cho đến nay vẫn chưa làm cho sáng tỏ), nhờ đó mà thiên chức làm mẹ được tách rời hoàn toàn khỏi mọi khả năng rủi ro; sao cho bất kỳ sự chăm sóc nào mà người bệnh trong khoảnh khắc khổ ải nhất của người phụ nữ vốn dĩ rất cần — không chỉ dành cho những kẻ giàu sang phú quý mà còn cho cả những người nghèo túng đến mức suýt không thể sinh tồn, và thường thì chẳng có nổi dăm xu dính túi — đều được cung cấp một cách tận tình với một khoản thù lao vô cùng khiêm tốn.

Kể từ lúc ấy trở đi, không gì có thể làm tổn hại đến nàng được nữa, và đây là điều mà mọi công dân đều cảm nhận rõ: sự thịnh vượng hoàn toàn không thể tồn tại nếu thiếu đi những người mẹ sinh sôi nảy nở; và khi họ chứng kiến một người phụ nữ chuẩn bị lâm bồn — đúng như cách các vị thần đã định đoạt cho sự sinh sản của phàm nhân — niềm khao khát mãnh liệt trào dâng trong lòng tất cả mọi người, thúc giục họ đưa nàng vào mái ấm đó. Ồ, một thiết chế của quốc gia thận trọng biết bao, không chỉ đáng ngợi khen khi nhìn thấy mà ngay cả khi được kể lại, khi họ đi trước để nhìn thấy người mẹ, khi nàng cảm nhận được rằng họ sắp sửa nâng niu mình!

Đứa trẻ chưa chào đời đã có niềm hạnh phúc. Trong lòng dạ mẹ, nó đã sớm nhận được sự tôn sùng. Bất cứ điều gì được thực hiện trong trường hợp đó đều đạt đến sự trọn vẹn tiện nghi. Một chiếc giường được các bà mụ tươm tất chăm lo cùng thức ăn lành mạnh, tĩnh dưỡng, những chiếc tã sạch sẽ nhất cứ như thể cuộc vượt cạn đã hoàn tất và được sắp đặt bởi sự khôn ngoan tiên tri: nhưng bên cạnh đó không thể thiếu các loại dược phẩm và dụng cụ phẫu thuật cần thiết cho tình trạng của nàng, cùng với việc chiêm ngưỡng tất cả những cảnh tượng vô cùng lôi cuốn từ muôn nơi trên quả địa cầu của chúng ta, song hành với những hình ảnh thần thánh và phàm trần — những điều mà khi các người phụ nữ bị tách biệt suy ngẫm sẽ góp phần thúc đẩy sự sung mãn hoặc làm dịu bớt cơn vượt cạn trong ngôi nhà của các bà mẹ, một chốn cao rảng, ngập tràn ánh nắng, được xây cất khang trang và tốt lành, nơi nàng đến để chờ ngày sinh nở khi thời kỳ đã điểm.

Có một người lữ hành dừng chân bên ngưỡng cửa khi màn đêm buông xuống. Đó là một người thuộc dân tộc Israel đã bôn ba lang thang nơi viễn xứ. Nỗi xót xa tột cùng của một kẻ vì hoàn cảnh đơn độc mà bước chân dẫn dắt đến ngôi nhà ấy.

Chủ nhân của ngôi nhà đó là A. Horne. Ông giữ bảy mươi chiếc giường tại nơi đây, nơi những người mẹ đang mang thai thường đến để chịu đựng những cơn đau và hạ sinh những đứa trẻ khỏe mạnh đúng như lời thiên sứ của Chúa từng nói với Maria. Hai người gác cổng bước đi ở đó, những người chị em áo trắng túc trực không miết mắt. Họ xoa dịu những nỗi đau, vỗ về bệnh tật: ba trăm lần trong mười hai tháng trời. Họ chính là đôi bạn đồng hành tận tụy nhất bên chiếc giường bệnh, hết lòng cẩn trọng gìn giữ cho Horne.

Trong sự canh gác cẩn trọng ấy, người gác cổng nghe thấy tiếng bước chân của người đàn ông nhân hậu liền đứng dậy, đầu trùm khăn che kín cổ, rộng mở cánh cửa đón ông vào. Kìa, ánh chớp lòe sáng trong chớp mắt bầu trời phía tây Ireland. Nàng vô cùng sợ hãi rằng Chúa Trời – Đấng Báo Thù – sẽ tiêu diệt toàn bộ nhân loại bằng hồng thủy vì những tội ác của họ. Nàng làm dấu thánh giá trước ngực và kéo ông vào, để ông có thể nhanh chóng bước vào dưới mái tranh của mình. Người đàn ông thấu hiểu ý nguyện cao đẹp của nàng liền bước vào nhà Horne.

Vốn e dè không muốn gây phiền hà trong sảnh đường của Horne, người tìm kiếm đứng đó tay cầm chiếc mũ. Trên khu đất này, trước kia ông từng sinh sống cùng người vợ hiền và cô con gái đáng yêu — những người sau đó đã lang thang suốt chín năm ròng qua muôn dặm đất liền và biển cả. Có lần chạm mặt nàng ở bến thị trấn, ông đã không ngả mũ chào. Giờ đây, ông tha thiết cầu xin nàng tha thứ, với lý do chính đáng được nàng chấp thuận rằng gương mặt mà ông thoáng thấy khi ấy của nàng, sao mà trẻ trung đến thế. Đôi mắt nàng bừng sáng chớp nhoáng, gò má ửng hồng khi đón nhận lời ông.

Khi đôi mắt nàng chạm phải bộ y phục tối màu của ông, nàng bất giác lo lắng cho nỗi buồn của ông. Nhưng rồi nàng lại thấy nhẹ nhõm vì nỗi sợ ban nãy. Ông hỏi nàng liệu bác sĩ O’Hare có gửi tin tức gì từ vùng đất xa xôi hay không, và nàng đáp lại bằng một tiếng thở dài đầy cay đắng rằng bác sĩ O’Hare đã ở trên thiên đàng. Người đàn ông vô cùng đau buồn khi nghe tin ấy, một tin tức trĩu nặng trong lồng ngực đầy xót xa của ông. Nàng kể hết mọi chuyện cho ông nghe, thương xót cho cái chết của một người bạn còn quá trẻ, nhưng dẫu đớn đau vẫn không một lời trái ý sự công chính của Chúa. Nàng kể rằng ông ấy đã có một cái chết êm đềm tốt đẹp nhờ ơn phước Chúa, được linh mục xưng tội, rước lễ thánh và được xức dầu thánh cho người bệnh. Người đàn ông bấy giờ thành khẩn hỏi nữ tu xem người quá cố đã qua đời vì căn bệnh gì, và nữ tu đáp rằng ông mất trên đảo Mona vì bệnh ung thư bụng đúng vào ngày Lễ Các Thánh Anh Hè ba năm về trước, đồng thời nàng cầu xin Thiên Chúa – Đấng chứa chan lòng trắc ẩn – hãy ôm ấp linh hồn quý giá của ông trong cõi vĩnh hằng. Ông lắng nghe những lời buồn bã ấy, ngẩn ngơ nhìn chằm chằm vào chiếc mũ đang cầm trên tay. Cả hai cứ đứng đó một lúc lâu trong nỗi tuyệt vọng và đau thương, sẻ chia cùng nhau.

Thế nên, hỡi mọi người, hãy nhìn về cái chết — chặng cuối cùng của cuộc đời — và cõi bụi đất đang bám lấy mọi kẻ sinh ra từ người phụ nữ; bởi vì như thế nào khi bước ra khỏi lòng mẹ, hắn cũng sẽ trần trụi bước đi vào lúc cuối đời để trở về đúng như khi hắn đến.

Người đàn ông vừa bước vào nhà liền cất lời hỏi nữ hộ sinh xem tình hình của người phụ nữ đang nằm chờ sinh ở đó ra sao. Nữ hộ sinh đáp lại rằng người phụ nữ ấy đã oằn mình trong cơn đau dạ con trọn ba ngày nay, và đây sẽ là một ca sinh nở vô cùng khó khăn, thật khó lòng qua khỏi, nhưng chẳng mấy chốc nữa mọi chuyện sẽ kết thúc. Bà nói thêm rằng mình từng chứng kiến rất nhiều ca sinh nở của phụ nữ, nhưng chưa từng thấy ca nào khó khăn như của người phụ nữ này. Sau đó, bà kể tường tận mọi chuyện cho ông nghe, bởi bà nhận ra người đàn ông này trước kia từng sống gần ngôi nhà đó. Người đàn ông lắng nghe từng lời bà nói, vì ông thấu cảm sâu sắc nỗi đau đớn tột cùng của phụ nữ trong cơn hoài thai làm mẹ, và ông ngỡ ngàng khi nhìn ngắm gương mặt nàng — một gương mặt đủ xinh đẹp để bất cứ ai cũng phải ngắm nhìn, thế nhưng sau bao năm tháng trôi qua, nàng vẫn chỉ là một kẻ hầu người hạ. Chín mươi sáu chu kỳ kinh nguyệt cứ thế hờn ghen với sự hiếm muộn của nàng.

Trong lúc họ đang trò chuyện, cánh cửa lâu đài bật mở và một âm thanh ồn ào náo động như thể từ rất nhiều người đang ngồi ăn uống bỗng dội đến gần họ. Ngay lúc ấy, một học giả trẻ tên là Dixon tiến đến chỗ họ đang đứng. Và người lữ khách Leopold vốn đã quen biết cậu ta từ trước, bởi tình cờ họ từng có dịp chạm trán nhau tại ngôi nhà thương nơi vị học giả trẻ này nằm điều trị, sau khi người lữ khách Leopold đến đó để chữa thương do bị một con rồng gớm ghiếc và đáng sợ phóng một ngọn giáo đâm thẳng vào ngực; để chữa trị vết thương đó, ông đã pha chế một loại thuốc mỡ từ muối dễ bay hơi và dầu thánh với lượng vừa đủ. Cậu ta bèn cất lời rằng mình chuẩn bị bước vào lâu đài để chung vui với những người đang ở đó. Người lữ khách Leopold liền bảo rằng ông sẽ đi hướng khác, bởi ông là kẻ khôn ngoan và thấu đáo. Phức vị tiểu thư cũng cùng quan điểm với ông và quở trách vị học giả trẻ, dẫu nàng thừa biết người lữ khách kia đã nói sai sự thật cốt để tỏ ra khôn khéo. Nhưng vị học giả trẻ nhất định không chịu nghe lời can ngăn, chẳng màng đến mệnh lệnh của nàng hay để những lời phản đối của ông làm lay chuyển ý định của mình, và cậu ta ca ngợi lâu đài ấy thật là kỳ diệu. Cuối cùng, người lữ khách Leopold đành bước vào lâu đài để nghỉ ngơi chốc lát, đôi chân đã mỏi nhừ sau những cuộc hành trình dài dằng dặc băng qua muôn nẻo đường và đôi khi cả những chuyến đi săn.

Bên trong lâu đài bày biện một chiếc bàn làm bằng gỗ bu-lô Phần Lan, được nâng đỡ bởi bốn gã lùn bản địa, nhưng chúng không dám cử động thêm nửa bước vì sợ ma thuật. Trên chiếc bàn ấy là những thanh gươm và dao chém vô cùng đáng sợ, do lũ quỷ lao động miệt mài tạo ra trong một hang động lớn từ những ngọn lửa trắng rồi gắn chúng lên sừng của loài trâu và hươu vốn sinh sôi nảy nở kỳ lạ ở đó. Lại có những chiếc bình được làm thủ công bằng phép thuật của Mahound từ cát biển và không khí, qua hơi thở của một tên phù thủy thổi vào chúng tựa như những chiếc bong bóng. Trên bàn bày biện biết bao thức ăn thức uống vô cùng thịnh soạn và ngon lành mà không một ai có thể tưởng tượng ra mâm cỗ nào đầy đặn hay sang trọng hơn thế. Lại có một cái vạc bạc tự động mở ra nhờ cơ chế kỳ lạ, bên trong chứa đầy những loài cá kỳ dị không đầu — dẫu những kẻ vô tín ngưỡng thường phủ nhận sự tồn tại của thứ này nếu tận mắt không thấy, thế nhưng sự thật chúng vẫn cứ tồn tại. Những con cá ấy nằm trong làn nước nhờ nhờ dầu mỡ được vận chuyển từ xứ Bồ Đào Nha sang, bởi thứ mỡ chứa bên trong đó sánh đặc như dòng nước ép từ cối ép ô-li-ve. Thêm vào đó, thật là kỳ lạ khi thấy trong lâu đài ấy, bằng ma thuật, người ta tạo ra một khối bột nhào từ những hạt lúa mì trĩu hạt xứ Chaldee; dưới sự trợ giúp của một số linh hồn giận dữ được thổi vào đó, khối bột nở phồng lên kỳ diệu tựa như một quả núi lớn. Và họ dạy cho những con rắn ở đó quấn mình lên những thân cây dài cắm xuống đất, rồi từ lớp vảy của những loài rắn này, họ chưng cất ra một thứ thức uống tựa như rượu mật ong.

Vị học giả trẻ liền cho rót một vại nước cho chàng thanh niên Leopold và phụ giúp một tay trong khi tất cả những người có mặt ở đó đều nâng ly cạn chén. Chàng thanh niên Leopold liền vén chiếc mũm sắt lên cho thoải mái và vui vẻ đón nhận chút đồ uống cho phải phép, bởi từ trước tới nay ông vốn chẳng bao giờ uống loại rượu mật ong nào; vì thế, ông liền lén lút trút phần lớn chỗ rượu ấy vào chiếc ly của người hàng xóm bên cạnh mà chẳng ai hay biết ngầm ngưu cơ trí này. Rồi ông ngồi xuống trong lâu đài ấy cùng họ để nghỉ ngơi chốc lát. Ngợi khen Thiên Chúa Toàn Năng.

Cùng lúc ấy, người nữ tu tốt bụng đứng bên cửa và khẩn khoản nài xin họ, vì lòng tôn kính Chúa Giê-su – Vua muôn vua của chúng ta – hãy ngừng ngay những cuộc vui yến tiệc chè chén lại, bởi vì ở tầng trên đang có một người phụ nữ mang thai, một phu nhân quý phái, ngày sinh tháng đẻ đã đến rất gần. Ngài Leopold nghe thấy tiếng kêu vọng lên từ tầng trên bèn tự hỏi không biết đó là tiếng khóc của trẻ sơ sinh hay của người phụ nữ, và ông thầm nhủ: Ta lấy làm lạ vì sao đến giờ mà đứa trẻ vẫn chưa chào đời. Ta thấy thời gian kéo dài quá lâu rồi. Rồi ông chợt nhìn thấy một điền chủ tên là Lenehan ngồi bên phía bàn đó, lớn tuổi hơn tất cả những người còn lại; và vì cả hai đều là những hiệp sĩ đầy đức hạnh cùng chung một lý tưởng, lại thêm phần ông kia lớn tuổi hơn, ngài Leopold liền cất lời trò chuyện với ông ta một cách vô cùng nhã nhặn. Nhưng ngài bảo rằng chẳng bao lâu nữa, bằng ân phước của Chúa, nàng sẽ hạ sinh và đón nhận niềm vui làm mẹ, bởi nàng đã phải chờ đợi lâu đến ngạc nhiên. Và gã điền chủ đang ngà ngày say liền cất lời: Cứ ngỡ từng khoảnh khắc trôi qua là phút giây lâm bồn của nàng. Hắn ta cũng tiện tay cầm lấy chiếc cốc đặt ngay trước mặt, chẳng màng đến việc phải xin phép hay ngỏ lời trước để được uống, rồi cất giọng: Giờ thì cạn ly thôi, thưởng thức cho trọn vẹn hương vị tuyệt vời này đi, và hắn tu một hơi cạn sạch để chúc sức khỏe cho cả hai, bởi hắn vốn là một gã đàn ông ham vui có hạng. Và ngài Leopold – vị khách quý phái nhất từng ngồi trong sảnh đường của giới học giả, người đàn ông hiền hòa và nhân hậu nhất từng đặt đôi tay chu đáo vun vén gia đình, vị hiệp sĩ chân chính bậc nhất trên đời từng tận tụy phụng sự các quý bà thanh tao – đã nâng ly đáp lễ ông ta một cách rất mực hào hoa, trong lòng không khỏi ngậm ngùi suy tư về nỗi thống khổ của người phụ nữ.

Giờ hãy nói về nhóm người tụ tập ở đó với mục đích chè chén cho say mèm nếu có thể. Dọc theo hai bên bàn dài là một đám học giả, cụ thể là: cậu Dixon – được gọi là cậu út nhà thánh Mary Merciable – cùng các đồng môn của cậu là Lynch và Madden, những sinh viên y khoa; gã điền chủ tên là Lenehan; một kẻ đến từ Alba Longa tên là Crotthers; cậu thanh niên Stephen trông cứ như một vị tu sĩ ngồi ở vị trí chủ tọa bàn tiệc; và Costello – kẻ mà người ta vẫn thường gọi là Punch Costello chỉ vì hắn từng khoác lác về một chiến tích nào đó trước đây (và trong số tất cả bọn họ, trừ cậu Stephen ra, hắn là kẻ say xỉn nhất, miệng không ngớt đòi thêm rượu mật ong); ngồi bên cạnh ngài Leopold hiền hòa. Ngoài ra, họ vẫn đang chờ đợi cậu Malachi trẻ tuổi bởi cậu đã hứa sẽ đến, thế nhưng những kẻ chẳng màng đến điều hay lẽ phải liền bàn tán rằng cậu đã thất hứa. Ngài Leopold ngồi cùng bọn họ bởi ông có mối thâm tình bền chặt với ngài Simon và người con trai của ông ấy là cậu Stephen này, đồng thời vì sự mệt mỏi đã giữ chân ông ở lại đó sau cuộc hành trình dài dằng dặc, đến mức họ đã thiết đãi ông bữa tiệc trọng thể nhất trong khoảnh khắc ấy. Nỗi xót thương thôi thúc, tình yêu chắp cánh cho bước chân lãng du, khiến ông luyến lưu chẳng đành rời bước.

Bởi vì họ đều là những học giả vô cùng sắc sảo. Và ông lắng nghe những cuộc tranh luận qua lại giữa họ về đề tài sinh nở và sự công chính; cậu Madden khăng khăng cho rằng trong hoàn cảnh như vậy, thật khó lòng để người vợ sống sót (bởi vì một sự việc tương tự đã xảy ra cách đây vài năm với một phụ nữ ở Dublin tại nhà của Horne — người giờ đây đã giã từ cõi đời, và ngay trong đêm định mệnh trước ngày nàng qua đời, tất cả các y sĩ lẫn dược sĩ đã cùng nhau hội chẩn trường hợp của nàng). Họ còn bàn luận xa hơn rằng lẽ ra nàng phải được sống, vì theo quan điểm của họ, người phụ nữ ngay từ thuở ban đầu đã phải chịu cảnh đau đớn khi sinh con, và do đó những ai theo quan điểm này đều khẳng định cậu Madden đã nói đúng, vì cậu có lương tâm nên mới không muốn để nàng phải chết. Không ít người — trong đó có cậu Lynch — lại hoài nghi rằng thế giới hiện tại đang bị cai trị vô cùng tệ hại, chưa bao giờ tồi tệ hơn thế, mặc dù tầng lớp bình dân lại tin là khác đi, thế nhưng luật pháp lẫn các thẩm phán chẳng hề đưa ra bất kỳ biện pháp khắc phục nào. Cầu xin Chúa ban cho một sự đổi thay. Vừa dứt lời thì tất cả đồng thanh phản đối: không, lạy Đức Mẹ Đồng Trinh, người vợ phải được sống còn đứa trẻ thì phải chết. Tựa như sắc màu của ngọn lửa, họ trở nên nóng giận xung quanh vấn đề ấy, một phần vì tranh cãi, một phần vì hơi men; thế nhưng gã điền chủ Lenehan luôn nhanh nhẩu rót bia cho họ để ít ra bầu không khí vui vẻ không bị mai mọt. Sau đó, cậu Madden thuật lại toàn bộ câu chuyện và kể rằng người phụ nữ ấy đã qua đời; và vì lòng tôn kính tôn giáo, theo lời khuyên của những người hành hương lẫn kẻ khất thực, cùng với lời thệ nguyện mà người chồng của nàng đã hứa với Thánh Ultan ở Arbraccan, ông đã không để ai can thiệp vào cái chết của nàng, khiến tất cả bọn họ vô cùng đau xót. Nghe vậy, cậu Stephen liền cất lên những lời thế này: Thưa các ngài, những lời xì xầm bàn tán cũng thường hay xuất hiện trong dân gian. Cả đứa trẻ lẫn đấng sinh thành giờ đây đều đang tôn vinh Đấng Tạo Hóa của mình, kẻ thì trong chốn u minh ngục tối, người thì trong ngọn lửa luyện tội. Nhưng ơn Chúa, thế còn những linh hồn có khả năng được Chúa ban cho sự sống mà hằng đêm chúng ta lại tước đoạt khả năng đó — đó chẳng phải là tội lỗi phạm đến Chúa Thánh Thần, Đấng Hằng Sống, Chúa Tể và là Đấng Ban Sự Sống hay sao? Bởi vì, thưa các ngài, cậu nói tiếp, ham muốn của chúng ta thật ngắn ngủi. Chúng ta chỉ là phương tiện cho những sinh linh bé nhỏ bên trong chúng ta, và tự nhiên có những mục đích khác với chúng ta. Cậu Dixon út bèn hỏi Punch Costello xem hắn có biết những mục đích ấy là gì không. Nhưng hắn đã quá say xỉn, và câu trả lời hay ho nhất mà người ta có thể nghe từ miệng hắn là hắn sẵn sàng làm nhục bất kỳ người phụ nữ nào, bất kể đó là ai — vợ, thiếu nữ hay tình nhân — nếu chẳng may hắn có dịp trút bỏ được gánh nặng ham muốn của mình. Nghe thế, Crotthers đến từ Alba Longa liền cất cao giọng ca ngợi bài thơ của cậu Malachi về con kỳ lân — loài thú ngàn năm mới xuất hiện một lần với chiếc sừng độc nhất — trong khi những kẻ còn lại vẫn tiếp tục châm chọc, chế giễu, dùng đủ mọi trò ác ý với cậu, đồng thời viện dẫn mọi bảo bối của thánh Foutinus để minh chứng rằng cậu có khả năng làm bất cứ thứ gì mà một người đàn ông có thể làm. Nghe vậy, tất cả cười vang vô cùng sảng khoái, ngoại trừ cậu Stephen và ngài Leopold – người chưa bao giờ dám cười quá lớn vì một tâm trạng kỳ lạ mà ông không muốn hé lộ, đồng thời cũng vì ông đang chạnh lòng thương xót cho người phụ nữ vừa lâm bồn, bất kể nàng là ai hay đang ở nơi nào. Khi ấy, cậu Stephen với vẻ kiêu ngạo lại cất lời bàn về Mẹ Giáo Hội – kẻ sẵn sàng trục xuất cậu khỏi vòng tay ấm áp của Người, về luật giáo luật, về Lilith – nữ thần bảo hộ của những vụ phá thai, về sự sinh sôi nảy nở được tạo nên bởi hơi thở của những hạt giống ánh sáng hoặc bởi sức mạnh hút máu từ miệng qua miệng, hay theo như lời Virgilius, bởi ảnh hưởng của phương tây hoặc hơi sương của loài hoa nguyệt quệt; hoặc nếu nàng ngủ với một người phụ nữ mà người đàn ông của nàng mới chỉ ân ái, effectu secuto, hay có lẽ trong bồn tắm theo quan điểm của Averroes và Maimonides. Cậu cũng nói rằng vào cuối tháng thứ hai, một linh hồn con người đã được truyền vào, và trong lòng mẹ thánh của chúng ta luôn dung chứa mọi linh hồn vì vinh quang lớn lao hơn của Chúa, trong khi người mẹ trần gian kia — kẻ chẳng qua chỉ là một con vật đẻ ra giống loài thú vật — phải chết theo luật giáo điều; bởi như lời kẻ đang nắm giữ chiếc ấn của người đánh cá đã phán, chính là vị thánh Phê-rô diễm phúc đó, trên tảng đá này hội thánh thánh thiện đã được xây dựng muôn đời. Toàn bộ những gã độc thân liền quay sang hỏi ngài Leopold rằng liệu trong trường hợp tương tự, ông có dám đánh cược tính mạng của người phụ nữ ấy để cứu lấy đứa trẻ hay không. Với sự cẩn trọng vốn có trong tâm trí, ông đáp lại một cách khéo léo cho vừa lòng tất cả; rồi đưa tay lên cằm, với vẻ giả vờ quen thuộc, ông đáp rằng theo những gì ông được biết — một người dẫu chỉ yêu mến nghệ thuật y học dưới góc độ của một thường dân — và cũng phù hợp với kinh nghiệm của ông về một tai nạn hy hữu hiếm thấy như vậy, có lẽ thật tốt biết bao nếu Mẹ Giáo Hội nhân đôi phước lành khi vừa có sự sinh nở lại vừa có cả cái chết, và cứ thế, ông một cách tài tình thoát khỏi những câu hỏi của bọn họ. Quả thực là vậy, quả đúng thế, cậu Dixon cất lời, và nếu tôi không đoán nhầm, đó là một câu nói đầy hàm ý. Nghe vậy, cậu Stephen vô cùng sung sướng và khẳng định rằng kẻ nào ăn cắp của người nghèo thì đang cho Chúa vay mượn, bởi vì cậu vốn có tính cách phóng túng khi say rượu, và trạng thái ấy giờ đây lại một lần nữa phơi bày rõ mồn một.

