Ulysses

Lượt đọc: 202 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16

❊ ❊ ❊

Trước hết, ông Bloom phủi sạch phần lớn chỗ mạt bào, đưa cho Stephen chiếc mũ cùng gậy trúc và động viên cậu một cách chuẩn mực theo đúng tình người Samaritan mà cậu đang rất cần. Tâm trí Stephen không hẳn là lang thang nhưng hơi chao đảo, và khi cậu bày tỏ mong muốn có thứ gì đó để giải khát, ông Bloom – tính đến thời điểm lúc bấy giờ và việc chẳng có trụ nước Vartry nào ở gần để rửa mặt chứ đừng nói đến chuyện uống – liền nảy ra một kế sách. Ông đề xuất ngay ý kiến nên ghé vào cái gọi là quán rượu bến xe ngựa, nằm cách đó không xa ngay gần cầu Butt, nơi họ có thể tìm thấy chút đồ uống như sữa pha soda hoặc nước khoáng. Nhưng làm thế nào để tới được đó mới là vấn đề. Thoạt đầu ông hơi lúng túng, nhưng vì thấy rõ trách nhiệm của mình là phải tính toán chuyện này, ông liền cân nhắc các phương kế thích hợp trong lúc Stephen ngáp ngắn ngáp dài liên tục. Trông mặt cậu có vẻ khá xanh xao, khiến ông thấy vô cùng cần thiết phải tìm một cước xe nào đó phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ của hai người, khi mà cả hai đều đã say mèm, đặc biệt là Stephen, với giả định rằng đời nào lại có một chiếc xe như thế quanh đây. Thế là, sau vài màn chuẩn bị như phủi quần áo – dù ông quên béng mất không nhặt lại chiếc khăn tay đã thấm đầy bọt xà phòng sau khi nó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cạo râu –, cả hai cùng nhau đi dọc theo phố Beaver, hay đúng hơn là con hẻm, cho tới tận nhà thợ móng ngựa và bầu không khí hôi hám nồng nặc của chuồng ngựa cho thuê ở góc phố Montgomery. Tại đó, họ rẽ trái rồi đổ ra phố Amiens, vòng qua góc tiệm của Dan Bergin. Nhưng như ông đã đinh ninh từ trước, chẳng có lấy một bóng xe ngựa cho thuê nào quanh đó, ngoại trừ một chiếc xe bốn bánh đậu trước khách sạn North Star, có lẽ đã được thuê bởi mấy gã đang chè chén bên trong, và nó chẳng hề nhúc nhích dù chỉ một phần tư inch khi ông Bloom, người chẳng phải tay huýt sáo chuyên nghiệp gì, cố gắng gọi xe bằng cách huýt một tiếng kéo dài, hai tay khum lại trên đầu.

Đây thực sự là một tình thế nan giải, nhưng với sự thực tế sẵn có, rõ ràng chẳng còn cách nào khác ngoài việc ngẩng cao đầu mà đi bộ, và họ đã làm thế. Thế là, họ vòng qua tiệm Mullett và Trạm Tín hiệu – nơi họ đến chẳng mấy chốc –, buộc phải rẽ về hướng ga xe lửa phố Amiens. Ông Bloom lại gặp bất lợi khi một chiếc khuy phía sau quần, nói theo châm ngôn cổ thì đã đi theo vết xe đổ của muôn vàn chiếc khuy khác, dù rằng hoàn toàn nhập cuộc, ông vẫn anh dũng phớt lờ tai nạn nhỏ này. Vả lại, may sao chẳng ai trong hai người quá vội vàng, và tiết trời lại rất sảng khoái sau trận mưa của thần Jupiter Pluvius, nên họ thong thả bước qua chỗ chiếc xe trống đang đậu mà không có khách lẫn phu xe. Chợt có chiếc xe quét đường của Công ty Xe điện Dublin United đi ngang qua, và người đàn ông lớn tuổi liền kể cho người bạn đồng hành nghe về pha thoát chết ngoạn mục của chính mình cách đó không lâu. Họ đi qua lối vào chính của ga đường sắt Great Northern, điểm khởi đầu đi Belfast, nơi mà vào giờ này mọi hoạt động giao thông tất nhiên đã đình trệ, rồi lướt qua cửa sau nhà xác (một nơi chẳng lấy gì làm hấp dẫn, thậm chí là vô cùng rùng rợn, nhất là vào ban đêm), để cuối cùng đến được quán Tửu quán Dock và rẽ vào phố Store, nổi tiếng với đồn cảnh sát khu C. Giữa điểm này và những dãy kho cao hiện đang tắt đèn ở quảng trường Beresford, Stephen chợt nghĩ đến Ibsen – người mà trong tâm trí cậu lại gắn liền với tiệm đá Baird ở quảng trường Talbot, ngã rẽ đầu tiên bên phải –, trong khi người kia, đóng vai người bạn chí cốt fidus Achates, đang hít hà thỏa mãn mùi hương từ tiệm bánh mì thành phố của James Rourke nằm ngay gần đó, một mùi hương thực sự rất ngon lành của món lương thực hằng ngày, thứ thiết yếu và quan trọng bậc nhất trong mọi mặt hàng của công chúng. Bánh mì, cột trụ của sự sống, hãy kiếm lấy bánh mì, ôi xin hãy nói cho tôi biết bánh mì ngon ở đâu, vâng, tại tiệm bánh của Rourke người ta bảo thế.

Trên đường tới chỗ người bạn đồng hành kiệm lời và, nói giảm nói tránh đi, là chưa hoàn toàn tỉnh táo, ông Bloom – người trái lại hoàn toàn làm chủ các giác quan, hơn thế nữa, tỉnh táo đến phát bực – liền cất lời cảnh báo về những mối nguy hiểm của khu phố đèn đỏ, những ả đàn bà lẳng lơ và bọn móc túi sừng sỏ. Dù thỉnh thoảng có thể châm chước một lần nhưng không thể coi là thói quen, thì nơi đó chẳng khác nào một cái bẫy chết người đối với những thanh niên trạc tuổi cậu, đặc biệt là khi họ đã nhiễm thói hư uống rượu, trừ khi bạn biết một chút nhu quyền cho mọi tình huống, vì ngay cả một gã đang nằm sóng xoài cũng có thể tung ra một cú đá hiểm nếu bạn không cẩn thận. Sự xuất hiện của Corny Kelleher quả là một ơn huệ lớn lao khi Stephen đang chìm đắm trong vô thức; nếu không nhờ vị cứu tinh xuất hiện vào giờ chót ấy, rất có thể kết cục của cậu sẽ là một suất ở phòng cấp cứu, hoặc chí ít là nhà giam, rồi sáng hôm sau phải hầu tòa trước mặt ông Tobias – hay đúng hơn, ý ông là cụ Wall, hoặc Mahony –, điều mà một khi đã bị đồn ra thì chỉ có nước phá sản đối với một chàng trai. Lý do ông nhắc đến chuyện này là vì đám cảnh sát đó – những kẻ mà ông vô cùng căm ghét – quả thực vô liêm sỉ khi phục vụ cho hoàng gia, và như ông Bloom đã nói, khi nhớ lại một hoặc hai vụ ở khu A trên phố Clanbrassil, họ sẵn sàng thề thốt dối trá để che đậy mọi chuyện. Chẳng bao giờ có mặt khi người ta cần, nhưng ở những khu yên tĩnh của thành phố như đường Pembroke thì lực lượng giữ gìn trật tự lại xuất hiện nhan nhản, lý do hiển nhiên là vì họ được trả tiền để bảo vệ tầng lớp thượng lưu. Một điều nữa mà ông bình luận là việc trang bị cho binh lính súng ống hoặc vũ khí bất cứ loại nào dễ cướp cò bất cứ lúc nào, điều đó chẳng khác nào xúi giục họ chống lại dân thường nếu chẳng may đôi bên xảy ra xích mích. Cậu đang phung phí thời gian, sức khỏe và cả nhân cách của mình một cách vô ích, ông kiên quyết lập luận như thế; chưa kể đến thói hoang phí tiền bạc, những ả đàn bà chơi bời ở tầng lớp cận biên xã hội sẽ ngốn sạch một đống tiền của, và nguy hiểm nhất là việc bạn uống rượu với ai. Dù vậy, bàn về vấn đề gây tranh cãi là các chất kích thích, ông vẫn thích một ly rượu vang ngon lâu năm đúng độ vì nó vừa bổ dưỡng, sinh huyết lại vừa có tính nhuận tràng (đặc biệt là dòng rượu vang đỏ burgundy mà ông vô cùng tin tưởng), nhưng bao giờ ông cũng vạch ra một giới hạn nhất định và không bao giờ vượt qua, bởi điều đó chỉ dẫn đến rắc rối tứ bề, chưa kể việc bạn sẽ phó mặc bản thân cho sự thương hại của người khác. Hơn hết, ông lên án gay gắt việc tất cả đám chiến hữu nhậu nhẹt của Stephen đã bỏ rơi cậu, ngoại trừ một kẻ, một hành động phản bội trơ trẽn tột cùng từ phía những đồng nghiệp y khoa của cậu trong mọi hoàn cảnh.

—Và kẻ duy nhất đó chính là Judas, Stephen lên tiếng; từ nãy đến giờ cậu chẳng thèm hé răng lấy một lời.

Vừa bàn luận về những chủ đề này và các vấn đề tương tự, họ rảo bước băng qua phía sau Tòa Hải quan và đi dưới cầu đường sắt Loop Line, nơi một chậu than cốc đang cháy bập bùng trước một bốt canh hoặc thứ gì đó đại loại thế đã thu hút những bước chân đang dần trở nên chậm chạp của họ. Không vì lý do đặc biệt nào, Stephen tự động dừng lại ngắm nhìn đống đá cuội cằn cỗi, và nhờ ánh sáng phát ra từ chậu than, cậu lờ mờ nhận ra bóng dáng tối hơn của người gác đêm thuộc tòa thị chính ẩn trong không gian u ám của bốt canh. Cậu bắt đầu nhớ ra chuyện này đã từng xảy ra hoặc được nhắc đến là từng xảy ra trước đây, nhưng cậu phải mất không ít cố gắng mới nhận ra người gác đêm ấy chính là Gumley, một người quen cũ của cha cậu. Để tránh mặt, cậu bước lại gần những trụ cầu đường sắt hơn.

—Có ai vừa chào anh kìa, ông Bloom nói.

Một bóng người cao trung bình đang lảng vảng dưới các vòm cầu lại cất tiếng chào lần nữa:

—Đêm tốt lành!

Stephen dĩ nhiên giật mình hơi chóng mặt và dừng lại để đáp lễ. Ông Bloom, thôi thúc bởi bản tính tế nhị vốn có và luôn tin vào việc lo chuyện của chính mình, bèn bước đi nhưng vẫn giữ tư thế cảnh giác với một chút lo âu dù chẳng hề sợ hãi chút nào. Dù bất thường ở khu vực Dublin, ông thừa nhận việc những kẻ bất lương chẳng có gì để mưu sinh lang thang rình rập, chuyên khủng bố những người qua đường hiền lành bằng cách chĩa súng vào đầu họ ở những góc khuất ngoài khu vực trung tâm thành phố không phải là chưa từng có; chúng có thể là những kẻ đói khát thuộc tầng lớp ven sông Thames lảng vảng ở đó hoặc đơn giản là bọn cướp bóc sẵn sàng tẩu thoát cùng bất kỳ chiến lợi phẩm nào trong chớp mắt, “tiền hay là mạng”, để mặc bạn ở lại đó ngậm bùi ngùi, bị bịt miệng và siết cổ.

Stephen, tức là khi gã vừa cất tiếng bước đến cự ly gần – dù bản thân cậu cũng không quá tỉnh táo –, đã nhận ra hơi thở của Corley nồng nặc mùi rượu ngô thiu. Lord John Corley là tên một số người gọi hắn, và gia phả của hắn xuất phát theo chiều hướng này. Hắn là con trai trưởng của thanh tra Corley thuộc phân khu G mới qua đời, người đã kết hôn với một phụ nữ tên là Katherine Brophy, con gái của một nông dân vùng Louth. Ông nội hắn là Patrick Michael Corley ở New Ross từng kết hôn với góa phụ của một chủ quán rượu ở đó, người có tên thời con gái cũng là Katherine Talbot. Lời đồn đại (dù chưa được chứng minh) cho rằng bà là hậu duệ của dòng dõi các lãnh chúa Talbot de Malahide, nơi mà tại dinh thự của họ – thực chất là một dinh thự vô cùng tráng lệ đáng để chiêm ngưỡng –, mẹ hoặc dì của bà, hoặc một người họ hàng nào đó, theo lời đồn là một phụ nữ có nhan sắc tuyệt trần, từng có vinh dự làm hầu bàn trong phòng giặt. Do đó, đây chính là lý do khiến gã đàn ông hãy còn tương đối trẻ nhưng đã sớm hư hỏng, kẻ đang đứng nói chuyện với Stephen lúc này, được một số kẻ có khiếu hài hước gọi là Lãnh chúa John Corley.

Kéo Stephen sang một bên, hắn bắt đầu bài ca than nghèo kể khổ quen thuộc. Hắn không có lấy một xu dính túi để trả tiền trọ qua đêm. Bạn bè đã bỏ rơi hắn hết cả. Hơn nữa, hắn vừa cãi nhau với Lenehan và gọi tên đó trước mặt Stephen là một tên khốn bủn xỉn, kèm theo hàng loạt những lời lẽ thô tục không cần thiết khác. Hắn đang thất nghiệp và khẩn khoản nài nỉ Stephen chỉ cho hắn nơi nào trên cõi đời này có thể kiếm được một công việc, bất cứ việc gì cũng được. Không, hóa ra là người con gái của người mẹ làm trong phòng giặt là chị em nuôi với người thừa kế của dòng họ, hoặc có liên quan qua người mẹ theo cách nào đó, cả hai sự việc xảy ra cùng một lúc nếu như toàn bộ câu chuyện không phải là một sự bị đặt hoàn toàn từ đầu đến cuối. Dù thế nào đi nữa, hắn đã kiệt sức hoàn toàn.

—Tôi chẳng thèm mở miệng nhờ cậu đâu, nếu không vì, hắn tiếp lời, thề có Chúa chứng giám và Chúa biết rõ tôi đang lâm vào bước đường cùng.

—Ngày mai hoặc ngày kia sẽ có một việc làm đấy, Stephen bảo hắn, làm trợ lý cho một trường nam sinh ở Dalkey. Thầy giáo Garrett Deasy. Hãy thử xem sao. Cậu có thể nhắc đến tên tôi.

—Lạy Chúa, Corley đáp, tôi làm sao mà dạy học ở trường được, bạn hiền. Tôi chưa bao giờ là đứa sáng dạ cả, hắn nói thêm với một nụ cười nửa miệng. Tôi đã trượt hai lần lớp sơ cấp của dòng tu Kitô giáo.

—Đến chỗ ngủ của bản thân tôi còn chẳng có đây này, Stephen thông báo cho hắn.

Ngay từ phút đầu, Corley đã tỏ ra nghi ngờ rằng chuyện này có dính líu đến việc Stephen bị đuổi khỏi chỗ trọ vì dám dẫn một ả đĩ rười rượi từ ngoài đường về phòng. Có một nhà trọ ở phố Marlborough, nhà bà Maloney, nhưng chỗ đó rẻ mạt và toàn những thành phần bất hảo, tuy nhiên M’Conachie đã nói với hắn rằng bạn có thể có một bữa khá tử tế tại quán Brazen Head bên phố Winetavern (điều này gợi nhớ mang máng trong đầu người nghe về nhân vật thầy tu Bacon) chỉ với một shilling. Hắn cũng đang đói lả người dù từ nãy đến giờ chẳng hé răng nửa lời.

Dù chuyện thế này vẫn diễn ra cách một đêm lại có một lần hoặc đại loại thế, cảm xúc của Stephen ít nhiều vẫn lấn át, dù cậu thừa nhận những lời bị đặt mới toanh của Corley cũng chẳng đáng tin là bao. Tuy nhiên, đúng như nhà thơ Latinh từng nói: *haud ignarus malorum miseris succurrere disco* v.v., nhất là khi may mắn thay cậu vừa được lĩnh lương sau giữa tháng vào ngày mười sáu, đúng là ngày hôm nay, dù phần lớn số tiền đã tiêu tẹt ga. Nhưng điều buồn cười nhất là không cách nào đánh tan khỏi đầu Corley ý nghĩ rằng cậu đang sống trong cảnh giàu sang phú quý và chẳng phải làm gì ngoài việc móc hầu bao ra phát chẩn. Trong khi thực tế hoàn toàn ngược lại. Dù sao thì cậu cũng thò tay vào túi, không phải với ý định tìm kiếm chút đồ ăn nào ở trong đó, mà nghĩ rằng mình có thể cho hắn vay tầm một shilling để hắn có thể cố gắng kiếm gì đó bỏ bụng, nhưng kết quả lại là con số không tròn trỉnh, bởi vì ngậm ngùi làm sao, tiền của cậu đã bay sạch. Chỉ có vài vụn bánh quy là kết quả duy nhất sau khi lục lọi. Cậu cố hết sức nhớ lại xem mình đã làm mất – điều hoàn toàn có thể xảy ra – hay đã để quên đâu đó, bởi vì nếu vậy thì tình hình sẽ chẳng mấy sáng sủa chút nào, trái lại là đằng khác. Cậu đã quá mệt mỏi để có thể tiến hành một cuộc lục soát kỹ càng, dù vẫn cố gắng nhớ lại. Về phần mấy cái vụn bánh quy, cậu mang mang nhớ lại. Không biết chính xác là ai đã cho chúng nhỉ, hay là ở đâu, hoặc là cậu đã mua ở đâu cơ chứ. Dù vậy, ở một cái túi khác, cậu chạm phải những thứ mà trong bóng tối cậu đoán là những đồng xu penni, nhưng hóa ra lại nhầm to.

—Đó là những đồng nửa vương miện đấy, anh bạn, Corley đính chính giúp cậu.

Và quả thực đúng là như vậy. Dù sao thì Stephen cũng cho hắn mượn một đồng.

—Cảm ơn nhé, Corley đáp, cậu đúng là một quý ông. Lúc nào đó tôi sẽ trả lại cậu. Ai đi cùng cậu thế kia? Tôi thấy hắn vài lần ở quán tửu lực The Bleeding Horse trên phố Camden với Boylan, gã thợ dán áp phích. Cậu có thể nói đỡ cho tôi vài câu để tôi được nhận vào làm ở đó không? Tôi sẵn sàng đeo biển quảng cáo di động, chỉ tiếc là cô nhân viên ở văn phòng bảo rằng họ đã tuyển đủ người trong ba tuần tới rồi, bạn ạ. Chúa ơi, cậu phải đăng ký trước cơ đấy, cứ như là mua vé xem đoàn Carl Rosa không bằng. Dù sao thì tôi cũng chẳng thèm quan tâm miễn là kiếm được việc làm, kể cả làm phu quét đường.

Sau khi đã phấn chấn hơn đôi chút nhờ tờ hai đồng rưỡi kiếm được, hắn liền kể cho Stephen nghe về một gã tên là Bags Comisky mà hắn bảo Stephen biết rất rõ từ tiệm Fullam, gã nhân viên kế toán của hãng tàu thường hay lui tới phòng sau tiệm Nagle cùng với O’Mara và một gã lùn hay nói lắp tên là Tighe. Dù thế nào đi nữa, gã đó đã bị tóm vào đêm hôm trước và bị phạt mười shilling vì tội say xỉn gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ.

Trong khi đó, ông Bloom vẫn cứ lảng vảng quanh đống đá cuội gần chậu than cốc trước bốt canh của người gác đêm tòa thị chính – kẻ mà ông thầm nghĩ chắc là một con sâu ngủ đích thực, đang tranh thủ chợp mắt một cách yên bình theo kiểu tư gia trong lúc Dublin đang chìm trong giấc ngủ. Thỉnh thoảng, ông lại liếc nhìn vị khách đối thoại với diện mạo chẳng lấy gì làm tươm tất cho lắm của Stephen, cứ như thể ông đã từng gặp gã quý tộc đó ở đâu rồi, dù chẳng thể nói chính xác là ở đâu và cũng chẳng có lấy một chút manh mối nào về thời gian. Là một người đầu óc thực tế, có khả năng quan sát sắc sảo hơn khối kẻ, ông cũng nhận xét về chiếc mũ rách rưới thảm hại cùng bộ quần áo lôi thôi lếch thếch nói chung của gã, chứng thực cho một cảnh khốn cùng kinh niên. Rõ ràng gã là một kẻ chuyên bám đuôi sống bám, nhưng suy cho cùng, đó chẳng qua cũng chỉ là chuyện kẻ này ăn bám người láng giềng của mình, trong mọi tầng hố sâu, lại có những hố sâu hơn nữa, và nếu gã dân thường kia chẳng may lọt vào vành móng ngựa thì án tù khổ sai có hoặc không kèm theo tiền phạt sẽ là một điều hiếm có khó tìm vào bậc nhất. Dù thế nào đi nữa, gã cũng có một sự trơ trẽn đáng kinh ngạc khi dám chặn người ta lại vào cái giờ khắc đêm hôm khuya khoắt này. Quả là mặt dày hết chỗ nói.

Đôi bên đường ai nấy đi và Stephen quay lại với ông Bloom – người với đôi mắt tinh đời đã nhận ra ngay cậu đã chịu khuất phục trước những lời đường mật của kẻ ăn bám kia. Nhắc đến cuộc chạm trán vừa rồi, Stephen cười nói:

—Gã đang gặp vận hạn. Hắn nhờ tôi xin anh giúp đỡ, bảo anh nói với một người tên là Boylan, gã thợ dán áp phích, cho hắn một chân làm người đeo bảng quảng cáo di động.

Trước thông tin này, điều mà dường như chẳng mảy may thu hút được sự chú ý của ông, ông Bloom thẫn thờ nhìn đờ đẫn trong tích tắc về phía một chiếc tàu cuồng nát mang cái tên lừng lẫy Eblana, đang neo đậu dọc theo bến Customhouse và rất có thể đang hỏng hóc, đoạn ông đáp lại một cách lảng tránh:

—Người ta nói ai rồi cũng có phần may rủi của riêng mình. Giờ cậu nhắc tôi mới nhớ, khuôn mặt hắn trông quen quen. Nhưng gác chuyện đó lại đã, thế cậu đã móc ví cho hắn bao nhiêu thế, ông hỏi, nếu tôi không quá tò mò?

—Nửa vương miện, Stephen đáp. Chắc là hắn cần tiền để tìm chỗ trọ qua đêm.

—Cần chứ! ông Bloom thốt lên, ra vẻ không hề ngạc nhiên chút nào trước thông tin đó, tôi hoàn toàn tin vào lời khẳng định ấy và dám cá là lúc nào hắn cũng cần. Mỗi người theo nhu cầu của họ hoặc mỗi người theo hành động của họ. Nhưng nói chuyện chung đi, ông mỉm cười nói thêm, tối nay cậu sẽ ngủ ở đâu? Đi bộ tới Sandycove là chuyện bất khả thi rồi. Và giả sử cậu có đi đi chăng nữa thì cũng chẳng vào được sau những gì đã xảy ra tại ga Westland Row. Chỉ tổ lê lết cọc cạch ra đó vô ích. Tôi không có ý mạo muội ra lệnh cho cậu chút nào đâu, nhưng sao cậu lại rời bỏ nhà cha mình?

