Từ Rừng Thẳm Amazon Đến Quê Hương Bolero

Lượt đọc: 342 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cây xương rồng Thế mạng!

❊ ❊ ❊

Đ

ến Peru, kỳ quan thế giới Machu Picchu làm tôi choáng ngợp, những hình vẽ khổng lồ trên sa mạc Nazca cách đây hơn 500 năm làm tôi sững sờ, nhưng chính những con người lam lũ, chất phác, những khu làng nghèo bé nhỏ mang trong mình biết bao câu chuyện từ ngàn xưa mới thật sự làm tôi nhớ mãi. Hatuncolla là một ngôi làng như thế…

Đó là một khu làng nhỏ nằm ở độ cao gần 4.000 mét trên dãy núi Andes. Cách trung tâm thành phố Puno rực rỡ đèn màu chỉ vài chục cây số, nhưng Hatuncolla gần như tách biệt với thế giới bên ngoài.

Khi tôi đến, cả làng vắng hoe. Đàn ông đều đã đổ vào thành phố đi làm, chỉ có mấy con llama, alpaca (loài lạc đà không bướu) lang thang gặm mớ cỏ khô còn sót lại.

Trời nắng cháy da nhưng tuyết đêm qua vẫn còn vương đầy. Ở đây là thế, khí hậu thất thường, ban ngày nóng bức nhưng tối có thể có tuyết. Nhìn quanh chẳng thấy một bóng cây xanh. Cũng dễ hiểu, dưới thời tiết khắc nghiệt thế này, cỏ cây nào sống nổi.

Người Andean nổi tiếng về bùa chú. Đến Peru, đặc biệt là làng Hatuncolla, mới thấy điều này quả là chính xác. Bùa khắp mọi nơi. Trên đầu cổng bước vào mỗi nhà đều có hai bức tượng gốm hình con bò tót có sừng để bày tỏ lòng hiếu khách, bảo vệ cho thành viên trong gia đình luôn dồi dào sức khỏe và hạnh phúc. Trước cửa phòng ngủ thì treo hai cái sừng đề phòng ma quỷ ám. Xung quanh nhà lủng lẳng những bụi cây khô làm thuốc được treo trên những chiếc xương hàm con cừu với ước mong gia súc không bị dịch bệnh. Trên bức tường quanh nhà, họ trồng nhiều loại xương rồng khác nhau, thông thường là bảy loại. Người dẫn đường giải thích: “Bùa của người Andean đấy! Những cây xương rồng này sẽ bảo vệ họ không bị ‘âm khí’ của những người xấu, có hiềm khích với mình làm hại”.

a

Vào đêm trước của ngày lễ Phục sinh, mọi người thường kéo nhau lên núi để lượm những mẩu xương rồng về treo trước cửa. Sau một thời gian, nếu cây xương rồng đâm chồi nẩy lộc (nhưng phải mọc lên trên, không được hướng xuống dưới) thì đó là điềm may mắn, thịnh vượng. Nếu chúc xuống là điềm xấu, lụn bại. Khi cây xương rồng bỗng nhiên chết có nghĩa là một người nào đó có ý muốn hại mình và cây xương rồng đó đã chết thay.

Nhà và tường rào ở đây được xây bằng những viên đá xếp chồng lên nhau mà không dùng bất cứ phụ gia kết dính nào. Tuy thế, phòng ngủ lại luôn được làm bằng đất nện dày và cách nhiệt rất tốt. Ngoài trời tuyết rơi rét căm, tôi mặc mấy lớp áo lạnh mà vẫn run cầm cập. Nhưng bước vào phòng ngủ, ngồi lên trên giường tự nhiên thấy ấm lạ kỳ. Thì ra là do cái giường độc đáo của người Andean. Cũng chỉ làm bằng đất bình thường, nhưng dưới mỗi cái giường đều khoét những hốc nhỏ. Bình thường, đó là “ngăn tủ” đựng vật dụng trong gia đình. Đêm về, nhiệt độ có khi xuống đến âm 20oC, thì người Andean sẽ bỏ than và củi vào những cái hốc đó. Cái giường bỗng chốc biến thành lò sưởi khổng lồ. Nhờ vậy, họ mới có thể tồn tại trong môi trường quá khắc nghiệt như thế.

a

Ở đây dân nghèo chiếm đến 78%. Họ sống tự cung tự cấp bằng chăn nuôi llama, alpaca, trồng khoai tây (Peru là quê hương của khoai tây với hơn 4.000 loại khác nhau). Thỉnh thoảng, có khách du lịch ghé lại chơi, tìm hiểu văn hóa, họ sẽ được tặng vài sol, nhưng không bao giờ xin xỏ, kỳ kèo đòi tiền.

Dù nghèo nhưng mỗi làng đều có những bộ “đồng phục” khác nhau, tất cả đều rực rỡ sắc màu. Ở đây, vào những dịp lễ hội, công việc được bỏ hết, già trẻ lớn bé, đàn ông, phụ nữ đều tham gia múa hát, tiệc tùng thâu đêm. Một phụ nữ trong làng, chị Benita cho biết: “Múa hát đã ngấm vào máu thịt của chúng tôi. Chúng tôi có thể nhịn ăn, nhịn mặc, nhưng múa hát thì không bao giờ”.