Nhưng ngài Leopold thì vô cùng trầm ngâm bất chấp lời nói của họ, bởi vì ông vẫn còn hoài niệm nỗi đau xót trước những tiếng thét xé lòng gieo rắc kinh hoàng của những người phụ nữ trong cơn vượt cạn; và tâm trí ông bồi hồi nhớ về người vợ hiền Marion của mình – người từng hạ sinh cho ông một cậu con trai độc nhất, nhưng đứa trẻ ấy chỉ sống được vỏn vẹn mười một ngày rồi qua đời, chẳng y sĩ nào cứu vãn nổi, bởi định mệnh vốn dĩ tối tăm nhường ấy. Và nàng vô cùng đau đớn tận tâm can trước tai họa ác nghiệt ấy; để chôn cất đứa bé, nàng đã mặc cho con một chiếc áo giáp nhẹ bằng lông cừu non – những con cừu ưu tú nhất trong đàn – kẻo con phải chịu cảnh lạnh giá cô độc (vì khi ấy đang là giữa mùa đông). Giờ đây, ngài Leopold – người chẳng còn giọt máu nam nhi nào làm người nối dõi – đang nhìn chằm chằm vào người con trai của bạn mình, lòng chìm khuất trong nỗi sầu muộn về hạnh phúc đã qua; và dũng cảm bao nhiêu trước việc thiếu vắng một người con trai có cốt cách hiếm có (bởi ai nấy đều đánh giá cậu ta có phẩm chất thực thụ), ông lại đau đớn bấy nhiêu cho cậu Stephen, bởi cậu đang sống một cuộc đời trác táng cùng đám vô lại kia và phung phí tài sản vào chốn lầu xanh.

Vào khoảng thời gian ấy, cậu Stephen rót đầy tất cả những chiếc ly đang cạn khiến chẳng còn lại mấy giọt, nếu như những kẻ thận trọng hơn đã không kịp che chắn tầm tay của cậu — kẻ vẫn đang miệt mài chuốc rượu rất hăng say. Đọc một lời cầu nguyện cho ý nguyện của vị giáo hoàng tối cao, cậu nâng ly chúc tụng vị đại diện của Chúa, mà theo như cậu nói, cũng chính là vị mục tử xứ Bray. Giờ thì chúng ta hãy cùng cạn ly, cậu bảo, hãy uống cạn ly rượu mật ong này — thứ không phải là một phần thể xác tôi, mà chính là hiện thân cho linh hồn tôi. Hãy để việc bẻ bánh mì dành cho những kẻ chỉ sống bằng bánh mì. Đừng sợ hãi bất kỳ sự thiếu thốn nào, vì thứ này sẽ vỗ về nhiều hơn là làm các vị hoảng sợ. Hãy nhìn đây. Và cậu cho họ xem những đồng tiền lấp lánh tri cống cùng những tờ ngân phiếu của thợ kim hoàn trị giá hai bảng mười chín si-linh mà cậu nói là kiếm được nhờ một bài hát do chính cậu viết. Tất cả đều trầm trồ kinh ngạc khi thấy thứ tài sản kết xù ấy giữa cảnh ngặt nghèo tiền bạc ban nãy. Những lời của cậu lúc đó vang lên như sau: Hỡi muôn người hãy biết rằng, những hoang tàn của thời gian sẽ xây nên những lâu đài của cõi vĩnh hằng. Điều này có nghĩa là gì? Cơn gió của khát vọng thổi bùng lên bụi gai, nhưng rồi sau đó, từ một bụi gai tầm thường, nó lại hóa thành đóa hồng rực rỡ trên cây thánh giá của thời gian. Hãy chú ý lắng nghe ta. Trong lòng dạ người phụ nữ, lời đã hóa thành xác thịt, nhưng trong tâm hồn của người kiến tạo, mọi xác thịt đi qua đều hóa thành lời chẳng bao giờ phai mờ. Đó chính là sự sáng tạo tiếp nối. Omnis caro ad te veniet. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, danh tính của Đấng từng mang trên mình thân xác quý giá của Đấng Cứu Chuộc, Chữa Lành và Mục Tử của chúng ta – người mẹ hùng vĩ và đáng kính nhất của chúng ta – vô cùng quyền uy; và thánh Bernardus từng nói rất đúng rằng Người sở hữu một omnipotentiam deiparae supplicem, nghĩa là quyền năng tối cao của lời cầu khẩn, bởi Người chính là Eva thứ hai. Và thánh Augustinus cũng nói rằng, trong khi người tổ mẫu kia của chúng ta — kẻ mà chúng ta gắn kết qua chuỗi mắt xích rốn nối tiếp nhau — đã bán rẻ tất cả chúng ta, từ giống nòi, dòng dõi cho đến thế hệ, chỉ để đổi lấy một trái táo héo giá một xu, thì người phụ nữ ấy lại mang về cho chúng ta tất cả. Nhưng vấn đề là ở chỗ này. Hoặc là nàng biết ngài, ý tôi là người thứ hai ấy, và chỉ là một sinh مخلوق của tạo vật do chính mình sinh ra — vergine madre, figlia di tuo figlio; hoặc nàng chẳng hề hay biết về ngài, và khi ấy nàng rơi vào cùng một sự chối bỏ hoặc vô minh với Phê-rô kẻ đánh cá — kẻ đang sống trong ngôi nhà do Jack xây dựng — và với Giu-se người thợ mộc, vị thánh bảo trợ cho cái chết tốt lành của mọi cuộc hôn nhân bất hạnh; parceque M. Léo Taxil nous a dit que qui l’avait mise dans cette fichue position c’était le sacré pigeon, ventre de Dieu! Entweder transubstantiality oder consubstantiality nhưng tuyệt đối không có subsubstantiality. Và tất cả bọn họ đều la ó phản đối từ ấy vì đó là một từ ngữ quá đỗi thô tục. Một sự hoài thai không chút niềm vui, cậu nói tiếp, một cuộc vượt cạn không cơn đau, một thân xác không tì vết, một chiếc bụng không phình to. Cứ để bọn đồi bại với đức tin và sự cuồng nhiệt mà tôn sùng. Còn chúng ta, bằng ý chí, sẽ chống lại và cự tuyệt.

Ngay lúc ấy, Punch Costello đấm mạnh một cú xuống bàn và cất tiếng hát một khúc ca thô tục mang tên *Staboo Stabella* kể về một cô ả lẳng lơ mang thai với một gã sĩ quan kiêu căng phách lối ở tận xứ Almany; hắn lập tức hát bồi thêm: Ba tháng đầu ả ta chẳng được khỏe đâu, *Staboo*, thì đúng lúc đó mụ y tá Quigley từ ngoài cửa tức giận quát lớn: Im ngay, các ngươi không thấy xấu hổ sao, thật chẳng ra thể thống gì khi nhớ lại rằng mụ muốn mọi thứ phải thật ngăn nắp trước khi ngài Andrew tới, bởi mụ vốn ghen tuông và không muốn bất kỳ sự hỗn độn đáng sợ nào làm tổn hại đến phẩm giá của đội ngũ bảo an. Đó là một mụ ma ma già cỗi, khắc khổ với vẻ mặt điềm đạm và phong thái đạo mức, mặc bộ y phục màu nâu xám phù hợp với chứng đau nửa đầu và gương mặt nhăn nheo; và lời quở trách của mụ không phải là không có hiệu quả, bởi ngay lập tức Punch Costello bị tất cả mọi người mắng nhiếc tơi bời. Họ trừng phạt tên thô lỗ này bằng sự thô bạo lịch thiệp, người thì lắc đầu đe dọa bằng những lời ve vãn, kẻ thì mắng mỏ hắn: Đúng là một tên ôn dịch chết tiệt, đồ đần độn muốn làm trò quỷ gì thế này, đồ nhà quê hèn mạt, đồ nhãi ranh, đồ sinh ra từ đống rơm rạ, đồ khốn nạn, đồ ruột rà nhớp nhúa, đồ con hoang của một tên phiến quân, đồ rác rưởi vứt bên bờ mương, đồ bào thai chết tiệt, câm cái mõm say xỉn bẩn thỉu của mày lại giống như một con khỉ bị Chúa nguyền rủa đi. Ngài Leopold tốt bụng – người mang huy hiệu là đóa hoa bình yên, cúc marjoram dịu dàng – cũng đồng thời khuyên can rằng thời khắc này là vô cùng thiêng liêng và xứng đáng được tôn kính nhất. Trong ngôi nhà của Horne, sự bình yên phải được đặt lên hàng đầu.

Ngắn gọn mà nói, sự việc vừa dứt thì thầy Dixon ở giáo xứ Mary in Eccles với nụ cười tươi tắn liền cất tiếng hỏi cậu Stephen lý do vì sao cậu không quyết định tuyên thệ tu hành; và cậu đáp lại rằng: sự vâng phục khi còn trong bụng mẹ, sự tiết hạnh trong mồ mã, nhưng là sự nghèo đói bất đắc dĩ suốt những năm tháng cuộc đời. Nghe vậy, thầy Lenehan liền đáp lời rằng ông từng nghe kể về những hành vi bất lương ấy và cách mà cậu – theo như lời thiên hạ đồn đại – đã làm vấy bẩn sự trinh trắng tựa đóa ly của một người phụ nữ cả tin, đó chính là tội dụ dỗ trẻ vị thành niên; và tất cả bọn họ đều hùa theo bàn tán, vui vẻ nâng ly chúc mừng cho chức danh người cha của cậu. Nhưng cậu hoàn toàn phủ nhận, khẳng định rằng sự thật trái ngược hoàn toàn với phỏng đoán của họ, bởi cậu chính là người con vĩnh hằng và luôn đồng trinh. Nghe thế, niềm vui trong lòng bọn họ càng dâng trào và họ bắt đầu nhắc lại cho cậu nghe về nghi thức kết hôn kỳ lạ dành cho việc cởi áo và phá trinh các cô dâu, giống như tập tục của các tu sĩ trên đảo Madagascar: cô dâu mặc trang phục màu trắng và vàng nghệ, chú rể mặc áo trắng thêu chỉ đỏ, cùng với việc đốt nến và hương thảo trên chiếc giường cưới trong khi các giáo sĩ cất tiếng hát khúc *kyries* và thánh ca *Ut novetur sexus omnis corporis mysterium* cho đến khi nàng mất đi sự trinh trắng. Sau đó, cậu đọc tặng họ một khúc ca hôn lễ vô cùng tuyệt diệu của hai nhà thơ tài hoa bậc nhất là thầy John Fletcher và thầy Francis Beaumont trích từ vở kịch *Bi kịch của trinh nữ* được viết cho một sự gắn kết đôi lứa tương tự: *Đến giường đi, đến giường đi* là câu điệp khúc của bài thơ, được trình tấu với âm điệu đồng điệu đầy hòa hợp trên những chiếc đàn spinet. Một bản nhạc khúc tân hôn ngọt ngào tuyệt mỹ với sức thuyết phục đầy dịu ngọt dành cho tuổi trẻ yêu đương — những kẻ mà các ngọn đuốc thơm ngát của dàn phù dâu phù rể đã hộ tống đến sân khấu bốn chân của chốn phòng the hòa hợp vợ chồng. Quả là một sự gặp gỡ tuyệt vời, thầy Dixon cất lời, thật đáng mừng, nhưng này cậu trẻ, gọi họ là Beau Mount và Lecher thì hợp lý hơn đấy, bởi vì thề có danh dự của tôi, từ sự hòa quyện ấy biết bao điều hay ho có thể nảy sinh. Cậu Stephen đáp rằng theo trí nhớ tốt nhất của cậu, họ chỉ có chung một ả tình nhân và ả ta đến từ chốn lầu xanh để thỏa mãn những hoan lạc ái tình, bởi vì thời bấy giờ lối sống vô cùng phóng túng và phong tục xứ sở cũng chấp nhận điều đó. Chẳng có tình yêu nào lớn lao hơn thế, cậu nói, khi một người đàn ông hy sinh người vợ của mình vì bạn hữu. Hãy đi và làm điều tương tự đi. Cứ như thế, hoặc những lời lẽ mang ý nghĩa tương tự, trích lời Zarathustra – cựu giáo sư vương gia về văn học Pháp tại đại học Oxtail, và chưa từng có một con người nào mà nhân loại mang ơn nhiều đến thế. Hãy đưa một kẻ lạ bước vào tháp của ngươi, ngươi sẽ khó lòng tránh khỏi việc phải nhường cho hắn chiếc giường tốt thứ hai. *Orate, fratres, pro memetipso*. Và toàn bộ dân chúng sẽ thưa rằng: *Amen*. Hỡi Ireland, hãy ghi nhớ những thế hệ của ngươi và những ngày tháng xa xưa, khi ngươi chẳng màng gì đến ta và lời của ta, lại mang một kẻ lạ vào các cổng thành của ta để phạm tội tà dâm trước mắt ta, để rồi trở nên phì nhiêu và đá hậu như kẻ phản bội Jeshurun. Thế nên ngươi đã phạm tội chống lại ánh sáng của ta, biến ta – chúa tể của ngươi – thành kẻ nô lệ của những kẻ tôi đòi. Hãy quay về, hỡi dòng tộc Milly: đừng quên ta, hỡi người Milesian. Tại sao ngươi lại làm điều gớm ghiếc này trước mặt ta, khi ngươi hắt hủi ta để chạy theo một kẻ buôn thuốc nhuộm, và chối bỏ ta trước người La Mã cùng kẻ thổ dân xứ sở tối tăm – những kẻ mà các con gái ngươi đã hoan lạc gối chăn? Giờ hãy nhìn đi, hỡi thần dân của ta, về vùng đất hứa, từ đỉnh Horeb, đỉnh Nebo, đỉnh Pisgah và từ sừng Hatten cho đến một vùng đất chảy sữa và tiền bạc. Nhưng ngươi lại cho ta bú dòng sữa đắng cay: mặt trăng và mặt trời của ta đã bị ngươi dập tắt vĩnh viễn. Và ngươi bỏ mặc ta cô độc mãi mãi trong những nẻo đường tối tăm của sự cay đắng; và bằng một nụ hôn tro tàn, ngươi đã hôn lên đôi môi ta. Cậu tiếp tục bàn rằng, bóng tối nội tâm này chưa từng được soi rọi bởi trí tuệ của nhóm bảy mươi thông thái, thậm chí còn chẳng được nhắc đến khi ánh sáng phương Đông từ trên cao phá tung cửa ngục địa ngục để viếng thăm một chốn tối tăm vốn thuộc về ngoại bang. Sự quen thuộc làm giảm bớt những điều tàn bạo (như Tully từng nói về những môn đồ khắc kỷ yêu quý của mình), và người cha của Hamlet chẳng hé lộ cho hoàng tử thấy vết phồng rộp nào của sự cháy bỏng. Cõi vô sắc ở thời điểm hoàng kim của cuộc đời là một thứ tai dịch xứ Ai Cập — thứ mà vào những đêm trước khi sinh và sau khi chết lại chính là chốn ở và thời điểm đích thực nhất của chúng. Và cũng như mục đích và tận cùng của mọi sự vật đều hòa hợp theo một chừng mực nào đó với khởi điểm và cội nguồn của chúng, sự đồng điệu đa tạp ấy dẫn dắt sự sinh trưởng từ lúc chào đời, thực hiện qua một cuộc biến thái thụt lùi sự suy giảm và tiêu biến tiến về đích cuối cùng vốn phù hợp với tự nhiên, thì sự tồn tại dưới mặt trời của chúng ta cũng diễn ra như thế. Những người chị em tuổi xế chiều kéo chúng ta vào cõi đời: chúng ta khóc lóc, lớn lên, vui đùa, ôm ấp, siết chặt, chia lìa, cằn cỗi, chết đi; họ cúi xuống trên những thây ma của chúng ta. Đầu tiên, được cứu khỏi dòng nước sông Nile cổ đại, giữa những khóm sậy, một chiếc giường bằng mây đan; cuối cùng là hốc núi, một ngôi mộ ẩn khuất giữa tiếng gầm rú của loài linh cẩu và chim cắt lớn. Và cũng như chẳng ai biết vị trí chính xác của nấm mồ mình hay những tiến trình nào mà chúng ta sẽ bước vào sau đó, liệu sẽ đến Tophet hay Edenville, thì mọi thứ cũng hoàn toàn che khuất khi chúng ta muốn nhìn ngược lại xem bản chất của sự tồn tại chúng ta đã cất bước từ vùng trời xa xôi nào.

Ngay lúc đó, Punch Costello cất giọng rống to bài *Etienne chanson*, nhưng rồi hắn lớn tiếng bảo họ rằng: Kìa, sự khôn ngoan đã tự xây cho mình một ngôi nhà, tòa kiến trúc nguy nga vĩ đại kiên cố này, cung điện pha lê của Đấng Tạo Hóa, mọi thứ ngăn nắp đâu ra đấy, thưởng một xu cho kẻ tìm ra hạt đậu nhỏ.

Kìa dinh cơ do tay thiên tài Jack gầy dựng

Kìa lúa mạch cất chứa trong những bao tải cuồn cuộn triền miên

Trong vòng tròn kiêu hãnh của trại binh Jackjohn.

Một âm thanh đinh tai nhức óc vang lên ngoài phố, than ôi, vọng trả lại. Sấm sét rền vang bên trái: Thor giận dữ vung chiếc búa uy quyền. Giờ thì cơn giông bão đã đến, thứ làm thót tim người. Và thầy Lynch nhắc nhở cậu phải cẩn thận chớ nên chế giễu và kiêu ngạo lộng ngôn, vì chính vị thần cũng đang nổi giận trước những lời lộng ngôn báng bổ và thói ngoại đạo của cậu. Và kẻ vừa mới đây còn tỏ ra vô cùng dũng mãnh bỗng trở nên xanh xao tái mét trước mắt mọi người, cơ thể co rúm lại, giọng điệu vốn đang hiên ngang ngạo nghễ bỗng chốc tụt hẳn xuống, và trái tim trong lồng ngực đập thình thịch khi cảm nhận được tiếng gầm của cơn bão ấy. Thế là người thì chế giễu, kẻ thì mỉa mai, còn Punch Costello lại cắm cổ uống bia, hành động mà thầy Lenehan thề rằng hắn sẽ bắt chước theo, bởi hắn vốn là kẻ hễ thấy có cớ dù nhỏ nhất là sẵn sàng gây chuyện ngay. Nhưng gã khoác lác kia lớn tiếng kêu lên rằng nếu một lão Nobodaddy cũ kỹ đang ngà ngày say thì cũng chẳng có gì to tát, và hắn sẽ chẳng chịu thua kém ai. Nhưng điều này chỉ cốt để che đậy nỗi sợ hãi tột cùng khi hắn co rúm ngồi cúm núm trong sảnh đường của Horne. Hắn thực sự nốc cạn một hơi để lấy lại chút can đảm, bởi sấm sét vẫn tiếp tục gầm rú rền vang khắp bầu trời, khiến thầy Madden – vốn dĩ thi thoảng cũng rất đạo đức – phải đấm vào sườn hắn ngay tại thời điểm của ngày phán quyết ấy; và ngài Bloom bên cạnh gã khoác lác liền cất lời an ủi để làm dịu đi nỗi sợ hãi lớn lao của hắn, giải thích rằng đó chẳng qua chỉ là một thứ âm thanh hỗn độn mà thôi, là sự xả hơi của đám mây giông chứ chẳng có gì lạ, hoàn toàn là một hiện tượng tự nhiên mà thôi.