—Để đi tìm bất hạnh, đó là câu trả lời của Stephen.

—Gần đây tôi có dịp gặp lại người cha đáng kính của cậu, ông Bloom khéo léo đáp lời, thực ra là hôm nay, hoặc nói cho chính xác là ngày hôm qua. Hiện giờ ông cụ đang sống ở đâu thế? Qua trò chuyện tôi thoáng nghe rằng cụ đã chuyển chỗ ở.

—Tôi tin là cụ đang ở đâu đó trong Dublin, Stephen thản nhiên đáp. Sao thế?

—Một con người tài hoa, ông Bloom nói về ông cụ Dedalus, xét trên nhiều phương diện và đúng là một bậc thầy kể chuyện sinh ra đã có sẵn. Cụ rất tự hào về cậu, một niềm tự hào hoàn toàn chính đáng. Có lẽ cậu nên quay về, ông mỉm cười thăm dò, vẫn đang nghĩ đến cảnh tượng vô cùng khó chịu tại ga cuối Westland Row khi hoàn toàn hiển nhiên rằng hai kẻ kia – tức là Mulligan và tay du khách người Anh bạn hắn, kẻ rốt cuộc đã chơi xỏ người bạn đồng hành thứ ba của chúng – rõ ràng đang tìm cách chuồn êm trong lúc hỗn loạn cứ như cả cái ga rách nát này là của riêng chúng, và chúng đã làm thế thật.

Tuy nhiên, chẳng có lời đáp nào cho lời gợi ý đó cả, tâm trí Stephen đang quá bận rộn tái hiện lại khung cảnh lò sưởi gia đình lần cuối cùng cậu trông thấy nó, với cô em gái Dilly ngồi bên bệ sưởi, mái tóc xõa xuống, chờ cho ấm nước dính đầy muội than sôi lên để cô và cậu có thể uống cùng với nước cháo yến mạch thay sữa, sau bữa cá trích ngày thứ Sáu mà họ ăn với giá hai xu một con, kèm theo mỗi người một quả trứng cho Maggy, Boody và Katey, trong khi con mèo bên dưới máy cán quần áo đang ngấu nghiến đống vỏ trứng và đầu cá xương cá cháy đen trên một mảnh giấy gói màu nâu, theo đúng giới luật thứ ba của nhà thờ là phải ăn chay và kiêng thịt vào những ngày quy định, lúc đó đang là mùa chay hoặc ngày quỷ tha ma bắt gì đại loại thế.

—Không, ông Bloom lặp lại lần nữa, nếu ở địa vị của cậu, tôi cá nhân tôi sẽ chẳng đặt nhiều niềm tin vào cái tên bạn tri kỷ chuyên tấu hài, bác sĩ Mulligan ấy đâu, để hắn làm chỉ đường, hiền triết và bạn bè. Hắn biết rõ bánh mì của mình phết bơ mặt nào, dù rất có thể hắn chưa bao giờ biết thế nào là cảnh thiếu thốn những bữa ăn đều đặn. Dĩ nhiên cậu không để ý nhiều bằng tôi. Nhưng tôi sẽ chẳng lấy làm ngạc nhiên chút nào nếu biết rằng một nhúm thuốc lá hoặc chất gây nghiện nào đó đã được bỏ vào ly nước của cậu vì một mục đích mờ ám nào đó.

Tuy nhiên, qua những gì nghe được, ông hiểu rằng bác sĩ Mulligan là một con người đa tài toàn diện, không chỉ bó hẹp trong ngành y, đang nhanh chóng phất lên trong lĩnh vực của mình và, nếu những lời đồn đại là chính xác, rất có thể sẽ có một phòng khám phát đạt trong tương lai không xa với tư cách là một bác sĩ thời thượng thu khoản thù lao kếch xù cho các dịch vụ của mình. Ngoài địa vị chuyên môn đó ra, vụ cứu sống người đàn ông khỏi chết đuối chắc chắn bằng phương pháp hô hấp nhân tạo và cái gọi là sơ cứu tại Skerries – hay là Malahide nhỉ? –, thú thật là một hành động vô cùng dũng cảm mà ông không thể không ngợi ca hết lời. Thế nên, thành thật mà nói, ông hoàn toàn không tài nào hiểu nổi lý do quái quỷ nào đứng sau chuyện đó, trừ phi quy nó cho tính ương bướng hoặc sự ghen tị thuần túy không hơn không kém.

—Trừ khi mọi chuyện chỉ quy về một mối là hắn đang tìm cách lợi dụng chất xám của cậu, ông mạo muội đưa ra ý kiến.

Ánh nhìn dè dặt nửa quan tâm nửa tò mò pha lẫn sự thân thiện mà ông hướng về vẻ mặt đang ủ dột lúc bấy giờ của Stephen hoàn toàn chẳng mang lại chút ánh sáng nào, không một chút nào cho vấn đề liệu cậu có để cho mình bị lừa gạt một vố đau đớn qua hai ba câu nói chán chường mà cậu vừa thốt ra, hay ngược lại, đã nhìn thấu sự việc và vì lý do nào đó mà chính cậu rõ hơn ai hết lại để mọi chuyện trôi qua nước chảy mây trôi. Nỗi nghèo túng cùng cực quả thực gây ra hiệu ứng đó, và ông thừa phỏng đoán rằng, dẫu sở hữu năng lực học thức cao siêu, cậu vẫn gặp không ít khó khăn để trang trải cuộc sống qua ngày.

Gần nhà vệ sinh công cộng dành cho nam giới, họ nhìn thấy một xe bán kem xung quanh có một nhóm người có vẻ là người Ý đang cãi vã nảy lửa, tuôn ra những lời tràng giang đại hải bằng thứ ngôn ngữ sinh động của họ một cách vô cùng sôi nổi, giữa các bên dường như có chút bất đồng.

—Puttana madonna, che ci dia i quattrini! Ho ragione? Culo rotto!

—Intendiamoci. Mezzo sovrano più...

—Dice lui, però!

—Mezzo.

—Farabutto! Mortacci sui!

—Ma ascolta! Cinque la testa più...

Ông Bloom và Stephen bước vào quán bến xe ngựa, một cấu trúc bằng gỗ không có gì nổi bật, nơi trước đó ông hiếm khi hoặc chưa từng đặt chân tới. Trước đó, ông đã thì thầm với Stephen vài gợi ý về người chủ quán, người được đồn đại là cựu danh nhân Skin-the-Goat Fitzharris, kẻ bất khuất, dù ông không thể bảo đảm cho sự thật chính xác của câu chuyện vốn dĩ rất có thể chẳng có lấy một manh mối sự thật nào. Vài phút sau, hai kẻ lang thang ban đêm của chúng ta đã yên vị an toàn trong một góc kín đáo, chỉ để đón nhận những ánh nhìn soi mói từ đám đông lang thang lang chác và đủ mọi thành phần kỳ quái thuộc chi loài người đang ăn uống rôm rả kết hợp trò chuyện tại đó, đối với họ, hai người dường như là một đối tượng vô cùng tò mò.

—Giờ bàn về một tách cà phê nhé, ông Bloom ra chiều hợp lý gợi ý để phá vỡ sự im ngại, tôi nghĩ cậu nên nếm thử chút gì đó dạng thức ăn đặc, chẳng hạn như một chiếc bánh mì cuộn hay đại loại thế.

Thế là, hành động đầu tiên của ông với sự điềm tĩnh đặc trưng là gọi những món này một cách kín đáo. Đám đông phu xe hay công nhân bốc vác hoặc bất cứ thứ gì đại loại thế sau một cái liếc mắt qua loa liền quay đi vẻ mặt đầy bất mãn, ngoại trừ một gã râu đỏ nát rượu có một nhúm tóc ngả màu xám – có lẽ là một thủy thủ – vẫn trân trân nhìn một hồi lâu trước khi chuyển hướng sự chú ý dán chặt xuống sàn nhà. Ông Bloom, tận dụng quyền tự do ngôn luận khi vừa đủ dăm ba câu xã giao với ngôn ngữ đang gây tranh cãi – dù quả thực có chút bối rối trước từ *voglio* –, liền cất giọng vừa đủ nghe nói với người protégé của mình về trận chiến ác liệt ngoài đường vẫn đang diễn ra vô cùng sôi sục:

—Một thứ ngôn ngữ thật đẹp. Ý tôi là dùng để hát ấy chứ. Sao cậu không viết thơ bằng thứ ngôn ngữ đó nhỉ? Bella Poetria! Ngôn ngữ ấy thật du dương và tròn trịa làm sao. Belladonna. Voglio.

Stephen, kẻ đang cố gắng hết sức để ngáp nếu có thể, đang vật lộn với chứng rã rời toàn thân, liền đáp:

—Để rót vào tai một con voi cái. Chúng đang mặc cả tiền nong ấy mà.

—Thế à? ông Bloom hỏi. Dĩ nhiên, ông trầm ngâm nói thêm, khi nội tâm phản ánh rằng việc có nhiều ngôn ngữ ngay từ đầu hơn mức tuyệt đối cần thiết đôi khi chỉ là do vẻ hào nhoáng miền nam bao bọc lấy nó.

Chủ quán giữa cuộc trò chuyện tay đôi này liền đặt lên bàn một tách hỗn hợp hảo hạng đang bốc khói sùng sục được dán nhãn “cà phê”, kèm theo một chiếc bánh mì có vẻ như từ thời tiền sử. Sau đó, hắn lùi về quầy của mình, và ông Bloom quyết định sẽ ngắm kỹ hắn ta sau đó để tránh bị phát hiện. Vì lý do đó, ông khuyến khích Stephen cứ tiếp tục hướng mắt về phía trước trong khi ông làm tròn trách nhiệm bằng cách lén lút đẩy tách nước tạm thời được gọi là cà phê dịch dần về phía cậu.

—Âm thanh chỉ là những thứ giả tạo, Stephen cất lời sau khoảng lặng đôi chút, giống như tên gọi vậy. Cicero, Podmore, Napoleon, ông Goodbody. Jesus, ông Doyle. Những kẻ mang họ Shakespeare cũng nhan nhản như khoai tây vậy thôi. Tên tuổi thì có nghĩa lý gì chứ?

—Vâng, chắc chắn rồi, ông Bloom tự nhiên đồng tình. Đương nhiên. Họ của chúng tôi cũng bị đổi mà, ông nói thêm, đồng thời đẩy chiếc bánh mì cuộn cái gọi là sang phía bên kia.

Tên thủy thủ râu đỏ nãy giờ vẫn dán mắt quan sát những vị khách mới đến bèn xông thẳng vào Stephen – người mà hắn đặc biệt nhắm tới –, hỏi bợp chợp:

—Thế tên anh là gì thế nhỉ?

Đúng vào phút chót, ông Bloom chạm nhẹ vào giày của người bạn đồng hành, nhưng Stephen, có vẻ phớt lờ sức ép ấm áp từ một hướng bất ngờ, liền đáp:

—Dedalus.

Tên thủy thủ đờ đẫn nhìn cậu bằng đôi mắt trĩu nặng sưng húp, hậu quả của việc lạm dụng quá đà rượu mạnh, tốt nhất là loại rượu gin già hảo hạng pha nước.

—Anh quen Simon Dedalus chứ? cuối cùng hắn hỏi.

—Tôi có nghe nói về ông ấy, Stephen đáp.

Ông Bloom ngẩn người trong chốc lát khi thấy những kẻ khác rõ ràng cũng đang hóng hớt.

—Ông ấy là người Ireland, tên thủy thủ gan lì khẳng định, vẫn giữ nguyên ánh mắt đờ đẫn và gật đầu. Toàn người Ireland cả.

—Quá mức Ireland ấy chứ, Stephen đáp lại.

Còn về phần ông Bloom, ông hoàn toàn không tài nào hiểu nổi đầu đuôi câu chuyện ra sao, và đang tự hỏi không biết có mối liên hệ quái quỷ nào giữa bọn họ, thì tên thủy thủ tự động quay sang những vị khách khác trong quán và tuyên bố:

—Tao từng thấy lão bắn bay hai quả trứng đặt trên hai cái chai cách xa năm chục thước qua vai. Xạ thủ thiện nghệ tay trái.

Dù có hơi ngọng nghịu do thỉnh thoảng bị tật nói lắp và cử cũng vụng về, hắn vẫn cố hết sức giải thích.

—Những cái chai đằng kia chẳng hạn. Đo năm chục thước. Trứng đặt trên miệng chai. Vác súng qua vai. Ngắm bắn.

Hắn quay nửa người, nhắm nghiịt mắt phải lại. Rồi hắn nhăn nhó mặt mày sang một bên và trợn mắt nhìn vào màn đêm với một vẻ mặt khó ưa.

—Pòm! hắn thét lên một tiếng.

Toàn bộ khán phòng nín thở chờ đợi một tiếng nổ bổ sung, vì vẫn còn quả trứng thứ hai.

—Pòm! hắn thét lên tiếng thứ hai.

Quả trứng thứ hai rõ ràng đã bị tiêu diệt, hắn gật đầu nháy mắt, giọng đầy sát khí tuyên bố:

—Buffalo Bill bắn là để giết,

Chưa bao giờ trượt và chẳng bao giờ trượt.

Sự im lặng bao trùm cho đến khi ông Bloom, cốt để cho phải phép, cảm thấy muốn hỏi hắn xem đó có phải là một cuộc thi bắn súng kiểu như ở Bisley hay không.

—Xin lỗi ông nhé, tên thủy thủ nói.

—Lâu lắm rồi phỏng? ông Bloom tiếp lời mà không hề chớp mắt dù chỉ một chút.

—Thì đấy, tên thủy thủ đáp, phần nào thả lỏng dưới sức mạnh ma thuật của vỏ quýt dày có móng tay nhọn, chắc cũng độ mười năm rồi. Lão đi vòng quanh thế giới với Đoàn xiếc Hoàng gia Hengler. Tao tận mắt thấy lão biểu diễn trò đó ở Stockholm.

—Thật là một sự trùng hợp kỳ lạ, ông Bloom kín đáo thì thầm với Stephen.

—Tên tôi là Murphy, tên thủy thủ tiếp tục. D. B. Murphy ở Carrigaloe. Biết chỗ đó ở đâu không?

—Cảng Queenstown, Stephen đáp.

—Chuẩn luôn, tên thủy thủ nói. Pháo đài Camden và Pháo đài Carlisle. Quê tao ở đấy chứ đâu. Tao thuộc về nơi đó. Vợ tao ở dưới đó. Con mụ đang đợi tao, tao biết chắc. Vì nước Anh, vì mái ấm và nhan sắc. Mụ là người vợ hiền tạc dạ ghi tâm mà tao đã bảy năm nay chưa gặp mặt, cứ mải miết lênh đênh trên biển.

Ông Bloom dễ dàng hình dung ra cảnh hắn đặt chân về nhà, cuộc trở về mái lều ven đường của người thủy thủ sau khi đã qua mặt thủy thần Davy Jones, trong một đêm mưa gió với ánh trăng lờ mờ. Vượt cả thế giới chỉ vì một người vợ. Có vô số câu chuyện thuộc chủ đề Alice Ben Bolt đặc trưng ấy, như Enoch Arden và Rip van Winkle, và có ai quanh đây nhớ nổi bài *Caoc O’Leary*, một trích đoạn diễn ngâm vừa được ưa chuộng vừa vô cùng nhức óc của tội nghiệp John Casey và là một áng thơ hoàn hảo theo cách nhỏ nhoi của riêng nó. Thế nhưng, chẳng bao giờ có chuyện người vợ bỏ trốn quay trở về cả, dù cho có tận tụy với người chồng vắng bóng đến đâu đi chăng nữa. Khuôn mặt áp bên khung cửa kính! Hãy thử tưởng tượng sự kinh ngạc của hắn khi cuối cùng cũng lao qua vạch đích và sự thật khủng khiếp bủa vây về một nửa tốt đẹp của mình, tình yêu tan nát. Anh hẳn không ngờ tôi lại về, nhưng tôi đã ở đây để ở lại và bắt đầu một trang đời mới. Kia kìa mụ ta đang ngồi đó, một người vợ góa chồng hờ, ngay bên chính cái lò sưởi ấy. Tin chắc rằng tao đã chết, đang đu đưa trên chiếc nôi của đại dương sâu thẳm. Và kìa, chú Chubb hoặc bác Tomkin đang ngồi đó, tùy từng trường hợp, chủ quán rượu Crown and Anchor, tay xắn tay áo, đang ngấu nghiến bít tết bò ăn kèm hành tây. Chẳng có chiếc ghế nào dành cho người cha. Gió thổi u u! Đứa con mới toanh của mụ đang nằm trên đùi, đứa con hậu sự. Với một tiếng hô vang! và một điệu hò reo! và chú ngựa phi nước đại tandy của tôi, ôi! Hãy cúi đầu trước số phận không thể tránh khỏi. Cắn răng mà chịu đựng thôi. Tràn ngập yêu thương, người chồng tan nát cõi lòng của em, W. B. Murphy.

Tên thủy thủ, kẻ trông chẳng có vẻ gì là dân cư ngụ tại Dublin, quay sang một gã phu xe thỉnh cầu:

—Anh có mang theo mẩu thuốc nhai nào thừa không đấy?

Gã phu xe được hỏi hóa ra lại không có, nhưng người chủ quán đã lấy một cục thuốc lá từ chiếc áo khoác tử tế treo trên đinh, và món đồ mong muốn cứ thế chuyền từ tay người này sang tay người khác.

—Cảm ơn nhé, tên thủy thủ nói.

Hắn tọng ngay cục thuốc vào mồm, vừa nhai vừa lắp bắp chậm rãi tiếp lời:

—Bọn tao cập cảng sáng nay lúc mười một giờ. Con tàu ba cột buồm Rosevean chở gạch xuất phát từ Bridgwater. Tao ký hợp đồng đi nhờ chuyến này. Được thanh toán tiền công chiều nay. Giấy xuất ngũ của tao đây này. Thấy chưa? D. B. Murphy. Thủy thủ hạng nhất.

Để xác nhận cho lời tuyên bố đó, hắn móc từ trong túi áo trong ra và đưa cho người bên cạnh một tờ giấy gấp lại trông chẳng mấy sạch sẽ gì cho cam.

—Anh chắc hẳn đã đi qua kha khá phần của thế giới rồi nhỉ, chủ quán nhận xét, vừa tì tay lên quầy.

—Thì đấy, tên thủy thủ vừa ngẫm nghĩ vừa đáp, tao cũng đã đi vòng quanh thế giới kha khá kể từ khi gia nhập nghề này. Tao từng tới Biển Đỏ. Tao từng đến Trung Quốc, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Từng bị cướp biển đuổi theo trong một chuyến hải trình. Tao thấy băng trôi đầy rẫy, mấy tảng khổng lồ ấy. Tao từng đến Stockholm và Biển Đen, eo biển Dardanelles dưới quyền thuyền trưởng Dalton, gã đàn ông khốn kiếp tuyệt vời nhất từng đánh đắm một con tàu. Tao đã thấy nước Nga. Gospodi pomilyou. Người Nga cầu nguyện như thế đấy.

—Anh được thấy những cảnh kỳ lạ thật đấy, chẳng đùa đâu, một phu xe chêm vào.

—Thì thế, tên thủy thủ nói, vừa dịch chuyển cục thuốc đang nhai dở sang một bên. Tao cũng chứng kiến nhiều thứ kỳ quái lắm, thăng trầm đủ cả. Tao từng thấy một con cá sấu ngoạm đứt mỏ neo đúng cái cách tao đang nhai cục thuốc này này.

Hắn lôi cục thuốc nhão nhoét ra khỏi miệng, kẹp giữa hai hàm răng và cắn một cách hung tợn:

—Khác nào thế! Và tao từng thấy những kẻ ăn thịt người ở Peru chuyên ăn xác chết và gan ngựa. Nhìn đây này. Bọn chúng đây này.

Hắn lục lọi tìm ra một tấm bưu ảnh từ túi áo trong, nơi trông giống như một kho chứa tạp nhứ, rồi đẩy nó trượt dọc trên mặt bàn. Dòng chữ in trên đó ghi rõ: *Choza de Indios. Beni, Bolivia*.

Tất cả đều tập trung sự chú ý vào khung cảnh bày ra trước mắt: một nhóm đàn bà da màu hoang dã đóng khố sọc, đang ngồi xổm, nhấp nháy mắt, cho con bú, cau mày, ngủ gật giữa một bầy trẻ con lúc nhúc (chắc phải đến vài chục đứa) bên ngoài những túp lều nguyên thủy làm bằng nhánh liễu.

—Nhai lá coca suốt cả ngày, gã thủy thủ lắm mồm nói thêm. Dạ dày chai lì như cái bàn mài bánh mì. Tự cắt bỏ vú mình khi không thể đẻ nổi nữa.

Thấy bọn chúng ngồi đó trần truồng như nhộng gặm sống gan của một con ngựa chết kìa.

Tấm bưu ảnh của hắn đã trở thành tâm điểm thu hút đám đông gà mờ trong vài phút hoặc thậm chí lâu hơn thế.

—Biết cách làm sao để phòng thủ trước bọn chúng không? hắn cất tiếng hỏi chung chung.

Chẳng có ai thèm lên tiếng, hắn liền nháy mắt nói:

—Kính. Thứ đó làm bọn chúng lú lẫn. Kính.