Trời sụp tối nhanh, tuyết rơi ngày càng nhiều, cái rét đã bắt đầu ngấm vào xương tủy. Tôi trở lại trung tâm thành phố, chui vào tiệm ăn có máy sưởi. Ngồi bên bàn ăn thịnh soạn, ấm áp bất giác lại nhớ đến mấy đứa nhỏ ngồi co ro với bữa trưa là vài củ khoai tây đủ màu cùng tô súp lõng bõng nước ở làng Hatuncolla. Tự nhiên thấy miệng đắng ngắt…

4/30.000.000!

Người theo chồng, kẻ lang bạt tha phương kiếm sống mà cùng dạt về đất nước Peru xa xôi bên kia bờ Thái Bình Dương, giữa 30 triệu người Peru, chỉ có bốn trái tim Việt. Họ chọn Peru làm nhà, nhưng trái tim vẫn luôn hướng về quê hương…

Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Chile Nguyễn Đại Bản đưa tôi địa chỉ của Văn với lời nhắn: “Văn đi làm về trễ lắm, muốn gặp nó thì đến nhà sau 10 giờ tối”. Taxi cầm địa chỉ, phải hỏi đến mấy lần mới tìm được phòng trọ của Văn. Mãi đến hơn 12 giờ khuya, Văn mới về đến nhà, mặt phờ phạc: “Hôm nay khách đông quá! Làm cả ngày mà không kịp ngơi tay để ăn”. Văn hiện là đầu bếp của một nhà hàng Tàu, làm việc từ 11 giờ rưỡi trưa cho đến 12 giờ khuya. Đều đặn như thế, 7 ngày/tuần, 30 ngày/tháng.

Peru đang mùa đông (vì nằm ở Nam bán cầu), đứng ngoài đường đã lạnh co ro, vào nhà Văn còn… lạnh hơn vì không có máy điều hòa, cô vợ người Peru và con gái anh mặc áo lạnh sù sụ. Văn ôm con gái vào lòng: “Con em tên Dung Minh, anh có thấy nó giống người Việt Nam không?”, rồi không đợi tôi trả lời, Văn nói với vẻ sung sướng, đầy tự hào: “Cha nó là người Việt Nam thì con cũng phải là người Việt Nam chứ”. Gặp đồng hương, bao nhiêu tâm sự về nỗi nhọc nhằn mưu sinh nơi xứ lạ được dịp tuôn trào.

Quê Văn ở huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, bố đi đánh cá không đủ ăn, nghe lời rủ rê, cả nhà chạy vạy vay 3.000 USD nộp cho công ty môi giới xuất khẩu lao động để anh được làm việc cho một tàu đánh cá Đài Loan. Quần quật làm việc trên biển mười mấy tiếng một ngày, cả năm trời không được đặt chân xuống đất liền, mà lương chỉ hơn 200 USD/tháng. Đến khi tàu ghé Peru, do chịu không nổi, Văn trốn ở lại. Chỉ có mấy bộ đồ và vài trăm đô trong túi, không biết một câu tiếng Tây Ban Nha nào, lại ở lậu, Văn sống chui nhủi, lê la khắp nơi để xin việc, thậm chí đánh nhau đến mức phải nhập viện vì tranh giành một chỗ làm...

Cũng may, khi đồng tiền cuối cùng tiêu hết, Văn được nhận vào rửa chén cho một nhà hàng Tàu. Một ngày làm mười mấy tiếng, tối xếp ghế, ngủ ngay tại nhà hàng, chỉ được nuôi ăn ở, không lương. Vừa làm, Văn vừa học lỏm nghề nấu bếp, bên cạnh việc tự học tiếng Hoa, tiếng Tây Ban Nha.

Sau năm năm ở Peru, Văn đã trở thành bếp chính một nhà hàng Tàu, nói thông thạo cả hai thứ tiếng Hoa và Tây Ban Nha. Tuy thế, thu nhập của anh cũng chỉ vừa đủ chi tiêu cho gia đình nhỏ cùng vợ và con gái. Chưa kể, Lima khá nguy hiểm, ở Peru năm năm mà anh đã bị kê súng vào đầu trấn hết tiền bạc, điện thoại không dưới... bốn lần.

Nói về gia đình, Văn rơm rớm nước mắt: “Năm năm xa Việt Nam, đám cưới chỉ có mấy bác bên đại sứ quán thay mặt bố mẹ, bây giờ, chỉ mong gởi con bé Dung Minh về Việt Nam cho nó học, hai vợ chồng ráng cày kiếm chút vốn rồi về sau. Nhưng vé máy bay từ Peru về Việt Nam cũng hơn 2.500 USD, chẳng biết đào đâu ra cho đủ”.