Nhưng liệu sự sợ hãi của gã thanh niên khoác lác có bị dập tắt bởi những lời an ủi ấy không? Không, bởi trong lồng ngực hắn đang cắm một chiếc gai mang tên Sự Cay Đắng mà không lời nào có thể nhổ bỏ được. Vậy hắn có được bình tĩnh như người này hay đạo đức như người kia chăng? Hắn chẳng được như vậy, dẫu hắn rất muốn giống một trong hai người. Thế nhưng chẳng lẽ hắn không thể cố gắng tìm lại như thuở thiếu thời chiếc bình Sự Thánh Thiện mà hắn từng gắn bó hay sao? Thực ra là không, bởi Ân Phủng chẳng ở đó để hắn tìm thấy chiếc bình ấy. Vậy trong tiếng sét đó, hắn có nghe thấy tiếng của vị thần Sinh Sơ hay chỉ là thứ âm thanh hỗn độn của Hiện Tượng như lời người kia nói? Nghe thấy chứ? Ồ, hắn buộc phải nghe trừ phi hắn đã nhét bông bịt kín ống Thông Hiểu lại (điều mà hắn chưa làm). Bởi vì qua chiếc ống ấy, hắn nhận ra mình đang ở vùng đất của Hiện Tượng – nơi một ngày nào đó hắn chắc chắn sẽ phải chết, vì hắn cũng giống như muôn người chỉ là một màn kịch trôi qua nhanh chóng. Và liệu hắn có chịu chết như muôn người rồi tan biến không? Chắc chắn là hắn không muốn dẫu hắn buộc phải thế, và hắn cũng chẳng muốn diễn thêm trò đời nào nữa theo cách mà thiên hạ vẫn làm với những người vợ — điều mà Hiện Tượng đã sai khiến họ phải tuân theo cuốn sách Luật. Khi ấy, hắn chẳng hề hay biết gì về vùng đất khác mang tên Hãy-Tin-Ta, đó chính là vùng đất hứa thuộc về vị vua Vui Tươi và sẽ tồn tại muôn đời, nơi chẳng có cái chết hay sự sinh nở, chẳng có chuyện cưới vợ hay làm mẹ, nơi tất cả những ai tin vào ngài đều sẽ đến? Đúng vậy, sự Đạo Đức từng kể cho hắn nghe về vùng đất ấy và sự Tiết Hạnh từng chỉ đường cho hắn, nhưng lý do là vì trên đường đi, hắn đã vướng vào một ả lẳng lơ có vẻ ngoài vô cùng đẹp mắt — kẻ mà theo lời ả tự giới thiệu mang tên Chim-Trong-Tay; ả đã dùng những lời đường mật dụ dỗ hắn đi lạc khỏi con đường chân chính, thỏ thẻ với hắn rằng: Này chàng trai xinh đẹp, hãy rẽ vào đây và ta sẽ cho chàng thấy một chốn tuyệt vời; ả dùng mọi lời ve vãn quyến rũ cho đến khi đưa được hắn vào hang ổ của mình — nơi được gọi là Hai-Trong-Bụi, hay theo cách gọi của các bậc uy bác là Sự Dâm Dật Xác Thịt.

Đó chính là điều mà toàn bộ nhóm người đang tụ tập ăn uống tại Nhà Xứ của các Bà Mẹ khao khát nhất; và nếu chạm trán với ả Chim-Trong-Tay này (chứa đựng bên trong là mọi thứ ô uế, yêu ma quỷ quái cùng ác quỷ độc ác), họ sẵn sàng dốc cạn sức lực cuối cùng để săn tìm và chiếm đoạt cho bằng được. Còn về vùng đất Hãy-Tin-Ta, họ bảo đó chẳng qua chỉ là một thứ hão huyền tưởng tượng và họ chẳng thể hình dung nổi, bởi vì thứ nhất, hang Hai-Trong-Bụi nơi ả dụ dỗ họ mới chính là hang ổ tuyệt vời nhất, bên trong có bốn chiếc gối tựa thêu bốn dòng chữ: Cõng-Nhau, Đảo-Lộn, Xấu-Hổ và Sát-Vai; thứ hai, về căn bệnh quái ác Bệnh-Giao-Hợp và lũ yêu ma kia, họ chẳng màng bận tâm bởi Thần Bảo Hộ đã ban cho họ một chiếc khiên vững chắc làm bằng ruột bò; và thứ ba, để họ không phải chịu bất kỳ tổn hại nào từ Đứa-Trẻ — con ác quỷ đó — nhờ chính chiếc khiên mang tên Tiêu-Hủy-Nhi. Cứ thế, tất cả bọn họ đều chìm đắm trong ảo tưởng mù quáng của mình: ngài Xét Nét, ngài Thi Thảng Đạo Đức, ngài Sâu Rượu, ngài Điền Chủ Giả Mạo, ngài Dixon Kiêu Kì, Cậu Trẻ Khoác Lác và ngài Cẩn Trọng Bình Tĩnh. Hỡi đám người khốn khổ kia, các người đã bị lừa gạt hết thảy, bởi đó chính là tiếng nói của vị thần đang vô cùng giận dữ, ngài sắp sửa giơ cao cánh tay để tiêu diệt linh hồn họ vì những tội lỗi và sự phung phí mà họ đã phạm phải trái ngược với lời răn dạy tha thiết phải sinh sôi nảy nở của ngài.

Thế là vào thứ Năm ngày mười sáu tháng Sáu, Patk. Dignam được hạ thổ sau cơn đột quỵ; và sau chuỗi ngày khô hạn kéo dài, tạ ơn Chúa, trời đã đổ mưa, một người lái sà lan xuôi dòng nước chừng năm mươi dặm mang theo than bùn thán thở rằng hạt giống không thể nảy mầm, đồng ruộng khô khốc, xám xịt và bốc mùi hôi thối nồng nặc, cả những vùng đầm lầy lẫn gò đất cũng vậy. Thật khó thở và tất cả những chồi non xanh tươi đều bị thiêu rụi hoàn toàn không một giọt nước trong suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng mà chẳng ai nhớ nổi đã từng có năm nào như thế. Những nụ hoa hồng đều chuyển sang màu nâu rồi héo rũ, và trên các ngọn đồi chẳng còn gì ngoài cỏ khô cùng củi mục sẵn sàng bén lửa ngay từ tia lửa đầu tiên. Khắp thế gian đều bàn tán rằng, theo những gì họ biết, cơn gió lớn hồi tháng Hai năm ngoái – thứ từng tàn phá vùng đất này thật đáng thương – cũng chỉ là chuyện nhỏ so với sự khô cằn này. Nhưng chẳng mấy chốc, như đã nói, vào chiều tối nay sau khi mặt trời lặn, gió thổi từ hướng tây, những đám mây lớn sưng phồng xuất hiện khi màn đêm dày đặc hơn, và những kẻ am hiểu thời tiết ngước nhìn lên; ban đầu là vài tia chớp lóe ngang, rồi sau mười giờ tối, một tiếng sấm lớn vang lên kèm theo tiếng gầm dài, chỉ trong chớp mắt mọi người đều chạy tháo thân vào trong nhà tránh cơn mưa rào nặng hạt, đàn ông dùng khăn hoặc áo choàng che tạm cho đống rơm, còn phụ nữ thì nhấc váy cắm cổ chạy ngay khi dòng nước trút xuống. Tại quảng trường Ely, phố Baggot, bãi cỏ Duke, rồi băng qua công viên Merrion ngược lên phố Holles, một dòng nước chảy xiết ngập tràn nơi trước đó khô khốc như xương và chẳng thấy bóng dáng chiếc xe ngựa hay xe khách nào nữa, nhưng tiếng sét cũng dứt bặt sau cú đánh đầu tiên đó. Ngay đối diện cửa nhà ngài Chánh án tối cao Fitzgibbon (người ngồi ghế thẩm phán cùng luật sư Healy tại vùng đất đại học), Mal. Mulligan – một gã gia đinh vừa rời nhà nhà văn Mr Moore (từng là người theo đạo Công giáo nhưng nay thiên hạ đồn đã cải sang phái William) – tình cờ chạm mặt Alec. Bannon diện chiếc áo khoác ngắn cắt gọn (đang là mốt cùng áo choàng dạ màu xanh Kendal) vừa từ Mullingar đến thị trấn bằng xe khách để thăm người anh họ và em trai của Mal M., những kẻ sẽ ở lại đây một tháng nữa cho đến ngày lễ Thánh Swithin; hắn ta hỏi Alec làm quái gì ở đây, còn bản thân hắn thì đang trên đường về nhà Andrew Horne vì bị giữ lại để chén chú chén anh một ly rượu, nhưng hắn sẽ kể cho nghe về một cô ả bò tót phổng phao béo múp míp từ gót chân lên, và suốt thời điểm ấy trời vẫn mưa xối xả thế là cả hai cùng tiến về nhà Horne. Ở đó, Leop. Bloom của tờ báo *Crawford* đang ngồi ấm cúng cùng một lũ bạn ranh mãnh, toàn những gã hay gây sự: Dixon con, học sinh của nữ tu viện Mercy; Vin. Lynch, một gã người Scotland; Will. Madden; T. Lenehan đang vô cùng buồn bã vì con ngựa đua mà hắn đặt cược; và Stephen D. Leop. Bloom có mặt ở đó vì chứng mệt mỏi nhưng nay đã đỡ hơn, sau khi tối nay ông mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ về người vợ Moll đi đôi giày đỏ trong chiếc quần phồng Thổ Nhĩ Kỳ — điều mà những kẻ am tường cho là điềm báo về một sự thay đổi; cùng với bà Purefoy ở đó, người đã lọt vào nhờ cái bụng bầu vượt mặt, và giờ đang ngồi trên ghế, tội nghiệp thay, đã quá ngày dự sinh hai ngày, các bà mụ vô cùng vất vả mà vẫn chưa thể đỡ đẻ được, nàng đang nôn nao thèm một bát cháo gạo vốn là thứ làm khô ráo ruột gan rất hiệu quả, hơi thở nặng nhọc hơn bình thường và đứa trẻ sinh ra hẳn sẽ là một gã trai tráng lực điền nhờ những cú đạp mạnh mẽ, hy vọng Chúa sẽ sớm ban cho nàng mẹ tròn con vuông. Nghe nói đây là đứa con thứ chín còn sống của nàng, và ngày lễ Đức Mẹ vừa rồi đã cắn đứt móng tay của đứa con út khi ấy tròn một tuổi, cộng thêm ba đứa khác được bú sữa mẹ đều đã qua đời được ghi chép cẩn thận bằng nét chữ nắn nót trong cuốn Kinh thánh của nhà vua. Chồng nàng ngoài năm mươi, theo phái Giám lý nhưng vẫn chịu rước lễ và thường được nhìn thấy vào mọi ngày Sa-bát đẹp trời cùng hai cậu con trai ở cảng Bullock thả câu trên vùng nước sâu với chiếc cần máy nặng hoặc trên chiếc xuồng câu cá bơn và cá tráp, nghe nói bắt được một giỏ cá kha khá. Tóm lại là một trận mưa lớn vô cùng, mọi thứ đều được hồi sinh và sẽ làm tăng đáng kể vụ mùa sắp tới, dẫu những kẻ am tường nói rằng sau gió và nước sẽ là lửa theo điềm báo trong lịch của Malachi (và tôi nghe nói ông Russell đã làm một bùa hộ mệnh tiên tri có nội dung tương tự dịch từ tiếng Hindustan cho tờ báo nhà nông của ông ấy) để gom lại ba điều trong một, nhưng đây chỉ là một trò bịp bợm vô căn cứ của mấy bà già và trẻ con, dẫu đôi khi chúng lại đoán trúng phóc với những điều kỳ quái chẳng biết đường nào mà lần.

Đúng lúc ấy, Lenehan tiến đến chân bàn để thông báo rằng bức thư đã được đăng trên tờ báo chiều nay, và hắn làm bộ tìm kiếm xung quanh người (thề thốt đủ điều rằng hắn đã cất công vì nó lắm), nhưng trước sự nài nỉ của Stephen, hắn đành bỏ dở việc tìm kiếm và được mời ngồi xuống gần đó, hắn liền ngồi xuống với vẻ vô cùng lanh lợi. Hắn là một kiểu quý ông ham vui chuyên đóng vai hề hoặc kẻ hề trung thực, và bất cứ chuyện gì liên quan đến phụ nữ, ngựa đua hay chuyện tai tiếng giật gân đều nằm lòng trong tay. Nói thật thì gia cảnh hắn nghèo túng, hầu hết thời gian toàn la cà quanh các quán cà phê và quán rượu bình dân cùng với bọn môi giới, nài ngựa, kẻ cá cược, đám người phố Paul, tay sai vặt, dân cờ bạc, mấy ả lầu xanh và đủ loại giang hồ cờ bạc bịp bô nhố nhác khác, hoặc lảng vảng với mấy tên cảnh sát túc trực ban đêm cho đến tận sáng bạch để thu lượm những mẩu chuyện phiếm lặt vặt sau những ly rượu mạnh. Hắn thường ăn cơm bình dân ở quán bói cá, và nếu kiếm được đợt thức ăn thừa nào hoặc một đĩa lòng bò với vỏn vẹn một đồng xu cắc củm trong túi, hắn luôn biết cách tự cứu mình bằng cái lưỡi dẻo quẹo cùng mấy câu tục tĩu bậy bạ học được từ mấy ả đĩ điếm nào đó khiến cả đám cười lăn cười bò vỡ cả bụng. Gã kia, tức Costello, nghe đoạn đối thoại liền hỏi đó là thơ ca hay truyện kể. Thật có trời mới biết, hắn đáp, Frank (đó là tên hắn), toàn là chuyện bò Kerry sắp bị đem đi mổ vì dịch bệnh cả đấy. Nhưng mặc thây chúng đi, hắn nháy mắt nói, với đống thịt bò rẻ rúng ấy, quỷ tha ma bắt nó đi. Trong cái hộp thiếc này vẫn còn khối con cá ngon lành chẳng kém gì hàng thượng hạng, và hắn thân thiện ngỏ ý muốn ăn thử mấy con cá trích muối đang bày sẵn mà nãy giờ hắn vẫn thèm thuồng đưa mắt nhìn, tìm đúng cái chỗ mà thực ra chính là mục đích chính trong chuyến viếng thăm của hắn vì bụng đang đói cào cào. *Mort aux vaches*, Frank cất lời bằng tiếng Pháp, kẻ từng ký hợp đồng làm việc cho một tay buôn rượu mạnh có hầm rượu ở Bordeaux, và hắn nói tiếng Pháp chuẩn như một quý ông thực thụ. Ngay từ nhỏ, Frank này đã là một đứa trẻ bất kham khiến cha hắn — một viên cảnh sát trưởng, người vốn chật vật mới dạy nổi hắn học chữ và cách sử dụng quả địa cầu — phải cho ghi danh vào đại học để học ngành cơ khí, nhưng hắn cứ chứng nào tật nấy như một con ngựa bất kham, quen thuộc với chốn công đường và lính tráng hơn là sách vở. Có lúc hắn làm diễn viên kịch, rồi làm người cung cấp hậu cần hoặc tay cá cược bịp, lúc khác lại lao vào sới vật chọi gà, rồi lại mơ chuyện ra khơi hoặc lang thang trên các con đường cùng tộc người Romany, bắt cóc con trai thừa kế của một điền chủ nhờ ánh trăng che chở, trộm quần áo của các cô hầu hay bóp cổ gà phía sau hàng rào. Hắn đã chết đi sống lại qua bao lần như mèo chín mạng và mỗi lần trở về túi lại rỗng tuếch đến gặp cha hắn — viên cảnh sát trưởng từng rơi không biết bao nhiêu nước mắt mỗi khi nhìn thấy hắn. Ngài Leopold khoanh tay hỏi với vẻ đầy nghiêm túc muốn tìm hiểu đầu đuôi sự tình: Thế hóa ra họ sẽ giết thịt tất cả sao? Tôi xin thề là chính mắt tôi sáng nay còn thấy chúng đang được lèo lái lên các chuyến tàu đi Liverpool, ông nói. Tôi khó lòng tin mọi chuyện lại tệ đến thế, ông nói. Và ông có kinh nghiệm về những loại gia súc tương tự, bò tơ, cừu non béo mục cùng len cừu, bởi ông từng có vài năm làm nhân viên kiểm toán cho ông Joseph Cuffe — một tay buôn súc vật và tổ chức đấu giá đồng cỏ có tiếng ngay cạnh bãi của ông Gavin Low trên phố Prussia. Tôi hoài nghi chuyện đó đấy, ông nói. Khả năng cao là bệnh ho hay bệnh nghẽn cổ họng hơn. Cậu Stephen, hơi xúc động nhưng đáp lời vô cùng lịch thiệp rằng không có chuyện đó, và rằng cậu nhận được công hàm từ đặc phái viên gãi ngứa hàng đầu của hoàng đế cảm ơn vì sự hiếu khách, đang phái sang đây Bác sĩ Rinderpest – chuyên gia bắt bò sừng sỏ nhất xứ Muscovy, mang theo vài viên thuốc để nắm lấy sừng con bò đực. Nào nào, ngài Vincent nói, nói chuyện thẳng thắn đi chứ. Hắn sẽ tự đẩy mình vào thế tiến thoái lưỡng nan nếu dám dây dưa với một con bò đực gốc Ireland đấy, cậu nói. Mang tên Ireland và bản chất cũng là Ireland, cậu Stephen nói và khua ly bia sủi tăm xung quanh, một con bò đực Ireland giữa tiệm đồ sứ Anh quốc. Tôi hiểu ý anh rồi, cậu Dixon nói. Chính là con bò đực từng được gửi đến hòn đảo của chúng ta bởi bác nông dân Nicholas — tay chăn nuôi gia súc cừu khôi nhất trong số đó, với một chiếc nhẫn ngọc lục bảo xỏ qua mũi. Anh nói chuẩn không cần chỉnh, cậu Vincent chớp mắt nói vọng qua bàn, và trúng ngay hồng tâm nữa chứ, một con bò đực béo tốt và lực lưỡng hơn thế, cậu ta nói, chưa từng ị lên cỏ ba lá bao giờ. Nó có vô số sừng, bộ áo choàng bằng vải dệt kim tuyến vàng và hơi thở thơm mùi khói phả ra từ lỗ mũi khiến phụ nữ trên hòn đảo của chúng ta vứt bỏ cả bột nhào lẫn cán bột, lũ lượt kéo theo sau để đeo tràng hạt hoa cúc quanh cổ con bò đực uy quyền ấy. Vì sao lại thế, cậu Dixon nói, nhưng trước khi hắn đến đây, bác nông dân Nicholas — vốn là một kẻ hoạn quan — đã cho một hội đồng y sĩ chẳng hơn gì lão ta thiến hắn một cách cẩn thận. Cho nên cút đi, lão ta nói, và hãy làm theo mọi điều người anh em họ hàng đời thứ nhất của ta là lãnh chúa Harry bảo, nhận lấy phước lành của người nông dân, và đoạn lão vỗ mạnh vào mông con vật một cái rõ kêu. Nhưng cái tát và lời phước lành ấy lại giúp ích cho hắn, cậu Vincent nói, để bù đắp lại, lão ta dạy cho hắn một mánh khóe ăn đứt những thứ kia, đến mức gái tơ, vợ người, viện mẫu và bà góa cho đến tận ngày nay vẫn khẳng định rằng họ thà có những phút giây thì thầm vào tai hắn trong bóng tối của chuồng bò hoặc nhận một cái liếm trên gáy từ chiếc lưỡi dài thánh thiện của hắn vào bất kỳ ngày nào trong tháng còn hơn là ân ái với gã trai trẻ cường tráng đẹp mã nhất trong cả bốn miền Ireland. Một kẻ khác liền chen vào: Và họ mặc cho hắn chiếc áo lót ren cùng váy đầm kèm khăn choàng cổ, thắt lưng và ren ở cổ tay, cắt tỉa tóc mai, xoa đắp khắp người bằng dầu cá voi, đồng thời xây chuồng cho hắn ở mọi ngã rẽ trên đường, bên trong đặt chiếc máng ăn bằng vàng đầy ắp thứ cỏ ngon nhất chợ để hắn có thể thỏa thích ngủ nghỉ và phóng uế. Đến lúc đó thì vị cha chung của các tín đồ (họ gọi hắn như thế) đã trở nên nặng nề đến mức khó lòng đi nổi ra đồng cỏ. Để khắc phục điều này, những cô nàng lẳng lơ của chúng ta mang thức ăn đến tận tà áo cho hắn, và ngay khi cái bụng đã căng tròn, hắn liền chồm hai chân sau lên để khoe với các phu nhân một bí mật, cất tiếng gầm rống bằng ngôn ngữ loài bò khiến họ lũ lượt bám theo sau. Đúng thế, một kẻ khác phụ họa, và hắn được cưng chiều đến mức chẳng chịu để cho bất kỳ thứ gì mọc lên trên khắp mảnh đất ngoài cỏ xanh dành riêng cho hắn (vì đó là màu duy nhất lọt mắt xanh hắn), và người ta cắm một tấm biển trên gò đất giữa hòn đảo với dòng chữ in: Thề có lãnh chúa Harry, cỏ mọc trên mặt đất phải là màu xanh. Và, cậu Dixon nói, nếu hắn đánh hơi thấy một tên ăn cắp gia súc nào ở Roscommon, vùng hoang dã Connemara, hay một lão nông dân ở Sligo đang gieo dù chỉ một nhúm hạt mù tạt hoặc một bao hạt cải dầu, hắn sẽ lập tức nổi điên càn quét qua nửa vùng nông thôn, dùng sừng húc tung mọi thứ được trồng trọt lên và tất cả đều theo lệnh của lãnh chúa Harry. Ban đầu giữa họ có sự bất hòa, cậu Vincent nói, và lãnh chúa Harry gọi bác nông dân Nicholas là mọi cái tên Nick già tồi tệ trên đời, là một lão già chuyên đú đởn gái gú nuôi tới bảy ả tình nhân trong nhà, và tao sẽ can thiệp vào chuyện của lão, hắn nói. Tao sẽ cho con vật đó ngửi thấy mùi địa phương hỏa ngục, hắn nói, với sự trợ giúp của cái của quý tuyệt vời mà cha tao để lại cho. Nhưng một buổi tối nọ, cậu Dixon kể, khi lãnh chúa Harry đang kỳ cọ bộ da hoàng gia của mình để chuẩn bị đi ăn tối sau khi chiến thắng một cuộc đua thuyền (hắn tự dùng mái chèo mái dầm nhưng quy tắc đầu tiên của cuộc đua là những kẻ khác phải chèo bằng chĩa ba), hắn phát hiện ra bản thân có sự giống kỳ lạ với một con bò đực; và khi nhặt một cuốn sách nhỏ bìa đen đóng gáy giấu trong phòng đựng thức ăn, hắn quả nhiên phát hiện ra mình là hậu duệ thuận tay trái của nhà vô địch bò đực nổi tiếng người La Mã — Bos Bovum, dịch theo tiếng Latinh bần cùng có nghĩa là sếp của sòng bạc. Sau đó, cậu Vincent nói, lãnh chúa Harry cắm đầu vào chiếc máng uống nước của bò trước mặt toàn thể triều thần, rồi rút đầu lên và thông báo cho họ cái tên mới của mình. Thế rồi, với dòng nước nhỏ giọt ròng ròng trên người, hắn mặc chiếc áo thụng và váy cũ từng thuộc về người bà của mình, mua một cuốn ngữ pháp tiếng bò về học nhưng chẳng bao giờ học nổi lấy một từ, ngoại trừ đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất mà hắn viết to đùng rồi học thuộc lòng; và hễ đi dạo đâu là hắn nhét đầy túi phấn để viết từ ấy lên bất cứ thứ gì lọt vào mắt xanh — từ vách đá, bàn trà cho đến kiện bông hay phao nút chai. Tóm lại, chẳng mấy chốc hắn và con bò đực Ireland đã thân thiết như hình với bóng. Quả thực là thế, cậu Stephen nói, và cái kết là dân trên đảo thấy không còn cách nào cứu vãn, vì lũ phụ nữ vô ơn đều chung một lòng, liền đóng một chiếc bè mỏ neo, chất đồn điền và hành lý lên tàu, dựng đứng mọi cột buồm, tung buồm, đón gió, vòng qua, căng ba cánh buồm trước gió, hướng mũi tàu đối diện gió và nước, nhổ neo, bẻ lái, giương cao lá cờ cướp biển hải tặc, hô vang ba lần ba tiếng hò reo, khởi động máy đẩy, đẩy thuyền thúng ra khơi để tìm lại đại lục châu Mỹ. Đó chính là nguồn gốc, cậu Vincent nói, của bài ca thủy thủ rôm rả được sáng tác bởi một bác quản ca:

— Giáo hoàng Phê-rô chẳng qua chỉ là một gã đái dầm.

Dẫu thế nào thì đàn ông vẫn là đàn ông.

Quả nhân quen thuộc đáng kính của chúng ta – ngài Malachi Mulligan – giờ đây xuất hiện ở khung cửa khi các sinh viên sắp kết thúc câu chuyện ngụ ngôn của họ, đi cùng một người bạn vừa mới hội ngộ, một thanh niên tên là Alec Bannon vừa đến thị trấn với ý định mua một chức thiếu úy hoặc cờ úy trong lực lượng dân quân rồi tòng quân ra trận. Ngài Mulligan tỏ ra vô cùng lịch sự khi bày tỏ sự thích thú đối với toàn bộ câu chuyện, nhất là khi nó hoàn toàn trùng khớp với kế hoạch riêng của ông nhằm chữa trị chính căn bệnh vừa được nhắc đến. Nói đoạn, ông phát tay cho mọi người một tập danh thiếp bằng bìa cứng vừa được in tại xưởng của ông Quinnell trong ngày, trên in dòng chữ bằng chữ nghiêng thanh nhã: *Mr Malachi Mulligan. Nhà kiến tạo và phân bón. Đảo Lambay*. Kế hoạch của ông, như ông tiếp tục diễn giải, là rút lui khỏi vòng xoáy những cuộc vui nhàn rỗi vốn là công việc chính của ngài Fopling Popinjay và ngài Milksop Quidnunc ở thị trấn, để hiến dâng bản thân cho sứ mệnh cao quý nhất mà cơ thể chúng ta được tạo ra để thực hiện. Nào, xin hãy nghe ông ấy trình bày đi, người bạn tốt của tôi, ngài Dixon nói. Tôi cá chắc là nó dính dáng đến chuyện gái gú. Nào, xin mời cả hai ngồi xuống. Ngồi cũng tốn ít sức như đứng thôi. Ngài Mulligan nhận lời mời và vừa say sưa giảng giải về dự án của mình, vừa kể cho thính giả nghe rằng ông được dẫn dắt đến ý tưởng này sau khi suy ngẫm về nguyên nhân của tình trạng vô sinh — cả vô sinh do ức chế lẫn vô sinh do cấm đoán, bất kể sự ức chế đó bắt nguồn từ những phiền toái trong hôn nhân hay sự bủn xỉn của tài chính, cũng như việc sự cấm đoán xuất phát từ khiếm khuyết bẩm sinh hay từ những thói hư tật xấu tích tụ. Ông cảm thấy vô cùng đau đớn khi nhìn thấy chiếc giường tân hôn bị tước đoạt những món bảo bối quý giá nhất; và nghĩ đến biết bao người phụ nữ duyên dáng với của hồi môn kếch xù lại phải làm mồi cho lũ tăng lữ đê tiện nhất — những kẻ giấu ngọn đuốc của mình dưới giùng trong một xó tu viện lạc lõng hoặc đánh mất nét xuân sắc đàn bà trong cái ôm của một gã tình nhân kỳ quặc nào đó, trong khi họ hoàn toàn có thể nhân lên những ngõ ngách của hạnh phúc, hy sinh viên ngọc vô giá của giới tính mình trong khi có hàng trăm chàng trai khôi ngô sẵn sàng ve vãn — điều này, ông khẳng định, khiến trái tim ông phải rớm máu. Để chặn đứng sự bất tiện này (mà ông kết luận là do sự kìm nén nhiệt lượng tiềm ẩn), sau khi tham khảo ý kiến của một số cố vấn đắc lực và khảo sát kỹ lưỡng vấn đề này, ông đã quyết định mua đứt vĩnh viễn quyền sở hữu đất đai của đảo Lambay từ chủ nhân của nó là lãnh chúa Talbot de Malahide — một quý ông phái Bảo thủ có tiếng rất được lòng giới cầm quyền của chúng ta. Ông dự định sẽ thiết lập ở đó một trang trại phân bón quốc gia mang tên Omphalos, dựng lên một cột tháp bằng đá được đẽo tạc theo phong cách Ai Cập, đồng thời dâng hiến dịch vụ điền chủ tận tụy của mình để thụ tinh cho bất kỳ người phụ nữ thuộc tầng lớp xã hội nào cất công đến đó với mong muốn thực hiện thiên chức tự nhiên của họ. Tiền bạc không phải là vấn đề, ông nói, và ông cũng chẳng màng lấy một xu cho công sức của mình. Kẻ ăn mày nghèo hèn nhất cho đến quý bà thời thượng giàu có, miễn là cấu trúc cơ thể và tâm trạng của họ đủ nồng nhiệt để khẩn cầu, đều sẽ tìm thấy ở ông người đàn ông của họ. Về phần dinh dưỡng, ông cho thấy bản thân sẽ nuôi dưỡng cơ thể hoàn toàn bằng chế độ ăn gồm các loại củ thơm ngon, cá và thỏ rừng — thịt của loài gặm nhấm sinh sôi nảy nở này được khuyến khích rất nhiều cho mục đích của ông, vừa được nướng vừa hầm cùng một lát nhục đậu khấu và một hai quả ớt cay. Sau bài giảng đạo được thể hiện với đầy nhiệt huyết khẳng định ấy, ngài Mulligan chớp nhoáng tháo chiếc khăn tay từng dùng để che chiếc mũ ra. Cả hai, xem ra, đều đã bị cơn mưa bắt kịp, và dù đã cố gắng rảo bước nhanh, họ vẫn bị ngấm nước, có thể thấy rõ qua chiếc quần nhỏ bằng vải len xám thô ráp của ngài Mulligan nay đã loang lổ vài chỗ. Trong khi đó, dự án của ông được cử tọa đón nhận vô cùng thiện cảm và giành được những lời ngợi ca nhiệt thành từ tất cả, dẫu ngài Dixon ở nhà thương Mary phản đối bằng cách cất giọng điệu kiểu cách hỏi rằng có phải ông đang định chở than về Newcastle hay không. Tuy nhiên, ngài Mulligan nhanh chóng lấy lòng giới học giả bằng một câu trích dẫn kinh điển rất phù hợp — câu nói đọng lại trong trí nhớ khiến ông cảm thấy đó là sự ủng hộ vững chắc và tinh tế cho lập luận của mình: *Talis ac tanta depravatio hujus seculi, O quirites, ut matresfamiliarum nostrae lascivas cujuslibet semiviri libici titillationes testibus ponderosis atque excelsis erectionibus centurionum Romanorum magnopere anteponunt* — trong khi đối với những kẻ có trí tuệ thô kệch hơn, ông xoáy sâu vào lập luận bằng những ẩn dụ từ vương quốc động vật gần gũi với dạ dày của họ hơn, chẳng hạn như con hươu đực và hươu cái trong thảm rừng, hay con vịt đực vịt cái ở nông trại.

Tự hào không kém về sự thanh lịch của bản thân, vốn là một người đàn ông có tướng mạo đường hoàng, gã nhiều chuyện này giờ đây quay sang chỉnh trang y phục và cằn nhằn đầy cay đắng về sự thất thường đột ngột của thời tiết, trong khi đám đông tiếp tục tung hô hết lời cho dự án mà hắn vừa đưa ra. Vẻ phấn khích ngập tràn vì một sự việc vừa xảy ra với mình, chàng thanh niên trẻ — bạn của hắn — không kìm được lòng liền kể lại cho người ngồi cạnh nghe. Nhìn thấy chiếc bàn, ngài Mulligan bỗng cất tiếng hỏi đám bánh mì và cá ấy là của ai; và khi nhìn thấy người lạ mặt, ông cúi mình chào lịch sự và cất lời: Thưa ngài, có phải ngài đang cần sự trợ giúp chuyên môn nào mà chúng tôi có thể cung cấp không? Nghe lời đề nghị ấy, người kia chân thành cảm ơn, dù vẫn giữ một khoảng cách nhất định, và đáp rằng ông đến đây vì một người phụ nữ hiện là bệnh nhân trong nhà của Horne, đang trong tình trạng nguy khốn vì nỗi đau của phụ nữ (và đến đây ông thở dài một tiếng thật sâu) để muốn biết nàng đã hạ sinh an toàn hay chưa. Để đánh trống lảng, ngài Dixon bèn quay sang hỏi chính ngài Mulligan rằng cái bụng hơi phệ bắt đầu nhú lên của ông — thứ mà cậu vừa châm chọc — có phải là dấu hiệu của việc mang thai trứng ở túi tinh hay tử cung nam giới, hay là do một con sói trong dạ dày giống như trường hợp của vị danh y nổi tiếng Austin Meldon. Để đáp lại, ngài Mulligan phá lên cười ngặt nghẽo ngay giữa vùng bụng nhỏ của mình, vỗ mạnh xuống dưới cơ hoành với màn nhại lại vô cùng duyên dáng và hài hước của Mụ Grogan (sinh vật xuất sắc nhất trong giới tính của mụ, dẫu thật đáng tiếc khi mụ là một ả đàn bà lẳng lơ): Đây là cái bụng chưa từng mang thai con hoang nào. Đây là một ý tưởng vô cùng dí dỏm khiến cơn bão tiếng cười bùng nổ trở lại, đẩy cả căn phòng vào cơn hoan hỉ náo động tột độ. Gã láu cá lanh lợi chắc hẳn đã tiếp tục tràng nhại lại ấy nếu không có tiếng chuông reo vang ở phòng đợi.

Lúc này, vị thính giả không ai khác chính là chàng sinh viên người Scotland — một gã nóng tính nhỏ con, tóc vàng óng như lanh — nhiệt liệt chúc mừng chàng thanh niên trẻ, đoạn ngắt quãng câu chuyện ở một cao trào, dùng cái gật đầu lịch sự ra hiệu cho người đối diện ơn huệ chuyền cho mình vạc nước ấm, đồng thời với một cử chỉ nghiêng đầu đầy hỏi han (cả một thế kỷ giáo dưỡng lịch lãm cũng chưa chắc đạt được một cử động tinh tế nhường ấy) kết hợp với động tác cân bằng chiếc chai tương ứng, hắn hỏi người kể chuyện một cách rành mạch chưa từng thấy rằng liệu hắn có được phép mời ngã mạt một chén hay không. *Mais bien sûr*, ngài khách quý cao thượng, hắn vui vẻ đáp, *et mille compliments*. Anh hoàn toàn có thể và thật là đúng lúc làm sao. Chẳng còn thiếu thứ gì ngoài chén rượu này để tôn lên niềm hạnh phúc tột cùng của tôi. Nhưng lạy Chúa nhân từ, nếu tôi chỉ còn lại vỏn vẹn một mẩu bánh mì khô trong túi và một ngụm nước suối, lạy Chúa, tôi cũng xin nhận lấy và quỳ rạp xuống mặt đất để dâng lời cảm ơn tột cùng lên các đấng tối cao vì hạnh phúc mà Đấng Ban Ân Phủng đã rủ lòng ban phát cho tôi. Nói đoạn, hắn đưa chiếc cốc lên môi, nhấp một ngụm rượu ấm lòng đầy mãn nguyện, vuốt lại mái tóc và mở hé ngực áo, để lộ ra một chiếc huy hiệu lủng lẳng treo trên sợi ruy-băng lụa — chính là bức chân dung mà hắn vẫn hằng nâng niu kể từ ngày bàn tay nàng viết lên đó. Đăm đăm ngắm nhìn những đường nét ấy với muôn vàn dịu dàng, Ồ, thưa ngài, hắn nói, giá như ngài cũng được tận mắt chứng kiến nàng ở khoảnh khắc xúc động ấy với chiếc cổ áo ren xinh xắn cùng chiếc mũ điệu đà mới tinh (một món quà nhân ngày lễ của nàng như nàng đã thì thầm đáng yêu với tôi) trong một vẻ bề ngoài tự nhiên không chút cố tạo, với sự dịu dàng tan chảy đến thế, thề có danh dự của tôi, ngay cả ngài, thưa ngài, cũng sẽ bị bản chất hào phóng thôi thúc mà hiến dâng trọn vẹn bản thân vào tay một kẻ thù đáng yêu như thế, hoặc từ bỏ chiến trường vĩnh viễn. Tôi xin thưa, chưa bao giờ trong đời tôi lại xúc động đến nhường này. Lạy Chúa, con tạ ơn Ngài – Đấng Sáng Tạo của đời con! Hạnh phúc thay kẻ được một sinh linh đáng yêu nhường ấy ban ơn phước. Một tiếng thở dài chan chứa tình cảm đã làm cho những lời ấy thêm phần hùng hồn; và sau khi nhét lại chiếc huy hiệu vào ngực áo, hắn lau mắt rồi lại thở dài lần nữa. Đấng Phân Phát Ân Phủng nhân từ đến muôn loài, sự ngọt ngào của những thứ xiềng xích mà Ngài ban tặng phải vĩ đại và bao la biết bao khi nó có thể giam cầm cả kẻ tự do lẫn người nô lệ, từ anh chàng nông dân chất phác đến gã công tử bột chải chuốt, từ người tình đang trong những ngày tháng đam mê cuồng nhiệt cho đến người chồng đã trải qua năm tháng tuổi tác. Nhưng quả thật, thưa ngài, tôi đang đi lạc đề rồi. Mọi niềm vui trần thế của chúng ta sao mà pha trộn và bất toàn đến thế. *Maledicity!* hắn thốt lên đầy đau đớn. Ước gì Chúa nhắc nhở tôi mang theo chiếc áo choàng! Tôi có thể khóc lên được khi nghĩ đến điều đó. Thế thì, dẫu trời có trút xuống bảy trận mưa rào, cả hai chúng tôi cũng chẳng mất xu mẻ nào. Nhưng khỉ thật, hắn thốt lên, vỗ tay vào trán, ngày mai sẽ là một ngày mới, và ngàn sấm sét ơi, tôi biết có một *marchand de capotes*, ngài Poyntz, nơi tôi có thể mua được một chiếc áo choàng kiểu Pháp vừa vặn ấm áp đúng chuẩn với giá một đồng livres để giữ cho các quý cô không bị ướt. Thôi nào, thôi nào! Le Fécondateur bước chen vào thốt lên, người bạn của tôi – ngài Moore, nhà lữ hành lỗi lạc nhất (tôi vừa khui nửa chai *avec lui* cùng nhóm trí thức xuất sắc nhất thị trấn) — chính là nguồn tin đáng tin cậy của tôi rằng ở Mũi Horn, *ventre biche*, họ có những trận mưa đủ sức làm ướt sũng bất kỳ chiếc áo choàng nào, dù là loại dày dặn nhất. Một trận lụt khủng khiếp đến thế, hắn kể không hề nói xạo, *sans blague*, đã đưa không ít kẻ xấu số thực sự bước thẳng sang thế giới bên kia với tốc độ nhanh chóng mặt. Phí phạm! Một đồng livres ư! Ngài Lynch kêu lên. Những thứ cồng kềnh đó đắt đỏ chẳng đáng một xu. Một chiếc ô, dẫu có nhỏ bằng cái nấm tiên đi chăng nữa, cũng đáng giá gấp mười lần những thứ vá víu ấy. Chẳng có người phụ nữ thông minh nào lại đi mặc cái đó cả. Cô Kitty thân yêu của tôi hôm nay nói với tôi rằng thà cô ấy nhảy múa giữa trận hồng thủy còn hơn phải chết đói trong chiếc áo phao cứu sinh ấy, bởi vì, như cô ấy nhắc nhở tôi (đỏ mặt đầy vẻ tinh quái và thì thầm vào tai tôi dẫu chẳng có ai ngoài những chú bướm lượn lờ để hớt tay trên lời cô ấy), mẹ Tự nhiên, nhờ hồng ân thần thánh, đã khắc sâu vào lòng chúng ta và trở thành một câu cửa miệng rằng *il y a deux choses* mà sự ngây thơ của bộ trang phục nguyên thủy của chúng ta — trong những hoàn cảnh khác vốn là sự phá vỡ các phép tắc — lại là thứ phù hợp nhất, thậm chí là duy nhất. Điều đầu tiên, cô ấy nói (và ở đây nhà triết học xinh đẹp của tôi, khi tôi đỡ nàng lên chiếc xe tilbury để thu hút sự chú ý của tôi, đã nhẹ nhàng chạm chiếc lưỡi vào vành ngoài tai tôi), điều đầu tiên chính là một bồn tắm... Nhưng đến đây, tiếng chuông reo vang ở sảnh đã cắt ngang một bài diễn thuyết hứa hẹn vô cùng hoành tráng nhằm làm giàu thêm kho tàng tri thức của chúng ta.