Ông Bloom, không hề tỏ ra ngạc nhiên, thản nhiên lật mặt sau của tấm bưu ảnh để đọc dòng địa chỉ và con dấu bưu điện đã bị xóa mờ một phần. Nội dung như sau: *Tarjeta Postal, Señor A Boudin, Galeria Becche, Santiago, Chile*. Rõ ràng chẳng có lời nhắn nào cả, như ông đã lưu ý kỹ. Dù không phải là người hoàn toàn tin sái cổ vào câu chuyện giật gân mà hắn vừa kể (hay cái vụ bắn trứng kia, bất chấp sự tích William Tell và tình huống Lazarillo-Don Cesar de Bazan được khắc họa trong vở *Maritana*, dịp mà viên đạn của người đi trước xuyên qua chiếc mũ của người sau), việc phát hiện ra sự bất nhất giữa tên của hắn (giả sử hắn đúng là người mà hắn tự nhận chứ không phải đang mang danh nghĩa giả mạo sau khi đã đi vòng quanh thế giới trong bóng tối) và người nhận giả định của bức thư khiến ông nuôi dưỡng vài sự nghi ngờ về tính xác thực của bạn ta. Tuy nhiên, nó lại gợi nhắc ông theo một cách nào đó về kế hoạch ấp ủ lâu dài mà ông có ý định thực hiện vào một ngày thứ Tư hoặc thứ Bảy nào đó: du lịch tới Luân Đôn bằng đường biển dài ngày, dù rằng trước đây ông chưa từng đi xa cho lắm, nhưng trong thâm tâm ông lại là một kẻ phiêu lưu bẩm sinh, chỉ vì trớ trêu thay của số phận mà ông vẫn mãi là một gã nhát gan đi trên cạn, ngoại trừ chuyến đi Holyhead là dài nhất. Martin Cunningham thường bảo sẽ xin cho ông một vé qua Egan, nhưng hết lần này đến lần khác lại xuất hiện đủ thứ trục trặc oái oăm khiến kế hoạch đổ bể vào phút chót. Nhưng ngay cả khi phải chịu chi tiền và làm vỡ tim anh chàng Boyd đi chăng nữa, thì chuyến đi cũng chẳng quá đắt đỏ nếu túi tiền cho phép, chỉ mất vài ghine là cùng, tính cả vé đi Mullingar – nơi ông dự tính đến – là năm shilling sáu xu, cả đi lẫn về. Chuyến đi sẽ rất có ích cho sức khỏe nhờ bầu không khí trong lành và hoàn toàn thú vị về mọi mặt, đặc biệt là đối với một kẻ có lá gan đang gặp vấn đề, khi được ngắm nhìn những địa điểm khác nhau dọc theo lộ trình như Plymouth, Falmouth, Southampton v.v., để rồi cao trào là một chuyến tham quan mang tính giáo dục các thắng cảnh của đô thị vĩ đại, ngoạn cảnh Babylon hiện đại của chúng ta, nơi chắc chắn ông sẽ được chứng kiến những đổi thay vĩ đại nhất, từ ngọn tháp, tu viện cho đến sự giàu có của Công viên Lane để ôn lại chốn cũ. Một điều nữa chợt lóe lên trong đầu ông như một ý tưởng không tồi chút nào, đó là ông có thể đi một vòng tại chỗ để tìm hiểu việc sắp xếp một chuyến lưu diễn hòa nhạc mùa hè bao gồm các khu nghỉ dưỡng giải trí nổi tiếng nhất, Margate với dịch vụ tắm biển chung và các viện thủy trị liệu, spa hạng nhất, Eastbourne, Scarborough, Margate v.v., Bournemouth xinh đẹp, quần đảo Channel và những điểm đến nhỏ xinh tương tự, điều đó có thể mang lại lợi nhuận kếch xù. Dĩ nhiên không phải là với một công ty chắp vá dăm ba mươi mống hoặc mấy bà nội trợ địa phương xắn tay áo vào làm, hãy nhìn gương kiểu bà C P M’Coy: cho tôi mượn va-li và tôi sẽ gửi vé cho anh. Không, phải là cái gì đó đỉnh cao nhất, một dàn diễn viên toàn sao Ireland, công ty đại nhạc kịch Tweedy-Flower với chính người vợ hợp pháp của ông đóng vai chính, như một đòn phản kích lại đoàn Elster Grimes và Moody-Manners. Mọi chuyện hoàn toàn đơn giản và ông hoàn toàn lạc quan về sự thành công, miễn là việc PR trên các tờ báo địa phương có thể được lo liệu bởi một tay gã nào đó có chút máu mặt, kẻ có thể giật những sợi dây vô hình cần thiết để vừa kết hợp kinh doanh vừa tận hưởng niềm vui. Nhưng ai cơ chứ? Đó mới là vấn đề. Đồng thời, dù không dám chắc chắn tuyệt đối, ông chợt nhận thấy một thị trường béo bở đang mở ra trong lĩnh vực khai trương các tuyến đường mới để bắt kịp thời đại, nhân sự kiện tuyến Fishguard-Rosslare, theo lời đồn, lại đang được đưa lên bàn cân tại các cơ quan quan liêu với đầy rẫy những thủ tục rườm rà quen thuộc và thói chần chừ của những lão già lỗi thời cùng đám đầu bò đầu bướu nói chung. Một cơ hội lớn chắc chắn đang vẫy gọi sự xông pha và tinh thần doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu đi lại của đông đảo công chúng, của con người bình thường, tức là Brown, Robinson và Cộng sự.

Thật là một điều đáng tiếc và ngớ ngẩn ngay từ cái nhìn đầu tiên, đồng thời là một vết nhơ không nhỏ cho xã hội được ca tụng của chúng ta, khi mà một người dân bình thường – vào lúc hệ thống thực sự cần được thanh lọc – lại bị tước mất cơ hội ngắm nhìn nhiều hơn thế giới họ đang sống chỉ vì một vài đồng bạc lẻ bèo bọt, thay vì cứ mãi chôn chân trong xó nhà kể từ ngày mội già cỗi của tôi rước tôi về làm vợ. Suy cho cùng, chết tiệt thật, họ cũng đã có mười một tháng và hơn thế nữa sống trong cảnh tẻ nhạt, và xứng đáng có được một sự thay đổi hoàn toàn về không gian sau quãng thời gian mài mòn thân xác với cuộc sống thành thị vào mùa hè, khi mà Mẹ Thiên nhiên ở đỉnh cao ngoạn mục nhất, tạo nên chẳng khác nào một nguồn sinh lực mới. Có vô vàn cơ hội tuyệt vời không kém dành cho những người đi nghỉ dưỡng ngay trên hòn đảo quê nhà, những chốn thôn quê yên bình đầy quyến rũ để phục hồi sức khỏe, mang lại vô vàn điểm thu hút cũng như một liều thuốc bổ cường tráng cho cơ thể ngay tại Dublin và những vùng ngoại ô đẹp như tranh vẽ của nơi này, chẳng hạn như Poulaphouca – nơi có tuyến xe điện hơi nước chạy qua –, hay thậm chí ở những vùng xa xôi hơn lánh xa chốn phồn hoa đô hội ở Wicklow, nơi được mệnh danh một cách chính đáng là khu vườn của Ireland, một vùng đất lý tưởng cho những tay đua xe đạp lớn tuổi chừng nào trời chưa đổ mưa, và ở những vùng hoang dã Donegal nơi mà nếu lời đồn đại là sự thật thì khung cảnh tuyệt mỹ phải biết, dù rằng địa phương kể sau không dễ gì đặt chân tới nên lượng du khách đổ về vẫn chưa được như mong đợi, bất chấp những lợi ích rõ rệt thu được từ đó. Trong khi đó, Howth với những mối liên hệ lịch sử và đủ thứ khác – Silken Thomas, Grace O’Malley, George IV, những khóm đỗ quyên cao hơn mực nước biển vài trăm thước – lại là một điểm đến ưa thích của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là vào mùa xuân khi lòng dạ thanh niên rạo rực, dù nơi đây cũng cướp đi không ít sinh mạng do ngã vách đá dù là cố ý hay vô tình, thường thì, nhân tiện nhắc đến, là ngã chân trái, vì nó chỉ cách cây cột mốc khoảng ba mươi lăm phút chạy xe. Bởi vì tất nhiên du lịch lữ hành hiện đại vẫn chỉ đang ở giai đoạn sơ khai mà thôi, có thể nói thế, và các tiện nghi vẫn còn để lại nhiều điều phải bàn. Điều có vẻ thú vị cần tìm hiểu đối với ông từ động cơ tò mò thuần túy là liệu chính lượng khách du lịch tạo ra tuyến đường hay ngược lại, hay thực ra là cả hai phía. Ông lật mặt bên kia của tấm bưu ảnh, bức tranh, rồi chuyền nó sang cho Stephen.

—Tao từng gặp một gã người Trung Quốc dạo nọ, người kể chuyện dũng cảm tiếp tục, gã có những viên thuốc nhỏ như bột trét, thả xuống nước là chúng nở ra và mỗi viên thuốc lại biến thành một thứ khác nhau. Cái này là con tàu, cái kia là ngôi nhà, cái nọ là bông hoa. Bọn tàu khựa chuyên nấu thịt chuột vào súp cho tụi mày ăn đấy, hắn nói thêm một cách đầy thèm thuồng.

Có lẽ nhận thấy vẻ hoài nghi trên khuôn mặt hai người, gã lãng tử giang hồ tiếp tục câu chuyện phiêu lưu của mình.

—Và tao từng thấy một gã bị giết ở Trieste bởi một tên Ý. Con dao cắm phập sau lưng. Loại dao thế này này.

Vừa nói, hắn vừa rút ra một con dao bấm trông vô cùng nguy hiểm hoàn toàn phù hợp với nhân dạng của mình và thủ thế sẵn sàng ra đòn.

—Trong một lầu xanh, nguyên nhân là vì cuộc tranh chấp giữa hai tên buôn lậu. Gã kia nấp sau cửa, lẻn ra phía sau gã này. Thế này nhé. Chuẩn bị gặp Chúa đi mày, hắn nói thế. Tịch! Con dao ngập sâu vào lưng tận cán.

Ánh mắt nặng trĩu lờ đờ đảo quanh của hắn như đang thách thức những câu hỏi tiếp theo, ngay cả khi họ có muốn hỏi đi chăng nữa.

—Đó là một thanh thép tốt, hắn lặp lại, vừa săm soi con dao găm đáng sợ của mình.

Sau cái kết bi thảm đủ sức làm kinh hồn bạt vía cả những kẻ gan dạ nhất đó, hắn búng lưỡi dao gập lại và cất thứ vũ khí nói trên vào chỗ cũ trong căn phòng kinh dị của mình, tức là cái túi áo.

—Bọn chúng rất khoái thứ thép lạnh này nhỉ, một kẻ nào đó rõ ràng chẳng biết quái gì lên tiếng vì lợi ích chung của tất cả. Đó là lý do tại sao người ta từng nghĩ mấy vụ án mạng ở công viên do nhóm những kẻ bất khuất gây ra là do người nước ngoài làm vì bọn họ chuyên dùng dao.

Trước nhận xét được thốt lên hiển nhiên theo tinh thần “ngu si hưởng thái bình” ấy, ông B. và Stephen, mỗi người theo cách riêng của mình, đều vô thức trao cho nhau những ánh mắt đầy ngụ ý trong sự im lặng mang màu sắc tôn giáo theo kiểu hoàn toàn *entre nous*, hướng về phía Skin-the-Goat – hay chính là người chủ quán –, kẻ chẳng hề biến sắc, đang rút từng tia nước sôi từ cái ấm siêu tốc của hắn. Khuôn mặt vô cảm của hắn, thực chất là một tác phẩm nghệ thuật, một nghiên cứu hoàn hảo tự thân, vượt ngoài mọi ngôn từ miêu tả, mang lại ấn tượng rằng hắn chẳng hiểu dù chỉ một iot chuyện gì đang diễn ra. Thật nực cười làm sao!

Khoảng lặng kéo dài tương đối xuất hiện. Người thì ngắt quãng đọc tờ báo chiều đã ố vàng vì cà phê, người thì nhìn tấm bưu ảnh chụp bản địa *choza de*, kẻ khác thì xem giấy xuất ngũ của người thủy thủ. Về phần mình, ông Bloom đang đắm chìm trong dòng suy tư trầm ngâm. Ông nhớ như in sự kiện được nhắc đến rõ mồn một như ngày hôm qua, cách đây chừng hai chục năm về trước vào những ngày tháng bão táp của phong trào ruộng đất, khi nó làm rung chuyển thế giới văn minh, nói theo cách nói hình tượng, vào đầu những năm tám mươi, chính xác là năm tám mươi mốt, khi ông vừa tròn mười lăm tuổi.

—Này, sếp, tên thủy thủ chen ngang. Trả lại đống giấy tờ cho tao coi nào.

Yêu cầu được đáp ứng, hắn với lấy và vơ gọn chúng lại bằng một tiếng sột soạt.

—Anh đã từng thấy tảng đá Gibraltar bao giờ chưa? ông Bloom hỏi.

Tên thủy thủ nhăn mặt, vừa nhai vừa làm ra vẻ mặt có thể hiểu là có, hoặc không.

—À, anh cũng từng ghé qua đó rồi nhỉ, điểm Europa, ông Bloom nói, tưởng rằng hắn đã tới, với hy vọng gã lãng tử có thể nhân đó gợi lại vài hồi ức nhưng hắn nào có làm thế, chỉ nhổ một bãi nước bọt văng tung tóe xuống đống mùn cưa và lắc đầu vẻ khinh khỉ lười nhác.

—Đó là khoảng năm nào thế nhỉ? ông B gặng hỏi. Anh có nhớ tên mấy con tàu không?

Tự xưng là thủy thủ của chúng ta nhai ngấu nghiến một lúc đói ngấu rồi mới trả lời:

—Tao ngấy đến tận cổ mấy cái hòn đá giữa biển này lắm rồi, hắn nói, cả tàu thuyền các thứ nữa. Toàn thịt muối cứng như đá suốt ngày.

Ra vẻ mệt mỏi, hắn im bặt. Người đặt câu hỏi nhận ra rằng khó lòng moi được nhiều thông tin từ một gã lão luyện ranh mãnh như vậy, liền thả hồn trôi dạt vào kích thước khổng lồ của lượng nước bao quanh quả địa cầu, chỉ cần nói rằng, như một cái liếc mắt tình cờ trên bản đồ đã hé lộ, nó che phủ trọn vẹn ba phần tư bề mặt trái đất, và ông hoàn toàn nhận thức được ý nghĩa của việc thống trị đại dương. Hơn một lần, tính thấp nhất là một chục lần, gần bãi North Bull ở Dollymount, ông từng nhận thấy một lão thủy thủ già về hưu, rõ ràng đã trở thành kẻ vô gia cư, thường xuyên ngồi thẫn thờ trên bức tường chắn sóng nhìn ra vùng biển chẳng mấy thơm tho gì, ngây người nhìn nó và nó nhìn lại hắn, mơ về những cánh rừng tươi mới và những đồng cỏ xanh non nào đó như ai đó từng hát ở đâu đó. Và điều đó khiến ông tự hỏi tại sao. Có lẽ hắn đã tự mình đi tìm bí mật đó, vật lộn ngược xuôi khắp các antipode và đủ thứ trò đời, trên dưới, à không hẳn là dưới, thách thức số phận. Và tỷ lệ cược là hai mươi ăn không rằng thực ra chẳng có cái bí mật nào sất. Tuy nhiên, không cần đi vào chi tiết vụn vặt, một thực tế hùng hồn vẫn rành rành ở đó là biển vẫn hiện diện trong toàn bộ sự huy hoàng của nó, và theo trật tự tự nhiên của vạn vật, ai đó kiểu gì cũng phải ra khơi và chống lại ý trời, dù điều đó chỉ cho thấy con người ta thường tìm cách đùn đẩy cái gánh nặng kiểu ấy cho kẻ khác, giống như cái ý tưởng về địa ngục, vé số và bảo hiểm vốn được vận hành trên cùng một khuôn mẫu chính xác. Chính vì lý do đó, nếu không vì lý do nào khác, Ngày Chủ nhật vì Thuyền cứu sinh là một tổ chức vô cùng đáng khen ngợi mà công chúng rộng lớn, bất kể sống ở nội địa hay miền biển tùy trường hợp, khi được khơi gợi nhận thức như thế, cũng nên bày tỏ lòng biết ơn đối với các viên chức quản lý cảng và lực lượng tuần duyên – những người phải điều khiển giàn buồng và xông pha giữa bão tố bất kể mùa nào khi tiếng gọi trách nhiệm cất lên: “Nước Ireland mong mỏi mỗi người đàn ông” v.v., và đôi khi phải trải qua quãng thời gian kinh hoàng vào mùa đông, không quên kể đến các trạm hải đăng Ireland, Kish và những nơi khác, có nguy cơ lật úp bất cứ lúc nào, nơi mà ông đã từng cùng con gái trải qua một chuyến đi vô cùng sóng gió, không muốn nói là bão bùng.

—Có một gã từng đi cùng tao trên con tàu Rover, lão chó biển, bản thân cũng là một kẻ lang thang, kể tiếp, đã lên bờ và nhận một việc nhẹ nhàng làm người hầu phòng cho quý tộc với mức lương sáu bảng một tháng. Cái quần tao đang mặc đây chính là quần của hắn, và hắn đã tặng tao chiếc áo dầu cùng con dao găm đó. Tao sẵn sàng nhận cái việc cạo râu và chải chuốt ấy lắm chứ. Tao ghét cái thói lang thang lắm rồi. Nhìn con trai tao mà xem, thằng Danny, bỏ nhà ra đi làm thủy thủ và mẹ nó xin cho nó làm ở một tiệm vải ở Cork, nơi nó có thể kiếm tiền dễ dàng.

—Nó bao nhiêu tuổi rồi? một người nghe thắc mắc. Nhìn ngang thì trông gã này thoạt trông có chút nét giống Henry Campbell, viên thư ký tòa thị chính, đang tạm tránh xa những lo toan muộn phiền chốn quan trường, dĩ nhiên là đầu tóc bù xù bẩn thỉu trong bộ dạng tơi tả và chiếc mũi đỏ ửng nồng nặc mùi rượu.

—Thì, tên thủy thủ đáp với vẻ chậm chạp đầy bối rối, thằng Danny nhà tao á? Chắc nó tầm mười tám tuổi rồi, tính theo cách của tao.

Gã cha người Skibbereen liền xé toạc chiếc áo sơ mi xám xịt hoặc bẩn thỉu bằng cả hai tay và gãi sồn sột lên lồng ngực, nơi có xăm hình một chiếc mỏ neo bằng mực tàu Trung Hoa màu xanh.

—Có chí trong cái ổ nằm ở Bridgwater ấy, hắn nhận xét, chắc chắn như bắp. Ngày mai hoặc ngày kia tao phải giặt giũ đàng hoàng mới được. Tao chỉ ghét bọn da đen thui thủi ấy thôi. Bọn chúng hút sạch máu của tụi mày đấy.

Thấy mọi người đều đang dán mắt vào lồng ngực mình, hắn liền nhiệt tình vén áo rộng ra hơn nữa để trên đỉnh của biểu tượng hy vọng và sự nghỉ ngơi muôn thuở của người thủy thủ, người ta có thể nhìn trọn vẹn con số 16 và khuôn mặt nghiêng của một thanh niên đang cau mày.

—Hình xăm đấy, chủ nhân khoe khoang giải thích. Cái đó được làm lúc chúng tao đang thả neo tránh bão ngoài khơi Odessa ở Biển Đen dưới quyền thuyền trưởng Dalton. Một gã tên là Antonio làm cho tao đấy. Kìa, chính là hắn đấy, người Hy Lạp.

—Làm thế có đau lắm không? có người hỏi tên thủy thủ.

Nhân vật hào hiệp đó, tuy nhiên, đang bận rộn túm tụm lại chỗ. Bằng cách nào đó trong cái. Bóp nắn hoặc.

—Nhìn đây này, hắn nói, chỉ vào hình Antonio. Kìa hắn đang chửi rủa tên thuyền phó đấy. Và kìa hắn bây giờ, hắn nói thêm, vẫn cái tên đó, vừa dùng ngón tay kéo lớp da – rõ ràng có một kỹ thuật đặc biệt nào đó –, vừa cười ha hả trước một câu chuyện tiếu lâm.

Và thực tế là khuôn mặt tái nhợt của thanh niên tên Antonio đó trông thực sự giống như đang cười gượng gạo, và hiệu ứng kỳ lạ ấy đã khơi dậy sự ngưỡng mộ không chút dè dặt của tất cả mọi người, kể cả Skin-the-Goat, lúc này cũng rướn người sang.

—Ừ, ừ, tên thủy thủ thở dài, nhìn xuống lồng ngực cường tráng của mình. Hắn cũng đi đời nhà ma rồi. Bị cá mập ăn thịt sau đó. Ừ, ừ.

Hắn buông lớp da ra khiến phần hình vẽ trở lại trạng thái bình thường như trước.

—Đúng là một tác phẩm gọn gàng, một gã thợ ven bờ nhận xét.

—Thế con số kia có ý nghĩa gì? gã lang thang thứ hai gặng hỏi.

—Bị ăn thịt sống á? kẻ thứ ba hỏi tên thủy thủ.

—Ừ, ừ, nhân vật kia lại thở dài, lần này có vẻ phấn chấn hơn với một nụ cười nửa miệng kéo dài trong chớp mắt hướng về phía người vừa đặt câu hỏi về con số. Bị ăn thịt. Hắn là người Hy Lạp.

Và rồi hắn nói thêm với một chút khiếu hài hước gầm gữ bất chấp cái kết bi thảm được cho là của mình:

—Tệ hại chẳng kém lão Antonio,

Vì lão đã bỏ rơi ta lại một mình.

Khuôn mặt của một ả đàn gái điếm đờ đẫn và tiều tụy dưới chiếc mũ rơm đen ló đầu liếc xéo qua cửa quán bến xe ngựa, rõ ràng đang tự thăm dò với mục đích kiếm thêm khách cho mối làm ăn của mình. Ông Bloom, hầu như chẳng biết phải nhìn đi đâu, liền quay phắt đi trong vẻ bối rối nhưng bề ngoài vẫn điềm tĩnh, cầm lấy tờ báo màu hồng của cơ quan ngôn luận phố Abbey từ trên bàn – thứ mà gã phu xe, nếu đúng là phu xe, đã để sang một bên –, cầm lên và ngắm nhìn sắc hồng của tờ giấy, tự hỏi tại sao lại là màu hồng. Lý do ông làm vậy là vì ông nhận ra ngay ngưỡng cửa khuôn mặt quen thuộc mà ông thoáng bắt gặp vào chiều nay trên bến Ormond, chính là người phụ nữ có phần đần độn ở ngõ hẻm, kẻ biết người phụ nữ mặc bộ đồ nâu hay đi cùng bạn (bà B.) và nài nỉ xin được giặt giũ hộ. Lại còn chuyện giặt giũ nghe có vẻ mơ hồ làm sao, chuyện giặt giũ của bạn ấy. Dù vậy, sự thành thật buộc ông phải thừa nhận rằng ông đã từng giặt quần lót dính bẩn của vợ ở phố Holles, và phụ nữ sẽ sẵn sàng – và thực tế là vẫn làm – giặt những món đồ tương tự của đàn ông có thêu chữ cái bằng mực đánh dấu của tiệm Bewley and Draper (ý là đồ của bà ấy), nếu họ thực sự yêu anh ta, nghĩa là yêu nhau củ ấu cũng tròn. Dù vậy, ngay lúc đó, đang ngồi trên đống lửa, ông chỉ mong tống cổ được người đàn bà đó đi cho khuất mắt, thế nên việc người chủ quán ra hiệu thô lỗ bảo cô ta xéo đi quả là một sự giải thoát thực sự. Qua mép tờ *Evening Telegraph*, ông chỉ kịp thoáng thấy khuôn mặt cô ta ló ra bên lề cửa với một nụ cười đần độn vô hồn, cho thấy cô ta không hoàn toàn bình thường, đang nhìn với vẻ thích thú rõ ràng đối với nhóm người đang vây quanh lồng ngực mang mác hàng hải của thuyền trưởng Murphy, và rồi cô ta biến mất hẳn.

—Tàu pháo đấy, chủ quán nói.

—Tôi tự hỏi, ông Bloom tâm sự với Stephen dưới góc độ y học, làm sao một sinh vật khốn nạn như thế từ bệnh viện Lock đang ruồi rúi bệnh tật lại có thể trơ trẽn đến mức ra đường gạ gẫm, hay làm thế nào mà bất kỳ người đàn ông nào còn tỉnh táo, nếu hắn còn chút ý thức coi trọng sức khỏe của mình. Thật là một sinh vật đáng thương! Dĩ nhiên tôi cho rằng cuối cùng thì thế nào cũng có một người đàn ông nào đó phải chịu trách nhiệm về tình trạng của cô ta. Dù sao đi nữa, bất kể nguyên nhân từ đâu...