Tháng 3 vừa rồi, Văn có gởi về Việt Nam cho bố 150 USD. Ông bố già vẫn còn đánh cá thuê, lên xe đò, chạy suốt đêm từ Hà Tĩnh ra Hà Nội rồi sáng hôm sau lại quày quả trở về sớm. Cầm 150 USD Văn gởi trong tay, ông nói nhỏ chị Dao (người mang tiền về giùm): “Cô đổi ra tiền Việt giùm, để tôi đi xe đò về”. Món nợ mượn để đi xuất khẩu lao động giờ vẫn chưa trả hết…

Bốn người Việt Nam ở Peru, chị Dao, chị Nhung, chị Hậu và Văn mỗi người ở một nơi, có chuyện gì cũng tíu tít, gọi điện thoại cho nhau. Còn nhớ ngày đầu đến Peru, gọi điện hỏi thăm chị Dao, chưa kịp giới thiệu gì thì chị đã nói: “Người Việt Nam mới sang phải không, Văn kể chị nghe hết rồi. Sắp xếp công việc rồi lên chị chơi nhé”.

Chị Dao là du học sinh tại Nga, cưới chồng người Peru, nên theo chồng về đây sống. Hai vợ chồng hiện mở một tiệm ăn nho nhỏ tại Juliaca - một thành phố hẻo lánh cao 3.800 mét so với mực nước biển.

a

Khi tôi đến chơi, anh chồng người Peru nhất quyết mời đi uống bia. Nắp chai bia vừa bật, bọt trào ào ra ngoài, anh chồng mừng ra mặt, nhanh tay hớt lấy lớp bọt và... bỏ vào túi, miệng không ngừng xuýt xoa: “Ô, tiền, tiền! May mắn quá”. Thì ra, đối với người Peru, bọt bia khi vừa khui chính là tiền, là sự may mắn. Khui bia bọt càng nhiều tức là càng may mắn, tình bạn càng thắm thiết. (Biết vậy tôi đã lén sục mấy chai bia đó vài lần trước khi anh khui. Bảo đảm, tình bạn sẽ “lênh láng”).

Rồi anh chỉ vào cái nón lá và mấy bức tranh Đông Hồ treo trên tường, nói: “Việt Nam đấy, đẹp không?”. Những ngày ở tại đây, chị Dao và chồng bỏ hết việc nhà hàng để dẫn tôi đi tham quan. Anh là giảng viên đại học, chị Dao cũng từng giành bằng đỏ tại Nga nên kiến thức khá sâu rộng. Nhờ vậy, mà tôi có thể thâm nhập thật sâu vào cuộc sống người Peru.

Thật ra, tôi biết chị Dao, Văn, chị Nhung cũng thông qua đại sứ quán Việt Nam tại Chile. Chỉ có thế, không bà con, bạn bè thân thuộc. Vậy mà suốt những ngày rong ruổi tại Peru, hơn lúc nào hết tôi mới thấm thía hết hai chữ đồng hương. Chị Dao, Văn bỏ cả công việc để dẫn tôi đi mọi ngóc ngách để tìm hiểu thực tế. Thậm chí, chị Dao còn tháp tùng theo tôi qua tỉnh khác cách đó 400 cây số để gởi gắm tôi cho nhà gia đình chồng. Văn thì vài ngày lại hỏi han từ những điều nhỏ nhặt nhất: ăn, ngủ có được không và thậm chí còn hỏi tôi có thiếu tiền không thì Văn cho mượn (dù Văn hãy còn trong hoàn cảnh “chạy gạo từng bữa”). Các anh làm việc cho đại sứ quán ở tận Chile nhưng vẫn email, gọi điện liên tục. Vì thế, làm sao tôi quên được vẻ mặt đầy nghi ngờ của dân ba lô tứ xứ: “Mày nói dối, nếu không phải là bà con, bạn bè thân thiết làm sao có thể giúp nhau tận tình đến vậy?”. Lúc đó, tôi đã trả lời không giấu vẻ tự hào: “Ừ, người Việt Nam như thế đấy. Ở bất cứ nơi đâu cũng coi nhau như anh em một nhà”.

Theo thói quen, trước khi chia tay với một vùng đất mới, tôi lại tìm một góc thật yên tĩnh để hồi tưởng lại những kỷ niệm của chuyến đi. Cho đến giờ, đây là chuyến đi dài ngày nhất, gần hai tháng lang thang tại Peru thoáng qua như chớp mắt. Nhớ ngày sắp đi, Yony, cô bạn Peru xinh đẹp, đưa tôi ba chiếc lá coca: “Tặng anh một điều ước”.

Tôi không thể mang “điều ước” này trở lại Mỹ. Đối với họ, lá coca (nguyên liệu tạo ra cocain) luôn là kẻ thù, họ không cần biết rằng đối với người Peru, đó là chiếc lá linh thiêng. Ừ, thì đành vậy. Tôi cầm ba chiếc lá trên tay, hướng về dãy Andes đầy mây mù đằng xa, tần ngần đưa lên miệng thổi nhẹ như cách cám ơn đất trời của người Peru rồi thả bay trong gió. Tôi không ước điều gì cả. Hai tháng vừa qua chẳng phải đã là món quà lớn nhất mà Peru tặng tôi rồi sao?

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.