Giữa bầu không khí náo nhiệt trống rỗng của hội trường, một chiếc chuông vang lên, và trong khi mọi người đang đoán già đoán non nguyên nhân, cô Callan bước vào; sau khi thì thầm vài câu nhỏ nhẹ với cậu Dixon trẻ tuổi, cô lui ra với một cái cúi chào sâu kính trước mọi người. Sự hiện diện dù chỉ trong khoảnh khắc của một người phụ nữ mang trọn phẩm giá khiêm nhường, vừa nghiêm nghị vừa kiềm chế, đã chặn đứng những lời trêu chọc đùa cợt ngay cả của những kẻ đồi bại nhất, thế nhưng sự rời đi của cô lại là ngòi nổ cho một tràng trác táng tục tĩu. Đánh chết tôi đi, Costello — một gã bợm bãi đang ngà ngày say — cất giọng. Quả là một miếng thịt bò mộng tuyệt cú mèo! Tôi dám cá là ả đã hẹn hò với anh rồi. Sao hả đồ chó? Anh có chiêu trò gì với chúng nó à? Lạy chúa, đúng là thế rồi, ngài Lynch đáp. Đó là phong thái bên giường bệnh mà chúng dùng ở nhà tế thế Mater. Chết tiệt, chẳng phải bác sĩ O’Gargle vẫn hay véo cằm các xơ ở đó sao. Thề có ơn cứu rỗi, chính cô Kitty — người làm hộ lý ở đó suốt bảy tháng nay — đã kể cho tôi nghe đấy. Lạy Chúa tôi, thưa bác sĩ, gã thanh niên mặc áo vest màu hoa anh thảo thốt lên, giả bộ làm điệu bộ phụ nữ õng ẹo và ưỡn ẹo những cử chỉ vô sỉ trên cơ thể, sao bác lại hay trêu chọc người ta thế nhỉ! Khỉ thật cái lão này! Lạy Chúa, tôi cứ thấy bủn rủn cả người thế này. Ái chà, bác tệ chẳng kém gì cha Cantekissem đáng yêu đâu đấy nhé! Cái vại bia bốn rưỡi này có nghẹn cổ họng tôi chết tươi đi, Costello gào lên, nếu ả ta không đang mang thai. Tôi thừa biết một ả đang có triệu chứng phù nề chỉ bằng một cái liếc mắt. Tuy nhiên, vị bác sĩ phẫu thuật trẻ tuổi đứng dậy và xin phép hội đồng cho anh được rút lui, vì nữ hộ sinh vừa báo rằng anh có việc cần trong phòng bệnh. Quan phòng nhân từ đã rủ lòng chấm dứt những nỗi thống khổ của phu nhân đang mang thai — người đã kiên cường chịu đựng với sự dũng cảm đáng khen ngợi — và nàng vừa hạ sinh một cậu con trai bụ bẫm. Tôi không thể kiên nhẫn nổi, anh nói, với những kẻ thiếu trí tuệ để làm vui hay thiếu kiến thức để dạy dỗ, lại đi bôi nhọ một nghề nghiệp cao quý vốn — ngoại trừ sự tôn kính dành cho Đấng Tối Cao — chính là cội nguồn sức mạnh lớn nhất mang lại hạnh phúc trên mặt đất này. Tôi dám khẳng định chắc nịch rằng nếu cần thiết, tôi có thể đưa ra một đám đông nhân chứng làm bằng chứng cho sự xuất sắc của những hoạt động cao cả ấy — thứ lẽ ra phải là động lực vinh quang trong lồng ngực con người chứ không phải là trò cười thiên hạ. Tôi không tài nào chịu đựng nổi bọn họ. Sao cơ? Lại đi bôi nhọ một người như thế, cô Callan đáng yêu — người vừa là niềm kiêu hãnh của giới tính nàng vừa là sự kinh ngạc của giới tính chúng ta? Và ngay trong khoảnh khắc trọng đại nhất có thể giáng xuống một đứa trẻ đất sét bé nhỏ? Hãy tiêu đời cái ý nghĩ đó đi! Tôi rùng mình khi nghĩ đến tương lai của một giống loài nơi những hạt giống ác ý ấy được gieo rồng và chẳng có chút tôn trọng chân chính nào dành cho người mẹ và thiếu nữ trong ngôi nhà của Horne. Sau khi trút hết những lời quở trách ấy, anh chào lướt qua những người có mặt rồi tiến về phía cửa. Một tiếng thì thầm tán thành vang lên từ tất cả, và vài kẻ định tống cổ gã bợm bãi thô lỗ ra ngoài ngay lập tức — một kế hoạch suýt chút nữa đã thành hiện thực và hắn sẽ nhận được trọn vẹn hậu quả xứng đáng, nếu như hắn không nhanh chóng cứu vãn lỗi lầm bằng cách thề thốt một câu nguyền rủa ghê rợn (hắn thề một câu rõ to) rằng hắn là một đứa con ngoan của giáo hội chân chính từng cất tiếng khóc chào đời. Chết tiệt thật, hắn nói, đó luôn là tình cảm của Frank Costello chân chất, người được dạy dỗ hết sức cẩn thận phải tôn kính cha mẹ mình — những người có tay nghề làm bánh cuộn hoặc cháo đặc giỏi nhất mà các anh từng thấy — điều mà tôi luôn nhớ lại với một trái tim tràn ngập tình yêu thương.

Trở lại với ngài Bloom, người từ lúc bước vào đã phải hứng chịu vài câu chế giễu vô lễ, nhưng ông vẫn kiên nhẫn chịu đựng vì cho rằng đó là sản phẩm của tuổi trẻ — lứa tuổi thường bị buộc tội là chưa biết đến lòng trắc ẩn. Quả thực, đám thanh niên hiếu động này ngập tràn những trò điên rồ chẳng khác nào những đứa trẻ quá tuổi; những cuộc tranh luận ồn ào của chúng rất khó hiểu và đôi khi chẳng lấy gì làm nhã nhặn; sự cáu kỉnh cùng những câu phát ngôn ngông cuồng của chúng khiến tư duy ông phải lùi bước; chúng cũng chẳng màng giữ gìn phép tắc dẫu nguồn năng lượng dồi dào đầy tính động vật của chúng phần nào gỡ gạc lại được. Nhưng lời nói của gã Costello quả là một thứ ngôn ngữ khó chịu đối với ông, bởi ông cảm thấy buồn nôn trước gã sinh vật tàn tật có cấu trúc quái dị, sinh ra ngoài giá thú và bị tusg quăng như một kẻ lưng gù mọc răng bước giật lùi vào thế giới — điều mà vết kìm của bác sĩ phẫu thuật trên hộp sọ càng làm cho tin đồn thêm phần có cơ sở, khiến ông liên tưởng đến mắt xích còn thiếu trong chuỗi tiến hóa của sự sống mà nhà bác học lỗi lạc Charles Darwin từng khao khát tìm kiếm. Đã hơn nửa đời người được phân bổ cho chúng ta, ông đã trải qua hàng ngàn thăng trầm của sự tồn tại; và với bản tính cẩn trọng cùng khả năng tiên liệu hiếm có của mình, ông đã tự nhủ phải kìm nén mọi sự tức giận đang dâng trào, và bằng cách chặn đứng chúng bằng những biện pháp đề phòng nhanh chóng nhất, nuôi dưỡng trong lồng ngực mình sự bao dung trọn vẹn mà những kẻ tâm địa thấp hèn thường chế giễu, những kẻ phán xét bồng bột khinh miệt, và tất cả mọi người đều xem là dung túng — nhưng chỉ là dung túng ở mức độ vừa phải. Đối với những kẻ tự cho mình là thông minh trên sự tinh tế của phụ nữ (một thói quen tư duy mà ông chưa bao giờ đồng tình), ông không dành cho chúng dù chỉ là cái tên hay truyền thống của một sự giáo dưỡng đàng hoàng; trong khi đối với những kẻ đã mất hết sự kiên nhẫn và chẳng còn gì để mất, vẫn luôn có liều thuốc giải đắng ngắt từ kinh nghiệm để buộc sự xấc láo của chúng phải cuốn xéo trong một cuộc rút lui nhục nhã. Không phải là ông không thể đồng cảm với tuổi trẻ bồng bột — thứ tuổi trẻ chẳng màng đến lời chế nhạo của mấy lão già hay tiếng càu nhàu của kẻ khắc khổ, luôn (như cách diễn đạt thanh tao của Thánh Kinh) muốn nếm thử trái cây cấm — nhưng chưa đến mức đánh mất tính người trong bất kỳ hoàn cảnh nào đối với một quý cô khi nàng đang thực hiện thiên chức hợp pháp của mình. Tóm lại, dẫu từ lời của nữ tu, ông đã tính toán đến một ca vượt cạn nhanh chóng, nhưng quả thực phải thừa nhận rằng ông vô cùng nhẹ nhõm khi biết tin kết quả tốt lành ấy, sau một thử thách đầy gian khổ, lại một lần nữa minh chứng cho lòng thương xót cũng như sự hào phóng của Đấng Tối Cao.

Do đó, ông thổ lộ tâm sự với người hàng xóm, nói rằng theo quan điểm của ông — một kẻ lẽ ra không nên đưa ra ý kiến — thì phải là một kẻ có thể tạng lạnh lùng và thiên bẩm băng giá mới không cảm thấy vui mừng trước tin tức mới mẻ này về sự thành công của ca sinh nở, nhất là khi nàng phải chịu đựng đau đớn mà không hề do lỗi của mình. Chàng thanh niên điệu đà bảo rằng chính người chồng đã đặt nàng vào hoàn cảnh đó, hoặc ít ra thì phải thế, trừ phi nàng lại là một người phụ nữ Ephesus khác. Tôi phải thông báo cho anh biết, ngài Crotthers nói, đập mạnh tay xuống bàn tạo nên một tiếng động vang dội đầy sức nặng, lão già vĩ đại Allelujurum hôm nay lại ghé qua, một ông lão với bộ ria mép rậm rạp, thỏ thẻ qua mũi để hỏi thăm tin tức về Wilhelmina — cuộc đời tôi, theo cách lão gọi nàng. Tôi bảo lão hãy chuẩn bị tinh thần vì sự kiện sẽ bùng nổ bất cứ lúc nào. Chết tiệt, tôi nói thật với anh nhé. Tôi không ngớt ca ngợi sức mạnh nam tính của lão già gân ấy khi vẫn có thể nặn ra thêm một đứa con từ nàng. Tất cả đều hùa vào ca ngợi, mỗi người theo cách riêng của mình, dẫu chàng thanh niên kia vẫn giữ nguyên quan điểm cũ rằng một kẻ khác chứ không phải người chồng hợp pháp mới là thủ phạm thực sự — có thể là một giáo sĩ, một tên chạy vặt (đạo đức) hoặc một kẻ bán dạo những thứ thiết yếu cho mọi gia đình. Thật kỳ lạ làm sao, vị khách thầm suy ngẫm trong lòng, cái khả năng luân hồi vô cùng bất bình đẳng mà họ sở hữu, khi căn phòng sinh nở và phòng giải phẫu lại trở thành cái nôi của sự phù phiếm đến thế, khi việc chỉ có được những học vị hàn lâm lại đủ sức biến những kẻ sùng bái sự nông cạn này thành những người hành nghề mẫu mực của một nghệ thuật mà hầu hết những người có tên tuổi đều trân trọng là cao quý nhất. Nhưng ông lại nói thêm, có lẽ điều đó giúp họ giải tỏa những cảm xúc dồn nén bấy lâu nay thường đè nặng lên họ, bởi tôi đã từng quan sát thấy những kẻ ngưu tầm ngưu mã tầm mã thường cười đùa với nhau.

Nhưng xin hãy hỏi vị lãnh chúa cao quý — ân nhân của hắn — xem với sự đường hoàng nào mà kẻ tha hương này, được sự khoan hồng của một vị hoàng tử nhân từ ban cho quyền công dân, lại tự xưng là chúa tể tối cao của chính sách nội bộ chúng ta? Đâu rồi lòng biết ơn mà lòng trung thành lẽ ra phải mách bảo? Trong cuộc chiến tranh gần đây, bất cứ khi nào kẻ thù giành được chút lợi thế tạm thời bằng những quả lựu đạn, kẻ phản bội giống loài này có chớp lấy thời khắc đó để khai hỏa chống lại đế quốc mà hắn chỉ là một kẻ tá điền ở đậu, trong khi hắn vẫn nơm nớp lo sợ cho sự an toàn của bốn phần trăm cổ phiếu của mình hay không? Hắn đã quên điều đó giống như quên mọi ân huệ từng nhận được sao? Hay là từ một kẻ chuyên lừa gạt kẻ khác, cuối cùng hắn đã tự biến mình thành nạn nhân của chính mình, đúng như lời đồn đại, hắn là kẻ duy nhất tự hưởng thụ bản thân? Tránh xa sự thiên vị việc xâm nhập phòng ngủ của một quý bà đáng kính — con gái của một vị thiếu tá dũng cảm — hay đưa ra bất kỳ bóng gió xa xôi nào về phẩm hạnh của nàng, nhưng nếu hắn thách thức sự chú ý ở đó (điều mà lẽ ra hắn không nên làm nhất vì lợi ích của chính mình), thì cứ thế đi. Người phụ nữ bất hạnh, nàng đã bị từ chối quyền lợi chính đáng quá lâu và quá kiên quyết để có thể lắng nghe những lời chỉ trích của hắn bằng bất kỳ cảm thái nào khác ngoài sự chế giễu của kẻ tuyệt vọng. Hắn nói thế đấy, một kẻ kiểm duyệt đạo đức, một con bồ nông trong sự đạo đức giả của mình, kẻ không ngần ngại vứt bỏ mọi ràng buộc tự nhiên để mưu đồ quan hệ bất chính với một ả nữ tăm tối tột cùng của xã hội! Thậm chí, nếu chiếc chổi cọ của ả đàn bà kia không phải là thiên thần hộ mệnh, thì số phận của ả đã thê thảm chẳng kém gì Hagar người Ai Cập rồi! Trong vấn đề đất chăn thả, sự cáu kỉnh khó chịu của hắn đã nổi danh thiên hạ, và trước mặt ngài Cuffe, nó đã rước lấy cho hắn một lời phản pháo cay đắng từ một chủ trang trại phẫn nộ với những từ ngữ vừa thẳng thắn vừa thô mộc. Thật chẳng xứng tầm chút nào khi hắn đi rao giảng thứ phúc âm ấy. Chẳng lẽ ngay gần nhà, hắn không có một mảnh ruộng bỏ hoang vì thiếu lưỡi cày sao? Một thói quen đáng khiển trách từ tuổi dậy thì nay đã thành bản tính thứ hai và là nỗi ô nhục ở tuổi trung niên. Nếu hắn cứ phải phân phát thứ dầu Gilead của mình bằng những toa thuốc và châm ngôn có gu thẩm mỹ đáng ngờ để cứu chữa cho một thế hệ lũ ăn chơi trẻ ranh, tốt hơn hết hành động của hắn nên phù hợp với những học thuyết đang chiếm hữu tâm trí hắn lúc này. Trái tim của một người chồng chính là kho chứa những bí mật mà phép lịch sự không muốn khơi gợi. Những lời gợi ý đồi bại của một nhan sắc phai tàn nào đó có thể an ủi hắn vì một người vợ bị bỏ bê và bôi nhọ, nhưng nhà cải cách đạo đức kiêm thầy thuốc chữa lành bệnh mới nổi này xét cho cùng cũng chỉ là một cái cây ngoại lai — khi bén rễ ở chốn quê hương phương Đông nguyên thủy của nó, nó đã đơm hoa kết trái và dồi dào nhựa thơm, nhưng khi được bón cấy sang một vùng khí hậu ôn hòa hơn, rễ của nó đã mất đi sức sống thuở ban đầu trong khi thứ chất dịch rỉ ra từ nó thì tù đọng, chua lét và vô dụng.

Tin tức được truyền đạt với sự thận trọng gợi nhớ đến nghi thức của triều đình Sublime Porte bởi nữ hộ lý thứ hai cho vị bác sĩ nội trú trẻ tuổi, người sau đó thông báo cho phái đoàn rằng một người thừa kế vừa ra đời. Khi anh đã lui vào khu vực của phụ nữ để hỗ trợ nghi thức nhau thai theo quy định trước sự chứng kiến của bộ trưởng bộ nội vụ và các thành viên hội đồng cơ mật, trong sự im lặng của sự kiệt sức và tán thành đồng lòng, phái đoàn — đang bứt rứt vì độ dài dòng và trang nghiêm của buổi canh thức cùng hy vọng rằng sự kiện vui mừng này sẽ làm giảm bớt sự lỏng lẻo vốn càng dễ xảy ra do sự vắng mặt đồng thời của nữ tì và bác sĩ — lập tức bùng nổ thành một cuộc tranh cãi hỗn độn. Mọi nỗ lực của ngài đại biểu Bloom nhằm thúc giục, xoa dịu, kiềm chế đều trở nên vô ích. Khoảnh khắc quá thuận lợi để trưng ra thứ thói quen lan man vốn là sợi dây liên kết duy nhất giữa những tâm hồn khác biệt đến thế. Mọi khía cạnh của tình huống lần lượt được mổ xẻ triệt để: sự ghê tởm tiền sản của những người anh em cùng dạ dày, phương pháp sinh mổ, việc đứa trẻ sinh ra sau khi cha qua đời và trường hợp hiếm hoi hơn là sau khi mẹ qua đời, vụ án sát hại anh em được gọi là Vụ án mạng Childs và trở thành ký ức nhờ lời biện hộ đầy cảm xúc của luật sư Bushe giúp tha bổng cho kẻ bị oan sai, quyền con trưởng và phần thưởng của nhà vua cho các cặp sinh đôi sinh ba, những ca sảy thai và phá thai dù được ngụy trang hay công khai, quái thai không tim *in foetu* cùng dị tật mất mặt do tắc nghẽn, chứng thiếu cằm của một số người Trung Hoa không cằm (được dẫn chứng bởi ứng viên Mulligan) do sự tái hợp không hoàn chỉnh của các khối hàm dọc theo đường giữa khiến (như ông nói) tai này có thể nghe được tai kia nói, những lợi ích của việc gây mê hoặc giấc ngủ chốn hoàng hôn, sự kéo dài cơn đau đẻ ở giai đoạn mang thai muộn do áp lực lên tĩnh mạch, sự rò rỉ sớm của nước ối (như minh chứng trong trường hợp thực tế) với nguy cơ nhiễm trùng tử cung đi kèm, thụ nhân tạo bằng ống tiêm, sự co rút tử cung sau thời kỳ mãn kinh, vấn đề duy trì nòi giống trong trường hợp phụ nữ mang thai do bị cưỡng hiếp tội phạm, cách sinh đẻ đau đớn được gọi là *Sturzgeburt* của người Brandenburg, những trường hợp sinh quái thai đa tinh trùng, đa thai hoặc thụ thai trong kỳ kinh nguyệt hoặc từ cha mẹ cùng huyết thống — nói một cách ngắn gọn là tất cả các trường hợp sinh nở của con người mà Aristotle đã phân loại trong kiệt tác của ông kèm theo các minh họa in màu thạch bản. Những vấn đề nghiêm trọng nhất của sản khoa và y học pháp y được mổ xẻ với sự sống động chẳng kém gì những niềm tin phổ biến nhất về trạng thái mang thai như cấm phụ nữ mang thai bước qua hàng rào đồng ruộng kẻo chuyển động của họ làm dây rốn siết cổ đứa trẻ, hay lời dặn dò trong trường hợp có một khát khao mãnh liệt nhưng không được thỏa mãn là hãy đặt tay lên phần cơ thể mà lâu đời nay được tôn thánh là chỗ để trừng phạt. Những dị tật sứt môi, nốt ruồi trên ngực, thừa ngón tay, vết chàm đen của người da đen, vết bớt dâu tây và vết rượu vang được một kẻ đưa ra làm lời giải thích giả định sơ bộ và tự nhiên cho những đứa trẻ đầu heo (trường hợp của phu nhân Grissel Steevens không bị lãng quên) hoặc đầu lông chó đôi khi được sinh ra. Giả thuyết về ký ức nguyên sinh, được đưa ra bởi sứ thần Caledonian và xứng đáng với truyền thống siêu hình học của xứ sở ông đại diện, đã hình dung trong những trường hợp đó sự ngưng trệ phát triển phôi thai ở một giai đoạn nào đó trước khi thành hình con người. Một vị đại biểu ngoại quốc đã bảo vệ trước cả hai quan điểm đó — với sự nhiệt tình gần như thuyết phục — lý thuyết về sự giao hợp giữa phụ nữ và giống đực của loài vật, với căn cứ là lời khẳng định của chính ông nhằm củng cố những câu chuyện thần thoại như Minotaur mà thiên tài của nhà thơ La Mã thanh lịch đã lưu truyền cho chúng ta qua các trang sách *Metamorphoses*. Ấn tượng từ lời nói của ông mang lại thật tức thì nhưng ngắn ngủi. Nó bị xóa nhòa dễ dàng hệt như khi được khơi gợi bởi một bài phát biểu của ứng viên Mulligan theo phong cách hài hước mà không ai giỏi pha trò hơn ông, tôn vinh đối tượng khao khát tối cao là một ông già sạch sẽ tề chỉnh. Cùng lúc đó, một cuộc tranh cãi nảy lửa nổ ra giữa đại biểu Madden và ứng viên Lynch liên quan đến tình thế tiến thoais lưỡng nan về pháp lý và thần học nảy sinh trong trường hợp một trong hai đứa trẻ sinh đôi dính liền qua đời trước đứa kia; khó khăn này được đồng thuận chuyển giao cho đại biểu Bloom để đệ trình ngay lên phó tế phụ tá Dedalus. Nãy giờ vẫn im lặng — không biết là để thể hiện sự trang nghiêm vượt bậc nhằm tô điểm cho phẩm giá bộ trang phục ông đang mặc hay để tuân theo tiếng gọi bên trong — ông ngắn gọn và có phần qua quýt đưa ra sắc lệnh của giáo hội cấm con người chia cắt những gì Chúa đã kết hợp.