Stephen không để ý đến cô ta và nhún vai, chỉ bình luận:

—Ở đất nước này, người ta bán nhiều thứ hơn những gì ả từng có và buôn bán vô cùng phát đạt. Đừng sợ những kẻ giết thân thể mà không có quyền giết linh hồn. Cô ta là một kẻ buôn tồi. Mua đắt bán rẻ.

Người đàn ông lớn tuổi, dù không hề là một bà cô già hay kẻ đạo đức giả, cho rằng đó chẳng khác nào một vụ bê bối động trời cần phải được chấm dứt ngay lập tức, khi mà những người phụ nữ mang mác đó (hoàn toàn gác lại mọi sự e thẹn kiểu bà cô già về chủ đề này), dẫu là một cái ác tất yếu, lại không được cấp phép và kiểm tra y tế bởi các cơ quan có thẩm quyền – một điều mà ông có thể tự hào tuyên bố, với tư cách là một người gia trưởng, ông đã kịch liệt ủng hộ ngay từ phút khởi đầu. Bất cứ ai dấn thân vào một chính sách kiểu đó, ông nói, và triệt để đưa vấn đề ra ánh sáng sẽ mang lại một phúc lợi lâu dài cho tất cả mọi người liên quan.

—Cậu với tư cách là một người Công giáo tốt, ông nhận xét, khi nói về thể xác và linh hồn, chắc chắn tin vào linh hồn. Hay ý cậu là trí tuệ, là năng lực bộ óc nói chung, tách biệt với bất kỳ đối tượng bên ngoài nào, chẳng hạn như chiếc bàn kia, tách trà đó. Bản thân tôi tin vào điều đó bởi vì nó đã được giải thích bởi những người có thẩm quyền rằng đó là những nếp nhăn của chất xám. Nếu không thì chúng ta chẳng bao giờ có những phát minh như tia X chẳng hạn. Cậu có tin thế không?

Bị dồn vào chân tường như vậy, Stephen phải nỗ lực siêu phàm để tập trung trí nhớ và cố gắng ghi nhớ trước khi có thể thốt lên:

—Người ta mách tôi theo nguồn tin cậy nhất rằng đó là một thực thể đơn giản và do đó không thể mục nát. Nó sẽ là bất tử, theo tôi hiểu, nếu không có khả năng bị tiêu hủy bởi Tác Nhân Đầu Tiên của nó – kẻ, theo những gì tôi nghe được, hoàn toàn có khả năng bổ sung điều đó vào danh sách những trò đùa thực tế khác của Ngài, khi mà cả sự hủy diệt tự thân lẫn sự hủy diệt ngẫu nhiên đều bị loại trừ theo quy tắc ngoại giao triều đình.

Ông Bloom hoàn toàn đồng tình với đại ý này, dẫu sự tinh tế huyền bí liên quan có hơi vượt quá tầm hiểu biết trần thế của ông, nhưng ông vẫn cảm thấy buộc phải phản đối ở khía cạnh “đơn giản”, và nhanh chóng đáp lời:

—Đơn giản ư? Tôi không nghĩ đó là từ thích hợp. Dĩ nhiên, để nhượng bộ cậu một bước, đôi khi hiếm lắm mới có người chạm trán được một tâm hồn đơn giản. Nhưng điều tôi muốn hướng tới là, ví dụ như một chuyện là phát minh ra những tia đó do Röntgen hay kính viễn vọng như Edison – dù tôi tin là trước thời của ông ấy, Galileo mới là người đó –, và điều tương tự áp dụng cho các định luật, chẳng hạn như của một hiện tượng tự nhiên có tầm ảnh hưởng lớn như điện lực; nhưng tin vào sự tồn tại của một vị Chúa siêu nhiên lại là chuyện hoàn toàn khác hẳn.

—Ồ, điều đó, Stephen phản bác, đã được chứng minh một cách không thể chối cãi bởi một số đoạn nổi tiếng nhất trong Kinh thánh, ngoài các bằng chứng gián tiếp ra.

Tuy nhiên, về điểm hóc búa này, quan điểm của hai người – vốn cách biệt một trời một vực cả về nền tảng học vấn lẫn mọi thứ khác, cùng sự chênh lệch rõ rệt về tuổi tác – đã va chạm nhau.

—Đã được chứng minh rồi ư? người có kinh nghiệm hơn phản bác, giữ nguyên quan điểm ban đầu với một nụ cười hoài nghi. Tôi không chắc lắm về điều đó đâu. Đó là vấn đề thuộc về quan điểm của mỗi người, và không cần lôi kéo khía cạnh giáo phái vào chuyện này, tôi xin phép được hoàn toàn bất đồng với cậu ở điểm đó. Thành thật mà nói, niềm tin của tôi là những đoạn đó hoàn toàn là những bản ngụy tạo chính hiệu do các tu sĩ thêm thắt vào thì đúng hơn, hoặc đó lại là câu hỏi lớn về nhà thơ quốc gia của chúng ta một lần nữa: chính xác là ai đã viết ra chúng, giống như Hamlet và Bacon vậy – những điều mà cậu, người hiểu biết về Shakespeare hơn tôi vô cùng nhiều, chắc chắn tôi không cần phải nhắc lại. Nhân tiện, sao cậu không uống nốt cốc cà phê đó đi? Để tôi khuấy lên cho. Và ăn một miếng bánh đi. Trông nó chẳng khác nào một viên gạch của bác thuyền trưởng nhà mình bị ngụy trang cả. Dù sao thì chẳng ai có thể cho đi thứ mà mình không có. Thử một miếng đi.

—Không thể nào, Stephen cố gắng thốt lên, các cơ quan tinh thần của cậu lúc đó nhất quyết từ chối hoạt động thêm nữa.

Việc săm soi bới móc vốn tai tiếng là một thói xấu, nên ông Bloom nghĩ tốt hơn là nên khuấy hoặc cố gắng hòa tan lớp đường vón cục ở dưới đáy, đồng thời suy ngẫm với chút ít cay đắng về Cung điện Cà phê cùng công tác cai nghiện (và mang lại lợi nhuận) của nó. Dĩ nhiên đó là một mục đích chính đáng và không có gì phải bàn cãi khi nó làm được vô số điều tốt đẹp, những nhà trọ như thế này mà họ đang ngồi được điều hành theo đường lối kiêng rượu dành cho những kẻ lang thang vào ban đêm, các buổi hòa nhạc, đêm văn nghệ và những buổi thuyết giảng hữu ích (vào cửa miễn phí) bởi những người có trình độ dành cho tầng lớp lao động thấp kém. Mặt khác, ông có một ký ức đau đớn và rõ mùng một rằng họ đã trả cho vợ ông, bà Madam Marion Tweedy – người từng có thời gian gắn bó nổi bật với nơi này – một mức thù lao vô cùng khiêm tốn cho việc chơi piano của bà. Ý tưởng đó, ông rất có lý do để tin rằng, là vừa làm việc thiện vừa kiếm lời, vì chẳng có sự cạnh tranh nào đáng kể. Sunfat đồng độc tố SO4 hoặc chất gì đó trong mấy hạt đậu khô nào đó ông nhớ từng đọc được ở một quán ăn giá rẻ nào đó nhưng không thể nhớ rõ là khi nào hay ở đâu. Dù sao thì việc kiểm tra, kiểm tra y tế đối với tất cả các loại thực phẩm dường như càng lúc càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, điều mà có lẽ giải thích cho sự thịnh hành của thức uống Vi-Cocoa của bác sĩ Tibble nhờ vào kết quả phân tích y tế liên quan.

—Làm một ngụm thử xem sao nào, ông bạo dạn gợi ý về cốc cà phê sau khi đã được khuấy đều.

Bị thuyết phục ít nhất là nếm thử, Stephen nhấc chiếc cốc nặng nề ra khỏi vũng nước màu nâu phát ra tiếng õng ẹo khi nhấc quai lên, và nhấp một ngụm thức uống khó ưa đó.

—Dù sao thì đó cũng là thức ăn đặc, vị thần hộ mệnh của cậu giục giã, tôi là một người tôn sùng thức ăn đặc, với lý do độc nhất vô nhị không phải là vì ham ăn hàm hồ chút nào, mà là vì những bữa ăn đều đặn là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ công việc tử tế nào, dù là trí óc hay chân tay. Cậu nên ăn nhiều thức ăn đặc vào. Cậu sẽ cảm thấy mình là một con người hoàn toàn khác.

—Chất lỏng thì tôi có thể ăn được, Stephen nói. Nhưng ôi, xin anh hãy làm ơn cất con dao đó đi. Tôi không thể nhìn nổi cái đầu nhọn của nó. Nó làm tôi nhớ đến lịch sử La Mã.

Ông Bloom lập tức làm theo gợi ý và cất món đồ gây tranh cãi đi – một con dao chuôi sừng cùn bình thường chẳng có gì gợi nhớ đến La Mã hay cổ đại đối với mắt người thường –, và nhận xét rằng cái mũi nhọn là điểm ít đáng chú ý nhất ở nó.

—Những câu chuyện của người bạn chung của chúng ta cũng giống như chính con người hắn vậy, ông Bloom nhân chuyện con dao thì thầm nói với người bạn tâm giao. Cậu có nghĩ chúng là thật không? Hắn có thể bịa ra những câu chuyện đó hết giờ này qua giờ khác suốt cả đêm và nói dối tráo trở như ranh. Nhìn hắn kìa.

Tuy nhiên, dù đôi mắt trĩu nặng buồn ngủ vì hơi sương biển, cuộc đời vẫn chứa đựng vô vàn điều và những sự trùng hợp mang tính chất khủng khiếp, và hoàn toàn nằm trong giới hạn khả năng rằng đó không phải là một sự bị đặt hoàn toàn, dù thoạt nhìn thì những câu chuyện khoác lác hắn tuôn ra chẳng có mấy xác suất là sự thật gospel chuẩn chỉnh.

Trong lúc đó, ông vẫn đang đánh giá cá nhân ngồi trước mặt và soi mói hắn theo kiểu Sherlock Holmes từ khi lọt mắt xanh. Dù là một người được bảo quản tốt không chút kém sức bền, nếu có hơi chớm hói, vẫn có cái gì đó giả tạo trong dáng điệu gợi ý đến một vụ vượt ngục, và chẳng cần phải phóng đại bóp méo trí tưởng tượng quá mức để liên kết một gã có diện mạo kỳ quái như vậy với hội những kẻ chuyên đập tơi xơ gai và quay máy đạp nước. Gã thậm chí có thể đã thủ tiêu nạn nhân của mình giả sử câu chuyện hắn kể là chuyện của chính gã, như người ta vẫn hay làm khi kể về kẻ khác, tức là chính tay hắn đã giết nạn nhân và đã trải qua bốn năm năm tù tội khổ sai ngon nghẻ, chưa kể đến nhân vật Antonio (không có họ hàng gì với nhân vật kịch mang tên y hệt xuất phát từ ngòi bút của nhà thơ quốc gia chúng ta), kẻ đã đền tội theo cách kịch tính miêu tả ở trên. Mặt khác, hắn có thể chỉ đang bluff phao mè, một điểm yếu có thể tha thứ bởi vì việc chạm trán với những tên gà mờ không lẫn vào đâu được, cư dân Dublin, giống như đám phu xe đang ngóng tin tức từ nước ngoài kia, sẽ cám dỗ bất kỳ lão thủy thủ già nào từng giương buồm vượt đại dương nói khoác lác về chiếc schooner Hesperus và v.v. Và suy cho cùng thì những lời nói dối mà một gã tự bị đặt về bản thân có lẽ chẳng thấm tháp gì so với những cú lừa thế kỷ to tát mà những kẻ khác bịa đặt về hắn.

—Nói cho cậu hay, tôi không có ý bảo rằng đó hoàn toàn là sản phẩm bịa đặt đâu, ông tiếp tục. Những cảnh tượng tương tự thỉnh thoảng, nếu không muốn nói là thường xuyên, vẫn xuất hiện. Những người khổng lồ, dù nói thế thì hơi quá xa vời, thỉnh thoảng cậu vẫn thấy, như nữ hoàng lùn Marcella. Ở nhà trưng bày tượng sáp trên phố Henry, chính mắt tôi từng thấy mấy thổ dân Aztec, theo cách gọi của họ, ngồi chạng vạng chân, họ có trả tiền cũng chẳng duỗi thẳng chân ra được vì các cơ ở đây này, cậu thấy đấy, ông ra hiệu chỉ vào phần bắp thịt hoặc bất cứ thứ gì bạn muốn gọi đằng sau đầu gối phải của người bạn đồng hành, đã hoàn toàn tê liệt vì ngồi tư thế đó quá lâu bị gò bó, lại được tôn sùng như các vị thần. Đó lại là một ví dụ nữa về những tâm hồn đơn giản.

Tuy nhiên, quay trở lại với bạn Sinbad và những cuộc phiêu lưu kinh hoàng của hắn (kẻ gợi nhớ ông phần nào đến Ludwig, hay Ledwidge, khi hắn xuất hiện trên sân khấu nhà hát Gaiety hồi Michael Gunn nắm quyền quản lý vở *Người Hà Lan bay*, một thành công vang dội, và lượng lớn người hâm mộ đổ xô đến nghe, dù những con tàu bất kỳ loại nào, ma quái hay bình thường, trên sân khấu thường có vẻ hơi nhạt nhẽo và các chuyến tàu cũng vậy), chuyện đó hoàn toàn không có gì là không tương thích nội tại, ông thừa nhận. Ngược lại, cú đâm lén sau lưng đó hoàn toàn phù hợp với phong cách của đám người Ý kia, dù thành thật mà nói ông vẫn phải thừa nhận rằng đám bán kem và chiên cá đó, chưa kể đến khoai tây chiên các loại vươn ra tận vùng Tiểu Ý ở gần Coombe, đều là những gã cần cù, tiết kiệm và làm việc chăm chỉ, ngoại trừ có lẽ hơi thích săn trộm loài động vật bốn chân vô hại mang tính mèo lôi của người khác vào ban đêm để có một bữa giò chỏ ngon lành với tỏi là món bắt buộc ăn kèm với hắn hoặc cô ta vào hôm sau một cách lén lút và, ông nói thêm, với giá rẻ mạt.

—Người Tây Ban Nha chẳng hạn, ông tiếp tục, những tính cách đầy đam mê kiểu đó, bốc đồng như quỷ sứ, rất hay tự ý hành động theo luật pháp của riêng mình và tống tiễn bạn về chầu diêm vương trong chớp mắt bằng mấy con dao găm mang theo vùng bụng. Điều đó bắt nguồn từ cái nóng bức khắc nghiệt, khí hậu nói chung. Vợ tôi có thể nói là mang dòng máu Tây Ban Nha, một nửa là thế. Thực tế là cô ấy hoàn toàn có thể đòi quyền công dân Tây Ban Nha nếu muốn, vì sinh ra tại (về mặt kỹ thuật) Tây Ban Nha, tức là Gibraltar. Cô ấy mang kiểu người Tây Ban Nha. Khá ngăm đen, đúng chuẩn tóc nâu sẫm, da đen. Bản thân tôi hoàn toàn tin rằng khí hậu quyết định tính cách. Đó là lý do tại sao tôi hỏi cậu có viết thơ bằng tiếng Ý hay không.

—Những kẻ có tính cách ở ngoài cửa kia, Stephen chen vào, tỏ ra vô cùng gay gắt về mười shilling. Roberto ruba roba sua.

—Chính xác là thế, ông Bloom phụ họa theo.

—Thế thì, Stephen vừa trân trân nhìn vừa lẩm bẩm trôi dạt với chính mình hoặc một thính giả vô danh nào đó ở đâu đó, chúng ta có sự bốc đồng của Dante và tam giác cân cô Portinari mà hắn đem lòng yêu, rồi Leonardo và thánh Tommaso Mastino.

—Mọi thứ nằm trong máu cả, ông Bloom lập tức hùa theo. Tất cả đều được gột rửa trong dòng máu của mặt trời. Thật là một sự trùng hợp khi hôm nay tôi vừa có dịp ghé thăm bảo tàng phố Kildare, ngay trước cuộc gặp gỡ của chúng ta, nếu có thể gọi là thế, và tôi vừa ngắm nghía những bức tượng cổ ở đó. Tỷ lệ hoàn hảo của hông, ngực. Cậu hoàn toàn không thể chạm trán với những người phụ nữ kiểu đó ở đây đâu. Hãn hữu lắm mới có ngoại lệ. Xinh đẹp thì có, xinh theo một cách nào đó cậu có thể tìm thấy, nhưng điều tôi đang nói đến là hình dáng của người phụ nữ. Bên cạnh đó, họ có rất ít gu thẩm mỹ trong cách ăn mặc, hầu hết là thế, thứ vốn làm tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên của người phụ nữ, cậu có nói gì đi nữa. Tất vớ nhăn nhúm, đó có lẽ là, và có thể thực sự là, một tật xấu nhỏ của tôi, nhưng dẫu vậy đó là thứ tôi vô cùng ghét phải nhìn thấy.

Tuy nhiên, sự quan tâm có vẻ bắt đầu chùng xuống ở mọi phía, và rồi những người khác chuyển sang bàn về các tai nạn trên biển, tàu thuyền mất tích trong sương mù, đâm phải băng trôi, đủ mọi thứ trên đời. Gã thủy thủ tất nhiên cũng có chuyện để khoe. Hắn từng đi vòng qua mũi đất vài bận lẻ tẻ và chống chọi với một cơn gió mùa – một dạng gió – ở các vùng biển Trung Quốc, và qua tất cả những hiểm họa đại dương đó, có một điều, hắn tuyên bố hoặc đại loại thế, đã cứu giúp hắn: một tấm huy chương thánh mà hắn mang theo.

Thế rồi sau đó họ lân la sang chuyện vụ đắm tàu ngoài khơi mỏm đá Daunt, vụ đắm tàu của chiếc tàu ba cột buồm xấu số người Na Uy mà chẳng ai nhớ nổi tên trong chốc lát cho đến khi gã phu xe – kẻ trông thực sự phảng phất nét mặt của Henry Campbell – nhớ ra là chiếc Palme trên bãi biển Booterstown. Đó là đề tài bàn tán rôm rả nhất trong thành phố năm đó (Albert William Quill đã viết một bài thơ nguyên tác xuất sắc mang giá trị nổi bật về chủ đề này cho tờ *Irish Times*), những con sóng cuồn cuộn tràn qua mạn tàu và từng đám đông ùn ùn kéo nhau ra bờ biển trong khung cảnh hỗn loạn chết lặng vì kinh hãi. Rồi ai đó nhắc đến vụ việc của chiếc tàu hơi nước *Lady Cairns* ở Swansea bị đâm phải bởi chiếc *Mona* đang chạy hướng ngược lại trong thời tiết khá mù mịt và chìm nghỉm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn trên boong. Không có sự cứu trợ nào được đưa ra. Thuyền trưởng của tàu *Mona* nói rằng ông ta sợ vách ngăn va đập của mình sẽ bị bật tung. Rõ ràng là hầm tàu của nó không chứa nước.

Vào lúc này, một sự cố đã xảy ra. Do có nhu cầu phải xả bớt nước cứu hỏa, tên thủy thủ liền rời khỏi chỗ ngồi.

—Cho tôi lướt qua mũi thuyền nhé, chiến hữu, hắn nói với người hàng xóm đang thiu thiu chìm vào giấc ngủ yên bình.

Hắn lê bước nặng nề, chậm chạp với dáng đi cục mịch ra cửa, bước nặng nề qua một bậc thềm duy nhất của quán và rẽ hẳn về phía trái. Trong lúc hắn đang định hình phương hướng, ông Bloom – người nhận ra lúc đứng dậy rằng hắn có hai bình đựng rượu rum, có lẽ là loại của tàu, nhô ra ở mỗi túi áo để phục vụ nhu cầu tư gia cho cái cuống họng đang bốc cháy của mình – liền thấy hắn rút ra một cái chai và bật nút hoặc vặn mở, đưa miệng chai lên môi và làm một ngụm ngon lành phát ra tiếng kêu ừng ực. Tên Bloom không chịu ngồi yên, kẻ cũng có mối nghi ngờ tinh quái rằng lão già kỳ cựu này mò ra ngoài để tìm kiếm đối tượng quyến rũ dưới hình hài một người đàn bà – kẻ mà tuy nhiên đã biến mất hoàn toàn theo mọi nghĩa –, bằng cách rướn người đã có thể thoáng nhìn thấy hắn, khi đã được tiếp sức đầy đủ bởi chiến tích nốc rượu rum, đang ngước mắt nhìn lên mấy cái trụ và dầm cầu Loop Line với vẻ ngơ ngác lạc lõng, vì dĩ nhiên mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn căn bản kể từ lần ghé thăm trước và đã được cải thiện đáng kể. Một hoặc nhiều người vô hình nào đó đã chỉ đường cho hắn tới cái nhà vệ sinh nam do ủy ban vệ sinh dựng lên khắp nơi nhằm mục đích đó, nhưng chỉ một thoáng sau khi sự im lặng tuyệt đối ngự trị, tên thủy thủ – rõ ràng là tránh xa chỗ đó ra – đã giải quyết ngay gần hơn, tiếng nước thải của hắn một lúc sau đó tạt ào xuống mặt đất, qua đó vô tình đánh thức một con ngựa của hàng xe taxi. Một cái móng cào cào tìm chỗ đứng mới sau giấc ngủ và dây cương lanh canh vang lên. Hơi bị làm phiền trong bốt canh bởi chậu than cốc đang cháy rực, người gác đống đá của tòa thị chính – kẻ dù đã sa sút và đang rệu rã từng ngày nhưng thực chất chính là tay Gumley nói trên, hiện gần như sống nhờ tiền cứu tế xã hội, được Pat Tobin giao cho công việc tạm thời rất có thể xuất phát từ lòng nhân đạo vì quen biết hắn từ trước – liền nhúc nhích và xoay sở trong bốt canh trước khi lại thả hồn vào vòng tay của Morpheus. Thật là một chuỗi ngày đen đủi kinh hoàng ở mức độ tồi tệ nhất đối với một kẻ có xuất thân vô cùng danh giá và đã quen với những tiện nghi gia đình tươm tất suốt cả cuộc đời, từng có lúc vớ được khoản tiền kếch xù một trăm bảng một năm để rồi cái đồ ngu ngốc hai nòng đó vung tay quá trán nướng sạch vào những trò vô bổ. Và kìa hắn đang ở bước đường cùng sau khi đã từng quậy tơi bừng thành phố mà trong tay chẳng có lấy một xu dẻ rách. Hắn uống rượu là điều hiển nhiên không cần phải bàn, và điều đó một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, trong khi hắn hoàn toàn có thể làm ăn lớn nếu như – một chữ “nếu” to đùng – hắn xoay sở cai được cái thói ghiền đặc biệt của mình.

Trong khi đó, tất cả mọi người đang lớn tiếng than thở về sự suy thoái của ngành vận tải biển Ireland, cả tuyến ven bờ lẫn quốc tế, vốn là một phần gắn liền của cùng một vấn đề. Một con tàu của hãng Palgrave Murphy vừa được hạ thủy tại vũng tàu Alexandra, chuyến hạ thủy duy nhất trong năm đó. Cảng biển thì rành rành ra đấy chỉ ngặt một nỗi chẳng có con tàu nào ghé qua.