Nhưng câu chuyện của Malachias bắt đầu làm họ đông cứng vì kinh hãi. Ông gợi lên trước mắt họ khung cảnh ấy. Tấm ván gỗ bí mật bên cạnh ống khói trượt mở và trong hốc tường xuất hiện... Haines! Ai trong chúng ta mà da gà da gà không nổi gai ốc lên cơ chứ! Gã tay cầm một cặp tài liệu đầy văn học Celtic, tay kia cầm một lọ thuốc nhỏ dán nhãn *Độc dược*. Sự ngạc nhiên, kinh hoàng, ghê tởm hiện lên trên mọiKhuôn mặt trong khi hắn ném về phía họ cái nhìn cười gằn ma quái. Tôi đã lường trước một sự đón tiếp như thế, hắn bắt đầu bằng một tiếng cười rợn người, mà nguyên nhân xem ra lịch sử phải gánh chịu. Vâng, đúng thế. Tôi chính là kẻ sát nhân của Samuel Childs. Và tôi bị trừng phạt biết bao! Địa ngục chẳng có gì đáng sợ đối với tôi cả. Đây chính là diện mạo hiện lên trên người tôi. Máu quỷ thật, tao biết nương náu vào đâu đây, hắn lầm bầm với giọng đặc sệt, khi tao cứ lê la khắp Dublin dạo này với mớ bài hát của tao và gã cứ bám theo tao như một cái bóng ma hay một con quái vật bullawurrus? Địa ngục của tao, và của cả Ireland, nằm ngay trong cuộc đời này. Đó là lý do tao tìm cách xóa nhòa tội ác của mình. Những trò tiêu khiển, bắn quạ, tiếng Erse (hắn đọc vài câu), thuốc phiện (hắn đưa lọ thuốc lên môi), cắm trại ngoài trời. Vô ích! Hồn ma của hắn vẫn ám ảnh tao. Thuốc phiện là niềm hy vọng duy nhất của tôi... Á! Hủy diệt! Con báo đen! Ké thét lên một tiếng rồi biến mất tấm ván trượt đóng lại ngay lập tức. Chỉ một giây sau, cái đầu của hắn xuất hiện ở cánh cửa đối diện và cất tiếng: Hẹn gặp tôi ở ga Westland Row lúc mười một giờ kém mười. Hắn đã biến mất. Nước mắt trào ra từ khóe mắt của người chủ nhà trác táng. Nhà tiên tri giơ tay lên trời, lẩm bẩm: Cuộc báo thù của Mananaun! Nhà hiền triết lặp lại: *Lex talionis*. Kẻ đa cảm chính là kẻ muốn tận hưởng mà không phải gánh chịu món nợ khổng lồ cho một việc đã làm. Malachias bị cảm xúc lấn át, đành nín lặng. Bí ẩn đã được hé lộ. Haines chính là người em thứ ba. Tên thật của hắn là Childs. Con báo đen chính là linh hồn của người cha ruột hắn. Hắn uống thuốc để xóa nhòa quá khứ. Cảm ơn đời vì sự giải thoát này. Ngôi nhà cô độc cạnh nghĩa địa không một bóng người ở. Chẳng có linh hồn nào dám sống ở đó. Con nhện giăng tơ trong chốn hoang vu. Con chuột ban đêm ngó ngoáy từ cái lỗ của nó. Một lời nguyền đang đeo bám nơi đây. Bị ám ảnh. Chốn giậm chân của kẻ sát nhân.

Linh hồn con người thọ bao nhiêu tuổi? Hệt như loài tắc kè hoa có khả năng đổi màu theo mỗi lần tiếp cận mới, biết vui cùng kẻ vui và tang tóc cùng kẻ sầu, tuổi của linh hồn cũng biến hóa khôn lường theo tâm trạng của nó. Giờ đây, Leopold ngồi đó không còn là một nhân viên quảng cáo điềm đạm hay kẻ nắm giữ số vốn khiêm tốn trong quỹ nữa. Hai mươi năm trôi qua trong chớp mắt. Ông trở lại là chàng thanh niên Leopold. Ở đó, như trong một sự sắp đặt hồi tưởng, một chiếc gương lồng trong chiếc gương (phép thuật biến hóa!), ông nhìn thấy chính mình. Hình bóng trẻ trung của thuở ấy hiện lên, ra dáng đàn ông trước tuổi, bước đi trong một buổi sáng se lạnh từ ngôi nhà cũ trên phố Clanbrassil đến trường trung học, chiếc cặp sách vắt chéo như dải băng đạn, bên trong đựng một khúc bánh mì lúa mì thật ngon — chút lòng của người mẹ. Hoặc cũng là hình bóng ấy của một hai năm sau, với chiếc mũ cứng đầu đời (chà, đó là một ngày đặc biệt!), đã bước ra đường, một nhân viên kinh doanh thực thụ của hãng gia đình, trang bị cuốn sổ đặt hàng, chiếc khăn tay thơm mùi nước hoa (không phải để chưng diện), hộp đựng mấy món đồ trang sức lấp lánh (than ôi! giờ đã là dĩ vãng!) cùng một ống tên đầy những nụ cười dễ dãi dành cho mụ nội trợ nửa tin nửa ngờ đang tính toán trên đầu ngón tay, hay cho một thiếu nữ đang chớm nở, thẹn thùng đón nhận (nhưng còn trái tim? hãy nói ta nghe!) những nụ hôn tay được chuẩn bị kỹ lưỡng của ông. Hương thơm, nụ cười, nhưng hơn hết thảy chính là đôi mắt sẫm màu và phong thái ngọt ngào đầy dầu mỡ ấy đã mang về vào lúc chạng vạng không ít đơn hàng cho người đứng đầu hãng, đang ngồi bên lò sưởi gia đình với chiếc tẩu thuốc của Jacob sau những giờ lao động tương tự (chắc chắn một bát mì đang được đun nóng), đọc qua cặp kính gọng tròn tờ báo từ châu Âu của một tháng trước. Nhưng phép màu biến hóa, chiếc gương bị hơi thở làm mờ đi và chàng hiệp sĩ độc hành lùi xa dần, co rút lại, thu nhỏ thành một đốm nhỏ xíu giữa làn sương mù. Giờ đây ông đã là một người cha và những kẻ xung quanh đây có lẽ chính là con trai ông. Ai mà biết được chứ? Người cha khôn ngoan mới hiểu rõ đứa con của mình. Ông nghĩ về một đêm mưa lất phất trên phố Hatch, ngay cạnh những nhà kho ngoại quan ở đó — lần đầu tiên. Cùng nhau (nàng là một đứa trẻ lang thang tội nghiệp, một đứa con của sự ô nhục, của anh, của tôi và của muôn người chỉ đổi lấy vỏn vẹn một đồng xu cắc và một đồng xu may mắn), họ cùng lắng nghe tiếng bước chân nặng nề của đội tuần tra khi hai bóng người mặc áo choàng mưa lướt qua trường đại học hoàng gia mới. Bridie! Bridie Kelly! Ông sẽ chẳng bao giờ quên cái tên đó, mãi mãi khắc ghi đêm ấy: đêm đầu tiên, đêm tân hôn. Họ quấn quýt vào nhau trong bóng tối sâu thẳm nhất, kẻ chủ động và người tình nguyện, và chỉ trong khoảnh khắc (fiat!) ánh sáng sẽ ngập tràn thế giới. Trái tim có rung động trước trái tim không? Không đâu, bạn đọc thân mến. Chỉ trong một nhịp thở là xong xuôi nhưng — chờ đã! Lùi lại! Không được phép xảy ra! Trong hoảng sợ, cô gái tội nghiệp cắm cổ chạy trốn màn đêm u tối. Nàng là cô dâu của bóng đêm, một đứa con của màn đêm. Nàng không dám mang trong mình đứa trẻ vàng óng ánh nắng của ban ngày. Không, Leopold. Danh tiếng và ký ức không thể an ủi nổi ông. Ảo tưởng tuổi trẻ về sức mạnh của ông đã bị tước đoạt — và hoàn toàn vô ích. Chẳng có đứa con trai ruột thịt nào ở bên ông lúc này. Giờ đây chẳng còn ai để làm cho Leopold điều mà Leopold từng làm cho Rudolph.

Những giọng nói hòa quyện và tan chảy vào bầu không gian tĩnh lặng mờ mịt: sự tĩnh lặng chính là sự vô tận của không gian; và một cách chớp nhoáng, âm thầm, linh hồn lướt qua những vùng trời của chu kỳ muôn thế hệ từng sinh sống. Một vùng đất nơi chạng vạng xám xịt luôn buông xuống, chẳng bao giờ rơi trên những đồng cỏ xanh ngắt rộng lớn, buông màn sương chiều, rải rác những giọt sương sao bất tận. Nó bước theo mẹ với những bước đi vụng về, một con ngựa cái dẫn dắt con ngựa tơ của mình. Chúng chỉ là những bóng ma chạng vạng, thế nhưng lại mang dáng vóc được nhào nặn trong vẻ đẹp tiên tri, phần hông thon gọn, chiếc cổ dẻo dai gân guốc, cái đầu hiền từ đầy âu lo. Chúng phai mờ, những bóng ma buồn bã: tất cả đã tan biến. Agendath là một vùng đất hoang vu, là chổ trú ngụ của cú mèo rúc và loài đầu rìu mù cát. Netaim huy hoàng nay không còn nữa. Và trên con đường mây, chúng kéo đến, lầm bầm tiếng sấm của sự nổi loạn — những hồn ma của loài thú. Huuh! Lắng nghe! Huuh! Hiệu ứng thị sai lững thững bám theo và thúc giục chúng, những tia chớp nhói buốt trên trán chính là loài bọ cạp. Hươu đực và bò Tây Tạng, những con bò đực xứ Bashan và Babylon, voi ma mút và voi răng mấu, chúng lũ lượt kéo về vùng biển chìm — Lacus Mortis. Đội quân hoàng đạo đầy điềm báo và thù hận! Chúng rên rỉ lướt qua những tầng mây, đầu mọc sừng và mang dáng dấp dê, loài có sừng và loài có nganh, bờm sư tử và gạc khổng lồ, kẻ ngửi mũi và kẻ bò trườn, loài gặm nhấm, loài nhai lại và loài thú có vó dày, tất cả muôn loài đang chuyển động rên rỉ ấy, những kẻ sát nhân của mặt trời.

Chúng tiếp tục tiến về vùng biển chết để uống dòng nước mặn mòi buồn ngủ vô tận, cơn khát chưa được giải tỏa cùng những tiếng nuốt ực ghê rợn. Và ảo ảnh loài ngựa lại lớn dần lên, phóng đại giữa bầu trời hoang vắng, thậm chí vươn tới tầm vóc của chính bầu trời, cho đến khi nó sừng sững, to lớn che phủ chòm sao Xử Nữ. Và kìa, phép màu luân hồi, đó chính là nàng — cô dâu vĩnh hằng, sứ giả của mai sao, cô dâu mãi mãi đồng trinh. Chính là nàng, Martha, kẻ lạc loài của anh, Millicent, người thiếu nữ trẻ trung, thân yêu, rạng rỡ. Nàng hiện lên thật thanh thản biết bao, một nữ hoàng giữa chòm sao Tua Rua vào giờ khắc canh năm áp chót, đôi chân mang đôi dép vàng rực rỡ, đầu trùm chiếc khăn voan mỏng manh dệt bằng tơ nhện. Nó bồng bềnh, nó uyển chuyển lướt quanh thân xác sinh ra từ các vì sao của nàng, tung bay lơi lả, màu ngọc lục bảo, ngọc bích, tím hoa cà và tím nhạt, lướt trên những dòng hải lưu lạnh giá ngoài không gian, cuộn xoắn, đan cài, xoay tròn trong bầu không gian như một thứ chữ viết huyền bí cho đến khi, sau muôn ngàn lần biến hóa của biểu tượng, nó bùng cháy rực rỡ — Alpha, một dấu hiệu hình tam giác bằng hồng ngọc vắt ngang trán chòm sao Kim Ngưu.

Francis đang nhắc Stephen nhớ về những năm tháng trước kia khi họ cùng học chung trường thời Conmee. Anh hỏi về Glaucon, Alcibiades, Pisistratus. Giờ họ đang ở đâu? Cả hai đều không biết. Anh đã nói về quá khứ và những bóng ma của nó, Stephen nói. Sao lại phải nghĩ đến chúng chứ? Nếu tôi gọi chúng trở lại sự sống băng qua dòng nước Lethe, liệu những bóng ma tội nghiệp ấy có lũ lượt kéo đến tiếng gọi của tôi không? Ai dám chắc điều đó? Tôi, Bous Stephanoumenos – thi sĩ bầu bạn với những chú bò đực, chính là chúa tể và là kẻ ban sự sống cho chúng. Cậu đội vòng hoa kết bằng lá nho lên mái tóc bù xù của mình, mỉm cười nhìn Vincent. Câu trả lời và những chiếc lá đó, Vincent nói với cậu, sẽ tôn vinh cậu đẹp đẽ hơn biết bao khi thứ gì đó lớn lao hơn — và lớn lao hơn nhiều — so với một rổ thơ ca lãng mạn có thể tôn thiên tài của cậu làm cha. Tất cả những ai cầu chúc những điều tốt đẹp đều hy vọng điều này cho cậu. Tất cả đều khao khát được thấy cậu hạ sinh tác phẩm mà cậu đang ấp ủ, để tung hô cậu là Stephaneforos. Tôi chân thành hy vọng cậu sẽ không làm họ thất vọng. Ồ không, Vincent Lenehan nói, đặt tay lên vai người đứng gần. Đừng sợ. Cậu ấy không thể để mẹ mình bấy lâu trong cảnh mồ côi. Gương mặt chàng trai trở nên tối sầm lại. Ai cũng có thể thấy việc phải nhớ lại lời hứa và mất mát gần đây khó khăn đối với cậu nhường nào. Cậu đã định bỏ tiệc nếu tiếng ồn của những giọng nói không làm dịu đi nỗi đau. Madden đã thua năm đồng drachma cho con Sceptre chỉ vì cái tên ngớ ngẩn của nài ngựa: Lenehan cũng thua ngần ấy. Anh ta kể cho họ nghe về cuộc đua. Lá cờ hạ xuống và, huuh! xuất phát, chạy tháo thân, con ngựa cái phóng đi phăng phăng với O. Madden nắm cương. Nó đang dẫn đầu đoàn đua. Mọi trái tim đều đập rộn ràng. Ngay cả Phyllis cũng không kìm nổ. Cô vẫy chiếc khăn choàng và hò reo: Hoan hô! Sceptre thắng rồi! Nhưng đến đoạn đường thẳng về đích khi tất cả đã bám sát nhau, con hắc mã Throwaway bất ngờ áp sát, bắt kịp và vượt qua nó. Mọi thứ đã mất. Phyllis lặng thinh: đôi mắt cô là những đóa hoa hải quỳ đượm buồn. Juno, cô thét lên, tôi tiêu đời rồi. Nhưng người tình an ủi cô và mang đến cho cô một chiếc hộp vàng rực rỡ bên trong chứa mấy viên kẹo đường hình bầu dục mà cô thưởng thức. Một giọt nước mắt rơi: chỉ một giọt duy nhất. Một tay roi cự phách thật đấy, Lenehan nói, chính là W. Lane. Bốn người thắng hôm qua và ba người hôm nay. Nào có nài ngựa nào bì kịp hắn? Cứ đặt hắn lên lưng lạc đà hay con trâu điên cuồng thì chiến thắng trong một cuộc dạo chơi thản nhiên vẫn thuộc về hắn. Nhưng hãy đón nhận nó theo phong cách ngàn xưa đi. Thương thay cho kẻ bất hạnh! Con Sceptre tội nghiệp! Anh ta thở dài nhẹ nhõm. Nó không còn là con ngựa tơ như xưa nữa. Thề có bàn tay này, chúng ta sẽ chẳng bao giờ được thấy một con nào khác như thế. Thề có Chúa, ngài ơi, nữ hoàng của các loài ngựa đấy chứ. Anh có nhớ nó không, Vincent? Ước gì anh được thấy nữ hoàng của tôi hôm nay, Vincent nói. Nó trẻ trung và rạng rỡ nhường nào (Lalage chẳng là gì so với nàng) trong đôi giày vàng và chiếc áo đầm bằng vải muslin, tôi chẳng biết tên chính xác của nó là gì. Những tán dẻ che bóng mát cho chúng tôi đang mùa nở hoa: bầu không khí nặng trĩu hương thơm quyến rũ và những hạt phấn hoa lơ lửng bay qua. Ở những vạt nắng chiếu, người ta hoàn toàn có thể nướng chín ngay trên một hòn đá mẻ bánh mì có nho khô Corinth mà Periplipomenes bán ở súp-de ngay gần cây cầu. Nhưng nàng chẳng có gì để cắn ngoài cánh tay tôi đang ôm lấy nàng, và nàng đã cắn yêu vào đó khi tôi ôm quá sát. Một tuần trước nàng bị bệnh, nằm bốn ngày trên ghế, nhưng hôm nay nàng đã khỏe hẳn, vui tươi và cười nhạo hiểm nguy. Trông nàng lại càng cuốn hút hơn. Cả những bó hoa của nàng nữa! Quả là một cô ả tinh nghịch phá phách, nàng đã hái đầy một búp khi chúng tôi tựa người nghỉ ngơi. Và thì thầm vào tai anh nhé, bạn tôi ơi, anh sẽ không ngờ ai đã chạm trán chúng tôi khi rời khỏi trường đua đâu! Chính là Conmee! Ông đang đi dạo dọc theo hàng rào, đọc sách — tôi đoán là một cuốn kinh nhật tụng, và chắc chắn có kèm theo một lá thư dí dỏm từ Glycera hoặc Chloe để kẹp trang giấy. Sinh linh ngọt ngào đó đỏ bừng cả mặt vì bối rối, vờ chỉnh lại chút trang phục xộc xệch: một nhành cây nhỏ vướng vào đó vì đến cả cây cỏ cũng phải tôn thờ nàng. Khi Conmee đi khuất, nàng liếc nhìn chiếc gương nhỏ mang theo để ngắm bóng hình xinh đẹp của mình. Nhưng ông rất đỗi nhân hậu. Khi đi ngang qua, ông đã ban phước cho chúng tôi. Các vị thần cũng luôn nhân hậu, Lenehan nói. Nếu tôi gặp vận rủi với con ngựa cái của Bass, có lẽ vạc rượu này sẽ phù hộ cho tôi nhiều hơn chăng. Hắn đang đặt tay lên vạc rượu: Malachi nhìn thấy liền ngăn hành động đó lại, chỉ tay về phía người lạ và chiếc nhãn đỏ. Cẩn trọng nào, Malachi thì thầm, hãy giữ sự tĩnh lặng như bậc tu sĩ Druid. Tâm hồn ông ấy đang ở chốn xa xôi nào rồi. Thức tỉnh khỏi một giấc mơ có lẽ cũng đau đớn hệt như khi chào đời. Bất kỳ vật thể nào nếu bị ngắm nhìn chăm chú đều có thể trở thành cánh cổng dẫn vào cõi vĩnh hằng không tì vết của các vị thần. Anh không nghĩ thế sao, Stephen? Theosophos từng nói với tôi thế đấy, Stephen đáp, người mà trong kiếp sống trước đã được các tu sĩ Ai Cập điểm đạo vào những bí ẩn của luật nghiệp chướng. Các chúa tể mặt trăng, Theosophos đã bảo tôi, một chuyến tàu bốc lửa cam từ hành tinh Alpha thuộc hệ mặt trăng sẽ không mang thân thể thanh khí và do đó chúng được đầu thai bởi những bản ngã màu hồng ngọc từ chòm sao thứ hai.

Tuy nhiên, thực tế là, phỏng đoán ngớ ngẩn về việc ông đang rơi vào trạng thái ủ rũ u sầu nào đó hoặc bị thôi miên — vốn hoàn toàn bắt nguồn từ sự hiểu lầm nông cạn nhất — hoàn toàn không phải như vậy. Cá nhân có đôi mắt đang bắt đầu thể hiện những dấu hiệu sống động khi sự việc trên diễn ra lại khôn ngoan chẳng kém, thậm chí còn khôn ngoan hơn bất kỳ ai còn sống, và bất kỳ kẻ nào phỏng đoán ngược lại sẽ nhanh chóng nhận ra mình đã nhầm chỗ. Trong khoảng bốn phút vừa qua, ông đã đăm đăm nhìn vào một chai bia Bass số một đóng chai bởi hãng Bass and Co ở Burton-on-Trent, tình cờ nằm giữa rất nhiều chai khác ngay đối diện chỗ ông ngồi và chắc chắn đủ sức thu hút sự chú ý của bất kỳ ai bởi màu đỏ rực của nó. Đơn giản và thuần túy, như sau đó đã sáng tỏ vì những lý do chỉ riêng ông mới biết — điều làm thay đổi hoàn toàn cục diện của sự việc, sau những quan sát khoảnh khắc trước về những ngày thơ ấu và đường đua — ông đang hồi tưởng lại hai ba giao dịch cá nhân mà hai kẻ kia ngây thơ vô số tội hệt như đứa trẻ chưa ra đời. Cuối cùng thì ánh mắt của cả hai cũng chạm nhau, và ngay khi ông lờ mờ nhận ra đối phương đang cố với lấy thứ đồ uống ấy, ông vô tình quyết định tự tay giúp hắn một tay; thế là ông bèn tóm lấy cổ chiếc chai thủy tinh cỡ trung chứa chất lỏng đang tìm kiếm, tạo ra một lỗ hổng lớn bằng cách rót thật nhiều ra ngoài, đồng thời cũng tỏ ra vô cùng cẩn trọng để không làm đổ giọt bia nào ra xung quanh.

Cuộc tranh luận diễn ra sau đó, về phạm vi lẫn tiến trình, chính là hình ảnh thu nhỏ của dòng đời. Cả địa điểm lẫn hội đồng đều không thiếu đi sự trang nghiêm. Những người tranh luận đều là những bộ óc sắc sảo nhất xứ sở, chủ đề họ đeo đuổi vô cùng cao cả và thiết cốt. Đại sảnh cao của nhà Horne chưa từng chứng kiến một hội đồng nào tiêu biểu và đa dạng đến thế, những xà nhà cổ kính của cơ sở đó cũng chưa từng lắng nghe một ngôn từ nào bách khoa đến vậy. Quả thực đó là một khung cảnh hào hùng. Crotthers ngồi ở cuối bàn trong bộ trang phục Scotland nổi bật, khuôn mặt bừng sáng vì làn gió mặn mòi từ eo biển Mull of Galloway. Ngay đối diện ông là Lynch với gương mặt đã hằn in vết tích của sự đồi trụy sớm màng và sự khôn ngoan trước tuổi. Bên cạnh chàng trai người Scotland là chỗ ngồi dành cho Costello kỳ quặc, còn bên cạnh hắn ta là dáng người lùn tịt đang ngồi trầm mặc của Madden. Chiếc ghế của vị bác sĩ thường trú vẫn để trống trước lò sưởi, nhưng ở hai bên sườn nó, bộ trang phục thám hiểm gồm quần short tweed và giày da bò ngâm muối của Bannon lại tương phản mạnh mẽ với vẻ lịch lãm màu hoa anh thảo cùng phong thái thị thành của Malachi Roland St John Mulligan. Cuối cùng, ở vị trí chủ tọa đầu bàn là chàng thi sĩ trẻ đang tìm kiếm chốn nương thân khỏi những giềng mối sư phạm và cuộc tra vấn siêu hình trong bầu không khí hoan hỉ của cuộc tranh luận theo lối Socrates, trong khi bên phải và bên trái cậu là sự sắp xếp của nhà tiên tri bỡn cợt vừa từ trường đua về và người lữ hành cảnh giác — kẻ bám đầy bụi đường chiến trận và lấm lem bùn đất của một sự ô nhục không thể gột rửa, nhưng từ trong trái tim kiên định và bất biến ấy, không một sự cám dỗ, hiểm nguy, đe dọa hay thoái hóa nào có thể xóa nhòa hình ảnh của vẻ đẹp khát khao mà nét bút đầy cảm hứng của Lafayette đã khắc họa cho muôn đời sau.