Có những vụ đắm tàu và những kẻ trục vớt, chủ quán – kẻ rõ ràng rất am tường – lên tiếng.

Điều hắn muốn tìm hiểu là tại sao con tàu đó lại đâm sầm vào tảng đá duy nhất trong vịnh Galway khi dự án cảng Galway được đề xuất bởi một ông Worthington hay tên nào đại loại thế, phải không? Hãy đi mà hỏi vị thuyền trưởng lúc bấy giờ, hắn khuyên nhủ họ, xem chính phủ Anh đã đút lót cho lão bao nhiêu tiền bôi trơn cho chiến công ngày hôm đó, thuyền trưởng John Lever thuộc Hãng tàu Lever.

—Tôi nói có đúng không, thuyền trưởng? hắn gặng hỏi tên thủy thủ, kẻ lúc này đang quay trở lại sau chuyến giải khát tư gia và những vận động vừa rồi.

Nhân vật đó ngửi thấy mùi phảng phất của khúc cuối bài hát hoặc câu chữ bèn gầm gừ ra vẻ âm nhạc nhưng với khí thế ngút trời một thứ điệu hò hay đại loại thế ở quãng hai hoặc quãng ba. Đôi tai thính nhạy của ông Bloom nghe thấy hắn nhổ cục thuốc nhai ra (đúng là thế), nghĩa là hắn đã tạm kẹp nó vào nắm đấm trong lúc làm nhiệm vụ uống và đi vệ sinh, và thấy nó có vẻ hơi chua chát sau ngọn lửa lỏng vừa nấp vào bụng. Dù thế nào đi nữa, hắn lảo đảo lăn vào quán sau chiến công cúng rượu kết hợp nốc rượu thành công, mang theo bầu không khí nồng nặc mùi rượu vào buổi tiệc tùng, vừa nghêu ngao ầm ĩ như một gã thủy thủ thực thụ:

—Bánh quy cứng như đồng thau

Và thịt bò mặn như đít vợ Lot.

Ôi, Johnny Lever!

Johnny Lever, ôi!

Sau màn xuất thần đó, nhân vật đáng gờm đã chính thức có mặt tại hiện trường và lấy lại chỗ ngồi, hắn đổ sụp xuống chiếc băng ghế được cung cấp thay vì ngồi một cách nhẹ nhàng. Skin-the-Goat, giả sử hắn đúng là thế, rõ ràng có ý đồ riêng, đang trút bỏ những nỗi bất bình của mình trong một bài diễn văn đả kích yếu ớt nhưng đầy sức mạnh về tài nguyên thiên nhiên của Ireland hoặc đại loại thế, cái mà hắn miêu tả trong bài diễn thuyết dài dòng của mình là quốc gia giàu có nhất không có đối thủ trên mặt đất của Chúa, vượt trội hoàn toàn so với nước Anh, với trữ lượng than đá khổng lồ, sáu triệu bảng thịt lợn xuất khẩu mỗi năm, mười triệu giữa bơ và trứng và toàn bộ sự giàu có bị hút cạn bởi nước Anh thông qua việc áp thuế lên những người nghèo phải cắn răng chịu đựng từ muôn đời nay và húp trọn những miếng thịt ngon nhất trên thị trường, cùng vô số những lời lèm bèm dư thừa theo cùng một điệu bộ. Cuộc trò chuyện của họ theo đó trở thành vấn đề chung và tất cả đều đồng tình rằng đó là sự thật. Mọi thứ chết tiệt trên đời đều có thể mọc lên trên đất Ireland, hắn tuyên bố, và nhìn kìa đại tá Everard ở Navan đang trồng thuốc lá kìa. Tìm đâu ra thứ thịt xông khói nào sánh được với Ireland? Nhưng một ngày tính sổ, hắn tăng tiến dần với giọng điệu quả quyết, hoàn toàn thâu tóm mọi cuộc trò chuyện, đang chờ đợi nước Anh hùng mạnh, bất chấp quyền lực đồng tiền của cô ta vì những tội ác đã gây ra. Sẽ có một sự sụp đổ và là cú sụp đổ vĩ đại nhất trong lịch sử. Người Đức và người Nhật sắp sửa có màn góp vui rồi, hắn khẳng định. Người Boer là khởi đầu của cái kết. Nước Anh kiểu Brummagem đang chao đảo và sự sụp đổ của nó sẽ chính là Ireland, gót chân Achilles của nó – điều mà hắn giải thích cho họ nghe về điểm yếu của Achilles, người anh hùng Hy Lạp, một điểm mà thính giả của hắn chộp lấy ngay lập tức khi hắn thu hút trọn vẹn sự chú ý của họ bằng cách chỉ vào gân gót chân trên giày của mình. Lời khuyên của hắn dành cho mọi người Ireland là: hãy ở lại vùng đất chôn nhau cắt rốn và làm việc vì Ireland, sống vì Ireland. Parnell từng nói, Ireland không thể tiếc dù chỉ một người con của mình.

Sự im lặng bao trùm đánh dấu sự kết thúc của màn độc thoại. Tên hàng hải trơ lơ ngơ lắng nghe những lời tiên tri giật gân đó mà không hề nao núng.

—Khó nhằn phết đấy, sếp ơi, gã thô lỗ đáp trả có vẻ hơi bực bội trước chân lý vừa rồi.

Trước gáo nước lạnh đề cập đến sự sụp đổ này nọ, chủ quán đồng tình nhưng vẫn giữ vững quan điểm chính của mình.

—Ai là lực lượng quân đội giỏi nhất? lão cựu chiến binh râu ria bực tức chất vấn. Và những vận động viên nhảy cao và đua ngựa giỏi nhất? Và những đô đốc và tướng lĩnh xuất sắc nhất chúng ta đang có? Trả lời tao nghe xem nào.

—Lựa chọn hàng đầu là người Ireland, gã phu xe giống Campbell đáp lại, bất chấp những vết tích trên mặt.

—Chuẩn không cần chỉnh, lão thủy thủ xác nhận. Nông dân Công giáo Ireland. Hắn là trụ cột của đế chế chúng ta. Anh có quen Jem Mullins không?

Trong khi vẫn cho phép hắn giữ quan điểm cá nhân như mọi người, chủ quán bổ sung rằng hắn chẳng quan tâm đến bất kỳ đế chế nào, của chúng ta hay của hắn, và coi bất kỳ người nào thuộc Ireland đáng mặt nam nhi mà lại đi phục vụ cho nó đều là kẻ vô dụng. Thế rồi họ bắt đầu cãi vã vài câu gay gắt khi bầu không khí nóng dần lên, cả hai, khỏi phải nói, đều kêu gọi sự phân xử từ đám đông thính giả – những kẻ theo dõi màn giao tranh với sự hứng thú chừng nào họ chưa sa vào việc bới móc quá khứ và thượng cẳng chân hạ cẳng tay.

Dựa trên những thông tin nội bộ kéo dài qua một loạt năm tháng, ông Bloom có phần nghiêng về thái độ chê bai ý kiến đó là một trò nhảm nhí lố bịch, bởi vì trong lúc chờ đợi cái kết cục được tha thiết mong mỏi hay không đó, ông thừa nhận rõ một thực tế rằng những người láng giềng bên kia eo biển của họ, trừ khi họ ngốc hơn những gì ông tưởng, còn lâu mới bộc lộ sức mạnh mà toàn giấu giếm thì có. Nó hoàn toàn ngang ngửa với cái ý tưởng viển vông ở một số phe phái rằng trong một trăm triệu năm nữa mỏ than của hòn đảo chị em sẽ cạn kiệt, và nếu theo thời gian mà sự việc diễn ra đúng như thế, tất cả những gì cá nhân ông có thể phát biểu về vấn đề này là vì vô số tình huống bất ngờ liên quan đến vấn đề có thể xảy ra trước thời điểm đó, nên tốt hơn hết là trong lúc này hãy cố gắng tận dụng tối đa cả hai quốc gia dẫu cho họ cách nhau một trời một vực. Một điểm thú vị nhỏ nữa, những mối tình của đĩ điếm và tay sai – nói theo ngôn ngữ bình dân –, nhắc nhở ông rằng lính Ireland cũng từng chiến đấu cho nước Anh nhiều lần chẳng kém gì chống lại nó, thậm chí còn nhiều hơn thế nữa. Và bây giờ, tại sao lại thế? Thế nên cảnh tượng giữa hai người bọn họ – chủ quán được đồn là hoặc từng là Fitzharris, tên bất khuất nổi tiếng, và kẻ kia rõ ràng là giả mạo – gợi mạnh cho ông nhớ đến một vụ lừa đảo lòng tin, giả sử rằng nó đã được sắp đặt từ trước như vị khán giả đứng ngoài – một kẻ nghiên cứu tâm hồn con người nếu có –, những kẻ khác lại là kẻ thấy ít nhất ván bài. Còn về phần người cho thuê hoặc chủ quán, kẻ có lẽ hoàn toàn không phải là nhân vật kia, ông (B.) không thể kìm ném cảm giác rằng và vô cùng chính xác là thô lỗ khi lờ những kẻ như thế đi trừ khi bạn là một thằng đần độn toàn tập và từ chối dính líu đến họ như một quy tắc vàng trong đời tư cùng trò chỉ điểm bắt bớ của chúng, vì luôn có khả năng bất ngờ xuất hiện một tên Dannyman đứng ra làm nhân chứng cho nhà vua hoặc nữ hoàng bây giờ giống như Denis hoặc Peter Carey – một ý nghĩ mà ông hoàn toàn bác bỏ. Hoàn toàn tách rời khỏi điều đó, ông ghét cay ghét đắng những sự nghiệp sai trái và tội phạm về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, dù những xu hướng tội phạm đó chưa từng trú ngụ trong lồng ngực ông dưới bất kỳ hình thức nào, ông thực sự cảm thấy và không thể phủ nhận (trong khi nội tâm vẫn là chính mình) một sự ngưỡng mộ nhất định đối với một kẻ thực sự đã vung con dao, thép lạnh, với lòng can đảm của niềm tin chính trị của mình (dù cá nhân ông sẽ không bao giờ nhúng tay vào bất kỳ chuyện tương tự), cùng một giuộc với những vụ thù hận tình ái đẫm máu ở miền nam, chiếm lấy ả hoặc lên đoạn đầu đài vì ả, khi người chồng thường sau vài lời qua tiếng lại giữa hai người về mối quan hệ của ả với kẻ may mắn kia (hắn đã cho người theo dõi cặp đôi này), gây ra những thương tích chí mạng cho người vợ yêu quý như hệ quả của một mối tình ngoài giá hôn bằng cách đâm con dao ngập vào người ả, cho đến khi ông chợt nhận ra rằng Fitz, biệt danh Skin-the-Goat, chỉ lái xe cho những kẻ thực sự gây ra vụ án mạng và do đó không phải, nếu thông tin của ông đáng tin cậy, thực sự là đồng phạm trong vụ phục kích – điều thực chất là lời bào chữa giúp một bậc thầy luật pháp cứu lấy bộ da của hắn. Dù thế nào đi nữa, đó giờ đã là câu chuyện cổ đại lắm rồi, và đối với bạn của chúng ta, kẻ giả danh Skin-the-etcetera, hắn đã sống quá lâu vượt quá sự chào đón của mình. Lẽ ra hắn nên chết một cách tự nhiên hoặc chết trên giá treo cổ cao ngất ngưởng. Giống như các nữ diễn viên, luôn luôn có màn chào tạm biệt suất diễn cuối cùng hoàn toàn rồi lại xuất hiện mỉm cười tươi rói. Hào phóng quá mức cần thiết dĩ nhiên, mang tính khí nghệ sĩ, chẳng có chút tính toán tiết kiệm hay ý niệm nào đại loại thế, lúc nào cũng vứt bỏ miếng xương chính để đuổi theo cái bóng. Tương tự như vậy, ông có một sự hoài nghi vô cùng tinh quái rằng ông Johnny Lever đã nướng sạch một đống tiền trong những chuyến lê la quanh các bến cảng trong bầu không khí đậm đà tình thân tại quán rượu Old Ireland, trở về với Erin v.v. Sau đó, về phần người kia, ông không lâu trước đó từng nghe y hệt cái giọng điệu đó khi hắn kể cho Stephen nghe cách hắn đơn giản nhưng triệt để làm câm lặng kẻ xúc phạm.

—Hắn ta thấy tự ái tổn thương vì điều gì đó, con người bị tổn thương nặng nề nhưng nhìn chung là ôn hòa đó tuyên bố, mà tôi lỡ buột miệng. Hắn gọi tôi là thằng Do Thái một cách đầy xúc phạm và nóng nảy. Thế là tôi, không hề đi chênh lệch chút nào khỏi những sự thật hiển nhiên, bảo hắn rằng Chúa của hắn, ý tôi là Chúa Kitô, cũng là một người Do Thái và toàn bộ gia đình lão cũng vậy giống như tôi dù thực tế tôi không phải thế. Đó là một đòn chí mạng dành cho hắn. Một câu trả lời mềm mỏng xua tan cơn thịnh nộ. Hắn chẳng còn lời nào để bào chữa cho mình trước mắt mọi người. Tôi nói có đúng không?

Ông quay sang Stephen một ánh nhìn dài “bạn đã sai rồi” chứa đựng niềm kiêu hãnh tối tăm đầy sợ hãi trước lời buộc tội nhẹ nhàng đó, kèm theo cả ánh mắt khẩn nài bởi ông dường như lờ mờ nhận ra rằng mọi chuyện không hoàn toàn chính xác là thế.

—*Ex quibus*, Stephen lẩm bẩm với giọng điệu không cam kết, hai hoặc bốn con mắt của họ đang trò chuyện, Christus hay Bloom tên lão là thế hoặc suy cho cùng là bất kỳ ai khác, *secundum carnem*.

—Dĩ nhiên rồi, ông B. tiếp tục quy định, cậu phải nhìn nhận cả hai mặt của vấn đề. Thật khó để đưa ra bất kỳ quy tắc cứng nhắc nào về đúng và sai, nhưng không gian để cải thiện toàn diện thì chắc chắn là có, dù mọi quốc gia, người ta nói thế, kể cả đất nước đau khổ của chúng ta, đều có chính phủ mà họ xứng đáng. Nhưng với chút thiện chí từ mọi phía. Thật hay ho khi khoe khoang về sự vượt trội lẫn nhau nhưng còn sự bình đẳng lẫn nhau thì sao. Tôi căm ghét bạo lực và sự bất khoan dung dưới bất kỳ hình thức nào. Nó chẳng bao giờ đạt được hay ngăn chặn được điều gì cả. Một cuộc cách mạng phải diễn ra theo kế hoạch trả góp đúng hạn. Thật là một điều vô lý rành rành khi ghét bỏ mọi người chỉ vì họ sống quanh góc đường và nói một thứ tiếng địa phương khác, ở ngay ngôi nhà bên cạnh chẳng hạn.

—Trận chiến cầu đẫm máu đáng nhớ và cuộc chiến bảy phút, Stephen đồng tình, giữa hẻm Skinner và chợ Ormond.

Đúng thế, ông Bloom hoàn toàn đồng thuận, hoàn toàn tán thành nhận xét đó, điều đó hoàn toàn chính xác áp đảo. Và cả thế giới ngập tràn những chuyện kiểu đó.

—Cậu vừa cướp lời tôi đấy, ông nói. Một mớ hỗn độn những bằng chứng mâu thuẫn mà thành thật là cậu không thể nào...

Tất cả những cuộc cãi vã khốn khổ đó, theo ý kiến khiêm tốn của ông, chỉ làm khơi dậy máu ghen tuông thù hận, xuất phát từ một khối u hiếu chiến hay tuyến nào đó, bị hiểu nhầm là vì danh dự điểm mười và lá cờ, thực chất phần lớn là vấn đề tiền bạc nằm đằng sau tất cả mọi thứ: lòng tham và sự đố kỵ, con người chẳng bao giờ biết điểm dừng là ở đâu.

—Bọn chúng buộc tội, ông cất tiếng nói rõ. Hắn quay đi hướng khác, khỏi những kẻ khác – những kẻ có lẽ… và nói gần hơn, để những kẻ khác… trong trường hợp chúng…

—Người Do Thái, ông khẽ khàng thì thầm một câu bên tai Stephen, bị buộc tội là kẻ phá hoại. Chẳng có lấy một mảnh sự thật nào trong đó, tôi có thể tự tin khẳng định. Lịch sử, cậu có ngạc nhiên không khi biết rằng, chứng minh rõ mùng một rằng Tây Ban Nha suy tàn khi tòa án dị giáo xua đuổi người Do Thái đi, và nước Anh hưng thịnh khi Cromwell – một tên côn đồ vô cùng tài năng dẫu có nhiều thứ khác phải gánh tội – đưa họ vào. Tại sao? Bởi vì họ thấm nhuần tinh thần đúng đắn. Họ thực tế và điều đó đã được chứng minh là đúng. Tôi không muốn sa đà vào bất kỳ chuyện gì vì cậu biết các tác phẩm kinh điển về chủ đề này rồi và cậu lại là người chính thống nữa. Nhưng trong lĩnh vực kinh tế, không chạm đến tôn giáo, linh mục đồng nghĩa với nghèo đói. Lại Tây Ban Nha, cậu đã thấy trong chiến tranh, so với một nước Mỹ năng động. Thổ Nhĩ Kỳ. Nó nằm trong giáo lý. Bởi vì nếu không tin rằng họ sẽ thẳng tiến thiên đường khi chết, họ sẽ cố gắng sống tốt hơn, ít nhất là tôi nghĩ thế. Đó là trò bịp bợm mà giới linh mục dùng để moi tiền với lý do giả mạo. Tôi là, ông tiếp tục với lực lượng kịch tính, một người Ireland tốt như cái kẻ thô lỗ mà tôi đã kể cho cậu nghe lúc đầu và tôi muốn nhìn thấy tất cả mọi người, ông kết luận, mọi tín ngưỡng và tầng lớp pro rata đều có một mức thu nhập khá giả tươm tất, không hề bủn xỉn chút nào, rơi vào khoảng 300 bảng một năm. Đó là vấn đề cốt lõi đang bị đe dọa và nó khả thi, đồng thời sẽ thúc đẩy mối quan hệ thân thiện hơn giữa con người với con người. Ít nhất đó là ý tưởng của tôi tùy theo giá trị của nó. Tôi gọi đó là lòng yêu nước. *Ubi patria*, như chúng ta từng học dăm ba từ thời niên thiếu kinh điển ở Alma Mater, *vita bene*. Nghĩa là nơi nào cậu có thể sống tốt, nếu cậu làm việc.

Nhìn chằm chằm vào khoảng không qua cốc cà phê không thể uống nổi của mình, lắng nghe bản tóm tắt về vạn vật nói chung này, Stephen chẳng thèm nhìn cụ thể vào đâu. Cậu dĩ nhiên có thể nghe thấy đủ loại từ ngữ đang đổi màu giống như mấy con cua quanh Ringsend vào buổi sáng đang nhanh chóng rào rào chui xuống đủ mọi màu sắc khác nhau của cùng một bãi cát nơi chúng có một tổ ấm đâu đó bên dưới hoặc dường như là thế. Rồi cậu ngước lên và nhìn thấy đôi mắt đang nói hoặc không nói những câu từ mà giọng nói cậu nghe được đã cất lên, nếu cậu làm việc.

—Lo tôi ra khỏi danh sách nhé, cậu cố gắng thốt lên, ý nói về chuyện làm việc.

Đôi mắt tỏ ra ngạc nhiên trước nhận xét này bởi vì như chính chủ nhân tạm thời của chúng đã quan sát, hoặc đúng hơn là giọng nói của hắn đang cất lên, tất cả đều phải làm việc, bắt buộc phải thế, cùng nhau.

—Ý tôi muốn nói, dĩ nhiên, người kia vội vã khẳng định, là làm việc theo nghĩa rộng nhất có thể. Cả lao động văn chương không chỉ vì danh tiếng của nó. Viết báo chí, đó là con đường ngắn nhất hiện nay. Đó cũng là công việc. Công việc quan trọng. Xét cho cùng, từ những gì tôi ít nhiều biết về cậu, sau ngất ngưởng tiền bạc đổ vào việc học hành của cậu, cậu có quyền thu hồi vốn và định giá trị cho riêng mình. Cậu có hoàn toàn quyền sống bằng ngòi bút của mình trong việc theo đuổi triết học giống như người nông dân vậy. Sao? Cả hai cậu đều thuộc về Ireland, trí tuệ và cơ bắp. Mỗi bên đều quan trọng như nhau.

—Anh đang nghi ngờ, Stephen đáp lại với một nụ cười nửa miệng, rằng tôi có thể quan trọng vì tôi thuộc về khu ngoại ô Saint Patrice gọi tắt là Ireland.

—Tôi sẽ tiến xa hơn một bước nữa, ông Bloom gợi ý.

—Nhưng tôi nghi ngờ, Stephen ngắt lời, rằng Ireland hẳn phải rất quan trọng vì nó thuộc về tôi.

—Cái gì thuộc về cơ, ông Bloom rướn người hỏi, tưởng rằng mình có sự hiểu lầm nào đó. Xin lỗi nhé. Không may là tôi không bắt được phần sau. Nó là cái gì cơ...?

Stephen, mặt rõ ràng đang cau có khó chịu, lặp lại và đẩy phắt cốc cà phê của mình – hay bất cứ thứ gì bạn muốn gọi nó – ra với thái độ chẳng lấy gì làm lịch sự, nói thêm:

—Chúng ta không thể thay đổi đất nước. Hãy đổi chủ đề đi.