Tốt hơn hết là nên khẳng định ngay từ đầu rằng chủ nghĩa siêu hình lệch lạc mà các lập luận của ngài S. Dedalus (Div. Scep.) dường như chứng minh là ông rất nghiện lại hoàn toàn đi ngược lại các phương pháp khoa học được công nhận. Khoa học, điều này không thể nhắc lại quá nhiều lần, giải quyết các hiện tượng hữu hình. Nhà khoa học cũng giống như con người ngoài phố phải đối mặt với những sự thật phũ phàng không thể nhắm mắt làm ngơ và giải thích chúng tốt nhất có thể. Quả thực, có thể có một số câu hỏi mà khoa học không thể trả lời — ở thời điểm hiện tại — chẳng hạn như vấn đề đầu tiên do ngài L. Bloom (Pubb. Canv.) đưa ra liên quan đến việc xác định giới tính trong tương lai. Liệu chúng ta có phải chấp nhận quan điểm của Empedocles xứ Trinacria rằng buồng trứng phải (giai đoạn sau kinh nguyệt, theo những người khác khẳng định) chịu trách nhiệm cho việc sinh ra con trai, hay những tinh trùng hoặc nemasperm bị lãng quên quá lâu mới là các yếu tố phân định, hay như hầu hết các nhà phôi học nghiêng về quan điểm — chẳng hạn Culpepper, Spallanzani, Blumenbach, Lusk, Hertwig, Leopold và Valenti — đó là sự pha trộn của cả hai? Điều này tương đương với sự hợp tác (một trong những cơ chế yêu thích của tự nhiên) giữa *nisus formativus* của tinh trùng một bên và mặt khác là một vị trí được lựa chọn may mắn, *succubitus felix*, của yếu tố thụ động. Vấn đề thứ hai được đặt ra bởi cùng một người thắc mắc cũng thiết cốt chẳng kém: tử vong sơ sinh. Nó thú vị bởi vì, như ông đã nhận xét một cách xác đáng, tất cả chúng ta đều sinh ra theo cùng một cách nhưng lại chết đi theo những cách khác nhau. Ngài M. Mulligan (Hyg. et Eug. Doc.) đổ lỗi cho các điều kiện vệ sinh nơi những công dân phổi xám của chúng ta mắc bệnh viêm VA, bệnh phổi v.v. bằng cách hít phải vi khuẩn ẩn náu trong bụi. Những yếu tố này, ông cáo buộc, và những cảnh tượng gớm ghiếc bày ra trên đường phố của chúng ta, những tấm áp phích quảng cáo kinh dị, các mục sư tôn giáo đủ mọi giáo phái, lính tàn tật và thủy thủ, những người đánh xe ngựa bị ghẻ lở lộ thiên, những xác động vật treo lơ lửng, những gã độc thân hoang tưởng và các mụ giám thị chưa thụ tinh — những thứ đó, ông nói, là nguyên nhân cho mọi sự sụt giảm về tầm vóc của giống loài. Kalipedia, ông tiên đoán, sẽ sớm được áp dụng rộng rãi và mọi nét duyên dáng của cuộc đời, âm nhạc thực sự hay, văn học dễ chịu, triết học nhẹ nhàng, tranh ảnh giáo dục, những bức tượng thạch cao phỏng theo tác phẩm cổ điển như Venus và Apollo, những bức ảnh nghệ thuật đầy màu sắc của những đứa bé đoạt giải, tất cả những sự quan tâm nhỏ nhặt đó sẽ giúp những phu nhân đang trong trạng thái đặc biệt trải qua những tháng ngày xen kẽ một cách vô cùng thú vị. Ngài J. Crotthers (Disc. Bacc.) quy một số cái chết đó là do chấn thương bụng ở những nữ công nhân phải chịu đựng lao động nặng nhọc trong xưởng và kỷ luật gia đình ở nhà, nhưng phần lớn áp đảo lại là do sự lơ đễnh, dù là cá nhân hay chính thức, đỉnh điểm là việc bỏ rơi trẻ sơ sinh, thực hiện hành vi phá thai tội ác hoặc tội ác tày trời là giết trẻ sơ sinh. Dù điều trước (chúng ta đang nghĩ đến sự lơ đễnh) chắc chắn là quá đúng sự thật, trường hợp ông dẫn chứng về việc y tá quên đếm miếng bọt biển trong khoang phúc mạc là quá hiếm để trở thành tiêu chuẩn. Trên thực tế, khi xem xét kỹ lưỡng, điều kỳ diệu là có rất nhiều ca mang thai và sinh nở diễn ra tốt đẹp đến vậy, bất chấp mọi khiếm khuyết của con người thường cản trở ý định của tự nhiên. Một gợi ý đầy khéo léo được đưa ra bởi ngài V. Lynch (Bacc. Arith.) rằng cả tỷ lệ sinh lẫn tỷ lệ tử, cũng như mọi hiện tượng tiến hóa khác, thủy triều, chu kỳ mặt trăng, nhiệt độ máu, bệnh tật nói chung, tóm lại là mọi thứ trong xưởng làm việc vĩ đại của tự nhiên từ sự diệt vong của một ngôi sao xa xôi nào đó cho đến sự nở hoa của một trong vô số loài hoa làm đẹp các công viên công cộng của chúng ta đều tuân theo một định luật số học chưa được khám phá. Dẫu vậy, câu hỏi thẳng thắn rõ ràng vì sao một đứa trẻ sinh ra từ cha mẹ khỏe mạnh bình thường, thoạt trông khỏe mạnh và được chăm sóc đúng cách lại đột ngột tử vong một cách khó hiểu khi còn nhỏ (dù những đứa trẻ khác cùng cha mẹ lại không bị) chắc chắn, theo lời nhà thơ, phải khiến chúng ta phải dừng bước suy ngẫm. Tự nhiên, chúng ta có thể yên tâm rằng, luôn có những lý do chính đáng của riêng mình cho bất kỳ điều gì bà làm, và rất có thể những cái chết như vậy là do một định luật dự đoán nào đó, theo đó các sinh vật mang mầm bệnh cư trú (khoa học hiện đại đã chứng minh thuyết phục rằng chỉ có chất nguyên sinh mới có thể được gọi là bất tử) có xu hướng biến mất ở giai đoạn phát triển ngày càng sớm hơn — một sự sắp xếp dù mang lại nỗi đau cho một số cảm xúc của chúng ta (đặc biệt là tình mẫu tử), nhưng một số người trong chúng ta nghĩ rằng về lâu về dài lại có lợi cho giống loài nói chung trong việc đảm bảo sự sinh tồn của kẻ mạnh nhất. Nhận xét của ngài S. Dedalus (Div. Scep.) (hay nên gọi là một sự ngắt lời?) rằng một sinh vật ăn tạp có thể nhai, nuốt, tiêu hóa và dường như tống qua đường thông thường với sự bình thản hoàn hảo vô song những món ăn đa dạng như những ả đàn bà ung nhọt suy kiệt vì sinh nở, những quý ông chuyên nghiệp mập mạp, chưa kể đến những chính trị gia da vàng và nữ tu xanh xao, có lẽ sẽ tìm thấy sự nhẹ nhõm cho dạ dày trong một bữa ăn vô hại gồm thịt bê non sơ sinh, phơi bày như không gì khác có thể và dưới một ánh sáng vô cùng khó chịu xu hướng đã được nhắc đến ở trên. Để làm sáng tỏ cho những ai không quá quen thuộc với từng chi tiết nhỏ nhặt của lò mổ thành phố như nhà mỹ học bệnh hoạn và triết gia phôi thai này — kẻ dù tự hào bản thân kiêu ngạo quá mức trong các vấn đề khoa học nhưng khó lòng phân biệt nổi một chất axit với một chất kiềm — có lẽ nên tuyên bố rằng *staggering bob* trong tiếng lóng tồi tệ của những chủ quán rượu hạng dưới của chúng ta biểu thị thịt ăn được và nấu được của một con bê vừa mới lọt lòng mẹ. Trong một cuộc tranh luận công khai gần đây với ngài L. Bloom (Pubb. Canv.) diễn ra tại phòng sinh hoạt chung của Bệnh viện Phụ sản Quốc gia, số 29, 30 và 31 phố Holles, mà như mọi người đều biết, tiến sĩ A. Horne (Lic. in Midw., F. K. Q. C. P. I.) là vị viện trưởng tài năng và nổi tiếng, ông được các nhân chứng thuật lại là đã tuyên bố rằng một khi người phụ nữ đã để con mèo chui ra khỏi túi (lợi dụng ám chỉ của nhà mỹ học, có lẽ, về một trong những quá trình phức tạp và kỳ diệu nhất của tự nhiên — hành động giao hợp tình dục), nàng phải để nó chui ra lần nữa hoặc ban cho nó sự sống, như ông diễn đạt, để cứu lấy chính mình. Bất chấp rủi ro cho chính mạng sống của nàng, là lời đáp trả sắc bén của người đối thoại với ông, không hề kém phần hiệu quả nhờ giọng điệu ôn hòa và điềm đạm được cất lên.

Trong khi đó, tay nghề và sự kiên nhẫn của vị bác sĩ đã mang lại một ca sinh nở tốt đẹp. Đó là một khoảng thời gian vô cùng mệt mỏi cho cả bệnh nhân lẫn bác sĩ. Mọi thứ mà kỹ thuật y khoa có thể làm đều đã được thực hiện và người phụ nữ dũng cảm đã kiên cường hỗ trợ. Nàng thực sự đã làm được. Nàng đã chiến đấu trong trận chiến tốt đẹp và giờ đây nàng vô cùng, vô cùng hạnh phúc. Những kẻ đã khuất núi, những kẻ đã ra đi trước, cũng hạnh phúc biết bao khi họ cúi nhìn và mỉm cười trước khung cảnh cảm động ấy. Hãy thành kính ngắm nhìn nàng khi nàng nằm đó với ánh sáng của người mẹ trong đôi mắt, nỗi khao khát cháy bỏng những ngón tay bé xíu (thật là một cảnh tượng đẹp đẽ khi chứng kiến), trong niềm nở đầu tiên của thiên chức làm mẹ mới, cất lên một lời cầu nguyện tạ ơn thầm lặng gửi đến Đấng ở trên cao — người Chồng của muôn loài. Và khi đôi mắt đầy yêu thương của nàng ngắm nhìn đứa con thơ, nàng chỉ ước thêm một phuộc phước lành duy nhất, đó là có người Doady thân yêu của mình ở đó chia sẻ niềm vui, đặt vào vòng tay anh sinh linh đất sét nhỏ bé ấy — kết quả của sự ân ái hợp pháp của họ. Anh đã lớn tuổi hơn (bạn và tôi có thể thì thầm điều đó) và đôi vai hơi còng xuống, thế nhưng qua dòng xoáy của những năm tháng, một vẻ uy nghiêm trang trọng đã đến với vị phó kế toán tận tụy của ngân hàng Ulster, chi nhánh College Green. Ồ Doady, người yêu dấu thuở nào, người bạn đời trung thủy giờ đây, khoảng thời gian xa xôi ngập tràn hoa hồng ấy có lẽ sẽ chẳng bao giờ quay trở lại! Với cái lắc đầu quen thuộc ngày nào, nàng hồi tưởng lại những ngày tháng ấy. Lạy Chúa! Sao mà đẹp đẽ biết bao giữa màn sương của năm tháng! Nhưng những đứa con của họ đang quây quần trong trí tưởng tượng của nàng quanh chiếc giường bệnh, của nàng và của anh, Charley, Mary Alice, Frederick Albert (nếu cậu bé còn sống), Mamy, Budgy (Victoria Frances), Tom, Violet Constance Louisa, bé Bobsy đáng yêu (được đặt theo tên vị anh hùng nổi tiếng của cuộc chiến tranh Nam Phi, lãnh chúa Bobs xứ Waterford và Candahar) và giờ đây là minh chứng cuối cùng cho sự gắn kết của họ, một Purefoy đích thực nếu có trên đời, với chiếc mũi Purefoy chuẩn xác. Cậu ấm tương lai sẽ được rửa tội tên Mortimer Edward theo tên người họ hàng đời thứ ba có thế lực của ông Purefoy tại văn phòng Thủ quỹ Bộ Tài chính, Lâu đài Dublin. Và cứ thế thời gian trôi đi; nhưng cha Cronion đã nương tay ở đây. Không, đừng để một tiếng thở dài thốt lên từ lồng ngực ấy, Mina dịu dàng thân yêu. Và Doady, hãy gạt tàn thuốc ra khỏi chiếc tẩu của anh, chiếc tẩu gỗ bách xù quen thuộc mà anh vẫn thích thú khi tiếng chuông giới nghiêm reo lên dành cho anh (mong rằng ngày đó hãy còn xa!) và tắt ngọn đèn mà anh dùng để đọc Cuốn Sách Thánh bởi dầu cũng đã cạn kiệt, và cứ thế với một trái tim thanh thản lên giường nghỉ ngơi. Ngài thấu hiểu và sẽ gọi tên vào thời điểm thích hợp của Ngài. Bạn cũng đã chiến đấu trong trận chiến tốt đẹp và chơi trọn vẹn vai trò người đàn ông của mình. Thưa ngài, xin nắm lấy tay tôi. Làm tốt lắm, hỡi người đầy tớ hiền lương và trung thành!

Vẫn có những tội lỗi hay (hãy gọi chúng theo cách thế gian gọi) những ký ức tồi tệ bị con người giấu kín trong những góc tối tăm nhất của trái tim nhưng chúng vẫn ở đó và chờ đợi. Anh ta có thể để ký ức ấy mờ phai, coi chúng như thể chưa từng tồn tại và suýt tự thuyết phục bản thân rằng chúng không hề có thật hoặc ít ra là khác đi. Thế nhưng một từ tình cờ sẽ gọi chúng bật dậy thình lình và chúng sẽ trỗi dậy để đối đầu với anh trong những hoàn cảnh muôn hình vạn trạng nhất, một ảo ảnh hay một giấc mơ, hoặc khi tiếng trống cơm và đàn hạc vỗ về các giác quan, hay giữa sự tĩnh lặng bạc màu mát lạnh của buổi chiều tà, hoặc tại bữa tiệc, vào lúc nửa đêm, khi anh đã ngập tràn hơi men. Ảo ảnh ấy sẽ không đến để lăng mạ anh như đối với một kẻ đang nằm dưới cơn thịnh nộ của nàng, không phải để trả thù mà cắt đứt anh khỏi cõi người sống, mà được che phủ trong chiếc áo thương cảm của quá khứ, lặng lẽ, xa xôi, đầy trách móc.

Người lạ vẫn đăm đăm nhìn vào gương mặt trước mặt, sự thoái lui chậm chạp của vẻ bình tĩnh giả tạo đó — thứ được áp đặt, có vẻ như bởi thói quen hoặc một thủ thuật nghiên cứu nào đó, lên những lời đầy cay đắng đến mức tố cáo chính người thốt lên một sự không lành mạnh, một sự nhạy cảm thái quá đối với những thứ thô tục nhất của cuộc đời. Một khung cảnh tự tách rời trong ký ức của người quan sát, được gợi lên có lẽ bởi một từ ngữ quen thuộc tự nhiên hệt như thể những ngày tháng ấy thực sự hiện diện ở đó (như một số người nghĩ) với những niềm vui ngay trước mắt. Một khoảng sân cỏ được cắt gọt gọn gàng vào một buổi chiều tháng Năm dịu êm, lùm cây tử đinh hương quen thuộc ở Roundtown, sắc tím và trắng, những khán giả mảnh mai ngát hương của trận đấu nhưng đầy quan tâm thực sự đến những viên đạn khi chúng lăn chậm trên bãi cỏ hoặc va vào nhau rồi dừng lại, viên này chạm viên kia, với một cú va đập ngắn ngủi đầy tỉnh táo. Và đằng kia, quanh chiếc bình xám nơi dòng nước đôi khi chuyển động trong sự tưới tiêu đầy suy ngẫm, bạn nhìn thấy một hội chị em ngát hương khác, Floey, Atty, Tiny và người bạn có làn da ngăm đen của họ với một nét gì đó thật thu hút trong tư thế lúc đó — Đức Mẹ của những quả anh đào, một cặp quả xinh xắn lủng lẳng từ vành tai, làm nổi bật sự ấm áp ngoại lai của làn da một cách tinh tế bên cạnh thứ quả mát lạnh rực rỡ. Một cậu nhóc bốn hay năm tuổi mặc áo vải thô (mùa hoa nở nhưng sẽ có niềm vui bên lò sưởi ấm áp khi chẳng mấy chốc những chiếc bát được thu gom và cất vào chạn) đang đứng trên chiếc bình được giữ chặt bởi vòng tay dịu dàng của những thiếu nữ. Cậu cau mày một chút hệt như cách chàng trai trẻ này đang làm lúc này với sự tận hưởng hiểm nguy có lẽ hơi quá ý thức nhưng ánh mắt vẫn chốc chốc hướng về phía mẹ đang canh chừng từ ban công hướng ra khu vườn hoa với chiếc bóng mờ ảo xa xôi hoặc trách móc (alles Vergängliche) trong ánh nhìn vui tươi của nàng.

Hãy ghi nhớ điều này và khắc ghi. Cái kết đến thình lình. Hãy bước vào tiền sảnh sinh nở nơi các học giả đang tụ tập và quan sát gương mặt họ. Dường như chẳng có gì bồng bột hay bạo lực ở đó cả. Sự tĩnh lặng của sự bảo hộ thì đúng hơn, phù hợp với vị trí của họ trong ngôi nhà ấy, sự canh gác cẩn trọng của những người chăn cừu và các thiên sứ xung quanh máng cỏ ở Bethlehem xứ Giu-đê thuở nào. Nhưng hệt như trước tia chớp là những đám mây giông dày đặc, nặng trĩu hơi nước quá tải, trong những khối sưng phồng trương phình, bao vây bầu trời và mặt đất trong một giấc ngủ vĩ đại, lơ lửng bên trên cánh đồng khô khốc, đàn bò lờ đờ và thảm thực vật cây cối héo úa cho đến khi trong một khoảnh khắc tia chớp xé rách tâm chúng và cùng với tiếng vang của sấm sét, cơn mưa rào trút xuống dòng thác lũ — cũng y như thế và không khác gì, sự chuyển hóa, bạo liệt và tức thì, diễn ra ngay khi từ ngữ vừa cất lên.

Burke’s! ngài Stephen thốt lên, tung ra tiếng hô, và đuôi áo tà bay theo sau của tất cả bọn họ, nào là gà trống, nào là khỉ gió, nào là tay bịp bợm, nào là bác sĩ thuốc viên, Bloom đúng giờ bám gót với một cú tóm tập thể vào mũ mão, gậy trúc, gươm Tây Ban Nha, mũ Panama và vỏ kiếm, gậy leo núi Zermatt và đủ thứ khác. Một mê cung của tuổi trẻ cường tráng, mỗi sinh viên ở đó đều thật cao quý. Y tá Callan ngỡ ngàng ở hành lang không thể cản nổi họ hay vị bác sĩ mỉm cười đi xuống cầu thang với tin tức về việc nhau thai đã hoàn tất, nặng đúng một pa-ao nếu tính chuẩn từng mi-li-gam. Họ hô hào cổ vũ anh ta. Cánh cửa! Nó mở rồi ư? Hả! Bọn họ ùa ra ngoài, náo động, bắt đầu cuộc đua kéo dài một phút, tất cả đều sải chân dũng mãnh, hướng thẳng đến quán Burke’s ở Denzille và Holles làm đích đến cuối cùng. Dixon chạy theo dùng những lời sắc bén mắng họ nhưng cũng văng tục một câu rồi tiếp tục bám theo. Bloom ở lại với y tá một lát để gửi lời chúc tốt đẹp đến người mẹ hạnh phúc và đứa trẻ sơ sinh trên lầu. Bác sĩ Chế Độ và Bác sĩ Tĩnh Lặng. Trông nàng lúc này chẳng phải cũng khác xưa sao? Sự canh chừng trong nhà của Horne đã để lại dấu vết trên làn da xanh xao nhợt nhạt đó. Rồi khi tất cả đã đi hết, bằng một chút sự khôn vặt bản năng, anh thì thầm sát tai khi bước đi: Thưa phu nhân, khi nào thì chú cò mang em bé đến cho ngôc nhà chị vậy?

Bầu không khí bên ngoài thấm đẫm hơi sương mưa, tinh chất sự sống thiên thai, lấp lánh trên những hòn đá Dublin dưới bầu trời đầy sao. Bầu không khí của Chúa, bầu không khí của Đấng Cha Chung, thứ không khí lấp lánh bao quanh có thể uốn uốn. Hãy hít thật sâu vào lồng ngực. Thề có trời cao, Theodore Purefoy, anh đã làm được một việc hào hùng không tì vết! Tôi xin thưa, anh chính là nhà sinh sản đáng chú ý nhất không có đối thủ trong biên niên sử la liệt mọi thứ bao trùm này. Thật kinh ngạc! Trong lòng nàng ẩn chứa một khả năng được Chúa định hình, Chúa ban tặng và được định sẵn từ trước mà anh đã làm cho sinh sôi bằng chút ít công sức của con người. Hãy bám lấy nàng! Phụng sự! Hãy tiếp tục cày cuốc, làm việc chăm chỉ như một con chó săn và mặc thây đám học giả cùng những kẻ theo thuyết Malthus biến đi đâu thì biến. Anh chính là cha của tất cả bọn họ, Theodore. Có phải anh đang gục ngã dưới gánh nặng, ngập ngụa trong hóa đơn thịt thỏi ở nhà và những thỏi vàng (không phải của anh!) trong phòng kế toán? Ngẩng cao đầu lên! Đổi lại mỗi đứa trẻ mới sinh anh sẽ thu về một gô-me lúa mì chín vàng. Kìa, bộ lông cừu của anh đã ướt sũng. Có ghen tị với gã Darby Dullman đằng kia cùng mụ vợ Joan của hắn không? Một ả quạ ra rả và một con chó rỉ mắt chính là tất cả sản sinh của bọn chúng. Phỉ phui, tôi bảo anh đấy! Hắn ta là một con la, một loài chân bụng chết tiệt, không chút năng lượng hay sức bền, chẳng đáng giá một xu rách. Giao hợp mà không sinh sản! Không, tôi nói thế! Cuộc thảm sát trẻ sơ sinh của Herod mới là cái tên chính xác hơn. Toàn là rau cỏ, và sự chung sống vô sinh! Hãy cho nàng ăn bít-tết, loại thịt đỏ, sống, rướm máu! Nàng là một пандемониум già cỗi chứa đầy bệnh tật, sưng hạch, quai bị, viêm họng, u bàn chân, dị ứng thời tiết, lở loét, hắc lào, thận sa, bướu cổ, mụn cóc, chứng khó tiêu, sỏi mật, chân lạnh, giãn tĩnh mạch. Thôi đi những bài ca ai điếu, kinh cầu hồn, những khúc than vãn Jeremiah và thứ âm nhạc tang lễ bẩm sinh ấy! Hai mươi năm trôi qua, đừng tiếc nuối chúng. Với anh không giống như bao kẻ cứ ước ao, chờ đợi rồi chẳng bao giờ — làm gì cả. Anh đã nhìn thấy châu Mỹ của mình, sứ mệnh cuộc đời mình, và đã lao lên xung phong hệt như con bò rừng vượt sông. Zarathustra nói thế nào nhỉ? *Deine Kuh Trübsal melkest Du. Nun Trinkst Du die süsse Milch des Euters*. Kìa! Nó phun trào dạt dào cho anh đấy. Uống đi, anh bạn, cạn một vú đầy đi! Sữa mẹ, Purefoy, dòng sữa của nhân loại, cả dòng sữa của những vì sao đang đơm hoa lấp lánh phía trên trong làn hơi mưa mỏng manh, sữa đấm bốc, thứ mà lũ nổi loạn sẽ nốc cạn trong hang ổ chè chén của chúng, sữa của sự điên loạn, sữa ngọt của miền đất Canaan. Vú bò của anh dai dách phải không? Ờ, nhưng sữa của nó thì nóng hổi, ngọt ngào và béo ngậy. Đây chẳng phải loại bột vón cục mà là sữa đông đặc béo ngậy đậm đà. Tiến lên nào, hỡi lão tổ phụ! Sữa mẹ! *Per deam Partulam et Pertundam nunc est bibendum!*

Tất cả ùa đi một cách cuồng nhiệt, hùng hục, hò hét vang dội dọc con phố. *Bonafides*. Đêm qua ngủ ở đâu đấy? Timothy và chiếc vại mẻ. Hệt như lão Billyo. Nhà ai có ô hay ủng cao su gì không? Bác sĩ phẫu thuật của Henry Nevil và đồ cũ đâu rồi? Trời đất quỷ thần ơi tôi chịu chết. Hoan hô nào, Dix! Tiến lên quầy ruy-băng. Punch đâu rồi? Mọi thứ đều ổn thỏa. Lạy chúa, nhìn kìa gã mục sư say xỉn bước ra từ bệnh viện phụ sản! *Benedicat vos omnipotens Deus, Pater et Filius*. Cho một cắc đi, ngài ơi. Mấy cậu trai ngõ Denzille. Mẹ kiếp, cút mau! Biến đi. Được rồi, Isaacs, lừa tụi nó ra khỏi ánh hào quang khỉ gió này đi. Các anh nhập bọn với tụi này chứ, bạn hiền? Chẳng có gì là xâm nhập quấy rầy cả. Lão heap gã đàn ông tốt. Cùng một giuộc cả thôi. *En avant, mes enfants!* Khai hỏa khẩu số một trên súng kìa. Burke’s! Burke’s! Thế rồi họ tiến thêm năm parasang. Lực lượng kỵ binh Slattery. Gã viết lách khốn kiếp đâu rồi? Mục sư Steve, tín điều kẻ bội đạo! Không, không, Mulligan! Lùi ra đằng sau! Xô lên phía trước. Canh chừng đồng hồ. Giờ đóng cửa đến nơi rồi. Mullee! Mày bị sao thế? *Ma mère m’a mariée*. Chúc phúc kiểu Anh! *Retamplatan digidi boumboum*. Phe thuận thắng thế. Được in và đóng bìa tại nhà in trống Druid bởi hai mươi ả thiết kế. Bìa da bê màu xanh nước đái ngựa. Chuẩn mực cuối cùng của sắc màu nghệ thuật. Cuốn sách đẹp nhất ra đời từ Ireland trong thời đại của tôi. *Silentium!* Tăng tốc lên nào. Nghiêm. Tiến đến căn tin gần nhất và cướp sạch kho rượu ở đó. Hành quân! Nện bước, nện bước, nện bước, tụi nhóc đang (tạo dáng!) khát cháy cổ. Bia, thịt bò, kinh doanh, kinh thánh, chó sục, thiết giáp hạm, đồng tính nam và các giám mục. Dù trên đoạn đầu đài. Bia, thịt bò, giẫm nát kinh thánh. Khi vì Ireland thân yêu. Giẫm nát những kẻ giẫm nát. Sét đánh ngang tai! Giữ cho đúng bước đi nhà binh chết tiệt ấy. Chúng ta ngã. Quán rượu của giám mục. Dừng lại! Hãm lại. Bóng bầu dục. Chụm đầu lại. Cấm đá chạm bóng. Ối, đôi chân tôi! Mày bị đau à? Vô cùng xin lỗi nhé!

Hỏi nhỏ. Ai đang bao độ nhậu này thế? Kẻ tự hào sở hữu hai bàn tay trắng. Khai báo sự nghèo đói. Kiệt sức đến cùng đường. *Me nantee saltee*. Cả tuần nay chẳng có lấy một xu dính túi. Còn anh thì sao? Rượu mật ong của bậc siêu nhân. Tương tự thế. Năm ly số một. Còn anh, thưa ngài? Rượu gừng ấm lòng. Lạy chúa, thuốc bổ của người đánh xe. Kích thích nhiệt lượng. Cú lên dây cót chiếc đồng hồ của hắn. Dừng phắt lại chẳng bao giờ chạy nữa khi lão. Áp-sanh cho tôi nhé, hiểu không? *Caramba!* Làm một ly trứng đánh hoặc hàu sống đi. Kẻ thù á? Tiệm cầm đồ đang giữ chiếc đồng hồ của tôi rồi. Mười kém. Mang ơn ngài chết mất. Đừng khách sáo. Bị chấn thương ngực à, Dix? Chuẩn đét. Bị con ong bắp cày đốt lúc đang ngủ say sưa trong mảnh vườn nhỏ của hắn. Sống gần bệnh viện Mater. Đã cưới vợ rồi đấy. Biết vợ hắn không? Vợ hắn á, chắc chắn rồi. Trông lẳng lơ đáo để. Thấy ả mặc bộ đồ mặc nhà gợi cảm. Cởi sạch lấy uy tín. Cục cưng yêu dấu. Đừng hòng mong kiếm được mẻ mỡ nào gầy gò ở ả, khôn hồn đấy. Kéo rèm xuống đi cưng. Hai ly Ardilauns. Tôi cũng thế. Nhanh chân lên. Ngã thì đừng có đứng dậy vội. Năm, bảy, chín. Tuyệt! Sở hữu một cặp ngực ngon nghẻ phết, không đùa đâu. Và ả đưa tôi đi nghỉ ngơi cùng chiếc vại rum của ả. Phải tận mắt chứng kiến mới tin nổi. Đôi mắt đói khát cùng chiếc cổ phấn son của anh đã đánh cắp trái tim tôi, hỡi keo dán sắt. Hấp hối à? Lại khoai tây chữa bệnh thấp khớp phỏng? Toàn nhảm nhí, xin lỗi vì tôi phải nói thế. Dành cho giới bình dân thôi. *I vear thee beest a gert vool*. Sao thế bác sĩ? Từ Lapland về à? Sức khỏe của ngài vẫn ngon lành chứ? Mấy mụ vợ và lũ trẻ con thế nào rồi? Người phụ nữ sau khi sinh nở ra sao? Giơ tay đầu hàng và nộp tiền. Mật khẩu. Đúng là một mái tóc tuyệt. Kẻ tự tát vào mắt mình, sếp ơi! Tin vỉa hè của hề múa. Ăn cắp ý của Meredith. Kẻ dòng Jesuit ngây ngô hóa, lan hóa, đa chính trị! Thư của dì gửi bố Kinch. Stephen hư hỏng kéo Malachi ngoan ngoãn hư theo.

Hoan hô! Tóm lấy thới da đi, cậu nhóc. Chuyền vại bia tươi nào. Này, chàng trai cao nguyên Scotland dũng cảm, đây là rượu lúa mạch của anh. Chúc ống khói nhà anh mãi nhả khói và nồi súp của anh mãi sôi! Món ruột của tôi. *Merci*. Cạn ly vì chúng ta. Thế nào rồi? Lỗi cản chân bóng. Đừng làm bẩn bộ quần áo ngồi mới tinh của tôi đấy. Cho xin ít hạt tiêu nào, anh bạn kia. Tóm lấy. Hạt caraway mang đi. Hiểu ý chứ? Tiếng thét trong sự tĩnh lặng. Mỗi gã tìm về chốn cao sang của mình. Venus Pandemos. Lũ đàn bà nhỏ thó. Cô ả hư hỏng táo tợn đến từ thị trấn Mullingar. Nhắn với ả là tôi hỏi thăm đấy nhé. Ôm Sara vào bụng. Trên con đường đi Malahide. Tôi á? Giá như ả kẻ quyến rũ tôi để lại cái tên. Cơn khát chín xu của anh muốn gì? *Machree, macruiskeen*. Mụ Moll nhơ nhớp cho một trận chiến giường chiếu. Và cùng nhau kéo một cú nào! *Ex!*

Đang đợi hả, sếp lớn? Rõ ràng như ban ngày rồi. Cứ đặt cược đi. Đứng hình hệt như thế, thấy chẳng có đồng xu cắc nào lọt vào ví cả. Hiểu chưa hả? Hắn ta đang rủng rỉnh tiền tiêu mà. Từng thấy gần ba bảng trên người hắn hồi nãy hắn bảo là của hắn. Tụi tao bước thẳng vào theo lời mời của mày đấy, thấy chưa? Tùy mày đấy, bạn hiền. Móc tiền ra đi. Hai đồng crown và một shillings. Mày học mánh khóe đó từ mấy gã bịp bợm người Pháp hả? Ở đây không ăn tiền đó đâu con ạ. Cậu nhóc tì vô cùng xin lỗi. Tao là tên da đen ranh mãnh nhất ở xứ tao đấy, Chawley. Tụi tao có say đâu. Tụi tao nào có say. *Au reservoir, mossoo*. Cảm ơn nhé.

Đúng thế rồi. Sao cơ? Trong quán rượu chui. Say mèm. Tao thấy mày rồi đấy, ngài ạ. Gã lùn bantam, hai ngày nay kiêng cữ. Nốc toàn rượu vang đỏ. Cút đi! Nhìn cho kỹ vào xem nào. Mẹ kiếp, tao bị lừa rồi. Hắn vừa đi cắt tóc về kìa. Say đến mức chẳng thốt nên lời. Đi cùng một gã nhân viên đường sắt. Sao mày lại nông nỗi này? Hắn thích xem opera à? Bông hồng xứ Castile. Hàng dài diễn viên. Cảnh sát! Cho chút nước cho một quý ông ngất xỉu kìa. Nhìn đống hoa của Bantam kìa. Chúa ơi. Hắn sắp gào lên rồi. Cô thôn nữ bích ngọc. Cô thôn nữ bích ngọc của tôi. Ôi, câm cái mồm lại đi! Lấy tay bóp chặt cái lò gạch Hà Lan đang mờ ảo của hắn lại. Suýt nữa thì trúng con ngựa thắng cuộc hôm nay nếu tao không mách cho con bách phát bách trúng. Gã khốn kiếp chộp lấy cái đầu của Stephen Hand — kẻ đã đưa cho tao con ngựa cái ốm o đó. Hắn đánh một bức điện tín ra b depots cho gã đại gia Bass. Đút cho hắn một đồng joey rồi nịnh bợ hắn. Con ngựa đang có phong độ cực đỉnh. Một đồng guinea đổi lấy quả lý gai. Xạo vừa thôi chứ. Sự thật hiển nhiên. Trò chuyển hướng tội phạm ư? Tao nghĩ là có đấy. Chắc chắn luôn. Tống cổ hắn vào tù nếu tên cảnh sát chộp được quả tang. Madden quay lại, Madden là một gã quay đầu phát điên. Ồ, tình ái là nơi nương náu và sức mạnh của chúng ta. Rút lui thôi. Mày phải đi á? Về với u đi. Đứng lại. Ai đó che giấu sự hổ thẹn của tôi với. Tiêu đời nếu hắn nhận ra tôi. Về nhà thôi, Bantam của chúng ta. *Horryvar, mong vioo*. Đừng quên hoa anh thảo cho ả đấy nhé. Tâm sự thật lòng. Ai tặng mày con ngựa tơ đó thế? Bạn hiền với nhau mà. Thật lòng đi. Của John Thomas, chồng ả chứ gì. Không đùa đâu, lão Leo già. Thề có chúa, đúng là thề độc đấy. Sét đánh ngang tai nếu tao nói dối. Có một vị tu sĩ vĩ đại ở đằng kia. Sao mày không nói cho tao biết hả? Vâng, tôi thưa rằng, nếu đó không phải là một món đồ của dân Do Thái, vâng, tôi sẽ tóm lấy nó. Nhân danh chúa chúng ta, *Amen*.

Anh đưa ra đề xuất à? Cậu Steve, chơi lớn phết nhở. Thêm mấy thứ đồ uống đẫm máu nữa chứ? Liệu vị đại gia lừng lẫy nhất có cho phép một kẻ nghèo tột cùng và đang có cơn khát lớn tột đỉnh được chấm dứt một cuộc rót rượu tốn kém vừa khởi xướng không? Cho thở tí nào. Chủ quán, chủ quán, có rượu ngon không, *staboo*? Này anh bạn Scotland, làm một ngụm cho ấm bụng nào. Cứ tự nhiên mà xơi. Được rồi. Chủ quán! Áp-sanh cho tất cả. *Nos omnes biberimus viridum toxicum diabolus capiat posterioria nostra*. Đến giờ đóng cửa rồi các ngài. Hử? Tiệc tùng cho vị quý tộc Bloom. Tôi nghe thấy anh nói hành tây à? Bloo? Đi xin quảng cáo. Ảnh bôi nhược, đẹp tuyệt trần. Chơi nhỏ thôi, đối tác. Trượt chân rồi. *Bonsoir la compagnie*. Tránh xa cạm bẫy của ác quỷ bệnh lậu. Gã khờ và Namby Amby đâu rồi? Tẩu thoát rồi à? Chuồn êm rồi. *Aweel, ye maun e’en gang yer gates*. Chiếu tướng. Xe ăn vua. Thiện nhân ơi có giúp chàng trai trẻ tìm chiếc chìa khóa nhà trọ của bạn để tìm chỗ đặt đầu đêm nay không. Chúa ơi, tôi phê lắm rồi. Nguyền rủa đôi chân nếu đây không phải là cuộc sa đà dài hơi tuyệt vời nhất từ trước tới nay. Thêm nữa, ngài mục sư, cho cậu nhóc này cặp bánh quy đi. Máu chúa và rượu mạnh, chẳng có gì cả! Không một mẩu phô mai ư? Tống cổ bệnh giang mai xuống địa ngục cùng với lũ linh hồn được cấp phép đó đi. Đến giờ rồi các ngài! Những kẻ lang thang khắp thế gian. Chúc sức khỏe tất cả! *À vô tỷ!*

Chúa ơi, cái quái gì mà gã mặc áo mác-ken-tếch đằng kia thế? Dusty Rhodes. Nhìn bộ đồ hắn mặc kìa. Lạy chúa! Hắn có gì thế? Thịt cừu kỷ niệm. Bovril, thề có Chúa James. Đang thèm rỏ dãi. Mấy cậu có thấy đôi tất rách không? Gã túng quẫn ở Richmond ấy à? Chắc chắn rồi! Cứ ngỡ hắn bị ngộ độc chì trong dương vật. Bệnh điên dại vớ vẩn. Tụi tao gọi hắn là Bartle the Bread. Kẻ đó, thưa các ngài, từng là một thị dân sung túc. Gã đàn ông rách rưới tả tơi đã cưới một cô nàng bơ vơ khốn khổ. Nàng ta cao chạy xa bay. Kìa thấy tình yêu đã mất. Gã mặc áo mưa lang thang trong hẻm vắng. Điểm danh đúng giờ. Tránh xa bọn cảnh sát ra. Xin lỗi? Hôm nay thấy hắn ở đám tang à? Bằng hữu của anh quy tiên rồi hả? Lạy Chúa nhân từ! Lũ trẻ con tội nghiệp! Mày không đời nào nói với tao điều đó đâu, Pold veg! Mấy đứa có khóc sướt mướt vì bạn Padney bị tusg nhét vào túi đen không? Trong số mọi người da đen, ngài Pat là tuyệt nhất. Từ bé đến giờ tôi chưa từng thấy ai như thế. *Tiens, tiens*, nhưng mà buồn thật đấy, thề có Chúa, đúng vậy. Ồ, bước lên, mục sư trên độ dốc một trên chín. Trục truyền động bị húp rồi. Cá hai ăn một Jenatzy đập bầm dập hắn luôn. Bọn Jappies à? Pháo tầm cao, ôi cha! Bị tàu chiến chuyên dụng đánh chìm. Còn tệ hơn đối với hắn, lão nói, so với bất kỳ tên Nga ngố nào. Hết giờ rồi. Có mười một đứa bọn chúng. Cút đi thôi. Tiến lên, những kẻ lảo đảo chếnh choáng! Chúc ngủ ngon. Chúc ngủ ngon. Cầu mong Allah Đấng Tối Cao bảo vệ linh hồn các anh thật vĩ đại trong đêm nay.

Xin chú ý! Tụi tao nào có say. Cảnh sát Leith đã thả tụi tao rồi. Cảnh sát ít nhất. Cẩn thận bọn cảnh sát cho tên đang nôn mửa kìa. Khó chịu trong vùng bụng gớm ghiếc. Yooka. Đêm. Mona, tình yêu đích thực của tôi. Yook. Mona, tình yêu của đời tôi. Ook.

Lắng nghe! Câm cái mõm lại đi. *Pflaap! Pflaap!* Khai hỏa đi. Nó đi kìa. Lữ đoàn! Quay tàu. Hướng phố Mount. Cắt ngang qua! *Pflaap!* Tally ho. Anh không đến à? Chạy, tẩu thoát, đua tài. *Pflaap!*

Lynch! Hả? Đi chung với tôi đi. Lối này ra ngõ Denzille. Đổi tuyến đi lầu xanh. Hai đứa mình, ả nói, sẽ tìm đến chốn lầu xanh nơi ả Mary bóng gió đang đợi. Được thôi, lúc nào cũng chiều. *Laetabuntur in cubilibus suis*. Có đi cùng không? Này, gã mặc đồ đen thui thùi lui là thằng quái nào thế? Suýt nữa! Phạm tội chống lại ánh sáng và ngay lúc này đây ngày đó đã cận kề khi hắn sẽ đến để phán xét thế gian bằng lửa. *Pflaap! Ut implerentur scripturae*. Cất lên một khúc ballad đi. Thế rồi bác sĩ y khoa Dick cất lời với đồng nghiệp y khoa Davy. Lạy Chúa tôi, gã tiên tri màu vàng bốc mùi bẩn thỉu ở sảnh Merrion này là ai thế này? Elijah đang đến! Được gột rửa trong máu của Chiên Con. Lại đây nào hỡi những thực thể sủi bọt rượu, sủi bọt gin, chè chén say sưa! Lại đây nào hỡi những kẻ khốn nạn, cổ bò, trán bọ hung, hàm heo, não hạt đậu, mắt chồn, chuyên lừa đảo, báo động giả và hành lý thừa thãi! Lại đây nào hỡi tinh chất cô đặc của sự đồi bại! Alexander J Christ Dowie, đó là tên tao, kẻ đã kéo giật gần nửa hành tinh này từ bãi biển Frisco đến Vladivostok về với vinh quang. Thần linh không phải là một trò hề xu cắc đâu. Tao xin nói với tụi mày rằng ngài rất sòng phẳng và là một đối tác kinh doanh tuyệt vời. Ngài là thứ vĩ đại nhất từ trước tới nay và đừng có quên điều đó. Hãy hô vang sự cứu rỗi trong Chúa Giê-su Vua. Mày sẽ phải dậy sớm lắm đấy, hỡi kẻ tội lỗi kia, nếu mày muốn lừa bịp Thiên Chúa toàn năng. *Pflaapaaa!* Chẳng chơi đùa đâu. Hắn có sẵn một chai thuốc ho có đô mạnh cho mày đấy, bạn hiền, ở cái túi áo sau. Cứ thử xài xem nào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.