Trước gợi ý xác đáng đó, ông Bloom để đổi chủ đề liền nhìn xuống nhưng rơi vào thế kẹt, vì không thể biết chính xác nên gán ý nghĩa gì cho từ “thuộc về” nghe có vẻ quá xa vời. Lời quở trách kiểu nào đó rõ ràng hơn phần còn lại. Khỏi phải nói, hơi men từ bữa hoè hoang gần đây của ông lúc bấy giờ đã nói lên bằng sự cay nghiệt theo một cách kỳ lạ xa lạ với trạng thái tỉnh táo của ông. Có lẽ đời sống gia đình mà ông B. gắn bó hết sức quan trọng đã không được như ý muốn hoặc ông chưa từng quen thuộc với đúng loại người. Với chút sợ hãi dành cho thanh niên bên cạnh mà ông lén lút quan sát với vẻ bàng hoàng khi nhớ lại cậu vừa từ Paris trở về, đôi mắt đặc biệt gợi nhớ mạnh mẽ đến người cha và người em gái, dù không mang lại nhiều ánh sáng cho vấn đề, ông lại liên tưởng đến những trường hợp những gã có học thức từng hứa hẹn rực rỡ nhưng lại sớm lụi tàn trong nụ hoa tàn úa và chẳng thể đổ lỗi cho ai ngoài chính họ. Chẳng hạn như trường hợp của O’Callaghan, một gã cuồng tín nửa điên nửa tỉnh, có xuất thân tươm tảng dù phương tiện eo hẹp, với những trò điên rồ của hắn trong số những chiến tích vui vẻ khác khi khánh kiệt và làm phiền mọi người xung quanh, hắn có thói quen phô trương diện công khai bộ đồ bằng giấy nâu (một sự thật). Và rồi cái kết kinh điển sau khi cuộc vui diễn ra tơi bừng chóng vánh là hắn dính vào rắc rối lớn và phải được vài người bạn bí mật tống đi nơi khác, sau một lời cảnh báo từ John Mallon ở Lower Castle Yard để không bị trừng phạt theo điều hai của đạo luật sửa đổi luật hình sự, một số tên tuổi của những người bị triệu tập được giao nộp nhưng không được tiết lộ vì những lý do sẽ xuất hiện trong đầu bất kỳ kẻ nào có một chút chất xám. Tóm lại, cộng hai với hai lại, sáu mười sáu thứ mà ông cố tình phớt lờ đi, Antonio và v.v., những tay nài ngựa và nghệ sĩ, hình xăm vốn rất thịnh hành vào những năm bảy mươi hoặc quanh thời đó ngay cả trong viện quý tộc bởi vì hồi trẻ vị chủ nhân ngai vàng lúc bấy giờ là thái tử, các thành viên khác của tầng lớp thượng lưu và các nhân vật cao cấp khác hoàn toàn bước theo vết xe đổ của người đứng đầu nhà nước, ông ngẫm nghĩ về những sai lầm của những kẻ nổi tiếng và các bậc vua chúa đi ngược lại đạo đức như vụ Cornwall nhiều năm trước ẩn sau lớp vỏ bọc theo cách mà thiên nhiên khó lòng dung thứ, một điều mà mụ Good Grundy đạo đức giả, theo luật hiện hành, vô cùng đả kích dù không phải vì lý do mà họ nghĩ có lẽ thế ngoại trừ phụ nữ chủ yếu là những kẻ luôn xỉa xói lẫn nhau, phần lớn là vấn đề trang phục và tất cả những thứ còn lại. Những quý cô thích nội y đặc biệt nên, và mọi quý ông mặc đồ chỉnh tề phải, cố gắng kéo giãn khoảng cách giữa họ bằng ẩn ý và tạo ra cú hích thực sự cho những hành vi bất lương giữa hai người, cô ấy cởi khuy áo của anh ta và rồi anh ta cởi dây của cô ấy, cẩn thận cái kim băng đấy chứ, trong khi thổ dân ở các đảo ăn thịt người chẳng hạn, ở nhiệt độ chín mươi độ dưới bóng râm chẳng thèm quan tâm quái gì. Tuy nhiên, quay lại chủ đề ban đầu, mặt khác vẫn có những kẻ đã tự vươn lên đỉnh cao từ bậc thang thấp nhất bằng chính đôi giày của mình. Sức mạnh thuần túy của thiên tài tự nhiên đó. Bằng trí tuệ đấy, thưa ngài.

Vì lý do đó và nhiều lý do khác, ông cảm thấy đó là lợi ích và thậm chí là nghĩa vụ của mình phải chờ đợi và tận dụng cơ hội bất ngờ này dù không thể nói chính xác tại sao, khi bản thân đã mất đứt vài shilling và thực chất đã nhúng chàm vào rồi. Dù vậy, việc vun đắp mối quan hệ quen biết với một kẻ không tầm thường có thể cung cấp nguồn thức ăn cho tư duy sẽ đền đáp xứng đáng cho bất kỳ khoản nhỏ nào. Kích thích trí tuệ tự thân, ông cảm thấy, thỉnh thoảng là một liều thuốc bổ hạng nhất cho tâm trí. Thêm vào đó là sự trùng hợp ngộ nghĩnh của cuộc gặp gỡ, tranh luận, cãi vã, lão thủy thủ kiểu nay đây mai đó, đám lang thang ban đêm, toàn bộ dải ngân hà sự kiện, tất cả kết hợp lại tạo thành một bức tranh cameo thu nhỏ của thế giới chúng ta đang sống, đặc biệt là khi cuộc sống của tầng lớp dưới đáy xã hội, tức là thợ mỏ than, thợ lặn, người dọn rác v.v., đã được đưa lên kính hiển vi gần đây. Để tận dụng triệt để thời gian, ông tự hỏi liệu mình có gặp được may mắn tương tự như ông Philip Beaufoy nếu viết ra thành văn bản giả sử ông sáng tác một thứ gì đó ngoài lồng khuôn khổ (như ông hoàn toàn có ý định làm) với mức giá một ghine cho mỗi cột báo. *Những trải nghiệm của tôi*, chẳng hạn, *trong một quán bến xe ngựa*.

Tờ *Telegraph* ấn bản bổ sung thể thao màu hồng nằm chỏng chơ ngay cạnh khuỷu tay ông, và khi ông đang thắc mắc lần nữa, đầy bất mãn, về một quốc gia thuộc về anh ta và câu đố trước đó – chiếc con tàu xuất phát từ Bridgwater và tấm bưu ảnh gửi cho A. Boudin, hãy tìm tuổi của thuyền trưởng –, đôi mắt ông vô định lướt qua các tiêu đề tương ứng thuộc phạm vi đặc biệt của ông, tờ báo hằng ngày bao trùm tất cả. Đầu tiên ông hơi giật mình nhưng hóa ra chỉ là tin tức về ai đó tên H. du Boyes, đại lý máy đánh chữ hoặc đại loại thế. Trận đại chiến ở Tokyo. Kiện tụng tình ái bằng tiếng Ireland, thiệt hại 200 bảng. Gordon Bennett. Vụ lừa đảo di cư. Thư từ Đức Ông. William ✠. Cuộc đua ngựa Ascot, chiếc cúp vàng. Chiến thắng của chú ngựa ngoài cuộc Throwaway gợi nhớ đến giải Derby năm 92 khi con ngựa ô Sir Hugo của đại úy Marshall giành được dải ruy băng xanh với tỷ lệ cược cao. Thảm họa New York. Một ngàn sinh mạng bị cướp đi. Bệnh lở mồm long móng. Lễ tang của cố ông Patrick Dignam.

Thế là để đổi chủ đề, ông đọc về Dignam R.I.P., điều mà ông ngẫm nghĩ chẳng phải là một màn tiễn đưa vui vẻ gì cho cam. Hoặc chí ít cũng là một sự thay đổi địa chỉ.

—Sáng nay (tất nhiên là Hynes đưa tin) di hài của cố ông Patrick Dignam đã được di dời từ tư gia, số 9 đại lộ Newbridge, Sandymount, để an táng tại Glasnevin. Cố gia chủ là một nhân vật vô cùng nổi tiếng và hào phóng trong đời sống thành phố và sự ra đi của ông sau cơn bạo bệnh ngắn ngủi đã mang lại cú sốc lớn cho người dân mọi tầng lớp, những người vô cùng tiếc thương ông. Tang lễ, với sự hiện diện của rất nhiều bạn bè của người quá cố, được tiến hành (chắc chắn Hynes viết điều này với sự nhắc nhở từ Corny) bởi hãng H. J. O’Neill and Son, số 164 đường North Strand. Những người đưa tang bao gồm: Patk. Dignam (con trai), Bernard Corrigan (anh rể), Jno. Henry Menton, luật sư, Martin Cunningham, John Power, eatondph 1/8 ador dorador douradora (chắc là chỗ ông gọi điện cho cha đỡ đầu Monks về quảng cáo của Keyes) Thomas Kernan, Simon Dedalus, Stephen Dedalus B.A., Edw. J. Lambert, Cornelius T. Kelleher, Joseph M’C Hynes, L. Boom, C P M’Coy, M’Intosh và vài người khác.

Hơi bực mình một chút bởi chữ L. Boom (viết sai chính tả) và dòng chữ bị lỗi lầm, nhưng đồng thời lại buồn cười chết đi được bởi C. P. M’Coy và Stephen Dedalus B.A. – những kẻ hiển nhiên vắng mặt hoàn toàn (chưa kể đến M’Intosh) –, L. Boom liền chỉ cho người bạn đồng hành mang bằng B.A. đang bận kìm nén một cái ngáp khác, một nửa vì căng thẳng, không quên vô số lỗi ngớ ngẩn buồn cười do in ấn.

—Bức thư thứ nhất gửi tín hữu Hê-bơ-rơ có ở trong đó không, anh ta hỏi ngay khi hàm dưới cho phép, nội dung: mở miệng ra rồi tự táng vào chân mình.

—Có chứ. Thực sự là vậy, ông Bloom nói (dù thoạt đầu ông tưởng hắn ám chỉ đức tổng giám mục cho đến khi hắn nói về chuyện lở mồm long móng vốn chẳng có mối liên hệ nào khả dĩ), vô cùng vui mừng vì đã gạt được mối bận tâm và có chút sững sờ trước việc Myles Crawford rốt cuộc cũng xoay sở để mà. Kìa.

Trong khi người kia đang đọc nó ở trang hai, Boom (gọi tạm cái tên sai chính tả mới) dành vài khoảng thời gian rảnh rỗi ngắt quãng để theo dõi bản tường thuật sự kiện thứ ba tại Ascot ở trang ba, phía bên anh ta. Giá trị 1000 sov kèm theo 3000 sov tiền mặt. Dành cho ngựa đực và ngựa cái tơ. Con Throwaway của ông F. Alexander, ngựa đực tơ dòng Rightaway-Thrale, 5 tuổi, 9 stone 4 pound (W. Lane) 1. Con Zinfandel của lãnh chúa Howard de Walden (M. Cannon) 2. Con Sceptre của ông W. Bass 3. Tỷ lệ cược 5 ăn 4 cho Zinfandel, 20 ăn 1 cho Throwaway (ngoài lề). Sceptre nặng hơn một chút. Đó là cuộc đua của bất kỳ ai cho đến khi con ngựa ngoài cuộc bứt phá lên trước, dẫn trước một khoảng cách xa, đánh bại con ngựa tơ màu hạt dẻ của lãnh chúa Howard de Walden và con ngựa cái tơ màu vịnh Sceptre trên đường đua 2 dặm rưỡi. Người huấn luyện chiến thắng là Braime nên phiên bản của Lenehan hoàn toàn là thứ nhảm nhí thuần túy. Giành chiến thắng thuyết phục với cách biệt một thân ngựa. 1000 sov cộng 3000 tiền mặt. Các con khác cùng chạy: Con Maximum II của J. de Bremond (con ngựa Pháp mà B.A. Lyons đang sốt sắng dò la vẫn chưa về nhưng dự kiến tới bất cứ phút nào). Những cách khác nhau để thực hiện một cú lừa. Thiệt hại tình ái. Dù rằng gã Lyons nửa mùa đó đã chạy lệch hướng trong sự bốc đồng muốn bỏ cuộc. Dĩ nhiên cờ bạc cực kỳ dung dưỡng cho thể loại đó, dù kết quả cho thấy kẻ ngốc nghếch tội nghiệp chẳng có lý do gì để chúc mừng cho sự lựa chọn của mình, niềm hy vọng tuyệt vọng. Cuối cùng thì nó cũng quy về trò đoán mò.

—Có mọi dấu hiệu cho thấy họ sẽ đi đến kết cục đó, ông Bloom nói.

—Ai cơ? người kia, kẻ hóa ra đang bị thương ở tay, hỏi.

Có buổi sáng bạn sẽ mở tờ báo ra, gã quản gia quán bến xe ngựa khẳng định, và đọc thấy: Sự trở lại của Parnell. Hắn dám cá cược bất cứ thứ gì chúng muốn. Có một tay lính bộ binh Dublin từng ở trong quán này một đêm và nói rằng hắn đã nhìn thấy ông ấy ở Nam Phi. Chính sự kiêu hãnh đã giết chết ông ấy. Lẽ ra ông ấy nên tự vẫn hoặc ẩn mình một thời gian sau phòng họp ủy ban số 15 cho đến khi tìm lại được chính mình mà không có ai chỉ trỏ vào mặt. Khi đó tất cả bọn họ đã quỳ rạp xuống đất cầu xin ông ấy quay về khi đã minh mẫn trở lại. Chẳng có chuyện ông ấy chết đâu. Chỉ đơn giản là bỏ trốn đi đâu đó thôi. Chiếc quan tài mà họ mang về đầy đá sỏi. Ông ấy đã đổi tên thành De Wet, vị tướng người Boer. Ông ấy đã sai lầm khi chống lại các linh mục. Cứ thế và cứ thế.

Dù sao đi nữa, Bloom (được gọi tên chính xác) vẫn khá ngạc nhiên trước trí nhớ của họ bởi vì cứ chín trường hợp thì có tới mười trường hợp là chuyện thùng rỗng kêu to chứ chẳng phải đơn lẻ mà là hàng ngàn thùng, để rồi sau đó chìm vào quên lãng hoàn toàn vì đã qua hơn hai chục năm. Rất khó có khả năng có lấy một chút bóng dáng sự thật nào trong chuyện những viên đá, và giả sử có đi chăng nữa, ông nghĩ việc trở lại là vô cùng không khôn ngoan, xét trên mọi khía cạnh. Rõ ràng có cái gì đó khiến họ bực bội về cái chết của ông ấy. Hoặc là ông ấy lụi tàn quá êm đềm vì căn bệnh viêm phổi cấp tính ngay khi các sắp xếp chính trị khác nhau của ông đang tiến gần đến hồi kết, hay hóa ra ông ấy nợ cái chết của mình vì tội lười thay giày và quần áo sau khi dầm mưa dẫn đến cảm lạnh và không chịu tham vấn chuyên gia, cứ nhốt mình trong phòng cho đến khi cuối cùng chết vì nó giữa muôn vàn tiếc nuối lan rộng trước khi nửa tháng kết thúc, hoặc rất có thể họ đau khổ vì nhận ra công việc đã bị cướp mất khỏi tay mình. Dĩ nhiên chẳng ai nắm được tung tích của ông ấy ngay cả trước đó, tuyệt đối không có lấy một manh mối nào về nơi chốn của ông ấy vốn dĩ mang màu sắc đích thực kiểu “Alice, anh ở đâu” ngay cả trước khi ông bắt đầu sử dụng nhiều tên giả như Fox và Stewart, thế nên nhận xét phát xuất từ bạn phu xe có thể nằm trong giới hạn khả năng. Tự nhiên thì điều đó sẽ đè nặng lên tâm trí ông với tư cách là một lãnh tụ bẩm sinh của muôn loài và là một nhân vật uy quyền, cao sáu sáu tấc hoặc ít nhất năm thước mười mươi trong đôi tất, trong khi mấy ông So và So kia – những kẻ thậm chí chẳng bằng một góc của người đi trước – lại làm mưa làm gió sau khi những ưu điểm của họ ít ỏi đến mức đếm trên đầu ngón tay. Nó chắc chắn gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh, bức tượng với đôi chân bằng đất sét, để rồi bảy mươi tay sai trung thành quay lưng đấu tố lẫn nhau bằng đống bùn đất. Và y hệt như những kẻ sát nhân. Bạn phải quay trở lại. Cảm giác ám ảnh đó kiểu như lôi kéo bạn. Để chỉ cho diễn viên đóng thế trong vai chính cách thức thực hiện. Ông từng thấy hắn một lần vào dịp tốt lành khi họ đập nát các con chữ ở tờ *Insuppressible* hoặc là *United Ireland*, một vinh dự mà ông vô cùng trân trọng, và thực tế là đã trao chiếc mũ lụa cho hắn khi nó bị đánh rơi xuống và hắn nói Cảm ơn, dẫu vô cùng kích động dưới lớp vỏ lạnh lùng bất chấp tai nạn nhỏ được nhắc đến giữa ly rượu và môi: giang sơn khó đổi bản tính khó dời. Dù sao thì liên quan đến việc quay trở lại. Bạn là một kẻ ăn may nếu chúng không thả chó sục ra cắn ngay khi bạn vừa bén chân về. Rồi sau đó hàng loạt sự chần chừ thường theo sau, Tom ủng hộ và Dick với Harry phản đối. Và rồi, vị trí số một, bạn đụng độ với kẻ đang chiếm giữ và phải xuất trình giấy tờ chứng minh giống như nguyên đơn trong vụ án Tichborne – Roger Charles Tichborne, Bella là tên con tàu theo trí nhớ tốt nhất của ông mà người thừa kế đã chìm cùng theo như bằng chứng cho thấy, và còn có cả một hình xăm bằng mực Ấn Độ nữa, lãnh chúa Bellew phải không, vì hắn rất có thể đã nhặt nhạnh chi tiết từ một tên bạn nào đó trên tàu và rồi, khi được trang bị để khớp với mô tả được đưa ra, tự giới thiệu bằng câu: Xin lỗi, tên tôi là So và So hoặc câu xã giao tương tự. Một hướng đi thận trọng hơn, như Bloom nói với kẻ không mấy nồng nhiệt, thực tế giống như nhân vật xuất chúng được đề cập bên cạnh ông, lẽ ra nên thăm dò tình hình trước.

—Con khốn đó, con đĩ người Anh đó, đã hại đời ông ấy, chủ quán rượu lậu bình luận. Nó đóng cái đinh đầu tiên vào quan tài của ông ấy.

—Dù sao thì cũng là một khối đàn bà ngon nghẻ, gã tự xưng là thư ký thành phố Henry Campbell nhận xét, và dư dã thịt thà. Nó làm mềm đùi bao nhiêu gã đàn ông. Tôi từng thấy hình của nó ở tiệm cắt tóc. Chồng nó là đại úy hoặc một sĩ quan nào đó.

—Ừ, Skin-the-Goat vui vẻ nói thêm, đúng thế và là một tay đại úy bông gòn.

Sự đóng góp vô vụ lợi mang tính hài hước này đã khơi gợi một lượng tiếng cười đáng kể trong số đám tùy tùng của hắn. Về phần Bloom, ông chẳng có lấy một chút nụ cười nào, chỉ lướt nhìn về phía cửa và ngẫm nghĩ về câu chuyện lịch sử từng khơi dậy sự quan tâm phi thường vào thời điểm đó khi các sự thật, để làm mọi thứ tồi tệ hơn, bị phơi bày trước công chúng cùng những bức thư tình ái sướt mướt được gửi qua gửi lại đầy những lời đường mật. Đầu tiên thì hoàn toàn thuần khiết mang tính Plato cho đến khi tự nhiên nhúng tay vào và một sự gắn bó nảy nở giữa họ cho đến khi từng bước mọi thứ đạt đến cao trào và câu chuyện trở thành đề tài bàn tán của toàn thành phố cho đến khi cú sốc giáng xuống như một thông tin đáng mừng cho không ít kẻ có tâm địa đen tối – những kẻ quyết tâm vây quanh mưu đồ hạ bệ ông, dù sự việc vốn dĩ là tài sản công khai từ lâu dẫu không đạt đến mức độ giật gân bùng nổ như sau đó. Kể từ khi tên tuổi của họ bị gán ghép, từ khi ông là tình nhân được tuyên bố của nàng, thì có sự cần thiết đặc biệt nào phải loan báo điều đó ra cho đám đông thường dân từ trên mái nhà, tức là sự thật rằng ông từng chia sẻ phòng ngủ của nàng – điều bị phơi bày trên ghế nhân chứng khi tuyên thệ khiến cả phòng xử án chấn động theo đúng nghĩa đen, làm điện khí hóa mọi người dưới hình dạng các nhân chứng thề thốt đã chứng kiến ông vào một ngày cụ thể nào đó đang trèo ra khỏi một căn hộ trên lầu với sự hỗ trợ của một chiếc thang trong trang phục ngủ, sau khi đã đột nhập vào theo cách tương tự, một thực tế mà các tuần báo chuyên moi móc chuyện đời tư đã kiếm được cả đống tiền nhờ nó. Trong khi thực tế đơn giản của vụ việc chỉ là việc người chồng không đủ tiêu chuẩn, chẳng có điểm gì chung ngoài cái tên, và rồi một người đàn ông đích thực xuất hiện, mạnh mẽ đến mức yếu đuối, rơi vào lưới tình của tiếng còi xi-ren và quên đi sợi dây gia đình, hậu quả quen thuộc, để đắm mình trong những nụ cười của người mình yêu. Vấn đề muôn thuở của đời sống hôn nhân, khỏi phải nói, lại nổi cộm lên. Liệu tình yêu đích thực, giả sử có một gã thứ ba chen chân vào, có thể tồn tại giữa những người đã kết hôn hay không? Một câu đố hóc búa. Dù đó hoàn toàn chẳng phải việc của họ nếu ông nhìn nàng bằng ánh mắt trìu mến, bị cuốn đi bởi làn sóng ngu ngốc. Quả thực ông là một mẫu người đàn ông tuyệt diệu được gia tăng rõ ràng bởi những ân huệ cao cấp, so với viên sĩ quan phụ tá quân sự kia (kẻ chỉ là loại người đưa tiễn đại úy hào hoa hằng ngày trong lực lượng kịch nhẹ, chính xác là trung đoàn hussars số 18) và dễ bốc cháy không nghi ngờ gì (lãnh tụ sa ngã ấy, chứ không phải kẻ kia) theo cách độc đáo của riêng ông, điều mà tất nhiên người đàn bà nhanh chóng nhận ra như có khả năng cao sẽ mở đường cho ông đến với danh vọng – điều ông gần như sắp đạt được cho đến khi các linh mục và mục sư của giáo hội nói chung, những người từng là tín đồ trung thành kiên định của ông, cùng những người thuê nhà bị trục xuất yêu dấu mà ông đã làm được biết bao công lớn ở vùng nông thôn bằng cách đứng ra bảo vệ họ vượt xa mọi kỳ vọng tốt đẹp nhất của họ, đã thực sự nướng chín ngỗng hôn nhân của ông, qua đó chất than hồng lên đầu ông hệt như cú đá của con lừa trong ngụ ngôn. Nhìn lại bây giờ theo một kiểu sắp xếp hồi tưởng, mọi thứ tựa như một giấc mơ. Và rồi việc quay trở lại là điều tồi tệ nhất bạn từng làm bởi vì hiển nhiên bạn sẽ cảm thấy lạc lõng khi mọi thứ luôn chuyển động theo thời gian. Tại sao, như ông ngẫm nghĩ, bãi biển Irishtown, một địa phương ông đã không đặt chân đến từ khá nhiều năm qua, trông có vẻ khác lạ kể từ khi, tình cờ thay, ông chuyển đến sinh sống ở bờ bắc. Bắc hay Nam, tuy nhiên, đó cũng chỉ là trường hợp quen thuộc của niềm đam mê nóng bỏng thuần túy làm lật nhào chiếc xe táo bạo và chứng minh chính xác điều ông đang nói khi bà ta cũng là người Tây Ban Nha hoặc mang nửa dòng máu ấy, những tuýp người không bao giờ làm nửa vời, sự buông thả đam mê cuồng nhiệt của miền nam, vứt bỏ mọi mảnh dẻ đạo đức ra ngoài gió. —Nó chứng minh chính xác những gì tôi vừa nói, ông nói với Stephen bằng lồng ngực rực lửa, về máu và mặt trời. Và, nếu tôi không nhầm lẫn lớn thì bà ấy cũng là người Tây Ban Nha.

—Con gái vua Tây Ban Nha, Stephen đáp, nói thêm điều gì đó khá lộn xộn về lời chào tạm biệt và adieu gửi tới những củ hành Tây Ban Nha và mảnh đất đầu tiên gọi là Deadman và từ Ramhead đến Scilly là bấy nhiêu thứ.

—Thật thế á? ông Bloom thốt lên, ngạc nhiên nhưng hoàn toàn không phải không thể tin nổi, tôi chưa bao giờ nghe tin đồn đó trước đây. Hoàn toàn có thể, đặc biệt là ở đó, vì bà ấy từng sống ở đó. Thế nên, Tây Ban Nha.

Cẩn thận tránh quyển sách *Sweets of* trong túi – thứ vô tình gợi nhắc ông đến cuốn sách thư viện phố Capel đã quá hạn –, ông rút sổ tay ra và, lật nhanh qua các nội dung bên trong, cuối cùng ông.

—Nhân tiện, cậu có cho rằng, ông nói, vừa suy ngẫm chọn một bức ảnh đã phai màu đặt lên bàn, đó là một tuýp người Tây Ban Nha không?

Stephen, kẻ rõ ràng là đối tượng được hỏi, nhìn xuống bức ảnh hiển thị một phụ nữ ngoại cỡ với những đường nét đầy đặn phô bày một cách cởi mở khi bà đang ở độ tuổi mãn khai mùng một trong bộ đầm dạ hội được cắt khoét cố ý trễ nải để khoe một cách phóng khoáng phần ngực, với cái nhìn vượt qua cả ngực, đôi môi đầy đặn hé mở và hàm răng hoàn hảo, đang đứng tạo dáng có vẻ nghiêm trang cạnh một chiếc đàn piano trên giá để bản nhạc có bài *In Old Madrid*, một bản ballad khá hay lúc bấy giờ đang rất thịnh hành. Đôi mắt của bà (người phụ nữ), sẫm màu, to lớn, đang nhìn Stephen, chuẩn bị mỉm cười về điều gì đó đáng ngưỡng mộ, với nhiếp ảnh gia hàng đầu Lafayette ở phố Westmoreland, Dublin chịu trách nhiệm thực hiện tính thẩm mỹ.

—Bà Bloom, vợ tôi, nữ danh ca Madam Marion Tweedy, ông Bloom chỉ tay giới thiệu. Được chụp cách đây vài năm. Vào khoảng năm chín mươi sáu. Trông rất giống bà ấy hồi đó.

Cạnh người thanh niên, ông cũng ngắm nhìn bức ảnh của người phụ nữ hiện là vợ hợp pháp của ông – người mà ông tiết lộ là cô con gái tài năng của thiếu tá Brian Tweedy và từng thể hiện năng lực ca hát đáng kinh ngạc từ khi còn nhỏ, từng ra mắt công chúng khi tuổi đời vừa chớm ngọt ngào mười sáu. Về phần khuôn mặt, đó là một bức chân dung như nói lên được biểu cảm nhưng nó không làm công bằng cho vóc dáng của bà – thứ vốn thu hút rất nhiều sự chú ý thông thường và không thể hiện ở trạng thái tốt nhất trong bộ trang phục đó. Bà hoàn toàn có thể dễ dàng, ông nói, làm người mẫu cho bức tranh tổng thể, chưa kể đến những đường cong trù phú của phần. Ông ngắm nghía, với tư cách là một tay nghệ sĩ nghiệp dư trong thời gian rảnh rỗi, cơ thể phụ nữ nói chung theo chiều hướng phát triển bởi vì, tình cờ thay, không lâu trước đó vào chiều hôm nay ông đã ngắm nhìn những bức tượng Hy Lạp hoàn hảo về mặt nghệ thuật như những tác phẩm trong Bảo tàng Quốc gia. Đá cẩm thạch có thể tái hiện nguyên bản, từ bờ vai, lưng cho đến toàn bộ sự đối xứng cùng mọi thứ khác. Vâng, *puritanisme*, nó đúng là thế, sự trộm cắp tối cao của Thánh Joseph *alors* (*Bandez!*) *Figne toi trop*. Trong khi không một bức ảnh nào làm được điều đó vì đơn giản đó không phải là nghệ thuật, nói một cách ngắn gọn.

Được linh hồn thúc đẩy, ông rất muốn làm theo tấm gương tốt của anh chàng Jack Tar và để lại bức chân dung ở đó trong vài phút ngắn ngủi để nó tự nói lên tất cả với lý do để người kia có thể đắm chìm vào vẻ đẹp cho riêng mình, sự hiện diện trên sân khấu của bà thực sự là một điều trị mà máy ảnh hoàn toàn không thể làm công bằng được. Nhưng đó rõ ràng không phải là phép xã giao nghề nghiệp nên. Dù đó là một đêm ấm áp dễ chịu lúc này nhưng lại cực kỳ mát mẻ so với mùa xét trên thời tiết hừng đông sau giông bão. Và ông thực sự cảm thấy có nhu cầu ngay lúc đó là làm theo như một thứ tiếng nói bên trong và thỏa mãn một nhu cầu tiềm năng bằng cách đề xuất một kiến nghị. Dù vậy, ông vẫn ngồi im lìm ngắm nhìn bức ảnh hơi lem luốc bị nhàu nát bởi những đường cong trù phú – tuy nhiên chẳng hề hấn gì sau thời gian sử dụng –, và ngẩng đầu nhìn đi nơi khác với ý định không làm tăng thêm sự bối rối tiềm tàng của người kia trong khi đang đánh giá sự đối xứng của bầu ngực đang nhấp nhô. Thực tế là vết bẩn nhẹ chỉ là một nét quyến rũ bổ sung giống như trường hợp đồ lót hơi lem luốc một chút, tốt như mới, thực ra còn tốt hơn nhiều khi đã mất đi lớp hồ bột. Giả sử bà ấy đã biến mất khi ông? “Tôi tìm kiếm ngọn đèn mà cô ấy bảo” – ý nghĩ đó xẹt qua đầu ông nhưng chỉ là một thoáng qua đi thoáng chốc vì ông chợt nhớ ra chiếc giường bừa bộn buổi sáng v.v. và cuốn sách về Ruby với món ống nước chó pike (sic) trong đó hẳn đã rơi xuống một cách vô cùng thích hợp bên cạnh chiếc bô tiểu gia đình với lời xin lỗi gửi đến Lindley Murray.

Ông thực sự rất thích sự gần gũi với người thanh niên này, có học thức, *distingué* và bốc đồng vô cùng, vượt trội hoàn toàn so với đám đông dù thoạt nhìn bạn không nghĩ cậu ta có khả năng đó nhưng hóa ra lại có. Hơn nữa cậu ta nói bức ảnh rất đẹp, muốn nói gì thì nói, nó thực sự rất đẹp dù lúc đó trông bà ấy rõ ràng là đẫy đà hơn. Và tại sao lại không chứ? Rất nhiều sự giả tạo diễn ra xung quanh chuyện đó liên quan đến một vết nhơ suốt đời với trang báo rác ngập ngụa quen thuộc về cùng một mớ bòng bong hôn nhân cáo buộc có hành vi sai trái với một tay gót-sơ chuyên nghiệp hoặc thần tượng sân khấu mới nhất thay vì trung thực và đường hoàng về toàn bộ sự việc. Cách họ định mệnh gặp gỡ và một mối gắn bó nảy nở giữa hai người để rồi tên tuổi họ bị gán ghép trước công chúng được kể lại tại tòa án cùng những bức thư chứa đựng những biểu hiện sướt mướt và thỏa hiệp quen thuộc không để lại kẽ hở nào cho thấy họ đã công khai sống chung hai ba tuần một lần tại một khách sạn ven biển nổi tiếng nào đó và các mối quan hệ, khi sự việc diễn ra theo tiến trình bình thường của nó, đến hạn đã trở nên thân mật. Rồi sắc lệnh *nisi* và thanh tra hoàng gia cố gắng tìm lý do phản bác, và khi ông ta không thể bác bỏ nó, sắc lệnh *nisi* trở thành tuyệt đối. Nhưng về phần điều đó, hai kẻ phạm tội, quấn quýt lấy nhau phần lớn, hoàn toàn có thể an tâm phớt lờ nó như họ đã làm cho đến khi sự việc được giao vào tay luật sư – kẻ đệ đơn kiện thay mặt cho bên bị hại đúng trình quy trình. Bản thân B. có vinh dự được đứng gần vị vua không ngai của Ireland bằng xương bằng thịt khi sự việc xảy ra trong vụ va chạm lịch sử khi đám tay sai trung thành của vị lãnh tụ sa ngã – kẻ khét tiếng bám trụ đến giọt cuối cùng ngay cả khi khoác lên mình chiếc áo ngoại tình – với số lượng mười hoặc tá hoặc thậm chí có thể nhiều hơn thế đã đột nhập vào xưởng in của tờ *Insuppressible* hay không đó là *United Ireland* (một cái tên gọi hoàn toàn chẳng phù hợp chút nào) và đập nát các hộp chữ bằng búa hoặc đại loại thế chỉ vì những lời phỉ báng từ ngòi bút dễ dãi của đám tay sai phái O’Brien làm nghề xỉa xói bôi nhọ phản ánh về đạo đức tư gia của vị cựu thủ lĩnh. Dù rõ ràng là một con người đã thay đổi căn bản, ông ấy vẫn là một nhân vật uy quyền dù ăn mặc cẩu thả như thường lệ với cái nhìn kiên định hướng mục tiêu từng đi một chặng đường dài với đám do dự cho đến khi họ phát hiện ra với sự chưng hửng lớn rằng thần tượng của họ có đôi chân bằng đất sét sau khi đặt ông lên bệ phóng mà bà ta, tuy nhiên, là người đầu tiên nhận ra. Vì đó là những thời điểm vô cùng nóng bỏng trong vụ hỗn chiến chung, Bloom đã gánh chịu một thương tích nhỏ từ cú cùi chỏ khó chịu của một gã nào đó trong đám đông tụ tập ở khu vực chấn thủy vị trí gần dạ dày, may mắn là không nghiêm trọng. Chiếc mũ của ông (Parnell) – một chiếc mũ lụa – vô tình bị đánh rơi và, như một phần của lịch sử nghiêm túc, Bloom chính là kẻ đã nhặt nó lên trong đám đông hỗn loạn sau khi chứng kiến sự việc với ý định trả lại cho ông ấy (và quả thực đã trả lại cho ông ấy với tốc độ cực kỳ nhanh chóng) – người đang thở hổn hển và đầu không đội mũ và tâm trí để bay bổng tận đẩu tận đâu vào lúc đó, dẫu sao cũng là một quý ông sinh ra có cổ phần trong đất nước, thực tế là vì tham gia nhiều hơn vào danh tiếng hơn bất cứ thứ gì khác, cái gọi là giang sơn khó đổi bản tính khó dời được tiêm nhiễm vào từ thuở ấu thơ bên gối mẹ dưới hình dạng biết thế nào là phép tắc lịch sự đã bộc lộ ngay lập tức vì ông quay lại phía người tặng và cảm ơn hoàn toàn tự tin, nói rằng: Cảm ơn ngài, dù với một tông giọng hoàn toàn khác với vị trọng thần thuộc giới luật sư mà chiếc mũ cũng được Bloom chỉnh đốn lại sớm hơn trong ngày, lịch sử lặp lại với một chút khác biệt, sau lễ tang của một người bạn chung khi họ đã để ông lại một mình trong sự vinh quang sau nhiệm vụ grim cam kết gửi gắm di hài ông xuống mồ.

Mặt khác, điều khiến ông bực bội hơn ở nội tâm là những trò đùa thô tục của gã phu xe và những kẻ khác – những kẻ bỏ qua tất cả như một trò đùa, cười hô hố, giả vờ hiểu mọi thứ, từ nguyên nhân cho đến ngọn nguồn, nhưng thực tế chẳng biết rõ tâm trí mình, khi đó là trường hợp dành cho chính hai bên trừ khi xảy ra việc người chồng hợp pháp tình cờ dính vào nhờ một bức thư nặc danh từ cậu nhóc Jones quen thuộc nào đó, kẻ tình cờ bắt gặp họ vào thời điểm quyết định ở tư thế ôm ấp quấn quýt lấy nhau, thu hút sự chú ý đến các hoạt động phi pháp của họ và dẫn đến một trận rùm beng gia đình cùng người vợ lầm lỗi cầu xin sự tha thứ từ vị chúa tể và người chủ của mình trên đầu gối và hứa sẽ cắt đứt mối quan hệ và không tiếp đón những chuyến ghé thăm của hắn nữa nếu như người chồng bị tổn thương chịu bỏ qua mọi chuyện và để quá khứ chìm vào quên lãng với những giọt nước mắt lưng tròng dù có lẽ lưỡi đang đẩy vào má bên trong đồng thời vì rất có thể còn có vài kẻ khác nữa. Cá nhân ông, mang khuynh hướng hoài nghi, tin rằng – và chẳng thèm giấu giếm chút nào khi nói thế – rằng một gã hoặc nhiều gã số nhiều lúc nào cũng lảng vảng trong danh sách chờ đợi xung quanh một người phụ nữ, giả sử bà ấy là người vợ tốt nhất trên đời và họ hòa hợp với nhau đi chăng nữa vì mục đích tranh luận, khi bất chấp bổn phận, bà chọn cách cảm thấy mệt mỏi với đời sống hôn nhân và muốn có một chút phiêu lưu trong sự trụy lạc lịch sự để áp sát sự chú ý vào bà với mục đích không đứng đắn, kết quả là tình cảm của bà tập trung vào kẻ khác, nguyên nhân của nhiều mối tình giữa những người phụ nữ đã có gia đình hãy còn hấp dẫn ở độ tuổi xấp xỉ bốn mươi và những gã trai trẻ, không nghi ngờ gì như nhiều vụ bê bối nổi tiếng về sự say đắm nữ giới đã chứng minh hùng hồn.

Thật là một điều vô cùng đáng tiếc khi một thanh niên, được ban phước với một lượng chất xám như người hàng xóm rõ ràng có được, lại lãng phí thời gian quý báu của mình với những ả phụ nữ đồi trụy – những kẻ có thể ban cho cậu ta một liều thuốc độc kéo dài suốt quãng đời còn lại. Trong bản chất của sự độc thân, một ngày nào đó cậu ta sẽ cưới vợ khi cô gái hoàn hảo xuất hiện, nhưng trong thời gian trung gian thì xã hội phụ nữ là điều kiện tiên quyết bắt buộc, dù ông có những nghi ngờ sâu sắc nhất – không phải vì ông muốn moi móc Stephen chút ít nào về cô Ferguson (rất có thể là vì sao bắc đẩu cụ thể nào đó đã đưa cậu xuống tận Irishtown vào sáng sớm thế này) –, liệu cậu có tìm thấy nhiều sự thỏa mãn khi đắm mình trong ý tưởng tán tỉnh tuổi trẻ học trò và bầu không khúc khích của những cô nàng cười cợt chẳng có một xu dính túi hai hoặc ba lần một tuần với màn dạo đầu chuẩn mực là khen ngợi và đi dạo dẫn đến những thói quen yêu đương sướt mướt cùng hoa và kẹo sô-cô-la. Nghĩ đến cảnh cậu ta vô gia cư, bị moi tiền bởi một mụ chủ nhà tệ hơn cả mẹ kế, thực sự là quá tệ đối với tuổi của cậu ta. Những điều bất ngờ kỳ lạ mà cậu ta thốt ra thu hút người đàn ông lớn tuổi hơn nhiều tuổi so với cậu ta hoặc giống như cha cậu, nhưng chắc chắn cậu ta phải ăn cái gì đó có chất lượng ngay cả khi đó chỉ là một ly trứng đánh sữa bằng dinh dưỡng nguyên chất của người mẹ hoặc, nếu không có, món trứng luộc Humpty Dumpty quen thuộc.

—Cậu ăn tối lúc mấy giờ thế? ông gặng hỏi dáng người mảnh khảnh cùng khuôn mặt mệt mỏi nhưng không nếp nhăn.

—Đâu đó hồi ngày hôm qua, Stephen nói.

—Hôm qua ư! ông Bloom thốt lên cho đến khi nhớ ra rằng hôm nay đã là ngày thứ Sáu ngày mai rồi. À, ý cậu là đã qua mười hai giờ rồi chứ gì!

—Hôm kia cơ, Stephen nói, tự sửa lại cho chính xác hơn.

Thực sự kinh ngạc trước mẩu thông tin này, ông Bloom trầm ngâm. Dù họ không nhìn nhận mọi thứ hoàn toàn giống nhau, một sự tương tự nào đó vẫn tồn tại như thể tâm trí cả hai đang di chuyển, có thể nói thế, trên cùng một chuyến tàu tư duy. Ở độ tuổi của cậu khi mài mò với chính trị chừng hai chục năm về trước khi ông từng là một kẻ gần như khao khát danh hiệu nghị sĩ vào thời kỳ Buckshot Foster, ông cũng nhớ lại trong sự hồi tưởng (vốn là nguồn thỏa mãn lớn lao tự thân) rằng ông từng có chút tình cảm lén lút dành cho những ý tưởng cực đoan đó. Chẳng hạn như khi vấn đề người thuê nhà bị trục xuất, lúc đó ở giai đoạn khởi đầu, chiếm lĩnh tâm trí mọi người dù, khỏi phải nói, không đóng góp một xu hay đặt trọn niềm tin vào những chỉ thị của nó – một vài trong số đó hoàn toàn vô căn cứ –, ngay từ đầu về nguyên tắc chí ít ông hoàn toàn đồng cảm với việc nông dân sở hữu đất đai như là tiếng nói của xu hướng ý kiến hiện đại (một sự thiên vị mà sau khi nhận ra sai lầm, ông đã phần nào được chữa khỏi sau đó) và thậm chí còn bị châm chọc vì tiến xa hơn một bước so với Michael Davitt trong những quan điểm nổi bật mà ông từng truyền thụ vào một thời điểm với tư cách là người ủng hộ phong trào trở về đất mẹ, đó là một lý do khiến ông vô cùng bực bội trước ẩn ý gạt lên mình một cách trơ trẽn bởi người bạn của chúng ta tại buổi tụ họp của các thị tộc ở quán Barney Kiernan để ông, dù thường xuyên bị hiểu lầm đáng kể và là kẻ ít hiếu chiến nhất trong số những người phàm, đã lệch khỏi thói quen thông thường của mình để tọng cho hắn (mang tính ẩn dụ) một cú vào cuống họng, dù cho bản thân chính trị, ông quá ý thức về những thương vong luôn là hậu quả của tuyên truyền và màn biểu dương thù hận lẫn nhau cùng sự đau khổ khốn cùng mà nó mang lại như một điều tất yếu cho những thanh niên ưu tú, chủ yếu là sự tiêu diệt những kẻ thích hợp nhất, nói một cách ngắn gọn.

Dù sao đi nữa, khi cân nhắc được mất, lúc đó đã gần một giờ, đã đến lúc phải lui về nghỉ ngơi ban đêm. Điểm mấu chốt là việc đưa cậu ta về nhà khá là rủi ro vì những hệ quả có thể xảy ra (một người nào đó đôi khi có tính khí riêng) và làm hỏng bét mọi thứ giống như đêm ông lỡ dại mang về nhà một con chó (không rõ giống) bị què chân (không phải các trường hợp giống hệt hay ngược lại dù ông cũng bị thương ở tay) tới đường Ontario như ông nhớ rất rõ, khi đã ở đó, có thể nói thế. Mặt khác, đã quá muộn để đưa ra gợi ý về Sandymount hoặc Sandycove khiến ông rơi vào tình trạng bối rối không biết nên chọn phương án nào trong hai phương án. Mọi thứ chỉ ra thực tế rằng ông cần phải tận dụng triệt để cơ hội, xét trên mọi khía cạnh. Ấn tượng ban đầu của ông là cậu ta có vẻ hơi xa cách hoặc không mấy nồng nhiệt nhưng nó cứ ngấm dần vào ông theo cách nào đó. Một là cậu ta có thể không chộp lấy ý tưởng này nếu được tiếp cận, và điều khiến ông lo lắng nhất là ông không biết làm sao để dẫn dắt hoặc diễn đạt nó chính xác, giả sử cậu ta chấp nhận lời đề nghị, vì nó sẽ mang lại cho cá nhân ông niềm vui lớn nếu cậu ta cho phép ông giúp đỡ đưa tiền vào tay cậu ta hoặc một bộ quần áo nào đó, nếu thấy phù hợp. Dù thế nào đi nữa, ông kết luận bằng cách từ bỏ những tiền lệ cứng nhắc, một cốc ca cao Epps và một chỗ ngủ qua đêm cộng thêm việc sử dụng một hoặc hai tấm thảm cùng chiếc áo khoác gấp lại làm gối, ít nhất cậu ta sẽ ở trong bàn tay an toàn và ấm áp như bánh mì nướng trên chảo, ông không thấy có chút hại lớn nào trong đó với điều kiện không có bất kỳ trận rùm beng nào được khơi mào. Phải đưa ra một động thái bởi vì gã hồn nhiên vui vẻ kia, người chồng hỏa hằng được đề cập có vẻ dán chặt vào chỗ ngồi, không tỏ ra vội vã gì để lủi thủi về nhà với nữ hoàng Queenstown thân yêu của mình và rất có thể một nhà chứa của mấy ả hết thời nơi tuổi tác không là vấn đề ở phía nam phố Sheriff sẽ là manh mối tốt nhất cho tung tích của nhân vật mập mờ đó trong vài ngày tới, thay phiên nhau tra tấn cảm xúc của họ (mấy cô tiên cá) bằng những giai thoại súng lục sáu nòng sát mép nhiệt độ tính toán đóng băng tủy xương của bất cứ ai và vò nát những nét quyến rũ ngoại cỡ của họ giữa chừng với sự nhiệt tình thô lỗ kèm theo những vại potheen lớn cùng lời nịnh hót quen thuộc về bản thân vì không biết thực chất hắn là ai hãy để x bằng tên thật và địa chỉ của tôi, như nhà đại số học đại số phát biểu *passim*. Đồng thời ông thầm cười khúc khích trước lời đáp trả nhẹ nhàng của mình dành cho nhà vô địch máu và xương về việc vị thần của hắn là người Do Thái. Người ta có thể chịu đựng việc bị sói cắn nhưng điều khiến họ tức điên lên là vết cắn từ một con cừu. Điểm dễ bị tổn thương nhất của gót Achilles đáng thương. Chúa của ngươi là người Do Thái. Bởi vì hầu hết họ dường như tưởng tượng rằng hắn xuất phát từ Carrick-on-Shannon hoặc đâu đó quanh hạt Sligo.

—Tôi đề xuất, người hùng của chúng ta cuối cùng gợi ý sau khi suy ngẫm chín chắn trong lúc cẩn thận đút bức ảnh vào túi, vì ở đây khá ngột ngạt cậu cứ về nhà tôi và chúng ta sẽ bàn chuyện. Chỗ trọ của tôi ở ngay gần đây thôi. Cậu không thể uống thứ nước đó đâu. Cậu có thích ca cao không? Đợi đã. Tôi sẽ trả tiền món này đã.

Kế hoạch tốt nhất rõ ràng là chuồn thẳng, phần còn lại cứ thế xuôi chèo mát mái, ông ra hiệu, trong khi cẩn thận đút bức ảnh vào túi, gọi chủ nhân túp lều – kẻ dường như không.

—Vâng, đó là cách tốt nhất, ông trấn an Stephen – kẻ đối với chuyện Brazen Head hay ông này hay bất cứ đâu cũng đều bàng quan như nhau.

Mọi loại kế hoạch không tưởng đang lóe lên trong bộ não bận rộn của ông (B.), giáo dục (hàng chính hãng), văn học, báo chí, mẩu tin giải thưởng, quảng cáo cập nhật, các tour lưu diễn hòa nhạc tại các khu nghỉ dưỡng Anh quốc đầy ắp các trung tâm thủy trị liệu và nhà hát ven biển, kiếm tiền mỏi tay, song ca bằng tiếng Ý với phát âm hoàn toàn tự nhiên chân thực và vô số thứ khác, dĩ nhiên không cần phải loan báo cho thế giới và vợ anh ta biết từ trên mái nhà về điều đó, cùng một chút may mắn. Một cơ hội mở là tất cả những gì cần thiết. Bởi vì ông nghi ngờ hơn là ông có giọng hát của cha để đặt hy vọng vào đó, điều hoàn toàn có thể xảy ra nên cũng tốt thôi, chẳng hại gì, khi hướng cuộc trò chuyện về phía con cá trích đỏ cụ thể đó chỉ để.

Gã phu xe đọc tờ báo hắn vừa vớ được cho thấy cựu phó vương, bá tước Cadogan, đã chủ trì bữa tối của hiệp hội tài xế xe ngựa ở đâu đó tại London. Sự im lặng kèm theo một hoặc hai cái ngáp đi kèm với thông báo ly kỳ này. Sau đó, lão già trong góc – kẻ dường như còn chút tia hy vọng sinh lực – đọc lên rằng ngài Anthony MacDonnell đã rời Euston để đến nhà nghỉ của thư ký trưởng hoặc đại loại thế. Để trả lời cho mẩu thông tin hấp dẫn đó, tiếng vọng đáp lại là tại sao.

—Cho xin chút văn chương đó nào, ông cụ, lão thủy thủ chen vào, thể hiện chút thiếu kiên nhẫn tự nhiên.

—Xin cứ tự nhiên, vị cao niên được xướng tên đáp.

Tên thủy thủ lôi ra từ trong chiếc hộp một cặp kính bảo hộ màu xanh lục mà hắn rất chậm chạp móc lên mũi và hai tai.

—Mắt anh có vấn đề à? nhân vật đồng cảm giống thư ký thành phố gặng hỏi.

—Thì, gã thủy thủ râu kẻ sọc đáp, kẻ dường như là một tay văn chương theo cách nhỏ nhoi của riêng mình, nhìn ra ngoài qua những khung cửa sổ màu xanh biển như bạn hoàn toàn có thể miêu tả chúng, tao dùng kính bảo hộ khi đọc sách. Cát ở Biển Red gây ra đấy. Có thời tao có thể đọc sách trong bóng tối, có thể nói thế. Nghìn lẻ một đêm là cuốn yêu thích của tao và *Red as a Rose is She*.

Ngay lúc đó, hắn bạnh tờ báo ra và dán mắt vào Chúa mới biết cái gì, từ chuyện tìm thấy chết đuối cho đến những chiến tích của Vua Willow, Iremonger ghi được một trăm lẻ mấy điểm ở wicket thứ hai không thua cho Notts, trong suốt thời gian đó (hoàn toàn phớt lờ Ire) chủ quán bận rộn tháo chiếc giày rõ ràng mới hoặc cũ nhưng đang bóp chân hắn trong khi hắn lầm bầm nguyền rủa kẻ nào đã bán nó cho hắn, tất cả những kẻ đủ tỉnh táo để được nhận diện qua biểu cảm khuôn mặt, nghĩa là, hoặc là đứng nhìn ủ rũ hoặc thốt lên một câu nói bâng quơ.

Nói ngắn gọn lại, ông Bloom, nắm bắt tình hình, là người đầu tiên đứng dậy khỏi chỗ ngồi để không ở lại quá lâu làm phiền, sau khi đã thực hiện trước tiên và quan trọng nhất – đúng như lời hứa chi trả hóa đơn cho dịp này – biện pháp khôn ngoan là lén ra hiệu kín đáo cho chủ quán với một cử hiệu hầu như không thể nhận ra khi những người khác không nhìn rằng số tiền cần trả sẽ được giao đủ, tạo nên tổng số tiền là bốn xu (số tiền ông đặt xuống một cách kín đáo bằng bốn đồng xu đồng, đúng nghĩa là người Mohicans cuối cùng), sau khi ông đã tia trước trên bảng giá in cho tất cả những ai chạy qua đều đọc được đối diện ông với những con số không thể nhầm lẫn, cà phê 2 xu, bánh ngọt v.v., và thực sự hoàn đáng giá gấp đôi số tiền một lần trong đời, như Wetherup từng nhận xét.

—Nào, ông khuyên nhủ để khép lại buổi họp mặt.

Thấy mưu kế hiệu quả và bờ biển đã quang đãng, họ cùng nhau rời khỏi quán bến xe ngựa hoặc túp lều cùng xã hội tinh hoa áo dầu và đồng bọn – những kẻ mà chỉ có động đất mới lôi ra khỏi giấc ngủ *dolce far niente* của họ. Stephen – người thú nhận vẫn cảm thấy không khỏe và kiệt sức – dừng lại ở cửa trong chốc lát.

—Có một điều tôi chưa bao giờ hiểu, cậu nói để tỏ ra độc đáo bất thình lình. Tại sao ban đêm người ta lại lật ngược bàn, ý tôi là lật ngược ghế lên bàn ở các quán cà phê. Để đáp lại câu hỏi ứng khẩu đó, Bloom không ngần ngại dù chỉ một giây, nói thẳng thừng:

—Để quét sàn vào buổi sáng.

Nói đoạn ông nhảy cẫng lên, nhanh nhẹn tính toán, đồng thời thành thật xin lỗi để di chuyển sang phía bên phải của bạn đồng hành – một thói quen của ông, nhân tiện nhắc đến, phía bên phải của ông theo thành ngữ cổ điển là gót Achilles dễ tổn thương. Không khí ban đêm lúc này thực sự rất tuyệt vời để hít thở dù Stephen hơi khuỵu chân.

—Không khí sẽ làm cậu khỏe ra đấy, Bloom nói, cũng có nghĩa là đi bộ, chốc nữa thôi. Điều quan trọng duy nhất là đi bộ rồi cậu sẽ cảm thấy mình là một con người khác. Nào. Không xa đâu. Dựa vào tôi này.

Thế là ông luồn tay trái vào tay phải của Stephen và dìu cậu đi tiếp.

—Vâng, Stephen bập bõm nói vì cậu tưởng mình cảm thấy một thứ da thịt kỳ lạ của một người đàn ông khác áp sát vào mình, không gân guốc lèo bèo và đủ thứ.

Dù sao thì họ cũng đi ngang qua bốt canh có đá sỏi, chậu than v.v. nơi nhân viên bổ trợ đô thị, cựu Gumley, vẫn đang chìm đắm hoàn toàn trong vòng tay của Murphy, như tục ngữ có câu, mơ về những cánh đồng tươi mới và những đồng cỏ xanh non. Và nhân tiện nói về quan tài bằng đá, phép ẩn dụ đó không tệ chút nào vì thực tế đó là một vụ ném đá đến chết từ phía bảy mươi trên tổng số tám mươi mấy khu vực bầu cử đã phản bội vào thời điểm chia rẽ và chủ yếu là tầng lớp nông dân được ca tụng, rất có thể chính là những người thuê nhà bị trục xuất mà ông đã đưa họ vào phần đất của họ.

Thế là họ chuyển sang chuyện trò về âm nhạc – một loại hình nghệ thuật mà Bloom, với tư cách là một người nghiệp dư thuần túy, dành tình yêu lớn nhất khi họ rảo bước tay trong tay băng qua quảng trường Beresford. Âm nhạc Wagner, dù thú nhận là vĩ đại theo cách của nó, lại hơi quá nặng nề đối với Bloom và khó theo dõi ngay từ lần đầu tiên nhưng âm nhạc trong *Les Huguenots* của Mercadante, *Bảy lời cuối cùng trên thập giá* của Meyerbeer và *Thánh lễ thứ mười hai* của Mozart là những thứ ông thực sự say mê, bản *Gloria* trong đó, theo suy nghĩ của ông, là đỉnh cao của âm nhạc hạng nhất như thế, nghĩa là đánh bẹp mọi thứ khác ra tro. Ông vô cùng ưa chuộng nhạc thánh ca Công giáo hơn bất cứ thứ gì cửa hàng đối diện có thể cung cấp trong dòng đó như mấy bài thánh ca Moody và Sankey hoặc *Bid me to live and I will live thy protestant to be*. Ông cũng không thua kém bất kỳ ai trong sự ngưỡng mộ dành cho bản *Stabat Mater* của Rossini, một tác phẩm ngập tràn những giai điệu bất tử, trong đó vợ ông, Madam Marion Tweedy, đã tạo nên một tiếng vang lớn – một sự chấn động thực sự, ông có thể tự tin khẳng định –, làm tăng thêm những vòng nguyệt quế khác của bà và đẩy những người khác vào bóng tối hoàn toàn, tại nhà thờ các linh mục Dòng Tên ở phố Gardiner thượng, tòa thánh đường đông nghịt người đến tận cửa để nghe bà biểu diễn cùng các virtuoso, hay đúng hơn là *virtuosi*. Có một sự đồng thuận nhất trí rằng không ai có thể sánh bằng bà và chỉ cần nói trong một nơi thờ phượng dành cho âm nhạc mang tính tôn thánh có một mong muốn vang dội chung cho một màn encore. Nhìn chung dù thích nhạc kịch nhẹ kiểu *Don Giovanni* và *Martha* – một viên ngọc trong dòng của nó –, ông lại có một sự thiên vị, dù chỉ với kiến thức bề mặt, đối với trường phái cổ điển nghiêm ngặt như Mendelssohn. Và nhân tiện nhắc đến điều đó, coi như đã biết tất cả về những giai điệu yêu thích cũ, ông đề cập xuất sắc nhất là aria của Lionel trong *Martha*, *M’appari*, điều kỳ lạ là ông đã nghe hoặc vô tình nghe được, chính xác hơn là vào ngày hôm qua, một vinh dự mà ông vô cùng trân trọng, từ đôi môi của người cha đáng kính của Stephen, được hát một cách hoàn hảo đến mức nghiên cứu về giai điệu đó thực sự khiến tất cả những bài khác phải lùi bước. Stephen, đáp lại câu hỏi được đặt ra lịch sự, nói rằng cậu không hát bài này mà cất lời ca ngợi những bài hát của Shakespeare, ít nhất là vào khoảng thời gian đó, tay chơi đàn lút Dowland – người sống ở phố Fetter gần nhà thảo mộc Gerard, người *anno ludendo hausi, Doulandus* –, một nhạc cụ mà ông đang tính mua từ chỗ ông Arnold Dolmetsch – người mà B. không nhớ rõ lắm dù cái tên nghe rất quen thuộc – với giá sáu mươi lăm ghine, cùng Farnaby và con trai với những ý tưởng *dux* và *comes* của họ và Byrd (William) – người chơi đàn virginal, ông nói, trong nhà nguyện của Nữ hoàng hoặc bất kỳ đâu ông tìm thấy chúng và một tay Tomkins người tạo ra các món đồ chơi hoặc giai điệu và John Bull.

Trên lòng đường mà họ đang tiến đến trong khi vẫn đang nói chuyện ngoài xích đu, một con ngựa đang kéo chiếc xe quét đường bước đi trên mặt đá lát, quét một dải bùn dài lên khiến với tiếng ồn ào Bloom không hoàn toàn chắc chắn liệu mình có bắt kịp chính xác ám chỉ về sáu mươi lăm ghine và John Bull hay không. Ông hỏi liệu đó có phải là John Bull nhân vật chính trị nổi tiếng mang tên đó hay không, vì ông chợt nhận thấy, hai cái tên y hệt nhau, như một sự trùng hợp nổi bật.

Bên xích đu con ngựa chậm chạp lạng tay lái để quay đầu, nhận ra điều đó, Bloom – người vẫn đang cảnh giác sắc sảo như thường lệ – kéo nhẹ tay áo người kia, nói đùa:

—Đang gặp hiểm nguy tính mạng tối nay đấy. Cẩn thận xe lu đấy.

Họ bèn dừng lại. Bloom nhìn vào đầu một con ngựa chẳng đáng giá gì gần giống sáu mươi lăm ghine, đột ngột xuất hiện trong bóng tối khá gần đến mức trông nó có vẻ mới, một sự sắp xếp xương và thậm chí thịt khác bởi vì rõ ràng nó là một con vật bốn chân, lắc hông, mông đen, ngoắc đuôi, cúi đầu chìa chân sau về phía trước trong khi chúa tể của tạo hóa ngồi trên ghế bận rộn với suy nghĩ của mình. Nhưng là một con vật nghèo khổ tốt tính, ông lấy làm tiếc vì không có cục đường nào nhưng, như ông suy ngẫm khôn ngoan, bạn khó lòng chuẩn bị cho mọi trường hợp khẩn cấp có thể xảy ra. Nó chỉ là một con ngựa ngốc nghếch bực bội thần kinh to lớn kiểu ngớ ngẩn, chẳng bận tâm gì thứ hai trên đời. Nhưng ngay cả một con chó, ông ngẫm nghĩ, hãy lấy con chó lai ở quán Barney Kiernan, cùng kích thước, sẽ là một thảm họa kinh hoàng khi đối mặt. Nhưng đó không phải lỗi của loài vật cụ thể nào nếu nó được cấu trúc như vậy giống như con lạc đà, con tàu của sa mạc, chưng cất nho thành rượu potheen trong cái bướu của nó. Chín phần mười trong số chúng có thể bị nhốt hoặc huấn luyện, chẳng có gì vượt ngoài nghệ thuật của con người ngoại trừ loài ong. Cá voi với ghim cài tóc lao harpoon, cá sấu cù thắt lưng và nó hiểu trò đùa, vẽ vòng tròn cho gà trống, hổ đôi mắt đại bàng của tôi. Những suy nghĩ kịp thời đó về những con vật của đồng ruộng chiếm lấy tâm trí ông phần nào phân tâm khỏi lời của Stephen trong khi con tàu đường phố đang điều động và Stephen tiếp tục nói về người già vô cùng thú vị.

—Tôi đang nói cái gì thế nhỉ? À, phải rồi! Vợ tôi, ông thổ lộ, bước thẳng vào *in medias res*, sẽ rất vinh hạnh được làm quen với cậu vì cô ấy có niềm đam mê mãnh liệt với âm nhạc bất kỳ loại nào.

Ông liếc nhìn sang một bên một cách thân thiện vào khuôn mặt nghiêng của Stephen – hình ảnh của mẹ cậu, không hoàn toàn giống kiểu trai hư đẹp trai thông thường mà họ không nghi ngờ gì có một sự thèm khát vô độ vì có lẽ cậu không thuộc tuýp người đó.

Dù vậy, giả sử cậu có tài năng của cha mình như ông nghi ngờ hơn là có, nó mở ra những chân trời mới trong tâm trí ông như các ngành công nghiệp Ireland của quý bà Fingall, buổi hòa nhạc vào thứ Hai trước, và giới quý tộc nói chung.

Những biến tấu tinh tế mà ông đang miêu tả trên một giai điệu *Youth here has End* của Jans Pieter Sweelinck, một người Hà Lan đến từ Amsterdam nơi xuất thân của những cô nàng frows. Thậm chí ông thích một bài hát cổ của Đức của Johannes Jeep về biển trong xanh và tiếng hát của những nàng tiên cá, những kẻ sát nhân ngọt ngào của đàn ông, thứ làm Bloom bối rối chút ít:

*Von der Sirenen Listigkeit*

*Tun die Poeten dichten.*

Những đoạn mở đầu này ông hát và dịch ứng khẩu. Bloom, gật đầu, nói rằng ông hoàn toàn hiểu và nài nỉ cậu cứ tiếp tục bằng mọi giá và cậu đã làm thế.

Một giọng nam cao đẹp kỳ diệu như thế, món quà hiếm hoi nhất mà Bloom đánh giá cao ngay từ nốt nhạc đầu tiên cậu cất lên, có thể dễ dàng nếu được xử lý đúng cách bởi một cơ quan có thẩm quyền được thừa nhận về sản xuất giọng hát như Barraclough và có khả năng đọc nhạc bổ sung, tự định giá trị của mình nơi giọng nam trung rẻ như bèo và mang lại cho người sở hữu may mắn trong tương lai gần một lối vào những ngôi nhà thời thượng ở các khu dân cư tốt nhất của các ông lớn tài chính trong mảng kinh doanh lớn và những người tước vị nơi với bằng đại học B.A. (một quảng cáo lớn theo cách của nó) và phong thái quý ông đối với càng nhiều ảnh hưởng tạo ấn tượng tốt cậu chắc chắn sẽ ghi được thành công rõ ràng, được ban phước với bộ óc cũng có thể tận dụng cho mục đích đó và các yêu cầu khác, nếu quần áo của cậu được chăm sóc đúng mức để qua đó luồn lách tốt hơn vào ân sủng của họ như cậu, một tay mơ trẻ tuổi trong sự tinh tế trang phục của xã hội, khó lòng hiểu được một điều nhỏ nhặt như thế có thể chống lại bạn thế nào. Thực chất đó chỉ là vấn đề tháng ngày và ông có thể dễ dàng thấy trước cậu tham gia vào các buổi trò chuyện văn hóa nghệ thuật của họ trong các lễ hội mùa Giáng sinh, tùy chọn, gây ra một sự xao động nhỏ trong các lồng chim của phái đẹp và được cưng chiều bởi các quý cô đi tìm cảm giác, các trường hợp như thế, như ông tình cờ biết, đã được ghi nhận – thực chất, mà không làm lộ tẩy, chính bản thân ông một thời gian trước nếu ông muốn có thể dễ dàng. Thêm vào đó dĩ nhiên là khoản thù lao tài chính không thể coi thường, đi đôi với học phí của cậu. Không phải, ông nói thêm trong dấu ngoặc, vì sự nhơ nhớp của đồng tiền mà cậu nhất thiết phải ôm lấy sân khấu ca khúc như một con đường mòn trong đời sống trong bất kỳ khoảng thời gian dài nào. Nhưng đó là một bước đi theo hướng cần thiết không thể chối cãi và cả về mặt tiền bạc lẫn tinh thần nó không chứa đựng bất kỳ sự phản ánh nào đối với phẩm giá của cậu dù là nhỏ nhất và nó thường tỏ ra cực kỳ tiện dụng khi được trao một séc vào thời điểm rất cần thiết khi mọi chút đều giúp ích. Bên cạnh đó, dù gu thẩm mỹ gần đây đã suy giảm đến độ, âm nhạc nguyên bản như thế, khác biệt với lối mòn thông thường, sẽ nhanh chóng có một thịnh hành lớn vì nó sẽ là một sự mới lạ quyết định đối với thế giới âm nhạc của Dublin sau loạt ca khúc đơn nam cao lặp đi lặp lại quen thuộc được áp đặt lên công chúng cả tin bởi Ivan St Austell và Hilton St Just cùng chi loài của chúng. Vâng, vượt qua cái bóng của sự nghi ngờ cậu có thể với tất cả các lá bài trong tay và cậu có một cơ hội lớn để tạo tên tuổi cho mình và giành lấy vị trí cao trong sự kính trọng của thành phố nơi cậu có thể ra giá cứng và, đặt vé trước, tổ chức một buổi hòa nhạc lớn cho các khách hàng của nhà hát phố King, nếu có người chống lưng để đá cậu lên lầu, có thể nói thế, một chữ “nếu” to đùng, tuy nhiên, với một số động lực kiểu tiến lên để loại bỏ sự chần chừ không thể tránh khỏi thường làm vấp ngã một hoàng tử quá được cưng chiều của những gã bạn tốt. Và nó không cần phải làm giảm đi một iota nào của người kia vì, là chủ nhân của chính mình, cậu sẽ có đống thời gian để luyện tập văn học trong những khoảnh khắc rảnh rỗi khi mong muốn làm thế mà không bị xung đột với sự nghiệp giọng hát hay chứa đựng bất kỳ điều gì mang tính phỉ báng nào vì đó là vấn đề cho chính cậu mà thôi. Thực chất, cậu đang nắm đằng chuôi và đó chính là lý do tại sao người kia, sở hữu cái mũi vô cùng sắc sảo để ngửi thấy mùi dối trá bất kỳ loại nào, cứ bám dính lấy cậu.

Con ngựa lúc đó vừa. Và sau đó vào một cơ hội thuận lợi ông dự định (Bloom dự định), mà không hề bới móc chuyện riêng tư của cậu theo nguyên tắc “kẻ khù khờ bước vào nơi thiên thần e ngại”, khuyên cậu nên cắt đứt mối quan hệ với một học viên mới nổi nào đó mà ông nhận thấy có xu hướng chê bai và thậm chí ở mức độ nhỏ với cái cớ vui vẻ nào đó khi không có mặt, bài xích cậu, hoặc bất cứ thứ gì cậu muốn gọi nó, theo khiêm tốn ý kiến của Bloom ném một ánh sáng khó chịu vào khía cạnh đó trong tính cách của một người, không có ý chơi chữ.

Con ngựa đã đến điểm tận cùng của dây buộc, có thể nói thế, dừng lại và, ngẩng cao chiếc đuôi phất phơ kiêu hãnh, đóng góp phần của mình bằng cách thả xuống sàn nhà mà cái chổi sẽ sớm quét sạch và đánh bóng, ba hòn cầu phân đang bốc khói. Chậm rãi ba lần, lần lượt từng cái một, từ bộ yên cương đầy đặn hắn vấy bẩn. Và một cách nhân từ người đánh xe đợi cho đến khi hắn (hoặc cô ấy) kết thúc, kiên nhẫn trong chiếc xe có lưỡi hái của mình.

Sát cánh bên nhau Bloom, tận dụng sự cố ngẫu nhiên, cùng Stephen đi qua khe hở của các sợi dây xích, bị chia cắt bởi trụ đứng, và, bước qua sợi dây bùn, đi về phía phố Gardiner hạ, Stephen cất giọng hát mạnh mẽ hơn, nhưng không to, phần cuối của bài ballad.

*Und alle Schiffe brücken.*

Người đánh xe không nói một lời nào, tốt, xấu hay dửng dưng, mà chỉ quan sát hai hình bóng, khi ông ngồi trên chiếc xe gầm thấp của mình, cả hai đều mặc đồ đen, một đầy đặn, một gầy gò, đi bộ về phía cầu đường sắt, để được làm lễ cưới bởi Cha Maher. Khi họ đi bộ, đôi khi họ dừng lại và đi bộ tiếp tục cuộc trò chuyện tay đôi của họ (điều mà, dĩ nhiên, ông hoàn toàn đứng ngoài) về các nàng tiên cá, kẻ thù của lý trí con người, hòa quyện với vô số chủ đề khác cùng loại, những kẻ soán ngôi, các trường hợp lịch sử loại đó trong khi người đàn ông trên chiếc xe quét đường hoặc bạn cũng có thể gọi là trên chiếc xe ngủ, kẻ trong bất kỳ trường hợp nào không thể nghe thấy vì họ ở quá xa, đơn giản ngồi trên ghế của mình gần cuối phố Gardiner hạ và nhìn theo chiếc xe gầm thấp của họ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.